TẬP TRUNG XÂY DỰNG CON NGƯỜI VỀ ĐẠO ĐỨC, NHÂN CÁCH, LỐI SỐNG, TRÍ TUỆ VÀ NĂNG LỰC LÀM VIỆC!
Từ khóa tìm kiếm Từ khóa tìm kiếm

Tuyển tập Thơ và Trường ca đoạt Giải thưởng Văn học Nghệ thuật 1997 - 2016 (Quyển 2, phần 12)

(Ngày đăng: 18/01/2018, số lượt xem: 40)

 

 

 

Lá đợi
 

 

 

NHÀ XUẤT BẢN HỘI NHÀ VĂN, 2007
 

 

 

 

 

 

------------------------------------------------------
 

 

 

Tập thơ đoạt giải Khuyến khích,
 Giải thưởng VHNT tỉnh Vĩnh Phúc 5 năm lần thứ III
(2006 - 2010)

 

 

 

 SUY TƯ TỪ PẮC BÓ
 

 

 

Sáng Thu con đến nơi này
Nao nao suối hát, rừng đầy tiếng chim.
Lộc trời sáng những dòng tên
Đây núi Mác, kia Lê - nin suối nguồn !
Dòng sữa quý chẳng ngừng tuôn
Cho trời đất thắm tròn, vuông thuận hoà.
Con vào Cốc Bó thăm Cha
Sương hang bịn rịn chiều qua đến giờ.
Phản nằm chẳng trọn giấc mơ
Hình như nhũ đá cũng vừa xuống chơi.
Phong rêu giữ ấm chân Người
Dệt trăm bậc đá bao đời dấu in.
Ngẩn ngơ bầy cá suối tìm
Mồi câu Bác thả bổng, chìm đâu đây ?
Qua cầu rẽ lá, vin cây
Kia rồi bàn đá tháng ngày chông chênh.
Từ đây sáng sử nước mình
Từ đây cơm áo, hoà bình, tin yêu…
 
Dẫu đời chưa hết gieo neo
Còn cơ nghèo bám, còn chiều bão giông.
Suy tư vợi bớt chiều đông
Ngước lên bắt gặp trời hồng sáng soi.
 
22/ 8/ 2006
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Tăng dừng, nhịp thở chạm vào Xuân
Hương dầu ngái ướp mềm liếp cửa
Bụi cuốn, dải khăn hồng thắp lửa
Tơ Xuân mơn mát đậu thềm vai.
 
Đất trời bận nhú khoảng non phơi
Líu ríu chim hót lời ca cũ
Nòng pháo nghiêng tròn chưa nguội lửa
Chim đậu nhầm - Nỗi nhớ mùa xa.
 
Anh lính xe tăng ngân nga
Khúc mùa Xuân chênh sang mùa lũ.
Bức tranh quê tở mở
Lòng đất, lòng trời ngan ngát hương.
Mười tám, đôi mươi tràn trề sức trẻ
Ta đi xa cho hạnh phúc về gần.
 
Biết mẹ già nhưng không thể nào hơn
Đất không đẻ như người đi đánh giặc.
Những có thể làm mùa màng thất bát
Nhưng khẩu súng này biết chọn giữ mùa Xuân.

 
 
 
 
 
 
 
 
 
Giặc tan, trở lại quê nghèo
Bước chân hẫng hụt giữa chiều nhân gian.
Tôi về, gửi lại lo toan
Với bao năm tháng nhọc nhằn vấn vương.
Nhớ khi chung chiếu, chung giường
Điếu thuốc ngắt nửa, cân đường xẻ tư.
Thương yêu khẩu súng đến giờ
Cát rang bỏng cả vần thơ dưới hầm.
Nhớ từng cử chỉ, bước chân
Dáng hình đồng đội âm thầm bước qua
Cả khi ánh chớp chói loà
Máu ai xối đỏ chan hoà cỏ cây.
Người về nguyên vẹn là đây
Người đi khuất nẻo những ngày xa xanh.
Nắm xương gửi lại đất lành
Cho bia nên tích, cho trầm lên hương.
Cây kia xanh đã hoá rừng
Đất đau bom xới thắm từng lời ru.
Nhoè trong ký ức thực, hư
Mới thôi đầu suối nay như cuối dòng…
 
Tôi về gạn đục, khơi trong
Hớp hồn gió mát, thắm lòng đất quê.
 
5. 2002
 
 
 
 
 
 
 

 

 

Anh đi qua bốn mùa rẫy
Dòng Nho Quế đầy lại vơi.
Tiếng kèn ngủ im trong lá
Bốn mùa quên không lên môi.
 
Bếp than em cời, giữ lửa
Gối cũ màu, gối mới vừa thêu.
Vách núi thức ôm tròn tiếng hú
Hội Còn tan, nỗi nhớ trĩu cây nêu.
 
Làng bản chờ anh, cây đợi nắng
Bộ đội về, Xuân cũng về theo.
Câu “ Phươn ”, câu “ cọi ” lên xanh thắm
Ấm môi rừng, kèn lá bừng reo.
 
 
 

 
 
 
 

 

 

Nhà có hai người lính
Một trẻ với một già
Người tóc tiêu tiêu muối
Kẻ đang độ măng tơ.
 
Ngày hành quân đuổi giặc
Quả na - Con mở mắt
Thơm lựng bàn tay bà
Dẻo bàn chân cha bước.
 
Thời gian như đưa mắt
 Tạc con vào bóng cha
Áo lính, con thử mặc
Làm cả nhà xuýt xoa.
 
Giấy báo vào đại học
Cùng lúc gọi nhập quân.
Con chọn màu xanh lá
Suốt đời cha đã mang.
 
Cùng một hai đều bước
Chia đôi nắng thao trường
Cây súng cùng đích ngắm
Hát một bài ca chung.
 
Cha con vui ngày phép
Lại chuyến hành quân xa.
Duy chỉ còn có mẹ
Là buồn tênh ở nhà…
 
 
 
 
 
 
 
 
 

 

 

Dưới cánh rừng thưa đoàn tăng nghỉ lại
Nắng chói chang, ve rỉ rả trưa nồng.
Tiếng đàn cất lên ( chắc là anh lái )
Mới nâng bầu đã mát cả lòng thung.
 
Đồng đội vây quanh, toàn gương mặt trẻ
Dầu mỡ lọ lem, khúc khích giọng cười.
Này cậu, nảy vài câu Quan họ
Để mình nhớ sông Cầu có bóng dáng
Người ơi !
 
 - Tớ ấy à ? Chưa nghĩ một chuyến xuôi
Điệu “ Cò lả ” ngân lên, coi về rồi đấy nhé !
Chưa gặp đồng bằng thì trên này có mế
Hôm qua làng, bát nước mế tìm trao.
 
Anh pháo thủ hoa tay giữ nhịp
Theo thói quen như lúc giật cò
Mắt nheo nheo, mồ hôi lăn trên má
Lựa theo từng nhịp phách nhỏ, to.
 
Anh trưởng xe gật gù, trầm tư
Nghe “ Gió mùa Thu ”… “ nhà ” mình gần ở cữ
Mặt đỏ lên, những chàng trai chưa vợ
Tưởng thầm thì tiếng gió chuyển qua vai.
Không ai nhớ mình qua bao trận đánh
Cơn sốt vàng da gửi lại ven rừng
Tiếng đàn gợi lung linh kỷ niệm
Về những ngày cùng đồng đội xung phong.
 
Vài phút nghỉ thôi qua cơn đói mệt
Máy nổ dồn, tăng đi điệp trùng sao.
Qua mấy ngầm sâu, mấy “ cua ” vách dựng
Tiếng đàn bầu nâng nòng pháo vươn cao.

 
 
 
 
 
 
 
    Với họa sỹ Quách Đại Hải
 
Nửa đời lang thang
Nửa đời ẩn vào trăng gió
Hồn khuyếch tán
          theo
   mùa…
 
Vầng trán ông trầm tư
     -  những rãnh soắn cuộc đời,
      những mạch ngầm tuôn chảy
Bạn với trăng mòn khuyết vành trai
Ly rượu đời khắc khoải…
 
Ông ngồi hàng giờ trước
gương mặt cha tôi,
              gương mặt mẹ tôi,
                              gương mặt em tôi
Để tìm - một - gương - mặt
 chìm sâu trong cuộc chiến…
 
Linh ứng gì trên vóc lụa
Xúc cảm gì qua xâu chuỗi thời gian ?. . .
 
Lớp sáng tác VHQĐ, khóa I
Tháng 8/ 1998

 
 
 
 
 
 
 
                        Thương nhớ nhà thơ Hoàng Tá
 
Anh nằm tại nhà anh, rồi mai dây
        Sẽ không - phải - của - chính - mình.
Ô đất vợ chồng anh được chia hun hút tầng gạch móng
Bằng cả tòa nhà tặng cho thế giới bên kia.
 
Ôi giá như ngôi nhà này bình yên
Dẫu sinh nở phố phường đang trên đà chóng mặt
Có phải anh ở đây ung dung là của nhà mình ?
Chị vuốt mắt cho anh,
   ánh mắt đục lờ còn gợn tia trắc ẩn.
Tôi đã từng bế anh
Cùng đôi nạng cặp kè lên chiếc xe máy của tôi
Rong ruổi vào từng ngách xóm.
Anh muốn tìm cho mình một mảnh đất giản đơn
Một chút bình yên
  chút chiều xế bóng
Thả hồn theo bước chân quấn quýt học trò.
Anh hy vọng tìm lại đôi chân mình
    dưới mỗi gót bé thơ…
Không được nữa anh ơi ! Định mệnh đã chiếu cờ
Xếp bút nghiên và những điều giản dị
Anh bình thản ra đi trong nức nở bạn bè.
Vợ anh gọi nhiều lần không thành tiếng
Chỉ những giọt mưa nhạt nhòa
Phủ xuống vầng trán đứa con trai
Niềm hy vọng của anh sớt lại cho đời…
 
Hoàng Tá ơi !
Chúng tôi xin góp thêm niềm hy vọng :
Mỗi viên đất hôm nay thả xuống
Là bình minh về từ phía cuối nẻo xa !
 
 
 
 
 
 
 
 

 
                      Tưởng nhớ đồng đội đã hy sinh
 
Lối cũ dìu nhau về
Khói hương thầm thì nhắc
Đồng đội nương vào nhau trầm mặc
Neo lòng ở nơi đâu ?
 
Như vừa xuyên núi thẳm, rừng sâu
Trận sốt cùng pháo bầy truy đuổi
Bụng teo thắt, môi nhạt nhòa vắng muối
Ấn vào da để dấu chân chồn.
 
Cơn mưa trái mùa giăng nỗi tơ vương
Điếu thuốc ngắt đôi gợi về hoan hỉ
Bức thư nát nhàu, chia nhau ngẫm nghĩ
Củ sắn nùi bày tiệc ngẩn ngơ…
 
Bởi có cánh rừng không còn lời ru
Bởi mặt trời gói vào đêm tím ngắt
Chỉ còn những bàn chân giành nhau trong chớp
Tĩnh lặng kia sao không phải cho mình ?
 
Nào nâng lên, cạn hết vui, buồn
Uống cho cả những ai không về nữa !
Chén rượu nồng gặp nhau, cháy đỏ
Trong mắt người sâu thẳm
                                            lửa rơi…
                                                         rơi … 
 
Trại sáng tác Quân đội
   Đồ Sơn, 10 - 1998

 
 
 
 
 
 
 
 
Ta đi Đền Hùng mồng Mười, tháng Ba
Gặp hạt thóc cháy thời dựng nước
Con trâu gốm đất nung vàng
Vua vén bào dạy dân cày cấy
Mở lò đúc kiếm, nấu đất nên đồng.
 
Ta gặp lại khí thiêng sông núi
Mũi tên thần nhọn sắc tới muôn sau
Vó ngựa Gióng thành ao chuôm cổ tích
Gióng tre nào cũng mang dáng ngà sao ?
 
Gặp lại tiếng trống đồng Ngọc Lũ
Đánh một hồi vang suốt bốn ngàn năm
Trầu mời xanh trong thanh tao quyến rũ
Mẹ ta ăn cho ta có duyên thầm.
 
Xuống giếng Ngọc, ta gặp mình trong đó
Lòng bỗng thênh thênh hết bụi trần
Ôi giá cùng em soi gương tỏ
Đường đời chắc nhẹ gánh nhân duyên ?
 
Ta gặp ở Đền Hùng - Tất cả
Gặp thời xưa và gặp ngày nay
Gặp lời thề ủ sâu trong cột đá
Nước non này mãi một dáng rồng bay…
 
 
 
 
 
 
 
 
Gặp lại em
một thuở Trường Sơn
Em cười đỏ mắt
Cái bắt tay lỏng lẻo vô tình
Em có lỗi đâu mà trái ngang oan nghiệt
                                         buộc vào đêm…
 
Những ngón tay sần chai thay lược
Em gỡ tuổi xuân đi cùng tóc
Sợi tóc về trời có trở lại đầu thai ?
Rừng trụi lá làm em si cuồng
Tự vấn mình còn là con gái ?
Cái dây phơi làm bạn ân tình
Hiểu nỗi niềm thẳm sâu ít thấy.
 
Hai mươi mấy năm chờ đợi
Mong làm con gái một ngày
Tóc trả lại thời Trường Sơn lửa cháy.
Cho em chằm bặp gương soi
Cho em tìm lại lần mắc cỡ
Bên ven rừng…
                       sau trận đánh luồn sâu…
 
Gặp lại anh
Chút lá mong manh chẳng lợp kín đầu
Em khóc, em cười, em dỗi
Anh trồng cây si chẳng thể được đâu.
Lỗi chẳng phải tự phía nào, hai đứa
Cứ để nguyên như Trường Sơn, một thuở…
 
Trường Sơn trong trắng, dịu hiền
Hát cùng bom gào, chớp lóa
Đi như đuổi, ngủ vô tư như lá
Bên cuốc xẻng, dây mìn.
Ngày mai chắc có cung đường bị phá
Ngày mai có người bị hút vào đêm
Nhưng cung đường phải thông
  tới tận cùng trận đánh
Sẽ gặp ban mai ở cuối cánh rừng
Em một thời như thế, với Trường Sơn…
 
 
 
 
 
 
 
 

 
 
Tưởng nhớ các liệt sỹ xe tăng số 377
trận Tân Cảnh, Đắc Tô, mùa hè 1972
 

 

 

Tôi gặp vầng than trong Bảo tàng truyền thống
Không ! - Đó là nắm cơm của kíp xe
đánh vào Tân Cảnh, Đắc Tô
Các anh chưa kịp ăn khi mê mải diệt thù
Hai mươi bảy năm, nắm cơm còn đó,
   lặng lẽ vào bất tử…
 
Nắm cơm hình quả cầu
Thơm thảo mùi đất đai, cây cỏ
Có giông bão tháng Mười quét qua mùa lũ
Có vị muối nhầu vai mưa nắng ba miền.
 
Nắm cơm xuyên qua cuộc hành trình
Mang khúc hát của anh nuôi ra trận
Hạt nép vin cây
Hạt sây thì rụng
Cả cái cò lận đận đón cơn mưa.
 
Nắm cơm
Không độn khoai, độn ngô
Mà độn cả ngàn ngày bão lửa
Nắm muối nêm là hờn căm chất chứa
Những đứa con bỗng hóa lửa chiến trường…
 
Tôi nâng vầng cơm trên tay, rưng rưng
Như nâng cả mặt trời nóng bỏng…
 
  Hà Nội, 19 - 29/ 5 / 1999
 
 
 
 
 
 
 
Tặng nhà thơ Bùi Sỹ Hoa
 
Mai bạn về
Đêm nay ta nằm chung giường một
Chiếc giường vốn ngày thường đã chật
Bạn và ta úp thìa thôi !
 
Ngày mai mỗi đứa một nơi
Sẽ chẳng biết bao giờ gặp nữa
Nhưng giai điệu bạn bè muôn thuở
Cứ nồng nàn như hơi ấm đêm nay.
 
Tôi sờ vào bàn tay đầy chai
Biết năm tháng bạn làm được những gì trong ấy
Ngón chai bạn dành cho cầm lái
Búp xoe tròn, mềm mại, cho thơ.
 
Bạn hay nói về con đường mộng mơ
Những ngày tháng chúng mình ra bãi tập
Tháp pháo bồng bềnh, mây trôi trắng tóc
Bầu trời nghiêng qua mỗi chiếc cua vòng.
 
Bạn đọc thơ trong tiếng máy vang giòn
Phải thét to cho mỗi người nghe được
Câu thơ bạn thích gập ghềnh đèo dốc
Như guồng xích băng qua hết thảy địa hình.
 
Bạn không hay nói về mình
Nhưng rửa máy, lau gầm bạn làm trước nhất
Đôi đũa lệch cũng giành lấy được
Miếng ngọt, miếng bùi, bạn gắp nhường tôi.
 
Chỉ còn đêm nay nữa thôi
Đêm úp thìa, đời lính mình mới có
Cười rung chiếu màn phập phồng cánh gió
Thế mà mai lại cách nhau rồi…
         
Kim Long, 10/ 12/ 1985
 
 
 
 
 
 

 
 
                  Kính tặng đồn  Biên phòng 185 Anh hùng - Hà Giang
 
Òa từ mây
Âm i ngàn con mắt lá
Nâng gió lên tấu điệu của rừng…
 
Tuần một phiên đi chợ bản Muồng *
Thũng thẵng ngựa ô bước nghiêng sườn núi
Cô gái Mông mắt trong rời rợi
Ngẩn ngơ tiếng kèn pì le, pì le.
 
Bay lên cao vút gọi vầng mây che
Lắng xuống lòng khe mát dòng suối khát
Ô nở múi ươm mềm nắng gắt
Kèn lá lung linh buộc ta, mình.
 
Lính Biên phòng đùa: chẳng đâu bán kèn?
Mai về xuôi làm quà một chiếc
Đôi trai gái Dao bấm nhau khúc khích:
Cái lá rừng nhiều, cho không thôi!
 
Ở đây bốn mùa chơi vơi, chơi vơi
Tiếng pì le - khoảng trời riêng thương nhớ
Cây rứt lá cho rừng ru nghiêng gió
Thả xuôi dòng, nghe rõ được chăng em?!
                                  Hà Giang, 10/ 1998
------------------------------
 (*) Chợ họp theo kiểu lùi phiên ở xã Bạch Đích, huyện Yên Minh, Hà Giang
 
 
 
 
 
 
 
 
Tiếng cạch phía thù đẩy Tâm vào
    lòng nôi tháp pháo
Một dòng nhựa sinh sôi tách khỏi trái tim hồng.
Vội theo đoàn quân, tôi kịp để anh nằm
Chồng đá xếp theo đội hình thần tốc
Lọ thuốc rỗng chứa đôi dòng nguệch ngoạc :
 - Ngày…tháng…
     sải tay…
     vật chuẩn…
 cách Sài Gòn…
 - Nếu còn sống, có ngày tao trở lại !. . .
 
Chiến tranh qua đi để lại vết chàm
Thẫm đẫm đớn đau, lổ loang da thịt.
Cơn lốc thị trường vợi dần mất mát
Đâu anh nằm ? - Những cao ốc dọc ngang ?.
 
Nhờ gặp thời cho tôi đủ khôn ngoan
Đủ mung mánh bon chen,
     thị trường không biên giới
Không tiếng rít thép gang
    không tiếng cạch đầu nòng
Giấc mơ nồng mơn man cùng máy lạnh. . .
 
Bắt đầu từ tiếng gõ nhặt, đanh
 - Tiếng kẹt cửa, vợ tôi vào âu yếm
Chợt thảng như tiếng cạch đầu nòng,
  tiếng ai đứt quãng :
 - Vợ tao đâu ? Con tao đâu?
Câu hỏi xoáy như rãnh sâu nòng pháo.
 
Tôi nhận ra tiếng kẹt cửa của vợ tôi
Tiếng gõ mỗi ngày tan phiên chợ sớm
Cứ mơ hồ, vây ráo riết không tha…
 
Như kẻ cô hồn, tôi tìm tới nơi xưa
Lẩm nhẩm tháng… ngày
    sải tay
         vật chuẩn…
  cách Sài Gòn…
Bạn tôi nằm trong tư thế tiến công…
 
 
 
 
 
 
 
                    Kính tặng Vĩnh Yên, Thành phố của tôi
 
“Vĩnh Yên, vĩnh viễn bình yên”
Câu ca nay mới ngọt mềm bờ môi
Trải bao gió dập, mưa vùi
Bao nhiêu oán hận ngút trời bi thương…
 
Cái thời Pháp chiếm quê hương
Nơi đây một bãi chiến trường liệt oanh.
Rào gai nhưng nhức tháp canh
Đêm đêm đại bác giật đoành, xé tai.
Lính Tây súng ngắn, súng dài
Đàn bà chúng hiếp, trẻ trai ép đồn.
Xác người bầm giập đường thôn,
Nửa đêm quan dịch, trống dồn bắt phu.
Sống như đêm tối mịt mù
Nhà mình mà ngỡ cầm tù chân tay.
Lúa non chúng nhổ, trồng đay
Chữ ta bắt đốt, chữ Tây thời dùng.
 
Đói cơm, rách áo ở chung
Cày thuê cuốc mướn, cố cùng quanh năm.
Nào đâu bom đạn hoang tàn
Dân đâu bỏ phố, bỏ làng mà đi?
Cách mạng về, ấy từ khi
Dấy lên kháng chiến giết tề, trừ gian.
Quét đồn bốt, phá nhà giam
Đường tàu cũng lật, đường quan cũng đào.
Nhật, Tây hoảng sợ nháo nhào
Bị thua tan tác còn cào cắn nhau.
Cầu Oai, cầu Giã, núi Bàu
Khai Quang, xóm Phổ, địch đau bị “ dần ”.
Việt gian tìm cách tháo thân
Cường hào, địa chủ bội phần hoang mang.
Trời Thu rực ánh sao vàng
Dân ta thôi kiếp cơ hàn bấy nay.
 
Ruộng kia về lại dân cày
Phố phường tái hợp những ngày bình yên.
Chùa Hà, dốc Láp, rừng Lim
Lai Sơn ngày ấy còn in dấu Người.
Bác mong Vĩnh Phúc đổi đời
Mà nay đã vượt mấy mười năm xưa.
Đường ngang, phố dọc ô cờ
Làng thành đô thị khép bờ tre xanh.
Khu công nghiệp lớn dăng thành
Từ nơi sỏi đá hóa tranh muôn màu.
Thầy trò học rộng, tài cao
Tiếng vang nức cả năm châu - Xứ người…
Vĩnh Yên một thuở, một thời
Trăm năm gửi lại muôn lời đàn say.
Ngỡ như qua một đêm dày
Tan cơn mơ thấy trời đầy bình minh.
       
 Khai Quang, 28/ 8/ 2006
(Nhân dịp Vĩnh Yên 100 năm đô thị)

 

Nguyễn Tạ Vĩnh Hà