CHU MINH KHÔI
Theo Ngọc Phả lưu giữ ở chùa Tây Thiên trên núi Tam Đảo, vào thời Văn Lang, có lần vua Hùng Vương thứ bảy là Chiêu Vương lên núi Tam Đảo chơi, thấy đã có chùa thờ Phật. Chùa có tên nôm na là Địa Ngục, còn có tên khác là thành Nê Lê.
Tây Thiên là cái nôi của Phật Giáo Việt Nam?
Trước đây phần lớn các nhà nghiên cứu lịch sử, khảo cổ của Trung Quốc và Việt Nam, cùng nhiều sách sử xuất bản từ thế kỷ XX trở về trước cho rằng Phật giáo truyền bá đến Trung Quốc vào thế kỷ V, sau đó truyền từ Trung Quốc sang Việt Nam vào thế kỷ thứ VI. Tuy nhiên thời gian gần đây, các nhà nghiên cứu cùng nhiều tu sĩ Phật giáo đã tìm thấy những bằng chứng để xác nhận rằng, Phật giáo được truyền thẳng từ Ấn Độ sang Việt Nam từ thế kỷ III trước công nguyên (tức là trước 8 thế kỷ so với Trung Quốc).
Tỳ kheo Thích Kiến Nguyệt, Viện chủ Thiền Viện Trúc lâm Tây Thiên trải qua hàng chục năm nghiên cứu đã tìm ra rất nhiều dẫn chứng để minh chứng rằng Phật giáo đã xuất hiện ở Tây Thiên từ thời các vua Hùng trị vì. Dân gian quanh vùng lưu truyền rằng, vào cuối thời Hùng Vương, có một nhà sư tên là sư Bần, người Ấn Độ đến Việt Nam lập bàn thờ Phật và tu trong một hang núi. Chính bởi vậy, về sau các nhà sư Việt Nam thường dùng từ Bần Tăng làm danh xưng. Truyện Tiên Dung và Chử Đồng Tử được người dân ở gần bãi Tự Nhiên lưu truyền và đã được các nhà văn sưu tầm, in vào kho tàng cổ tích Việt Nam, có đoạn “Tiên Dung và Chử Đồng Tử đi khắp đó đây và được nhà sư Pháp Quang tặng cho một cây gậy và một cái nón. Tối đến nơi nào, cắm gậy và che nón lên, là có thành quách, cung điện hiện ra để ở. Sáng dậy, nhổ gậy lên thì nhà cửa đều bay lên trời đem theo cả Tiên Dung và Chử Đồng Tử”.
Theo người dân ở Tam Đảo, người giảng đạo và dạy phép thuật cho Chử Đồng Tử, chính là sư Bần ở Tây Thiên. Trong các câu chuyện cổ tích của Việt Nam, người xưa thường gọi Phật là ông Bụt. Phật là phiên âm từ Hán ngữ, còn Bụt lại chính là phiên âm nguyên gốc từ tiếng Phạn của từ Buddha (có nghĩa là Đức Phật). Như vậy, bên cạnh những từ ngữ Phật giáo từ tiếng Hán du nhập vào nước ta, thì trước đó nhân dân ta đã có rất nhiều từ ngữ Phật giáo được du nhập từ chính tiếng Phạn của Ấn Độ.
Các tài liệu của Phật giáo Ấn Độ còn ghi lại sự kiện: Vào thế kỷ thứ III trước công nguyên, đoàn Phật giáo thứ 8 do ngài Sona, ngài Uttara và công chúa con vua A Dục (Ấn Độ) đi truyền giáo ở Miến Điện, Thái Lan và các nước Đông Dương. Đoàn đi theo đường biển vào cửa sông Hồng ngược lên nước Văn Lang, truyền giáo tại Thành Nê Lê. Mặc dù sự kiện này đã từng được học giả Claude Madrolle đề cập khi nói đến Lịch sử Phật giáo Việt Nam, thế nhưng ít được các nhà khoa học nước ta quan tâm, vì không biết thành Nê Lê ở đâu?
Giờ đây, Tỳ Kheo Thích Kiến Nguyệt đã tìm ra được lời giải: Nê Lê chính là phiên âm của chữ Naraka của tiếng Phạn, có nghĩa là địa ngục. Phát hiện này có được khi Tỳ Kheo nghiên cứu bản ngọc phả hiện còn lưu giữ được ở chùa Tây Thiên. Theo Ngọc Phả, “Có lần vua Hùng Vương thứ bảy là Chiêu Vương lên núi Tam Đảo chơi, thấy đã có chùa thờ Phật. Chùa có tên nôm na là Địa Ngục, còn có tên khác là thành Nê Lê”. Tại sao không phải là chùa Nê Lê, mà lại là thành Nê Lê? Theo lý giải của sư Kiến Nguyệt, có lẽ vì thời bấy giờ từ ngữ còn nghèo nàn, vả lại đạo Phật mới truyền sang, người dân chưa biết đặt tên gọi nơi tu hành của các nhà sư là gì. Vì thấy chùa xây bằng đá giống như thành trì, nên mới gọi là thành Nê Lê.
Thời Hùng Vương, nước Văn Lang chỉ bao gồm một số tỉnh trung du Bắc Bộ, địa thế núi non thấp, chỉ có dãy Tam Đảo là núi cao liên hoàn (700m so với mặt nước biển) rừng thâm u rậm rạp, có suối chảy thác cao, cảnh trí u nhã thanh tịnh. Thấy nơi đây thích hợp cho người tu thiền, đoàn nhà sư Ấn Độ quyết định chọn Tam Đảo để xây tháp lập chùa để tu hành và hóa độ chúng sinh, đặt tên là Tây Thiên (có nghĩa là trời Tây, chỉ nước Ấn Độ, nơi phát sinh đạo Phật). Những năm gần đây, ngành khảo cổ đã khai quật được nhiều cổ vật từ thuở vua Hùng tại khu vực rừng Quốc gia Tam Đảo.
Chiêm bái Bảo tượng Phật ngọc lớn nhất Việt Nam
Những năm trở lại đây, Tây Thiên được xây dựng quy mô, trở thành một trong ba Thiền viện lớn nhất của cả nước (Thiền viện Trúc Lâm Đà Lạt, Thiền viện Trúc Lâm Yên Tử, Thiền viện Trúc Lâm Tây Thiên). Hòa trong cảnh sắc hùng vĩ, núi non cẩm tú, Thiền viện trở thành điểm nhấn cho vùng danh lam thắng cảnh vườn Quốc gia Tam Đảo, tạo nên một khu du lịch văn hóa tâm linh, ngày càng thu hút nhiều du khách tham quan chiêm bái. Ngôi Đại hùng bửu điện cao 17m, diện tích 673,2m², không gian của tòa chính điện này vô cùng bề thế, đủ chỗ ngồi cho 600 Phật tử, du khách viếng chùa vào những ngày lễ hội. Bên trái Đại hùng bửu điện là Nhà trưng bày các hiện vật có niên hiệu Lý, Trần, Lê, Nguyễn… Tất thảy các hạng mục công trình ở đây từ chính điện, nhà tổ, nhà khách, nhà trưng bày, cổng tam quan, lầu chuông, lầu trống... đến khu nội viện gồm Tăng đường, thiền đường, trai đường và các thất chuyên tu đều được xây dựng rất kỳ công và độc đáo mang đậm dấu ấn của kiến trúc Á Đông.
Du ngoạn lên Thiền viện Tây Thiên, du khách còn được chiêm bái bảo tượng Phật Thích Ca bằng đá sapphire tuyệt bích. Bảo tượng được đặt trong tòa bảo tháp khang trang và uy nghiêm, xây dựng trên diện tích 200m². Toàn bộ tác phẩm điêu khắc đá quý có chiều cao 3,45m với khối lượng 31 tấn, tạo tác Đức Phật Tổ Như Lai đang ngồi kiết già theo tư thế thuở xưa Ngài nhập định 49 ngày dưới cây bồ-đề. Nhưng ở đây không có cây bồ-đề, mà sau lưng Ngài tựa vào vách đá tạc hình hài lá bồ-đề.
Toàn bộ tượng ánh lên màu đen bóng long lanh của ngọc, bề mặt mịn đến mức không một tì vết. Theo thầy Thích Huệ Tịnh - một tăng sĩ tại Thiền viện Trúc Lâm Tây Thiên cho hay, khi chưa tạc thì khối đá có màu nâu xám, nhưng tạc xong, càng đánh thì càng lên màu đen bóng. Bệ tượng vẫn là nguyên khối đá tự nhiên xù xì. Chiêm ngưỡng bảo tượng, ta khâm phục sự kỳ công của những nghệ nhân Việt Nam tài hoa chế tác, đây thực sự là một kiệt tác nghệ thuật có tầm vóc, tôn vinh vai trò vị thế và tinh thần Phật giáo tại Việt Nam.
Thầy Thích Huệ Tịnh cho biết, ý tưởng chế tác bảo tượng được nung nấu trong lòng Tăng Ni Phật tử từ năm 2009, khi người dân cả nước từng nô nức chiêm bái pho tượng Phật ngọc Hòa bình thế giới được rước triển lãm qua nhiều nước (trong đó có Việt Nam), hiện nay an vị tại nước Úc. Những thành viên của Hội Đá quý Hà Nội dự cảm với câu hỏi: Việt Nam có rất nhiều đá, nghệ nhân nước ta cũng không phải kém cỏi gì, lẽ nào chúng ta lại không có một pho tượng bằng đá quý như người Úc? Khát khao có được một công trình thật ý nghĩa tôn vinh được vị thế và vai trò của đạo Phật trong đời sống người dân đất Việt, Hội Đá quý Hà Nội đã bàn bạc thống nhất cùng thầy trụ trì thiền viện Trúc Lâm Tây Thiên, Đại đức Thích Kiến Nguyệt về ý tưởng đi tìm đá quý tại Việt Nam để chế tác tượng Phật ngọc cho nước Việt.
Những người có tâm huyết bắt đầu hành trình đi tìm đá. Từ tháng 8 năm 2009, ròng rã trong nhiều tháng trời, đại diện Hội Đá cảnh Việt Nam cùng các chuyên gia thẩm định đá quý đã tỏa đi khắp các “vựa” đá quý trên mọi miền đất nước để săn tìm đá. Đi Yên Bái thấy vùng Văn Chấn có rất nhiều loại đá quý, có những khối đá lớn tương đối đẹp, nhưng họ vẫn chưa ưng ý. Sau 2 năm miệt mài tìm kiếm, vào cuối năm 2010, đoàn đến xã Châu Thành, Quỳ Hợp, Nghệ An, đoàn đã tìm được mỏ đá quý Corindon (quý chỉ sau kim cương), phát hiện được 6 khối đá đặc biệt hiếm. Ở lòng suối, nước chảy miên man suốt hàng triệu triệu năm, bởi vậy mọi loài đá cuội đều có hình tròn, bầu dục do nước chảy làm chúng mòn vẹt. Thế nhưng kỳ lạ thay, 6 khối đá vẫn không có một chỗ nào có biểu hiện của sự mài mòn, mà vẫn nguyên mọi cạnh sắc. Ước tính tổng khối lượng của 6 phiến đá khoảng 200 tấn. Theo nghệ nhân Ngọc Châu, Phó Chủ tịch Hội Đá quý Hà Nội, các nhà khoa học địa chất đã kiểm nghiệm và kết luận: cả 6 khối đá đều thuộc loại corindon, chứa 80 - 90% là sapphire với độ cứng đạt tới 9, trong khi đó độ cứng lớn nhất là 10 thuộc về kim cương. Các vị phấn khởi quá bảo nhau: Phật ở đây rồi!
Tìm được ngọc rồi, nhưng quá trình vận chuyển đá về Tây Thiên mới là kỳ công. Ban đầu, người ta đưa máy cẩu, máy xúc đến để cẩu các khối đá lên, nhưng các khối đá cứ trơ trơ dưới suối, không lay chuyển được. Họ mới điện thoại cho thầy Kiến Nguyệt và nhận được lời khuyên: “Đất có thổ công, sông có hà bá. Các vị hãy thắp hương và xin thần hộ pháp, thổ địa ở đấy để cho đem các cục đá này về tạc một pho tượng Thích Ca Mâu Ni, như thế có thể cẩu được lên”. Những người săn đá làm theo, mang hương hoa ra thắp hương khấn long thần thổ địa, quả nhiên đưa được đá lên xe ô tô tải.
Chưa hết, khi biết người ở nơi khác đến lấy đá quý dưới suối, người dân bản địa tiếc của kéo nhau ra giữ lại, không cho đưa đi. Nghệ nhân Ngọc Châu kể: Chúng tôi đã bị một số người dân địa phương cản trở, dùng xe công nông chắn đường, mặc dù chúng tôi đã làm việc với các cơ quan chức năng và được phép tiến hành việc này. Thậm chí, có một cô gái còn nằm chắn ngang đường không cho lấy đá. Khi được giải thích rằng chúng tôi lấy đá về là để tạc tượng Phật, sẽ đặt ở Tây Thiên để người dân khắp nơi đến chiêm bái, thì cô gái và dân làng mới chấp nhận cho đi.
Vượt bao khó khăn trở ngại, 80 tấn đá quý đã được đem về thiền viện Trúc Lâm Tây Thiên, hành trình từ Quỳ Hợp về đến Tây Thiên mất tới một tháng. Dẫn tôi đến chỗ hai khối đá lớn đặt ở sân trước tòa bảo tháp Phật Ngọc, Đại đức Huệ Tịnh cho biết, 2 khối đá lớn đã được sử dụng. Một khối tạc tượng Phật ngọc ban đầu nặng hơn 20 tấn, sau khi tượng hoàn thành nặng 13 tấn. Một khối 18 tấn để nguyên làm bệ tượng. Còn 2 khối ngoài sân này để dành sau này tạc tượng Phật hoàng Trần Nhân Tông và tạc một pho Di Lặc.
Kể về quá trình tạc tượng cũng muôn vàn công phu. Rất nhiều nhóm nghệ nhân được mời đến để chế tác tượng nhưng họ đã bỏ cuộc, vì đá quá rắn. Bao nhiêu mũi dùi, máy cắt, máy mài đá khi chạm lên khối đá đều bị mẻ lưỡi hết, mà đá vẫn trơ trơ. Không có một mũi dao nào tạc, khắc, làm mài mòn được loại đá này, bởi vì sapphire là một thứ vũ khí để phá vật liệu khác chứ vật liệu khác không thể phá được nó. Phải đến khi các nghệ nhân Phạm Ngọc Châu, Hoàng Nam Hải, Vương Ngọc Tiến nhận thực hiện cùng với một nhóm nghệ nhân khác hỗ trợ, họ lắp toàn bộ các mũi dùi, lưỡi cưa bằng kim cương vào các máy mài, máy cắt đá thì mới thực hiện được. Công việc chế tác tượng Phật ngọc tiến triển vô cùng chậm chạp. Hai nhóm nghệ nhân của Hà Nội tạc bằng máy để định hình dáng, đường nét thô, sau đó một tốp nghệ nhân ở Đà Nẵng ra để chạm khắc chi tiết, chỉnh lại cho đẹp đẽ và mài bóng pho tượng. Sau gần 2 năm kỳ công mài dũa tạo tác, pho tượng Phật ngọc bằng đá sapphire, cao 3,45m, nặng 31 tấn đã được hoàn thành vào năm 2012 trong sự ngỡ ngàng khâm phục của rất nhiều người.
C.M.K