Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ra sức thi đua thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2018!
Từ khóa tìm kiếm Từ khóa tìm kiếm

NHÀ VĂN VĨNH PHÚC HIỆN ĐẠI (Quyển II; Phần 3)

(Ngày đăng: 19/01/2018, số lượt xem: 84)

 

 


 NGUYỄN UYỂN


- Họ và tên khai sinh: Nguyễn Văn Uyển


- Sinh năm 1942

- Bút danh: Vĩnh Hà

- Quê quán: Quân Khê, Hạ Hòa, Phú Thọ; sinh sống và lập nghiệp ở Vĩnh Tường, Vĩnh Phúc

- Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam (từ 2002)

 

- Tác phẩm chính đã xuất bản:

* Mùa cày (tập truyện ngắn, 1984)

* Đất lọc hạt (Tập thơ, NXB Hội Nhà văn, 2006)

* Những ngày chưa xa (Tập truyện ngắn, 1997; tái bản, 1998)

* Làng có chuyện (Tập ký, 1997; tái bản,1998)

* Người phán quyết (Tập truyện vừa, 1998)

* Trời hành (Tập truyện ngắn, 2001)

* Lẽ đời (Tập truyện ngắn, 2003)

* Báo chí nghề nghiệt ngã (Tiểu luận – 1998; tái bản 1999)

* Xử lý thông tin - Việc của nhà báo (Tập truyện ngắn, 1984)

* Báo chí - Mấy thể loại thông dụng (Tiểu luận – 2004; nối bản 2005)

* Nguyễn Uyển tuyển truyện, 2006 

* Cuối đất đỉnh trời (Tập ký – 2008)

* Dòng chảy đất đai (Tiểu thuyết – 2010, tái bản 2011)

* Tình người Điện Biên (Tập ký, 2010)

* Cháy mãi một tình yêu (Tập ký, 2010)

* Lên với đỉnh giời (Tập ký, 2012)

* Làm theo lời Bác (Tập ký tuyển chọn, 2012)

* Sáng mãi niềm tin yêu (Tiểu thuyết – 2010, tái bản 2011)

* Giữa đất trời Âu (Tập ký, 2014)

* Mưa rây trong nắng (Tập truyện ngắn, 2015)

* Những trang viết nhỏ (Tập ký, Tiểu luận, Tản văn, 2015)

Cùng các tác phẩm do một số NXB  tuyển chọn (in chung)...

- Giải thưởng văn học:

* Giải Khuyến khích, Giải thưởng Văn học Hùng Vương (Tập ký Đất Lọc Hạt).

* Giải thưởng Bút ký văn học Cuộc thi do Báo Văn Nghệ & Đài TNVN tổ chức năm 1986.

* Giải thưởng cuộc thi Bút ký về đồi rừng do Hội VHNT Vĩnh Phú tổ chức với tác phẩm “Lạc Trung Xanh”

* Giải ba cuộc thi viết về học tập và làm theo tấm gương đạo đức Chủ tịch Hồ Chí Minh do Ban Tuyên giáo Trung ương tổ chức (Hội Nhà Văn VN xét duyệt) với ấn phẩm “Làm theo lời Bác”.

- Suy nghĩ về nghề văn:

 “Nghề văn - Nhà văn nhọc nhằn, sáng tạo. Không khi nào chịu làm nô lệ cho những thị hiếu thấp hèn”!


A - TRONG KÝ ỨC BẠN BÈ

 

NGUYỄN UYỂN – VĂN LÀ NGHIỆP,

BÁO LÀ NGHỀ

                                                                                              Nguyễn Văn Toại

 

Không phải nhà báo nào cũng đồng thời là nhà văn nhưng đã là nhà văn thì không mấy ai không viết báo, thậm chí có người còn là một nhà báo chính hiệu, ăn lương ngạch báo chí và nghỉ hưu từ một đơn vị báo chí nào đó. Tôi nghĩ, Nguyễn Uyển thuộc trường hợp thứ hai. Anh cầm trên tay tấm Thẻ nhà báo từ rất sớm và đến nay, tính ra, anh đã có tới 50 năm tuổi nghề tân văn, còn Thẻ nhà văn thì anh mới chỉ nhận từ năm 2002!

Để trở thành nhà báo với đúng nghĩa của từ ấy đâu phải đơn giản nhưng để được nhập hộ khẩu làng văn cũng không hề dễ dàng. Nguyễn Uyển đã học viết văn ngay từ khi còn ngồi trên ghế trường Sư phạm của Bộ Giáo dục đặt ở tỉnh Bắc Ninh (cùng lớp với Nguyễn Phan Hách, Kim Dũng, sau này đều trở thành hội viên Hội Nhà văn Việt Nam). Trong thời làm giáo viên ở Vĩnh Phúc, anh chập chững đến với nghề văn bằng những bài thơ, bút ký, phóng sự phát trên Đài Tiếng nói Việt Nam, in ở một số báo địa phương và Trung ương. Từ năm 1966, anh làm ở báo Vĩnh Phúc, sau là Vĩnh Phú, rồi được đi học Đại học báo chí (1969-1973) cùng nhà văn Nguyễn Đức Thiện. Mặc dù chưa qua một trường lớp viết văn chính quy nào nhưng những thành tựu văn chương anh gặt hái được đều bằng con đường tự nguyện, tự làm, tự rút kinh nghiệm. Những lý thuyết về báo chí cách mạng mà nhà báo Nguyễn Uyển tiếp thu được trên giảng đường cũng là kim chỉ nam cho nhà văn Nguyễn Uyển cầm bút. Ngồi trên ghế nhà trường, anh viết Sau mùa lũ, truyện ngắn đầu tay được trao giải (1972). Cả một chặng dài hành trình làm phóng viên, làm quản lý (Tổng biên tập báo Vĩnh Phú suốt mười năm) và gần hai chục năm lăn lộn với công tác Hội, trên cương vị Trưởng ban (Vụ trưởng), anh đã viết nhiều trăm bài bút ký, phóng sự, một thể loại đòi hỏi trước hết ở tính cập nhật, nếu quy nó về địa hạt báo chí cũng đúng và coi đó là "sân chơi" của nghề văn cũng không sai. Thế nên, khi Làng có chuyện, tập ký, tái bản năm 1977, Cuối đất - Đỉnh trời, tập ký, xuất bản năm 2008, ai cũng hiểu đó là những sản phẩm văn học mà nhà văn Nguyễn Uyển đã hoàn thành trong suốt quá trình làm báo.

Tôi không có ý hướng suy nghĩ của bạn đọc nghiêng về phía Nguyễn Uyển -  nhà văn hơn là Nguyễn Uyển – nhà báo, bởi như thế sẽ là bất công đối với nghề báo, một nghề mà anh được đào tạo một cách bài bản và anh đã thủy chung với nó trọn vẹn cả một đời cán bộ. Nếu quan niệm nghề báo là cái cầu dẫn anh đến với nghiệp văn thì e là chưa thỏa đáng. Làm báo với anh là một nghề, nghề làm ăn, kiếm sống, còn văn là cái nghiệp tiền định rồi. Nghề hay nghiệp thì cũng có mặt mạnh, mặt yếu vốn dĩ, cả hai bổ sung cho nhau, làm phong phú cho nhau. Làm báo thì phải đi nhiều, viết nhanh, lấy ngắn nuôi dài; làm văn tuy chậm nhưng sống lâu, nó là "khối tình con" thứ hai. Nhà văn Nguyễn Uyển hoàn toàn có thể tự hào với chức danh phóng viên và thâm niên làm báo của mình. Nếu như trong văn của Nguyễn Uyển khó tránh khỏi dấu ấn của thể loại tân văn và trong báo của anh lại chuyển tải được nhiều chất văn chương, không gì khác là cái tạng của nghề và nghiệp. Nếu sự nghiệt ngã của nghề báo đã khiến nhà văn Nguyễn Uyển có phần dè dặt trong hư cấu trong nghệ thuật thì đó lại là lý do thôi thúc anh mạnh dạn đứng tên là tác giả ba công trình tiểu luận khiêm tốn về nghề: Báo chí - Nghề nghiệt ngã (1998);Xử lý thông tin - Việc của nhà báo(2001) và Báo chí - Mấy thể loại thông dụng(2004).

Cho đến nay, ngoài hàng chục tập bút ký, truyện ký, truyện ngắn, Nguyễn Uyển đã trình làng tập truyện vừa: Người phán quyết(1998) và tiểu thuyết Dòng chảy đất đai(2010). Ngày về in trong tập những truyện vừa hay cùng với Nguyễn Kiên, Nguyễn Thị Ngọc Tú... Nhiều truyện ngắn khác của anh cũng đã  được chọn in trong những tập truyện ngắn hay của một số nhà xuất bản có tên tuổi... Anh không thuộc tạng nhà văn ưa chiêm nghiệm về nhân tình thế thái cũng như nặng lòng với quá khứ. Theo anh, phẩm chất của người cầm bút thời nay là thông tin và không khoan nhượng với mọi tiêu cực. Tư tưởng chỉ đạo này chính là cái đòn bẩy đưa nhà văn Nguyễn Uyển sớm gắn bó với cuộc sống nông thôn, với nông nghiệp và nông dân, bây giờ ta gọi là "tam nông", rồi từ đó mà ra đời cả ngàn trang viết về một vùng "đặc khu" không phải nhà văn nào cũng may mắn gây dựng được. Đề tài anh chọn không phải là "nông thôn muôn thuở" mà là nông thôn trung du, miền núi thời hội nhập đang bị phân hóa với biết bao vấn đề bức xúc đặt ra, âu cũng là cái "tật" của nhà báo. Anh đã có lần bộc bạch: Nghề văn – nghề nhọc nhằn, nghề báo – nghề nghiệt ngã. Không khi nào là thư nhàn". Người làm sao, bào hao làm vậy – câu này càng đúng với Nguyễn Uyển. Anh còn nói thêm: "Chẳng khi nào chịu làm nô lệ cho những thị hiếu tầm thường". Anh đã viết và trước hết là sống nghiêm túc trong đời cũng như trong nghề. Đây là chỗ tôi và anh gặp nhau và tình bạn giữa hai chúng tôi, vì vậy mà trở nên lâu bền. Nghiền ngẫm những trang lý thuyết thấu tình đạt lý của anh về nghề báo, đương nhiên cũng là của nghiệp văn, bạn đọc sẽ rút được nhiều bài học sâu sắc về tư tưởng, vai trò chiến sĩ, về bổn phận công dân của người cầm bút trước những biến động khôn lường của thực tiễn. Anh khắc cốt ghi tâm quan điểm về tự do sáng tác của văn hào Nga M. Xôlôkhốp: Nhà văn có quyền viết theo chỉ thị của trái tim nhưng trái tim họ phải thuộc về Đảng và nhân dân thân yêu. "Ngòi bút gọi" là cụm từ tâm đắc anh đã neo vào nghiệp văn của mình với điều tự răn: Mọi lý do của người cầm bút bao giờ cũng phải trong sáng, bao giờ cũng phải đi theo tiếng gọi của lương tâm, phải vì chân lý, vì cách mạng để mà viết mà kể.

Câu châm ngôn của người xưa: Đời dù sướng hay khổ cũng vẫn đẹp, hãy chờ đón nó! đã giúp Nguyễn Uyển có được cái nhìn tươi rói, thấm đẫm tình người ngay cả khi anh đụng chạm đến những mảng bi kịch đời thường hoặc phê phán gay gắt tệ tham nhũng, đục khoét của công, những thói hư, tật xấu trong mỗi con người. Đó là lý do khiến nhiều trang truyện của anh từ lâu vẫn tìm được chỗ đứng trong tình cảm của bạn đọc. Thật khó có thể nói được nhiều về những thành công của anh trong việc miêu tả đến từng chi tiết tính cách những con người và khung cảnh làng quê trung du "đồi tròn thì ít, eo ẻ, một triền thì nhiều".

Những bất trắc xảy ra với các truyện ngắn Sau mùa lũ, và Ngày ấyThầy vẫn thương tôi, và bài báo Hương Nộnbỏ ruộng hoang trên đất huyện Tam Nông chẳng phải là những bài học nhớ đời đối với anh sao? Những nhân vật được nhắc đến trong các truyện ngắn trên đã ngộ nhận mà đâm đơn kiện tác giả, thậm chí số báo có bài viết của anh bị đồng chí bí thư huyện ủy Tam Thanh lúc ấy cấm lưu hành ở địa phương chỉ vì nghĩ rằng anh đã lợi dụng phương tiện thông tin đại chúng để nói xấu họ (!) Nhưng tấm lòng trung thực và sự thiện chí của tác giả đã vượt lên trên những đố kỵ. Quý nhân phù trợ cho anh là đồng chí P. Chủ tịch tỉnh Quốc Phi và Bí thư tỉnh ủy Hoàng Quy. Nguyễn Uyển tâm sự: Chuyện buồn quanh Sau mùa lũ là cái cớ để anh tác thành tập truyện Những ngày chưa xa, từ Hương Nộn bỏ ruộng hoang mà anh có thêm một số bài phê phán những biểu hiện tiêu cực trong các lĩnh vực của cuộc sống dưới nhiều bút danh khác nhau, trong đó có bài viết gần như là để tri ân: Đất giữa vùng sơn đã để chúng tôi thanh thản. Đã bước sang tuổi cổ lai hy, lại thêm chứng thấp khớp hành hạ, nhà văn Nguyễn Uyển vẫn còn ham đi và ham viết lắm. Một thân một mình với cái máy ảnh cầm tay đáp ô tô khách đường trường lên tận tỉnh Điện Biên, Lai Châu tìm đến với những chiến sĩ Biên phòng ở Ka Lăng, Tây Trang, A Pa Chải; những bản làng người dân tộc ở nơi hẻo lánh, trên những đỉnh núi cao ngất ở Mường Ảng, Mường Nhé, Điện Biên Đông... Anh nói, phải đến những vùng xa xôi  ấy mới có cái đáng để mà viết và gắng viết sao cho người đời phải nhớ. Quả thật, những trang viết nóng bỏng của anh sau chuyến đi khổ công này đã khiến các đồng nghiệp địa phương tâm phục khẩu phục và chủ yếu là nó đã tác động mạnh đến lương tri bạn đọc xa gần về hiện trạng của đồng bào vùng cao và kéo theo đó là các nguồn hàng từ thiện ùn ùn đổ về giúp đỡ tỉnh Điện Biên. Nhưng điều vinh dự nhất cho nhà văn Nguyễn Uyển là anh đã được ghi công bằng câu nói cửa miệng: "Ở Điện Biên người ta luôn nhắc đến nhà văn – nhà báo Nguyễn Uyển!"

Thoắt thôi, anh đã lại có mặt ở miền biển Vũng Tầu nắng gió cùng với các nhà văn Tạ Duy Anh, Sương Nguyệt Minh, Kim Chuông viết chân dung những người đi tìm lửa cho ngành dầu khí, một đề tài hoàn toàn xa lạ nhưng với anh lại thêm một chuyến thâm nhập thực tế dày cộm những kỷ niệm.

Sinh ra ở làng Quân Khê, huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ, miền đất hứa về ngành nghề và về tiềm năng du lịch. Anh là người sống có trách nhiệm với gia đình, vợ con, với bạn bè, đồng nghiêp. Tính tình quảng giao và cởi mở; ai đã quan hệ với anh và đọc anh đều tìm thấy ở anh cảm giác bình yên và tin cậy. Tôi nuôi hai đứa con mà nếm đủ mùi. Anh phải đi bước nữa, vì bà vợ đầu của anh không may lâm bệnh trọng qua đời sớm. Đông con (anh có sáu con cả thảy), nhiều cháu thì vui nhưng vất lắm. Đã quen khó nhọc từ nhỏ, khi là nhân viên thường cũng như khi làm quản lý, anh coi việc dầm mình dưới ao sâu cùng vợ con mò rong nuôi lợn, thả lờ, chăng lưới bắt cá là chuyện bình thường. Làm bất cứ việc gì, miễn là có thêm thu nhập cho gia đình. Ấy là chưa kể hầu như tháng nào anh cũng phải ngược ô tô (có khi đi xe máy) về Quân Khê, gần giáp Yên Bái, chăm sóc mẹ đẻ ngoại tuổi chín mươi. Quyền huynh thế phụ, anh thay mặt người cha quá cố điều hành cái gia đình chung theo chiều yên ả, công minh và chính cái môi trường nhỏ bé và ấm cúng ấy đã đi vào các văn phẩm của anh một cách tự nhiên và nhuần nhuyễn. Hãy đọc các truyện ngắn được in trong tập Làng có chuyện, đọc Được mất của làng, Vệt làng thời "cao tốc" và đặc biệt mới đây là Dòng chảy đất đai. Ý đồ viết cuốn tiểu thuyết này nảy sinh khi anh tình cờ đọc được một bài báo trên báo Đảng nói mạnh về vấn đề "tam nông", nhưng cái chính là thực tiễn sôi động ở làng Quân Khê của anh đã mời gọi đến mức thúc bách anh phải cầm bút. Và, thế là với kinh nghiệm lịch lãm và tác phong nhanh nhạy của một nhà báo, nhà văn đã ngồi vào bàn viết liền một mạch trong vòng hai tháng gần ba trăm trang sách- tác phẩm có tính dự báo về vận hội mới của nông thôn, nông nghiệp và nông dân.

       Tôi nghĩ, trong đội ngũ những nhà văn viết về nông thôn ở nước ta hiện nay không thể không nhắc tên Nguyễn Uyển. Hôm tôi cùng anh về quê hương Quân Khê, anh dẫn tôi ra mảnh đất kề bên đường cao tốc trước nhà mình đang được san lấp và nói mấy lời tự đáy lòng: "Tôi sẽ xây dựng ở đây một trang trại nhỏ để mai mốt về di dưỡng đoản khúc cuối của tuổi già và tiếp tục nghiệp văn".

 

N.V.T


B - MỘT SỐ TÁC PHẨM TIÊU BIỂU

  

 

MƯA RÂY TRONG NẮNG

 

Từ thị trấn xa xôi mới nhô đầu lên ngôi thành phố , rất có thể người ta chẳng biết gì về cuộc sống của chúng tôi, nhưng dám chắc dễ gì ai hơn tôi. Ấy là tôi nghĩ, và bạn bè trang lứa đều một giọng như thế. Chồng tôi, một kiến trúc sư xây dựng thành danh, dốc hết tâm lực để tạo nên những tác phẩm bắt mắt nhất cho thành phố thời hội nhập. Mỗi khi tôi ngỏ lời sẻ chia, anh lại nhỏ nhẹ: - Kìa em – Em chính là tác phẩm hoàn mỹ nhất của đời anh. Gắng sức với công việc cũng còn vì em vì con cái sau này! Bởi thế tôi yêu anh, thương anh như yêu thương chính cuộc đời mình. Nửa ngày vắng anh tôi thấy hụt hẫng. Một ngày thiếu anh tôi thấy đời trống vắng. Tôi nơm nớp chỉ sợ anh đi đâu đó qua tuần. Vậy mà, anh nhạt nhòa, tàn phai rất nhanh sau những tháng ngày tôi bị Hoàng hút hồn. Ấy là cách nói lấy phần được về tôi. Thực ra, tôi đã “hút” được Hoàng!…

Ngày ấy như vẫn đâu đây… Trong chuyến bay từ Nội Bài trở lại thành phố quê nhà, tình cờ tôi gặp Hoàng, một chàng trai đàng hoàng, chững chạc, lịch lãm từ dáng đi đến lời ăn tiếng nói. Ngồi bên anh, chúng tôi cùng ghé mắt qua cửa sổ, mây như bông bồng bềnh, khiến chuyên cơ như du thuyền lảng bảng trong cõi mộng mơ… Cốt làm quen, tôi mạnh dạn:

- Anh về đâu?

Ánh mắt thẳm xanh, giọng đầm ấm, anh bảo:

- Mình về thị xã… à xin lỗi, về thành phố quê em!...

Nào ngờ, lời khơi chuyện ấy đã khiến chúng tôi hiểu về nhau. Quê anh ở miền chân sóng, nhưng sinh sống ở Hà nội với vợ và hai con (một trai, một gái). Được trên “bổ nhiệm”, anh về làm thủ trưởng cơ quan truyền thông của tỉnh này mới vài năm nay. Vậy là cảm nhận của tôi khi chợt gặp anh là chính xác: Phong độ, tài trí, đức độ, quyết đoán… Máy bay chuẩn bị hạ độ cao, tôi luống cuống:

- Với anh, điều kiện của hạnh phúc là gì?

Anh cười hồn hậu:

- Hắc nhỉ. Nhưng mà hay. Rất hay. Riêng anh thì, mãi mãi tâm đắc lời tự bạch  của đại văn hào Pháp – Banzac: “Được sống, được yêu, được viết”!...

Rời máy bay, chúng tôi trao danh thiếp. Anh níu tôi lên xe, đưa về tận ngõ phố tôi ở… Ngỏ ý mời anh vào nhà. Anh cười, chừng mực, đĩnh đạc, nhưng vẫn hóm hỉnh lôi cuốn:

- Cám ơn nhiều. Em đẹp thế, anh phải phòng thân!...

Tôi hiểu. Anh giữ cho tôi. Và giữ cho anh!...

Chỉ là thế. Gặp không hẹn. Chuyện không đầu không cuối. Nhiều lúc ngồi vẩn vơ nghĩ lại tôi bật cười một mình... Lòng nôn nao say sóng.

Bẵng một thời gian, những cơm áo gạo tiền, mưu sinh cuộc sống cuốn phăng đi những giây phút mộng mơ, mọi chuyện dường như đã rơi vào vô thức, bởi cuộc đời vô vàn là những chuyến đi... Cuộc đời đâu phải là công thức toán học để định lượng trước hay đi tìm giới hạn cho lim, lẽ đó nên tôi và anh duyên nợ thế nào gặp lại nhau trong hội thảo, cả hai mắt tròn xoe...

Kết thúc 3 ngày, chúng tôi bận rộn những tin nhắn. Trước còn thưa, sau dập dồn. Trời đất là cái sân trơn, đi còn chả vững nữa là vội vã...

Có những lúc tôi định thần lại, thấy xấu hổ trước chồng. Tôi hoảng hốt với  mình, tự lên án, xỉ vả chính mình. Nhưng công bằng mà nói ở tuổi yêu, tôi chưa hề xi mê người trai nào như thế, kể cả chồng tôi bây giờ. Tôi yêu anh không vì vẻ hào hoa, nói năng văn vẻ, bởi tôi rất dị ứng với những người đàn ông như vậy, quan trọng nhất là nhân cách và bản lĩnh đàn ông...

Đêm đêm, cứ chập chờn thấy Hoàng cùng những lời rủ rỉ khiến trái tim tôi chao đảo… Lúc nhìn chồng ngủ, lại vẩn vơ ngẫm ngợi: Sao người của mình không có mái tóc xanh, nụ cười xanh, đôi mắt thẳm xanh như người ấy? Sao những khi chuyện trò, người nhà mình hay vòng vo Tam quốc, hay khen, hay lựa cho mình yên lòng. Đằng này, chủ đề trò chuyện của người ta luôn vui vẻ, đa dạng, ngắn gọn, đơn giản hóa vấn đề mà ngồn ngộn thông tin như của nả trời cho! Tự dưng tôi giật mình thon thót. Có nhẽ mình đã lao dốc. Đứng núi nọ đọ núi kia là thói xấu của người ít học. Nhưng rồi lý trí lại quả quyết, sự so sánh của tôi chính là ý chí vươn tới. Người đời đã từng khuyên nhau: Cuộc đời luôn là sự so sánh ngẫm suy. Trong bóng tối mới tìm ra kẽ sáng. Nghỉ ngơi mới ngấm khi nhọc nhằn. Bình tĩnh nguôi ngoai mới biết cả giận mất khôn! Chẳng nhẽ trời cho làm thân con gái, nên ngốc nghếch chỉ coi chồng- người luôn làm mình vui lòng là thần tượng của cuộc đời? Tự dưng tôi thấy mình sắt lại, cứng cỏi hẳn lên, mạnh mẽ hẳn lên, quyết liệt hẳn lên. Tôi vẫn lặng lẽ bên anh, bụng nhủ dạ: Mình đúng. Rất đúng. Yêu và tin yêu là quyền tối thượng của phụ nữ. Chính nó là sợi dây nối kết thấm đẫm tâm linh đương nhiên của con người với nhau. Bất kể người ấy là ai, ở đẳng cấp nào. Chần chừ, e thẹn, ngại ngùng sẽ lỡ làng, vĩnh viễn không có được vị ngọt của tình yêu, suốt đời ôm hận, nuối tiếc, khổ đau…

Vậy là hai chúng tôi vẫn yêu và hứa sẽ chia sẻ cho nhau trong cuộc đời này và điều quan trọng là phải làm tốt nhiệm vụ và bổn phận của mỗi người. Càng yêu nhau chúng tôi càng hiểu, kể cả những điều không thốt lên thành tiếng. Yêu để sống tốt và làm tốt mọi việc thì có gì là xấu? Cuộc sống đâu có gì là bất biến?

Tôi hết mình đu cao. Ao ước đứa con do mình sinh ra sẽ là bản sao của anh không hơn không kém. Nếu kết quả, tôi sẽ lựa cơm, không để chồng nhận ra phận kẻ “tát nước theo mưa”… Càng say, càng yêu, càng dâng hiến tôi càng để tâm, để mắt săm soi từng cử chỉ lời ăn tiếng nói của Hoàng. Tôi sợ mất anh, mỗi khi anh chụm đầu bàn việc hoặc chuyện trò vui thú với lũ con gái đó đây. Tôi đầy ứ ruột gan, mắt mũi sầm sì mỗi khi thấy anh sánh bước với cô này, gái nọ trong cơ quan. Những lúc ấy, tôi không còn thấy vẻ cao sang, lịch lãm, đàng hoàng của anh đâu nữa mà hiện lên tất cả, phơi bầy tất cả chỉ là một gã lãng tử không hơn không kém. Thấy tôi tức tối, khó chịu, Hoàng nhẹ lời:

- Em à. Phải biết kìm nén. Chúng ta ai có phận của người ấy rồi. Đến với nhau lương tâm đã dằn vặt khổ sở, em đừng làm rối chuyện!

Lời gan ruột ấy anh xả ra trước lúc rời tôi lên máy bay ra Hà Nội với vợ con. Tôi thắt gan thắt ruột!…

Cay đắng dồn ứ chiều ấy, đêm ấy. Nếu biết viết lách như các nhà văn, nhà thơ, hẳn tôi sẽ gọi đích danh đêm ấy là  Đêm đắng . Thơ ai đó tôi đọc từ hồi nảo hồi nao bỗng nỉ non: “Nếu có anh chiều nay em đâu phải/ Để tâm hồn như xác lá mùa thu…”. Đêm sang canh. Hoàng ơi. Giờ này chắc anh đang ngủ rất sâu, rất ngon bên vợ và các con. Chỉ mình em, một mình em cô đơn trong trống vắng. Chỉ mình em nghe rõ từng nhip, từng nhịp đồng hồ đếm bước cô quạnh, não nề.Trăng muộn soi qua chỗ tôi nằm. Trăng cũng cô đơn lạc lõng như tôi. Hiu hắt. Tái tê...

Chút gió lạc loài luồn qua song cửa làm tôi rùng mình, nước mắt trào ra. Chẳng hiểu sao tôi lại ra nông nỗi này. Quắp chiếc gối ôm vào lòng, tôi lần tìm dư vị nồng nàn, lời nói ngọt ngào, vòng tay êm ái… Tôi mơ thấy mình gục mặt vào Hoàng, mái tóc xõa tỏa, làn môi nhẹ nhàng hôn lên ngực anh với niềm hạnh phúc chứa chan, nước mắt thấm đẫm. Tôi rên lên: Anh ơi! Anh biết không, em đã sẵn sàng, nếu mệnh hệ gì chụp lên đời anh, em sẽ xả thân đón nhận. Và lúc này đây, thắp nén hương đen, em khấn lậy thần phật: “Nếu trời có trách phạt, xin cứ giáng hết xuống đời con. Vì con đã bỏ bùa mê anh ấy. Đời anh ấy đã đi qua bao sóng gió của hạnh phúc gia đình, xin đức tối cao toàn năng rủ lòng từ bi che chở cho gia đình anh và anh ấy; chỉ mình con – một đời con xin gánh khổ”…

Có lẽ từ nay rồi Hoàng sẽ ít liên hệ với tôi, anh sẽ kiếm cớ để xa lánh tôi đây. Trời phật ơi! Tôi sợ, sợ ngay cả với chính mình. Tôi chẳng chút mảy may nghĩ đến chồng, những việc tôi làm cho chồng không còn xuất phát từ tình yêu mà chỉ là nghĩa vụ và trách nhiệm. Tôi như kẻ đi trong bóng đêm, trước mắt là mực đen, mắt mở trân trân mà vẫn không thấy lối. Đi là đi, chỉ biết gắng gồng vượt qua bão tố.

Nhiều lần, rất nhiều lần tôi đã lấy hết dũng khí để quên anh, nhưng không sao quên nổi. Lý trí vẫn gắng gạn: Hãy rời xa khi còn chưa muộn. Nhưng đêm đêm lại nghe con tim nỉ non vì nhớ vì yêu. Nghẹn ngào, nước mắt lại rưng rưng. Vậy là tôi cứ trượt dốc buông xuôi…

Lắm khi tôi đã vẽ ra bao nhiêu chuyện xấu xa về tôi để Hoàng chán ghét, để đôi đứa cùng ngãng nhau ra. Nhưng mỗi chuyện thêu dệt nên, khi nói ra tôi lại ngập ngừng vì sợ mất anh. Càng tìm cách xa anh tôi lại càng muốn có anh, càng muốn có anh tôi lại càng đau khổ. Tôi sập sụp tinh thần, đầu óc ong ong như dây đàn. Lắm khi tự dưng tôi nổi khùng với mọi người, chẳng ai hiểu vì đâu tôi lại như thế. Quay cuồng trong thế giới điên rồ, tôi chuẩn bị rất kỹ để nói với anh, nói hết với anh rằng: “Anh này, tai sao mình lại gặp nhau trong nghịch cảnh vậy? Trái tim em muốn quỵ ngã. Còn gì đau khổ hơn khi yêu mà không được sống bên nhau. Em không thể chịu đựng nổi nữa. Anh vô tâm. Anh nói trên điện thoại, em gắng cười làm vui để anh an lòng, nhưng trái tim em tê tái vì biết không bao giờ có được anh cho riêng mình. Anh khuyên phải biết tự kìm nén Nhưng anh ơi, em không đủ sức. Có lẽ em không thể yêu thêm được nữa, nhưng bằng cách nào để quên anh thì em không biết. Vốn chúng ta sinh ra đã không phải của nhau, chúng ta không được phép yêu nhau. Nhưng em và anh đã cố tình đi ngược. Em không được quyền làm khổ anh, phải vậy không? Trời phật ơi! Chỉ mới nghĩ vậy thôi, trái tim em đã quặn nhàu đau đớn. Đừng đùa em nữa. Yêu anh, em đau khổ biết chừng nào?...”

Qua đi một mùa giông bão. Chúng tôi vẫn mải mê say đắm như con chim quen chậu, con cá quen mồi. Hoàng thật xứng là người đàn ông để tôi lúc nào cũng khát, cho dù anh không phải mối tình đầu của tôi. Cho dù anh yêu tôi cũng chẳng sung sướng gì, trái lại tôi chỉ làm cuộc sống của anh thêm bừa bộn. Bởi thế, khi lắng lại tôi thấy lời anh khuyên “phải biết kìm nén” là có lý. Tôi sẽ giữ anh. Tôi sẽ trọn đời yêu anh. Tôi sẽ tinh tế để anh khỏi phiền lòng. Nhưng giá như anh đừng lãng tử. Đừng để bụng để dạ đến ai!

Thêm một kỳ nghỉ tôi không theo anh ra Hà Nội để “bám thắt lưng địch mà đánh”. Màn đêm nơi phố nhỏ bắt đầu buông. Trăng pha trong sương huyền ảo, lạnh lùng. Căn phòng vẫn thế mà sao đêm nay tôi cô đơn, chơi vơi, như hư như thực. Giá như thời trẻ con, tôi đã òa khóc, khóc nức nở, khóc thét lên, réo gọi tên anh, nhưng bây giờ thì không thể. Thế mới biết đau thể xác còn dễ chịu đựng, chứ nỗi đau tinh thần thì quá thể. Giá như mình vứt bớt đi được những ham muốn? Hoàng ơi. Giờ này anh đang làm gì, nghĩ gì? Sao tôi không là chị ấy để được chan chứa tự do, để trọn đời hạnh phúc bên anh!...

Di động rung lên báo có tin nhắn. Thật linh nghiệm, giác quan nào mách bảo anh đây, vừa nhắc tên là anh xuất hiện ngay. Tình yêu của chúng tôi có trời phật chứng giám, có quý nhân phù trợ không mảy may tính toan vụ lợi. Tình của con tim, của những trái tim cho ta yêu tha thiết cuộc đời, cho ta bù lấp những gì đời mình trống vắng… Mở điện thoại, lướt nhanh những dòng chữ… Giời đất ạ! Lại lần nữa nó xúc phạm tôi. Không là lời lẽ của vợ anh ta phỉ báng, chửi bới, đay đả tôi thì còn ai vào đây nữa. Vậy mà lần nào Hoàng cũng cứ một mực: Đấy là tin rác, là ai đó trêu ghẹo; nào là vợ anh không dùng di động, không biết nhắn tin. Không biết thì người ta thuê mướn người chửi, người đánh ghen chứ sao! Tôi nhất mực việc tôi đoán là đúng. Anh phải dạy mụ vợ của anh biết cách xử sự của con người với con người ngay đi. Cứ đà này thì nhất quyết tôi sẽ làm cho ra nhẽ, sẽ ba mặt một nhời: Tôi yêu anh Hoàng đấy. Tôi sẽ lấy anh ấy làm chồng. Có giỏi thì bắc thang lên trời mà kiện, mà chửi! Anh chắp tay, cúi sạp xuống sàn nhà: "Anh van em. Anh lạy em. Anh xin em. Vợ anh không thế. Cô ấy là người tử tế không có thì giờ để làm những việc như thế. Mà vợ anh đâu biết chuyện của chúng mình với nhau!...". Bây giờ, tới nước này thì không thể lặng im được nữa. Cầm máy gọi điện cho anh giữa đêm khuya khoắt, nhưng anh khóa máy. Tôi quyết định bay ra Hà Nội ngay sớm mai, để cho anh biết rõ cách xử sự của tôi với vợ anh ta, và sau đó tôi sẽ một mình đi ra phố biển Hạ Long, hoặc vào Đà Lạt nghỉ ngơi để xả trôi, đuổi cổ, gạt bỏ những nhơ nhuốc tầm thường, để minh chứng với anh rằng tôi đâu phải kẻ u mê đến độ không nhận ra bản chất của việc mình làm… Đêm không ngủ. Đợi trời sáng để ra sân bay. Tức giận vợi đi. Tôi lại thương anh đến nghẹn lòng. Thương mình, thương tình yêu của chúng tôi chăm đắp cho nhau. Mỗi lần tạm xa anh là một lần nước mắt tôi rơi. Biết bao lần tôi quyết chạy trốn khỏi anh, trốn khỏi nụ hôn nồng nàn, ánh mắt thiết tha, vòng tay dịu dàng êm ái, vầng trán cao sang tri thức đẩy tôi xa những mấy tầm tay với… nhưng rồi lại sợ cô đơn khi mà tâm hồn tôi, trái tim tôi, thể xác tôi đã thuộc về anh vĩnh viễn. Cho dù tôi yêu anh trong tội lỗi!...

Nắng hửng. Trời cứ mưa. Mưa không khắp. Cơn gió lạc loài vô cớ cuốn tung giàn hoa giấy đang kỳ bung hoa trước hiên nhà. Lên taxi, bay cao, tôi lạnh lùng xem lại những dòng tin nhắn phỉ báng tôi giữa đêm qua, để thấy quyết định của mình về Hà Nội trực diện với đối phương là đúng. Tôi cố quên đi, cố ghìm nén, cố vứt bỏ…  nhưng những dòng tin chết tiệt ấy cứ ngạo ngược múa may trong đầu óc, thậm chí cứ ung oang lên, rất vần, rất điệu: “Chăn bồ cực hơn chăn trâu/ Phải chăm sóc nó từ đầu tới chân/ Trâu đâu phải cấp áo quần/ Bồ thì đủ mốt từ chân tới đầu/ Ngủ thì phải ngự nhà lầu/ Ăn thì đủ món cơm Tầu cơm Tây/ Vàng mười trang sức mươi cây/ Khoản kia cũng phải mỗi ngày hai keo/ Chăn bồ mấy chốc mà nghèo/ Công danh… Sự nghiệp… bay vèo như chơi! Cho dù đó là những dòng thơ ăn mượn, rẻ tiền, nhưng chúng vẫn khiến tôi đắng đời.

Tại nhà nghỉ, căn phòng VIP quen thuộc vốn là chỗ hẹn hò, hạnh phúc như có sức sống trỗi dậy vừa mạnh mẽ vừa êm đềm. Tôi nhớ những lúc mình được yêu, được an toàn. Anh như người bạn, người anh, người chồng thông minh, nhân hậu, vị tha… luôn tiếp cho tôi nghị lực, ý chí để vượt qua mọi bão giông, cạm bẫy của cuộc đời… Trong sâu thẳm trái tim, thú thật giờ phút này tôi thấy anh vẫn rất xứng đáng là người đàn ông của đời tôi… Nhũn mềm... Bao nhiêu tức tối, bao nhiêu quyết liệt, bao nhiêu thù hận phải cho ra nhẽ… bỗng tiêu tan. Nhìn chiếc giường đôi, gối đôi, ga đệm thơm tho… tôi thèm khát có anh ngay để thương yêu… để sẻ chia… để dâng hiến…

Bỗng tiếng gõ cửa nặng nề. Bà chủ nhà nghỉ bước vào đưa tôi bình trà, đôi mắt đỏ au. Tôi hỏi:

– Kìa, bác. Làm sao thế. Điều gì khiến bác phiền muộn?

Không đáp lời tôi, bác bậm môi, tiếng khóc kìm giữ. Giọng méo xệch:

- Tôi… tôi… đọc… báo, thương người ta quá…

Nói rồi, bà cùi cụi đi xuống. Trở lại, bà dúi vào lòng tôi trang báo khổ nhỡ, giăng dòng tít lớn: Người mẹ trẻ hết mình vì những đứa con nuôi tật nguyền. Theo đó là bức ảnh người mẹ cùng 2 đứa con đẻ đang lau rửa vết thương cho những đứa con nuôi. Giọng sụt sùi, thúc giục:

- Cô đọc đi. Người của khu phố tôi đấy. Cô ấy là hộ lý của bệnh viện, một nách 2 đứa con nhỏ, chồng công tác xa, lại phải phụng dưỡng bố mẹ chồng tám chín mươi tuổi, luôn đau yếu. Ấy vậy mà vợ chồng dám đứng ra nhận hai đứa trẻ tật nguyền do nhiễm chất độc mầu da cam, người ta đưa tới rồi bỏ lại trong bệnh viện, đưa về chăm bẵm, nuôi dạy suốt mấy năm nay. Thế đấy, trong xã hội đầy dãy sự xô đẩy, bon chen, vơ vén, nhũng nhương… vậy mà người nghèo khó nhất khu phố lại thầm lặng, phúc đức như thế. Cô tính, làm sao mình không động lòng, làm sao mình nỡ dửng dưng?…

Tôi lặng người khi đọc xong bài báo, nước mắt ràn rụa. Tiếng khóc bật lên. Tôi quyết định không báo cho Hoàng biết mình đã về đây. Thôi tất cả chuyện làm cho ra ngô ra khoai, thôi chuyện “tình địch”, phỉ báng. Thôi tất cả việc đi đây đi đó để tĩnh dưỡng tinh thần… Sập cửa, xuống lễ tân, tôi trả lại phòng. Bà chủ ớ ra. Tôi nói trong nước mắt:

- Bác ơi. Cháu dành toàn bộ số tiền kỳ nghỉ này để hỗ trợ người mẹ trẻ ấy!

Bà ôm lấy tôi, miệng rối rít:

- Vâng. Vâng. Rồi chúng tôi cũng sẽ đến đó. Họ là người thầm lặng cứu vớt sinh linh… Cô tới trước đi. Nhà số 68, hai tầng, kẹp giữa hai nhà tầng cao vút, ngay sau dãy phố này, cách đây dăm bảy trăm mét!...

Người mẹ trẻ mở cửa đón khách, tôi reo lên:

- Chị. Chị là mẹ hiền của những đứa con tật nguyền?

-  Vâng. Sao chị biết?

- Em đọc được trên báo, nên mới tới đây!

- Giời ạ. Sao họ lại dênh tôi lên đó. Tuần trước có mấy người trên Sở Thương binh- Xã hội tới thăm, chụp ảnh. Có ai là nhà báo đâu!...

Thấy mẹ đón khách, mấy đứa trẻ từ phòng trong chạy ra. Hai đứa em tật nguyền hì hụi lần theo. Đứa lớn hơn lê bước bằng một bàn tay và một cùi chân. Đứa lành lặn hơn thì đôi mắt cứ ngơ ngơ ngác ngác. Thỉnh thoảng cái đầu lại ngúc nga ngúc ngắc, rất tội nghiệp. Tôi dang rộng tay đón chúng vào lòng thì chúng ré lên. Người mẹ đỡ bằng lời:

- Cháu nó lạ. Chị thông cảm!

Đứa lớn lùi lại góc nhà, tay với với về phía tường có những tấm ảnh mầu. Người mẹ lại đón đỡ:

- Cháu nó phô mới được chụp ảnh với ông bà và bố mẹ.

Tôi xòa tay, mềm lời dỗ dành:

- Cô bế nào. Cháu ngoan. Cô cháu ta cùng xem ảnh nào!...

Chúng thu mình lại, nhất quyết không theo. Hai cháu lớn kéo tôi tới những tấm ảnh, giọng liến thoắng:

- Ông bà này, các em này, mẹ đây, bố Hoàng của cháu đây!

Tôi sững người. Bật thành lời: "Trời…H…oa…" Rồi vội bo lấy miệng. Người mẹ hoảng hốt, đỡ lấy vai tôi: "Sao thế. Chị làm sao thế?" Tôi đánh trống lảng: "Không sao. Em bị nấc!" Rồi chuyển giọng vồn vã: "Các cụ cao tuổi, nom tướng mạo đẹp quá. Anh chị rất đẹp đôi!" Người mẹ giọng sâu lắng: "Anh ấy nhà em cũng vất vả lắm. Xa vợ xa con. Đi thì chớ. Ngày nghỉ về nhà lại phải đôn đáo ra ngoại thành kiếm thuốc cho con!" Tôi xen vào: "Có phúc sẽ có phần. Em là người ở tận miền quê xa xôi, qua Hà Nội, đọc báo thấy cảnh của chị, thôi thì có chút quà mọn gọi là đỡ chị chăm nuôi các cháu!" Vừa nói tôi vừa đặt phong bao tiền vào tay. Người mẹ nhổm dậy, giọng đay đảy: "Không. Không đâu. Chị đừng làm thế. Vợ chồng em không nhận đâu. Chúng em vẫn đủ sức cưu  mang các cháu. Với lại, chúng em đã giúp ai được gì đâu!" Phải đủ điều van vỉ chị mới nhận cho. Được thể tôi vội cáo từ, giật lùi ra cửa, vớt vát lại: "À chị. Làm ơn cho em xin số di động!" Chị nói: "Cảnh em, chị bảo di động để làm gì. Năm xưa, anh Hoàng nhà em có sắm cho, nhưng các cháu phải thuốc thang, em sang ngay cho người khác. Dùng cố định cũng được rồi!".

Xoay người. Bước ra cửa. Tôi đi như bay. Người mẹ giật giã:

- Chị kia ơi. Tên chị là gì?

Ngoái lại, giơ tay thay lời đáp. Tôi cắm mặt lao đi như kẻ cắp sắp bị bắt quả tang… Phía trước, mưa độn với nắng. Mưa lây rây. Mưa không khắp!

 

 

 


 

 

TẾT TRỒNG CÂY NHỚ BÁC

 

Kể từ ngày Bác Hồ kính yêu về hợp tác xã Lạc Trung, xã Bình Dương, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc thăm và phát động Tết trồng cây vào sáng  25/1/1961,  đến nay đã nửa thế kỷ có lẻ đi qua. Ấy vậy mà mỗi khi Tết trồng cây đến chúng tôi lại nhớ về Lạc Trung. Và, mỗi khi nói về Lạc Trung chúng tôi lại bâng khuâng nhớ Bác… Năm mươi lăm năm qua rồi, vậy mà câu chuyện chúng tôi ghi lại từ ngày ấy vẫn cứ tinh nguyên:

“ … Anh Tục vui vẻ xếp công việc ở trụ sở HTX, rồi dẫn tôi về thôn Lạc Trung. Cây và cây tăm tắp suốt hai vệ đường. Tán cành xanh rợp đan nhau rây nắng lổ đổ trên khắp lối đi. Tới chân làng, anh dừng lại, giọng trầm xuống:

- Đây. Chính nơi này (anh giang hai tay đón và đỡ hai đầu đoạn đường) chính là chỗ này, ngày xưa, Bác Hồ dừng xe, vào thăm Lạc Trung đó!

Bước sang vệ đường, tôi vươn hai cánh tay, cố kiết mà không khoanh kín được thân cây bạch đàn. Lùi lại, tôi chăm chú nhìn, nét cổ thụ hiển hiện khắp trên thân, trên cành của nó. Lớp vỏ già căú cặn, sùi sần, rêu mốc nổi nhằng nhịt quanh những mắt cây, những chỗ xoáy sẹo vết tích của tác động xưa xa gì đó.

- Cây này đã bao nhiêu tuổi? - Tôi hỏi, anh Tục đáp ngay: - Có trước ngày Bác Hồ về đây hai năm!. Dẫu rằng câu trả lời của anh Tục không lấy gì làm rõ ràng, nhưng tôi vẫn hiểu, nó được trồng trước ngày Bác Hồ về 2 năm, tức là vào năm 1959, năm Bác phát động Tết trồng cây, năm cây bắt đầu có Tết. Cả hai chúng tôi cùng một câu nói: Ngày ấy tới nay đã là hơn 50 năm!

Nhìn cây, nhẩm đếm số cây bạch đàn cổ thụ, giống cũ, số cây chỉ tính trên đầu ngón tay, tôi thoáng hiểu ý nghĩa sâu xa trong tấm lòng của người Lạc Trung với Bác. Như đoán được ý của tôi, anh Tục nói như khẳng định: Cây làm mốc. Mốc thời gian của ngày Bác về thăm đấy!. Theo đà, anh Tục cuốn hút tôi vào nỗi niềm riêng tư: Những đời cây từ ngày ấy đã góp nên cơ ngũ của làng, của xã. Những lứa xoan, những lứa bạch đàn kế tiếp nhau giúp cho làng làm nên những nhà kho, nhà trẻ, trụ sở, trường học, nhà ở. Nghe Bác dạy, từ Tết trồng cây ngày ấy, cả Lạc Trung tươi xanh. Tháng sáu, tháng bảy cái nắng thôi không nung nấu dân làng; cái gió, cái bão không còn là nỗi kinh hoàng của mỗi ngôi nhà! … Ngừng giây lát, giọng anh buồn lạc hẳn đi:

- Thật tiếc! Bác hẹn trở lại Lạc Trung, vậy mà! …

Vẫn giọng xa lơ, ngắt quãng, ngắt khoảng, như đếm, như đong, anh bảo:

- Ngày xưa ấy, quê tôi nghèo. Xã Bình Dương của tôi quá nghèo. Làng tôi là vùng căn cứ, bị giặc Pháp đốt phá, ném bom trà sát. Các thôn Tứ Kỳ, Lạc Trung, Phong Doanh chung ngày giỗ trận, hàng trăm người chết vì đạn bom, sau ngày ấy, chỉ Lạc Trung mới có cây. Bây giờ thì cả xã, tuốt tuột, đâu cũng cây xanh, trái ngọt, đâu cũng ngói đỏ, mái bằng, tầng thấp, tầng cao … Vậy mà ! … Ánh mắt anh bỗng mờ đục, đôi môi bặm lại…

Theo anh Tục, tôi vào thôn Lạc Trung. Anh Tục bảo:

- Tôi sẽ đưa nhà báo đi theo lối ngày xưa Bác Hồ đến với làng! … Với tôi, anh Tục như một người thuyết minh viên đầy lòng trách nhiệm, kỹ lưỡng, thận trọng, chính chuẩn trong từng lời khi nói về Bác với Lạc Trung quê anh. Vừa đi, anh Tục vừa kể: - Hôm ấy là ngày 25/1/1961 (dương lịch) lúc 8h sáng, có 3 xe ô tô nhỏ về đây, xe của  Bác dừng lại nơi chúng ta vừa đứng, rồi ngoặt vào sân kho hợp tác. Ông Lê Văn Tân (dạo ấy là Chủ tịch xã) ra tận xe đón.

- Kính mời Bác đi thăm hàng cây mới trồng!

- Ấy, kệ tôi. Tôi đi theo ý tôi! Nói rồi Bác xăm sắn bước đi. Bác vào nhà ông Lê Văn Phết rồi sang nhà ông Phan. Đi thẳng đến giếng nước của gia đình. Tại đây hai bố con ông Phan đang xây thành giếng, Bác niềm nở hỏi han, giang rộng tay, Bác dặn cụ Phan:

- Cụ nên xây thêm 20 phân nữa. Trên mặt giếng nên có lưới hoặc phên đậy để giữ an toàn cho trẻ nhỏ … Nói rồi Bác trở ra đường xóm Ngói, thăm những hàng cây xanh!...

Tôi tần ngần đứng bên giếng nước, nơi ngày xưa Bác đứng. Nước trong xanh, trời mây in trong lòng giếng. Chúng tôi vào thăm gia đình cụ Phan. Cụ Phan đã qua đời mấy chục năm nay. Người con cả bây giờ tóc đã nhuốm thẫm màu tro. Ông phấn chấn kể lại những kỷ niệm Bác đến thăm nhà, cứ như chuyện xảy ra mới ngày hôm qua, hôm kia. Vợ cụ Phan xen vào:

- Rõ khổ, hồi Bác đến, em nghèo quá, nhà tranh vách đất. Các ông tính, mới qua những ngày giặc giã làm thuê, cuốc mướn mà. Nhờ có Bác, nhờ có Đảng chúng em làm nên gian nhà, gian cửa … Tôi buột miệng:

- Nhà ta bây giờ khang trang nhất làng còn gì nữa!

- Ấy chết. Thấm vào đâu. Trên này có dễ hàng mấy chục nhà to đẹp hơn cơ đấy!. Tôi nhìn lên tường, không có bức trang trí nào ngoài 2 bức ảnh lớn: một bức Bác Hồ cùng các đồng chí lãnh đạo tỉnh và xã thăm giếng nước của gia đình. Một bức Bác chụp lưu niệm với cán bộ địa phương. Đặt chén trà xanh đặc quánh xuống mặt sa lông bóng nhoáng. Anh Tục đứng dậy, tiến về phía bức ảnh, dướn người giới thiệu với chúng tôi: Đây là đồng chí Kim Ngọc, Bí thư tỉnh ủy (đã mất); đây là ông Chu, Bí thư xã (cũng đã qua đời); đây là ông Tân (Lê  Văn Tân) dạo đón Bác ông ấy tuổi 40 nay vào tuổi 80 nhưng vẫn khỏe mạnh.

- Nhân chứng sống của ngày vui đón Bác! - Tôi nói.

- Đúng thế. Cụ ấy bây giờ cũng là người trồng cây giỏi. Đòi hỏi khát khao của cụ Tân là làm tượng Bác Hồ tại nơi Bác nói chuyện với nhân dân!. Ông Tục vanh vách giới thiệu. Tôi lại chen vào:

- Tổ trưởng trồng cây lúc ấy là ai?

- Ông Nước, rồi ông Chăm. Các cụ còn sống cả, nhưng già lắm rồi.

- Bác Tần (Nguyễn Văn Tần) cán bộ miền Nam tập kết, Anh hùng Lao động lâm nghiệp ở đây dạo ấy có đựợc gặp Bác Hồ không?

- Không được báo trước, nên cả ông Nước, ông Chăm đều vắng!...

Chúng tôi tìm đến nhà cụ Tân. Nhà cụ giản đơn, mái rạ, vách đan nan. Cụ Tân đi chăm sóc vườn cây bạch đàn trồng khoán, nhưng người nhà vẫn đông. Cháu con nhiều, lại thêm khách, nhà trở nên chật chội. Mải nghe chuyện đời tư, do cụ bà kể lại, cụ ông đi làm về hạ chiếc cuốc trên vai, bứớc lên thềm hè chúng tôi mới hay… Tuổi già đã gò gập lưng của cụ xuống. Đôi tròng mắt nhăn nheo, hai má tóp lại. Mái tóc trắng phau. Tuy vậy dáng vẻ vẫn nhanh nhẹn, giọng nói chắc khỏe. Chuyện về Bác, chuyện về cây làm tôi và cụ gẫn gũi như người cùng xóm, cùng thôn. Cụ dẫn chúng tôi vào chuyện, cứ như chúng tôi cùng đến, cùng đi.

- Vâng. Từ nhà cụ Phan, Bác Hồ trở ra đường xóm Ngói, rồi lên bờ kênh số 6A thăm những đường xoan mới trồng cao ngang tầm người. Giữa độ đường, ngang xóm Ngói, Bác dừng lại nhìn những cây xoan được trồng dày đặc, rồi vẫy tôi và ông Chu đến. Bác choàng tay chụm đầu hai người chúng tôi lại, rít chặt vào ngực Bác. Tôi thấy đau nhưng không dám cười và cũng chẳng dám kêu. Bác vui giọng hỏi:

- Các chú có thấy khó chịu không? Cả hai chúng tôi vội đáp:

- Thưa Bác, có ạ! Bác hơi nới tay ra và hỏi:

- Có dễ chịu hơn không?

- Thưa Bác, thoải mái lắm ạ!

Bác cười, tay chỉ vào đám xoan trồng xin xít bên vệ đường:

- Như thế này cây có khó chịu không? - Hai chúng tôi nhanh nhảu trả lời:

- Dạ, dày quá ạ! Ông Chu nói thêm: - Thưa Bác chúng cháu sẽ sửa chữa ạ! …

Chúng tôi theo Bác, đi lên kênh, rồi vòng xuống xóm Hòa Bình. Đến bãi rộng, nơi trồng nhiều xoan nhất. Mùa xuân đang về, lá chưa bừng nở. Xoan non tua tủa nghiêm trang như những vệ sĩ bảo vệ cho Bác, cho dân làng.

Tôi nhớ quá và lạ quá, Bác giản dị tới mức tôi không tưởng. Bác nhẹ nhàng ngồi phệt xuống thảm cỏ. Đồng chí Kim Ngọc, Bí thư Tỉnh ủy và chúng tôi cũng ngồi theo. Dạo ấy xóm Hòa Bình còn thưa dân, đất hoang trống còn nhiều, Bác quan sát cả vùng đất, rồi khuyên đồng chí Kim Ngọc và chúng tôi:

- Trồng cây lấy gỗ là tốt rồi, nhưng phải trồng cây ăn quả, cải thiện cho dân! …

Dọc đuờng về sân kho, nơi ấy dân làng đang tập trung chờ đón Bác. Bác gọi tên tôi và ông Chu, rồi bảo:

- Xã có mấy thôn?

-6 thôn ạ!

- Mấy HTX ?

- Thưa có 9 ạ!

- Các HTX đã trồng cây như đây chưa?

- Dạ! chưa ạ!

- Phải làm như đây! …

Bác quay sang hỏi đồng chí Kim Ngọc:

- Tỉnh Vĩnh Phúc đã làm như đây chưa?

- Dạ! Có nhiều HTX đã làm nhưng chưa được như Lạc Trung ạ!

- Thế thì phải làm cho cả tỉnh như Lạc Trung!

- Vâng ạ! …

Bác về đến sân kho, nhân dân ùa ra, hò reo đón Bác. Đứng bên góc sân (nơi này, từ năm 1969) xã đã trồng cây đa và dựng bia luu nhớ với dòng chữ chân chất, mộc mạc : “ Nhân dân Lạc Trung được đón Bác Hồ ngày 25/1/1961 thăm phong trào trồng cây”. Bác nói chuyện với dân làng, ân cần dặn bảo: “ Lạc Trung trồng cây tập thể như vậy là tốt rồi, nhưng phải người người trồng cây, nhà nhà trồng cây. Trồng cây nào phải giữ tốt cây đó” … Bác bảo: “ Ta khó khăn, nay mỗi người phải góp một viên gạch, phải trồng một cây”. Bác cao giọng hỏi bà con:

- Lãnh đạo xã có tranh việc dễ không?

- Không ạ! Tất cả cùng trả lời. Bác cười hồn hậu:

- Thế là tốt. Bác âu yếm nhìn mọi người và bảo: “ Bác rất phấn khởi thấy HTX trồng nhiều cây. Bây giờ Bác phải về, Bác dặn hai điều: Một phải xây dựng HTX thật giàu mạnh. Hai, nếu làm tốt thơ cho Bác, lần sau về Bác có quà!”. Tất cả lại đồng thanh: “Vâng ạ! Vâng ạ”! Và tiếng vỗ tay nổ ran lên. Bài ca kết đoàn được Bác bắt nhịp. Tiếng hát vang lên, vang xa. Bác giơ tay chào. Tiếng hát và tiếng hô: Bác Hồ muôn năm. Bác Hồ muôn năm! Kết đoàn chúng ta là sức mạnh!... Vang lên, vang xa tưởng đến không cùng! …

Về Lạc Trung, nghe chuyện người, chuyện cây, chuyện tình Bác với dân, nghe tình dân với Bác, tôi bộn nhộn xôn xao đón nhận mùa xuân. Mùa xuân về. Chim én trao nghiêng trên đồng non lúa mới. Đường Lạc Trung, Bình Dương đến mọi ngả, mọi ngách của huyện lúa Vĩnh Tường vựa thóc của trung du Vĩnh Phúc đâu cũng ngằn ngặt tươi xanh bạch đàn, đâu cũng thơm thơm hoa bưởi, hoa chanh. “ Đồng bằng rừng đang về” đó là nhận biết của tôi từ độ cây bạch đàn trồng theo phương thức thâm canh với cung cách khoán mới được đưa về đất lúa.

Mấy mươi năm chúng ta nghe Bác để “cây cũng có Tết” để người người trồng cây, nhà nhà trồng cây, để Lạc Trung nghe Bác ai cũng có trí để nước mạnh dân giàu … Anh Tục dẫn chúng tôi xem vườn quả trong khu trụ sở HTX, những trái bưởi vàng mọng níu cong cành sát đất; những cây hồng xiêm loại quả chùm, quả nhánh thi nhau phô màu quả mới … Chủ tịch Tục vốn điềm đạm, khiêm tốn, nhưng trước thực tế đổi thay của làng xóm, anh đã cho tôi ghi những con số mới nhất: Dân số xã Bình Dương quê anh giờ đã xấp xỉ 1 vạn ngừời. Số cây lấy gỗ còn lại đã đến chu kỳ thu hoạch đổ đồng mỗi người được 3 cây (tức 3 vạn cây); cây mới trồng, hai năm nay cả xã trồng 2 vạn rưởi cây bạch đàn theo phương thức thâm canh. Thành công lớn nhất là xã phối hợp với Phòng nông nghiệp huyện làm vườn ươm, năm qua bán tới trên 50 vạn cây. Anh cười vui: Tôm tươi ở quê tôi bán không chạy, chứ bạch đàn thì bao nhiêu cũng không đủ! Như để chứng minh sự giàu lên của HTX (toàn xã) anh bảo: Sản lượng thóc (kể  cả quy từ vụ đông) năm nay Bình Dương đã con số 5000 tấn, riêng làm nghĩa vụ và trao đổi hàng hóa non 1000 tấn!...

Chúng tôi cùng đi. Đường liên xóm, liên thôn ngút ngàn hàng cây. Bạch đàn trắng, non xanh song sóng hai bên vệ đường, buông lá xỏa xuê. Qua đoạn đường 13 ngay trên đất Phong Doanh, đường bạch đàn hiện lên như một rừng cây mẫu. Tôi mê mải nhìn cây. Anh Tục kể : Hơn mười năm qua, Phong Doanh bị mệnh danh là “thôn trắng”. Tết nào cũng trồng cây, nhưng trồng cây nào bị phá cây ấy”. Hai năm nay, có giống cây mới ở HTX giao về cho Phong Doanh, phong trào vâng lời Bác “Người người trồng cây, nhà nhà trồng cây, trồng cây nào sống cây ấy” được phát động. Cả Phong Doanh chuyển mình. Nhà nhà thi nhau nhận trồng khoán, tiếp nhận kỹ thuật và chế độ khoán rồi nhúp phiếu nhận từng khoảnh đường. Hôm mở đầu, đường làng đông như hội. Các cụ phụ lão, các cháu học sinh hỗ trợ đào hố, gia đình làm khoán bỏ phân lót và rồi tập thể gieo cây giống. Vụ ấy, Phong Doanh trồng 17.000 cây bạch đàn trắng. Nhìn cây tôi hỏi:

- Cách hưởng thụ sản phẩm khoán? Anh Tục cười:

- Có làm là phải có ăn! Rồi anh chỉ vào đám cây trước mắt tôi. Đây là 2000 cây bạch đàn của gia đình cụ Cự. Theo quy định, 8 năm sau thu hoạch, ngừời nhận khoán được hưởng 40% số cây, nghĩa là riêng gia đình ông Cự sẽ thu về 800 cây, cứ 3 cây quy một khối, vị chi ông ấy sẽ có 270m3 củi, ấy là chưa kể số công mỗi cây 15 điểm ông ta được hưởng trong 3 năm đầu. Lợi ích ấy thôi thúc ngừời trồng cây gắn quyện, chắt chiu chăm bón cho cây mỗi sớm, mỗi chiều.

Tôi tìm về khu vườn và căn nhà xưa bác Nguyễn Văn Tần ở ngay đầu lối rẽ vào Lạc Trung. Ngôi nhà lá nhỏ xíu hồi xưa ấy, khi tập kết ra Bắc, bác Tần và mấy cháu nhỏ cùng ở, nay đã nhường chỗ cho cây ăn quả những xoài, những mít, tỏa bóng xum xuê. Người nơi đây bảo, bác đã về miền Nam ngay sau ngày giải phóng.

Nhìn cây. Tôi nhớ người Anh hùng trồng cây ngày ấy. Bộn bề câu hỏi trong tôi. Tôi muốn gọi to lên, gọi thật to để nhắn lời thăm hỏi bác Tần: Bác còn sống, còn khỏe mạnh không? Bác có được sống đầm ấm với gia đình nội tộc ở Hoài Nhơ, Bình Định rợp bóng dừa xanh như những tháng năm ao ước trở về? Bác may mắn hay rủi ro!... Và, tôi cầu mong cho bác Tần vào tuổi đại đại thọ, nếu có sống bác sẽ khỏe khoắn, hạnh phúc để xứng đáng với công sức và tấm lòng của bác, Anh hùng trồng cây trên đất Lạc Trung, Hà Trì, Bình Dương vào những năm đất nước đau đớn đôi miền… Nhìn cây, tôi lần trở lại kỷ niệm về những ngày của năm 60, tôi thường về đây với bác Tần. Từng gặp bác cùng ông Chu, ông Ty tiếp nhận chủ trương Tết trồng cây do Bác Hồ phát động, lo gieo ươm hạt giống, lo cuốc hố, bổ hom. Các ông Nước, ông Chăm không theo nổi công việc trồng cây nhưng vẫn kể về bác Tần như biểu tượng sáng nhất của người miền Nam trên đất Bắc. Và tôi, tôi nhớ cả những hôm bác lần lên Phú Thọ mua chanh giống; về Thổ Tang cóp nhặt hạt xoan, vào nhà trường xin thầy giáo cho được nói chuyện với học trò. Kể chuyện và phân tích những ý sâu xa trong lời dạy của Bác Hồ “Người người trồng cây, nhà nhà trồng cây, trồng cây nào sống cây ấy”. Bác chân tình với lũ trẻ: “Bác trồng cây để các cháu lớn lên lấy quả ăn, lấy gỗ dùng. Thống nhất Tổ quốc Bác về Nam. Bác trồng cây không để cho Bác hưởng đâu. Sao các cháu lại không cùng Bác giữ gìn lấy cây? “… Nhìn cây, tôi muốn nhắn với bác Tần rằng: Vâng lời dạy của Bác Hồ, cả xã Bình Dương (Vĩnh Phúc) vẫn rợp rừng cây. Theo lời Bác Hồ, Bình Dương dự tính sẽ trồng thêm nửa triệu cây lấy gỗ nữa, để giữ gìn đồng ruộng, để cùng với huyện lúa “đưa rừng về đồng bằng” góp phần giữ lấy đồi rừng trung du đó!

Hơn nửa thế kỷ Lạc Trung theo Bác Hồ trồng cây. Hơn nửa thế kỷ, Lạc Trung tự hào với kỷ niệm đầm ấm được đón Bác về thăm. Từ Lạc Trung, cây đã xanh, quả đã chín trên cả 6 thôn của Bình Dương. Bao lứa cây nối tiếp. Bao thế hệ con ngừời kế nhau nghe Bác trồng cây cho Tổ quốc tươi xanh…

Mùa xuân về, Tết trồng cây lại đến… Nhìn cây, cây xanh, quả chín trên đất Lạc Trung, trên đất trung du Vĩnh Phúc.

Tôi bâng khuâng nhớ Bác đến không cùng!

 

 

 

 

 

 

 

 NGUYỄN VĂN DÂN

 


- Họ và tên khai sinh: Nguyễn Văn Dân


- Sinh năm 1950

- Quê quán: Quất Lưu, Bình Xuyên, Vĩnh Phúc

- Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam (từ 1997)

 

- Tác phẩm chính đã xuất bản:

 1. Sách biên soạn:

* Từ điển thần thoại Hy Lạp - La Mã (biên soạn, 1993, 2000, 2007);

* Thần thoại Hy Lạp (biên soạn, 2001 à 2007, 2010);

*  Biên niên sử thế giới - Từ tiền sử đến hiện đại (biên soạn, 2004, 2009);

 2. Sách nghiên cứu:

* Những vấn đề lý luận của văn học so sánh (chuyên luận 1995);

* Lý luận văn học so sánh (chuyên luận, 1998, 2000, 2003, 2011);

* Nghiên cứu văn học - Lý luận và ứng dụng (tập tiểu luận, 1999);

* Văn học phi lý (chuyên khảo và giới thiệu, 2002);

* Phương pháp luận nghiên cứu văn học (chuyên luận, 2004, 2006, 2012);

* Vì một nền lý luận - phê bình văn học chất lượng cao (tập tiểu luận, 2005);

* Văn hoá và phát triển trong bối cảnh toàn cầu hoá (chuyên luận, 2006);

* Diện mạo và triển vọng của xã hội tri thức (chuyên luận, 2008, 2015);

* Con người và văn hoá Việt Nam trong thời kỳ đổi mới và hội nhập (chuyên luận, 2009, 2011);

* Địa chính trị trong chiến lược và chính sách phát triển quốc gia (chuyên luận, 2011);

* Chủ nghĩa hiện đại trong văn học nghệ thuật (chuyên luận, 2013);

* Các lý thuyết nghiên cứu văn học - Ảnh hưởng và tiếp nhận từ ngày đổi mới

đến nay (chuyên luận, 2015).

- Chủ biên nhiều cuốn sách về khoa học xã hội.

- Dịch khoảng 20 đầu sách văn xuôi, kịch và thơ của nước ngoài từ tiếng Rumani, Pháp, Anh.

- Giải thưởng văn học:

* Giải thưởng Văn học Hội Nhà văn Việt Nam năm 2000 cho tác phẩm lý luận - phê bình Nghiên cứu văn học - Lý luận và ứng dụng;

* Giải thưởng “Giải Bạc Sách hay” năm 2014 của Hội Xuất bản Việt Nam cho cuốn chuyên luận Chủ nghĩa hiện đại trong văn học nghệ thuật.

* Tặng thưởng loại B năm 2014 của Hội đồng Lý luận Phê bình Văn học Nghệ thuật Trung ương, cho cuốn chuyên luận Chủ nghĩa hiện đại trong văn học nghệ thuật;

* Giải thưởng Văn học - Nghệ thuật năm 2015 của Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam cho cuốn sách lý luận - phê bình Các lý thuyết nghiên cứu văn học - Ảnh hưởng và tiếp nhận từ ngày đổi mới đến nay;

* Giải thưởng Văn học Hội Nhà văn Việt Nam năm 2015 cho cuốn sách lý luận - phê bình Các lý thuyết nghiên cứu văn học - Ảnh hưởng và tiếp nhận từ ngày đổi mới đến nay.

- Suy nghĩ về nghề văn:

Hồi phổ thông, tôi là học sinh giỏi toán. Nhưng rồi tôi được phân công học đại học chuyên ngành Ngữ văn tại Rumani. Thế là tôi bước vào nghề văn với một tâm trạng bất đắc dĩ. Song tôi nhanh chóng xác định: Dù yêu hay không yêu, nhưng nếu có trách nhiệm thì nghề gì cũng cho ta những cơ hội tốt đẹp. Với gánh nặng trách nhiệm, tôi làm việc không phải bằng cảm xúc bay bổng si mê, mà là bằng tư duy lôgic lạnh lùng của toán học. Mục tiêu của tôi là chân lý chính xác. Giờ đây tôi không hề hối tiếc là “đã phải” theo nghiệp văn chương, vì tôi đã tìm được một niềm vui nho nhỏ khi thấy mình đóng góp được phần nào cho sự nghiệp văn học nước nhà.


A - TRONG KÝ ỨC BẠN BÈ

 

l. “Trong khoảng thời gian hai chục năm qua, [...] giới lý luận văn học càng ngày càng quan tâm đặc biệt đến những vấn đề thuộc phương pháp luận nghiên cứu văn học. [...] Đặc biệt là trong mấy năm gần đây, thành tựu lý luận văn học gần như “được mùa” về phương pháp luận, trong đó cuốn Nghiên cứu văn học - lý luận và ứng dụng của TS Nguyễn Văn Dân (Nxb Giáo dục, 1999) là tác phẩm đáng chú ý. [...] Một điểm đặc trưng cho cuốn sách của Nguyễn Văn Dân là tác giả tỏ ra rất mạnh dạn và sâu sắc trong việc lý giải các vấn đề thuộc cấp độ mĩ học và trong việc đề xuất những ý kiến riêng của mình. Trên cơ sở tiếp thu các luận điểm trong và ngoài nước, tác giả không ngần ngại đề xuất những cách hiểu mới đối với những vấn đề và khái niệm đã được nhiều người quen dùng, [...] Đọc toàn bộ cuốn sách Nghiên cứu văn học... chúng ta thấy toát lên một nỗ lực của tác giả muốn xác định chính xác các khái niệm mà nếu không xác định rõ thì chúng rất dễ biến thành một “mê cung” không có đường ra. [...] Có thể nói những gì mà cuốn sách Nghiên cứu văn học... của Nguyễn Văn Dân làm được chưa phải là nhiều, [...] nhưng những gì anh đề cập đến đều là những vấn đề cốt lõi của lý luận và phương pháp luận nghiên cứu văn học.”

(GS. Hoàng Trinh: “Một nỗ lực tiếp sức cho phương pháp luận nghiên cứu văn học”,
Nhân dân cuối tuần, số 18, ngày 30-4-2000.)

2. “Trội bật lên trong các tác phẩm dự vòng chung khảo và được nhất trí cao trong đánh giá là tập Nghiên cứu văn học - lý luận và ứng dụng của nhà lý luận - phê bình Nguyễn Văn Dân. [...] Đây là tập hợp các bài viết có tính khoa học, nghiêm túc, có hệ thống, nhất quán từ quan niệm đến cách diễn giải. Rất đáng biểu dương là tập sách đã mang sắc thái riêng trong khi vận dụng, toả sáng vào các vấn đề thực tiễn văn học nước nhà, với một lối viết điềm tĩnh, trong sáng và tương đối uyển chuyển.”

(“Hướng tới sự phát triển rực rỡ”, báo cáo [về giải thưởng VH năm 2000] của Hội đồng Chung khảo và Ban Chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam, Văn nghệ số 10, ngày 10-3-2001.)

3. “Cuốn Nghiên cứu văn học - lý luận và ứng dụng của Nguyễn Văn Dân ra đời vừa muốn giới thiệu những kết quả nghiên cứu của anh [...], vừa muốn tranh luận và đính chính một số cách hiểu những khái niệm và vấn đề văn học theo anh là chưa chuẩn xác. [...] Cuốn sách [...] là một tập hợp các bài viết về những vấn đề mà tác giả quan tâm. [...] nhưng nói chung, sự thống nhất tương đối của chúng trong cơ cấu vẫn có thể chấp nhận và nhìn toàn cục người ta vẫn thấy sự nhất quán của tác giả khi lý giải những vấn đề lý luận hay đánh giá một tác giả, tác phẩm hay một trào lưu. Và điều này có thể coi là một ưu điểm quan trọng của tác phẩm. [...] Anh cũng tỏ ra khá kỹ lưỡng khi khảo sát “dấu ấn phương Tây” trong văn học Việt Nam hiện đại, từ đó, việc vận dụng thẩm định, đánh giá về những ảnh hưởng của văn minh phương Tây đối với một số tác gia, tác phẩm Việt Nam được người đọc xem là dũng cảm và khá chính xác. Và đó cũng là một ưu điểm nữa của tập sách. [...] Cũng cần nói thêm về văn phong của Nguyễn Văn Dân trong tập sách này. Dù là sách lý luận nhưng tác phẩm không sa vào “kinh viện” nặng nề như một số cuốn sách thường gặp, mà có thể nói hầu hết các bài viết ở đây đều dễ đọc. Một phần vì sự khúc chiết trong tư duy lý luận cũng như khái quát lịch sử của tác giả, phần nữa là những vấn đề văn học đặt ra ở đây rất gần gũi với đời sống thực của văn học ta [...]. Bởi vậy, cuốn sách đã có tác động tốt và thu hút được sự chú ý của giới nghiên cứu lý luận - phê bình nói riêng cũng như đông đảo bạn đọc nói chung. Chính vì thế tác phẩm đã được Hội Nhà văn trao giải B, một trong hai giải cao nhất của giải văn học năm 2000.”

(Lê Quang Trang [Chủ tịch Hội đồng Lý luận - Phê bình, Hội Nhà văn Việt Nam, khoá          VI]: “Sức thuyết phục của một tập lý luận”, Văn nghệ số 10, ngày 10-3-2001.)

4. Tập lý luận Các lý thuyết nghiên cứu văn học - Ảnh và tiếp nhận từ ngày Đổi mới đến nay “là một công trình nghiên cứu lý luận công phú, sâu sắc và cần thiết.”

(Đánh giá của Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam về Gải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam năm 2015, “Một nền văn học không thể lớn nếu như không có những tác phẩm lớn”,

5. “Nghiên cứu lý luận có điểm sáng. Các lý thuyết nghiên cứu văn học ảnh hưởng và tiếp nhận từ ngày đổi mới đến nay của nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Dân là một công trình có giá trị (dù thú thật, tôi không đánh giá cao tiêu đề cuốn sách) xét trong tổng thể các công trình nghiên cứu, lí luận được in. Đổi mới đến nay đã được 30 năm và đó là khoảng thời gian đủ để chúng ta đặt vấn đề chúng ta đang ở đâu trong thế giới, chúng ta đã tiếp nhận gì và tiếp nhận đến đâu các lý thuyết nghiên cứu văn học của thế giới. Từ lâu, Nguyễn Văn Dân đã là một nhà nghiên cứu nghiêm cẩn, có tư duy chính xác và khoa học. Công trình này là một sự tiếp tục những gì ông đã làm và nói thẳng, đó là cuốn sách làm nên giá trị cho giải thưởng [năm 2015].”

(TS. Phạm Xuân Thạch, “Những điều đáng tiếc của giải thưởng Hội Nhà văn”,)

 


B - MỘT SỐ TÁC PHẨM TIÊU BIỂU

 

PHƯƠNG ĐÔNG – PHƯƠNG TÂY:
TỪ MỘT BÀI THƠ, SUY NGHĨ VỀ KHÁC BIỆT VÀ THỐNG NHẤT

Ngày nay, khi nói đến hai nền văn hoá phương Đông và phương Tây, nhiều nhà khoa học trên thế giới hay dẫn câu thơ nổi tiếng của nhà văn người Anh đầu tiên đoạt giải Nobel văn học cách đây đúng một thế kỷ (1907) - R. Kipling: “Phương Đông là phương Đông, phương Tây là phương Tây, và hai bên sẽ chẳng thể bao giờ gặp nhau”. Người ta cho rằng phương Đông và phương Tây có những đặc thù riêng của chúng. Tuy nhiên, theo tôi, cái vế sau của câu thơ nói trên mới là điều đáng bàn: Có thật phương Đông và phương Tây không bao giờ gặp nhau không?

Về bài thơ của Kipling tôi sẽ bàn kỹ ở phần sau, trước hết tôi muốn nói rằng trên thế giới có rất nhiều tộc người sinh sống, cho nên sự khác biệt giữa các tộc người là điều hiển nhiên. Nhưng các tộc người không tồn tại biệt lập nhau, mà ngày càng tiếp xúc, giao lưu với nhau theo dòng lịch sử. Vì thế cái chung giữa các tộc người ngày càng được mở rộng. Sự hình thành và phát triển của cái chung đó được thực hiện nhờ có sự phát triển của văn hoá và văn minh nhân loại. Trong lịch sử hàng nghìn năm, do điều kiện cách biệt về chủng tộc và địa lý, giữa phương Đông và phương Tây đã hình thành những khác biệt không khó nhận ra. Nhưng lịch sử cũng chứng minh rằng giữa phương Đông và phương Tây không phải là có một sự cách biệt hoàn toàn. Nhiều học giả đã cho thấy rằng giữa hai bên đã có những mối giao lưu từ hàng nghìn năm. Đặc biệt là trong thời đại của toàn cầu hoá như ngày nay, khi mà thông tin và truyền thông đã làm cho khoảng cách về không gian và thời gian không còn có ý nghĩa gì nhiều, thì liệu cái vế sau trong câu thơ của Kipling có trở nên lỗi thời không? Thế nhưng cái vế đầu của câu nói “phương Đông là phương Đông, phương Tây là phương Tây” thì hình như vẫn mãi mãi ám ảnh suy nghĩ của nhiều học giả. Vậy cái gì đã làm thành sự khác biệt được cho là không thể vượt qua như thế?

Có một xu hướng chung cho rằng người phương Tây duy lý, còn người phương Đông duy cảm; người phương Tây hành xử nặng về lý, còn người phương Đông hành xử nặng về cảm tính, về tình. Nhưng tại sao lại có sự khác biệt lý-tình như vậy thì lại là một câu hỏi khó trả lời. Chẳng lẽ đó lại là sự quy định của chủng tộc? Điều này khó có thể chấp nhận, bởi lẽ chưa có một công trình nhân chủng học hoặc dân tộc học nào đưa ra được một kết quả thực nhiệm đủ sức thuyết phục về điều đó. Có nhiều người viện dẫn đến sự khác biệt giữa hai bán cầu đại não để lý giải sự khu biệt Đông - Tây. Nhưng người ta chưa chứng minh được rằng liệu có phải ở người phương Tây có sự phát triển mạnh bán cầu đại não trái – thiên về lý tính phân tích lôgic –, còn ở người phương Đông có sự phát triển mạnh bán cầu đại não phải – thiên về trực giác tổng hợp –, hay đây chỉ là hai chức năng bổ sung cho nhau trong cùng một bộ não của bất cứ một con người nào?

Cho đến nửa cuối thế kỷ XX, một số nhà khoa học Italia và Nhật Bản đã nghiên cứu so sánh phản ứng xúc cảm của người Nhật so với người Italia xuất hiện trong hai bán cầu đại não. Họ đã lần lượt tiêm thuốc gây tê vào động mạch chủ của từng bán cầu đại não của đối tượng thí nghiệm và thấy rằng: phản ứng xúc cảm xuất hiện trên hai bán cầu có khác nhau giữa người Italia và người Nhật. Ở người Italia thì phản ứng xúc cảm xuất hiện trên bán cầu não phải (được họ gọi là bán cầu không mang tính trội). Còn ở người Nhật thì phản ứng xúc cảm xuất hiện trên bán cầu trái (mang tính trội). Tuy nhiên họ không đưa ra kết luận gì về tính trội lý tính trong bộ não của người phương Tây và tính trội cảm tính của người phương Đông. Đây là một thí nghiệm rất đáng quan tâm. Nhưng nó vẫn đòi hỏi phải được tiếp tục một cách sâu rộng và có hệ thống thì mới có thể kết luận chính xác về sự khác biệt Đông - Tây này.

Mặt khác, khi nghiên cứu về tính trội ngôn ngữ trong hai bán cầu của người phương Tây và người Nhật, các nhà khoa học Nhật Bản cho thấy rằng người Nhật tiếp nhận nguyên âm nhiều hơn trong bán cầu não trái, còn người phương Tây tiếp nhận nguyên âm nhiều trong bán cầu não phải, phụ âm thì ở bán cầu não trái. Tuy nhiên, theo hai nhà khoa học người Mỹ gốc Nhật Niseis và Sanseis, thì việc người Nhật tiếp nhận nổi trội nguyên âm trong bán cầu não trái không phải là do di truyền, mà là do môi trường sống đem lại cho họ. Nhìn chung, đây là một vấn đề nan giải mà khoa học vẫn chưa có tiếng nói cuối cùng.

Vì thế tạm thời chúng tôi đặt giả thiết cho rằng có lẽ sự khác biệt Đông - Tây nằm ẩn sâu trong truyền thống văn hoá và văn minh của hai khu vực lớn này (tức là “do môi trường đem lại”). Con người ban đầu sinh ra trong thiên nhiên bao la đầy những bí ẩn, thì hoạt động văn hoá đầu tiên của nó là nhận thức thiên nhiên. Tuy nhiên, khi văn minh phát triển, thì sự khác biệt giữa các dân tộc bắt đầu hình thành. Người phương Đông cổ xưa chủ yếu là có nền văn minh làng xã, họ không đặt mục đích chinh phục thiên nhiên mà dựa vào thiên nhiên, gửi gắm tình cảm vào thiên nhiên để tồn tại và lập ra những hương ước nặng về tình để đối nhân xử thế. Người phương Đông đề cao sức mạnh của cái thiên nhiên và cái siêu nhiên. Họ quan niệm con người phụ thuộc vào thiên nhiên và vào thế giới siêu nhiên. Người ta cho rằng con người phương Đông cổ xưa nhận thức thiên nhiên và thế giới chủ yếu bằng con đường trực giác, tức là bằng tư duy cảm tính. Phải chăng mối quan hệ tình cảm có phần huyền bí giữa con người với thiên nhiên và với thế giới siêu nhiên là lý do chính tạo ra kiểu tư duy này? Y thuật, số thuật và chiêm tinh thuật của phương Đông thể hiện rõ ràng quan điểm này. Từ đó xuất hiện quan điểm tôn trọng gốc gác và là nguồn gốc của đạo đức học phương Đông tồn tại cho đến ngày nay. Người phương Đông đi xa vẫn khó quên gốc gác của mình. Người Do Thái, người Arập, người Hoa sống ở nước ngoài vẫn giữ gần như nguyên vẹn bản tính dân tộc. Ở những nước văn minh canh nông phương Đông (ngoại trừ văn minh canh nông du mục), việc hình thành nhiều quốc gia từ một nguồn gốc dân tộc không phải là điều phổ biến.

Trong khi đó ở phương Tây, do nền văn minh đô thị phát triển sớm, người phương Tây đã sớm có ý thức cạnh tranh với cái thiên nhiên và với cái siêu nhiên, chinh phục thiên nhiên và chinh phục thế giới để khẳng định sức mạnh của con người lý tính.

Thực ra nói về văn minh đô thị thì phải nói cái nôi đầu tiên của nó là nằm ở khu vực Lưỡng Hà (Tiểu Á), bắt đầu từ nghìn năm thứ 8 trước CN. Nhưng sự phát triển về sau lại hướng về phía Tây. Còn ở vùng viễn Đông xa xôi, văn minh đô thị phát triển chậm hơn. Trong bối cảnh đó, nền y học phương Tây là một nền y học chủ yếu dựa vào khả năng lý tính chế tác của con người mà ít cầu viện đến thiên nhiên, không giống như y thuật phương Đông chủ yếu dựa vào chiêm nghiệm trực giác. Mặt khác, ý thức chinh phục thiên nhiên và giao thương phát triển sớm làm cho người phương Tây sẵn sàng rời xứ sở đi tìm miền đất mới để định cư. Tất nhiên việc mở mang bờ cõi thì ở cả phương Tây lẫn phương Đông đều diễn ra. Nhưng ở phương Tây, người bản quốc sau khi định cư ở miền đất mới thì sẵn sàng lập ra một quốc gia mới để khẳng định mình và cạnh tranh với bản quốc. Sau đêm dài trung cổ, người Tây Âu sau khi phát hiện ra châu Mỹ đã ồ ạt di cư sang miền Tân Thế giới này để lập ra một loạt quốc gia độc lập hẳn với chính quốc của họ. Quốc gia mới của người Anh trên lãnh thổ nước Mỹ ngày nay khác hẳn với nước Anh chính quốc. Người Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha ở Trung và Nam Mỹ cũng vậy.

Như nhiều nhà khoa học đã phát biểu, một trong những cội nguồn của văn hoá là tín ngưỡng. Chẳng hạn như nhà triết học người Nga (thuộc Liên Xô cũ) Alexander Spirkin đã giải nghĩa từ “cultura” trong tiếng Latin (nghĩa là “văn hoá”) bằng cách cho rằng nó có xuất xứ từ từ “colere” có nghĩa là “gieo trồng” và “thờ cúng”. Và ông cho rằng văn hoá của mọi dân tộc trong suốt quá trình lịch sử loài người đều thấm đậm chất tôn giáo ở một mức độ nào đó. Ngày nay, tôn giáo không còn giữ được ý nghĩa và vai trò ban đầu của nó, nhưng cái chất tín ngưỡng tôn giáo thì vẫn tồn tại thấm đậm trong lối sống, trong ngôn ngữ giao tiếp hàng ngày của hầu hết các dân tộc. Mỗi khi thể hiện những tình cảm đặc biệt, chúng ta thường viện dẫn đến Thượng Đế. Lúc vui, lúc buồn, ta thường kêu “Trời”, cầu “Chúa”... Theo từ điển Wikipedia, từ “goodbye” [“tạm biệt”] trong tiếng Anh có nguồn gốc từ tập ngữ trong tiếng Anh cổ “God be with ye” [“Chúa phù hộ cho bạn”].

Mà hệ thống tín ngưỡng tôn giáo của phương Đông và phương Tây lại có những sự khác nhau rất cơ bản. Cái tư tưởng tôn trọng gốc gác nơi đất mẹ thiên nhiên nói trên của người phương Đông đã dẫn đến một ý thức thuần phục gần như tuyệt đối đối với một tôn ti trật tự đã được thiết lập trong tôn giáo. Đạo Phật của phương Đông về cơ bản là nhất quán, thông suốt, hầu như không có những “kẻ phản nghịch”. Trong khi đó ở phương Tây, đạo Cơ Đốc luôn được sửa đổi, cải cách, thậm chí ly giáo. Ngay từ khi Cơ Đốc giáo mới ra đời, Chúa Jesus đã có kẻ tông đồ thứ 13 là Juda, được mệnh danh là kẻ “phản nghịch” đầu tiên. Trong lịch sử Cơ Đốc giáo, chúng ta đã chứng kiến rất nhiều vụ ly giáo: vụ ly giáo Đông - Tây năm 867 giữa giáo trưởng thành Constantinople Photius với giáo hoàng Nicolas I ở Roma; vụ ly giáo Đông - Tây năm 1054 giữa giáo trưởng thành Constantinople Kerularios với giáo hoàng Leo IX; và đặc biệt là vụ ly giáo lớn ở châu Âu diễn ra từ 1378 đến 1417 giữa ba chế độ giáo hoàng: chế độ giáo hoàng ở Roma, chế độ giáo hoàng ở Avignon (Pháp) và chế độ giáo hoàng ở Pisa (Italia). Và đặc biệt là cuộc cải cách đạo Cơ Đốc của nhà thần học người Đức Martin Luther đầu thế kỷ XVI, dẫn đến sự ra đời của đạo Tin Lành. Tư tưởng phản nghịch thể hiện phổ biến trong Cơ Đốc giáo đến nỗi Nhà Thờ đã phải lập ra một toà án để xử tội dị giáo.

Có thể cái tư tưởng “phản nghịch” của người phương Tây là có xuất xứ từ truyền thống văn hoá thần thoại xa xưa. Hệ thống thần thoại Hy Lạp là một hệ thống tranh giành quyền lực. Thần Cronos sẵn sàng giết cha là thần Uranos để lên nối ngôi. Đến lượt mình, thần Dớt [Zeus] lại làm một cuộc “cách mạng” lật đổ cha mình để nắm quyền trị vì thế giới. Trong một loạt những cuộc giao tranh tiếp theo giữa các phe phái trong các vị thần, như giữa các vị thần ở núi Olympos với các vị thần khổng lồ Gigantes, thì con người, đại diện là dũng sỹ Heracles, cũng tham gia giúp các vị thần Olympos đánh lại các vị thần Gigantes. Trong thần thoại Hy Lạp, điển hình của thần thoại văn minh đô thị, thần thánh và người trần sống lẫn với nhau, yêu nhau, kết hôn với nhau và cạnh tranh lẫn nhau, hầu như không có sự phân biệt và không có một tôn ty trật tự tuyệt đối. Nhiều người trần sẵn sàng đấu võ và thi tài với thần linh: Tráng sỹ Heracles giết chết nhiều thần khổng lồ Gigantes, trong đó có thần Antaios nổi tiếng [tức thần “Ăngtê” gọi theo tiếng Pháp]; tráng sỹ Diomedes đánh bị thương thần chiến tranh Ares; cô thợ dệt Arakhne dám thi tài dệt vải với nữ thần Athena; cô gái Acalanthis và chàng trai Thamyras dám thi hát với các nữ thần nghệ thuật Musa; nàng Casiope xinh đẹp và tự tin dám thi sắc đẹp với các nữ thần biển Neraydes, v.v... Trong khi đó trong thần thoại phương Đông, thế lực thần thánh được phát huy tuyệt đối quyền hành, tôn ty trật tự được tuân thủ nghiêm ngặt. Kẻ phản nghịch duy nhất là Tôn Ngộ Không thì chỉ múa may trong thế giới quỷ sứ chứ không đụng chạm được đến quyền lực thánh thần.

Trong giáo dục, người phương Đông đề cao tư tưởng “tôn sư trọng đạo”. Người thầy có một vị thế quan trọng đến mức thiêng liêng. Người ta chỉ có thể lập ra một tư tưởng, một lý thuyết mới, chứ ít khi cải cách lý thuyết của thầy. Ngay cả đến thời hiện đại, khi Đặng Tiểu Bình thực hiện cải cách Trung Quốc, thì tư tưởng Mao Trạch Đông vẫn được tôn sùng. Trong khi đó ở phương Tây, khái niệm người thầy không có ý nghĩa “thần thánh” như ở phương Đông. Ngay từ thời xa xưa, Socrate đã không dạy học trò bằng cách áp đặt quan điểm của mình, mà ông đưa ra các câu hỏi để học sinh chủ động trả lời. Aristote, bằng các công trình học thuật của mình, đã dám phản bác lại quan điểm duy tâm của thầy học của mình là Platon. Đến thời cận-hiện đại, K. Jung, học trò của Freud, đã cải cách lý thuyết tâm phân học của thầy mình, dẫn đến hai người không còn muốn nhìn mặt nhau. Các Mác, thời trẻ là học trò của Hegel, đã kiên quyết “lật ngược” phép biện chứng duy tâm của ông này để lập ra một học thuyết mới. Lênin cũng sửa đổi học thuyết Mác về cách mạng vô sản để thực hiện cuộc Cách mạng Tháng 10 vĩ đại. (Mác chủ trương rằng cách mạng vô sản chỉ có thể thành công khi nó diễn ra trên toàn thế giới. Lênin sửa lại rằng nó có thể thành công trong khâu yếu nhất của chủ nghĩa tư bản.)

Có thể thấy, bên cạnh yếu tố tích cực về mặt đề cao tình nghĩa thầy - trò, thì tư tưởng tôn sư trọng đạo của phương Đông nhiều khi dẫn đến thái độ thuần phục mang tính mô phạm giáo điều, kìm hãm tư duy sáng tạo. Trong khi đó ở phương Tây, chính cái quan niệm bình đẳng thầy - trò là một trong những động lực làm nảy sinh nhiều tư tưởng và lý thuyết mới. Vậy mà cái tư tưởng mô phạm giáo điều đó vẫn còn tồn tại dai dẳng ở phương Đông cho đến ngày nay, đôi khi thể hiện thành sự bắt chước một cách máy móc các lý thuyết của nước ngoài, đặc biệt là trong khoa học xã hội. Ví dụ như trong khi ở nước ngoài đang có nhiều lý thuyết khác nhau, thậm chí mâu thuẫn nhau về một chủ đề, thì ở nước ta, nhiều người đã không tiếp thu được một cách có hệ thống, mà chỉ tiếp thu một vài quan điểm nào đó, và người khác lại tiếp thu một vài quan điểm khác mâu thuẫn với các quan điểm kia, thế là dẫn đến việc cùng một chủ đề, nhưng mỗi người ở nước ta lại hiểu theo một cách khác nhau, thậm chí mâu thuẫn nhau. Đó chính là căn bệnh cảm tính, thiếu tư duy lôgic triết học mà có nhà khoa học đang cảnh báo. Căn bệnh thiếu tư duy lôgic cũng đang thể hiện trong cả cuộc sống hàng ngày, khi mà người ta không hề cảm thấy phi lý khi cứ phát ngôn một cách hồn nhiên: “tỷ giá hối đoái giữa ‘Việt Nam đồng’ với ‘đôla Mỹ’”. (Tất cả các đồng tiền của nước ngoài đều được đọc xuôi theo ngữ pháp tiếng Việt, riêng đồng Việt Nam thì được đọc ngược theo ngữ pháp tiếng Anh!) Và có lẽ đó cũng là biểu hiện của truyền thống tư duy cảm tính của người phương Đông chăng?

Tuy nhiên, trong thời đại mà thế giới đang phát triển như vũ bão ngày nay, khi mà con người đang có nguy cơ tiêu diệt thiên nhiên và vì thế sẽ dẫn đến tiêu diệt chính mình, thì cái bản chất truyền thống của văn hoá phương Đông nặng về cảm tính và tình nghĩa, tôn thờ đất mẹ thiên nhiên, mặc dù có mặt tiêu cực là chậm phát triển, nhưng lại có tác dụng tích cực là thúc đẩy sự hoà hợp con người với thiên nhiên, rất phù hợp với quan điểm phát triển bền vững ngày nay của LHQ. Trong khi đó, cái tư duy thiên về lý tính của phương Tây có mặt mạnh là luôn luôn đổi mới, thúc đẩy phát triển – thực tế mấy thập kỷ gần đây tho thấy đầu tàu phát triển nằm ở phương Tây – nhưng nó lại tiềm ẩn những nguy cơ huỷ hoại môi trường: tài nguyên thiên nhiên suy kiệt, hiệu ứng nhà kính làm trái đất nóng lên, v.v... Chính vì thế mà ở phương Tây cũng đang có một xu hướng tìm đến phương Đông. Song, trớ trêu thay, khi phương Tây tìm đến phương Đông để học tập cái hay trong văn hoá mang tính hoà nhập với thiên nhiên của phương Đông, thì nhiều nước đang phát triển của phương Đông, vì nôn nóng bắt chước xu hướng phát triển nhanh của phương Tây, lại đang góp phần đắc lực vào việc hủy hoại môi trường. Nhiều nhà khoa học trên thế giới đã lên tiếng cảnh báo rằng Trung Quốc hiện đang là nước gây ô nhiễm và huỷ hoại thiên nhiên vào loại bậc nhất hiện nay. Mặt trái của tư duy cảm tính đang làm cho người ta học tập sự phát triển của phương Tây một cách không suy xét. Kể cả việc học tập theo cách sao chép, ví dụ như nạn làm hàng nhái, hàng giả thường là hiện tượng phổ biến ngày nay ở Á Đông.

Như vậy thì sự khác biệt Đông - Tây là có thật. Ở đây tôi chỉ bàn đến sự khác biệt trên bình diện tư duy và đời sống văn hoá-tinh thần. Nhưng khác biệt không có nghĩa là không thể gặp gỡ và bắt tay nhau. Trên thực tế, sự gặp gỡ Đông - Tây, đặc biệt là mối quan hệ giao thương, đã tồn tại từ lâu: con đường tơ lụa dài 8.000 km nối liền Trung Quốc với châu Âu, được hình thành từ đầu thế kỷ II trước CN, là một trong những bằng chứng lâu đời cho mối quan hệ này. Vì thế, sự khác biệt cũng có phần nhạt nhoà dần theo thời gian. Đến đây, có lẽ chúng ta phải trở lại với câu nói của Kipling để hiểu rõ thêm tư tưởng của ông.

Thực ra, ý nghĩa câu nói của Kipling không đơn giản như từ xưa đến nay người ta vẫn hiểu, hay cố tình hiểu đơn giản như thế. Sự thật là Kipling không bao giờ tuyên bố một cách dứt khoát về sự chia cắt Đông - Tây.

Câu nói trên được trích từ vần thơ đầu của bài thơ “Khúc ca Đông Tây”, viết năm 1889. Kipling là con trai của một vị bộ trưởng người Anh, sinh ra và lớn lên tại Ấn Độ. Ông am hiểu văn hoá phương Đông và sáng tác nhiều về đề tài phương Đông. Ông được trao giải Nobel văn học vì óc quan sát thực tế, trí tưởng tượng độc đáo và tài năng tự sự nổi tiếng. Tuy nhiên ngày nay, người ta cho rằng cái tư tưởng đề cao sức mạnh của đế quốc Anh và khả năng khai hoá văn minh của nó trong các sáng tác của ông đã làm giảm phần nào uy tín của ông. Về bài thơ “Khúc ca Đông Tây”, việc người ta hay trích câu thơ nói trên thực tế mới chỉ là trích một nửa tư tưởng của ông.

Trong khổ thơ đầu của bài thơ, Kipling đã viết như sau:

“Ôi, phương Đông là phương Đông, phương Tây là phương Tây, và hai bên sẽ chẳng thể bao giờ gặp nhau,

Cho đến khi Đất Trời có mặt tại Toà phán xử tối cao của Thượng Đế;

Nhưng sẽ chẳng có Đông cũng chẳng có Tây, chẳng có Ranh giới, chẳng có Giống nòi, cũng chẳng có Sinh sôi,

Khi hai người đàn ông mạnh mẽ đứng đối diện nhau, dù họ đến từ những nơi tận cùng của Trái đất!”

[Nguyên văn tiếng Anh:

Oh, East is East, and West is West, and never the twain shall meet,

Till Earth and Sky stand presently at God’s great Judgment Seat;

But there is neither East nor West, Border, nor Breed, nor Birth,

When two strong men stand face to face, tho’ they come from the ends of the earth!]

Tiếp đến là một đoạn tự sự kể về chuyện đụng độ giữa một thủ lĩnh người bản xứ với con trai một đại tá thực dân. Cuộc đụng độ đã kết thúc bằng sự hoà giải và kết nghĩa anh em giữa “hai người đàn ông mạnh mẽ”. Và bài thơ kết thúc bằng việc lặp lại khổ thơ đầu.

Hoá ra, Kipling không chia cắt Đông - Tây như người ta vẫn tưởng. Trong quan niệm của ông, sự khác biệt Đông - Tây không đến mức không thể hiểu nhau và hợp tác với nhau. Và thực tế ngày nay đang chứng minh điều đó. Quan điểm về sự đụng độ giữa các nền văn minh của Huntington đang bị nhiều người trên thế giới phản bác. Đảng CSVN cũng chủ trương “Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước”.

Những điều nói trên cho thấy rằng, điều quan trọng ngày nay là chúng ta phải hiểu rõ được mặt mạnh và mặt yếu của mỗi khu vực văn hoá để kết hợp bổ sung cho nhau nhằm xây dựng một thế giới loài người phát triển bền vững. Không nên tuyệt đối hoá một khía cạnh nào của văn hoá khu vực mà không thấy được mặt khiếm khuyết của nó. Thống nhất trong đa dạng chính là nguyên tắc để thúc đẩy sự hợp tác, bổ sung những cái hay cái tốt cho nhau để cùng tồn tại và phát triển. Nhưng hội nhập không phải là thủ tiêu sự khác biệt. Đông là Đông, Tây vẫn là Tây, có sao đâu! Nhưng đừng quá tự đề cao những cái khác biệt của riêng mình mà không thấy những cái hay cái tốt của người khác. Làm như thế sẽ có nguy cơ rơi vào căn bệnh “tự phụ thông thái rởm” mà nhà văn Gớt đã cảnh báo cách đây gần hai thế kỷ. Hội nhập Đông-Tây nói riêng và hội nhập toàn thế giới nói chung chính là vectơ chủ đạo và mục đích cuối cùng để loài người có được một ngôi nhà hoà bình và ổn định trên toàn hành tinh. Và như thế mới đúng theo tinh thần tư tưởng của Kipling: Khi các dân tộc gặp gỡ nhau trong mối quan hệ bình đẳng và trong tình anh em, thì sẽ không còn phương Đông, không còn phương Tây, không còn ranh giới phân chia giữa các giống nòi, chủng tộc! 

Tháng 3-2008 

(Nguồn: Tạp chí Triết học, số 2(213), 2009, tr. 42-47; Đã đăng trên báo Văn nghệ dưới nhan đề: “Phương Đông – phương Tây: từ một bài thơ, suy nghĩ về một vấn đề không nhỏ”, số 13, ngày 29-3-2008)

 

 

 

 

 

 

 

PHAN TRỌNG THƯỞNG

 

- Họ và tên khai sinh: Phan Trọng Thưởng

- Sinh năm 1951

- Quê quán: Xã Ngọc Mỹ, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc

- Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam (từ 1997)

- Hội viên Hội Nhà báo Việt Nam, Hội viên Hội Văn nghệ Dân gian Việt Nam.

 

- Tác phẩm chính đã xuất bản:

* Giao lưu văn học và sân khấu (NXB Văn học Hà Nội, 1996)

* Những vấn đề lý luận và lịch sử kịch Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX (NXB KHXH,1996)

* Văn chương - Tiến trình - Tác giả -Tác phẩm (NXB Văn học Hà Nội, 2001)

* Thẩm định các giá trị văn học (NXB Văn học Hà Nội, 2013)

Ngoài ra còn rất nhiều công trình nghiên cứu, biên soạn in chung và hàng trăm tiểu luận, tham luận in trên các báo và Tạp chí chuyên ngành.

- Giải thưởng văn học:

* Giải A của Hội đồng lý luận phê bình văn học nghệ thuật Trung ương năm 2014 cho cuốn Thẩm định các giá trị văn học - NXB Văn học, 2013.


 

A - TRONG KÝ ỨC BẠN BÈ

 

GIÁ TRỊ KHOA HỌC CỦA

THẨM ĐỊNH CÁC GIÁ TRỊ VĂN HỌC

                                                                                                                   Hồ Thế Hà

 

Đời sống văn học, bao gồm sáng tạo văn học, phê bình văn học và lý luận văn học luôn diễn ra theo quy luật của chính nó và quy luật của cuộc sống để tạo ra những giá trị tiếp nối, làm thành tiến trình văn học, kết tinh thành những giá trị văn hoá hiển minh, bên cạnh những giá trị văn hóa của các lĩnh vực và các hình thái ý thức xã hội, thẩm mỹ khác của một dân tộc. Chỉ xét riêng về lĩnh vực văn chương, để thức nhận và mô hình hóa, nội hàm hóa những giá trị văn học – văn hóa kết tinh đó, phải xuất phát từ quá trình đồng hành của các bộ môn hợp thành của Khoa nghiên cứu văn học, đặt trong liên hệ và tương tác với bối cảnh lịch sử - xã hội, với các khoa học liên ngành mới có thể thẩm định, đúc kết và khái quát thành những quy luật, nội dung nhằm chỉ ra những giá trị bản chất, khách quan và khoa học của chính lĩnh vực văn học.

Công trình Thẩm định các giá trị văn học của Phan Trọng Thưởng, do Nxb Văn học ấn hành năm 2012 chính là kết quả mong muốn và “nỗ lực thẩm định các giá trị và lý giải các hiện tượng văn học đã và đang diễn ra trên bề mặt và bề sâu của lịch sử văn học” như chính tác giả đã phi lộ trong Lời nói đầu của tác phẩm, từ phương pháp tiếp cận khoa học liên ngành như thế.

Công trình được cấu trúc thành 2 phần. Phần 1. Từ diễn đàn các Hội thảo khoa học (gồm 12 bài tiểu luận, tổng luận). Phần 2. Đến thực tiễn lịch sử văn học (bao gồm 7 bài tiểu luận về kịch văn học Việt Nam). Có thể nhận định tính khoa học tổng thể công trình của Phan Trọng Thưởng, đó là tinh thần nhận chân các giá trị văn học – văn hóa ở thế kỷ XX với cách tiếp cận liên ngành linh hoạt theo tinh thần đổi mới nhận thức và đổi mới tư duy từ sự phát triển, hoàn thiện của các ngành khoa học xã hội và nhân văn trong thời hiện đại. Vì vậy, chúng có giá trị nhận thức bổ sung, nhận thức lại và nhận thức mới nhiều vấn đề mà từ trước đến nay tưởng đã ổn định hoặc không cần phải bàn cãi thêm. Chính vì xuất phát từ yêu cầu khoa học cao của các Hội thảo quốc gia, quốc tế, các diễn đàn học thuật lớn như vậy mà tác giả đã nỗ lực đặt vấn đề và giải quyết vấn đề một cách khách quan, khoa học, mang lại những thông điệp mới và sâu sắc, đặt ra những đồng cảm và đồng suy nghĩ – sáng tạo mới trong việc tiếp tục làm đầy những chân giá trị của văn học – văn hóa Việt Nam thế kỷ XX. Công trình vì vậy, có giá trị lý luận và thực tiễn cao.

Phần 1 của công trình là Tiểu luận mở đầu Tinh thần nhận chân các giá trị của thế kỷ XX, từ độ lùi của đầu thế kỷ XXI, tác giả đã xuất phát từ các thành tựu khoa học của A. Einstein (Thuyết tương đối), S. Freud (Phân tâm học), G.J Mendel (Thuyết di truyền), hoặc viện dẫn các trường hợp văn chương bị hệ lụy như F. Kafka, B. Pasternak, A. Platonov..., Phan Trọng Thưởng muốn chiêu tuyết cho những nhà khoa học và nhà văn bị “hố” của thế kỷ XX mà lịch sử và thời đại sau đã kịp nhận ra những sai lầm nghiêm trọng cuả nhận thức và của các thiết chế xã hội đã làm cho các giá trị bị lãng quên và im lặng đến bẽ bàng. Tác giả viết: “Điểm qua một vài hiện tượng như trên để thấy rằng thế kỷ XX tuy được coi là thế kỷ tiến bộ vượt bậc của khoa học và văn minh nhân loại, nhưng không phải khi nào các phát kiến vĩ đại, các tư tưởng lớn cũng tìm được điều kiện thuận lợi để ra đời. Và không phải khi nào, nhân loại cũng dang rộng vòng tay và có thái độ đón nhận tất hữu đối với những đứa con kiệt xuất của thời đại mình. Vì vậy, các nhà bác học cũng như không ít những nhà văn, nhà tư tưởng lớn không tránh khỏi có những lúc rơi vào trạng thái cô đơn do chính sự vĩ đại của mình gây nên. Có lẽ đó là một trong số những lý do tạo nên cơ sở triết học của chủ nghĩa hiện sinh với triết lý vừa có phần thâm trầm, vừa có phần ảm đạm về thân phận con người trước một thế giới đang biến đổi mau lẹ và khó hiểu” (tr.11-12) (Từ đây, những trích dẫn từ công trình của Phan Trọng Thưởng, chúng tôi đánh số trang để tiện theo dõi).

Nhưng cũng chính thế kỷ XX, không ít chân lý, không ít các giá trị đích thực của cá nhân và của khoa học, nghệ thuật nhân loại được trả lại công bằng do những phát kiến vĩ đại và những sám hối chân thành của trí tuệ và hành vi nhận thức lại của con người. Từ những trường hợp cụ thể của phương Tây, Phan Trọng Thưởng đã nhìn lại Việt Nam từ lĩnh vực sử học đến văn học như trường hợp Nguyễn Trãi và các nhân vật lịch sử khác như Lê Hoàn, Thái hậu Dương Vân Nga, Thái sư Lê Văn Thịnh, Thái sư Trần Thủ Độ, Hồ Quý Ly, Nguyễn Ánh... với nhận định sâu sắc: “Tuy đó là câu chuyện ngược dòng lịch sử nhưng lại nằm trong xu thế kiểm định lại các nhân cách, các giá trị quá khứ diễn ra vào thế kỷ XX... Song ít nhất, thế kỷ XX này, các nhà khoa học đã nhận thấy từ trong quá khứ xa xưa của dân tộc mình không ít điểm còn có thể phản biện được để tiếp cận dần tới chân lý... Tuy đó không phải là một công việc dễ dàng và không phải trả giá, nhưng tư duy khoa học và tinh thần nhận chân các giá trị của thế kỷ sẽ là đảm bảo vững vàng để các cuộc kiếm tìm đi đến đích” (tr.13). Đó cũng là trường hợp Tản Đà và các nhà thơ mới 1932-1945, của văn chương tự lực văn đoàn, qua “những bước thăng trầm” để sau đó được nhìn nhận “điềm tĩnh, thấu đáo, khách quan khoa học hơn”. Đó chính là những thức nhận mang tinh thần thế kỷ XX, mà càng về sau, đến thời Đổi mới (1986), tinh thần đó mới thâu thái được trọn vẹn cho “tinh thần phục hưng dân tộc, chấn hưng các giá trị. Trong trào lưu đó, không chỉ những tên tuổi như Văn Cao, Vũ Bằng mà cả Trần Đức Thảo, Hoàng Xuân Hãn... sau nhiều năm lu mờ đã tìm lại được chính danh trong văn chương nghệ thuật và khoa học của đất nước” (tr.18).

Cũng trong tiểu luận này, Phan Trọng Thưởng đã nhận thức nhiều vấn đề, hiện tượng có liên quan đến sự nhận thức lại theo tinh thần đổi mới tư duy của thế kỷ XX như: Vấn đề phân kỳ lịch sử văn học hiện đại, Cuộc tranh luận Duy tâm hay Duy vật trên lĩnh vực triết học, Nghệ thuật vị nghệ thuật và Nghệ thuật vị nhân sinh trên lĩnh vực văn học... Đặc biệt là vấn đề Chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa và Phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa, khi có những bất cập và thiên kiến chủ quan. Phan Trọng Thưởng đi đến nhận định : “Thực ra, vấn đề không phải là ở chỗ có hay chưa có một nền văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa; có hay không có phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa? mà là ở chỗ trên cơ sở thực tiễn phát triển của lịch sử nghệ thuật nhân loại ngót một thế kỉ, cần phải biết loại bỏ những yếu tố không hợp lí, không khoa học và phải biết kế thừa những thành tựu có thật, những truyền thống nghệ thuật vốn có trong hệ thống lí luận mĩ học về chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa, hoàn thiện và phát triển nó trong những điều kiện lịch sử và thực tiễn nghệ thuật mới. Đó thực sự là nhãn quan khoa học, là tinh thần xuyên suốt và nhất quán của thế kỉ XX” (tr.21).

Liên quan đến phương Tây, những hiện tượng như Chủ nghĩa hiện sinh trong triết học và văn học với những tác gia lớn như J. P. Sartre, A. Camus, S. Beckett, E. Ionesco, H. Bergson... hoặc các trường  phái như chủ nghĩa cấu trúc, chủ nghĩa hình thức, phê bình mới, tiểu thuyết mới...từng là đối tượng phê phán, thì nay chúng ta mới lấy lại “thế quân bình trong một thế giới đa cực, đa phương” (tr.22). Cuối tiểu luận, Phan Trọng Thưởng đã khái quát tinh thần nhận chân cá giá trị của thế kỷ XX một cách cụ thể: “Song, cho dù thế kỉ XX có chuyển biến với một nhịp điệu gấp gáp, một "gia tốc lịch sử" lớn như ta đã thấy, trong cuộc truy tìm để nhận chân các giá trị, dường như vẫn không đủ thời gian và điều kiện để giải quyết những tồn đọng của lịch sử. Chỉ riêng trong lĩnh vực văn học Việt Nam hiện đại khoảng hơn mười năm trở lại đây, còn bao nhiêu vấn đề, bao nhiêu sự kiện đã bước đầu được đặt ra mà chưa tìm kiếm được câu trả lời thoả đáng. Lí do có thể vừa thuộc về chủ quan, vừa thuộc về khách quan. Sự ngập ngừng trong không ít trường hợp đã khiến cho việc minh định các giá trị văn chương phải chấp nhận lối đi vòng vo và diệu vợi. Nhưng trong mỗi sự kiện và hiện tượng đó đã ẩn chứa tinh thần của thế kỉ. Những gì chưa kịp nhận chân ở thế kỉ XX sẽ được chuyển giao vào những thời khắc thiêng nhất để thế kỉ XXI đón nhận và thực hiện tiếp” (tr.25).

Chúng tôi xem tiểu luận đầu sách nói trên là tư tưởng nền tảng để tác giả làm bệ đỡ cho tinh thần nhận chân khoa học các giá trị văn hóa – văn học đã qua. Các tiểu luận: Tân thư và phong trào Duy Tân ở Nhật Bản, Trung Quốc và Việt Nam thời kỳ hiện đại, Tiếp cận văn học các nước châu Á bằng lý thuyết phương Tây hiện đại: vận dụng - tương thích – thách thức và cơ hội, Hướng tới những lý giải khoa học về văn học Việt Nam trong bối cảnh giao lưu và hội nhập quốc tế... là những tổng kết sâu sắc, có tầm nhìn xa rộng trên cơ sở nắm bắt bản chất vấn đề từ thực tiễn đến lý luận và ngược lại; từ cụ thể đến khái quát và ngược lại – xuất phát từ độ lùi về thời gian và nhận thức, từ sự phản tỉnh và phản biện của người nghiên cứu, cùng sự phát triển, hoàn thiện của các lý thuyết khoa học hiện đại về văn hóa - văn học cũng như sự vận động của tư tưởng và đời sống xã hội. Từ việc xác định vai trò cầu nối của Phong trào Duy Tân trong việc tiếp thu, tiếp biến các “tư tưởng tự do, dân chủ, dân quyền từ các nước châu Âu và phương Tây vào quá trình vận động, biến chuyển của lịch sử xã hội cũng như lịch sử tư tưởng – chính trị và học thuật của các nước phương Đông, trong đó có Nhật Bản, Trung Quốc và Việt Nam” (tr. 26), Phan Trọng Thưởng đã lý giải vấn đề hội nhập và tương tác có tính quy luật của các nước đồng văn nói trên một cách thuyết phục. Mà ở đó, Tân thư là phương tiện hữu hiệu nhất. Riêng ở Việt Nam, vai trò của Tân thư đem lại những kết quả tích cực như ở Nhật Bản và Trung Quốc: “ở Việt Nam trong suốt quá trình duy tân thời kỳ cận đại, Tân thư có một vị trí cực kỳ quan trọng. Nó là vũ khí tư tưởng, là liệu pháp tinh thần, là nhịp cầu nối Việt Nam với thế giới phương Tây. Ở thời kỳ Cận đại, các trí thức Nho học Việt Nam vẫn còn giữ được vị trí đáng kể trong đời sống chính trị và văn hóa của xã hội. Với vốn kiến thức Hán học uyên thâm, Tân thư trở thành nguồn tri thức mới lạ, tân kỳ giúp các nhà duy tân Việt Nam mở mang tầm nhìn, khai trí, khai tâm để hướng đến mục tiêu tự chủ tự cường dân tộc” (tr. 33). Và tác giả đi đến kết luận đúng đắn: “Như vậy là, vào thời kỳ Cận đại, ảnh hưởng của phương Tây đến Việt Nam qua 2 con đường: Trực tiếp từ nhà trường Pháp qua Pháp văn và gián tiếp từ Tân thư qua Hán văn. Con đường trực tiếp giành cho các trí thức mới Tây học, còn con đường gián tiếp giành cho các chí sĩ, các nhà Nho được đào tạo từ khoa cử phong kiến. Tuy con đường tiếp thu phương Tây gián tiếp qua Tân thư phần nào bị khúc xạ qua lăng kính tư tưởng của các nhà duy tân Nhật Bản và Trung Quốc, đặc biệt là của Khang Hữu Vi và Lương Khải Siêu, nhưng nhờ đó mà các nhà duy tân Việt Nam mới tiếp cận được với thế giới, khai mở trí tuệ để đón nhận “gió Âu mưa Á”, “thổ nạp Đông - Tây” đưa Việt Nam thoát ra khỏi vòng luẩn quẩn, lạc hậu của ý thức hệ Nho giáo phong kiến. Mặc dù trong thế tranh chấp ảnh hưởng với tầng lớp trí thức Tây học được đào tạo trực tiếp từ nền giáo dục Pháp, các nhà Nho duy tân không đóng được vai trò đại diện cho lực lượng tiên tiến của xã hội, nhưng với những gì họ tiếp thu được từ Tân thư, qua Tân thư cũng đã góp phần thức tỉnh “nhân tâm thế đạo”, giống như tiếng gà gáy sáng báo bình minh, đánh thức dân tộc bằng những tư tưởng mới về dân chủ, tự do và dân sinh dân quyền vốn xa lạ với xã hội phương Đông và Việt Nam trước đó” (tr. 34).

Cũng trên tinh thần khách quan, khoa học khi đánh giá và tiếp cận văn học các nước châu Á bằng lý thuyết phương Tây hiện đại, Phan Trọng Thưởng đã thấy được mối quan hệ biện chứng của sự vận dụng - tương thích để thấy được sự khôn ngoan của chủ thể văn học các dân tộc trong tiếp kiến và tiếp biến để sáng tạo thành những giá trị riêng, mang bản sắc của đân tộc mình. Những thách thức và cơ hội trong quá trình tiếp biến và hội nhập là quyết liệt và có quy luật phổ biến của nó để biến thành những giá trị năng động: “Thành tựu đó được lý giải bởi nhiều nguyên nhân, nhưng một trong những nguyên nhân quan trọng được biết đến là tinh thần chủ động hội nhập, tăng cường giao lưu hợp tác quốc tế. Trong bối cảnh đó, văn học và văn hoá Việt Nam tự cho thấy đang là một thực thể năng động vừa hướng tới các giá trị dân tộc bền vững; vừa hướng tới các giá trị quốc tế và khu vực có tính phổ biến để xác định nguyên lý cho sự phát triển” (tr.41). Đó là những khái quát khoa học, sát đúng với thực tiễn Việt Nam.

Là nhà lý luận văn học luôn đồng hành cùng nền văn học dân tộc, đặc biệt là văn học đương đại, Phan Trọng Thưởng quan tâm đến mối quan hệ bộ ba giữa sáng tác văn học - phê bình văn học - lý luận văn học trước yêu cầu đổi mới và phát triển. Vì vậy, phải xác lập một nền mỹ học phê bình trên tinh thần dân chủ và cập nhật mới mẻ về lý luận để tạo ra những kinh nghiệm và thành tựu mới. Muốn vậy, phải xuất phát từ tầm đón mới của phê bình để xác định bản chất, chức năng và đặc biệt là phải xác định đối tượng của nó, đó là “toàn bộ những hiện tượng văn học đã và đang diễn ra; là toàn bộ những phương diện khác nhau của hoạt động sáng tạo và thưởng thức nghệ thuật” (tr. 57). Từ đó, nhận thức rõ thực trạng vấn đề và đề xuất các kiến giải sát hợp và khoa học. Đây là một quá trình động và linh hoạt trên cơ sở xác định mối quan hệ giữa sáng tạo, phê bình và lý luận văn học để đề xuất “hệ thống lý luận văn học phù hợp với thực tiễn lịch sử và thực tiễn nghệ thuật” (tr.67). Các tiểu luận Vì một nền mỹ học phê bình, Lý luận văn học trước yêu cầu đổi mới và phát triển, Tinh thần dân chủ lý luận như một thành tựu và như một kinh nghiệm…đã thể hiện được cái nhìn khách quan và dự báo đổi mới về lý luận, phê bình và sáng tạo văn học trước mắt cũng như lâu dài một cách năng động của Phan Trọng Thưởng.

Tinh thần nhận chân các giá trị văn học Việt Nam của Phan Trọng Thưởng bao giờ cũng được xem xét và kết luận trên cơ sở đánh giá từ những thực tiễn thành tựu và hạn chế của giai đoạn trước và cả trong hiện tại để chỉ ra những nguyên nhân chủ quan và khách quan của chúng. Từ đó, tiến tới luận chứng đổi mới và phát triển lý luận văn học bằng những phương hướng cụ thể, thiết thực để định hướng sáng tạo và phê bình văn học. Theo đó, Phan Trọng Thưởng xác định “lý luận văn học và mỹ học Mác xít cần phải được tiếp tục xác định vai trò chủ đạo, là sự lựa chọn có tính nguyên tắc cho sự tồn tại và phát triển của nền văn học” (tr.86). Tuy vậy, không được “tiếp thu một cách máy móc, thụ động, biến học thuyết triết học và mỹ học của Marx, Engels, Lenin vốn được xem là một học thuyết có tính khoa học và cách mạng thành một giáo điều tư tưởng nghệ thuật, một công thức cứng nhắc, gò bó mà phải chủ động sáng tạo, phát triển học thuyết Marx trong điều kiện lịch sử mới, phù hợp với thực tiễn văn hóa, văn học mang đậm bản sắc mỗi quốc gia, mỗi khu vực. Tinh thần đó sẽ làm cho các chân lý phổ biến của học thuyết Marx được kiểm chứng trong thực tiễn mang vẻ đặc thù của các quốc gia, dân tộc” (tr.86-87). Cũng trên tinh thần đó, Phan Trọng Thưởng đề xuất cần phải tiếp thu hệ thống lý luận văn học của các nước Âu - Mỹ hiện đại một cách khách quan, khoa học, có chọn lọc để bổ sung và làm đầy những thành tựu hợp lý cho Khoa nghiên cứu văn học Việt Nam để góp phần “khám phá bản chất đích thực và phát hiện các quy luật của nghệ thuật” (tr.88). Đó chính là cách để phát huy, phát triển và đúc kết, hoàn thiện những thành tựu lý luận mới trên tinh thần gắn lý luận với thực tiễn. Muốn thực hiện được những mục tiêu đó, cần phải phát huy tinh thần dân chủ: “Chính tinh thần dân chủ lý luận đã cho phép chúng ta tiếp cận một cách đàng hoàng hơn, toàn diện và thấu đáo hơn với các thành tựu lý thuyết của các trường phái, các học phái khác nhau trên thế giới để từ đó bổ sung vốn tri thức lý luận, tạo cơ sở cho việc đối thoại và tiếp thu, làm giàu hơn vốn liếng trí tuệ và khả năng tư duy trừu tượng. Cũng chính tinh thần dân chủ lý luận đã tạo cho chúng ta dũng khí phát hiện những điểm khả thủ cũng như những thiếu hụt, phiến diện, những sắc thái quan phương giáo điều trong hệ thống lý luận văn học và mỹ học của chúng ta để xây dựng luận chứng cho sự đổi mới và phát triển” (tr.101). Cuối cùng, Phan Trọng Thưởng đã đề xuất 7 phương hướng thiết thực và khoa học cho sự phát triển lý luận văn học Việt Nam trong thời kỳ mới.

Là nhà quản lý cơ quan văn học trung tâm của cả nước – Viện trưởng Viện văn học, Phan Trọng Thưởng có cơ hội để nắm bắt, quán xuyến, khái quát những vấn đề văn học, văn hóa ở tầm vĩ mô và vi mô, nên những bài viết của ông đều toát lên tính chân xác khoa học và tinh thần đổi mới tích cực, cập nhật tư duy lý luận hiện đại, dựa trên sự phát triển và hoàn thiện của các ngành khoa học xã hội và nhân văn thời hiện đại. Tư tưởng đó thể hiện qua các cuộc Hội thảo quốc gia và quốc tế mà ông là người tổ chức, chủ trì và đề dẫn, thu hút sự quan tâm của giới nghiên cứu học thuật trong nước.

Một trong những quan tâm hàng đầu hiện nay có tính toàn cầu, đó là mối quan hệ giữa văn hóa và văn học trong giao lưu và hội nhập quốc tế. Sau khi phân tích những quy luật tích cực của giao lưu và hội nhập văn hóa giữa các dân tộc, Phan Trọng Thưởng đã chỉ ra sự phức tạp từ thực tiễn tiếp thu và hội nhập văn hóa, văn học với những cấp độ, tính chất và quan niệm khả thủ và bất cập, thuận lý và nghịch lý khác nhau. Phan Trọng Thưởng đã cảnh báo một hiện tượng có tính thiên về “du nhập hơn là hội nhập” đã làm cho quá trình tác động bình đẳng lẫn nhau không được thực thi: “Nhưng thực tế cho thấy quá trình hội nhập còn làm nảy sinh những nghịch lý ở chỗ nó không chỉ tạo ra cho sự phát triển văn hóa mỗi nước những thời cơ thuận lợi mà còn ẩn chứa ngay trong nó những nguy cơ lớn. Một trong số những nguy cơ đó chính là sự mai một của các giá trị văn hóa truyền thống trước sự du nhập, tấn công của các yếu tố văn hóa mới lạ từ bên ngoài vào; sự hòa tan bản sắc riêng độc đáo vốn có của mỗi nền văn hóa thành một sản phẩm lai tạp, hỗn loạn, không còn có cơ sở để nhận diện, mất đi những yếu tố làm nên căn cước văn hóa của mỗi dân tộc” (tr.104). Phan Trọng Thưởng luận thuyết một cách thuyết phục kinh nghiệm giao lưu văn hóa của nước ta như sau: “Kinh nghiệm lịch sử của nước ta cho thấy trong giao lưu văn hóa, dù dưới hình thức áp đặt hay tự nguyện, khi ý thức dân tộc được đề cao thì việc tiếp thu hay loại bỏ một yếu tố nào đó bao giờ cũng được thực hiện trên tinh thần vì lợi ích dân tộc. Vì vậy, đối với những biểu hiện xốc nổi trong các ứng xử văn hóa hiện nay, nếu chỉ giải quyết bằng biện pháp hành chính thì hiệu quả có thể nhanh nhưng không cơ bản và lâu dài. Vấn đề là ở chỗ áp dụng giải pháp giáo dục nào để đạt được hiệu quả mong muốn trong ý thức văn hóa của mỗi người. Đó chính là cách tạo ra và bảo vệ các giá trị văn hóa bằng chính văn hóa” (tr.110). Và Việt Nam, từ sau đổi mới đến nay, trong hội nhập và giao lưu, ta đã nhận thức được điều đó trong từng thời kỳ với một “tinh thần chủ động hội nhập, tăng cương giao lưu hợp tác quốc tế. Trong bối cảnh đó, văn học và văn hóa Việt Nam tự cho thấy đang là một thực thể năng động vừa hướng tới các giá trị dân tộc bền vững; vừa hướng tới các giá trị quốc tế và khu vực có tính phổ biến để xác định nguyên lý cho sự phát triển” (tr.111).

Vấn đề Văn học, văn nghệ dưới tác động hai mặt của cơ chế thị trường, Mẫn cảm của nghệ sĩ trước thực tại và chức năng dự báo của văn học,Để tiến tới một nền văn học gắn bó với số phận của nhân dân và vận mệnh của đất nước.. cũng được Phan Trọng Thưởng đề cập có cơ sở lý luận và thực tiễn. Đây là những tiểu luận có suy tư và nhân tình, nhưng đều xuất phát từ chân lý của đời sống và chân lý của văn học nghệ thuật để bàn luận, đánh giá và kết luận về những vấn đề có liên quan đến bản chất của văn học, của hiện thực cuộc sống và đặc biệt là của vai trò của người nghệ sĩ trong việc phản ánh hiện thực và dự báo hiện thực, xuất phát từ ý thức nghệ thuật của họ trước những bước ngặt chuyển mình có ý nghĩa của đời sống xã hội. Từ sự tác động hai mặt của cơ chế thị trường đến ý thức xây dựng một nền văn học nghệ thuật gắn bó với số phận của nhân dân và vận mệnh của đất nước, đòi hỏi người nghệ sĩ phải thực sự có tâm, có tài và đặc biệt phải thực sự mẫn cảm để định hướng và chọn lựa chủ đề, đề tài một cách có hiệu quả về tư tưởng – thẩm mỹ đối với sự tiếp nhận của công chúng: “Để dự báo và tiên đoán chính xác, mỗi nhà văn, mỗi nghệ sỹ, ngoài sự mẫn cảm dự cảm gần như là thanh khí tiên thiên của mình, còn đòi hỏi phải có các khả năng chiêm nghiệm, khả năng phân tích, phán đoán để nhận thức bản chất, nắm bắt qui luật và logic khách quan của cuộc sống, để trên cơ sơ đó nhận diện tương lai ngay từ trong thực tại. Như vậy, cũng có nghĩa là muốn thực hiện tốt chức năng dự báo, nhà nghệ sĩ, về một phương diện nào đó, phải đồng thời là nhà khoa học, trước hết là khoa học nhân văn (tr.140).

Có thể nói, phần 1 của công trình thực sự là những tổng kết, nâng lên thành những luận điểm và luận thuyết khoa học khách quan, biện chứng theo tầm đón hiện đại, trên cơ sở thấy được những giới hạn của văn hóa, văn học để khắc phục những giới hạn đó, nhằm đề xuất những phương hướng và lý luận mới. Đó chính là tinh thần nhận chân các giá trị khoa học của Khoa nghiên cứu văn học nói chung của nước ta hiện tại và lâu dài, khi chưa có những bất cập mới xuất hiện.

Phần 2 của công trình Thẩm định các giá trị văn học của Phan Trọng Thưởng là kết quả nghiên cứu lĩnh vực chuyên sâu về thể loại kịch trong lịch sử văn học Việt Nam hiện đại mà tác giả liên tục thành tựu với tư cách là một trong những chuyên gia hàng đầu. Lật trở vấn đề kịch hiện đại Việt Nam, Phan Trọng Thưởng chú trọng vào những đối tượng chung và riêng, khái quát và cụ thể, chú trọng sâu vào tiến trình văn học kịch Việt Nam nửa sau thế kỷ XX trong liên hệ, đối sánh với văn học kịch nửa đầu thế kỷ XX bằng cách chỉ ra những tiếp diễn liên tục của các giai đoạn trước đó, từ cấp độ tổng quan đến cấp độ tác gia, tác phẩm cụ thể. Phan Trọng Thưởng nhìn nhận và nghiên cứu bản chất vấn đề từ cấp độ thực tiễn đến lý luận. Và có khi ngược lại, từ lý luận đến thực tiễn bằng tư duy biện chứng, tức là Phan Trọng Thưởng không cắt đứt và xét các giai đoạn văn học kịch một cách biêt lập, đặc biệt là từ giai đoạn trước cách mạng tháng Tám với giai đoạn sau cách mạng tháng Tám mà là đặt chúng trong một tiến trình liên tục. Ông xem đó là hai giai đoạn/ hai thời kỳ của một dòng chảy thống nhất, nhân quả và biện chứng lẫn nhau để tạo nên tiến trình thể loại kịch văn học Việt Nam cho đến ngày nay. Đó chính là cảm quan khoa học chính xác và biện chứng – lịch sử mà không phải ai cũng nhận thấy, nếu không muốn nói rằng, trước đây, có người phiến diện đã không thấy giá trị của kịch Việt Nam giai đoạn trước 1945 đối với sự tiếp biến của kịch sau 1945 như thế nào, nhất là ở góc nhìn đặc trưng thể loại. Vỉ vậy mà trong tổng luận: Tổng quan tiến trình văn học kịch Việt Nam nửa sau thế kỷ XX (Những vấn đề lý luận và lịch sử), Phan Trọng Thưởng đã nhận ra những phiến diện ấy: “Sở dĩ như vậy là vì từ trước tới nay, khi nghiên cứu tiến trình văn học hiện đại nói chung, tiến trình kịch nói riêng, không ít tác giả đã xem cái mốc lịch sử năm 1945 như một nhát cắt chia tiến trình văn học trước và sau đó thành hai giai đoạn biệt lập hoàn toàn, gần như không có sự chuẩn bị, chuyển tiếp hay kế thừa nào, trong đó, cái nhìn đối với lịch sử văn học trước 1945 ở khá nhiều trường hợp cho thấy không ít định kiến, dẫn tới thiếu khách quan và thiếu chuẩn xác về mặt khoa học; còn văn học từ 1945 trở đi thường lại được nhìn nhận, đánh giá theo một định kiến khác, khiến cho không ít trường hợp các ý kiến trở nên bất cập, thiếu biện chứng lịch sử và văn học, do vậy cũng xa với chân lí” (tr. 163). Tác giả khẳng định: “Đánh giá đúng mức thành tựu kịch trước Cách mạng do vậy không chỉ có ý nghĩa phương pháp luận mà còn có ý nghĩa khoa học ở chỗ chỉ có thể lí giải được những đặc điểm, những khác biệt của kịch các giai đoạn sau khi nhìn thấy một cách đầy đủ, thấu đáo những liên hệ biện chứng của nó với kịch giai đoạn trước” (tr.165).

Từ thực tiễn lịch sử văn học kịch Việt Nam, tiếp tục các công trình chuyên sâu trước đó của mình, Phan Trọng Thưởng đã tiến hành nghiên cứu kịch văn học Việt Nam thế kỷ XX ở những mặt bổ sung và những mặt mới với các mốc chính có tính bước ngoặt, tạo ra diễn trình văn học kịch Việt Nam ở cấp độ tổng quan và cấp độ cụ thể. Ở cấp độ tổng quan, có các tiểu luận Tổng quan tiến trình văn học kịch Việt Nam nửa sau thế kỷ XX (Những vấn đề lý luận và lịch sử), Văn học kịch thời kỳ 1975-1985  và những vấn đề xã hội hậu chiến, Những dấu hiệu đổi mới và thành tựu của kịch giai đoạn 1945-1954. Ở cấp độ cụ thể, có các bài viết sâu về chân dung các nhà viết kịch, đặc biệt là những tác giả trước các mạng tháng Tám như: Nhìn nhận thêm về vị trí của Vũ Đình Long (1896-1960) trong lịch sử văn học, Vị trí của Vi Huyền Đắc (1899-1976) trong lịch sử phát triển của kịch Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX, Hiểu thêm về Đoàn Phú Tứ (1910-1989), Đào Hồng Cẩm (1924-1990) – nhà viết kịch quân đội…Đó là những kết quả khảo sát và khảo cứu toàn diện về thể loại và tác gia kịch văn học Việt Nam thế kỷ XX, có một phần vắt qua những năm đầu của thể kỷ XXI.

Nhìn chung, ở phần 2 của công trình, Phan Trọng Thưởng đã tỏ ra tâm huyết và mẫn cảm, khách quan khi nhìn nhận và đánh giá diện mạo văn học kịch Việt Nam một cách khoa học, xuất phát từ thực tiễn để đúc rút thành lý luận và từ lý luận để soi rọi vào thực tiễn để thấy những thành tựu và hạn chế cụ thể trong từng bối cảnh của nó. Vì vậy mà mối quan hệ giữa hiện thực - tác giả - độc giả/ khán giả luôn được dẫn dắt và minh định sáng rõ, giúp người đọc thấy được “những bước thăng trầm” của văn học kịch Việt Nam qua từng thời kỳ và giai đoạn là một thực tế sinh động, có điều kiện. Qua đó, thấy được mối quan hệ giữa chủ thể sáng tạo và khách thể thẩm mỹ luôn được diễn ra trong tính quy luật của nó, dù không phải không có những so le, bất cập trong những thời khoảng nhất định, do tác động của nhiều yếu tố, nhiều thiết chế chủ quan và khách quan. Nhưng nhìn chung cả tiến trình thì kịch diễn ra hợp quy luật, xét từ thể loại đến thể tài; từ chủ đề, đề tài đến phương thức biểu hiện; từ thị hiếu đến quan niệm; từ phương thức/ phương tiện thô sơ đến yêu cầu chính quy, hiện đại; từ ngôn ngữ đến diễn xuất, từ nghiệp dư đến chuyên nghiệp; từ dân tộc đến quốc tế; từ truyền thống đến hiện đại; từ hình tượng đến tư tưởng; từ khu vực đến vùng miền… Những vấn đề nói trên đều được Phan Trọng Thưởng giải quyết và nghiên cứu một cách bao quát, thấu đáo, thuyết phục, để giúp người, đặc biệt là người đọc chuyên sâu nhận thức và đồng sáng tạo.

Vấn đề vai trò, vị trí của từng nhà viết kịch, đặc biệt là các nhà viết kịch tiên phong giai đoạn trước cách mạng tháng Tám như Vũ Đình Long, Vi Huyền Đắc, Đoàn Phú Tứ… được Phan Trọng Thưởng đánh giá khách quan, hợp lý, làm hiển minh công lao và sự nghiệp của họ trong lịch sử văn học kịch Việt Nam với những nhận định chan xác và mới mẻ trên tinh thần nhận chân khách quan các giá trị vốn có của họ.

Tóm lại, từ cái nhìn xuyên thế kỷ, Phan Trọng Thưởng đã minh xác vấn đề có tính triết – mỹ rằng, kịch Việt Nam nửa sau thể kỷ XX đã tiếp biến kịch Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX và phát triển trong từng hoàn cảnh đặc biệt để phù hợp với nhu cầu của cuộc sống và công chúng cũng như nhu cầu của chính thể loại để làm nên tiến trình văn học kịch cả nước với những hiệu quả tích cực của nó: “Nhìn lại chiều dài ngót một thế kỉ vận động và phát triển của kịch, bằng chính những tiến bộ về mặt thể loại, kịch đã có những vị thế mới trong tiến trình văn học nghệ thuật để đến khi thống nhất đất nước, nó phá vỡ được ranh giới vùng miền, phát huy ảnh hưởng vào các tỉnh và thành phố phía Nam, tạo ra một diện mạo mới cho kịch nửa sau thế kỉ” (tr.198).

Công trình Thẩm định các giá trị văn học của Phan Trọng Thưởng dù là tập hợp những bài viết trong những thời khoảng khác nhau, trải rộng trên nhiều vấn đề, nhiều đối tượng nghiên cứu, nhưng đã thể hiện tính giá trị chỉnh thể của nó ở các mặt bản chất của lý luận văn học và lịch sử văn học một cách bao quát, khách quan và khoa học, thông qua nhãn quan nhạy bén và tư duy đổi mới. Tác giả đã từ thực tiễn của văn học – văn hóa để nỗ lực nhận chân các giá trị chuẩn xác của từng lĩnh vực, từng yếu tố tham gia cấu thành tác phẩm văn học và từng bộ phận hợp thành của Khoa nghiên cứu văn học để thấy sự vận động và phát triển của chúng theo chiều hướng tích cực, hợp quy luật, có phá và thay; có phủ định và kế thừa, có phát huy và phát triển trên cơ sở lịch sử - xã hội, cơ sở tư tưởng và cơ sở nghệ thuật của từng giai đoạn cụ thể. Những vấn đề đó được tác giả công trình luận giải với một văn phong luận lý chặt chẽ, thể hiện tinh thần nỗ lực để tiếp cận chân lý một cách khách quan, biện chứng để lật trở vấn đề trên tinh thần đổi mới tư duy, trong bối cảnh giao lưu và hội nhập với khu vực và quốc tế.

 

H.T.H

 

 

 

NGƯỜI ĐO CHIỀU KÍCH VĂN CHƯƠNG

TRÊN SÀN SÂN KHẤU

Nguyễn Đình Vĩnh 

Tiếp xúcvới Phan Trọng Thưởng, dễ gần là cảm giác đầu tiên mà mọi người nhận thấy ở anh. Bạn văn, bạn bè của anh nhiều có lẽ một phần cũng vì thế. Khi giao tiếp, dù lí do gì, anh cũng ít làm khó cho người. Trong các cuộc vui, anh có thể ngồi hàng giờ để nghe ngóng, đôi khi lại chen dậm để góp tạo những tiếng cười.

Sinh năm 1951 tại Ngọc Mỹ, huyện Lập Thạch, Vĩnh Phúc, nhưng duyên nợ cuộc sống đã cho anh đến được với nhiều nơi. Nhập ngũ tại Quân khu Tả Ngạn những năm 1972-1975, làm biên tập ở Nhà xuất bản Khoa học xã hội (1978-1981), thực tập sinh ở Viện Văn học thế giới Gorky thuộc Viện hàn lâm khoa học Liên Xô (cũ) và sau đó là việc tham gia qua nhiều công việc, chức vụ từ thấp đến cao ở Viện Văn học Việt Nam. Sự từng trải ấy đã cho anh ý thức chấp nhận nhiều tiếng nói, nhiều giọng điệu khác nhau, trong lúc bàn về thế sự và cả khi tranh luận về văn chương nghệ thuật.

Trong nghiên cứu, Phan Trọng Thưởng là một người cẩn trọng và có chủ kiến rõ nét. Anh luôn tự dặn với lòng mình về tính nghiêm túc và tinh thần cầu thị. Tiếp cận với một nhà văn, nhà nghiên cứu (từ cuộc sống hoặc từ một tác phẩm, một công trình cụ thể), anh luôn ý thức đi tìm để chỉ ra cái tâm thuậthọc thuật ở họ. Bởi theo anh, khoa học xã hội dẫu có những tính phổ quát chung, nhưng sự đóng góp của mỗi người thì bao giờ cũng xuất phát từ những điều cụ thể, những nét đặc thù riêng.

Anh soi nhìn quá khứ với sự trân trọng, từ cách xưng hô, tiếp xúc với tư cách con người ngoài đời lẫn trong cách đánh giá văn chương học thuật. Trong tâm niệm của anh, quá khứ không im tiếng. Tiếng nói của quá khứ vẫn cứ theo từng người trên bước đường của họ. Đầu mỗi bài viết, anh hay tự bạch về hướng tiếp cận và khu vực tư liệu mà mình chiếm lĩnh được đồng thời cũng trải bày những hồ nghi. Với những gì chưa chắc chắn, anh hay dùng những cụm từ có tính phiếm chỉ như phải chăng, nên chăng, cólẽ....Điều này, một phần giúp tránh những tranh luận không cần thiết và những nhà nghiên cứu khác có thể từ đó mà trao đổi, bổ khuyết thêm. Phần khác, quan trọng hơn, nó thể hiện thái độ thận trọng trước những vấn đề còn tồn nghi, trước ý thức rằng chân lý khoa học luôn mãi diệu vợi nơi phía trước, mà nắm bắt một lần chưa dễ đã đúng, đã xong.

Cho đến nay, Phan Trọng Thưởng đã có ba công trình riêng Giao lưu văn học và sân khấu (1996), Những vấn đề lí luận và lịch sử văn học kịch việt Nam nửa đầu thế kỷ XX (1996); Văn chương-tiến trình, tác giả, tác phẩm (2001). Anh cũng có trên mười công trình in chung và gần trăm bài viết trên các tạp chí chuyên ngành. Những số liệu ấy chứng tỏ sự cần mẫn và nhiệt tâm của một nhà nghiên cứu trên chặng đường dài.

Phan Trọng Thưởng là người quan tâm tới nhiều vấn đề của đời sống văn học.Tôi cho ý thức này vừa là do cảm quan tinh nhạy ở anh vừa là do tư duy của người một thời từng làm công tác biên tập, có điều kiện được nắm bắt, tiếp xúc nhiều và thấy được những điểm trống cần bổ sung trong đời sống văn học. Anh quan tâm đến chất quê “nửa núi nửa quê, tình mộc mạc” trong thơ Ngô Văn Phú, đến “sự mượt mà trong sáng, sự nhuần nhuyễn của cảm xúc” trong thơ Tạ Minh Châu, đến “nỗi lao lung của hồn thơ Lưu Quang Vũ”, quan tâm đến phóng sự Việt Nam giai đoạn 1932-1945, tiếng cười ở truyện tiếu lâm...Dưới góc nhìn ngôn ngữ, anh nghiên cứu và biện giải khá thuyết phục về sự xuất hiện và các tầng lớp nghĩa của chữ Nhưng trong văn Nam Cao, cụ thể trong các tác phẩm Chí Phèo, Trăng sáng, Đời thừa, Lão Hạc, Dì Hảo, Sống mòn. Anh ủng hộ việc các nhà nghiên cứu đề xuất chức năng dự báo của văn nghệ, bởi theo anh, người nghệ sĩ trước hết cũng là công dân bình thường như bao công dân khác. Điều khác biệt là ở khả năng mẫn cảm của họ. Khả năng đó như dàn ăngten sóng luôn tự thu nhận những biểu hiện thay đổi của thời cuộc, tâm hồn. Anh cũng là người sớm có những thu hoạch và giới thiệu phương pháp loại hình ở nước ta (Cùng thời và sau anh có những công trình của Lại Nguyên Ân, Vương Trí Nhàn, Nguyễn Khắc Phi...) Anh ý thức giới thiệu về lịch sử hình thành, đối tượng, mục đích, nguyên tắc phân định của phương pháp này và sau đó chỉ ra những thành tựu và sự phủ nhận nó trên phạm vi thế giới và cụối cùng nhận xét: “Vận dụng và hoàn thiện phương pháp loại hình trong nghiên cứu văn học đánh dấu bước phát triển mới của tư duy lý luận nhằm khái quát sắc nét hơn những hiện tượng văn học, nắm bắt sâu sắc hơn những quy luật vận động và phát triển của tiến trình văn học”(1). Phương pháp loại hình đặt nặng sự so sánh nhưng nó có nhiều khác biệt so với phương pháp so sánh thuần túy. Phương pháp này không nhằm tìm ra những nét giống nhau do những liên hệ bên ngoài như vay mượn, ảnh hưởng, kế thừa mà tìm ra những liên hệ bên trong, xuất hiện do tác động của những quy luật xã hội và thẩm mĩ, của bản thân tiến trình văn học, và do tác động của mối quan hệ biện chứng giữa thực tại lịch sử, xã hội và sáng tạo văn học.

Vấn đề tiếp nhận văn học cũng được Phan Trọng Thưởng đề cập đến khá nhiều khi bàn luận về sự tồn tại và lan tỏa của một tác phẩm. Anh có những khái quát khá xác đáng: “Đa nghĩa là thuộc tính của tác phẩm nghệ thuật. Với người này, vào hoàn cảnh này thì nghĩa này nổi lên, với người khác, vào hoàn cảnh khác thì nghĩa khác sẽ nổi lên. Song khâu quyết định nghĩa của tác phẩm chính là hoàn cảnh, là tình huống sẽ cho trường nghĩa hoạt động thông qua khâu khách thể tiếp nhận”(2). Khi nhìn nhận sự phát triển văn học Việt Nam trong điều kiện chiến tranh 1945-1975 anh đề nghị phải xuất phát từ những điều kiện làm nảy sinh, những quy luật có tính chl phối sự vận động và phát triển của giai đoạn văn học ấy. Để rồi, anh cho rằng đặc điểm quan trọng nhất, bao trùm nhất của văn học giai đoạn chiến tranh 1945- 1975 là tính duy lợi (nghĩa là gắn đời sống văn học với đời sống kháng chiến của dân tộc, gắn tiêu chuẩn văn học thời chiến với tiêu chuẩn đạo đức thời chiến). Đặc điểm này bao trùm toàn bộ đời sống văn học từ sáng tác đến lí luận phê bình. Nó xuất hiện như một nhu cầu tự giác đối với nhà văn và nhu cầu tự giác đối với lịch sử văn học”. Bài viết Cuối thế kỷ nhìn lại việc nghiên cứu, đánh giá văn chương Tự lực văn đoàn được anh vận dụng lí thuyết tiếp nhận cặn kẽ hơn cả. Với nguồn tư liệu chiếm lĩnh khá phong phú, với cách phân chia cột mục và nhìn nhận theo tiến trình, bài viết đã xác lập được tính hệ thống và lí giải được nguyên nhân vì sao các nhà nghiên cứu (trong từng thời đoạn cụ thể) đã đưa ra những nhận định, đánh giá như thế này mà không như thế khác.

Nhưng có lẽ, dấu ấn hơn cả trong quá trình nghiên cứu của Phan Trọng Thưởng là những bài viết về mối giao lưu giữa văn học và sân khấu. Hướng nghiên cứu này cũng đã từng được nhiều học giả lớn trên thế giới như Konrat, Niculin, Tieghem thực hiện và cho lại những kết quả cụ thể khá thuyết phục.

Đặt tuồng-chèo trong dòng mạch văn hóa, Phan Trọng Thưởng muốn xác lập cho hai thể loại này một vị thế nhất định bởi theo anh tuồng, chèo được tạo ra theo quy trình sáng tạo văn hóa, để chuyển tải và nuôi dưỡng giá trị văn hóa. “Thực tế cho thấy, từ bao đời nay, tuồng chèo trở thành niềm đam mê tinh thần, thành kí ức văn hóa của nhiều thế hệ công chúng. Nỗi đam mê đó không chỉ ở nội dung tuồng tích mà có lẽ bởi hồn vía dân tộc được thổi vào mỗi làn điệu, mỗi tiết tấu mỗi sắc màu và mỗi đêm diễn. Cao hơn cả mục đích đi xem và đi nghe, mỗi công chúng còn đến với sân khấu tuồng chèo như một sự can dự trực tiếp vào sinh hoạt văn hóa, một thái độ nhập cuộc tích cực vào tập quán văn hóa cộng đồng”.(4) Nghiên cứu cụ thể hơn các vở tuồng cụ thể của Đào Tấn trên cơ sở liên văn bản, Phan Trọng Thưởng đã tìm thấy Ra đi như một phẩm chất nghệ thuật, như một dấu ấn tư tưởng của tác giả này. Sự ra đi xuất hiện trong nhiều vở tuồng của Đào Tấn (Từ Thứ trong Tán dã đồn, Triệu Khánh Sanh trong Diễn võ đình, Quan Công trong Cổ thành, Tiết Cương trong Hộ Sanh đàn, Hoàng Phi Hổ trong Hoàng Phi Hổ quá giới bài quan... ) và gắn với một nội dung ý nghĩa nhất định. Đối với nhân vật là hoàn cảnh để bộc lộ tính cách, bộc lộ nỗi niềm. Còn đối với tác giả thì đó là sự kiện thể hiện quá trình tư tưởng và chủ kiến sáng tác của mình. Sự ra đi đó góp phần tạo dựng nhân vật theo mô hình tâm lí và lối kết để ngỏ. Trao đổi với nhà nghiên cứu Lê Ngọc Cầu về cuốn Tuồng hài, Phan Trọng Thưởng đã nhấn mạnh ý nghĩa khoa học to lớn của công trình này trong việc mở đường tìm lại quá khứ và cũng thẳng thắn góp ý lại những điểm còn bất cập, chẳng hạn sự phân biệt Tuồng cổ điển và Tuồng hài của tác giả cuốn sách dựa vào nền tảng nhận thức của hành động nhân vật là chưa hợp lý. Theo anh, điểm khác nhau căn bản, cũng đồng thời là đặc trưng thể loại của Tuồng hài chính là sự thống trị của cái hài trong vở diễn. Ngược lại, Tuồng cổ điển là sự thống trị của tính chất bi hùng. Cũng vậy, anh trân trọng những đóng góp của Trần Huyền Trân cho chèo. Chân dung nhà thơ, nhà diễn kịch, đạo diễn chèo Trần Huyền Trân được anh thể hiện khá cụ thể qua cả việc nghiên cứu từ tác phẩm, theo dõi trên sàn sân khấu và trao đổi trong cuộc đời. Cũng vì nhiệt tâm muốn bảo tồn di sản cha ông, và từ cái nhìn của hướng nghiên cứu loại hình mà anh không đồng ý với ý kiến cho rằng chèo có nguồn gốc từ Trung Quốc. Anh cũng bộc lộ một cách rõ nét cảm xúc không đồng tình của mình khi xem một số vở chèo mà “vũ đạo không ăn với hát, hát không ăn với nhạc...".

Văn học kịch là thể loại mà Phan Trọng Thưởng tập trung nhiều bài viết hơn cả. Và đây cũng là lĩnh vực chuyên ngành để anh bảo vệ xuất sắc Luận án tiến sĩ văn học Những vấn đề lịch sử văn học kịch Việt Nam nửa đầu thế kỉ XX vào năm 1995 và năm sau đó trở thành Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam (1997), rồi được Nhà nước phong học hàm Phó Giáo sư (2001). Đặt trong dòng lịch sử và văn hóa đầu thế kỷ XX, trong công trình để đời nói trên, Phan Trọng Thưởng chỉ ra sự hình thành của thể loại kịch nói ở Việt Nam bắt nguồn từ những tương quan sau:

- Trong tương quan văn hóa Đông-Tây, sự ra đời của kịch là kết quả ảnh hưởng mạnh mẽ văn hóa phương Tây đối với văn hóa phương Đông; - Trong văn minh làng xã và văn minh đô thị, kịch thuộc về văn minh đô thị; - Trong tương quan giữa nghệ thuật truyền thống và nghệ thuật hiện đại, kịch nói- với khả năng thẩm mỹ của mình, thể hiện được những vấn đề gay cấn bức bối, những xung đột đạo đức tâm lý... đáp ứng được nhu cầu của đại đa số công chúng đô thị lúc bấy giờ. Phan Trọng Thưởng sau khi chỉ ra những khác biệt của kịch so với các loại hình sân khấu truyền thống đã cho rằng: “Thông qua nhiều con đường, kịch nói vào nước ta không vấp phải sức cản nào của thể loại tương tự trong truyền thống. Tuy nó có tao ngộ với tuồng, chèo vốn là hai loại hình ca kịch vốn đã có trước đó hàng chục thế kỷ, nhưng do nó là một thể loại khác hẳn, dường như không có những mối liên hệ quyến thuộc, nên nó không đòi hỏi phải phủ định, phải thay thế hai loại hình này mà trái lại, nó đặt ra cho tuồng chèo yêu cầu thay đổi, cách tân để cùng tồn tại, cùng đáp ứng yêu cầu của cuộc sống”.(5)

Quan tâm đến kịch, Phan Trọng Thưởng đã chỉ ra những khác biệt giữa kịch bản văn chương và kịch sân khấu. Theo anh, về phương thức tiếp nhận, một bên là đọc, một bên là nghe nhìn; về môi trường tiếp nhận, một bên là độc lập tiếp nhận và một bên là tiếp nhận tập thể; về trạng thái tiếp nhận, một bên là chủ động tiếp nhận, một bên là tiếp nhận có phản ứng dây chuyền. Xét từ góc độ chủ thể sáng tác, kịch văn chương là sáng tác của một cá nhân, chịu sự chi phối của quy luật sáng tác văn chương, còn kịch sân khấu là sáng tác mang tính tập thể, ở đó, có sự góp sức của đạo diễn, diễn viên và nhiều yếu tố mang tính phụ trợ khác. Hiểu những điều này để có thể giải thích vì sao có hiện tượng nhiều tác phẩm khi đọc thấy rất hay, rất thích thú nhưng khi đưa lên sàn diễn thì lại không thành công; vì sao có những tác phẩm mà chỉ có những đạo diễn bậc thầy mới có thể chuyển thể lên sân khấu được, như vở Rừng trúc của Nguyễn Đình Thi, vở Vũ Như Tô của Nguyễn Huy Tưởng chẳng hạn.

Phan Trọng Thưởng cũng vẽ lại con đường thành danh của những nhà viết kịch Xuân Trình, Học Phi, Nguyễn Vũ, Bửu Tiến. Với Xuân Trình, từ những thất bại khi chỉ viết những vở kịch với ý thức mô phỏng cuộc sống thuần túy, đến cái nhìn thức tỉnh sau khi được thâm nhập thực tế qua chuyến đi vào tuyến lửa Vĩnh Linh. Với Học Phi, đó là sự từng trải của tuổi đời, tuổi nghề, của sự thể nghiệm ngòi bút qua nhiều thể loại truyện ngắn, truyện dài, của lòng yêu nhiệt thành với Cách mạng và Đảng. Ở Nguyễn Vũ thì đó là những tháng năm gắn bó, thâm nhập nơi chiến trường Nam Bộ để rồi, bao trùm trong toàn bộ sự nghiệp sáng tác của anh là khát vọng chiếm lĩnh, khám phá và thể hiện quy mô thẩm mỹ của thực tại Cách mạng miền Nam trong những năm chống Mỹ. Còn Bửu Tiến thì có phần khác, quá trình tích luỹ tri thức từ nhỏ, sự nắm bắt kỹ đời sống của lớp trí thức tiểu tư sản, quá trình tham gia kháng chiến và sau đó là tham gia Ban sân khấu của Hội văn nghệ, đã cho anh có cả cái nhìn của người ngoài lẫn trong cuộc. Kịch của Bửu Tiến có ngôn ngữ trau chuốt, nghệ thuật cấu trúc hợp lý một phần cũng nhờ thế.

Lưu Quang Vũ là tác giả được Phan Trọng Thưởng quan tâm nhiều, và theo tôi, có những khám phá hay, thú vị nhất. Có lẽ một phần do cùng trang lứa, do đã quen nhau trong những năm Lưu Quang Vũ còn làm thơ, viết văn, viết báo và phê bình sân khấu. Nhưng quan trọng hơn, bởi Lưu Quang Vũ là một hiện tượng trong đời sống văn hoá, văn học trong những năm tám mươi của thế kỷ trước. Ở hai cuốn sách của mình, Phan Trọng Thưởng tuyển chọn có đến gần chục bài anh viết về Lưu Quang Vũ, từ cái nhìn tổng thể đến phê bình từng tác phẩm riêng lẻ. Giải thích về thành công của Lưu Quang Vũ, Phan Trọng Thưởng cho rằng cần phải soi rọi từ những góc nhìn xã hội học, nghề nghiệp sân khấu, chủ thể nghệ sĩ... Nhưng đặc biệt nhất là ở cá tính sáng tác của nhà văn, bởi Lưu Quang Vũ có may mắn vừa được tiếp thu ảnh hưởng của môi trường gia đình vừa được tiếp thu ảnh hưởng từ môi trường công tác. Song cái quan trọng nhất ở anh là ý thức nhà văn, là vốn học tập tích luỹ, là khả năng lao động, khả năng đồng hoá thực sự. Từ sự phân tích quan niệm của Lưu Quang Vũ rằng thơ và kịch tưởng xa nhau nhưng lại gần nhau vì cả hai cùng là tính chất của cuộc sống, cùng để nói một điều gì đó đã được cuộc sống dồn lắng, chắt lọc rồi, mà Phan Trọng Thưởng đã có những phát hiện khá thú vị. Đó là kịch của Lưu Quang Vũ giàu chất thơ. Và đây là một đặc điểm lớn, chi phối đến nhiều yếu tố trong quá trình sáng tác kịch của anh. Qua nghiên cứu, Phan Trọng Thưởng đã cho thấy kịch của Lưu Quang Vũ tập trung vào đề tài hạnh phúc và lẽ sống của con người, có không gian và thời gian nghệ thuật khá đa dạng- đó là không gian mặt đất, âm phủ, bầu trời, cả không gian tưởng tượng của người mù; thời gian là cả quá khứ, hiện tại và tương lai. Thế giới trong kịch Lưu Quang Vũ khá đa dạng, có đủ các hạng người sống cạnh nhau: người tốt, người chưa tốt, người sống-người chết, người già- người trẻ, người lành lặn-người thương tật, người bình thường-người phi thường... Và rất nhiều khi, trong một người có cả các hạng người, sự nghiêng về kiểu dạng này hay kiểu dạng khác là do quá trình đấu tranh không ngừng nghỉ trước những thách thức xuất hiện liên tục ở hoàn cảnh và tâm thức của mình. Chính chất thơ thấm đẫm nên trong kịch Lưu Quang Vũ ít có tính chất gay gắt của xung đột, cấu trúc ít bị gò bó vào những quy phạm. Cũng chính chất thơ thấm đẫm nên lời của nhân vật được phát ngôn đôi khi nhẹ nhàng nhưng nội hàm nghĩa lại sâu lắng và giàu tính triết lý.

Quan tâm đến văn học kịch, Phan Trọng Thưởng không quên chú ý đến những đạo diễn, những người mà theo anh, đã gởi hồn và thổi luồng sinh khí để cho những trang sách được sống động trên sàn sân khấu. Đó là Thế Lữ, một thời là ngôi sao chủ trên bầu trời Thơ mới, bỗng chuyển dòng hoạt động vì nhận thức “kịch trường Việt Nam vẫn còn tẻ lạnh” và ý thức dấn thân để tạo dựng những điều mới mẻ. Đó là Hoàng Quân Tạo, với sự từng trải của một thời gian dài làm diễn viên, những năm tháng được tu nghiệp tại Hungari và ý thức chọn lựa, đưa tác phẩm văn học lên sàn diễn. Đó là nghệ sĩ Ái Sơn, với con đường nghệ thuật vòng vèo nhiều duyên nợ, sinh ra trong cái nôi của nghệ thuật chèo, làm đạo diễn tuồng, rồi kịch và cuối cùng là cải lương. Đó là Nguyễn Đình Nghi với tư chất nghệ sĩ và quá trình học tập khá bài bản, sự dấn thân cho nghệ thuật sân khấu và ý thức trù lượng khi làm nghệ thuật...

Nghiên cứu văn học nghệ thuật trong cái nhìn đối sánh giữa tác phẩm ở dạng thể văn bản viết và chuyển thể lên sân khấu đòi hỏi một sự nhập cuộc lớn. Trước hết người nghiên cứu phải tự trang bị cho mình những hiểu biết có tính nền tảng về nhiều loại hình nghệ thuật. Sau nữa là việc phải dự khán để đưa ra những bình xét về sự hiện hình của tác phẩm trên sàn sân khấu. Có phải vì những lí do đó mà số người nghiên cứu văn học nghệ thuật theo hướng như vậy ngày một thưa vắng dần. Hiểu điều này tôi càng trân trọng những gì mà Phan Trọng Thưởng đã đóng góp.

 

N.Đ.V

 

__________

(1), (2) Phan Trọng Thưởng- Giao lưu văn học và sân khấu, NXB Vãn học, H.1996, Tr 23.

(3)   Phan Trọng Thưởng- Giao lưu văn học và sân khấu, NXB Vãn học. H.1996, Tr 67.

(4)   Phan Trọng Thưởng- Văn chương- tiến trình, tác giả, tác phẩm, NXB Khoa học xã hội, H.2001, Tr 258.

(5)  Xem thêm Phan Trọng Thưởng- Những vấn đề lịch sử văn học kịch Việt Nam (nửa đầu thế kỷ XX), NXB Khoa học xã hội, H.1996.

 

 

 

 

B - MỘT SỐ TÁC PHẨM TIÊU BIỂU

 

 

 

TINH THẦN NHẬN CHÂN CÁC GIÁ TRỊ

CỦA THẾ KỈ XX

 

Thế kỉ XX đã qua đi. Trong khi nhân loại chưa hết sửng sốt về những phát kiến khoa học vĩ đại làm thay đổi căn bản thế giới thì cũng không ít người, nhất là các nhà khoa học, không khỏi chạnh lòng khi nghĩ đến các tên tuổi như: Albert Einstein (1879-1945), Sigmund Freud (1856-1939) và xa hơn là Gregor Johann Mendel (1822-1884) bởi thái độ hoài nghi đến mức bất công đối với phát minh của họ lúc mới ra đời. Đã có nhà khoa học xem đó là những trường hợp bị "hố" của thế kỉ XX và lấy làm ăn năn về những điều chưa phải đối với các nhà bác học khả kính của thời đại mình.

Vào năm 1905, khi Thuyết tương đối của A.Einstein được công bố, không ít nhà bác học đương thời đã lớn tiếng bài bác, nghi ngờ. Có những nhà khoa học từng nhận giải Nobel vật lí trước đó đã phẫn nộ phản đối Uỷ ban Stokholm về việc Uỷ ban này quyết định trao giải Nobel vật lí cho A.Einstein. Về phía mình, một mặt A.Einstein chân thành đề nghị nhà bác học vĩ đại tiền bối I.Newton tha thứ vì lí thuyết của ông đã mang đến một quan niệm ngược lại với lí thuyết của I.Newton về không gian và thời gian. Mặt khác, A.Einstein vẫn lặng lẽ chờ đợi một ngày nào đó, những ngờ vực, mặc cảm đối với phát minh của ông sẽ được giải toả. Và rồi, không phải mất nhiều thời gian, chỉ ngay sau đó ít năm, thế giới phải thừa nhận ông là "nhà bác học vĩ đại nhất". Tương tự như vậy, khi thuyết Phân tâm học của S.Freud ra đời, người ta coi ông chẳng khác một anh chàng dở hơi, thậm chí như một thằng điên và không ngớt lời mỉa mai, châm biếm, giễu cợt. Phải lay lắt mất 8 năm, quyển sách in với số lượng 600 bản của ông mới bán hết, chủ yếu do tò mò. Không biết có phải vì mối đồng cảm này mà hai nhà bác học vĩ đại A. Einstein và S. Freud đã viết chung với nhau cuốn sách mang tên Tại sao có chiến tranh vào năm 1933?

Còn G. Mendel, tuy ông thuộc người của thế kỉ trước và phát minh của ông ra đời ở thế kỉ trước, nhưng phải sang đến thế  kỉ XX, Thuyết di truyền của ông mới thoát khỏi sự thờ ơ, ghẻ lạnh của người đời cũng như của các nhà khoa học, mới được thừa nhận là đúng và mới tìm được chỗ đứng của nó trong lịch sử khoa học nhân loại.

Nếu đi sâu hơn vào từng lĩnh vực khác nhau của khoa học còn có thể tìm ra nhiều ví dụ tương tự. Chẳng hạn, sự ra đời của điều khiển học, tưởng là một phát kiến khoa học mà nhân loại phải vồ vập thì vào đầu những năm 60, ở một số nước nó cũng không phải là một thành tựu khoa học được đánh giá đúng mức. Thái độ đó dẫn đến sự lạc hậu hàng mấy thế hệ trong lịch trình phát triển công nghệ.

Trên lĩnh vực văn chương, hẳn ai cũng biết nếu những sáng tác của Franz Kafka (1883-1924) không may mắn được một người bạn giữ lại và đưa in thì cũng đã trở về với tro bụi theo ý nguyện của thân chủ nó, làm gì có cơ hội để được nhân loại biết đến như ngày nay? Boris Pasternak (1890-1960) còn đau đớn và oan trái hơn. Khi cuốn tiểu thuyết Bác sĩ Zhivago được in ở Italia và sau đó được Viện Hàn lâm Thuỵ Điển trao Giải Nobel văn chương vào năm 1958 thì cũng là lúc ông phải đối mặt với những định kiến chính trị nặng nề, và một chuỗi ngày u ám đã đến với ông trước khi ông được Hội nhà văn Liên Xô chiêu tuyết để đưa lên hàng thế giới như một danh nhân.

Andre Platonov (1899-1951) cũng là một trường hợp tương tự. Nhưng bất hạnh hơn các đồng nghiệp của mình, cho đến lúc chết, Platonov vẫn không nhận được sự hối hận và niềm ưu ái muộn mằn nào của những người định đoạt số phận các sáng tác của ông. Chỉ riêng có  C.Pautovski tỏ ra mẫn cảm khi nhìn Platonov với vai trò người quét rác, đã sớm nhận thấy đó là một chân tài của nước Nga. Phải đến gần cuối thế kỉ, khi công cuộc cải tổ ở quê hương ông được dấy lên, người ta mới thấy Platonov tinh tường như thế nào. Hoá ra tất cả những gì diễn ra trong đời sống xã hội Xô viết đương đại đã được ông tiên đoán và cảnh báo từ những năm ba mươi của thế kỉ.

Điểm qua một vài hiện tượng như trên để thấy rằng thế kỉ XX tuy được coi là thế kỉ tiến bộ vượt bậc của khoa học và văn minh nhân loại, nhưng không phải khi nào các phát kiến vĩ đại, các tư tưởng lớn cũng tìm được điều kiện thuận lợi để ra đời. Và không phải khi nào, nhân loại cũng dang rộng vòng tay và có thái độ đón nhận tất hữu đối với những đứa con kiệt xuất của thời đại mình. Vì vậy, các nhà bác học cũng như không ít những nhà văn, nhà tư tưởng lớn không tránh khỏi có những lúc rơi vào trạng thái cô đơn do chính sự vĩ đại của mình gây nên. Có lẽ đó là một trong số những lí do tạo nên cơ sở triết học của chủ nghĩa hiện sinh với triết lí vừa có phần thâm trầm, vừa có phần ảm đạm về thân phận con người trước một thế giới đang biến đổi mau lẹ và khó hiểu.

Song, cũng chính thế kỉ XX, bằng những phát kiến vĩ đại và những sám hối chân thành, nhân loại đã tìm lại được không ít chân lí, trả lại được không ít các giá trị đích thực cho cá nhân và cho sự phát triển tiến bộ của khoa học, nghệ thuật nhân loại.

Trong bối cảnh thế giới như vậy, Việt Nam không phải là một trường hợp ngoại lệ. Khác chăng là ở chỗ chúng ta ít có những dẫn chứng tiêu biểu ở lĩnh vực khoa học tự nhiên, trong khi những dẫn chứng thuộc lĩnh vực khoa học xã hội nhân văn và văn học nghệ thuật lại khá nhiều.

Trước hết là lĩnh vực sử học. Trong suốt thế kỉ XX, các nhà sử học dường như cũng muốn theo gương Lê Thánh Tông giải oan cho Nguyễn Trãi nên đã không ít lần tỏ ra muốn vượt qua định kiến của các sử gia phong kiến để định luận lại công trạng và nhân cách của những nhân vật lịch sử như: Thập đạo tướng quân Lê Hoàn, Thái hậu Dương Vân Nga, Thái sư Lê Văn Thịnh, Thái sư Trần Thủ Độ, Hồ Quý Ly, Nguyễn Ánh v.v... Tuy cho đến nay, mọi tiếng nói còn đang dè dặt và chưa thống nhất, nhưng tinh thần thế kỉ gần như đã mang lại những nhận thức mới về các nhân vật lịch sử này. Có lẽ đó là cơ sở để những tác phẩm nghệ thuật như Thái hậu Dương Vân Nga, Trần Thủ Độ, Bài ca giữ nước, Rừng Trúc v.v... và gần đây là cuốn tiểu thuyết lịch sử Hồ Quý Ly ra đời. Tuy đó là câu chuyện ngược dòng lịch sử nhưng lại nằm trong xu thế kiểm định lại các nhân cách, các giá trị quá khứ diễn ra vào thế kỉ XX. Ấy là chưa kể đến những vấn đề lớn khác như các vấn đề về nguồn gốc tộc người, vấn đề xung quanh thời đại Hùng Vương, vấn đề có hay không có chế độ chiếm hữu nô lệ ở Việt Nam? v.v... . Trước các vấn đề này, chắc chắn cho đến khi kết thúc thế kỉ vẫn chưa tìm được câu trả lời rõ ràng và dứt khoát. Song, ít nhất ở thế kỉ XX này, các nhà khoa học đã nhận thấy từ trong quá khứ xa xưa của dân tộc mình không ít điểm còn có thể phản biện được để tiếp cận dần tới chân lí. Với động cơ tìm kiếm trung thực, các nhà khoa học đang nỗ lực để trả về cho mỗi sự kiện, mỗi nhân vật những sự thật vốn có, những giá trị hiển nhiên. Tuy đó không phải là một công việc dễ dàng và không phải trả giá, nhưng tư duy khoa học và tinh thần nhận chân các giá trị của thế kỉ sẽ là đảm bảo vững vàng để các cuộc kiếm tìm đi đến đích.

Hẳn những người tha thiết với văn chương dân tộc còn nhớ vào đầu những năm ba mươi của thế kỉ này, tác giả Thề non nước, đã nhận đòn oan của Phan Khôi như thế nào. Vì nhiệt thành cổ súy cho Thơ mới, cho những tư tưởng cách tân thi ca dân tộc, Phan Khôi đã xem Tản Đà như một trở lực của Thơ mới, một đối tượng cần phải tấn công. Trong cái không khí cuồng nhiệt của một cuộc cách mạng thi ca đang bắt đầu, thủ lĩnh tinh thần của Thơ mới đã đẩy Tản Đà về bên kia chiến tuyến. Bị mang tiếng là thủ cựu, như không thể đảo ngược được trào lưu bồng bột đang diễn ra trên thi đàn, Tản Đà tỏ ra ngậm ngùi, phản ứng yếu ớt để rồi những Thề non nước, Giấc mộng lớn, Giấc mộng con... chịu lặng lẽ khép nép trước những "mốt y phục" và giọng điệu tân kì của Thơ mới. Cũng may là chỉ sau đó mười năm, khi tổng kết "cuộc cách mạng trong thi ca", Hoài Thanh đã thay mặt những nhà Thơ mới thành kính đọc Cung chiêu anh hồn Tản Đà với niềm cảm khái và không ít ân hận. Cả Lưu Trọng Lư - một chiến tướng của Thơ mới cũng không khỏi bùi ngùi lúc Tản Đà nằm xuống, khi "nắp quan tài đã đậy". Họ tỏ ra ăn năn, sám hối về những khu xử không phải với tiên sinh. Họ thành thật thú nhận phải đến lúc đó, khi những xốc nổi, bồng bột của một cuộc cách mạng qua đi, họ mới bình tâm trở lại để tỉnh táo nhận ra rằng Tản Đà mới chính là người xứng đáng đứng vào hàng ngũ của họ: "Có tiên sinh người ta sẽ thấy rõ chúng tôi không phải là những quái thai của thời đại, những đứa thất cước không có liên lạc gì với quá khứ của giống nòi. Có tiên sinh, tao đàn sẽ còn phảng phất chút bình yên trong tư tưởng, chút thích thảng mà từ lâu chúng tôi đã mất" (Hoài Thanh - Một thời đại trong thi ca).

Và rồi, như một quả báo, Thơ mới đến lượt bị tấn công. Tuy những đóng góp của Thơ mới về một số phương diện như: thể cách, ngôn ngữ và những phẩm chất cách tân theo hướng hiện đại của nó đã bước đầu được khẳng định, nhưng cái "sướt mướt uỷ mị", cái tôi cá nhân chìm đắm trong hoan lạc yêu đương, cái thái độ "thờ ơ trốn tránh thực tại" của các nhà thơ trước thời cuộc... đã bị lên án. Thời đại mới với những phẩm chất cách mạng mới đã cuốn hút các nhà Thơ mới trước đây vào một quỹ đạo khác. Trong dòng xoáy của cách mạng, thơ ca kháng chiến với những phẩm chất mới, hơi thở mới đã ra đời khiến cho Thơ mới mau chóng trở thành một sản phẩm ít được người ta nhắc đến. Ngay cả những người đã sáng tạo ra nó, từng là chủ soái lừng lẫy một thời cũng ngập ngừng, e ấp tuyên bố thái độ li khai với Thơ mới, li khai với "những đứa con tinh thần lạc loài" của mình và ngoái nhìn lại nó như nhìn lại một thời lầm lỗi. Trong suốt một thời gian dài, Thơ mới bị coi như một thứ tàn dư văn học cũ. Những giá trị tích cực ẩn chứa trong đó cũng dần dần chìm xuống, không còn được người ta tiếp nhận. Trong khi cái tiêu cực, cái có hại lại càng ngày càng tỏ ra có sức ám ảnh đến nỗi hiện tượng thi ca lớn của thế kỉ chỉ còn là một quá khứ văn học ít giá trị, chỉ được lưu giữ trong ký ức của một số ít người.

Thế rồi, lại cũng chính những biến chuyển mang tinh thần thế kỉ XX đã trả Thơ mới về vị trí vốn có của nó trong lịch sử văn học dân tộc. Thơ mới lại được in ra, được đánh giá lại với tinh thần khách quan, khoa học hơn. Những luận điểm bất cập, cực đoan, thái quá đối với mặt này, mặt kia của Thơ mới đã được điều chỉnh. Những người trước đây từng bằng cách này hay cách khác xa lánh Thơ mới thì nay lại công khai nhận lại vinh quang của mình, công khai thừa nhận ảnh hưởng của Thơ mới.

Cùng chung số phận với Thơ mới là văn chương lãng mạn nói chung, văn chương Tự lực văn đoàn nói riêng. Đây cũng là một hiện tượng đáng chú ý trong lịch sử văn học Việt Nam hiện đại. Trong gần bảy mươi năm kể từ khi Tự lực văn đoàn ra đời (1932) đến nay, số phận của văn phái này đã trải qua những bước thăng trầm. Suốt mấy thập kỉ, văn chương Tự lực văn đoàn và văn chương lãng mạn đã chịu một sự phán quyết "nghiêm túc đến mức khắt khe" và không kém phần nghiệt ngã. Trong khi phần đóng góp tích cực về nội dung và nghệ thuật của văn phái này cho tiến trình hiện đại hoá văn học dân tộc chưa được đánh giá đầy đủ và đúng mức thì phần hạn chế, tiêu cực lại bị nhấn mạnh, thậm chí bị cường điệu đến mức làm lu mờ giá trị văn học khách quan của nhiều tác phẩm. Cho dù, điều đó có lí do lịch sử của nó, nhưng muốn hay không vẫn không tránh khỏi những thiên kiến chủ quan, những thành kiến cá nhân nặng nề, nhất là đối với các hoạt động chính trị của một số tác giả trong văn phái đã khiến cho nhiều giá trị văn chương đích thực bị bỏ qua, bỏ sót và các kết luận khoa học chưa đạt đến độ chính xác, khách quan cần thiết.

Phải đợi đến những năm cuối cùng của thế kỉ XX, cơ may lịch sử mới đến với văn chương Tự lực văn đoàn cũng như đến với một số hiện tượng văn chương khác. Dưới ánh sáng của những tư tưởng đổi mới, những đóng góp và hạn chế của văn phái này đã được nhìn nhận một cách điềm tĩnh, thấu đáo, khách quan khoa học hơn. Cũng giống như thái độ của Hoài Thanh, Lưu Trọng Lư đối với Tản Đà trước đây, vào năm 1988, Giáo sư Trương Chính với ý thức phản tỉnh sâu sắc đã viết: "Ngày nay, trong phong trào đổi mới tư duy, chúng ta thử nhìn lại xem trong những điều viết về họ (Tự lực văn đoàn) đã thật thoả đáng chưa? Lịch sử sang trang rồi. Sau bao nhiêu năm đấu tranh gian khổ, chịu đủ mọi thứ hy sinh, chúng ta mới giành được độc lập hoàn toàn. Những nhà văn trong Tự lực văn đoàn phần lớn đã là người thiên cổ. "Cái quan định luận", chúng ta có thể trầm tĩnh hơn, không để một tình cảm nào kích thích làm cho cán cân trở nên tròng trành, nặng mặt này, nhẹ mặt kia, dù muốn công bằng khách quan cũng không công bằng khách quan được". (Tạp chí Văn học số 4/1988). Còn đây là lời cảm khái của Tú Mỡ (Hồ Trọng Hiếu), một thành viên sót lại của Tự lực văn đoàn: "Ôi! Tự lực văn đoàn! Nay đã thuộc về dĩ vãng. Nhiều anh đã là người thiên cổ... . Kể về công, anh em đã thực hiện được mục đích của đoàn, điều chính là làm giàu thêm văn sản trong nước; đã có đóng góp đáng kể vào văn học Việt Nam, tạo cho đoàn một tiếng tăm vang dội một thời, một thành tích mà các văn đoàn khác ra đời sau không đạt được, một chân giá trị riêng trong một giai đoạn nhất định mà giới văn học ngày nay và cả ngày mai phải công nhận" (Tạp chí Văn học số 5-6/1988).

Có thể xem những lời tâm sự, bộc bạch trên đây mang tinh thần thế kỉ. Đó là nỗ lực để cho những sáng tạo đích thực không bị hàm oan, không bị ngờ vực hoặc trôi giạt ra ngoài dòng tiến hoá, cũng như những hạn chế tiêu cực có tính lịch sử của mỗi hiện tượng văn học không bị bỏ qua. Về mặt này, có thể nói trào lưu đổi mới được Đảng ta phát động từ năm1986 đến nay đã  thâu thái được tinh thần của thế kỉ. Đó là tiền đề để phục hưng dân tộc, chấn hưng các giá trị. Trong trào lưu đó, không chỉ những tên tuổi như Văn Cao, Vũ Bằng mà cả Trần Đức Thảo, Hoàng Xuân Hãn v.v... sau nhiều năm lu mờ đã tìm lại được chính danh trong văn chương nghệ thuật và khoa học của đất nước.

Liên quan đến những vấn đề trên là vấn đề phân kì lịch sử văn học hiện đại. Trong nhiều năm, các mốc phân kì văn  học của chúng ta vẫn dựa trên các mốc lịch sử chính trị. Điều đó có nguyên nhân ở chỗ thường thì mỗi cuộc cách mạng lớn đều ảnh hưởng đến tiến trình vận động và phát triển của văn chương, tạo cho văn chương những bước ngoặt mới, những phẩm chất mới. Nhưng không phải khi nào mốc phân kì lịch sử chính trị cũng trùng khít lên mốc phân kì văn chương. Chẳng hạn giai đoạn 1930-1945 lâu nay từng được coi là một chặng phân kì văn học, trong đó năm 1930 là mốc đánh dấu sự kiện Đảng cộng sản Đông Dương ra đời và mốc 1945 đánh dấu sự thành công của Cách mạng tháng Tám. Rõ ràng đó là hai sự kiện có tác động mạnh mẽ tới lịch sử văn học nhưng trên thực tế, mãi tới năm 1932, văn học hiện đại mới có đầy đủ các tiền đề để phát triển. Đó là sự hình thành của Thơ mới, của văn chương Tự lực văn đoàn, của văn chương hiện thực phê phán, của thơ ca yêu nước và cách mạng, của những tư tưởng triết học và mĩ học mới thể hiện xung quanh hai cuộc tranh luận Duy tâm và Duy vật trên lĩnh vực triết học, Nghệ thuật vị nghệ thuật và Nghệ thuật vị nhân sinh trên lĩnh vực văn học v.v... Sự chênh nhau về thời gian của mốc khởi đầu văn học hiện đại này tuy chỉ 2 năm, nhưng đằng sau đó là cả một hệ thống quan niệm văn học mà phải mất vài chục năm, với sự trưởng thành của bản lĩnh khoa học, giới nghiên cứu mới xác định được một cách rõ ràng. Ở đây, cần phải gạt ra những mặc cảm chính trị không bình thường để hướng tới một thực tế khách quan của tiến trình phát triển văn chương. Khi mốc phân kì được phân định rõ ràng thì đó là cơ sở đầu tiên để tiến hành viết lịch sử văn học theo những tiêu chí khoa học thực sự.

Trên phương diện tư tưởng lí luận, thế kỉ XX đối với chúng ta cũng là một cuộc khảo nghiệm lớn. Vào những thập niên giữa thế kỉ, trên nền tảng của triết học và mĩ học Mác-Lênin, chúng ta tiếp nhận các học thuyết về hình thái xã hội, về đấu tranh giai cấp, về thời kì quá độ, về chủ nghĩa xã hội khoa học, về chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa và phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa v.v... như những nguyên lí có sẵn và hoàn chỉnh. Trong một thời kì dài, chúng ta đã cố gắng để chứng minh tính bất biến của các học thuyết này bằng những nỗ lực chủ quan, duy ý chí và thiếu sáng tạo mà không tính đến quy luật khách quan của quá trình phát triển lịch sử, không tính đến những điều kiện đặc thù ở mỗi nước... (Tất nhiên điều đó không chỉ diễn ra ở Việt Nam). Kết quả là sau 70 năm phát triển, các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu đã lâm vào khủng hoảng và đi đến tan rã ở ngay thành trì của nó. Sự kiện này mang lại cho mỗi nước trong phe xã hội chủ nghĩa trước đây những bài học lớn và sâu sắc.

Trên cơ sở phân tích, tìm hiểu nguyên nhân và rút ra những kinh nghiệm thiết thực từ quá trình dẫn đến khủng hoảng và tan rã của hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu, ở Việt Nam đã diễn ra một quá trình nhận thức lại về mô hình chủ nghĩa xã hội, hiểu lại, làm lại và xây dựng lại nhiều vấn đề trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội - chính trị - kinh tế và văn hoá của đất nước, từ đó hoạch định chiến lược phát triển, định hướng con đường đi lên chủ nghĩa xã hội dựa trên những đặc điểm cụ thể của đất nước. Cơ chế thị trường và kinh tế nhiều thành phần thay cho cơ chế quan liêu bao cấp của nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung trước đây là kết quả của một quá trình nhận thức quy luật, nhận thức lại con đường phát triển tất yếu sau rất nhiều những biến động chính trị lớn lao trên thế giới. Trong lĩnh vực văn học nghệ thuật, chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩaphương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa từng ngự trị trong văn học ở nhiều nước trên thế giới suốt mấy chục năm. Đó là một sự thực lịch sử. Với nó, văn học thế giới đã có những thành tựu không thể phủ nhận. Không ít sáng tác của nhiều đại biểu thuộc trào lưu văn học này đã trở thành những mẫu mực nghệ thuật của văn học thế giới.  Nhưng cũng chính trong quá trình phát triển, chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa đã bộc lộ những hạn chế lịch sử cả trên phương diện lí luận lẫn sáng tác. Nhiều thiên kiến chính trị chủ quan, nhiều cách hiểu có phần công thức, thậm chí giáo điều đã biến chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa trong không ít trường hợp trở thành một thiết chế nghệ thuật gò ép, thiếu tính năng động, thiếu khả năng thích ứng kịp với thực tiễn nghệ thuật phong phú, đa dạng. Quan hệ giữa nghệ thuật và đời sống trở nên nghèo nàn, đơn điệu bởi công thức tái hiện cuộc sống dưới chính hình thức của bản thân đời sống. Từ khi công cuộc đổi mới ở Việt Nam được khởi xướng, những hạn chế lịch sử và những phiến diện chủ quan về tư duy lí luận cũng như về số phận lịch sử của chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa đã được giới nghiên cứu chỉ ra. Ngay cả thuật ngữ chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa cũng nhận được những chỉ báo cần thay đổi. Thực ra, vấn đề không phải là ở chỗ có hay chưa có một nền văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa; có hay không có phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa? mà là ở chỗ trên cơ sở thực tiễn phát triển của lịch sử nghệ thuật nhân loại ngót một thế kỉ, cần phải biết loại bỏ những yếu tố không hợp lí, không khoa học và phải biết kế thừa những thành tựu có thật, những truyền thống nghệ thuật vốn có trong hệ thống lí luận mĩ học về chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa, hoàn thiện và phát triển nó trong những điều kiện lịch sử và thực tiễn nghệ thuật mới. Đó thực sự là nhãn quan khoa học, là tinh thần xuyên suốt và nhất quán của thế kỉ XX.

Cũng trong thế kỉ này, các trào lưu hiện đại ở phương Tây như chủ nghĩa hiện sinh trong triết học và văn học với các đại biểu: Jean Paul Sartre (1905-1980), Albert Camus (1913-1960), Samuel Beckett (1906-1989), Eugene Ionesco (1912-?), Henri Bergson (1859-1941) v.v... trong đó J.Sartre và A.Camus được coi như là những bậc thầy tư tưởng của châu Âu hiện đại đã từng bị chúng ta phê phán gay gắt quá mức cần thiết. Ngay cả các trường phái như chủ nghĩa cấu trúc, chủ nghĩa hình thức, phê bình mới, tiểu thuyết mới... trong văn học thế giới đối với chúng ta cũng từng là đối tượng phê phán. Dường như trong nhiều năm, chúng ta không tìm thấy ở các trào lưu tư tưởng và nghệ thuật hiện đại này những yếu tố hợp lí, tích cực nào. Do đó trong một thời gian dài, chúng ta đã đặt mình vào hoàn cảnh cách biệt với thế giới hiện đại, trừ Đông Âu.

Phải đợi đến những thập niên cuối của thế kỉ, sau những biến thiên dữ dội của thế giới và với sự bùng nổ của công nghệ thông tin, chúng ta mới lấy lại được thế quân bình trong một thế giới đa cực, đa phương. Với tinh thần nhận chân lại các giá trị của thế kỉ, các nhà khoa học của chúng ta trên mọi lĩnh vực đã tự giải phóng được cái "vòng kim cô" vây hãm trí tuệ để vươn đến những giá trị toàn nhân loại.

Trong cuộc tìm kiếm các giá trị, thế kỉ XX với những tri thức khoa học tiên tiến, với trình độ văn minh kỹ thuật cao, một mặt đang hướng tới một thế giới tương lai bằng các nỗ lực nghiên cứu, tìm hiểu, khám phá những quy luật của tự nhiên, những bí ẩn của vũ trụ, lí giải các hiện tượng để chung sống và chinh phục nó, thì từ một mặt khác, thế kỉ XX cũng đang nỗ lực tìm về với thế giới đã qua, với quá khứ và lịch sử hình thành nhân loại để phát hiện những giá trị mới, kiếm tìm những nguồn năng lượng tinh thần mới, những cơ sở triết lí mới cho sự phát triển. Trong nỗ lực đó, có nỗ lực chiếm lĩnh, khám phá những giá trị văn hoá, văn học dân tộc và nhân loại. Những gì đang diễn ra trong đời sống văn hoá Việt Nam vào cuối thế kỉ như việc tôn tạo, xây dựng lại các di tích văn hoá - lịch sử, việc khôi phục lại những truyền thống tinh thần quý báu của dân tộc mà một thời, chính chúng ta, do nhận thức cực đoan, phiến diện đã phá huỷ hoặc lãng quên... là những bằng chứng cụ thể. Chính ở đây, trong công cuộc nhận thức lại và xây dựng lại này, người ta phát hiện lại về khả năng sáng tạo vĩ đại của con người, về lịch trình phát triển nhiều mặt của thế giới, về tri thức và trí tuệ nhân loại.

Từ lâu, người ta đã nhận thức được giá trị nhiều mặt của văn học dân gian và dễ dàng đi đến thống nhất ở quan điểm xem văn học dân gian là một thành tố quan trọng cấu tạo văn hoá, là một phức hợp giá trị văn hoá - văn học - lịch sử - triết học - ngôn ngữ - tôn giáo - đạo đức... của mỗi dân tộc. Có lẽ vì vậy mà văn học dân gian không chỉ là đối tượng của nghiên cứu văn học. Sang thế kỉ XX văn học dân gian đồng thời còn là đối tượng của các bộ môn: văn hoá học, sử học, dân tộc học, triết học, đạo đức học, ngôn ngữ học, tôn giáo học, âm nhạc học và vũ đạo học. Từ một thực thể văn học dân gian, mỗi nhà khoa học ở những lĩnh vực khác nhau có thể nhận thấy những giá trị khác nhau, phát hiện ra những vấn đề khác nhau. Trong khi nhà nghiên cứu văn học chú mục vào những vẻ đẹp của hình tượng, hình ảnh, của tư duy sáng tạo dân gian, của những vấn đề xã hội - đạo đức - tình cảm được gửi gắm trong mỗi câu ca dao, mỗi làn điệu dân ca, mỗi câu chuyện cổ... thì nhà ngôn ngữ học lại quan tâm tới lời ăn tiếng nói của nhân dân, tới lịch sử hình thành ngôn ngữ được thể hiện trong đó. Trong khi nhà dân tộc học say sưa khám phá những tri thức về phong tục tập quán, về trang phục dân gian, về kiến trúc làng xã, về những ứng xử đạo đức tinh thần... thì nhà sử học lại nhìn thấy ở đó những dấu ấn của từng thời đại, cấu trúc xã thôn và những quan hệ chính trị - kinh tế - văn hoá được lưu lại trong mỗi sáng tác dân gian. Có thể nói, văn học dân gian được sáng tạo ra theo quy trình sáng tạo văn hoá và đến lượt nó, nó lại là cơ sở chuyển tải các giá trị văn hoá, phương tiện lưu giữ văn hoá. Với mỗi dân tộc, văn học dân gian là tấm gương soi hình bóng của dân tộc mình. Cho nên, để hiểu một dân tộc, không gì tốt hơn là chiếm lĩnh vốn văn hoá dân gian của dân tộc đó. Từ đây có thể khám phá ra tính cách dân tộc, khám phá ra những đặc điểm về tâm lí, tình cảm, tâm thức dân tộc. Vấn đề bản lĩnh, bản sắc mà chúng ta nói đến trong quá trình phát triển và hội nhập của mỗi quốc gia vào những năm cuối thế kỉ XX không phải là vấn đề gì khác, xa lạ với vấn đề nhận thức đầy đủ các giá trị văn hoá dân tộc mà lâu nay chúng ta đã làm.

Song, cho dù thế kỉ XX có chuyển biến với một nhịp điệu gấp gáp, một "gia tốc lịch sử" lớn như ta đã thấy, trong cuộc truy tìm để nhận chân các giá trị, dường như vẫn không đủ thời gian và điều kiện để giải quyết những tồn đọng của lịch sử. Chỉ riêng trong lĩnh vực văn học Việt Nam hiện đại khoảng hơn mười năm trở lại đây, còn bao nhiêu vấn đề, bao nhiêu sự kiện đã bước đầu được đặt ra mà chưa tìm kiếm được câu trả lời thoả đáng. Lí do có thể vừa thuộc về chủ quan, vừa thuộc về khách quan. Sự ngập ngừng trong không ít trường hợp đã khiến cho việc minh định các giá trị văn chương phải chấp nhận lối đi vòng vo và diệu vợi. Nhưng trong mỗi sự kiện và hiện tượng đó đã ẩn chứa tinh thần của thế kỉ. Những gì chưa kịp nhận chân ở thế kỉ XX sẽ được chuyển giao vào những thời khắc thiêng nhất để thế kỉ XXI đón nhận và thực hiện tiếp./.


 

 

 

 

ĐỂ CÓ MỘT NỀN VĂN HỌC GẮN BÓ VỚI SỐ PHẬN CỦA NHÂN DÂN

VÀ VẬN MỆNH CỦA ĐẤT NƯỚC

 

Thế kỷ XX qua đi để lại cho chúng ta một nền văn học “xứng đáng đứng vào hàng ngũ những nền văn học tiên phong chống đế quốc trong thời đại ngày nay” như Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV đã đánh giá.

Nền văn học đó, tuy chưa có những đỉnh cao về nghệ thuật như chúng ta hằng mong đợi, nhưng lại là nền văn học gắn bó máu thịt với vận mệnh Tổ quốc và vận mệnh của nhân dân. Thực tiễn chiến tranh cách mạng khốc liệt và hào hùng kéo dài gần suốt thế kỷ XX không chỉ là nơi thể nghiệm nghiệt ngã bản lĩnh và sức mạnh của dân tộc mà còn là trường học lớn đào tạo nên những thế hệ nhà văn đồng thời là người lính, đồng thời là người cán bộ; vừa có khả năng tổ chức hoạt động thực tiễn, vừa có khả năng tổ chức và sáng tạo tác phẩm nghệ thuật. Thực tế lịch sử cho thấy, hiện thực lớn của đất nước trong mọi hoàn cảnh luôn luôn là nguồn cảm hứng lớn kích thích khát vọng sáng tạo và là nguồn chất liệu không vơi cạn của văn học nghệ thuật. Trong từng tác phẩm, từng trang viết của mỗi nhà văn, không chỉ thể hiện qui mô sử thi về chiến tranh cách mạng, mà còn trầm tích các giá trị văn hoá- lịch sử, các giá trị tinh thần nhân văn hình thành trong chiến đấu và lao động kiến tạo.

Có thể nói, các nhà văn tham dự vào tiến trình văn học cách mạng Việt Nam thế kỷ XX đã hoàn tất sứ mệnh cao cả của mình là xây dựng một nền văn học gắn bó chặt chẽ với lịch sử dân tộc, với vận mệnh của nhân dân và vận mệnh của đất nước. Họ xứng đáng được vinh danh và tự hào. Với Tuyển tập Văn học Việt Nam thế kỷ XX đã ra mắt gần trọn bộ, chúng ta đã có một Tập đại thành vô giá, ghi dấu ấn lịch sử chống ngoại xâm và dấu ấn lao động sáng tạo của các thế hệ nhà văn Việt Nam hiện đại, xứng đáng với thế kỷ được mệnh danh là “thế kỷ chiến tranh cách mạng” và “thế kỷ đấu tranh giải phóng dân tộc”.

Vào những thập niên cuối cùng của thế kỷ XX, trước ngưỡng thế kỷ XXI, một cuộc bàn giao thế kỷ đã diễn ra. Trong cuộc bàn giao này, nhiều giá trị văn học đích thực đã được hoàn nguyên. Hành trang văn học dân tộc đã trở nên đầy đủ hơn, có sức thu phục và thuyết phục hơn. Có thể xem đó là một thành tựu của sự nghiệp đổi mới, một sự khích lệ tinh thần đối với các nhà văn trong công cuộc tìm kiếm, sáng tạo.

Bước sang thế kỷ XXI, khi bão lửa của chiến tranh qua đi, đất nước ta nói chung và nền văn học ta nói riêng đứng trước một thực tại mới với rất nhiều biến động dữ dội. Thế giới từng bước chuyển từ trạng thái đối đầu sang đối thoại. Thành trì của phe xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu bị sụp đổ, kéo theo sự chuyển dịch của hệ thống chính trị và hệ thống giá trị toàn cầu. Xu thế hội nhập và toàn cầu hoá càng ngày càng chứng tỏ là một xu thế khách quan không thể đảo ngược, khiến các quốc gia không thể không tham dự. Thành tựu của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin đang hàng ngày, hàng giờ làm biến đổi diện mạo thế giới, cho phép nối dài các khả năng và rút ngắn các khoảng cách giữa con người với con người, con người với thế giới, tạo ra một “thế giới phẳng” như hình dung của Thomas Friedman. Cùng với công nghệ thông tin, công nghệ sinh học với những phát hiện về bản đồ gien người, về tế bào… con  người biết rõ giới hạn và khả năng của mình hơn, được tiếp cận với cơ hội chăm sóc và chữa bệnh tốt hơn, nhưng cũng không loại trừ khả năng người ta có thể tạo ra những phiên bản của con người.

Ở một phương diện khác, cuộc chiến chống đói nghèo, chống thiên tai, dịch bệnh; chống biến đổi khí hậu và sinh thái môi trường; chống khủng bố và xung đột sắc tộc, tôn giáo… cũng đang làm con người trên thế giới vừa xích lại gần nhau vì các mục tiêu nhân đạo, hoà bình và phát triển; vừa tạo ra một sự phân cực mà học giả, nhà báo Mỹ Samuel Huntington mô tả là “sự đụng độ giữa các nền văn minh” trong công trình nổi tiếng của mình.

Trong một thế giới như vậy, Việt Nam đã không thể đứng ngoài thì nhà văn Việt Nam càng không thể có lý do để đứng ngoài. Nhà văn Pháp A. Camus từng xác nhận đại ý: khi không can dự cũng được xem là một thái độ thì văn nghệ phải xuống thuyền và nhà văn phải dấn thân. Đó là một thái độ tích cực, thái độ nhập cuộc của nhà văn trước một thực tại không biên giới mà ở đó, nhà văn có thể trải nghiệm cảm xúc vượt đại dương, trải nghiệm những nỗi buồn, vui mang tính toàn nhân loại. Khi cánh cửa giao lưu và hội nhập rộng mở, khi nhà văn có cơ hội để đến được với những vùng đất và bầu trời khác, thâm nhập được vào nền văn học và văn hoá khác, tiếp xúc với những con người thuộc chủng tộc và màu da khác… sẽ có cơ hội để nâng tầm của mình lên, biết rõ hơn mình là ai và ở đâu trong thế giới. Nhưng ngay cả khi chưa có được điều đó, nhà văn vẫn có thể đến được với thế giới thông qua các khát vọng vì con người, vì tình yêu, vì các tư tưởng tự do và dân chủ, vì hoà bình và phát triển tiến bộ của nhân loại. Nhà văn Raxun Gamztov chỉ viết về quê hương Đagextan nhỏ bé của mình mà đến được với thế giới bởi tình yêu và niềm tự hào về quê hương xứ sở. Nhà văn Dumbatze cũng chỉ viết về con người của đất nước ông mà đến được với thế giới bởi vì qua ứng xử của con người với con người, ông đã khái quát thành những vấn đề có tính “Qui luật của muôn đời”. Để đạt được điều đó, tài năng đương nhiên cần phải có, nhưng chưa đủ. Để được thế giới biết đến, nhà văn cần phải đồng thời là nhà tư tưởng, nhà văn hoá. Thiếu những phẩm chất đó, tài năng, năng khiếu không thể khoả lấp được các khoảng trống, các giới hạn ngăn cách nhà văn với thế giới.

Trở lại với thực tại đất nước ta, với nền văn học ta từ thời kỳ đổi mới đến nay có thể thấy văn học đã thực sự có những bước đồng hành với nhịp chuyển biến lớn lao của đất nước. Nhớ lại những năm trước đổi mới không lâu, chúng ta thấy chính văn học nghệ thuật là một trong những dấu hiệu báo trước, là diễn đàn công khai góp phần tạo ra những tiền đề về nhận thức và áp lực xã hội cho tiến trình đổi mới. Sau chiến tranh, chưa bao giờ tinh thần và trách nhiệm xã hội công dân của nhà văn lại được phát huy cao độ và chuyển hoá vào tác phẩm nhuần nhuyễn, hiệu quả đến thế. Với những phóng sự, những vở kịch, những tiểu thuyết, truyện ngắn, bút ký ra đời vào thời kỳ này đã xác nhận nhà văn không chỉ sống cùng với đất nước, với nhân dân trong chiến tranh mà còn sống cùng với đất nước và với nhân dân trong quá trình suy tư, trăn trở, tìm kiếm con đường để thoát khỏi cơn bĩ cực. Thái độ sống, trách nhiệm xã hội và tài năng, tâm huyết đó của các nhà văn chúng ta cần thêm một lần nữa được ghi nhận và vinh danh. Nhưng, rất tiếc là trong Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận và thực tiễn qua 20 năm đổi mới (1986-2006) (Nxb. Chính trị Quốc gia xuất bản năm 2005), Ban chấp hành Trung ương và Ban chỉ đạo tổng kết đã bỏ quên vai trò đóng góp của văn học nghệ thuật, không ghi nhận và dành cho nó một sự khích lệ cần thiết. Như người châu Âu nói: Thà muộn còn hơn không, tại diễn đàn này, tôi đề nghị phải ghi công đóng góp của văn học vào tiến trình đổi mới đất nước.

Từ những năm chín mươi của thế kỷ XX đến nay, không thể nói là văn học đã chững lại hay đi xuống, nhưng rõ ràng phải thừa nhận văn học đã khác trước và đang khác trước rất nhiều. Xu hướng kéo sát văn học về với đời thường, về với số phận của cá nhân cũng như xu hướng phản tỉnh đang làm cho văn học xa dần những vấn đề lớn của đất nước. Đặc biệt là từ khi cơ chế thị trường được thiết lập và phát huy tác động của nó đến văn học nghệ thuật thì sự thuần khiết văn chương đã có phần không giữ được. “Gió Âu, mưa Á” từng làm cho văn chương Việt Nam những năm đầu thế kỷ XX trưởng thành và hiện đại hoá một cách nhanh chóng thì giờ đây, trong giao lưu, hội nhập, gió Âu, mưa Á lại đang làm nảy sinh những mầm mống mới chưa chắc đã mang lại bước phát triển tiến bộ cho văn học. Mạng Internet tuy là một thành tựu lớn của kỹ thuật và văn minh nhân loại; nhưng văn học mạng lấn lướt hoặc thay thế văn học viết và phổ biến theo kiểu truyền thống của thế giới thì không hiểu giá trị văn chương sẽ đến đâu?

Chúng ta đang sống trong một thời buổi mà hơn ai hết, nhà văn là người phải chứng kiến sự suy thoái đạo đức xã hội trầm trọng. Vì lợi nhuận, vì đồng tiền người ta có thể làm tất cả: rải đinh ra đường để bẫy xe; trộn heroin, bột đá vào kẹo; bỏ Pin vào luộc bánh chưng, cho hoá chất độc hại vào thực phẩm để lừa người tiêu dùng…; Chưa  bao giờ bạo lực xã hội và bạo lực học đường, bạo lực gia đình lại gia tăng trầm trọng như hiện nay; Chưa bao giờ tai nạn giao thông lại cướp đi sinh mạng của 12.000 người lương thiện mỗi năm như hiện nay (Báo cáo của Uỷ ban an toàn giao thông); Chưa bao giờ biến đổi khí hậu và môi trường lại gây hậu quả nặng nề cho con người và xã hội như hiện nay (Theo dự báo của UNDP, biến đổi khí hậu đang có nguy cơ đẩy 2 tỷ người trên thế giới vào tình trạng bần cùng, trong đó Việt Nam được cảnh báo); Chưa bao giờ tệ nạn xã hội và dịch bệnh lại đe doạ, rình rập con người như hiện nay; Chưa bao giờ nông thôn Việt Nam lại biến đổi sâu sắc như hiện nay;…! Chưa bao giờ…! Trước trạng thái bất an và các nguy cơ đối với cuộc sống của con người hiện đại, với lương tâm và trách nhiệm nhà văn, liệu chúng ta có động lòng trắc ẩn chăng? Ở Nga người ta có thể thay tên đường phố mang tên M. Gorki bằng tên khác là Tverskaja, nhưng mệnh đề nổi tiếng “Văn học là nhân học” do ông phát ngôn không dễ gì thay đổi. Với nó, văn học sẽ mãi mãi gắn với hạnh phúc và nỗi đau khổ của con người. Những vấn đề nhức nhối mà tôi vừa đề cập ở trên thực sự là những vấn đề của con người, của nhân dân, của đất nước mà nhà văn không thể thờ ơ, không thể dửng dưng, đứng ngoài.

Nhưng, nếu chỉ có vậy thì cuộc sống và văn chương thật ảm đạm! Đất nước đang còn một thực tại khác lớn hơn là thực tại Công nghiệp hoá Hiện đại hoá với những thế hệ công dân mới, những tác phong sống và làm việc mới, những quan niệm giá trị mới, những khả năng lao động mới… đang sản xuất, kinh doanh hoặc đảm nhận những vị trí khác nhau trong xã hội, làm giàu cho đất nước, gia đình và bản thân. Đó là một thực tại mới và lớn đối với nhà văn chúng ta. Sức hấp dẫn của nó đối với văn chương đến đâu còn tuỳ thuộc vào những nhân vật, sự kiện cụ thể và xúc động của nhà văn, nhưng nếu thâm nhập được vào đó chắc chắn sẽ có những sáng tạo mang giá trị thời đại.

Bước sang thế kỷ XXI, thế giới chứng kiến một sự khủng hoảng trầm trọng về lý luận văn học. Trong khi thực tiễn sáng tác cho thấy những dấu hiệu được mệnh danh là hậu hiện đại nổi lên khá ồn ào ở một số nước thì về lý thuyết văn học, dường như vẫn đang lâm vào tình trạng bế tắc, trong đó có chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa. Mọi nỗ lực của giới nghiên cứu hầu như vẫn chỉ dừng lại ở việc làm mới các lý thuyết nghệ thuật hầu hết ra đời trên thế giới từ tiền bán thế kỷ XX. Cần phải khẳng định rằng, nỗ lực đó đã tạo điều kiện thuận lợi để Khoa nghiên cứu văn học và tư duy lý luận văn học ở ta phát triển, ngõ hầu hội nhập, đối thoại được với thế giới. Nhưng gần như nó không ăn nhập gì, không góp gì nhiều cho thực tiễn sáng tác. Tình hình đó đang tạo ra độ vênh lệch đáng kể giữa một bên là thực tiễn sáng tác hết sức năng động, cởi mở với một bên là các lý thuyết nghệ thuật có phần đã trở nên xơ cứng, giáo điều máy móc và không còn hoàn toàn phù hợp. Thậm chí đã có biểu hiện lý luận một đường, sáng tác một nẻo khiến cho thực tiễn văn học ở những thời điểm nhất định như bị rơi vào tình trạng chân không về lý luận, còn sáng tác thì vô tình lặp lại những thủ pháp, những kỹ thuật thể hiện xưa cũ mà không hề hay biết.

Trong tình hình như vậy, thực tiễn sáng tác gắn với thực tại lớn của đất nước, gắn với số phận con người, số phận nhân dân sẽ là ngọn nguồn của sáng tạo. Chính thực tiễn sẽ cung cấp những tiền đề, những luận cứ để hiệu chỉnh, xây dựng hệ thống lý luận văn học có độ tương thích lớn. Sự  nghiệp đó khó có thể là của riêng ai mà là của cả nền văn học, là nỗ lực chung của các nhà văn chúng ta.

Để kết thúc tham luận, tôi muốn mượn ý của J. Sartre để khẳng định lại mối quan hệ gắn bó của văn học với thời đại, của nhà văn với xã hội, trong đó có nhân dân và đất nước mình. Ông viết: “Mục đích của chúng ta là góp sức vào việc tạo ra những thay đổi trong xã hội… Đối với chúng ta, văn học sẽ trở thành cái mà nó chưa bao giờ ngừng trở thành. Nhiệm vụ của nhà văn là làm phát lộ những giá trị vĩnh cửu xuất hiện từ trong các cuộc đấu tranh xã hội hoặc chính trị. Bởi vì nhà văn không những không có cách gì để trốn tránh thực tại mà trái lại, còn phải gắn bó mật thiết với thời đại mình. Nó là sự may mắn duy nhất của nhà văn; nó tồn tại cho nhà văn và cho chính nó”.

Thiết nghĩ, tư tưởng đó của J. Sartre đáng để nhà văn chúng ta cùng suy ngẫm.

 

 

 

 

 

 

 

THƠ MỚI - MỘT HIỆN TƯỢNG LỊCH SỬ

CÓ TÍNH KHU VỰC

Thơ mới (1932-1945) được xem là một hiện tượng đặc biệt trong lịch sử văn học dân tộc không chỉ vì nó là một trào lưu bao gồm tên tuổi của nhiều nhà thơ lớn với tài năng kiệt xuất, phong cách độc đáo, nổi tiếng ngay từ khi mới xuất hiện như: Thế Lữ, Chế Lan Viên, Xuân Diệu, Huy Cận, Lưu Trọng Lư, Nguyễn Bính, Vũ Hoàng Chương, Hàn Mạc Tử, Nguyễn Xuân Sanh, Tế Hanh, Anh Thơ, v.v… mà còn ở sứ mệnh cách tân và số phận thăng trầm của nó trong lịch sử văn học hiện đại. Năm 2012 là năm Thơ mới tròn 80 tuổi. Ở tuổi đó, khó có thể nói Thơ mới đang còn giữ được độ thanh xuân. Trái lại, hình như cái cơ thể già nua đó đang trở thành đối tượng cho những đổi mới, cách tân không chút e dè diễn ra trong thơ những năm gần đây. Mặc dù vậy, những ý nghĩa lớn lao mà Thơ mới mang lại cho lịch sử văn học Việt Nam hiện đại vẫn cần được nhắc lại, được làm mới trong một bối cảnh mới.

Nói đến Thơ mới, lâu nay không ít người lầm tưởng đó là hiện tượng chỉ có ở văn học Việt Nam. Thực ra, Thơ mới là một hiện tượng có tính khu vực, lần lượt xuất hiện ở hầu hết các nước châu Á vào những năm từ cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX.

Ở Nhật Bản, một nước có quá trình tiếp xúc với phương Tây sớm, Thơ mới (Tân Thể thi) được khai sinh năm 1882 với tập thơ dịch Tân Thể thi sao do các giáo sư của Đại học Tokyo phóng tác theo tác phẩm của các nhà thơ Anh, Mỹ và Pháp nhằm tạo ra một thể Thơ mới (shintaishi) để diễn đạt trạng thái tinh thần của thời đại. Chỉ sau đó ít năm, vào năm 1897, tập thơ Cỏ non của tác giả Shimazaki Toson ra đời. Có thể xem đó là tập Thơ mới đầu tiên do người Nhật sáng tác, mở đầu cho phong trào Minh Trị lãng mạn chủ nghĩa.

Ở Trung Quốc, người có vai trò giống như Phan Khôi (tác giả bài thơ Tình già) đối với Thơ mới ở Việt Nam là Hồ Thích với Thường thí tập (1920). Có thể xem đây là tiếng còi khai cuộc cho Thơ mới ở Trung Quốc. Nhưng phải đến năm sau, khi tập thơ Nữ thần (1921) của Quách Mạt Nhược được phát hành thì Thơ mới mới chính thức được khai màn, mở ra một giai đoạn phát triển mới trong lịch sử văn học hiện đại Trung Quốc.

Cũng trong khoảng thời gian này, ở Hàn Quốc, ánh sáng duy tân từ Nhật Bản đã rọi tới. Sự xuất hiện tập thơ Niềm im lặng của tình yêu (1926) của tác giả Han Young-un được xem là thành tựu đầu tiên của Thơ mới tại đây(1).

Ở Ấn Độ, với vai trò của Tagore, Thơ mới không chỉ xuất hiện và đạt thành tựu đỉnh cao ở quốc gia này mà còn có ảnh hưởng rộng rãi, chi phối văn học ở nhiều nước trong khu vực Đông Nam Á.

Còn ở Việt Nam, như chúng ta đã biết, từ khi “một lối Thơ mới trình chánh giữa làng thơ”, những người không ngớt cổ súy cho nó như Phan Khôi, Nguyễn Thị Kiêm, Lưu Trọng Lư, Lê Tràng Kiều,… đã được đáp lại bằng cả một phong trào rộng lớn để chỉ ít lâu sau đó, đến năm 1932, với sự xuất hiện của Thế Lữ, Thơ mới đã nhanh chóng giành được “toàn thắng” (chữ dùng của Hoài Thanh) khiến cho “trong khoảnh khắc cả hàng ngũ thơ xưa phải tan rã”.

Như vậy, Thơ mới đâu phải là hiện tượng cá biệt ở một nền văn học nào, mà là hiện tượng phổ biến ở hầu hết các nền văn học thuộc các quốc gia châu Á. Tuy thời điểm xuất hiện có thể sớm hoặc muộn hơn một chút tùy theo hoàn cảnh lịch sử cụ thể ở mỗi nước, nhưng nhìn chung đó là sản phẩm của lịch sử châu Á những năm cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX.

Dưới ánh sáng loại hình học và lý thuyết văn học so sánh, có thể dễ dàng nhận thấy những điểm tương đồng và dị biệt giữa các nền văn học trong khu vực mà Thơ mới là một hiện tượng đáng chú ý. Tuy xuất hiện ở những thời điểm khác nhau nhưng Thơ mới ở các nước cùng có chung những đặc điểm tạo nên những dấu hiệu loại hình khá tiêu biểu. Như chúng ta đã biết trong nhiều thế kỷ, do những nguyên nhân lịch sử xã hội và văn hóa nhất định, thơ ở một số nước trong khu vực Đông và Đông Nam Á đều chịu ảnh hưởng sâu sắc của quan niệm thẩm mỹ và thi pháp thơ cổ điển Trung Hoa. Với các quan niệm này, thơ bị gò bó vào các đề tài cao quí (Tùng, cúc, trúc, mai; trăng, hoa, tuyết, nguyệt…), vào mỹ tự, thể cách, vần điệu, niêm luật…; bị biến thành các phương tiện phát ngôn để nói chí, tỏ lòng. Tuy ở mỗi nước, trong những giai đoạn khác nhau đã ít nhiều cho thấy bóng dáng con người cá nhân, nhưng nhìn chung, bao trùm vẫn là cái Ta tuyệt đích ngự trị, ít thấy cái Tôi với nhiều cung bậc của tâm trạng, tình cảm đa dạng như cái tôi thường thấy trong văn chương hiện thực và văn chương lãng mạn sau này. Có lẽ cũng vì vậy mà tình yêu cá nhân, những khát vọng cá nhân, cho dù là tình yêu và khát vọng thành thực, cháy bỏng, luôn luôn hiện hữu trong đời sống, vẫn không tìm được chỗ đứng cần có trong văn chương trung đại. Ngôn ngữ, hình ảnh, nhịp điệu thơ dưới các thiết chế nghệ thuật thẩm mỹ truyền thống Á Đông cũng vì thế trở nên cầu kỳ, khi nào cũng được gọt rũa để đạt được sự đài các, sang trọng với ý tưởng giữ cho thơ không tầm thường.

Đến khi Thơ mới xuất hiện, sở dĩ được gọi là mới vì nó đã làm cho những đặc trưng mang tính loại hình khá phổ biến và khá bền vững của Thơ cổ ở các nước Đông và Đông Nam Á bị rạn vỡ để mau chóng hình thành một quan niệm nghệ thuật mới, một trạng thái xúc cảm mới, một ý thức chủ thể thẩm mỹ và một thi pháp thể loại mới. Sự đồng loạt vượt thoát khỏi các qui phạm nghệ thuật truyền thống có thể xem là thắng lợi đầu tiên của Thơ mới ở tất cả các nước diễn ra hiện tượng lịch sử này. Nó tạo nên những dấu hiệu loại hình mới, những cộng đồng loại hình mới mà khi nghiên cứu lịch sử phát triển thơ ca nói riêng, lịch sử phát triển văn học nói chung không thể bỏ qua. Với các phẩm chất mới, thơ trở nên gần gũi, đáp ứng nhu cầu mỹ cảm của công chúng hiện đại và lột xác trong một cuộc cách tân từng được ví như một “Cuộc hòa nhạc tân kỳ”.

Những tương đồng loại hình được tạo nên từ Thơ mới cho thấy sự tác động của những quy luật khách quan đến tiến trình văn học. Có thể xem đó là một hiện tượng nảy sinh trong những điều kiện lịch sử xã hội và thẩm mỹ tương đồng mà các quốc gia châu Á cùng trải qua.

Từ thực tiễn lịch sử văn học các nước trong khu vực Đông Á và Đông Nam Á, có thể xem Thơ mới, về một phương diện nào đó, là kết quả của quá trình tiếp xúc, giao lưu, ảnh hưởng phương Tây, tiếp thu phương Tây để cách tân, đổi mới và phát triển văn học. Cho nên không có gì làm lạ khi Thơ mới vừa vùng vẫy để phá vỡ “khuôn vàng thước ngọc”, để đạt được sự tự do thì lại vô tình rơi vào một thực trạng khác mà Hoài Thanh từng mô tả là “mỗi nhà Thơ mới Việt Nam đội trên đầu năm bảy nhà thơ Pháp”. Đoàn Phú Tứ coi A. Musset là “bậc thầy tư tưởng”; Xuân Diệu, Huy Cận người thì thừa nhận ảnh hưởng của P. Verlaine, A. Rimbaud, người thì thừa nhận ảnh hưởng của C. Beaudelaire, A. Lamartine, F. Chateaubriand… Trên một phương diện nào đó có thể xem hiện tượng này như là sự thừa nhận ảnh hưởng của văn chương Pháp đến thế hệ các nhà Thơ mới Việt Nam qua nhiều con đường, trong đó có nhà trường Pháp. Nhưng đồng thời, ở phương diện khác, sự hình thành và phát triển của Thơ mới cũng được xem là sự tự ý thức, sự chủ động tiếp thu và tiếp biến các giá trị văn học tiến bộ để các nước châu Á hiện đại hóa văn học, gia nhập tiến trình chung của văn học thế giới.

Nhìn lại lịch sử văn học Việt Nam chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy quá trình giao lưu và tiếp xúc với văn học các nước trong khu vực và thế giới không chỉ diễn ra một lần. Mỗi lần như vậy thường kéo theo không ít thì nhiều những biến đổi và cách tân văn học dân tộc. Cuộc giao lưu và tiếp xúc với văn học Pháp nói riêng và văn học phương Tây nói chung diễn ra vào cuối thể kỷ XIX, đầu thế kỷ XX được xem như là cuộc giao lưu và tiếp xúc lần thứ 2. Hệ quả của cuộc tiếp xúc này trên phương diện văn học là sự ra đời và thắng thế của Kịch (1921) của Tiểu thuyết (1925) và của Thơ mới (1932). Với những thành tựu nghệ thuật hiển nhiên và rất đáng trân trọng của ba thể loại này, văn học Việt Nam đã hoàn kết quá trình hiện đại hóa để mở ra một thời đại văn học mới.

Trở lại với Thơ mới ở Việt Nam, có thể nói đây là hiện tượng đã từng ngốn không ít giấy mực của giới lý luận phê bình và công chúng yêu thích văn học Việt Nam suốt 80 năm qua. Như trên đã nói, Thơ mới có ở nhiều nước trong khu vực, nhưng hình như không ở đâu nó có số phận thăng trầm giống như ở nước ta. Ngay lúc mới ra đời, Thơ mới giống như đứa trẻ được o bế, cưng chiều, được đón nhận vồ vập. Chỉ trong 10 năm, nó đã qui tụ thành một phong trào rộng lớn với những tên tuổi và tài năng lừng lẫy, đưa thi đàn dân tộc lên đỉnh cao chưa từng thấy. Vào năm 1941, khi tổng kết phong trào Thơ mới, Hoài Thanh đã xem đó là Một thời đại trong thi ca. Sự xuất hiện và thắng thế của Thơ mới đã “làm rạn vỡ những khuôn khổ ngàn năm không di dịch” của thơ cũ vốn bị gò bó bởi các qui phạm, điển phạm, các phép tắc, niêm luật, vần điệu, sáo ngữ,… từng ngự trị suốt 10 thế kỷ. Cùng với Thơ mới, một quan niệm văn học mới, một ý thức mới về cái tôi cá nhân, một hình thức mới thể hiện thế giới cảm xúc của con người, một cảm quan mới về nhân sinh và vũ trụ,… đã được xác lập. Cũng giống như văn xuôi của các nhà văn trong Tự lực văn đoàn, Thơ mới với những phẩm chất cách tân của nó đã góp phần quan trọng vào việc phát triển ngôn ngữ tiếng Việt nói chung, ngôn ngữ thơ ca nói riêng. Từ góc độ văn hóa có thể nhận thấy ở Thơ mới những giá trị tiềm ẩn, những điểm dung hợp giữa truyền thống với hiện đại. Tuy lúc đầu, khi phong trào đang phát triển bồng bột, những người cổ súy cho Thơ mới có lúc đã chĩa mũi nhọn tấn công vào thơ cũ (thơ truyền thống), nhưng khi giành toàn thắng, chính những đại diện của Thơ mới đã cung kính nhận lại những giá trị đích thực của truyền thống thi ca mà vào giai đoạn cuối không ít người đã có xu hướng quay trở lại.

Nhìn lại lịch sử văn học hiện đại, có lẽ chưa có một trào lưu, khuynh hướng thơ ca nào có nhiều tác giả tài năng kiệt xuất và nổi tiếng sớm (phần lớn là ở tuổi trên dưới 20) như phong trào Thơ mới. Khi Cách mạng tháng Tám nổ ra, phần lớn những thành viên của Thơ mới lại đầu quân vào văn học cách mạng, trở thành những nhà thơ trụ cột, mang tài năng của mình ra phụng sự Tổ quốc và nhân dân.

Nhưng, do những ấu trĩ nhất thời, lịch sử văn học cũng đã có lúc thành kiến khá nặng nề với Thơ mới khiến cho những giá trị đích thực và tự thân của nó có lúc bị lu mờ. Ngay cả một số tên tuổi cự phách của Thơ mới, trong một hoàn cảnh nào đó cũng từng ghẻ lạnh với cả những đứa con tinh thần ưu tú của mình. Cũng may là chính lịch sử sau 40 năm, đến thời kỳ đổi mới (1986), dưới ánh sáng của tư duy mới, của tinh thần dân chủ mới, nhiều giá trị văn học từng bị bỏ sót hoặc đánh giá chưa thỏa đáng đã được nhận thức lại, trong đó có Thơ mới. Có thể nói sau sự bừng tỉnh của lý trí, Thơ mới lại được đón nhận với một thái độ tất hữu. Tầm vóc của hiện tượng thi ca có ý nghĩa khu vực và quốc tế này đã được giới nghiên cứu trong và ngoài nước xác quyết, minh định. Đó là một hiện tượng thơ ca có ý nghĩa đặc biệt trong tiến trình hiện đại hóa văn học dân tộc.

Kỷ niệm 80 năm Thơ mới (1932 - 2012) là dịp để khẳng định lại một lần nữa ý nghĩa cách tân to lớn của phong trào Thơ mới đối với lịch sử văn học hiện đại; khẳng định lại tài năng, tâm huyết và cống hiến xuất sắc của các nhà Thơ mới cho nền văn học nước nhà.

Trong bối cảnh giao lưu và hội nhập quốc tế đang diễn ra trên thế giới như một xu hướng không thể đảo ngược hiện nay, ôn lại những bài học từ Thơ mới thiết tưởng có thể mang lại cho chúng ta những suy nghĩ bổ ích, những kinh nghiệm lý thú, đặc biệt là về quá trình giao lưu như một qui luật phổ biến và tất yếu của sự phát triển văn học. Nếu xem Thơ mới là kết quả của quá trình giao lưu và hội nhập lần thứ 2 thì những đổi mới, cách tân thi ca đương đại có thể được xem là kết quả của quá trình giao lưu và hội nhập lần thứ tư trong lịch văn học (lần thứ ba là sự giao lưu và hội nhập với văn học các nước xã hội chủ nghĩa và Đông Âu từ những năm năm mươi đến những năm tám mươi của thế kỷ XX). Những gì diễn ra trong thực tiễn cho thấy giao lưu và tiếp xúc là một trong những tiền đề lịch sử quan trọng dẫn đến các cuộc canh tân và cách tân văn học dân tộc. Nó diễn ra như một qui luật phổ biến trong lịch sử văn học. Dưới tác động của qui luật đó, sự tìm tòi, thể nghiệm, cách tân vừa trở thành nhu cầu chủ quan, vừa trở thành nhu cầu khách quan của sự phát triển văn học. Nhưng cách tân theo hướng nào và như thế nào để thực sự tạo ra những bước phát triển đột biến làm cơ sở cho những sáng tạo nghệ thuật đích thực, làm sinh động, phong phú thêm cho nền văn học nói chung, cho thơ ca nói riêng, lại là vấn đề không đơn giản. Trước hết, cần một động cơ sáng tạo trung thực và sau đó là một tài năng, một vốn liếng tri thức văn hóa và văn học đủ để đảm bảo cho những tìm kiếm đúng hướng và có hiệu quả, có giá trị nghệ thuật, thẩm mỹ cao. Kinh nghiệm từ quá trình vận động và phát triển của Thơ mới cho thấy mọi kiếm tìm nếu chỉ dừng lại ở hình thức, chạy theo hình thức đơn thuần sẽ dẫn nhà thơ đến ngõ cụt. Một khi thơ đã bị tước đi yếu tố cảm xúc và giá trị nhân văn thì mọi nỗ lực gia công về kỹ thuật cùng lắm cũng chỉ biến thi ca thành trò chơi ngôn ngữ như các nhà cấu trúc đã làm mà thôi.

Nhìn vào lịch sử Thơ mới những năm cuối khi phong trào đã vượt đỉnh chúng ta thấy mọi nỗ lực tìm kiếm cách tân từ nội dung đến hình thức của các cá nhân, các nhóm phái đều không mang lại được cho Thơ mới một tương lai sán lạn hơn. Ngay cả những thành viên trụ cột của Xuân thu nhã tập với rất nhiều cao vọng, rất nhiều nhiệt huyết cũng không dẫn dắt được những ý tưởng canh tân thơ cập đến bến bờ nào. Trong khi đó, xu hướng tìm lại những giá trị cổ điển của thơ truyền thống mà Quách Tấn là một trong những người thường được nhắc đến lại tỏ ra có triển vọng khơi vào nguồn mạch dồi dào và tinh khiết của thơ.

Trong khi công chúng đương đại đang tỏ ra thờ ơ đối với thơ thì đích đến của mọi cách tân, bất kể là nội dung hay hình thức, không thể là nơi không có công chúng. Trong thực trạng thi ca hiện nay, nhu cầu mỹ cảm của con người chỉ có thể được đáp ứng, được sẻ chia khi thơ là tiếng nói tri ân, tri kỷ, là những cảm xúc mà ngoài thơ ra không một thể loại văn chương nào khác mang tới được. Nếu văn bản thơ chỉ còn là nơi thể nghiệm các lý thuyết; nơi phô diễn những ý tưởng khô khan; là tổ hợp các mã ngôn từ khó hiểu… thì lãnh địa thơ ca sẽ dần dần bị thu hẹp, khép kín để cuối cùng chỉ còn là trò chơi ngôn ngữ trong tay một số ít người giống như trò chơi Rubíc vậy thôi. Vì vậy, giành lại người đọc cho thơ cần phải trở thành cứu cánh của đổi mới và sáng tạo. Nếu có một thống kê đầy đủ và tin cậy về số lượng công chúng của Thơ mới trong suốt 80 năm qua thì chắc chắn đó sẽ là con số có ý nghĩa, đáng để chúng ta suy ngẫm về thơ với công chúng hiện nay.

__________________

([1]) Những tài liệu này được sử dụng từ cuốn Văn học cận đại Đông Á từ góc nhìn so sánh, Đoàn Lê Giang (Chủ biên), Nxb Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, 2011.

 

 

 

 

 

MẪN CẢM CỦA NGHỆ SỸ TRƯỚC THỰC TẠI

VÀ CHỨC NĂNG DỰ BÁO CỦA VĂN HỌC

 

Trong những năm trước đây, do nhiều nguyên nhân, lý luận văn học và mĩ học mác xít mới chỉ biết đến 3 chức năng cơ bản của văn học là chức năng nhận thức, chức năng giáo dục và chức năng thẩm mỹ. Theo đó, họat động sáng tạo và tiếp nhận văn học cũng thường bị giới hạn, hay nói đúng hơn là bị chi phối bởi ba chức năng này. Cho đến nay, sau ngót một thế kỷ với những biến cố thăng trầm, ba chức năng trên có thể có những cách lý giải khác, với những lối diễn đạt khác, nhưng về căn bản nó vẫn được thừa nhận, và thực tế cho thấy chưa chịu một sự chỉ chích phê phán thuyết phục nào.

Tuy nhiên, từ đầu những năm chín mươi của thế kỷ XX đến nay, do sự đổi mới và phát triển của tư duy lý luận và sự phong phú, sinh động của thực tiễn sáng tạo cũng như tiếp nhận văn học nghệ thuật, ngoài ba chức năng quen thuộc, ở một số diễn đàn hội thảo khoa học, một số tiểu luận đăng trên báo và tạp chí, một số công trình và giáo trình lý luận văn học đã bước đầu đề xuất những chức năng mới của văn học như: chức năng giải trí, chức năng dự báo, chức năng giao tiếp, chức năng thông tin... Riêng chức năng dự báo đã có nhà lý luận đề xuất phương án kết hợp với chức năng nhận thức để thành chức năng nhận thức dự báo  của văn học, với lý do chức năng nhận thức tạo tiền đề cho chức năng dự báo. Những đề xuất này đã đầy đủ cơ sở khoa học, đã phù hợp với thực tiễn nghệ thuật hay chưa? vẫn đang cần giới lý luận và sáng tác cùng suy nghĩ để tiếp tục làm sáng tỏ. Nhưng, với suy nghĩ cá nhân, chúng tôi cho rằng vấn đề dự báo chỉ thuộc về tác giả, còn vấn để nhận thức thuộc về cả hai: tác giả và người đọc. Vì vậy, chúng tôi thiên về phía cho rằng dự báo là chức năng riêng, độc lập với chức năng nhận thức.

Thực ra, đây không phải là phát hiện hoàn toàn mới của các nhà lý luận văn học và mĩ học mà là một vấn đề đã từng có từ rất lâu trong thực tiễn lịch sử nghệ thuật nhân loại nói chung và lịch sử văn học nghệ thuật Việt Nam nói riêng. Một trong những chứng giải thuyết phục về chức năng dự báo của văn học là sáng tác của những nhà văn lớn thời đại Phục hưng. Ngay từ khi giai cấp tư sản mới hình thành, đại diện cho những lực lượng mới đang lên, chiếm lĩnh vũ đài lịch sử và quyết định chiều hướng đi lên của xã hội, bằng khả năng phân tích, phán đoán và kết hợp với những dự cảm tinh tế, trong các tác phẩm của mình, các nhà nhân văn chủ nghĩa đã cảnh báo trước về thói vụ lợi, lòng tham và các cuộc chinh phạt, tước đọat đầy máu và nước mắt do chính giai cấp tư sản thực hiện. Gần hơn, vào những năm đầu thế kỷ XX, M.Gorki – nhà văn vô sản Nga dường như đã dự cảm trước được những biến cố lớn của thế kỷ, gần nhất là cuộc cách mạng vô sản Nga qua hình tượng Chim báo bão trong truyện ngắn cùng tên.

Ở Việt Nam, vào cuối những năm ba mươi, đầu những năm bốn mươi của thế kỷ XX, trước các ba động của lịch sử, các nhà thơ, nhà văn như: Tố Hữu, Tô Hoài, Nguyên Hồng, Nam Cao, Trần Huyền Trân, Thâm Tâm... đã cho thấy trong sáng tác của họ những dự cảm về tương lai, những tín hiệu báo trước cuộc cách mạng tháng Tám sẽ diễn ra vào những năm sau đó không lâu. Tố Hữu viết:

            Ta nghe hè dậy bên lòng

            Mà chân muốn đạp tan phòng hè ôi!

Nam Cao viết truyện Cơn giông, truyện Sống mòn, truyện Điếu văn với cảm giác bức bối và với triết lý “sống tức là thay đổi”. Nguyên Hồng viết truyện Lửa, Nhân loại, Ngày mai, đặc biệt là tập truyện ký Cuộc sống  để nói đến cái không khí ngột ngạt, cái sức nóng chuẩn bị bùng cháy vào một ngày nào đó không xa. Tô Hoài thì cảm thấy “Bốn phương và quanh mình đã nóng như lửa và thực sự lửa đang cháy. Mỗi người, người nào cũng đương cần tự quyết định chết hay là đứng lên? một con đường” (Hồi ký Tự truyện). Còn Trần Huyền Trân và Thâm Tâm thì dự cảm da diết về các chuyến đi đầy quả quyết nhưng cũng đầy dùng dằng, lưỡng lự. Và gần đây, chắc ai cũng nhớ, vào cuối những năm bảy mươi, đầu những năm tám mươi của thế kỷ XX, trong đời sống văn học nghệ thuật đã xuất hiện những phóng sự, những truyện ngắn, những tiểu thuyết, những vở kịch gây xôn xao dư luận, thu hút được sự quan tâm theo dõi của toàn xã hội. Các tác phẩm này không chỉ trực diện phản ánh những vấn đề gay cấn nóng bỏng của thực tại mà còn đưa ra được những dự báo, cảnh báo trước về những vấn đề của cơ chế chính sách, của đời sống xã hội và con người.

Ngay từ năm 1984, nghĩa là trước đổi mới 2 năm, Lưu Quang Vũ đã viết xong vở kịch Tôi và chúng ta. Với vở kịch này, Lưu Quang Vũ đã phản biện lại cả một cơ chế. Anh đưa được lên sân khấu 21 nguyên tắc tài vụ cũ kỹ, lỗi thời, kìm hãm sản xuất. Anh công khai bảo vệ những tư tưởng mới, những lối nghĩ mới, những cung cách quản lý và làm ăn mới, đồng thời công khai phê phán cơ chế quan liêu bao cấp trong lĩnh vực quản lý kinh tế và lĩnh vực tư tưởng tinh thần. Còn Xuân Trình, cũng ngay từ năm 1985 với vở hài kịch trữ tình Mùa hè ở biển đã hài hước hóa những típ cán bộ kiểu như Đoàn Xoa-sản phẩm của cơ chế quản lý quan liêu bao cấp đã tỏ ra không còn phù hợp với đòi hỏi mới của cuộc sống. Thái độ của Xuân Trình trong vở kịch này là thái độ ủng hộ, thái độ bênh vực cho những cái mới đang còn khó phân định đúng – sai, thái độ phê phán dưới hình thức hài kịch những cái đã trở nên lỗi thời, không còn phù hợp với yêu cầu mới của cuộc sống và sự phát triển khách quan của lịch sử để “giã từ với quá khứ một cách vui vẻ” như C.Marx đã từng nói. Tiếp tục mạch cảm hứng công dân và tư tưởng sáng tạo của mình, trong Khoảnh khắc và vô tận có thể xem là tập II của Tôi và chúng ta, Lưu Quang Vũ đưa cả vấn đề giá-lương-tiền, vấn đề cơ chế quản lý, vấn đề tổ chức cán bộ, vấn đề tâm lý đạo đức.. lên sân khấu. Trong khi dành nhiều tâm huyết vào việc cổ vũ cho những kiểu người mới, kiểu làm ăn mới, ngay từ vở kịch này, anh đã kịp nhìn thấy trước và cảnh báo toàn xã hội về lối làm ăn, tính toán láu cá, vụ lợi, chỉ chú ý đến lợi ích cá nhân và đơn vị mình mà không tính đến lợi ích của nhà nước và toàn xã hội. Thực tiễn quá trình đổi mới đã cho thấy cảnh báo đó của Lưu Quang Vũ là hoàn toàn chính xác. Còn Xuân Trình thì cho rằng có những cái tốt của ngày hôm qua không còn thích ứng với cuộc sống của ngày hôm nay. Cơ chế mới đòi hỏi những kiểu người mới, và ngược lại, những kiểu người mới cần phải có cơ chế mới mới phát huy được năng lực sáng tạo của mình. Trong Mùa hè ở biển, anh đã lên tiếng bênh vực cho chính sách khoán hộ lúc đó đang còn phải làm chui. Ở một phương diện khác, trong vở Nhân danh công lý, cũng từ năm 1984, Doãn Hoàng Giang và Võ Khắc Nghiêm đã trực diện đấu tranh với thế lực tiêu cực, lớn tiếng đòi hỏi một sự dân chủ, bình đẳng trước pháp luật và cuộc sống.

Đó là chưa kể đến những tác phẩm như: Cù lao Tràm, Đứng trước biển của Nguyễn Mạnh Tuấn còn ra đời sớm hơn. Đặc biệt là hàng lọat phóng sự nghệ thuật của Trần Huy Quang, Minh Chuyên, Phùng Gia Lộc ... làm khuấy động xã hội bằng những chất liệu hiện thực sinh động, có sức truyền cảm mạnh mẽ. Đó thực sự là những áp lực, những tín hiệu báo trước của thời kỳ đổi mới sẽ được chính thức khởi động vào năm 1986.

Như vậy là, bằng mẫn cảm nghệ sĩ và tinh thần công dân của mình, các nghệ sỹ đã góp phần dân chủ hóa xã hội, đề xuất với Đảng và Nhà nước những vấn đề lớn của đời sống sản xuất vật chất và tinh thần xã hội để từ đó hoạch định chiến lược đổi mới, làm thay đổi diện mạo đất nước. So với yêu cầu phát triển, thành tựu văn học thời kỳ tiền đổi mới, tuy còn khiêm tốn nhưng rất đáng được ghi nhận. Đó là sự khởi đầu có ý nghĩa trọng đại góp phần mở ra một thời kỳ mới của đất nước. Ngay cả những người khó tính nhất cũng phải thừa nhận từ năm 1986 đến nay, đất nước ta đã đạt được những kỳ tích lớn lao. Cơ chế quản lý quan liêu bao cấp có thâm niên hàng mấy chục năm, khi tỏ ra không còn phù hợp đã nhanh chóng được thay thế; Chính trị ổn định; kinh tế tăng trưởng; mức sống được cải thiện rõ rệt; bộ mặt đất nước đang thay đổi từng ngày, từng giờ. Cần phải khẳng định rằng trong thành tựu của công cuộc đổi mới có đóng góp đáng kể của văn học nghệ thuật.

Song, rất tiếc là trong quá trình chuyển giai đoạn những năm qua, văn học nghệ thuật dường như không tiếp tục được mạch cảm hứng công dân, cảm hứng chính luận và vai trò tích cực của mình như thời kỳ tiền đổi mới. Dường như khi những bức bối của cuộc sống đã được giải quyết thì nhiệt huyết công dân và tâm huyết nghệ sĩ có phần thuyên giảm và lắng xuống. Đáng lẽ phải phát huy tinh thần đó vào việc đề xuất, kiến giải những vấn đề mới, phản ánh cả mặt tích cực lẫn mặt tiêu cực của quá trình đổi mới và đưa ra những dự báo, cảnh báo chính xác cho tương lai... thì không ít nghệ sỹ, không ít tác phẩm lại có chiều hướng quay về với những “bi kịch nhỏ”, những số phận cá nhân, những toan tính đời thường, gậm nhấm quá kh hoặc chạy theo cám dỗ của tiền bạc và hư danh, bỏ quên thiên chức cao quí của nghệ sĩ để chấp nhận mua vui, giải sầu cho những công chúng thấp kém về thị hiếu thẩm mỹ nhưng lại có tiền bằng những sáng tác ít giá trị nghệ thuật, nặng về câu khách thông qua các chi tiết giật gân, hiếu kỳ. Trong lịch sử văn học đã từng có những nhà văn nổi danh nhờ những “nhân vật nhỏ bé” như A.Sekhốp, những kiếp “đời thừa” và “sống mòn” như Nam Cao, nhưng với điều kiện nhà văn phải có tâm, có tài và số phận của những nhân vật nhỏ bé, những kiếp đời thừa, kiếp sống mòn trong tác phẩm phải mang một ý nghĩa xã hội-lịch sử và nhân sinh cao cả. Nếu không, nhà văn sẽ chết chìm trong thế giới nhân vật ô hợp và tầm thường do chính mình tạo ra.

Dưới tác động hai mặt của cơ chế thị trường, văn học nghệ thuật và nghệ sỹ đang có thêm những yếu tố kích thích mới, những động lực sáng tạo mới. Nhưng cũng chính cơ chế thị trường đang làm nao núng không ít ngòi bút và hoen ố không ít tác phẩm. Ai cũng biết sex có thể cần cho người này, người kia, từng nơi từng lúc và từng người, nhưng với văn chương chân chính thì không, nhất lại là loại sex rẻ tiền, ô uế như đã từng thấy trong một số tác phẩm gần đây. Bởi vì đó là chuyện sau cánh cửa chứ không phải là chuyện phơi ra trên trang giấy. Có chăng, nó phải được nghệ thuật hóa và phải được thể hiện theo qui luật của cái đẹp. Hơn nữa, tình yêu của con người với tư cách là một đề tài vĩnh cửu, không chỉ có vậy mà nó còn mang những giá trị cao cả hơn, trong sáng hơn, nhân đạo hơn, nó nâng cao con người chứ không hạ thấp con người đến mức chỉ còn như những sinh vật bình thường. Khai thác vào những chuyện đời tư như một khuynh hướng mới hình thành trong văn học hiện nay, cũng là một hướng, nhưng ít có cơ hội để trở thành tác phẩm văn học lớn thực sự khi người viết mang động cơ vụ lợi và non kém về trình độ nghệ thuật.

Xu hướng quay lại với quá khứ, khai thác vào đề tài lịch sử như một số nhà văn đang làm hiện nay cũng là một hướng có triển vọng. Xu hướng này đã từng là một phong trào lớn thu hút nhiều trí thức văn nghệ sỹ thời kỳ cuối những năm ba mươi, đầu những năm bốn mươi của thế kỷ XX, đó là “Phong trào văn nghệ phục cổ”. Các nhà văn, nhà nghệ sỹ tham gia vào phong trào này xem đó là cách để trốn tránh thực tại, để thể hiện khát vọng yêu nước, tìm trong lịch sử những bài học về tinh thần chống ngoại xâm... mà không bị kiểm duyệt của thực dân Pháp. Ngày nay, lý do đó không còn có cơ sở để tồn tại, nhưng đề tài lịch sử, cảm hứng lịch sử thì vẫn sẽ mãi mãi còn là miền đất hứa của sáng tạo nghệ thuật. Vấn đề là ở chỗ nhà văn, nhà nghệ sỹ phải là người xâu chuỗi lịch sử, phát hiện ra trong dòng chảy của nó những mối liên hệ tinh thần giữa quá khứ-hiện tại-và tương lai. Nhà văn có thể biến lịch sử thành những cái cớ để gửi đến con người hiện tại những thông điệp về giá trị đạo đức tinh thần như ý của nhà văn Pháp A.Dumas từng nói, nhưng nhà văn không được bóp méo lịch sử, xuyên tạc lịch sử, thậm chí minh họa lịch sử một cách thô thiển, vụng về. Trong khi trở về với đề tài lịch sử, cần nhớ rằng bên cạnh nhà văn còn có các nhà sử học, các nhà văn hóa học và những người yêu mến lịch sử dân tộc. Đi ngược hành trình, nhà văn rất dễ cô đơn khi động cơ thiếu trung thực và không có người đồng hành.

Cuộc chiến tranh cách mạng của dân tộc ta ở thế kỷ XX sẽ còn là đề tài lớn cho văn học nghệ thuật những thế kỷ tiếp theo. Nhưng đó không phải là toàn bộ sứ mệnh của văn học. Nói đúng ra, nó vẫn chỉ là một trong những món nợ mà văn chương cần phải trang trải cho lịch sử dân tộc mà thôi. Trong cuộc sống xã hội hiện đại còn có bao nhiêu vấn đề quan yếu khác mà văn học nghệ thuật cần phản ánh. Trong quá trình đổi mới và hội nhập, vấn đề tìm kiếm, xây dựng một mô hình xã hội lý tưởng mới, một con đường phát triển mới, một trật tự xã hội mới, trong đó các giá trị tinh thần nói chung, giá trị con người nói riêng được tôn vinh; mọi tiềm năng sáng tạo được giái phóng, mọi nhu cầu hưởng thụ vật chất và văn hóa chính đáng được đáp ứng... đang là những vấn đề lớn mà nghệ sỹ chân chính không thể đứng ngoài cuộc. Chẳng lẽ ở đó không có đất cho những tác phẩm nghệ thuật lớn?không có chỗ cho những xúc cảm nghệ thuật cao cả?

Không thể phủ nhận được rằng trong tiến trình đổi mới và hội nhập hơn hai mươi năm qua, nền văn học nghệ thuật của chúng ta đã cho thấy những dấu hiệu mới, những cách tân về phương diện hình thức và phương thức biểu hiện. Nhưng, cái mà giới văn học nghệ thuật đang cần hiện nay là ý thức trách nhiệm nghệ sỹ-công dân trước xã hội. Một cách nhìn mới về chiến tranh, một thái độ mới về những số phận bị bỏ quên, những bi kịch nhỏ giữa đời thường... đối với văn học vẫn luôn luôn đáng khích lệ và trân trọng. Nhưng, những phát hiện lý giải mới về tâm lý, đạo đức của con người trong cơ chế thị trường; những vấn đề mới nảy sinh trong đời sống xã hội như: vấn đề chuyển đổi hệ giá trị đạo đức tinh thần diễn ra trong thời kỳ đổi mới và hội nhập; những vấn đề lớn mang tính toàn cầu như vấn đề số phận con người trước sự biến đổi khí hậu, môi trường và những biến cố thiên tai, dịch bệnh...; những tác động của làn sóng công nghiệp hóa đến nông nghiệp, nông dân và nông thôn; những vấn đề tâm lý-xã hội nảy sinh trong quá trình đô thị hóa; những biểu hiện suy thoái về đạo đức lối sống, khuynh hướng bạo lực, bạo hành trong gia đình, nhà trường và xã hội đang gia tăng; tỷ lệ người chết do tai nạn giao thông và các nguyên nhân khác đang hàng ngày, hàng giờ cướp đi sinh mệnh của hàng trăm, hàng nghìn con người; vấn đề phân hóa giàu nghèo trong xã hội, đặc biệt là tâm lý bất an của con người hiện đại trước các tác động của xã hội và môi trường, trong đó, cái xấu, cái ác đang có chiều hướng lấn át làm lu mờ cái đẹp, cái thiện..., chẳng lẽ đó không phải là những vấn đề của con người và xã hội mà văn học cần quan tâm sao?

Chúng ta đang sống trong thời đại có những biến đổi khó lường. Những thành tựu của khoa học và công nghệ-sản phẩm trí tuệ của con người đạt được ở cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI này sẽ cho phép các nhà khoa học ở từng lĩnh vực tiến hành xử lý các dữ kiện để đưa ra những dự báo toàn cầu, dự báo về tưng khu vực và từng lĩnh vực. Có lẽ vì vậy mà ngày nay dự báo đã trở thành một ngành khoa học (khoa học dự báo) đang phát triển ở nhiều quốc gia trên thế giới. Ngoài trí tuệ của con người, máy tính sẽ là công cụ hữu hiệu giúp cho các ngành khoa học thực hiện các dự báo của mình. Còn văn học? sẽ dự báo tương lai như thế nào và bằng phương tiện nào?

Có lẽ, cũng giống như các nhà môi trường-sinh thái học, các nhà kinh tế-chính trị học, các nhà xã hội học, thiên văn học và các nhà khoa học ở những lĩnh vực khác nhau..., các nhà nghệ sỹ cũng có những cách dự báo riêng của mình. Dự báo đó không dựa trên các thực nghiệm khoa học mà dựa trên các chiêm nghiệm từ đời sống; không dựa trên sự phân tích những yếu tố riêng lẻ mà dựa vào những khái quát lớn trên diện rộng. Hạt nhân của dự báo đó đương nhiên là những vấn đề liên quan đến con người, của con người, vì nói như M. Gorki, “văn học là nhân học”.

Nửa đầu thế kỷ XX, trước thảm họa khốc liệt của hai cuộc thế chiến, trước nhịp độ phát triển nhanh của khoa học kỹ thuật, nhiều nhà văn, nhà triết học hiện sinh ở phương Tây đã đưa ra những dự báo ảm đạm về thân phận của con người (Huyền thoại Sidíp của A.Camus là một ví dụ), về nguy cơ tha hóa của con người trước văn minh công nghiệp (vở kịch Những cái ghế của Ionessco là một ví dụ). Đặc biệt là khi người máy ra đời, đảm nhiệm những công việc phức tạp và đạt độ chính xác cao thì hình ảnh con người bằng xương, bằng thịt dưới con mắt của các nhà “Kỹ trị” dường như có phần bị tha hóa trước những sản phẩm do chính mình chế tạo ra. Gần đây, khi chú Cừu Dolly ra đời và khi bản đồ gen người được phát hiện, vấn đề nhân bản vô tính người được các nhà khoa học đưa ra như một khả năng có thể thực hiện đã khiến cho các nhà nhân văn, các nhà đạo đức học lên tiếng cảnh báo. Quả thực, đó không phải là những lo toan không có căn cứ. Song, chính nhờ các tiên cảm, dự báo mà trong quá trình phát triển, con người với tư cách là chủ nhân của lịch sử, là “trung tâm vũ trụ” đã không để cho máy móc lấn át vai trò của mình, trái lại, càng làm cho trí thông minh và khả năng lao động sáng tạo của con người ngày càng được đề cao bởi năng xuất lao động và bởi các thao tác kỹ thuật nối dài khả năng của con người.

Thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đang đặt ra nhiều vấn đề bức thiết, trong đó có vấn đề con người-nhân tố chủ thể quyết định tốc độ và chiều hướng phát triển. Các mối quan hệ giữa con người với cơ chế, con người với máy móc công nghệ, con người với con người, con người với sản phẩm hàng hóa, con người với môi trường sống và lao động của mình... sẽ được đặt ra và giải quyết như thế nào? đương nhiên, không phải chỉ là mối quan tâm của các nhà triết học, kinh tế học, chính trị học, đạo đức học... mà còn là mối quan tâm của các nhà văn, các nghệ sỹ mẫn cảm trước thời cuộc. Muốn hay không, thời kỳ mới của lịch sử sẽ tạo ra những hệ giá trị mới, những chuẩn mực đạo đức tinh thần mới mà hôm nay, những người mang thiên chức nghệ sỹ có thể hình dung, tiên đoán. Ngay cả những niềm vui, nỗi buồn sâu xa về số phận, thân phận của mỗi cá nhân trong cộng đồng và trước thế sự cũng luôn luôn là những ám ảnh, những nghiền ngẫm suy tư của mỗi nhà văn, mỗi nhà nghệ sỹ để trong mỗi sáng tác của mình không chỉ hiển hiện thực tại mà còn thấp thoáng hình bóng của tương lai.

Để dự báo và tiên đoán chính xác, mỗi nhà văn, mỗi nghệ sỹ, ngoài sự mẫn cảmdự cảm gần như là thanh khí tiên thiên của mình, còn đòi hỏi phải có các khả năng chiêm nghiệm, khả năng phân tích, phán đoán để nhận thức bản chất, nắm bắt qui luật và lôgic khách quan của cuộc sống, để trên cơ sở đó nhận diện tương lai ngay từ trong thực tại. Như vậy, cũng có nghĩa là muốn thực hiện tốt chức năng dự báo, nhà nghệ sỹ, về một phương diện nào đó, phải đồng thời là nhà khoa học, trước hết là khoa học nhân văn./.

 

 

 

 

 

 

PHÙNG CUNG

            - Họ và tên khai sinh: Phùng Cung

            - Sinh năm 1928

                   - Mất năm 1997

 

          - Tác phẩm chính đã xuất bản

          * Xem đêm (2011)

 


A - TRONG KÝ ỨC BẠN BÈ

  

 

HẰNG NGA THỨC DẬY

 Phùng Quán 

Sau ngày hòa bình lập lại, truyện ngắn Con ngựa già của chúa Trịnh, với bức minh họa tuyệt đẹp của họa sĩ Bùi Xuân Phái, đã làm xôn xao làng văn ngày đó. Chính bắt đầu từ cái truyện ngắn này anh đã mang thân vào cái nghiệp văn, ở anh cũng đáng coi là nghiệp chướng.

Anh còn một tập truyện ngắn, đâu như tám truyện thì phải, cũng một dòng “ngựa, voi”, chưa kịp ra mắt bạn đọc thì đã bị cái khách quan khắc nghiệt “bảo lưu” cùng với tài năng của tác giả. Truyện nào viết xong anh cũng đưa tôi đọc. Truyện nào cũng làm tôi say mê vì vẻ đẹp của ngôn từ. Cái kho ngôn từ dân dã của anh dường như vô tận. So với tất cả văn xuôi của tôi đã in ra, tôi có cảm giác mình là người nước ngoài viết tiếng Việt.

Sau mười hai năm cách ly đời thường, Phùng Cung như xa lạ với môi trường văn nghệ. Được trả tự do, việc đầu tiên là anh cùng với vợ sửa lễ “Tạ ơn cao rộng cho được sống để trở về quê quán”. Rồi yên phận hẩm hiu, anh tránh thật xa mùi bút mực. Anh xoay trần làm nghề đập đinh, phụ với vợ thêm nghề bánh rán, nuôi ba đứa con trai đang sức ăn, sức lớn. Song hình như mùi dầu nhờn, gỉ sắt, mỡ rán vẫn không át được mùi bút mực. Những lúc rảnh tay, anh ngồi buồn thiu, thỉnh thoảng chấm ngón tay vào đáy chén trà cặn, viết một từ gì đó lên mặt bàn…

Tôi thường đạp xe từ Nghi Tàm lên phố Mai Hắc Đế thăm anh, khi mang cho con diếc, con trôi vừa câu trộm được, khi mang mớ rau muống cấy ở vệ hồ, trong khi đó, thật bất ngờ, anh sáng tác thơ.

Đọc thơ anh, có bài chì vài câu, tôi bỗng thấy thiên nhiên quanh tôi vụt giàu có lên bất ngờ và trở nên đẹp đẽ đến xao xuyến tận đáy lòng – những vẻ đẹp từ trước đến nay tôi vẫn nhìn nhưng không thấy.

Mới đây, Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam quyết định trích quỹ sáng tác của Hội làm món quà tặng sau hội viên (trong đó có tôi) đã phải chịu nhiều thiệt thòi trong 30 năm qua; Hội in cho mỗi người một tập thơ bao cập, tác giả tự chọn những bài thơ vừa ý trong thơ của mình, dày từ hai trăm trang trở lại. Năm anh bạn đang dựng bản thảo. Tôi cả đời chưa bao giờ được in riêng một tập thơ càng hăm hở chuẩn bị,

Và bản thảo đã chuẩn bị xong, chỉ còn mang đến nộp. Trước khi nộp tôi đem đến anh Cung để tranh thủ một vài nhận xét. Nhân dịp này tôi dã dại dột đọc lại tập thơ tích lũy của anh. Đọc xong, lòng hăm hở của tôi chùng lại. Tôi không còn muốn in thơ nữa! Tôi tự nhủ: In làm gì khi chưa có cặp mắt biết nhìn như Phùng Cung? Chúng ta hãy cần đọc không cần chọn:

Mùa gieo mạ

Thoảng mùi ruộng ải

Thóc giống cựa mình

Nắng – vắt ngọn tre – đuôi – én

Đủng đỉnh điệu cu cườm

Lay nhịp – gió may

 

Nắng dứ

Đầu mùa nắng – dứ

Hạt mồng tơi kênh đất

                     nghé trời

Chuối con gái vội hong

                          búp lụa

Cánh chuồn chuồn lia từng bóng

                         râm con.

Dưới mắt anh, cảnh vật hiện ra sinh động đến thế! Ngòi bút tôi đâu dám đua chen.

Thấy tôi chán nản, anh Cung động viên khéo: “Thời cơ chế thị trường, dư luận khách hàng mới là khuôn vàng thước ngọc. Hãy cứ cho ra, rồi lắng nghe dư luận”.

Trái với tình thế của tôi có điều kiện in rồi mà còn đắn đo, tình thế của anh Cung lại là muốn in mà không có điều kiện. Anh dí dỏm gọi mỉa mai tập bản thảo thơ anh là “Hằng nga ngủ trong rừng”.

Như mọi người đã thấy, ngày nay ở nước ta xuất bản thơ là việc khó khăn lắm. Bạn muốn in thơ? Xin mời! Cứ việc bỏ tiền ra in. Nhà xuất bản chỉ có thể tham gia bằng chách chịu một phần trách nhiệm về nội dung và đứng ra xin giấy phép xuất bản, với điều kiện bạn trả tiền lệ phí. Một nhà thơ nghèo như Phùng Cung, năm nay đã sáu mươi nhăm tuổi, có lẽ đến lục “chọn đất sạch dọn mình vào vĩnh viễn” cũng không hy vọng thơ mình được người đọc thưởng thức qua những dòng chữ in. Hằng tháng, chỉ với mâm cơm gia đình “bốn mùa rong ruổi chốn rau dưa” cộng thêm vài chục nghìn tiền điện, dăm nghìn tiền nước, chị Thoa vợ anh cũng đã phải tất tả chạy giật nóng quanh bà con lối xóm. Thơ anh đành nằm chờ…

Nhưng tôi quyết tâm in bằng được thơ anh. Tôi sẽ đi khắp Bắc, Trung, Nam đọc rong thơ của anh và quyên góp tiền. Tôi ước tính đủ tiền để in hai trăm bài thơ nắng, tôi sẽ phải đi đọc thơ và quyên tiền đến một năm, trong khi đó bao nhiêu chuyện có thể xảy ra làm cho công việc thêm phức tạp. Quá trình phấn đấu hẳn phải chia thành nhiều đợt đi đi, về về…

Nhưng tôi đã gặp một chuyện bất ngờ. Một hôm, trong bữa cơm gia đình có anh Nguyễn Hữu Đang dự, tôi nói:

- Em sắp đi xa vắng nhà chừng một năm. Anh nhớ luôn luôn đến nhà em ăn cơm với vợ con em cho vui.

- Em đi đọc thơ rong, quyên góp tiền để in cho anh Phùng Cung tập thơ. Cả một đời gian khổ vì cái nghiệp bút mực, anh ấy chỉ có một ước vọng được in một tập thơ để tặng bạn hữu và góp mặt với đời trước khi vĩnh biệt chúng ta.

- Tôi gặp chú Cung luôn, sao không thấy chú ấy nói chuyện này với tôi?

- Anh Cung không nói, em cho là anh ấy nghĩ có nói anh cũng không giúp được gì, chỉ làm anh thêm bận tâm.

- Tập thơ chú Cung đâu, chú đưa tôi xem.

Anh Đang đọc chăm chú hết tập thơ. Anh khẽ gật đầu có mái tóc ngắn quan thuộc nói:

- Tôi không ngờ thơ chú Cung khá thế. Theo tôi còn khá hơn văn xuôi chú ấy. Bây giờ thế này chú Quán nhé: Chú không phải đi đâu hết. Tôi sẽ cho chú Cung tiền để tin tập thơ.

Tôi trợn mắt:

- Thơ không rẻ như bèo đâu anh ơi. In một tập thơ vài trăm trang với hình thức chỉ xoàng xoàng thôi, anh có biết phải mất bao nhiêu tiền không? Hai triệu đến hai triệu rưỡi đấy!

Tôi tưởng anh phải tái mặt tưng hửng trước số tiền mà tôi vừa thông báo. Anh vẫn bình tĩnh lật lật những trang thơ, đọc lại một vài bài vừa rồi chưa đọc kỹ, rồi chậm rãi nói:

- Tôi sẽ cho chú Cung đủ tiền để in, dù có tốn như chú vừa nói.

Không để tôi hỏi anh lấy đâu ra tiền, anh giai thích luôn:

- Tôi cho chú ấy dung tất cả số tiền tôi dè sẻn từng đồng dành dụm được trong hai mươi năm qua, nhất là từ bốn năm trở lại đây tôi có lương hưu, lại dược những anh chị em cùng hoạt động hồi Mặt trận dân chủ, Huyền truyền bá quốc ngữ, Hội văn hóa cứu quốc, các đội tuyên truyền xung phong chống pháp, ngành bình dân học vụ cùng những bạn bè xa gần, biết tôi còn sống và nghèo khổ, kẻ ít người nhiều họ gửi tiền đến giúp đỡ. Ngoài những khoản chi tiêu cần thiết hằng tháng, còn lại bao nhiêu tôi gửi tất cả vào quỹ tiết kiệm ngân hàng phòng xa phải dựng túp lều khi không còn ai cho ở nhờ, phòng xa lúc ốm nặng kéo dài, phòng xa cả lúc chết nữa. Nhờ vậy mà số tiền tiết kiệm của tôi cho đến hôm nay đã lên tới hơn bốn triệu đồng. Số tiền tiết kiệm đây…

Anh móc túi áo bộ đội cũ mặc bên trong, lấy ra cuốn sổ bọc trong ba lần giấy nhựa bóng, chằng ngang chằng dọc bốn dây cao su. Anh đặt sổ trước mặt tôi và bảo:

- Chú giữ lấy. Tôi sẽ làm giấy ủy quyền cho chú rút tiền ra sử dụng. Nếu số tiền này chưa đủ, tôi sẽ về quê đòi vài tạ thóc cho vay, bán đi rồi gửi thêm tiền cho chú. Tôi yêu cầu tập thơ phải in thật đẹp, mà đẹp giản dị, thanh nhã, chứ không rườm rà, lòe loẹt như nhiều tập thơ đang bày bán.

Không hiểu sao nghe anh nói tim tôi hồi hộp và cổ tôi như nghẹn ngào. Tôi được quen biết anh đã gắn bốn mươi năm nhưng mãi cho tới hôm ấy tôi mới thật hiểu anh là người thế nào. Nguyễn Hữu Đang là người nếu chỉ dung cho bản thân thì một trăm đồng ba quả khế chua để gội đầu (thay chanh mà anh sợ đắt) cũng tiếc tiền, bất đắc dĩ mới phải mua, nhưng đã là việc nghĩa hiệp thì sẵn sang san sẻ đến đồng tiền cuối cùng.

Thế đây. Nếu bản thảo thơ Phùng Cung là “Hằng nga ngủ trong rừng” thì tấm lòng vô tư của Nguyễn Hữu Đang chính là “Hoàng tử đẹp trai” đến đánh thức.

Và nhất định tập Xem đêm sẽ ra đời. 

P.Q 

Hà Nội, ngày 20 tháng 11 năm 1994

 

 

 

 

 

NHỚ PHÙNG CUNG THOÁNG NGHĨ VỀ THƠ:
XEM ĐÊM

Hoàng Cầm 

Ngày 28.4.1998 tới đây là tròn một năm thi sĩ Phùng Cung đi vào cõi vĩnh hằng; có lẽ để Xem đêm mãi mãi nhớ tiếc ông, tôi muốn ôn lại đôi điều nhỏ về Phùng Cung, người đã “xem đêm” ở cõi đời chúng ta đang sống và cảm nhận cái đêm nhân gian này một cách sâu sắc và cảm động như thế nào.

Cách đây chừng mươi lăm năm, giữa ban ngày, ngay giữa lòng Hà Nội, Phùng Cung đã bình thản và lặng lẽ một mình đi “xem đêm”. Đến cuối năm 1995, nhà thơ Quang Huy, giám đốc Nhà xuất bản Văn hóa hồ hởi giúp Phùng Cung cho ấn hành một tập thơ để mọi người có điều kiện cùng Xem đêm với người thơ độc đáo xứ Đoài.

Xem đêm? Xem những gì và thấy được những gì trong cái đêm dài ở vùng quê nghèo của Phùng Cung? Trước hết ta xem biết bao nhiêu cảnh ngộ của những nông dân, mà chỉ cần một bài Cua đồng cũng đủ làm điển hình cho tất cả:

Phận lấm

Tối ngày đào khoáy

Lưng nắng – vẽ

Hoa văn tiền sử

Chài chải đồng chiêm

Mấy kiếp rồi

Có lẽ từ xưa đến nay, ở nước ta chưa có một tập thơ nào về một vùng quê nghèo khổ lại súc tích, cô đọng mang tính truyền thống và hiện đại sâu sắc như tập Xem đêm của một thi sĩ – “tác giả một cuốn sách duy nhất” là Phùng Cung.

Có thể nói, đây là tư liệu quý về đời sống cả về ngôn ngữ nhân dân cùng trung du Bắc bộ rộng lớn trước đây. Điều thứ hai tôi nhận thây sở tập Xem đêm là mỗi bài thơ, có khi chỉ một câu đều như những luồng điện không giật chết người nhưng cứ thắt vào tim những luồng rung động thấm rất sâu.

Phùng Cung không giống như một số “nhà thơ” khác. Cũng có đôi chút tiếng tăm, chỉ đứng ngoài mà nhìn và cảnh với người ở vùng quê. Anh chính là từ máu thịt làng quê mà sinh ra, lớn lên bằng củ khoai, con ốc và những tiếng khóc lời kêu của hàng xóm láng giềng. Anh thấm đậm hồn quê, nên từng chữ, từng câu của anh đều như chạy nhảy, leo trèo, bơi lội trước mắt tôi. Ta thử nghe chuyện Xóm giềng:

Bòng đen – vá – giấy

Lom đom vườn hàng xóm

Mượn – trộm mẩu gừng

Phát gió rửa đền

Mùi rượu gừng cả xóm

                      băn khoăn.

Rồi đến hình ảnh con cua đồng (trên đã nói), tôi nghĩ không một thi sĩ Việt Nam kim cổ nào đã dung rất tài tình một từ ghép: Chài chãi – một từ thật dân dã, ai cũng cảm thấy ngay cái vất vả mưa nắng quanh năm dầu dãi phơi mình ra trước mọi đổi thay của thời tiết khắc nghiệt trên những cánh đồng chiêm miền Trung du Bắc bộ.

Nhìn chung ở tập Xem đêm, mối quan hệ giữa những người miền quê nghèo được Phùng Cung diễn tả chân thực đến mức không thể bỏ hoặc thay một từ nào. Tương quan của từ với điệu, của ngữ điệu với ý và tứ thơ đã gắn bó chặt chẽ như những tế bào sống và hoạt động trong cùng một thớ thịt. Hầu như với những từ ngữ ấy, vần điệu ấy, bài nào cũng khiến tôi gai gai ngoài da, rơm rớm cay trong mắt, nghèn nghẹn nơi cổ họng, xon xót trong ruột gan như có muối xát vào. Đây người vợ tần tảo ngược xuôi của anh:

Tối ngày tất tả

Lưng áo em

Ngoang vôi trắng xóa

Cái trắng nay

Vắt tận trong xương.

Rất nhiều bài như thế chứng tỏ tấm lòng thương quê của Phùng Cung đằm sâu đến chừng nào. Cả vùng quê anh có thể nói chính là cha mẹ anh, vợ con anh cùng với bao nhiêu an hem ruột thịt nữa đều có mặt rất thân thiết, rất sáng sủa trong tập thơ chất nặng bao nhiêu số phận con người, chất chưa bao nhiêu tâm trạng và bao nhiêu nỗi niềm yêu thương, nhớ tiếc, cay đắng xót xa.

Điều cuối cùng, tôi mong Nhà xuất bản Văn học cho tái bản tập thơ và giới thiệu nó rộng rãi hơn với bạn đọc qua các phương tiện thông tin đại chúng khác. Tôi lại mong Hội Nhà văn tổ chức ít nhất cũng một lần hội thảo về tập thơ này. Và sau nữa, tôi tin rằng các nhà làm từ điển tiếng Việt, nhà nghiên cứu ngôn ngữ, các giáo sư, sinh viên khoa Việt ngữ sẽ tìm đến Xem đêm, rút ra từ tập thơ rất phong phú này khá nhiều điều cần thiết, bổ tích cho công việc mình đang làm.

Một bài báo sơ sài không cho phép tôi nói được kỹ, được sâu về toàn bộ 200 bài thơ, nhưng ý riêng tôi nghĩ: Mặc dầu còn ít nhiều nhược điểm về nghệ thuật, chỉ một tập thơ này thôi đã đủ sức nâng Phùng Cung lên hàng các thi sĩ chân chính của Việt Nam, của một thế kỷ thơ Việt. Linh hồn và hồn thơ Phùng Cung đã thăng hoa trong thăm thẳm đất trời và trong vô tận thời gian, cái thời gian Phùng Cung nhuộm màu gạch nung già. Đã tròn một năm rồi, hẳn Phùng Cung cũng đã chấm dứt số phạn cánh bèo của anh, và của nhiều người:

“Lênh đênh muôn dặm

                      nước non,

Dạt vào ao cạn

Vẫn còn lênh đênh”.

H.C

 

 

B - MỘT SỐ TÁC PHẨM TIÊU BIỂU 

  

 

BÈO 

 

Lênh đênh muôn dặm

                      nước non,

Dạt vào ao cạn

Vẫn còn lênh đênh.

 

 

 

 

 

NGƯỜI LÀNG 

 

Bạc tóc trở về quê

Bỡ ngỡ tìm đò bến mới

Nhìn dáng lạt bó rau

Nhận được người làng.

 

 

 

 

 

MẸ 

 

Mồ hôi mẹ

Tháng ngày đăm đăm

                         nhỏ ngọt

Con níu – giọt mồ hôi

Đứng dậy làm người.

 

 

 

 

 

DÂU BIỂN

 

Chiều sâm sẩm

Vườn dâu đòi – xanh biển

Con chim chích buông cành

                                bay liệng

Vẽ vòng sóng vỗ xa xưa.

 

 

 

 

 

 

ĐÒ KHUYA 

 

Đêm về khuya

Trăng ngả màu hoa lý

Tiếng gọi đò

Căng chỉ ngang sông.

 

 

 

 

 

NẮNG PHƠI RƠM

 

Sau bao năm

Tôi mới được về quê

Tên cây cỏ cũng đã quên nhiều ít

Con sông quê cảm đi

 Bao dấu tích

 Vẫn ca khúc chìm nổi

Trong nắng – phơi – rơm.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

TẠNH MƯA 

 

Mưa vừa tạnh

Rau cỏ quanh vườn

Dậy mùi – dòng giống

Dưới bóng cây

Gà rình mổ hạt – nắng – non.

 

 

 

 

 

 

 

GẶP THU 

 

Trở dậy gặp thu

Không gian ngập mùi ổi chín

Mùi – năm ngoái

 Đáy nước ao bèo

Mây trắng lênh đênh

Bâng khuâng mình tự

                          hỏi mình

Trời thu thả - nắng

Giếng đình vắng ai

 

 

 

 

 

 

GÓC SÂN NHỎ

                    Tặng Phùng Quán về hưu

 

Áo cũ gối đầu

Đêm tỉnh giấc

Sao khuya dạt chân rêu

                           lạnh biếc

Bầu buông chày ngọc

Cõi lam kiều

Về bên góc sân con.

 

 

 

 

 

 

 

 

QUÊ KHOAI 

 

Trên bến đợi đò

Em ý tứ soi gương đáy nón

Tôi nhận ran gay

Em gái vùng soi bãi

Tren sông láy tháy mưa – mòi

Lũy tre bên ấy

Ngả màu xanh – rau – khúc

Em mau mắn cười

Nheo mắt đầy sông nước

Tay run run khẽ chỉ

Giọng – hẹp – dần

 Làng em đấy – quê khoai.

 

 

 

 

 

 

 

GIÓ ĐẸP 

 

Gió sục giàn bầu

Con ong xanh lạng cánh

Chổi mo ngập đầu hè

- ngáng lối

Sào phơi tấm áo sắp rơi.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

THAO THỨC 

 

Thao thức nỗi riêng

Muốn nhắn về cung lạnh

Gió lộng xiêm đình

Mảnh nguyệt thơm – khuya.

 

 

 

 

 

 

 

 

TÌM EM 

“Tìm em như thể tìm chim

Chim ăn bế Bắc anh tìm bể Đông”

                                         Ca dao

 

Tìm về gặp em

Em đã đi

Vách, giường thơm – lạnh

Mùi khăn áo cũ

Đêm – nghiêng – gió – chập chờn – mưa – gõ – lá

Không có sông

Sao có tiếng gọi đò.

 

 

 

 

 

 

 

 

MƯA GÃY GIỌT 

 

Về đâu em

Mưa gió vây quanh

Gió chệch hướng

Va cành mưa – gãy – giọt

Cây ướt đã đành

Em ướt nửa em.

 

 

 

 

 

 

 

 

LÁ TRĂNG

 

Trăng lạnh sân khuya

Chút bụi – trăng vương theo lá rung

Chợt tỉnh sững sờ

Tưởng lá – trăng rơi.

 

 

 

 

 

 

 

HẾT BỤI 

 

Đêm về

Hết bụi

Em có nghe

Gió kéo lê lá rụng

                          tím sân

Cơn – đàn gãy ngón

Tiếng nước mắt rơi

Nặng giọt trong không.

 

 

 

 

 

 

 

 

CHIỀU NẮNG GHÉ 

 

Mảng rêu chiều nắng ghé

                  mênh mông

Con dế loanh quanh

Tìm lại tiếng mình đêm trước

Vườn hàng xóm ngổn ngang

                    mùi khế rụng.

 

 

 

 

 

 

BẾN XUÂN 

 

Sợi tơ trời

Nghiêng bay trong nắng

Hoa gạo bên sông đỏ thắm

Đợi chuyến sang

Lúng liếng mây – trôi – dải yếm

Mái tóc em đẹp – gió bến đò.

 

 

 

 

 

 

 

 

ĐONG TRĂNG  

 

Trăng tà

Trĩu ánh

Sương rơi

Đong – trăng lá lạnh

Đầy vơi bao lần.

 

 

 

 

 

 

LỠ CHUYẾN

                  Gửi Triều Nghi

 

 

Duyên văn đành lỗi hẹn

Vần thơ mượn gửi cánh cò

                                         vấn an

Phím thuyền lỡ chuyến

                                      Tầm Dương

Trăng “chiều” lẻ nhịp ‘chén” son

                                        nghẹn ngào.

 

 

 

 

 

 

ĐẤT NƯỚC 

 

Đất nước ơi

Tôi mến người

Như khi nhìn em bé ngủ

Tôi thương người

Như thương mẹ ốm

Vì đâu

Người khoác manh áo đỏ

Thừa sai – cũn cỡn

Tủi nhục tháng ngày

Long đong chiều sớm

Ôi! Có bao giờ

Người đau đớn như thế này không.

    

 

 

 

 

 

QUÁCH LIÊU

 

- Họ và tên: Quách Ngọc Liêu

- Quê quán: Xã Sơn Đông, Huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc

- Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam (từ 1998)

 

- Tác phẩm chính đã xuất bản:

* Chú bé thổi khén (Tập truyện vừa, 1991)

* Cây Nọi ước (Tập truyện ngắn, 1995)

* Nữ thần (Tập truyện ngắn, 1997)

* Vui buồn tuổi mười lăm (Truyện vừa, 1998)

* Chuyện vui ngày xuân (Tập truyện ngắn, 2001).

- Giải thưởng văn học:

* Giải B (không có giải A) Hội Nhà văn và Trung ương Đoàn (1991)

* Giải thưởng truyện ngắn NXB Kim Đồng và Báo Thiếu niên tiền phong (1996)

* Giải thưởng truyện ngắn Báo Thiếu niên tiền phong (1998).

- Suy nghĩa về nghề văn:

Thời thanh niên đi Tây Bắc cho tôi nhiều cảm hứng, viết được những trang khá thành công. Rời núi  về xuôi, tôi đi nhiều nơi, viết nhiều bài báo nhưng văn thì không được như trước. Thế mới biết tuổi trẻ sống vô tư là nguồn nước trong lành cho những sáng tác đầu đời. Nay tuổi đã cao, không hồn nhiên, bồng bột như xưa, đợi hứng mới viết là há miệng chờ sung, cố tạo cảm hứng là kiễng chân, sẽ đuối. Phải học, phải tìm, may ra có được cái mới.

   

 

MỘT SỐ TÁC PHẨM TIÊU BIỂU

 

CÁI VỈ RUỒI

 

Tối hôm ấy, trời mư­a, nhiều nhà đã co chân lên giư­ờng. Đài yếu pin, cứ ọt ẹt, ông Khoà định thổi đèn đi ngủ thì có tiếng cạch cạch ngoài liếp.

- Anh Mẫm hả? Đài hết pin nghe chẳng đư­ợc, mình đã định đi ngủ. Mai nhé.

- Dạ thư­a, tôi là ng­ười lỡ độ đư­ờng, ông làm ơn cho trọ nhờ một đêm - Một giọng đàn ông khàn khàn rất khó đoán tuổi vọng vào.

ông Khoà cầm đèn ra mở cửa. Một vật gì to nh­ư buồng chuối bọc vải mư­a đẩy ông lùi lại, tiếp sau là người khách trọ cao lêu đêu, cư­ời nhăn nhở để tỏ thiện cảm. Chủ nhà đỡ “buồng chuối" cho khách, thấy nhẹ tênh liền hỏi:

- Gì thế này?

- Đàn ạ. - ông khách tháo luôn tấm vải m­ưa. Đúng là cái đàn ghi-ta.

- Còn gì nữa không?

- Còn đồ nghề, để em gánh vào.

Thấy ông thợ hàn nồi ngồ ngộ, ông Khoà xem giấy tờ rồi vui vẻ chỉ cái chõng:

- Anh Thành nghỉ ở đây. Chắc chư­a cơm nư­ớc gì phải không? Để tôi bảo bà ấy đi thổi.

- Cảm ơn bác. Em sẵn đây rồi. Mời bác ngồi chuyện trò với em cho vui. - ông Thành lấy trong thùng đồ nghề ra một bọc lạc rang cả củ, một bi đông rư­ợu, một cái đĩa và hai chiếc chén. - Em chỉ thế này là qua bữa...Bác cạn chén đi, mừng cho em hôm nay đ­ược bác giúp. Cánh thơ tự do chúng em đi đâu cũng phải tạo dựng chỗ quen để sau này còn qua lại.

Dân giang hồ bẻm mép, khó mà tin đ­ược, thôi thì cứ ngồi tào lao với hắn cho vui, mình cũng không để cho hắn thiệt; Nghĩ vậy ông Khoà vào buồng nói nhỏ với vợ vài câu rồi trở ra cùng ông Thành đối ẩm.

Sau mấy câu hỏi han gia cảnh, ông Khoà sực nhớ:

Ba năm trước, ở bến xe Yên Bái, lúc xếp hàng ghi tên mua vé vào Tây Bắc, ông đã gặp bố con ông này cũng chờ xe ở đó. Không ngờ ông cụ đã mất, nay người con đã đứng tuổi lại kế nghiệp cha đi kiếm ăn lang thang. Tiếng đàn ghi-ta của ông cụ trong đêm nằm ở nhà chờ xe hôm ấy đến nao lòng. Có ng­ười đề nghị cụ thôi đàn cho họ ngủ. Ông phụ trách bến đeo băng đỏ lại bảo "Cụ cứ đàn đi, đừng cho ai ngủ cả để còn canh đồ, phòng kẻ gian lấy trộm”. "Phải đấy, phải đấy, cụ cứ đàn đi" - Nhiều ng­ười hưởng ứng. Thế là ông cụ đàn mãi, đàn mãi cho đến khi tay buông phím thì miệng đã ngáy ồ ồ... Liệu hậu sinh có khả úy? Ông Khoà mời ông Thành đàn vài bài cho vui. ông Thành thật thà:

- Thú thực với bác, em hát chỉ là tàm tạm chứ đàn thì thua bố xa. Xin bác cho em đ­ược hát.

ông Thành nâng đàn lên dạo một khúc rồi cất giọng ca bài Suối mơ.

ông Khoà gật gù bảo:

-Anh cho nghe vài bài khác nh­ư Thiên Thai, Trư­ơng Chi, Biệt ly, gì gì nữa tôi không nhớ đầu đề. Hồi ở quê, nhà liền vách với trư­ờng học, đêm khuya có ông giáo hay hát những bài này, tôi thích lắm.

Theo yêu cầu của chủ nhà, ông Thành ca liền năm sáu bài, giọng đùng đục, đàn cũng không dạt dào, thánh thót bằng ông cụ. Như để bù lại phần âm thanh ch­ưa mấy hoàn hảo, mắt ông Thành lim dim thả hồn vào cõi mộng, tấm thân gầy lúc ngả nghiêng, lúc đờ đẫn, lúc oằn xuống rồi lại v­ươn lên, quằn quại nh­ư muốn móc hết ruột gan ra mà phô bày. Vợ con ông Khoà khép nép ra xin phép ngồi nghe. Mấy người nhà kế bên đội m­ưa kéo sang. ông Thành cứ say sư­a, ngư­ời nào ra hiệu chào thì ông vừa hát vừa gật đâu đáp lễ, ai không chào thì ông cũng coi như­ không biết. Ông Mẫm thuộc diện thứ hai, chen lên ngồi cạnh ông Khoà. Nghe qua vài bài ông ta đánh tiếng:

- ông anh đàn hát hay đấy! Như­ng toàn nhạc vàng!

ông Khoà đứng dậy vỗ vai ông Mẫm, cao giọng:

- Khuya rồi. Mời bà con về nghỉ cho ông khách đây nghỉ với... Anh Mẫm! Mời anh ở lại làm quen với anh Thành, dân văn nghệ văn gừng với nhau, đừng phách lối nữa.

ông Mẫm ng­ười một mẩu, lũn cũn đến bên ông Thành, đằng hắng một cái rồi mới nói:

- Nể lời mời của bác Khoà trư­ởng bản, tôi ở lại. Khách của Bác cũng là của tôi. Xin bắt tay nhạc sĩ…Tôi là Mẫm, làm nghề hớt tóc kiêm thông tin viên, chuyên vẽ tranh tường, khẩu hiệu và tổ chức cho các cháu phát thanh tin tức. Ngư­ời ta gọi là Mẫm họa sĩ hay Mẫm thông tin cũng là tôi. Tôi vẽ, ông đàn, chúng ta làm quen với nhau. Nhà tôi ở đầu dẫy này, mai mời nhạc sĩ ghé qua xem bức cuốn thư­ đang tô màu. Thôi tôi về. Chào bác Khoà nhé.

Chờ tiếng guốc ông Mẫm xa hẳn, bà Khoà b­ưng ra hai tô cháo cá suối mời chồng và khách dùng cho ấm bụng.

Hôm sau m­ưa nặng hạt, ông thợ hàn định xin lại giấy tờ để lên đ­ường thì ông Khoà bảo:

- Anh gánh nặng lại đàn địch lỉnh kỉnh thế này, đợi ngớt mư­a hãng đi. Để tôi chạy qua mấy nhà hỏi xem có ai hàn gì không, nhờ anh hộ cho luôn thể.

Thế là mấy nhà đem nồi soong đến. Đám thanh niên chẳng hàn vá gì cũng kéo nhau sang xem ông thợ với cây ghi-ta. Vốn quen cảnh mọi ng­ười xúm quanh xem mình làm việc, ông Thành cứ thản nhiên đục, vá, trát, chít.

Ông Khoà pha một ấm trà móc câu Suối Giàng mời ông Thành nghỉ tay. Thấy mọi ng­ười vẫn đứng nhìn mình như­ xem triển lãm, ông Thành biết ý, uống xong chén nư­ớc là cầm đàn đàn lên, từ tốn:

- Hôm qua ông Mẫm họa sĩ có nhắc tôi là hát toàn nhạc vàng. Bây giờ xin được sửa sai.

Ông hát liền mấy bài thật hùng dũng: Bao chiến sĩ anh hùng, Không quân Việt Nam, Tiến về Hà Nội…Rồi cả những bài mà thanh niên miền núi ư­a thích: Tình ca Tây Bắc, Lời ca gửi noọng, Tiếng hát giữa rừng Hoa Ban, Suối Mường Hum chảy  mãi.

Mấy ng­ười rỉ tai ông Khoà:

- Bác giữ ông ấy ở lại mấy bữa cho vui.

- Tôi cũng nghĩ vậy nh­ưng từ từ để xem ý tứ ngư­ời ta thế nào đã chứ.

Nể tình ông Khoà và bà con Bản Phố, ông Thành giảm máu phiêu lư­u. Mà cái bản này cũng đến là hay. Chỉ có hơn m­ười nóc nhà, chọn đ­ược nơi ngã ba đắc địa: Một nhánh lên các xã vùng cao, một nhánh về huyện và một nhánh nữa là đư­ờng đi tắt ra Sông Đà; Dân quanh khu vực thư­ờng qua lại, vài năm nữa có thể thành chợ. Dân Bản Phố đều là ng­ười miền xuôi lên đây xây dựng quê h­ương mới. Năm đầu họ ở bản khai hoang hoặc xen ghép với bà con dân tộc, đám thợ may, cắt tóc, chữa xe đạp, chữa đồng hồ rất khó làm ăn vì thưa khách. Để cánh thợ khỏi bỏ núi về xuôi, huyện mời họ về ngã ba này lập thành Hợp tác xã phục vụ tổng hợp. Bản Phố khai sinh từ đó.

Ông Thành bỏ ra ít vốn dựng một túp con con, mở hiệu  gò hàn, công việc đều đều. Vui nhất là các buổi tối, nhiều người tụ tập xem ông dạy đám thanh niên ca hát. Cái Thảo, cái Hoa có giọng hay hơn cả đ­ược ông dựng cho một tiết mục song ca, đi biểu diễn trên xã rồi lên huyện dự hội diễn, ẵm tấm giấy khen đầu tiên cho bản về phong trào văn nghệ. Chỉ khổ một nỗi là từ khi có ông Thành, cái Thảo, cái Hoa có phần sao nhãng việc trèo lên chòi đọc các bản tin trên xã gửi xuống khiến ông Mẫm cứ phải đôn đáo mỏi mồm. Chết cái hai đứa mười tám đôi m­ươi này lại kháu khỉnh, là niềm tự hào của ông Mẫm mỗi khi dẫn hai đứa đi dọc phố đến chòi đọc tin rồi lại đưa về tận nhà. Vợ Mẫm mở hàng bánh cuốn sắn, suốt ngày làm bạn với hành mỡ, bột bẹt, ngực bụng rồi mông nữa cứ phè ra, "Chỉ một cú gác là Mẫm ta thành con dán” - Ng­ười ta đồn vậy. Có kẻ còn phô với bà chuyện ông Mẫm bám cái Hoa, cái Thảo. Bà bĩu môi:"Sính gái thế thôi chứ cho cũng chả dám. Mà có ma nào thèm cái ngữ một mẩu. Vẽ vẽ vời vời, tin tin tức tức, nhiều hôm bỏ đồ nghề đi suốt. Rời con này ra á! Có mà lấy khẩu hiệu đổ vào mồm! Sĩ diện rởm, vô tích sự, chẳng n­ước non gì, rõ chán!".

Lại nói chuyên cái Thảo, cái Hoa mê học hát hơn đọc tin khiến ông Mẫm căm ông Thành. Lựa hôm ông Thành ra Yên Bái sắm thêm đồ nghề, ông Mẫm leo qua chỗ đặt vỉ ruồi ở nóc nhà mà ông Thành cố tình bỏ trống để “đón gió và ngắm trăng sao",  lấy đi cây ghi-ta đem  thả xuống cái hang sâu nhất trên núi Nài sau bản.

Từ ngày mất đàn, ông Thành như­ kẻ mất hồn, chỉ căm cụi làm ăn? chẳng giao tiếp với ai, chiều chiều vác cần câu ra suối cho khuây khoả. Đám thanh niên đến an ủi, bảo hát không đàn cũng chẳng sao. ông lắc đầu: “Bố tôi khi còn sống dạy là hát không đàn khác gì lũ trẻ trâu, mình sonphe, mêtót đàng hoàng không thể đơn sơ như­ vậy. Thôi các anh các chị về đi, có cậy răng tôi cũng không hát đâu".

Từ ngày không học hát, cái Thảo, cái Hoa cũng bỏ luôn việc đọc tin. Ông Mẫm bực lắm, hay chúng nó biết mình phá thằng Thành nên trở mặt. Thấy dân bản nhìn mình với con mắt khác, ngay mụ béo nhà ông cũng mát mẻ:"Có tiếng đàn làm vui chúng nó cũng lấy đi. Đúng là cái lũ tai lòi". ông Mẫm chột dạ.

Một hôm bà béo gọi chồng đến bên lò bánh cuốn, thẽ thọt:

- Cái lão Thành cũng máu me ra phết. Chiều hôm qua tôi với bà Khoà ra suối tắm, thấy lão ta núp trong bụi nhìn trộm.

Những tưởng chồng phải lồng lên, ai ngờ "Lão lùn" vỗ đùi đánh đét, cư­ời ha hả:

- Hay rồi! Ta sẽ có cách đền cho hắn.

Nói là làm. Ngay sáng hôm sau, ông Mẫm rủ ông Thành vác đồ nghề lên Phiêng Ban kiếm ăn một chuyến. Gần đến đỉnh đèo đã nghe thấy tiếng hát véo von như­ tiên nữ mời gọi. ông Thành bảo:

- Dừng chân nghe cái đã.

- Cứ đi đi, tớ đưa cậu đến thăm tiên nữ.

Ông Thành gạt phắt:

- Bố con tớ từng cụt hứng vì "Văn kỳ thanh bất kiến kỳ hình". Hồi mới giải phóng, ông cụ tớ mê giọng hát của một cô ca sĩ, đến nỗi có lần khi đài ga-len mới gióng: "Qua giọng hát của..." là cụ đã ôm lấy đài, vặn hỏng cả vô-lum, thế là khỏi nghe. Qua Hà Nội, nghe tin đoàn cô ta biểu diễn ở Nhà hát Nhân dân, hai cha con chen mãi mới mua đ­ược vé. Vào xem thì ôi thôi, nhan sắc tiên nữ mà ông cụ mỏi mắt kiến hình thua xa bà xã răng đen.

- Lần này thì tuyệt cú mèo cả đôi đàng, đi đi khác rõ!

Ông Mẫm lôi ông Thành đến một hiệu may nhỏ ven đư­ờng. Cô thợ may vừa đạp máy rào rào vừa luôn miệng hát những bài quen thuộc.

Lúc cô ta ngửa mặt lên chào khách, ông Thành há hốc mồm ra vì ngạc nhiên: Ng­ười đâu mà trắng trẻo xinh đẹp đến thế, lại vận toàn đồ đen đến là nổi.

Vốn là chỗ quen biết với cô Lâm, ông Mẫm tự nhiên như­ ngư­ời nhà:

- Lâm này, anh vào Đài truyền thanh chỗ thằng Tín bạn anh ấy. Tí về ngay. à quên, giới thiệu với em đây là anh Thành, cây văn nghệ Bản Phố. Hai anh em nói chuyện nhé...

- Chắc anh Mẫm đã kể về em cho anh nghe rồi. Anh nói gì đi chứ. - Cô Lâm chủ động.

Ông Thành không biết nói gì, cứ ngồi thừ ra ngắm cô Lâm khiến cô lúng túng.

- Em đẹp quá! - Ông Thành thốt lên.

Cô Lâm đỏ mặt nom càng xinh.

- Hồng nhan bạc mệnh anh ạ. . . Anh không nói thì hát cho em nghe vậy. Cây văn nghệ mà.

- Không có đàn, anh không hát đ­ược. Em thông cảm.

- Đàn đây. Đàn đây. Hát đi. - ông Mẫm chạy về, ấn cây ghi-ta vào tay ông Thành rồi cắp hòm cắt tóc ra gốc muỗm hành nghề.

Bị bất ngờ, ông Thành ôm đàn, ch­ưa biết hát bài gì. Búng vu vơ vài nốt, không hiểu sao lại trúng vào khúc dạo đầu của bài Bóng ai qua thềm thế là ông hát luôn.

Cô Lâm dừng chân đạp máy, ngồi nghe rất chăm chú, hết bài này sang bài khác. Không hiểu lắm về dòng nhạc này nên cô chỉ gật gù, khen chiếu lệ.

Nhận ra điều đó, ông Thành mất hứng, đặt cây ghi-ta xuống. Cô Lâm cũng không giục mà thản nhiên đạp máy.

Để xua đi sự im lặng, cô Lâm vừa làm vừa se sẽ hát: Những ánh sao đêm, Tình em… ông Thành cầm đàn lên, lựa theo lời ca mà bập bùng. Nh­ư để thử tài ông Thành, cô Lâm hát mấy bài thật khó: Xa khơi, Câu hò trên bến Hiền L­ương, Bài ca hy vọng. ông Thành vẫn đệm tốt. Tiếng đàn, lời hát nương tựa vào nhau đẹp nh­ư cậu vào với mợ. Không như anh Tín ở Đài truyền thanh, chỉ đệm được những bài đơn giản. -  Cô Lâm nghĩ vậy.

Ngước nhìn qua cửa sổ mở to tr­ước bàn máy, cô Lâm bảo:

- Anh thấy núi đây đẹp không. Mùa này nắng vàng, nhìn mãi không chán.

- Anh sẽ nhờ thằng Mẫm vẽ bức tranh em hát, anh đánh đàn cùng nhìn ra dẫy núi dát vàng. - ông Thành tán. Cô Lâm  cười ngất:

- Còn thiếu. Thiếu một ng­ười.

- Thiếu ai?

- Thiếu bà xã cầm dao bầu đứng ở cửa.

- Thế thì em cầm dao luôn đi, đỡ phải vẽ thêm ng­ười.

- Em mà biết cầm dao thì. . .

- Thì sao?

- Thì đã có đứa . . .

- Đứa nào? - ông Thành hỏi. Cô Lâm lặng thinh, mặt tái đi khiến ông không dám căn vặn nữa.

Tối hôm đó, một cụ già ng­ười Thái mà cô Lâm gọi là bà chống gậy đến ngủ, hai ông thợ vào bản nghỉ nhờ.

Suốt đêm, câu chuyện xoay quanh cô Lâm. ông Mẫm kể: Lâm là con một gia đình ng­ười Kinh ở Tạ Khoa. Phải lòng anh nhạc sĩ đi sư­u tầm văn nghệ dân gian. Dân quân xã bắt được hai ng­ười đang ăn nằm với nhau trong lều nương. Lúc ấy anh nhạc sĩ mới thú thực là vợ con rồi, không thể xây dựng cùng cô Lâm. Cô nhảy xuống sông Đà tự vẫn nh­ưng không chết. Để tránh tiếng cho con, bố mẹ cô bán trâu, bán lợn, mua một cái máy khâu cũ, gửi cô đi học nghề rồi mở hiệu may trên đỉnh đèo (nơi có đôi vợ chồng người Thái kết nghĩa với gia đình ông từ hồi chống Pháp). Những mong xa xôi ngư­ời ta không biết, con gái có thể kiếm đư­ợc tấm chồng. Nào ngờ, tiếng dữ cũng đồn xa, cánh lái xe và ối kẻ qua đây biết tiếng cô, t­ưởng cô dễ dãi, buông lời bờm xơm là bị cô đuổi thẳng: "Tôi có lầm lỗi cũng là với anh nhạc sĩ chứ ch­ưa đến cái ngữ các anh đâu". Cũng có vài đám bỏ qua chuyện cũ, có ý xây dựng cùng cô như­ng đều lặng lẽ rút lui vì thấy cô kênh kiệu. Ngỏ ý, cô c­ười nhạt: "Lâm đư­a đám chuyện đó rồi! Quanh năm áo đen, anh không thấy sao!". Ngư­ời ta bảo cô trả thù tình yêu. Thù đâu chẳng thấy, chỉ thấy ngoặc đơn ngoặc kép đã hiện trên gư­ơng mặt. Băm mấy nhát rồi, không khéo chết già.

- Mày cũng là nhạc sĩ, nhạc sĩ Bản Phố. Hay là xong đi. Thui thủi một mình làm gì cho tội - Ông Mẫm tỉ tê.

Ông Thành nghe xuôi xuôi. Ông Mẫm quay sang làm tư­ tư­ởng cho cô Lâm:

- Em xem, cái nhà anh Thành cũng dân đàn hát, kém gì cái gã sư­u tầm?

- Anh hay nhỉ! Làm mối mà đi nhắc chuyện cũ, chẳng tế nhị gì cả.

- Xin lỗi. Xin lỗi. Như­ng anh Thành đứng đắn hơn là cái chắc.

- Anh lại so bì rồi. Em đã qua thời con gái, không thể nông nổi. Anh cho em nghĩ. Rằm tháng sau mời hai anh lên đây, em xin trả lời.

Đúng hẹn, hai ông thợ lên Phiêng Ban. Không ngờ, cô Lâm điệu cả bố đẻ, bố nuôi cùng ngồi vào mâm rư­ợu. Chuyện làm ăn, chuyện chạy giặc ngày xưa, chuyện phong tục mỗi nơi mỗi khác. Rồi ông bố nuôi hát Thái, bố đẻ hát Chèo, ông Thành phá lệ không đàn cũng cố hát để gây thiện cảm. Chỉ có ông Mẫm là không hát, thỉnh thoảng nhấc đũa, gắp cho mọi ng­ười... Gà gáy, bữa rư­ợu đã tàn, ông Mẫm sốt ruột vì chuyện đôi lứa vẫn chưa đ­ược bố Lâm hỏi đến. Mình là hàng d­ưới, chẳng nhẽ lại đánh tiếng trư­ớc, biết thế mời thêm ông Khoà để ông ấy có nhời, đỡ phải hát hò nhiêu khê, ê hết cả mông cả gối!… Cô Lâm bư­ng đĩa dư­a Mèo vào, lễ phép:

- Mời bố và hai anh.

- Ra tao bảo đây. - ông bố đẻ kéo con gái ra đầu nhà nói. - Tao với bố nuôi mày đã tranh thủ bàn với nhau bằng tiếng Thái lúc đang uống rư­ợu rồi. Anh Thành này thực bụng. Nếu mày ­ưng thì bảo anh ta sửa cái lễ mọn, nhờ ngư­ời xuống Tạ Khoa là đ­ược.

Thế là nên vợ nên chồng.

Đôi uyên ương từ ngày về với nhau là lăn lư­ng ra làm, nhà cửa chẳng màng tu sửa. Hỏi thì họ nói là dành dụm để mua một cây đàn, cái khác tính dần cũng không muộn. Dân Bản Phố thấy cũng có lý, tối tối không sang ngắm cô Lâm và nghe hát nữa, cho chồng gò, vợ may, nhanh đến ngày tậu cây đàn mới.

Dịp Noel năm  ấy lạnh thấu x­ương. Ông Thành xuống huyện bắt xe về Hà Nội mua đàn.

Ba ngày sau, ông hớn hở cầm cây đàn thơm mùi gỗ thông chạy về đến đầu phố, định reo lên: "Lâm ơi đàn đây rồi!" thì ông Mẫm đã chạy ra lôi ngay vào nhà mình, khóc rống lên:

- Khổ thân mày Thành ơi! Khổ thân mày!. . .Vợ mày không còn nữa rồi . . . Khổ ơi là khổ. . . Rét đến vũng nước đóng băng, vợ mày đêm hôm kia băng huyết nằm một mình, cảm lạnh mà không ai hay... Sao mày đi mà không nhờ bọn cái Thảo, cái Hoa sang ngủ... Tao đến vô tích sự, biết mày vắng nhà cũng không sai vợ con sang xem củi lửa ra sao. Vợ chồng trẻ đâu có kinh nghiệm. Khổ thân mày! Tao cũng ân hận vô cùng! Thành ơi!

ông Thành vùng khỏi tay ông Mẫm lao về nhà thì bà con chạy ra giữ lại: "Bình tĩnh! Bình tĩnh! Chú Thành ơi! Bình tĩnh!”.

Phải hứa với mọi ng­ười là đã trấn tĩnh, ông Thành mới đ­ược đến bên vợ. ông cắn răng không khóc để nhìn gư­ơng mặt thân yêu lần cuối. ông ngư­ớc lên nóc nhà để ngăn không cho n­ước mắt ứa ra rơi xuống thi thể vợ. Bỗng thấy hai cái vỉ ruồi trống hoác, chợt hiểu ra điều gì, ông hét lên:

- Tại anh! Tại anh! Rét thế mà hai cái vỉ ruồi kia không đan phên đắp vào lại đi mua đàn.. . Này thì đàn! Thì đàn này! - ông phang luôn cây đàn mới tinh vào cột nhà cho vỡ vụn. Sợ ông đập đầu luôn vào đó, ng­ười ta xúm đến dìu ông ra ngoài. Kèn trống nổi lên làm lễ nhập quan.

Sau trăm ngày, ông Thành bán chiếc máy khâu để trang trải đám tang, còn bao nhiêu đem lên Tạ Khoa đư­a cho bố mẹ vợ. Rồi ông trở lại Bản Phố, bán căn nhà nhỏ, gánh đồ nghề đi đâu không rõ. ông Khoà, ông Mẫm và dân bản cố giữ ông ở lại mà không đ­ược.

Hà Nội, mùa đông 2002

 

 

 


 

MỘT LẼ SÂU XA

 

  Chúng tôi tạm xa nhau mấy năm. Những ngày qua luôn hiện lên trong tôi lâng lâng một niềm tin yêu, thấm thía…

  Hồi còn làm ở Nghĩa Lộ, trong một chuyến về xuôi công tác, tôi vào ăn ở cửa hàng số 1 trước cửa ga Yên Bái. Tôi rất ngạc nhiên thấy một cô phục vụ tay bế con, tay dọn dẹp bát đũa. Cô ta đeo tạp dề trắng in số hẳn hoi, không thể lẫn với khách hàng. Đành rằng lúc này vắng người, nhưng tôi vẫn thấy cô ta tùy tiện. Mà cô ta trẻ thế, chỉ mười bảy mười tám đã có con? Thầm tiếc cho tuổi trẻ của cô gái, tôi đưa mắt đi chỗ khác. Lại gặp cảnh khó coi: Một chị khoảng hăm bảy hăm tám bưng bát phở và lấy và để; phụ nữ gì mà ăn uống thế!...Chị ta đứng dậy húp đánh soạt cho hết bát phở rồi vừa lấy đũa lau mồm vừa bước đến bên cô phục vụ đang bế con. Lạ chưa, đứa trẻ trườn khỏi tay mẹ, sà vào lòng chị ta. Chị ta rối rít:

-  Cảm ơn cô. Không có cô thì nó chẳng cho ăn.

-  Có gì đâu, chị…Cô phục vụ nói và đi lấy một bát nước đem đến:

-  Chị uống nước đi này!

Chia tay với hai mẹ con, cô ta thơm cháu bé một cái rõ kêu:

      - Cháu đi, hôm nào lên lại vào thăm cố nhé.

Tự trách mình hồ đồ, nghi oan cho cô gái đáng mến, tôi nhìn cô ta mãi. Dáng người thon thả, nụ cười ánh lên bởi đôi hàm răng rất trắng…Hình bóng cô ta vấn vương trong tôi suốt chặng đường tàu xuôi đêm đó.

Làm việc xong, tôi ngược lên luôn. Khách xuống tàu vào cửa hàng khá đông, tôi cũng đi theo họ. Cô ta kia rồi, đang cùng mấy chị em bưng những khay đầy cơm phở, lách giữa các bàn như con thoi. Dáng thon thả khiến cô ta lanh lẹ hơn trong công việc. Chỗ này gọi, chỗ kia gọi, cô ta vẫn: “Dạ”; “Vâng”; “Bác chờ cho một tí”…Nụ cười vẫn niềm nở, đôi hàm răng sáng, những giọt mồ hôi lấm tấm trên trán lăn dài xuống đôi má hồng hào, cô ta dễ ưa quá, càng đông cô ta càng vui thì phải.

Ăn xong, tôi nán chờ cô ta đến dọn bàn. Tôi xếp bát đũa gọn gàng như để báo cáo với cô rằng tôi là một khách hàng lịch sự. Cô ta đã đến, tôi bưng chồng bát đặt lên khay cho cô.

- Cám ơn anh. Cô ta lẽ phép nói.

Tôi phấn khởi với việc làm ấy của mình cho dù trong ánh mắt của mấy khách ăn nhìn tôi hôm đó có một anh tỏ ra khinh khỉnh như muốn kháy tôi: “Đồ nịnh đầm!”.

Thiên hạ khó chiều, tôi giúp cô ta thì có sao…Tình thực cũng si mê đôi chút, nhưng tôi dằn lòng ngay, bởi lẽ cô ta khá xinh mà tôi thì xấu trai lại ở xa hàng trăm cây số. Ấy thế mà nhiều lúc vẫn mơ màng: “Trăm năm biết có duyên gì hay không?”

Lâu không gặp lại, nỗi si mê ấy cũng nguôi dần. Nhưng mỗi lần bước vào các cửa hàng ăn, hình bóng cô ta lại hiện lên trong tôi, khiến tôi mong có dịp ra Yên Bái. Hiểm nỗi chẳng có công việc gì cần về xuôi. Sao dạo này tôi hay nhớ nhà, tôi xin cơ quan đi nghỉ phép.

Xuống xe, tôi vào ngay cửa hàng. Cô ta chạy đâu nhỉ? Tôi ngồi ăn chầm chậm, hồi lâu mới hết suất cơm, mắt không rời phía cửa thông xuống bếp. Tôi ăn thêm bát phở, rồi cố một đĩa bánh cuốn nữa mà cô ta vẫn chưa về. Xỉa răng, uống nước hàng nửa giờ, sốt ruột quá tôi đành nghé vào bếp xem sao; cũng không thấy, hỏi ai bây giờ? Tôi đành xách túi ra tàu, tiêng tiếc cho cái phép, hy vọng khi lên vậy.

Rủi cho tôi, hôm trả phép lại gặp xe ông trưởng ty ở Hà Nội, đành phải đi cùng. Tôi rủ mọi người về Yên Bái ăn ở cửa hàng số 1, có đông nhưng nấu khá ngon. Mấy anh bạn tôi gạt phắt:

- Về nhà thủ trưởng chiêu đãi, hôm sau lên thẳng ty là vừa. Tôi đành phải theo họ.

Trưa hôm sau, xe sắp qua cửa hàng, tôi bảo anh lái xe:

- Suýt thì quên mua quà, cho mình xuống đây một tý.

Xe dừng lại, tôi chạy vào cửa hàng. Nhìn khắp lượt chẳng thấy cô ta, nhìn vào bếp cũng không. Một chị phục vụ hỏi tôi:

- Anh cần tìm ai ạ?

- Không …không …À…Mua bánh kẹo ở đâu chị nhỉ?

- Anh đến quầy giải khát đằng kia.

Tôi mua được mấy gói kẹo, nhìn lại cửa hàng một lượt nữa rồi ra xe. Cô ấy chuyển đi đâu rồi?

Xe chúng tôi vừa lăn bánh thì lại phải dừng, nhường đường cho một chiếc xe tải chở than rẽ vào cửa hàng, mấy cô áo nâu, áo đen đứng trên xe. Đúng cô ta rồi! Dáng thon thon, răng rất trắng, không lẫn vào đâu được. May mà lúc ấy cô ta đang cười, chắc là bụi than vương trên mặt đã tôn hàm răng lên cho tôi dễ nhận. Lúc nào cô ấy cũng vui thì phải, đúng như câu tục ngữ của người Thái “Con gái hổ tha vẫn cười”.

Ô tô qua phà, vượt dốc băng đèo vào Nghĩa Lộ. Ông Trưởng ty khoác vai anh lái xe, ngâm mấy câu thơ. Trong xe lắc lư, chúng tôi khe khẽ ngâm theo (thơ trong sách giáo khoa, chẳng mấy người không thuộc). Đời lắm lúc nên thơ.

Tỉnh Hoàng Liên Sơn thành lập, ty mới điều tôi ra dạy ở một trường đóng tại thị xã Yên Bái. Với nghề giáo chúng tôi, được đứng lớp thú hơn làm công tác quản lý. Trường tôi chỉ cách cửa hàng cô ta vài cây số.

Từ đó, tôi hay ra cửa hàng. “Áo năng may năng mới, người năng tới năng thương”, các cụ dạy thế mà. Cô ta vẫn nhanh nhẹn, tươi trẻ, lại có phần đẹp ra do mái tóc mới uốn thành những đợt sóng óng ả, bồng lên, ôm lấy gương mặt thanh tú. Mái đầu gọn gàng khiến ánh mắt cô ta lanh lợi hẳn lên. Tôi bỗng thấy ngài ngại, vui buồn lẫn lộn. Vui vì cô ấy đẹp, buồn cũng vì cô ấy đẹp. Hình như cô ấy bắt đầu làm đỏm. Hay đã lọt mắt anh chàng bảnh trai nào? Còn tôi thì….không thể xứng với cô ta về mặt này. Leo cao làm gì cho ngã đau? Trâu ta ăn cỏ đồng ta, lùi về tìm hiểu một cô giáo nào đấy có hơn không?...Nghĩ vậy, nhưng hình ảnh cô ta bưng bê, chạy đi chạy lại như con thoi, mồ hôi lăn trên má, niềm nở, ân cần, sẵn lòng giúp đỡ mọi người; đâu phải ai cũng được thế…Có làm đỏm một tý thì đã sao, cứ yêu thì mới chải chuốt à? Ngoài mái đầu mới uốn cho gọn, cô ta vẫn mặc bình thường như trước cơ mà…Yêu ai thấy người ấy đẹp cũng nên…Những ý nghĩ đó xui tôi chớ tự ti, hãy vững tâm tiến tới.

Tôi năng ra cửa hàng hơn mà vẫn chưa làm quen được. Nếu cô ta cũng làm nghề dạy học như tôi thì thân nhau rồi đấy. Cuộc sống đa dạng. Hạnh phúc đâu phải bữa cỗ mời. Phải kiên trì thôi, lượng đổi chất đổi, tôi tin thế.

Một hôm, có mấy anh mặc hơi càn, ngồi ăn với nhau, thỉnh thoảng lại ngoái cổ buông lời trêu cô ta.

-  Cô em ơi, tên em là gì?

-  Làm cao thế!

-  Được em về bưng cơm cho thì nhất hội.

Cô ta phớt lờ. Mấy anh chàng ăn uống nhồm nhoàm, nói cười hô hố, thỉnh thoảng lại liếc trộm cô ta. Ăn xong bọn họ đứng ngồi ngông nghênh, phì phèo thuốc lá. Cô ta đến, bình thản:

-  Các anh đứng gọn một chút cho tôi dọn bàn.

-  Cô em cứ tự nhiên.

-  Người đẹp, cơm ngon, búa bổ thật. Bọn họ tranh nhau nói.

Cô ta bưng khay vào. Bọn kia nói với theo:

-  Tạm biệt cô em nhé

Đứa thọc tay túi quần, đứa bá vai bá cổ nhau, khệnh khạng đi ra, lè nhè, hằn học:

-  Chú mày vét đĩa, chẳng nhả được câu nào đáng tiền.

Cô ta trở lại dọn bàn, tôi mạnh dạn:

-  Chị ạ. Chẳng cần lịch sự với bọn ấy. Cứ choảng cho chúng nó mấy câu thật đau, mất mặt là phải chừa.

-  Làm thế họ chẳng chừa đâu, anh ạ. Cứ vờ như không nghe thấy, họ bị tẽn là khắc xấu hổ. Trừ khi họ quá đáng thì ôn tồn góp ý và tranh thủ sự đồng tình của khách hàng.

-  Im lặng chưa chắc chúng nó đã hiểu. Tôi nói.

-  Anh cứ yên tâm, chúng em đã rút kinh nghiệm rồi. Đa số là đua đòi, đáng thương thôi. Tháng trước, ông cửa hàng trưởng lôi mấy tướng vào xạc cho một mẻ, dọa báo công an về tội trêu ghẹo phụ nữ làm mất trật tự công cộng. Các cậu xin lỗi rối lên, như trẻ sắp ăn đòn.

Nghe cô ấy nói, tôi như trút được gánh nặng. Lo là lo cho cô ấy thôi. Cái nghề “Làm dâu trăm họ” này phức tạp thật. Tôi chưa biết nói gì để làm quen thì cô ấy đã ân cần:

- Cửa hàng phục vụ những người qua lại là chính, các anh ở gần nên chịu khó nấu thêm thì hơn, cứ ăn ở đây thì tốn lắm. Bọn em, mấy đứa chung nhau cái bếp dầu, trưa thì nồi khoai, trưa thì nồi sắn, cũng nhanh thôi. Chủ nhật cải thiện một tí. Các anh cứ thử làm mà xem, mỗi tháng chỉ mươi đồng mà vẫn tươi. Trông cả vào cửa hàng thì hết lương mất.

- Cám ơn chị. Tôi sẽ…

Thế là vừa quen, cô ta đã cấm cửa. Vô tình thôi, nhưng biết làm sao bây giờ?...Đã thực yêu cô ta chưa? Khó mà trả lời cho dứt khoát! Chỉ biết rằng nếu cô ta là một cô giáo thì không chần chừ gì nữa, tôi sẽ nói: “Anh yêu em”.

Tôi không dám đến cửa hàng, phải nghe lời cô ta chứ. Đang bí kế, lại bận thêm: Tôi phải tham gia dạy bổ túc văn hóa.

Trong sổ điểm hai lớp mà chị giáo viên nghỉ đẻ bàn giao cho tôi, chẳng có Thanh nào cả. Chị em trong cửa hàng gọi cô ta là Thanh mà. Tôi hỏi chị giáo viên mới biết cửa hàng số 1 cũng có mấy người học bên 10A, cả ông cửa hàng trưởng thì phải. Tôi được dạy 10A nhỉ, nhưng thế này cũng tốt rồi, đỡ phải ra cửa hàng.

Tối hôm sau lên lớp, tôi gặp ngay cô ta ở cầu thang. Cô ấy tròn mắt nhìn tôi:

- Anh cũng học ở đây à? Sao vào muộn thế?

Tôi ừ ào chưa kịp nói gì.

- Anh học lớp nào?

- 10B

- Em 10A. Sao dạo này không thấy ra cửa hàng.

Tôi chưa biết trả lời ra sao thì mấy cô gái chạy đến: - Thanh ơi, Thanh làm hết bài tập không? – Thế là Thanh theo bạn luôn.

Tối thứ hai tuần sau, tôi đến sớm, ra hành lang đón Thanh. Gặp tôi, Thanh đứng nghiêm:

- Chào thầy ạ! Và chạy biến vào lớp:

Tuần hai buổi, Thanh đi học rất đều, nhưng ít đi một mình, hay lẩn vào tốp bạn gái. Có lẽ Thanh biết ý tôi.

Cũng tình cờ qua câu chuyện về những trận bom Mỹ ném xuống thị xã này mấy năm trước, tôi hiểu được hoàn cảnh của Thanh: Bố là công nhân đường sắt về hưu, mẹ chết bom, đông em. Học hết lớp 7 là Thanh phải đi làm để giúp đỡ gia đình. Mấy năm nay đàn em đã lớn, cô ta mới có thời gian theo học bổ túc văn hóa.

Tôi dạy được hai tháng thì ông hiệu trưởng vận động tôi giúp một nhóm chuyên toán học vào chủ nhật. (Một số học viên là công nhân đề nghị, có cả ông cửa hàng trưởng cửa hàng ăn uống số 1. Ông này học lực trung bình nhưng lại rất mê toán. Trường chỉ định ông ta làm nhóm trưởng). Chủ nhật, tôi cũng chả có việc gì, thường đi chơi về lại xem sách. Tôi nhận lời và hy vọng ở sự giúp đỡ của ông này.

Hôm khai mạc, Thanh và hai cô nữa xách túi đến. Ông cửa hàng trưởng tha thiết đề nghị:

- Báo cáo thầy giáo, ba cô đều ở cửa hàng chúng tôi cũng muốn học thêm. Nghề chúng tôi cần toán lắm, thầy giáo vui lòng nhận cho.

Còn vui mừng nào hơn, nhưng tôi cố kiềm chế để nói một câu thật mô phạm:

- Xin hoan nghênh tinh thần hiếu học của các đồng chí. Càng đông, chúng ta càng phải cố gắng.

Nhóm chuyên toán tiến băng băng. Ông cửa hàng trưởng lúc đầu còn ì ạch, tôi kèm riết, sau ba tháng ông ta đã bỏ xa những học viên ngoài nhóm. Hai lớp tôi dạy cũng đạt điểm khá cao. Ông hiệu trưởng khen tôi hết lời. Anh em học viên trong lớp, nhất là trong nhóm mời tôi lại nhà chơi. Thanh cũng mời, xem chừng chưa nhiệt tình cho lắm nên tôi xin khất.

Việc tôi để ý đến Thanh không lọt qua mắt anh chị em trong nhóm. Không nói ra nhưng ai nấy đều nhìn tôi vẻ khích lệ. Riêng ông cửa hàng trước thì vẫn chưa biết thì phải. Làm sao bây giờ, tôi đành chủ động.

Sau một tối phụ đạo riêng cho ông, tôi hỏi ông về Thanh. Lấy rượu thuốc rót mời tôi, ông ta đi ngay vào việc:

- Thầy giáo bỏ lỗi cho tôi nhé. Tôi biết ý thầy đã lâu mà chưa dám thưa chuyện…Chả là năm nay nó xin đi đại học, chúng tôi đã nhất trí. Thầy giáo biết đấy, nó đã thiệt thòi nhiều. Bây giờ lấy chồng, năm sau vừa ôm con vừa học, không theo kịp, rồi lưu ban, lại xin về cho mà xem. Ối cô như vậy rồi. Con bé được cả nết lẫn người, đường học hành mà lại dang dở một lần nữa thì tội cho nó quá. Nghĩ sao nói vậy, thầy giáo đừng giận.

Tôi đâu dám giận ông, chỉ phục ông thẳng, chân tình. Mặt nóng ran, như để giữ thể diện, tôi chống chế:

- Cháu chưa có ý gì đâu, thấy cô ta dễ thương nên hỏi thế thôi bác ạ.

Ông ta lại rót rượu mời tôi và lái sang chuyện khác.

Thanh ham học, tiếp thu nhanh. Đến lớp cô ta vui như chim sổ lồng, đến nhóm thì bẽn lẽn, khó hiểu. Ý kiến của ông cửa hàng trưởng và thái độ của Thanh làm tôi đắn đo, có lúc định rút lui…Nhưng rút sao nổi vì tôi đã thực lòng yêu cô ấy.

Ít lâu sau, Thanh đến nhóm đã vui vui, lắm lúc còn đùa nghịch. Tôi đánh bạo mời cô ta đến chơi. Thanh nhận lời. Tôi dọn căn phòng cho gọn đẹp, mua một chục cam sành và một gói chè hương. Đúng hẹn, cô ta đến, nhưng lại rủ một cô bạn tên là Lan làm ở cửa hàng số 2 đi cùng…

Từ đấy thành bộ ba, tôi hay mời hai cô đi xem phim, xem văn nghệ vào các tối thứ bẩy…

Sau rồi Lan luôn cáo bận, tôi và Thanh “đành” đi với nhau. Nhiều buổi chúng tôi không xem phim mà đi chơi bên bờ sông, trên đường tàu; chuyện trò về phim ảnh, về ước mơ, về quan niệm sống, về ăn mặc, về cả tình yêu nữa…Nói chung là rất phù hợp. Những đêm trăng đi chơi bên sông Hồng thật là đẹp: Con sông như dát bạc, êm đềm trôi giữa những mái đồi thoai thoải, hiền hòa. Xa xa, núi dăng thành mờ mờ trong ánh trăng huyền ảo. Mây trắng bồng bềnh, sương khói thướt tha, lửa thuyền ấm áp. Gió từ mặt sông thổi bồng mái tóc. Sóng nước lao xao, xình xịch đoàn tàu chuyển bánh, tiếng rì rầm thân quen của thị xã đông vui. Tất cả như thấm vào hơi thở…

 Hôm ấy đi chơi trên đường sắt, mỗi đứa đi trên một thanh ray. Đi mãi, gặp đoàn tàu lao đến. Hai đứa dạt sang hai bên. Tàu qua mà chẳng thấy Thanh đâu. Tôi hoảng quá, chạy theo tàu, gọi to:

- Thanh! Thanh ơi!...

- Em đây cơ mà.

Tôi quay lại thì cô ta đang đứng bên lùm cây ven đường. Tôi chạy đến, hổn hển:

- Thanh làm tôi sợ quá!

- Anh sợ gì cơ?

- Sợ mất em…

…Thế là chúng tôi yêu nhau từ đó. Cô ấy tâm sự “từ buổi học nhóm đầu tiên, em đã biết anh để ý đến em. Anh là giáo viên cấp ba nên em ngại. Em đã nghĩ nhiều về nghề em. Càng gắn bó với cửa hàng em càng thấy sự e ngại ấy là không đúng”. Tôi phục Thanh ở sự chín chắn thường chỉ có trong những người đã qua nhiều gian khổ.

Thanh sắp thi tốt nghiệp nên chúng tôi ít đi chơi, nhưng vẫn luôn bên nhau vì tôi kèm cô ấy học.

Sau hôm thi, tối nào chúng tôi cũng đi, bàn bạc cặn kẽ. Tưởng như mọi việc đều suôn sẻ…

Một hôm xem phim về, còn sớm, chúng tôi ra bờ sông hóng mát. Tôi nói:

- Hay em nộp đơn vào đại học sư phạm đi, cùng nghề vẫn hơn.

Thanh không nói gì, chỉ cúi đầu đi như chạy, tôi phải rảo bước mới kịp. Cô ta đứng lại, ôm mặt khóc rưng rức. Mỗi khi nhắc đến mẹ, Thanh hay ứa nước mắt; xem phim đoạn nào xúc động, nước mắt Thanh cũng trào ra. Thanh cố dấu nhưng tôi vẫn biết. Lần này thì lạ quá. Tôi lay hai vai cô ấy:

- Sao thế em?... Nín đi em…

Dỗ dành mãi, cô ấy mới thong thả:

- Anh buông em ra đã…Hình như anh hơi coi thường nghề em. Em yêu anh ở lòng say mê công việc. Thấy ai đạt điểm cao là anh phấn khởi, bắt tay họ chia vui. Ai học đuối anh chẳng ngại đường xa, mưa gió đến tận nhà để hướng dẫn. Em cũng vậy. Thấy khách ăn ngon là em mừng, họ kêu ca là em buồn, có lúc muốn khóc. Em chẳng muốn nói ra điều đó, sợ anh bảo là khoe khoang. Em biết, vẫn còn những người xem thương nghề chúng em, chẳng may người đó lại là chồng thì…Mấy chị trong công ty em đây, khổ tâm lắm. Cứ dịp cuối năm, tết nhất, việc cửa hàng bề bộn, đi sớm về khuya, có đêm thức trắng, về đến nhà mệt phờ, chồng lại đay nghiến: “Báu gì cái thứ bưng bê hầu hạ mà phải tích cực!.” Em chỉ lo anh…

Tôi tìm đủ cách thanh minh. Tôi nói chán thì thôi, Thanh chỉ im lặng. Thú thực, tôi cũng đôi khi chưa thật trân trọng nghề cô ấy, nên chăng lời lẽ quanh co, lộ cái đuôi biện bạch.

Hai đứa lặng lẽ đi bên nhau. Mưa lâm thâm, gió sông phả vào người man mát rồi lành lạnh. Tôi lấy khăn mùi soa trùm lên đầu cho Thanh, Thanh từ tốn:

- Em tin là sẽ vào được Đại học Thương nghiệp khoa nấu ăn…Như chúng ta đã bàn, anh chịu khó chờ em nhé…Nhưng anh phải bỏ cái lối thiên vị nghề nghiệp đi cơ, nếu không thì…Em nói thực đấy; khó sống với nhau lắm.

Tôi đau lòng nhận điều kiện ấy của Thanh, cũng là tự thú với bản thân cái phần lạc hậu mà lâu nay cứ ngỡ mình không có.

Xứng với cô ta, vấn đề lại đặt ra trong tôi theo mội lẽ sâu xa, khác hẳn lúc ban đầu.

Yên Bái. 1978

 

 

 

 

 

 

THÊM MỘT NÉN HƯƠNG

 

Mẹ tôi vốn là du kích chống Pháp, về hưu đã lâu ở với vợ chồng tôi trong khu tập thể. Dịp mùng tám tháng ba năm ngoái, một cô giáo trẻ cùng mấy cháu học sinh trường cấp hai đến thăm mẹ.

Vào các ngày lễ, tết, các cháu hay đến tặng hoa, mẹ cảm động lắm. Lần này cô giáo mời mẹ ra trường dự ngày hội phụ nữ, kể chuyện đánh giặc. Mẹ bảo:

- Đánh Tây, đánh Mỹ, tôi tinh giữ cái chân "khói um", có gì mà nói. Hay cô và các cháu mời mấy ông tướng ông tá kể chuyện xông pha nơi mũi tên hòn đạn, trẻ nó mới thích.

- Năm ngoái, ngày thành lập quân đội, chúng cháu mời các bác ấy rồi. Mùng tám tháng ba mời bác là chuẩn nhất. Bác kể hồi bác làm du kích, sẽ rất hay ạ. - Cô giáo gợi ý. Mẹ tiếp lời:

- Bác chỉ theo du kích ít ngày, chưa đánh đấm gì đã ra vùng căn cứ làm cấp dưỡng. Kể chuyện nồi niêu, xoong chảo e không vừa lòng các cháu.

- Thế tại sao bà lại vào du kích ạ? - Một cháu hỏi.

Mẹ tôi têm miếng trầu, nói:

- Chuyện ấy thảm lắm ! Các cháu cảm thông cho bà.

- Thưa bác, có thể chuyện cũ làm bác không vui nhưng lại rất cần cho việc học hành. Cũng là vì con cháu mà kể lại bác ạ. - Cô giáo cố nài. Mẹ phân trần:

- Thú thực với cô, ngay thằng con độc nhất đây tôi cũng chỉ nói sơ sơ cho nó biết về tông tích nhà mình. Hay... thư thư cho tôi dịp khác. Tôi còn khỏe, còn sống lâu mà.

Một cháu học sinh vùng vằng:

- Mấy lần chúng cháu vào đề nghị, bà đều khất. Lần này bà không giúp chúng cháu, chúng cháu không đến thăm bà nữa.

Cô giáo lừ mắt, đứa trẻ ấp úng thốt lên?

- Cháu lỡ lời, cháu xin lỗi bà ạ.

Mẹ tôi xoa đầu cháu:

- Không sao, không sao. "Có đi có lại mới toại lòng nhau”. Thôi thì bà sẽ cố.

Hôm mùng tám tháng ba, tôi xin phép đơn vị nghỉ buổi sáng, sang trường nghe mẹ kể chuyện. Để mẹ được tự nhiên, tôi chờ buổi lễ bắt đầu, mới rón rén vào phòng thường trực, xin ông gác trường cho ngồi ké ở đó.

Thầy hiệu trưởng thân mật mời mẹ tôi lên kể chuyện. Trong tiếng hoan hô của thầy trò, mẹ tôi quần trắng, áo dài nhung mầu mận chín, ngực lấp lánh hai tấm huân chương, từ tốn bước lên bục.

Sau mấy lời cảm ơn sự quan tâm thường xuyên của nhà trường và các cháu học sinh đến người phụ nữ bình thường này mẹ tôi bắt đầu kể:

- Thuở tôi mười bảy tuổi...

- Ngày xưa chắc bà đẹp lắm, bây giờ vẫn đẹp ạ. - Một giọng học sinh hô lên, cá trường vỗ tay tán thưởng.

Mẹ tôi cười rung cả mái tóc bạc:

- Bà không được như cháu nào vừa nói đâu. Thôi, để bà kể tiếp...

Năm ấy quê bà mất mùa. Nhà bà không có ruộng, tinh cày thuê cấy mướn nên càng đói tệ. Phải móc rễ khoai, đào rau má, cỏ bợ về ăn. Người ta đến làng mộ phu ra mỏ. Thầy và hai anh bà liều đi cho nhà bớt miệng ăn.

Hôm dân làng tiễn phu xuống thuyền, mưa gió ầm ầm, bến đò lầy như cháo chan. Một tay bà vuốt nước mưa, nước mắt, một tay xốc nách đẻ (bà gọi mẹ là đẻ) cho đẻ khỏi khuỵu trước cảnh thầy và các anh theo người ta bì bõm xuống thuyền. Bỗng thầy lội ngược trở lại, bảo:

- Tao với hai anh mày đi trước. Làm ăn được sẽ đánh dây thép về, mày nhờ người đọc cho rồi giục đẻ mày bán cái nhà rách và mảnh vườn chó ỉa kia đi, theo người làng mà ra mỏ.

Bà chưa kịp vâng thì thầy đã xuống thuyền. Con thuyền nêm cứng sáu bảy chục người tròng trành tháo dây neo. Kẻ trên bờ, người dưới thuyền dặn nhau í ới. Tre pheo vật vã rạp đầu xuống sông như vái lạy. Đẻ báo: "Tre nó cũng biết đưa người". Nhớ lại bà vẫn trờn trợn. Bữa ấy nước to, thuyền thuận gió, xuôi dòng nên chỉ một loáng là lẫn vào mưa. Đêm về, bà và đẻ ngồi nhá rễ khoai dưới bếp. Mỗi lần cố nuốt, đẻ lại nghẹn, bà phải vuốt ngực cho. Bỗng có tiếng trống ngũ liên, tiếng người kêu thất thanh: “Ối giời ôi!". “Ác nghiệp thế, giời ơi là giời!" nổi lên khắp làng. Bà ngơ ngác hỏi:

- Tây càn hả đẻ?

Đẻ đứng phắt dậy, bảo.

- Tây càn thì không ai đánh trống. Chắc là cướp. chạy đi.

Hai mẹ con vừa chạy ra sân thì mấy bà hàng xóm chạy đến kêu khóc:

- Chết hết cả rồi bà ơi! Chết hết rồi !

- Đắm thuyền, phu chết hết rồi !

- Khốn nan thân tôi!

Bà theo dân làng đốt đuốc chạy đi tìm người chết đuối. Đến sáng thì tới một khúc sông vắng. Người ta vớt xác xếp ngổn ngang trên vệ cỏ. Đẻ và bà bủa đi nhận mặt người nhà nhưng không thấy ai. Bà lao xuống sông lặn hụp hết quãng này đến quãng khác. Chính ngọ thì quơ được ba bố con ôm  nhau, chết ngay mép nước mới tội. Mấy người giúp bà khiêng xác lên bờ, đốt rơm ở bên cho đỡ lạnh. Đẻ ôm lấy chồng con gào thét, bà ôm lấy đẻ nấc lên. Người ta quát: "Cô kia gỡ bà cụ ra! Nước mắt rơi vào người chết, chết theo bây giờ!" Hoảng quá, bà lôi bằng được đẻ ra, ghì lấy, không cho đẻ nhào trở lại.

Lặn mặt trời, dân các làng mới vớt gần hết người chết đuối. Có người trôi xa hàng cây số. Mẹ con bà đang tính nước nói khó với ông Khắng cho vay mấy đồng, thuê người chở thầy và hai anh về rồi bán mấy thước vườn trả sau thì một bà già nhỏ thó tay cầm mái chèo đến bên, lân la hỏi chuyện. Nghe đẻ than thở, bà lái đò bảo:

- Tôi đưa đò ngang bến này. Thương tình mẹ con bà khốn khó. Tôi chở cho không lấy công. Hộ tôi một tay khiêng người nhà xuống.

Con đò cắm hương, chở xác thầy và anh hai ngược nước. Đẻ luôn miệng cảm tạ bà lái đò phúc đức. Bà lái đò chép miệng: "Chỉ tại thằng Tây gây loạn lạc, đói khổ, để dân ta phải đâm đầu vào chỗ chết".

Từ đó, bà lái đò hay qua lại thăm nom đẻ. Được nải chuối, mớ ổi, đẻ cũng cắp xuống biển chờ đò xuôi, nhờ người ta đem biếu bà lái đò. Mẹ con bà được bà lái đò giác ngộ, nhận nuôi cán bộ, du kích dưới hầm bí mật. Bà lái đò ấy tên là Nguyễn Thị Thiềng, bà gọi là đẻ Thiềng. Khi đẻ bà mất, đẻ Thiềng gởi bà ra vùng tự do làm cấp dưỡng...

Mẹ tạm ngừng ở đây, lấy khăn thấm nước mắt. Các cháu học sinh đâu biết, sau này, bà lái đò chính là mẹ chồng của mẹ tôi, là bà nội tôi. Tôi sẽ thuật lại ở đoạn sau.

E câu chuyện quá ngắn không thỏa mãn các cháu, mẹ tôi kể thêm mấy mẩu chuyên sinh hoạt kháng chiến của bộ đội, dân công khiến các cháu cười nắc nẻ.

Ngày mùng tám tháng ba, theo sáng kiến của tôi, vợ và con gái ưu tiên cho tôi và thằng con trai việc chi tiêu, nấu nướng. Tối hôm ấy, lúc tôi đang ngồi kê lại các khoản mai còn báo cáo bà xã thì mẹ tôi đến bên, hỏi:

- Con nghe mẹ kể thế được không ?

- Con có đến trường đâu ạ.

- Thế cái mũ lông Liên Xô thập thò trong phòng thường trực là của người khác đấy hẳn. Thôi, nói đi, mẹ kể thế được không?

- Hay! Mẹ ạ. Các cháu chăm chú lắm, có cháu còn khóc nữa. Nhưng đoạn bà và mẹ nuôi cán bộ sao mẹ chỉ lướt qua. Me tôi cười xòa:

- Trẻ nó không ưa chuyện buồn. Anh chẳng tâm lý gì cả !

Thỉnh thoảng, vào những dịp vui, tôi lạt nhắc cái ngày mẹ sang trường kể chuyện cho mẹ phấn khởi. Nhưng lần nào mẹ cũng mỉm cười rồi lảng đi chuyện khác. Tôi không hiểu tại sao?

Cuối  năm nay, mẹ tôi đau nặng, phải mổ khối u trong người có thể nguy đến tính mạng. Mẹ không quá lo lắng, nhưng thần sắc vẫn thoảng hiện nỗi băn khoăn.

Sau khi mẹ làm cam đoan cho bệnh viện thực hiện ca mổ, gia đình tôi lúc nào cũng có người ở bên, tìm mọi cách cho mẹ vững tâm. Tôi tranh thủ về quê (dối mẹ là đi công tác) bàn với họ hàng việc nhỡ ra mẹ qua đời. Bác cả bảo: "Chỉ chờ cái điện anh đánh về là tất thảy sẽ lên đưa tiễn thím ấy. Giờ thì các nhà tiếp tục cắt cử người lên thăm. Chỉ được nói sự vui. Thím ấy mà nói sang chuyện gở là gạt phắt”.

Chiều hôm ấy mưa. Chỉ còn hai mẹ con trong phòng bệnh. Mẹ bào:

- Con khép cửa cho khỏi lạnh. Ai vào họ sẽ gọi. Mẹ muốn bàn với con chuyện này.

Tôi ngồi xuống ghế. Mẹ vào việc:

- Con còn nhớ hồi năm ngoái mẹ kể chuyện ngoài trường không?

- Có ạ.

- Tối hôm ấy con có hỏi sao mẹ chì lướt qua đoạn nuôi cán bộ, phải không nào?

- Đúng thế mẹ ạ.

- Bây giờ mẹ cho con rõ. Thực ra mẹ không phải là du kích, chỉ có đẻ làm. Đều đuôi thế này:

Sau khi chôn cất thầy và hai anh, mẹ và đẻ vẫn ở căn nhà nát bên bở ao. Đẻ nuôi cán bộ nhưng chẳng cho mẹ biết vì không muốn mẹ lụy vào việc hiểm nguy.

Hôm ấy có tiếng ca-nô phành phạch ngoài sông rồi ập vào bến làng. Tây càn. Đẻ bảo mẹ ra hầm vì nhà không có đàn ông sợ lính nó ghẹo, đẻ không ngăn được. Đẻ dặn nhớ cởi áo giấu ở mái chuồng trồ, lúc lên có cái mà vận.

Mẹ làm theo lời đẻ, lội xuống ao, rồi lách vào căn hầm dưới bờ ao. Hầm ngập nước nhưng chua tới nóc, mẹ ngồi nhô đầu lên thở. Bỗng có người chui vào hầm, mẹ thốt lên:

"Đẻ đấy à?". Không phải đẻ mà là một người đàn ông. Anh ta lễ phép xin ẩn nhờ vì hầm anh ta ngập không còn lỗ thở.

Mẹ đuổi ra, anh ta bịt miệng mẹ, bảo: "Chúng nó đến đấy".

Mẹ nghe tiếng chân dậm huỳnh huỵch. Chúng nó quát nhau đào những chỗ khả nghi ở bò ao tìm hầm. Và chúng đã phát hiện ra hầm. Thế là mẹ và anh kia bị bắt.

Chúng trói hai người với nhau dí súng vào lưng giải đi khắp các ngõ. Thằng đội Cường toang toác: "Việt Minh chim gái làng dưới hầm. Chúng ông bắt quả tang". “Nể mặt các cụ, ông cho chúng nó vận cái quần. Chứ lúc bắt lên, có quỷ cũng không dám nhìn". Mẹ và anh kia gào lên kêu oan. Nó bảo: “Ông giao chúng mày cho Tây ngoài ca-nô lĩnh thưởng. Oan thì bầm với Tây. Nó cho đi tàu bay, tàu ngầm, đến mả bố cũng phải khai ra con ạ". Nhưng nó chỉ giải anh kia ra ca-nô, còn mẹ nó sai lính dẫn về bốt.

Đêm ấy mẹ ngồi bó gối trong ngách bốt. Đội Cường mở cửa vào cợt nhả:

- Cho anh góp gạo thổi cơm chung với Việt Minh, anh tha cho.

Mẹ cãi:

- Lui ra. Việt Minh họ không làm thế.

- Thì tao làm. Nói rồi, nó lao vào vật lộn với mẹ.

Mẹ đấm đạp, cào cắn chí tử nhưng không lại, nhục nhã quá! Chỉ muốn ghè đầu vào tường, nhưng nghĩ mình chết thì ai nuôi đẻ nên lại thôi. . .

Nghe đến đây tôi lạnh người. Lúc này phải dằn lòng để lo ăn cho sức khỏe của mẹ. Nghĩ vậy tôi cố trấn tĩnh lái câu Chuyện sang hướng khác.

- Mẹ kể là bà chết khi Tây càn lần ấy hả mẹ ?

- Khi chúng khui hầm, đẻ chạy ra ẩn ở ruộng dâu bị chúng nó bắn chết. Sau này mẹ mới rõ. Còn anh là cháu nội đẻ đẻ Thiềng, cơ sự là thế này:

- Đêm ấy, sau khi bị làm nhục, mẹ đang như người mất hồn thì có tiếng loa từ sông vọng lên: "Thằng đội Cường bắt được gái Việt Minh không nộp cho Tây. Không thả ra chúng ông báo Tây giết mày". Tiếng loa nhắc lại nhiều lần. Một tên lính thò đầu vào bảo: “Ông đội tha cho mày, chạy đi”. Rồi anh ta cúi xuống nói nhỏ: “Ra khỏi bốt phải lăn xuống vệ đê, không là chết dấy". Mẹ ù té chạy và lăn luôn, đạn chiu chíu sau lưng. Mẹ bơi trên sông một quãng thì gặp đò đẻ Thiềng.

Đẻ Thiềng đưa mẹ về ở hầm bí mật gần quê đẻ, kể chuyện đẻ ruột đã được dân làng chôn cất ra sao. Lúc ấy mẹ còn biết trông cậy vào ai nữa, đành phải kể hết mọi sự với đẻ Thiềng. Đẻ bảo: "Nhỡ ra chị có mang thì... Thằng con tôi vừa trốn làng đi bộ đội. Tôi nhận chị làm con dâu. Nhà tôi thêm người, chị cũng đỡ mang tiếng. Bao giờ hết giặc dàn xếp sau”.

Mẹ ốm nghén, đẻ gửi mẹ ra vùng tự do với tư cách là con dâu của đẻ.

Chuyện bố con hy sinh như thế nào, con biết rồi. Từ ngày ra vùng tự do  mẹ chưa được gặp ông ấy lần nào.Nếu gặp, mà ông ấy cũng thương mẹ như đẻ Thiềng thì con đã có em.

Nghe mẹ tâm sự tôi mới hiểu, lần nào giỗ bố, mẹ cũng khóc rất lâu, như ân hận, như tiếc nuối một đều gì chưa làm được cho bố. Câu chuyện của mẹ làm tôi ngỡ ngàng, tôi nói:

- Bà quá tốt. Con còn nhớ hồi mẹ ngã cầu thang, bó bột. bà lên ở hàng tháng, đổ bô, tắm giặt cho mẹ.

Mẹ gạt nước mắt, gượng cười:

- Đẻ Thiềng lắm mưu đáo để. Con biết không ? Khi mẹ ra vùng tự do, đẻ phao tin: "Thằng út đã lấy vợ  ngoài chiến khu”. Hòa bình, mẹ đưa con về thăm đẻ, có người khen con giống bố, thế mới lạ chứ. Chắc là đẻ xúi người ta nói vậy cho mẹ vui.

- Thế con giống ai hả mẹ?

- Con hao hao giống ông ngoại.

Câu chuyện vừa vui lên một chút, giọng mẹ đã trầm xuống:

- Mấy bận mẹ định cho con biết. Chỉ ngại chuyện quê hương bản quán biết thu xếp thế nào cho phải... Nếu các bác con làm ăn khấm khá hơn nhà ta thì lại đi một nhẽ. Đằng này thuần nông, bát cơm manh áo còn là chuyện lớn. Cũng may mà vợ chồng con không hẹp lòng, bù phụ khá nhiều cho các cháu dưới quê. Thi thoảng các bác cũng lên biếu con gà, cân gạo, ân tình không rứt ra được.

Hiểu ý mẹ, tôi nói:

- Bên ngoại chẳng còn ai thân thích chỉ có bên nội là gắn bó. Năm nào mẹ, rồi vợ chồng con chẳng về vài ba bận. Hè, hai cháu về chơi hàng tuần, đã lội được sông, thỉnh thoảng hai chị em lại í a í ới mấy câu chèo. Chúng nó biết yêu và cảm thông với quê,  đều ấy có tiền cũng không mua được đâu mẹ ạ. Theo con, cứ để nguyên là đẹp

- Con nghĩ vậy hợp ý mẹ. Chứ khơi ra, phải kể lại sự tình mẹ cũng xấu hổ không dám làm. Vả lại. Với đẻ Thiềng mẹ có ơn cứu tử. Các con phải ghi lòng tạc dạ.

Câu chuyện đã dài, tôi mời mẹ nghỉ cho đỡ mỏi. Mẹ tôi gật đầu, đưa mắt nhìn qua cửa sổ. Ngoài tường rào bệnh viện, mấy bụi tre ngà đu đưa. Mẹ nói:

- Mẹ xin ông bác sĩ cho về quê vài hôm hẵng lên mổ. Ông ấy bảo: “Cụ đi bây giờ chưa nên. Đợi mổ xong về khao cả làng cụ ạ". Rõ khéo... Nếu không có con thì mẹ đã về ở quê từ hồi nghỉ hưu. Ở đây tứ chiếng ngụ cư, tạm bợ thế nào ấy. Được cái vợ chồng con ăn ở hết lòng, mẹ không mong gì hơn... Thế mà lắm lúc mẹ cứ lẩn thẩn tiếc cái đận sau cải cách, người ta mời mẹ về nhận ruộng quả thực. Nền nhà, mảnh vườn còn đó, cũng từng bị người ta chiếm, nhưng năm năm tư họ di cư vào Nam chẳng đem theo được. Chỉ vì cái tội sính làm người Nhà nước mà mẹ không về. Giả dụ, hồi ấy mà nghe họ thì nhà ta nay lại cày cấy như các bác con. Còn khổ, nhưng bù lại, mẹ không bị cái thương, cái nhớ nó đeo đẳng.

Mẹ tấm tức khóc. Tôi tìm lời an ủi và pha một cốc sữa mời mẹ. Uống được lưng cốc, mẹ lại dừng lại than thở:

 - Trâu chết quay đầu về núi. Còn tôi, biết về đâu! Gái không chồng chết nằm bên mẹ, gái có chồng ấm mả quê chồng. Tôi vừa là có vừa là không, biết nằm đâu cho ổn. Phận tôi cay đắng quá!

Nghe câu than của mẹ lòng tôi như muối xát.

 Tôi đứng dậy đặt hai tay lên vai mẹ giúp mẹ tĩnh tâm trở lại.

- Mẹ còn sống lâu mẹ ạ. Khi mẹ trăm tuổi, chúng con sẽ tìm cách đưa mẹ về quê. Nói để mẹ yên lòng, chứ lúc ấy tôi bị bất ngờ trước ý mẹ. Làng tôi xưa nay chưa có ai đón người đi xa về chôn cất.

Mẹ tôi lắc đầu:

- Anh không hiểu tôi rồi. Ý tôi là nói chuyện cải táng, quy tập mồ mả như các họ làng ta đang làm. Còn mai táng thì anh chị cho tôi đi Văn Điển như các cụ ở đây là được. Mà tùng tiêm thôi, dành tiền đóng học cho các cháu.

Khi bàn chuyện giỗ chạp, thờ cúng tổ tiên mẹ mới xưng tôi, gọi con cái là anh chị. Trang trọng là thế nhưng sắm sửa lại giản đơn. Mẹ bảo: "Cúng trước ăn sau, bày vẽ làm gì cho tốn kém. cốt ở cái tâm".

Mẹ rành rẽ:

- Tôi kể tất cả cho anh rõ cũng là để nhờ anh một việc. Anh đừng quên. Nếu chuyện chẳng lành. Mai táng tôi xong, anh phải về quê thắp hương lên các mộ báo tin buồn. Và... thắp hộ tôi một nén lên mộ ông đội Cường. Mộ ông ấy cách phần mộ nhà ta khoảng bốn mươi bước chân về phía tay trái, theo hướng ông và hai bác anh nằm. Dễ tìm thôi vì có bia khắc tên Nguyễn Trọng Cường, cả khu ấy không có ông Cường nào khác. Anh nói giúp với ông ấy là tôi không thù oán gì nữa cho hương hồn ông ấy được mát mẻ.

 Hà Nội, tháng Ba, 1996

 

 


 

 

 

 

DIỆT ĐỒN LŨNG MA

 

Trích truyện vừa Chú bé thổi khèn 

Lời giới thiệu: Truyện vừa Chú bé thổi khèn kể về hai em thiếu nhi dân tộc ít người tham gia du kích trong kháng chiến chống Pháp. (A Lử em trai người Mông cha mẹ bị giặc giết và Lả em gái người Thái con ông Đội Muộn và bà Làn điều hành lính Thái trong đồn Tây). Đọan trích dưới đây nói về việc Lả giấu A Lử trong đống củi dưới gầm nhà sàn. Hai em đã tìm cách phối hợp với du kích diệt đồn ngay trong đêm hội khánh thành sân bay do Tây Găng chỉ huy đồn Lũng Ma tổ chức.

 

Quá trưa thì lần đầu tiên có tiếng máy bay bay thấp, lượn đi lượn lại rồi đáp xuống sân bay mới làm xong ngay cạnh đồn Lũng Ma.

Tiếng Tây xì xồ, tiếng chó sủa gâu gâu đón khách huyên náo cả đồn giặc.

Chiều hôm ấy, bà Làn mở hòm lấy quần áo đẹp cho cả nhà mặc. Lả bôi nước hoa thơm nức. Nó cố tình ngồi xuống trên chỗ tôi nằm, nhỏ một giọt nước hoa lọt qua kẽ giát rơi đúng bụng tôi làm tôi xuýt bật cười. Qua câu chuyện với bố mẹ, nó báo tin cho tôi biết chiếu nay cả nhà đi ăn tiệc trên đồn.

Họ đi, chiều tối lại về. Ngồi uống nước, Lả nói:

- Con lấy phần về để đâu hả mẹ?

- Mày say rượu à? Để ở chân bát chứ còn để đâu. Cả nhà đi ăn mà vẫn lấy phần. Mày tham thế sau này đứa nào nó dám lấy!

- Chẳng ai lấy thì con ở vậy?

Lả thủng thẳng nói, bà Làn réo lên:

- Mày nói gì đấy. Con này điên thật rồi! Vui quá hóa rồ hóa dại rồi!

Ông Đội Muộn cũng quát:

- Mẹ con mày làm gì mà khỏe cãi nhau thế. Im đi cho tao nghỉ. Đêm nay phải đốc gác liên tục không được ngả lưng đâu.

Trời tối mịt, tiếng chiêng trống trong đồn nổi lên, chuẩn bị vào hội xòe. Cả nhà lại lục tục kéo nhau đi. Tôi chui lên, đến chạn bát lấy gói phần ra ăn. Thịt lợn, thịt gà, bánh tây. Tôi ăn cho kỳ no mà chỉ hết một nửa, lại gói cẩn thận, đặt vào chỗ cũ.

Tôi trèo lên đầu hồi nhìn ra sân đồn sáng trưng ánh đèn măng xông. Mấy người đang lố nhố quanh đống củi ở giữa sân.

Đêm hội nào chẳng vậy, chiêng trống thế thôi, còn chán mới bắt đầu.

Rất lâu sau, tôi thấy bọn lính chạy xuống cổng đồn. Cánh cổng hé mở, từng cô gái trong đội xòe lần lượt vào, theo sau là vài ba người già cầm khèn bè, tính tẩu. Bọn lính ngăn từng người lại khám xét, lật cả nón, lắc cả đàn tinh rồi mới cho vào. Lả chạy xuống đón các chị, các bạn.

Lúc sau Lả chạy về nhà! tôi nhảy xuống hỏi luôn:

- Cái Piềng có báo được tin cho chú Ấng không?

- Có. Nó báo ngay sáng nay, nhưng từ trưa đến giờ không thấy chú ấy đâu nên cái Piềng không có tin gì cho anh. Anh ngồi trên ấy xem xòe hả ?

- Ừ!

- Em đi nhé, phải xòe đến nơi rồi. Có quà cho anh đây! - Nó giúi vào tay tôi quả táo tây rõ to rồi chạy biến.

Đêm hội bắt đầu. Đống lửa được đốt lên. Các quan Tây cùng với hai bà đầm và lũ tay sai người Việt ngồi trên hàng ghế kê trước cửa lô cốt. Thằng Găng ngồi giữa. Bọn lính ngồi xung quanh đống lửa.

Đội xòe Nà Loọng mở màn theo nhịp khèn bè, tính tẩu của mấy cụ già. Các có gái trong bộ áo dài Thái thướt tha, nâng nón trên đầu dóng hàng xích từng bước ra sân. Lúc kiễng chân dướn người chao nón về phía trước lúc quỳ xuống ngả mình uốn hẳn về phía sau, lúc khỏa nón vung tay nhảy tưng tăng, lúc úp nón khom lưng luồn lách vào nhau chạy trốn. Lúc thẹn thùng nép sau vành nón, lúc tươi cười vẫy nón mời chào. Đội hình lúc thẳng tiến, lúc lượn vòng, lúc đan chéo, lúc chụm lại, lúc tỏa ra biến hóa khôn lường. Ánh gương trong lòng nón, ánh bạc trên hàng cúc vòng tay lấp lánh như trăng sao về đây tụ hội. Xòe Thái đẹp vô cùng.

Thằng Găng ra trổ tài. Nó thổi khèn Mông rồi múa khèn trên khúc gỗ. Phải nói là nó làm khá hơn trước khiến khách khứa, binh lính đều vỗ tay theo nhịp rồi hoan hô nhặng lên. Khách cũng góp vui, một thằng Tây ra thổi amônica ròn rã, ông trưởng bản Nà Loạng cầm bí thiu ra thổi một bài trầm lắng, âm u.

Rồi đội xòe lại ra múa tiếp. Có tiếng hô:

- Tắt đèn đi! Có lửa rừng rồi?

Thằng Găng cho tắt đèn măng xông, chỉ còn lửa trại bập bùng không nom rõ mặt người. Các cô lại xòe tiếp. Tay cầm khăn, tay giỗ quả nhạc, các cô múa đi múa lại không biết bao nhiêu lần những động tác uyển chuyển nhịp nhàng nhưng ít thay đổi như điệu xòe trước. Chắc đây là một điệu xòe cổ. Đội xòe đang múa chậm lại như chuẩn bị chào hết thì có tiếng hô:

- Alasô !

Mấy thằng lính nhảy vào mỗi đứa bế thốc một cô chạy đi.

“Đoàng". "Đoàng" “Đoàng" Tây Găng rút súng bắn luôn mấy phát, quát:

Các ông không được làm thế! Ai không buông ra tôi bắn.

Bọn lính phải bỏ các cô gái, trở về chỗ ngồi. Đèn măng xông lại được thắp lên. Từ đầu tôi vẫn để mắt đến Lả. Lúc này không thấy nó đâu. Tôi tụt ngay xuống, lủi đến khu nhà lính để tìm nó.

Có tiếng "Buông ra - Buông ra" trong nhà lính Tây. Tôi chạy đến nhìn qua cửa sổ. Một thằng Tây đang vật Lả. Lả cào cắn nó quyết liệt. Tôi bẻ chấn song vào cứu Lả, lấy hết sức mà song sắt không oằn. Tôi định chạy ra phía trước thì cửa phòng mở toang. Thằng Găng cầm súng nhảy vào quát:

- Ông phi công! Ông bỏ cô ta ra. Cô ta là con nuôi của tôi.

Thằng phi công đi ra, còn nói với lại:

- Con nuôi. Nuôi lớn rồi thịt. Hề! Hề!

Thằng Găng đến bên Lả. Lả ngồi thừ ra, khép vạt áo bị rách lên che ngực.

- Cô cứ ngồi đây. Tôi sẽ lấy áo khác cho. Không ai dám làm gì cô nữa đâu. Thằng Găng nói rồi bước ra, khép cửa lại. Chờ cho tiếng giày nó đi hẳn, tôi gọi:

- Lả. Lả.

Lả chạy đến cửa sổ, tôi hỏi:

- Có làm sao không?

- Không việc gì đâu chỉ rách áo thôi. Đồ chó! Biết thế em không vào đội xòe nữa.

- Thế lúc ấy mẹ đâu?

 - Mẹ nói chuyện với hai mụ đầm trong phòng khách.

Lả khóc, tôi vỗ nhẹ vào tay nó:

- Nín đi, nín đi Lả. Từ giờ cẩn thận đấy.

- Mà anh về nhà đi. Thằng Găng trở lại bây giờ. Về đi anh! Em van anh! Anh về đi!

Cánh cửa lại mở, tôi ngồi thụp xuống, Lả quay trở lại. Thằng Găng hỏi:

- Cô làm gì ở đấy?

- Tôi nhổ nước bọt.

- Đây là áo dài Thái trong bộ sưu tầm của tôi, cô mặc xem có vừa không?

- Ông ra ngoài đi cho tôi thay áo.

Lát sau lại có tiếng thằng Găng:

- Đẹp đấy, hơi dài một tí!

- Ông đi đi!

- Cô cũng ra đi! Không thấy cô, bố mẹ cô chẳng để tôi yên đâu.

Lả đành ra theo thằng Găng. Tôi trở lại đầu hồi nhà sàn, tiếp tục quan sát.

Đêm hội sang phần ca hát tự do thì phải, Tây và lính Thái, ai muốn lên góp vui cũng được. Ai cũng muốn trổ tài nhưng chẳng mấy ai có giọng nên buổi liên hoan trở nên lê thê, rời rạc. Trời đã về khuya.

Có tiếng kêu ở phía cổng đồn:

- Piềng ơi! Piềng ơi! Mẹ mày sắp chết rồi!

- Về đi Piềng ơi!

- Mẹ chết Piềng ơi!

- Piềng ơi! Về ngay đi!

Trong tiếng kêu khóc, tôi nghe cả tiếng chú Ấng. Một số người chạy xuống cổng đồn, Lả cũng chạy theo. Thằng Găng cũng xuống, cho cả đội xòe về. Lả chạy ra ngoài cổng đồn tiễn các bạn rồi cắp nón trở lại.

Lả không đi lên sân đồn mà chạy thẳng về nhà. Nó hổn hển lật nón ra, lấy một gói vuông vuông, năng nặng, đưa cho tôi:

- Em vừa gặp chú Áng. Đêm nay ta đánh đồn. Quá nửa đêm thấy ba phát pháo hiệu bắn lên từ rừng ma thì anh phải cho nổ quả bộc phá này. Chú dặn anh không được đánh mục tiêu nào cả mà nguy hiểm. Chỉ cốt gây tiếng nổ to trong đồn để uy hiếp tinh thần địch. Sau đó anh đưa mẹ và em nấp vào một chỗ an toàn chờ quân ta tới. Bao diêm đây.

Tôi mừng quá, chỉ kịp nghĩ rất nhanh rồi kiên quyết:

- Nổ bộc phá xong, anh phải tìm giết thằng Găng. Em và mẹ phải tự lo lấy. Tìm nhau sau.

- Em muốn đi với anh, nhưng còn mẹ. Anh đi một mình vậy. Thằng Găng khỏe lắm đấy. Em lo quá. Hay anh đừng ham giết nó nữa!

- Em quên lời thề rồi sao? Thôi em đi đi! Không thấy em đâu nó lại tìm, anh dễ lộ.

Lửa trại đã tàn. Thằng Găng cho treo một miếng vải trắng to lên tường lô cốt, chiếu hình lên đó cho lính xem. Sau này tôi mới biết đó là phim đèn chiếu. Tới muốn đến xem lắm, nhưng tự nhủ: "Đánh đồn xong, lấy về xem sau cũng được".

Tôi nghĩ đến các nơi trong đồn để tìm chỗ nhìn pháo hiệu cho rõ và đánh bộc phá thuận lợi. Cuối cùng tôi chọn chuồng ngựa. Từ đấy nhìn vế phía rừng ma không vướng mái nhà nào, đặt bộc phá ở chuồng ngựa rồi chạy xuống nấp sau mấy mô đá gần hàng rào là an toàn nhất. Nhưng nằm ở đó thì không nhìn thấy giặc làm gì, không thấy được Lả đâu, liệu nó và bà Làn có tìm được chỗ nấp không. Hay là chọn chỗ khác. Nghĩ đi nghĩ lại, tôi vẫn thấy không có chỗ nào dễ hoàn thành công việc hơn chỗ cũ.

Tôi ôm quả bộc phá lủi đi. Giấu nó ở mái chuồng ngựa cho cao ráo, tôi ngồi vào giữa đống cỏ cao ngang ngực, mắt nhìn về phía rừng ma chờ pháo hiệu.

Cứ độ mười phút, lính lại di tuần. Tôi nằm xuống vơ cỏ phủ lên người, chờ chúng đi xa lại ngồi dậy. Có lần thằng Găng bấm đèn pin đi đến, nó nói với mấy tên cùng đi:

- Tụi lính làm giả ăn thật, không tin được! Các ông phải đốc gác liên tục. Tôi sẽ kiểm tra các ông.

Biết nó chẳng phải tay vừa, tôi rời đống cỏ bò xuống nấp ở nhà xí. Thằng Găng co chân đá đống cỏ tung tóe. Khi nó xuống nhà xí tôi lủi lại chuồng ngựa, thế là thoát.

Ngồi chờ pháo hiệu lâu quá, hai đêm liền không ngủ, mắt tôi cứ díp lại. Tôi đã cắn vào tay, vào chân, lấy cả nước đái ngựa vã vào mặt mà chỉ tỉnh được một lát. Lắm lúc cứ mê mê tỉnh tỉnh...

Tôi mê tôi cầm cái khèn vừa đi vừa thổi, đằng sau là Lả cưỡi ngựa, cầm ô về quê thăm họ hàng... Con ngựa hí vang. Tôi quay lại xem có chuyện gì, thì bao nhiêu con ngựa cùng hí lên . . .

Tôi bừng tỉnh đã thấy mấy con ngựa trong chuồng hí lên, có tiếng hô hoán trong đồn. Hay lộ rồi. Tôi hoảng quá. Nhìn về phía rừng ma đã thấy pháo hiệu đỏ lừ đang rơi xuống. Bắt đầu rồi!

Tôi lấy quả bộc phá xuống định châm ngòi thì có tiếng súng từ lỗ châu mai ở lô cốt bắn ta tóe lửa. Chắc là chúng thử súng vì sau đó không thấy bắn tiếp. Sao không tương cho nó quả này nhỉ? Tôi liền ôm bộc phá bò đến lô cốt. Châm lửa, đợi nó xì xì, tôi dúi luôn qua lỗ châu mai và lăn lông lốc xuống dốc. Một tiếng nổ inh tai. Tôi dừng lại nhìn lên, khói mù mịt trên nóc lô cốt.

Vừa lúc ấy tiếng đạn nổ ran lên khắp nơi. Tiếng uỳnh uỳnh của du kích nổ bộc phá đánh hàng rào. Lửa cháy rần rật xung quanh đồn. Tiếng hô của quân ta, tiếng kêu gào của giặc...

Hà Nội, 1990

 

 

 

 

 

 

 


QUANG CHUYỀN

 

- Họ và tên khai sinh: Trần Quang Chuyền

- Sinh năm 1945

- Bút danh: Việt Nguyên, Quang Thanh

- Quê quán: Làng Gốm, Xã Sơn Đông, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc

- Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam (từ 2003)

- Hội viên Hội Nhà báo Việt Nam

 

- Tác phẩm chính đã xuất bản:

* Đường qua kỷ niệm (In chung, NXB Việt Bắc, 1975)

* Chùm quả mùa đầu (In chung, NXB Quân đội nhân dân, 1981)

* Khoảng cuối mùa thu (Tập thơ, NXB Văn nghệ, 1999)

* Hạt giống chim gieo (Tập thơ, NXB Thanh niên, 2000)

* Lặng thầm (Tập thơ, NXB Hội Nhà văn, 2002)

* Mắt đêm (Tập thơ, NXB Thanh niên, 2003)

* Khát (Tập thơ, NXB Văn học, 2005)

* Trở lại cánh rừng (Tập thơ, NXB Quân đội nhân dân, 2006)

* Sông gọi (Tập thơ, NXB Văn nghệ, 2008)

* Chiều đi qua cửa (Tập thơ, NXB Hội Nhà văn, 2009)

* Lục bát không mùa (Tập thơ, NXB Hội Nhà văn, 2011)

* Tiếng vọng dòng sông (Tập thơ, NXB Văn hóa văn nghệ, 2012)

* Thơ tuyển chọn (Tập thơ, NXB Văn học, 2013)

* Thầm thì biển (Tập thơ, NXB Quân đội nhân dân, 2014)

* Bốn câu lục bát (Tập thơ, NXB Văn hóa văn nghệ, 2014)

* Tiếng vọng ngày đi (Tập thơ, NXB Văn hóa văn nghệ, 2016)

- Giải thưởng văn học:

* Giải Ba cuộc thi thơ Văn nghệ quân đội, 2004

* Giải Nhì và giải Khuyến khích cuộc thi thơ Binh chủng thông tin Bộ quốc phòng

 * Giải Nhì cuộc thi thơ lục bát ”Ngàn năm thương nhớ” của báo Gia đình và Xã hội

* Tặng thưởng Hội nhà văn thành phố HCM năm 2013.

- Suy nghĩ về nghề văn:

Với tôi, thơ ví như người bạn đời ân tình, chung thuỷ. Thơ giúp tôi giãi bày lòng mình.Tôi đồng hành cùng thơ, ước mong tìm sự đồng cảm, sẻ chia vui buồn trong cuộc sống…

 

 

 

 

A - TRONG KÝ ỨC BẠN BÈ

 

QUANG CHUYỀN – MỘT DÒNG SÔNG
LẶNG TRẦM, XOÁY XIẾT
 

Kim Chuông 

Từ những năm 1969 – 1970 của thế kỷ trước, khi đang là Phóng viên của Báo Sông Hồng, Quân khu Tả ngạn, tôi đã đọc Quang Chuyền và biết, chàng thi sĩ này đang là Phóng viên của tờ Báo “Thông tin”, thuộc Bộ Tổng tư lệnh binh chủng Thông tin liên lạc. Ngày ấy, người viết ít. Mỗi tác giả xuất hiện trên trang văn nghệ của Báo Văn nghệ, Tạp chí Văn nghệ quân đội, báo Quân đội Nhân dân, báo Nhân dân, hay báo Tiền Phong, Phụ nữ … Tất cả đều in đậm sự  trân trọng đón  mừng cái mới mẻ, tươi xanh, trong cái nhớ, trong ấn tượng và tâm tình người đọc.

Quang Chuyền, chàng trai sinh ra và lớn lên ở làng Quan Tử, nơi ngã ba hạ lưu sông Lô và sông Đáy, đất trung du, Vĩnh Phúc. Năm hăm  mồt, hăm hai tuổi, rời trường Sư phạm Việt Bắc vào quân đội. Rồi, gần bốn mươi năm hành trình trên con đường “đời lính với sự nghiệp văn chương, báo chí” … Để, Quang Chuyền – “con thuyền cuối đời” lại cập về bến đậu : Nơi Sài Gòn, đất nắng !

Có một quãng mờ xa tôi luôn đọc và quý yêu Quang Chuyền trong “kiến ảnh, “ít” kiến hình”. Mãi mùa thu năm Ất Dậu, 2005, tôi mới có duyên  trong cái gặp và gắn bó với Quang Chuyến ở một chuyến đi dài.

Gần nửa tháng trời trong đoàn Nhà văn Việt Nam đi thăm và làm việc tại Bắc Kinh, Trung Quốc, Quang Chuyền “trở lại” trong tôi, trong tình cảm quý yêu của một thời cùng là người lính. Trong “tâm tưởng ngàn xưa”. Trong “cái thật”, “cái Có” bên mình. Một  “Quang Chuyền,  người bạn. Một Quang Chuyền nhà thơ, thật sự đáng yêu !”.

Ngắm nhìn Quang Chuyền trong nét trầm lặng đến mát lành, dễ ngỡ, anh là “người nhà Phật”. Với gương mặt vuông, phúc hậu. Ánh mắt hồn nhiên, trong trẻo, giọng rủ rỉ, nhẹ mềm … Có lẽ, không mấy ai gặp anh lại không đem lòng tin yêu rồi “mê” cái dung nhan dễ có sức “bỏ bùa” như thế.

 Hình như, sự ăn khớp giữa hình thức và nội dung trong con người Quang Chuyền được sinh ra từ “duyên kiếp” nào ấy. Bạn đọc mấy ai biết, Trung tá, thi sĩ Quang Chuyền từng là Phó Tổng Biên tập tờ báo, Phó Chủ nhiệm chính trị Lữ đoàn. Với cuộc đời riêng, anh đã từng gánh chịu không ít gian lao. Hơn mười tuổi, Quang Chuyền mồ côi cha, một nhà Nho nghèo mới ngoài ba mươi tuổi. Nhà đông em. Từ bé, Quang Chuyền đã sớm phải ly hương, tự “thân lập thân,” vật mình làm lụng kiếm tiền giúp mẹ nuôi em và lo ăn học.

Quang Chuyền yêu văn chương và sáng tác những “bài thơ ngẫu hứng” từ những năm còn là cậu học trò của trường tiểu học. Năng khiếu “bút nghiên” làm Quang Chuyền sớm nổi tiếng từ khi còn là giáo sinh của một trường Sư phạm. Để rồi, từ một thầy giáo trẻ vừa mới ra trường, Quang Chuyền đã được chọn về công tác tại cơ quan của Hội Văn học Nghệ thuật Việt Bắc.

Có chăng, một “ông Cao xanh” nào đó bắt Quang Chuyền, thi sĩ của nỗi niềm luôn phải gánh chịu một nỗi đau bên lòng canh cánh ? Bởi, tự  thiếu thời, người con trai tuổi Giáp Thân (1944) này, đã sớm mang nhiều nỗi gian lao. Bởi, khi tuổi đôi mươi vừa đến, một “tiền đầu bất lợi” của buổi đầu tiên khi nhịp cầu lứa đôi vừa bắc. Khi bồi hồi trước hạnh phúc của buổi tìm đến “người mộng mơ” để cùng nhau gửi trao “lời đính ước trăm năm”… Thì bỗng dưng, chao ôi ! Người yêu thương của anh đột ngột qua đời.

Rồi sau đó, lại nữa ! “Người tương phùng tri kỷ” cũng là “người hôm nay” đã và đang cùng anh đi trên đường cùng chung xây “tổ ấm” lại bỗng chốc bị tai nạn lao động, làm chấn thương phần não, sau mấy năm hai người vừa trao gửi lời yêu ...

Và như thế, một Quang Chuyền, người con trai họ Trần người làng Gốm. Một Quang Chuyền người lính. Một Quang Chuyền làm thơ … Thi sĩ Quang Chuyền đã ra đi từ mạch chảy này và làm nên một “dòng sông riêng anh” trong lặng thầm, xoáy xiết.

Trước ngoại giới, Quang Chuyền mang nội tâm đầy nặng một góc lòng. Nhưng, cái thuộc về “thời”. Cái giống như bao chàng trai thuở ấy, Quang Chuyền phải nén sâu bao nỗi tư riêng. Không gian rộng của một thời “nước nhà giặc dã” cũng chính là “không gian thơ” mà “Quang Chuyền nhà thơ”, “Quang Chuyền người lính” đã ý thức, đã biết quên đi cái quên, để “Biết” hướng về “cảm hứng rộng”, cảm hứng lớn lao của núi sông, dân tộc. Và như vậy, một tầng nổi. Một ngoại giới cần ôm chứa ở trang viết, ở cảm rung, ở nghĩ suy và trách nhiệm cao cả của nhà văn trước giá trị hữu ích. Mỗi câu thơ Quang Chuyền là sự tấp dồn của “cảnh và sự”.

Nhà thơ đi trong thời trận mạc này mải miết hành trình và tái tạo bóng hình thời cuộc. Những câu thơ bộn bề, thi liệu mang nhiều chất ký. Đây là “Điệp khúc đường hành quân đường núi”:

         Núi

         Núi lùi dưới chân

         Núi               

         Núi chồng trước mặt

         Súng đè vai nặng rát

         Ba lô kéo giật lùi

          …

         Qua đỉnh dốc này rồi

         Lại nhô lên đỉnh khác

Hay, khi nhà thơ đứng giữa chiến hào trong “Tiếng gọi tìm đồng đội”:         

         Đất ôm thân thể bạn tôi

         Đất sinh cây cỏ che người gió sương …

Rồi :  

          Chiến trường Tây, chiến trường Đông

          Sau bao trận đánh người không trở về

Hình như, thơ “một thời lính trận” của Quang Chuyên cứ dội lên từ cái gặp, cái thấy, cái ám ảnh thật khó vượt thoát trong máu thịt đời người. Thi sĩ rưng rưng khi “Trở lại cánh rừng”:

              Đâu bãi khách trăng soi tìm mái lán

              …  

              Bom phạt, cây tan, dép mũ lạc người

              Cả bia mộ cũng lạc tên tuổi bạn

              Chỉ đất còn lưu giữ dáng người thôi …  

  Hay, khi gặp miền đất đỏ, câu hỏi nhói lòng trong nỗi đau tâm tưởng:

              Đất nhuộm chi đỏ thế

              Lửa chiến tranh điêu tàn

              Máu ai loang lòng đất

              Chạm vào còn ấm ran

                                            (Có một miền đất đỏ)

Rồi, cả khi “Đêm ngủ cùng bạn”, khi chiến tranh đã lùi xa, “cái khoắc khoải, chập chờn” vẫn hiện về trong ảo mờ, trong cái gần, hiện hữu :

              Đêm phố phường bình yên

              Sao lòng xao xác gió

              Ngỡ rừng xưa bếp lửa

              Cháy bập bùng sáng đêm

Rồi, khi tuổi đời đã trôi về “khoảng cuối mùa thu”, đã trút khỏi mình màu xanh quân phục, nhưng hình ảnh “lính” trong thơ Quang Chuyền vẫn tụ kết, vẫn rờn xanh nơi “Phố lính”:

 Đi qua gieo neo/ Tháng năm rừng rú/ bây giờ ở phố/ Có buồn có vui/ Áo lính giăng phơi/ Nói lời của lính … Cuộc sống quen nghiêm/ Nói gì cũng lệnh…

Có tới 11 tập thơ in chung và in riêng đã lần lượt trình làng, Quang Chuyền, nhà thơ người lính này đã giành cho thơ sự gánh gồng thật đầy nặng và đậm “một không gian thơ” từ máu thịt với những chiến trường trận mạc, những hy sinh mất mát của bạn bầu, của dân tộc một thời thật oanh liệt, vẻ vang. Những bài thơ hay, câu thơ hay của Quang Chuyền thật tươi xanh cảm xúc. Những gì là bề bộn, xương xảu của “cảnh và sự”, khi bước vào thơ anh, bỗng lung linh, bỗng động lên, mang sức loang và gợi.

Cũng như thế hệ nhiều nhà thơ buổi ấy, “chất trữ tình công dân” trong thơ Quang Chuyền như ai từng “luận” đã lặn vào trong từng nét chìm khắc của  tầng nổi, thuộc về khách thể.

Từ tập thơ đầu tay : “Đường qua kỷ niệm, Chùm quả đầu mùa, rồi “Khát, Hạt giống chim gieo, Trở lại cánh rừng, Chiều đi qua cửa, Mắt đêm, Khoảng cuối mùa thu, Lặng thầm, Sông gọi” … Quả thực, thơ Quang Chuyền khá nhìn rõ ở hai tầng, hai lối mở. Bên vệt dài, khá đậm ở một phía  giàu trực giác, phía của “vô biên độ”. Đến tập  thơ “Lục bát không mùa”, bến mở này làm dòng chảy “thơ Quang Chuyền” bỗng dưng vang động và đọng lắng ở một “kênh” tìm khác.

Có một Quang Chuyền thứ hai hay Quang Chuyền thứ nhất ? Khi “nó là nó và đã khác nó”. Khi ta gặp một Quang Chuyền với sự ăn khớp nhiều hơn giữa “thơ và người thơ” trong cảm rung, trong suy tư, trải nghiệm. Một Quang Chuyền đằm say, nhân hậu. Một Quang Chuyền da diết, lặng sâu.

Quang Chuyền, lứa nhà thơ trưởng thành từ cuộc kháng chiến chống Mỹ. Với hàng chục thi phẩm và khá nhiều giải thưởng giành được từ các cuộc thi sáng tác văn học trên phạm vi cả nước. Nhưng, từ “Lục bát không mùa”, nhiều bạn đọc, bạn viết đã vui mừng đón nhận một  Quang Chuyền thật ấn tượng và tâm huyết ở một tập thơ hay, ở thời gian dài vắng thưa, ít gặp ở thi đàn.

Tôi đã nhiều lần đọc đi đọc lại “Lục bát không mùa” để lần nữa ngắm nhìn trước mắt mình một Quang Chuyền, một giọt nắng trong xanh, ngơ ngác. Một tâm trạng với niềm yêu dễ quặn thắt, se lòng. Tôi từng bước lần theo Quang Chuyền để cùng thi nhân trầm tĩnh mà run rẩy, mà chầm vập trước bao nhiêu ngả đời, lối rẽ .

         Nửa buồn chen lẫn nửa vui

         Con sông nước chảy đầy vơi mấy chiều

Rồi:

         Nửa đêm nghe gió trở mùa

         Nhớ thương hai nửa, lạnh lùa vào tim

         Trăng mây nửa nổi, nửa chìm

          Nửa đi xa khuất, nửa tìm bóng nhau … 

Quả tình, Quang Chuyền, trái tim thi sĩ đã hoà vào thiên địa. Một khoảng sâu được dội lên từ “khoảng sâu” ở giữa chính hồn anh. Thật khó rành rọt định ra nơi gọi về cái nghĩ. Bởi, từ “sự đến tình” ? Hay “cái tình” ở đây đã dội lên từ cái nhìn mà nhà thơ “tự thức”.

         Ngả này về phía không em

         Lỡ nhau từ thuở bạc tiền lên ngôi

         Ngả này thăm thẳm mẹ ơi

         Người đi để trống khoảng trời cho con 

Rồi:

         Tình yêu giờ khác tình yêu

          Còn ai lấy nghĩa cô Kiều cân đong

          Ơi nàng Tô Thị ngóng trông

           Còn ai hoá đá chờ chồng như xưa  …

Rõ ràng, ở “Lục bát không mùa”, nét trội vượt trong thơ Quang Chuyền đã quay về “mạch lắng”. Lấy “cõi sâu tự thân” làm đối tượng, làm “cái lõi” để khơi sâu, khám phá. Có cảm giác Quang Chuyền luôn chất chứa sầu đong. Bỏ qua quãng dài, thơ hành trình từ “lối rộng”, Quang Chuyền đã quay về, bám vào góc hẹp, một khoảng tối “vô thức” của lòng mình để gọi về cái rộng, cái mênh mông trong cái cảm có sức loang, sức thấm không cùng.

Ví  như:

         Tiếng chim lích chích bay chuyền

         Dạt theo tiếng hót về miền vắng chim

Rồi:

         Ai nghe tiếng vọng chuông lòng

         Thường đêm đổ nhịp lẫn trong chuông chùa ..

          Đấy là tâm trạng. Nỗi khắc khoải, ưu tư !

Còn đây, phải chăng là cái cảm nặng đằm về nỗi đời, thân phận?

           Chuông ru

           Ru xót xa người

           Tìm trăng, trăng lặn, tìm trời, trời xa

Và,

            Ngoài kia cơn gió tái tê

            Đêm nay thổi trống lòng quê - Một người ...

Lục bát của Quang Chuyền thật điêu luyện và nhuyễn. “Gam tâm trạng” và giọng điệu mềm, sâu này làm nên sự kết tinh ở “Lục bát không mùa” một hiệu quả, hiệu ứng đa chiều, ám ảnh.

Quang Chuyền có nhiều câu thơ hay ở cảm xúc, ở nét tinh tế của cảm nhận tâm hồn. Ở sự phát hiện, ở cái đích dồn đẩy tới điểm nút của chiều sâu trong trải nghiệm, suy tư.

Bây giờ mỗi lần nhớ về Quang Chuyền, tôi thường ngân lên câu thơ anh viết:

          Tôi từ ít nhớ, nhiều quên

          Sân ga lẻ bóng, mình lên một tàu …

Vâng. Câu thơ lục bát thật hay. Rất Quang Chuyền. Nó hiện diện khá điển hình một Quang Chuyền thấp thoáng trong lặng trầm, hiền dịu. Trong nỗi niềm, cô đơn và kiêu hãnh nữa ở một lối độc hành.

Quang Chuyền đã và đang đi từ những gì vọng vang của “con sông riêng mình” như thế. Con sông đi từ làng Gốm, quê anh. Từ ngã ba sông Lô, sông Đáy, vùng trung du, Vĩnh Phúc đến Sài Gòn, miền đất nắng” yêu thương.

K.C

                                    Quê Trạng, Vĩnh Bảo-Hải Phòng,

Mùa Xuân, 2012

 


 

 

 

 

LỤC BÁT DỌC DÒNG THƠ 

Nguyễn Thụy Kha 

Tôi gặp Quang Chuyền mùa mưa 1974 tại sông Bung – Quảng Nam, sau chiến dịch Thượng Đức. Lúc ấy, Quang Chuyền có chuyến xuyên Trường Sơn cùng nhà thơ Xuân Miễn và Trọng Tân. Xuân Miễn là nhà thơ đã rất nổi tiếng với tập “Nhớ miền Đông”. Quang Chuyền và Trọng Tân là cán bộ tuyên huấn thuộc Bộ tư lệnh Thông tin. Vậy mà sau chuyến đi đó, Quang Chuyền trở thành nhà thơ. Còn Trọng Tân thì trở thành nhà văn. Hóa ra, Trường Sơn là cái nôi dinh dưỡng tạo ra những nhà thơ, nhà văn.

Thực ra lúc ấy thì mới gặp mặt, còn tên Quang Chuyền tôi đã biết từ năm 1972. Khi đó, tôi được biên chế về đoàn thông tin Lam Sơn, nơi Quang Chuyền đã từng là chiến sĩ. Đơn vị này là đơn vị xây dựng đường dây thông tin quân sự chiến lược. Họ rất tự hào rằng đơn vị có một nhà thơ Quang Chuyền. Họ đọc vang cho tôi nghe những bài thơ Quang Chuyền làm về đại đội 2 kiên cường, đại đội 6 anh hùng. Đây là đại đội mà tôi được vinh dự làm chiến sĩ. Có một người còn thuộc cả bài thơ Quang Chuyền đã từng in trên tạp chí Văn nghệ Quân đội từ năm 1968. Đấy là bài “Chiều thành Tuyên”. Anh ta đã độc đầy hào sảng: “Chiều thành Tuyên/ Nắng khép dần cửa sổ/ Đáy sông Lô nở chùm hoa lửa/ Chim về sải cánh qua soi/ Sóng thở bồi hồi/ Giục phà sang Nông Tiến …”. Tôi nghe mà ngưỡng mộ. Hóa ra, càng đi vào đời thường, càng thấy đời thường luôn tự hào về những người lớn dậy từ nơi bình thường của họ. Hôm gặp Quang Chuyền ở Quảng Nam, tôi thấy mến anh vô cùng. Vậy là người làm thơ cũng chỉ là người bình dị như ta. Anh hào hển kể về những cảm xúc anh gặp ở Quảng Trị, ở Thừa Thiên dọc Trường Sơn. Chuyến xuyên Trường Sơn này đã mang đến cho Quang Chuyền một mùa gặt bội thu. Mùa gặt ấy đã được trình làng qua tập thơ in chung “Chùm quả mùa đầu” ở Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân đầu thập kỷ 80 thế kỷ trước. Đó là những “Buổi sáng ở A So”, “Đồng bằng của núi” …

Binh chủng thông tin là một binh chủng kỹ thuật quân đội. Đặc thù của nghề thông tin có chất thơ lãng mạn của nó. Làm sao không thơ khi hai tổng đài viên không hề nhìn thấy nhau mà chỉ quen nhau qua giọng nói dọc đường dây. Làm sao không thơ khi hai báo vụ viên không hề nhìn thấy nhau mà chỉ quen nhau qua tín hiệu moóc tịch tà năm tháng vượt không gian… Có lẽ vậy mà thời chống Mỹ của chúng tôi, binh chủng thông tin đã có khá nhiều nhà thơ như Nguyễn Duy, Phạm Đức, Anh Ngọc, Phạm Phú Nhân, Nguyễn Trung Thu … Quang Chuyền và tôi- Nguyễn Thụy Kha. Mảng thơ làm về binh chủng thông tin của Quang Chuyền là mảng thơ khá đặc sắc. Quang Chuyền luôn tìm một cái tứ vững chãi để triển khai giọng điệu trữ tình thường có ở trong anh. Viết về đường cáp thông tin chôn trong đất, anh có “Cầu vồng trong đất”. Viết về đường cáp vượt sông, anh có “Sông dưới lòng sông”. Viết về các tổng đài dã chiến, anh có “Mái lán giữa rừng”, “Tổng đài chiến dịch”, Hai đầu đường dây”, “Nhịp chuông điện thoại nhà Bác”. Viết về các trạm thông tin tiếp sức, anh có “Lời cây cột ăng ten”, “Hoa trên vách đá”. Viết về những người báo vụ, anh có “Tiếng nói bàn tay”, “Bầu trời âm thanh”. Bài thơ “Tiếng nói bàn tay” và “Nhịp chuông điện thoại nhà Bác” của Quang Chuyền đã được nhạc sĩ Văn An và nhạc sĩ Trần Huy Thanh phổ nhạc và lan truyền sâu rộng trong binh chủng. Dù là lính thông tin thì Quang Chuyền trước tiên vẫn là người lính đích thực. Từ năm 1982, khi anh và tôi cùng công tác tại phòng tuyên huấn Binh chủng Thông tin, nhiều bài thơ lính của Quang Chuyền, tôi đều là người đầu tiên được nghe. Bài nào cũng vừa vạm vỡ tráng ca, vừa se sắt nỗi niềm. Đó là những “Điệp khúc hành quân đường núi”, “Thơ viết ở rừng”, “Sương”, “Hoa ở đồi không tên”, “Khi rừng có dấu chân”, “Tiếng gọi tìm đồng đội”, “Đồng đội ơi” … Khi cởi áo lính, nhất là khi chuyển vào ở Sài Gòn, bằng cặp mắt của một cựu bình, Quang Chuyền cũng có những bài thơ rơm rớm cảm thương cho số phận con người. Những bài như “Trước cổng nhà ai”, “Một thoáng chiều buồn”, “Sóng phố Sài Gòn” …

Nhưng cái mạch thơ ám ảnh dọc đời thơ Quang Chuyền, ám ảnh nhất chính là mạch lục bát dân tộc. Trong suốt 3 phần thơ của tuyển tập là “Từ nguồn”, “Theo sông”, “Về biển”, ám ảnh lục bát vẫn là ám ảnh chủ đạo, chi phối thi pháp của người thơ.

Lục bát Quang Chuyền thời kỳ đầu cũng giống lục bát của nhiều người thơ khác. Đó là tự sự, là tả, là tiểu đối truyền thống. Ví dụ như: “Vào rừng mới biết lòng rừng/ Mênh mông là lá, điệp trùng là cây …” (“Thơ viết ở rừng”.4.971), “Hương cau thơm suốt ngày dài/ Em về Nông Tiến nhớ hoài Mỹ Lâm …” (“Thơ viết về Hương Chu”.6.1973). Dần dà Quang Chuyền bắt đầu vượt qua cổ điển, dùng câu lục bát để chờ những ngẫm nghĩ mới: “Con tàu như chạy vòng quanh/ Vòng quanh vẫn thấy viền xanh chân trời” (“Từ ô cửa con tàu đang chạy”.4.1977), “Xa kia có sóng đồng vàng/ Con cò vỗ cánh bay ngang chân trời” (“Phía sau bờ tre”.1979), “Chợt nghe gió mách thầm thì/ Chim gieo hạt giống cũng vì thương cây” (“Hạt giống chim gieo”.1982), “Đường Đà Lạt một mình tôi/ Vắng em lạnh vắng cả trời cao nguyên” (“Chút tâm tư Đà Lạt”.1985). Lục bát Quang Chuyền đã ngày càng không cần lụy vào tứ thơ mà bước thẳng tới luận đề vừa cổ điển, vừa hiện đại. Tất cả tinh thần ấy nằm trong bài thơ “Tự họa” mà tôi rất thích sự thành thực này:

Ta là một gã nhà quê

Bước đời không định, lạc về phố đông

Bữa cơm thường thích cua đồng

Dưa chua, tương mặn, cải ngồng bãi soi

Khát khao sau khuất tường vôi

Đêm mơ tiếng ếch vọng nơi chân giường

Sông bươn chải, sóng tha hương

Trái tim trao tặng con đường nổi trôi …

Thơ Quang Chuyền lay động ở sự bình dị, không lấp lánh, không trang điểm, nhưng ẩn chứa rất nhiều nỗi đời chìm nổi. Quang Chuyền cứ đi từ tốn, không vội vã, không khoa trương như cứ từ từ ngấm vào hồn người như một thứ rượu quê cất bằng nước giếng mạch ngầm vùng đồi trung du, bằng men đời lính ủ cùng tâm hồn “gã nhà quê”. Thơ này uống nhiều, khéo say lúc nào chẳng biết:

Thời gian được rót tràn ly

Uống cho vợi bớt những gì đầy vơi …

 

N.T.K

 

B - MỘT SỐ TÁC PHẨM TIÊU BIỂU

   

PHÍA SAU BỜ TRE

 

Phía sau bờ tre là làng

Là cha, là mẹ, họ hàng anh em

Bóng tre hắt chéo bên thềm

Mái nhà nấp dưới dịu hiền bóng tre

 

Ấy nơi năm tháng đi về

Nơi ta trao gửi lời thề cho ai

Lời thề xanh tựa buổi mai

Xanh như câu hát đậu ngoài bờ tre

 

Nơi này ta gọi là quê

Là nơi yên tĩnh một bề lòng anh

Là nơi đùm bọc rách lành

Củ khoai hạt lúa nuôi mình lớn khôn

 

Là nơi mẹ trao cho con

Câu ca từ quả cau tròn bổ ba

Con mang sức vóc của cha

Tấm lòng của mẹ, màu da của làng

 

Xa xa kia sóng đồng vàng

Con cò vỗ cánh bay ngang chân trời

Dập dìu đâu đó à ơi

Vầng trăng đậu nóc mái gồi bình yên

Con đường anh đi cùng em

Từ nơi ngõ nhõ ra miền xa xôi

Câu ru xanh suốt một đời

Tiếng tre đưa võng làm lời khúc ru …

                         Làng Gốm - Sơn Đông, 1979

 

 

 

 

 

XÓM NHỎ VÀO HÈ

 

Xóm nhỏ vào hè

Bờ tre thay lá

Đồng quen, đồng lạ

Man mác hương bay

Hạy cựa trong cây

Mầm lên uống nắng

Có đàn cò trắng

Kéo trời lên cao

 

Ếch kêu bờ ao

Mưa rào ngấp nghé

Bầy chi se sẻ

Gọi mùa ríu ran

Bên miệng hố bom

Luống khoai mập nhựa

Trong lòng hố bom

Cánh bèo tở mở

Dưới đáy hố bom

Bầy cua sinh nở

Nghe như đất thở

Sinh sôi ước mơ

Bóng mẹ già nua

Nắng vàng tơ dệt

Mẹ giặt áo rét

Cất đi mùa đông

Tấm lưng thêm còng

 Mỗi ngày bom dội

 

Thơm lừng hương bưởi

Bay rối tóc ai

Nghiêng nghiêng đường cày

Em giao mùa bắp

Chừng như bắt gặp

Sáng hè chia tay

Hạt bắp căng đầy

Tách mầm bỡ ngỡ

 

Nghe vành nôi nhỏ

Vo tròn bóng tre

Thức dậy bầy ve

Làm xanh mắt pháo

Mùa hè khoác áo

Thắm màu nguỵ trang.

                     Khu Bốn, 1969

                                                          

 

 

 

 

 

 

TRỞ LẠI CÁNH RỪNG 

 

Tôi trở lại cánh rừng thuở trước

Ký ức một thời chìm lấp sau cây

Dưới lớp lá…

Nơi nào in chân bước

Ngã ba nào…

Tôi với bạn chia tay…?

 

Đâu khoảng suối kỳ lưng nhau tắm táp

Đâu chạc ba cây mắc võng,treo nồi

Đâu bãi khách trăng soi tìm mái lán

Đâu con đường ba lô cõng mưa rơi?

Và đâu nữa đêm đất rừng chảy máu

Bom phạt,cây tan,dép mũ lạc người…

Cả bia mộ cũng lạc tên tuổi bạn

Chỉ đất còn lưu giữ dáng người thôi…!

 

Rừng ơi…

Bạn ơi..

Tha lỗi cho tôi

Chẳng kịp nhớ nơi bạn từng nằm lại

Cây thay lá để cho màu xanh mãi

Ta mất nhau rồi

Còn lại rừng thôi…

 

Ngược đường về

Ký ức xa xôi

Thấy thấp thoáng

                  dáng người

Trong mây trắng

Mghe đâu đó

              ai cười bên sông vắng

Ngã ba nào…

              Tôi với bạn chia tay…?

                              Quảng Đà  - Viết sau chiến tranh

 

 

 

 

 

 

KHOẢNG CUỐI MÙA THU 

 

Tôi- khoảng cuối mùa thu

Một chút vàng của nắng

Một trăng vàng bình lặng

Lá rơi vàng nghĩ suy

 

Ngày thu vội vàng đi

Sau chiều vàng khuất lấp

Đêm lạnh se mặt đất

Gió thu vàng mênh mông

 

Phía trước là mùa đông

Con đường xao xác lá

Phía sau kia mùa hạ

Lấp chìm vào cơn mưa

 

Ở khoảng giữa mùa thu

Đất đai không còn trẻ

Gió thổi không còn khoẻ

Sắc trời thường ưu tư

 

Ở khoảng cuối mùa thu

Ước mơ vàng trái bưởi

Hoa cúc vàng gió thổi

Nỗi buồn vàng sau, xưa

 

Tôi- khoảng cuối mùa thu

Một chút vàng của nắng

Tôi- khoảng cuối mùa thu

Một khoảng đời thầm lặng.

                                       1998

 

 

 

 

 

KHOẢNG KHUẤT  

 

Tôi thường đi giữa phố đông

Bóng mình đổ xuống khoảng không của đời

 

Đôi khi em nhận nhầm tôi

Đôi khi tôi lẫn vào người lại qua

Đôi khi xa chẳng là xa

Đôi khi mình chẳng nhận ra quanh mình

Đôi khi thành sự vô tình

Đôi khi ta thoáng giật mình với ta…

 

Để rồi thấy giữa bao la

Có một khoảng khuất đi qua cuộc đời. 

             Tân Bình

 

 

 

 

 

 

 

TIẾNG NÓI BÀN TAY 

       Thân tặng bộ đội Thông tin liên lạc

 

Chả nhìn thấy em đâu

Bởi em ngồi khuất quá

Chưa gặp em lần nào

Chẳng hiểu sao nhớ lạ

Hai phương trời mấy ngả

Bắc nhịp cầu âm thanh

Nơi em đến nơi anh

Giăng hai chiều thương nhớ

Anh nghe từ phía đó

Tín hiệu bay bổng trầm

Giũa xô bồ tạp âm

Anh nhận ra tiếng bạn

Anh nhận ra tiếng sạn

Trong nhịp sóng không đều

Anh thấy vẻ yêu kiều

Trong điệu rung tín hiệu

Cái khoảng xa kỳ diệu

Cho chúng mình gặp nhau

Nào biết em ở đâu

Qua bao chiều gió thổi

Em giữa lòng đồng đội

Sao đôi lúc lãng quên

Lời em gửi trăm miền

Nào mấy ai biết tới

Nói nhiều hơn tiếng nói

Ơi bàn tay lặng yên

Làm câu hát trái tim

Ơi bàn tay se chỉ

Bao nhiêu lời thủ thỉ

Trong hạt lúa ,củ khoai

Bao hơi mát bầu trời

Trong bàn tay ấm nóng

Ơi bàn tay phát sóng

Suốt một thời chiến tranh

Sao bàn tay lặng thinh

Khi chúng mình giáp mặt? 

                                      1982

 

 

 

 

 

 

 

SÓNG VỖ BÊN TRỜI 

               Kính tặng làng Gốm, Sơn Đông

 

Mỗi khi thầm gọi: Gốm ơi

Lại nghe sóng vỗ bên trời dòng sông

 

Lại nghe bùn đất đồng Đông

Nắng mưa còn lặn phập phồng trong da

 

Lại nghe bước mẹ chợ xa

Rạn vai sương gió chưa qua phận nghèo

 

Lại nghe trăm ngả đường yêu

Đi đâu cũng gặp tím chiều em qua

 

Lại nghe thăm thẳm sâu xa

Nỗi quê thức vọng tiếng gà cầm canh

 

Lao xao sóng dội Bến Đình

Lở bồi năm tháng… lòng mình lao xao… 

                                                   Thu 2003

 

 

 

 

 

 

NƠI ẤY… LÒNG RỪNG 

 

Nơi ấy bây giờ xanh lá

Đất mờ dấu tích ngày xưa

 

Nơi ấy lặn sâu ký ức

Lấp vào ngày nắng, ngày mưa

 

Nơi ấy có chi vương lại

Hoạ chăng chiếc dép lẻ đôi

 

Nơi ấy khuất trong tê tái

Hoạ chăng vài mảnh xương rời

 

Nơi ấy bóng mây còn nhớ

Lửa đêm khói đạn thiêu trời

 

Nơi ấy dáng cây còn nhớ

Xác người, xác mảnh trăng rơi…

 

Nơi ấy không gì để mất

Lắng sâu thăm thẳm cõi người! 

                     Đường 14, năm 2007

 

 

 

 

 

 

 

NỬA TRỜI TRĂNG KHUYẾT

               Kính tặng gia đình người mẹ mất con

 

Từ ngày vắng bặt tin anh

Hình như một nửa trời xanh nhạt màu

Chiến trường khuất nửa xa sâu

Mây đêm vương nửa khuyết vào vầng trăng

 

Nhà ta nửa lệch, nửa bằng

Nắng chênh nửa sáng, sương giăng nửa chiều

Cây nhang cháy nửa liêu xiêu

Tóc em nửa bạc bởi nhiều buồn đau

 

Mẹ ngừng nhai nửa miếng trầu

Lặng nhìn tấm ảnh nửa màu phôi phai

Thương con lòng mẹ chia hai

Nửa sau khung cửa, nửa ngoài mái hiên

 

Ruộng nhà hai nửa mùa chiêm

Nửa phơi nắng hạn, nửa chím lũ mưa

Thiếu người cày sáng, cuốc trưa

Khuyết, tròn hạt lúa nửa múa trồng gieo

 

Nhà chia nửa sáng, nửa chiều

Mới qua được nửa kiếp nghèo rạ rơm

Giá mà còn đủ mặt con

Mẹ đâu nên nỗi nửa buồn, nửa lo

 

Nửa đêm nghe gió trở mùa

Nhớ, thương hai nửa, lạnh lùa vào tim

Trăng mây nửa nổi, nửa chìm

Nửa đi xa khuất…nửa tìm bóng nhau… 

           Đêm cuối 2009

 

 

 

 

 

 

KIẾP PHÙ SINH 

 

Tạm vắng nơi này, tạm trú nơi kia

Ở hai phía âm dương đều tạm cả

Kiếp phù sinh bay vèo như mảnh lá

Lúc hoá thành cát bụi vẫn long đong

 

 

 

 

 

 

NGẮM BẠN 

 

Vừa thoáng đấy…đồng đội thành già cả

Đã ông, đã bà móm mém  gọi tên nhau

Nhắc kỷ niệm ở rừng cười rơi hàm răng giả

Ngắm bạn cười…vui quá…hoá niềm đau…

 

 

 

 

 

 

BẾN LẠNH 

 

Cầu dựng lên, dòng sông chừng hẹp lại

Bến cũ không phà rêu cỏ chen xanh

Nước cứ chảy sóng hôn bờ bãi

Thương trăng khuya qua bến lạnh một mình…

                                                         Bến phà NT

 

 

 

 

 

 

 

Ở NƠI… LÀNG ẤY

 

Ở nơi thiếu vắng đàn ông

Như nhà thiếu cột, như sông vắng thuyền

Ở nơi thừa thãi trinh nguyên

 Là nơi gái hoá thành tiên cõi người

 

Đũa đôi mà chả thành đôi

Mâm cơm kê lệch, chỗ ngồi để hoang

Chỉn chu cũng hoá hoang toàng

Là làng sao thiếu hồn làng …người ơi …

 

Thương thay kiếp trẻ chào đời

Mồ côi từ ở bụng người mang thai

Làm cha bé ấy…là ai…?

Cái câu hỏi…cứ giằng dai…nỗi niềm

 

Đời người đau đáu triền miên

Chiến tranh mòn khuyết trăng liềm trời cao

Có trầu đời thiếu quả cau

Người tan phía ấy…người đau nẻo này…

 

Ở nơi âm khí giăng dày

Dòng sông vỗ sóng hao gày chảy qua

Ở nơi thiếu vắng người cha

Người ơi làng ấy có là làng không ?

                             Sài Gòn 7-2001

 

 

 

 

 

 

 

 

BẾN XƯA

 

Thuyền xưa đậu ở bến này

Người xưa chèo lái đưa ngày qua sông

 

Mái chèo khuấy đục hừng đông

Mẹ tôi sang chợ gánh gồng tiếng rao

 

Dòng sông có tự khi nào

Ai đem trăng khuyết neo vào bến quê

 

Tôi đi từ bấy chưa về

Thành ra lỗi một lời thề với sông

 

Người xưa thì đã theo chồng

Còn đâu đò chở những dòng ca dao

 

Cầu vồng bắc nối chiêm bao

Bến sông từ ấy khuất vào dòng sông

 

Tôi tìm bến cũ, người không

Chỉ nghe sóng vỗ phập phồng bãi xa… 

                                             Xuân 2003

 

 

 

 

 

 

 

LY THỜI GIAN 

 

Thời gian được rót tràn ly

Uống cho vợi bớt những gì đầy vơi

 

Này ly cho khoảng lỡ thời

Này ly cho một đoạn đời long đong

Này ly cho quãng đường vòng

Này ly cho bước tận cùng là đâu…

 

Ly vui ta trộn ly sầu

Tay ta,ta tự cụng vào ly ta

 

Cầm năm, cầm tháng rót ra

Trong ly lóng lánh toàn là hư không…

                                             Thu 2007

 

 

 

 

 

 

 

THÊM CÂU LỤC BÁT 

 

Thêm câu lục bát không mùa

Dẫu trời phai nắng, bạc mưa cũng đành

Cầm bằng lá chẳng còn xanh

Thì trao cho gió chút tình của cây

 

Nâng câu lục bát lòng tay

Thấy đêm đang đến, biết ngày đang qua

Nắng tan chiều xế trứơc nhà

Chợ tan buổi chợ, người xa khuất người

 

Nâng câu lục bát rụng rơi

Vì duyên, vì phận, vì đời cho nhau

Còn chi ở phía ngày sau

Có chăng vương lại niềm đau tay cầm… 

                                        Ngày 12-2-2012

 

 

 

 

 

 

 

SÔNG NGƯỢC DÒNG TRÔI 

 

Dòng sông trôi ngược vào thơ

Chuyến xe kéo ngược cơn mơ về làng

Ngược chiều gió bấc tôi sang

Ngược tìm bến cũ lỡ làng ngày xưa…

 

Lão nông vác ngược cày bừa

Gió chiều hất ngược cơn mưa ướt người

Trẻ trai ngược phố lâu rồi

Đồng quê xuôi ngược xa thời đã xa

 

Ngược về ngã bảy, ngã ba

Ngược cùng âm điệu câu ca khác rồi

Tôi giờ đi ngược vào tôi

Tìm về dòng ngược sông trôi của làng… 

                                                    2012

 

 

 

 

 

 

HOÀI NIỆM LỜI RU 

 

Lời ru thưa thớt dần dần

Câu ru quên ý, lạc vần rụng rơi

Thoảng thi gặp giọng à ơi

Khuất trong xa vắng đất trời chốn quê

 

Nhớ ơi kẽo kẹt tiếng tre

Đâu thuyền géch bến chờ nghe sông hò

Nhớ ơi guốc võng mòn trơ

Trăng say giấc ngu nằm mơ hiên nhà

Nhớ ơi tiếng mẹ, lời bà

Câu ru thủa ấy đã xa theo người!...

 

Con tôi giờ khác thời tôi

Nựng con chẳng mượn nhờ lời ru xưa

Sáng chiều mẹ đón, cha đưa

Cháu vào nhà trẻ lúc vừa “thôi nôi”

Nếp ăn, nếp ngủ, nếp chơi

Lên mầm, lên lá, lên chồi ước mơ

 

Nào ai còn nhớ tiếng ru

Sông trôi, nước chảy bây giờ về đâu?

                              Mùa khô 2010

 

 

 

 

 

 

 

 

GIÁ NHƯ NGÀY ẤY

 

Giá như ngày ấy không mưa

Giá như đừng gặp đong đưa ánh nhìn

Thì đâu….nên nổi, nên chìm

Thì đâu … suốt cả đời tìm bóng nhau…

 

 

 

 

 

 

 

CÁI LÚM ĐỒNG TIỀN 

 

Thà  rằng lụt biển, lũ sông

Sa chân lỡ bước… chết trong nổi chìm

Nào hay cái lúm đồng tiền

Bé ti, bé tẹo cũng dìm chết nhau

 

 

 

 

 

 

 

SỢI TÓC 

 

Lạ lùng là sợi tóc em

Vừa thơm, vừa ấm, vừa mềm, vừa dai

Rối ren thắt buộc sơ sài

Một đời anh vướng… gỡ hoài không ra

 

 

 

 

 

 

 

 

CHIỀU THU NÁN LẠI 

 

Lơi rơi từng mảnh lá bàng

Mẹ khua chổi quét nắng vàng vào đêm

Nắng vàng từ đất vàng lên

Chiều thu nán lại trước thềm nhà ta.

 

        * Thơ trích trong tập “Bốn câu lục bát”

 

 

  

 

 

 

 

THẦM THÌ BIỂN

 

Em vẫn thường gặp biển

Ở phía này cơn mưa

 

Thầm thì bao nhiêu chuyện

Khép mở từng trang thư

 

Chập chờn dòng tin điện

Em hình dung biển bờ

 

Biển có đâu xa mờ

Khi lòng người nhớ biển

 

Đâu đảo nổi, đá chìm

Bóng người xa ẩn hiện

 

Nỗi nhớ neo thành bến

Người đi xin yên lòng

 

Ơi mênh mông, mênh mông

Em lắng từng tiếng sóng

 

Chiều nay mưa thoáng bóng

Ngỡ gặp người trong mưa …

                                        2012

 

 

 

 

 

 

 

 

 

VẦNG TRĂNG TÂM SỰ

 

Đã lâu rồi tôi gặp lại vầng trăng

Dẫu tôi biết đêm đêm trăng vẫn thường qua cửa

Đâu chỉ đêm nay

Ngàn đêm sau nữa

Trăng ngự bầu trời như lẽ đương nhiên

Tôi nhiều lần ví trăng như em

Trăng có phải em đâu

                                 Sao vơ quàng làm vậy?

Trăng là trăng, và em là em ấy

Có nỗi niềm gì…

                      Em tựa như trăng?...

 

Ai mượn trăng, làm cớ đãi đằng

Với tôi ấy…

 Nhiều điều chỉ riêng trăng biết

Dẫu xa xôi…trăng vô cùng thân thiết

Tôi thầm thì tâm sự để trăng nghe….

                                  

 Trong tôi lạnh đông

Pha ấm nắng hè

Sau cuộc chiến trở về

Giấc mê thường gặp sấm

Tôi là nùn rơm, lửa ấm

Mẹ nhen từ than  bếp  mái nhà quê…

 

Giờ mẹ không còn

Ngưới cũng đã xa chia

Lắng lại nơi tôi

Vầng trăng tâm sự

Một đời lấy khoảng trời làm chỗ trọ

Mình soi mình để thấy kiếp nhân gian

 

Gửi vui buồn vào trăng,vào em

Vào khoảng vắng vơi đầy toàn những gió

Đã lâu lắm đêm nay nhìn trăng tỏ

Tôi hòi thầm

Trăng có nhớ nhau không?... 

                         Đêm thu Sài Gòn 2014

 

 

 

 

 

 

 

 

GẶP TRÊN MUÔN NẺO ĐƯỜNG ĐỜI 

 

Vẫn là mái lợp, tường quây

Vẫn dòng sông chảy, vẫn cây xanh mùa

Vẫn kia buổi chợ bán mua

Vẫn người khát nước, vẫn thừa nắng nôi

Vẫn đi muôn ngả đường đời

Ngõ quê thì hẹp, chân trời thì xa…

 

Người vào lối rẽ vi la

Người bươn nẻo vắng, bóng nhà khuất mây

Đi qua thăm thẳm đất này

Ai tìm ai ở tháng ngày chiêm bao

Nhịp quê vốn nhịp ca dao

Ai mang nhạc rốc pha vào nhịp quê?...

 Tôi theo xa lộ tìm về

Ngỡ mình trôi lạc cơn mê phố làng

Đình chùa miếu mạo sửa sang

Ruộng nương co hẹp, nghĩa trang thêm nhiều

Nghe sông kể chuyện giàu nghèo

Gặp mưa trong nắng, gặp chiều tân trang…

 

Cầu giăng nối phố vào làng

Chuyến xe chở nắng muộn màng đi đâu?....

                        Xa lộ Nội Bài- Lào Kai, tết 2015


 

 

 

 

 

 

THÁI VƯỢNG

 


- Họ và tên: Thái Vượng

- Quê quán: Xã Tam Sơn, Huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc

- Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam (từ 1996)

 

- Tác phẩm chính đã xuất bản:

* Dòng máu (Tiểu thuyết, 1978)

* Bão tan (Tập truyện ngắn, 1979)

* Mùa hoa gạo (Tiểu thuyết, 1982)

* Những con đường trên mặt nước (Tiểu thuyết, 1985)

* Vùng đất chưa im tiếng súng (Tiểu thuyết, 1985)

* Sáng ấy mưa rơi (Tiểu thuyết, 1993)

* Màu thời gian(Tập truyện ngăn, 1997)

- Giải thưởng văn học:

* Giải A, Báo Văn nghệ giải phóng, 1976

* Giải Hùng Vương của Hội VHNT Vĩnh Phú, 1986

* Tặng thưởng của Báo Văn nghệ quân đội, Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh…

 

 

A - TRONG KÝ ỨC BẠN BÈ

 

VỀ NHÀ VĂN MIỀN ĐÁ DỰNG 

Nhà văn Thái Vượng sinh ra và lớn lên tại làng Ao Gỗ, Xã Tam Sơn, Huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc. (Tục gọi là Làng Gáo, Thái Vượng thường đề làng Gáo trong mỗi tác phẩm của mình). Nay là  thị trấn Tam Sơn, Huyện Sông Lô, Vĩnh Phúc.

Xuất thân từ một gia đình nho giáo nghèo, ông là con thứ hai trong năm anh chị em. Cha làm nghề dạy học và bốc thuốc bắc, Mẹ làm nghề nông và trồng dâu nuôi tằm, năm tháng tuổi thơ của Thái Vượng vô cùng vất vả, sớm phải bươn trải với cuộc sống mò cua, bắt ốc để mưu sinh, có lẽ vì thế mà từ bờ ao, góc ruộng đến những bụi tre của làng Ao Gỗ đã gắn vào nghiệp văn chương của ông sau này. Trong một bài thơ ông đã viết:

 " Tôi nghèo lắm, Mẹ, Cha tôi nghèo lắm

Suốt một đời chủ nghĩa với lương tâm

Cha dạy học, ngâm thơ và chữa bệnh

Mẹ sớm khuya, canh cửi ruộng đồng"…..

Hay như truyện ngắn " Mùi bùn " của ông được nhà Biên kịch Nguyễn Thị Thu Huệ chuyển thể thành kịch bản phim truyện năm 1997.

Thái Vượng nhập ngũ năm 1967, khi vừa học song lớp 9 cấp III trường Huyện. Ông từng tham gia chiến đấu hầu khắp các chiến trường Miền Nam những năm chống Mỹ, đặc biệt là chiến trường Miền Đông Nam bộ, vùng Bảy núi An Giang. Sau ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam năm 1975, ông lại tiếp tục hành quân lên đường làm nghĩa vụ Quốc tế trên đất bạn Cămpuchia. 

Năm 1979 Thái Vượng được Quân Khu 7 điều ra Hà Nội tham dự Lớp viết văn Nguyễn Du, khóa I cùng với Nhà văn Nguyễn Ngọc Mộc và nhà văn Lê Văn Vọng.

Tháng 2 năm 1979, cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc nổ ra, một lần nữa ông cùng với anh em văn nghệ sỹ (Nhà văn Lê Văn Vọng nói là các nhà văn trung úy) lại lên đường ra trận. Nhiều bút ký, phóng sự, thơ của ông được đăng tải kịp thời trên báo trí, mang tính thời sự, vạch trần tội ác tàn bạo của quân thù đối với đồng bào ta ở các tỉnh Biên giới phía Bắc, đồng thời ca ngợi những tấm gương chiến đấu dũng cảm của quân và dân ta để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ cuộc sống của đồng bào nơi địa đầu Đất nước.

Năm 1982, sau khi hoàn thành khóa đào tạo viết văn Nguyễn Du, Thái Vượng về công tác tại Tạp chí Văn nghệ quân đội, số 4- Lý Nam Đế (Cục Tuyên huấn, tổng cục Chính trị) ). Năm 1996 làm Chủ nhiệm Nhà văn hóa Tổng cục công nghiệp, quốc phòng và kinh tế.

Có thể nói cuộc đời của ông gắn liền với những trận mạc, với những chuyến đi, cây súng và cây bút luôn là vũ khí để ông viết và chiến đấu không ngơi nghỉ trong suốt 33 năm, 5 tháng cho đến ngày ông rời xa đồng đội, người thân để về với cõi vĩnh hằng, (Thái Vượng mất tháng 11 năm 1996, do bị nhiễm chất độc da cam thời chiến tranh).

Điều đó được thể hiện qua các tác phẩm văn học mà Thái Vượng đã để lại, có thể kể đến một số tác phẩm tiêu biểu như: 5 tiểu thuyết: "Dòng Máu" (In chung với Ngô Quang Nam), "Mùa hoa gạo", "Những con đường trên mặt nước", "Vùng đất chưa im tiếng súng", " Sáng ấy mưa rơi", 2 tập truyện ngắn: "Bão tan", " Màu thời gian"…..

Trong những ngày tháng nằm trên giường bệnh tại viện Quân y 108, Thái Vượng vừa phải chống trọi với căn bệnh ung thư, vừa cố gắng hoàn thiện  tiểu thuyết "Dự báo về Quyên" và làm một tuyển tập, rất tiếc khi "Dự báo về Quyên" và tuyển tập chưa kịp ấn hành thì ông đã đi xa.

H.T

 

 

 

B - MỘT SỐ TÁC PHẨM TIÊU BIỂU 

 

 

CỤ THUNG

                                                                    

Thường thì cứ mỗi ngày cụ Thung chỉ uống vài ba chén rượu. Rượu ngon hay rượu xoàng cũng vậy. Cụ uống vào bữa cơm tối bằng cái chến uống nước nhỏ , mà ông trưởng ty văn hóa tỉnh mua cho nhà "thằng bố hai" từ khi bố nó vào trong chiến trường.

Cụ bảo uống vài chién cho nó giãn gân, giãn cốt, để ngủ, giữ được sức khỏe. Nhưng có lẽ chỉ có chị Sự, con dâu cả của cụ là nhận ra cái ý nghĩa sâu sắc của những chén rượu và thói quen ấy của cụ.

Từ ngày về làm dâu hai cụ, mấy chục năm rồi , đã có cháu nội, cháu ngoại, chị hiểu rõ bố chồng lắm. Cụ có nghiện rượu đâu . Nếu có, khi vui có bạn, có thức nhắm cụ cũng chỉ uống vài ba chén nhỏ. Cả tháng, cả năm chẳng có cũng được. Trà thuốc cũng vậy, cụ không nghiện thứ gì.

Thói quen uống rượu vào bữa cơm tối này của cụ Thung mới có từ gần một năm nay, khi trong gia đình có nhiều sự kiện quan trọng, ảnh hưởng đến tình cảm của mỗi người trong nhà, nhất là đối với cụ bà.

Ấy là hồi đầu năm, thằng con trai út của cụ vào Nam chiến đấu. Tên anh là Đạt, đang học giở lớp chín thì tình nguyện làm đơn nhập ngũ, rồi lên đường ngay. Sau mấy tháng huấn luyện, Đạt vào mặt trận liền, chẳng kịp về thăm nhà lấy một ngày. Một năm sau, Đạt gửi thư về báo tin cho nhà biết: Anh đang chiến đấu ở chiến trường miền Đông Nam bộ, đã than gia đánh tới mười bốn trận, được công nhận là dũng sỹ diệt xe tăng, và vinh dự nhất là đã được đứng trong hàng ngũ của Đảng.

Đến giữa năm thì người con trai thứ hai - Anh Giang, cũng hành quân một mạch vào tuốt tận đồng bằng sông Cửu Long. Mấy năm liền bặt tin, cứ ngỡ là anh chẳng còn nữa. Chị Căn, vợ anh âm thầm sụt sịt mãi. Đùng cái, một hôm gần tối, ông giao thông xã đem đến tận nhà cho cụ bức thư của anh Giang. Ngay tối hôm ấy cụ uống rượu và bảo chị Căn đọc thư cho cả nhà nghe.

- Nhà con kể anh ấy đóng quân tận mãi đồng bằng sông Cửu Long, cách xa làng mình những hơn hai ngàn cây số. Ở đó toàn ruộng là ruộng phẳng lì. Mùa gặt, một cô gái chạy xa tít mù mà vẫn nhìn thấy gót chân son, bằng đến thế kia mà. Ấy thế mà ở đó lại nổi lên một vùng núi. Cứ y như là mấy quả cam xếp giữa cái mâm đồng. Đấy là vùng bẩy núi. Đơn vị nhà con lập căn cứ ở đấy để tiến xuống giải phóng đồng bằng…

Chắc là có chỗ anh viết riêng cho chị, nên chị Căn mới tóm tắt bức thư cho cả nhà nghe chứ không đọc nguyên văn. Cuối năm ấy, anh con trai đầu của cụ - Anh Thịnh đang làm Hiệu trưởng Trường cấp III cũng lại lên đường nhập ngũ, cũng tình nguyện hành quân ngay vào mặt trận đường chín - khe Sanh.

Cụ Thung có năm người con cả thảy, ba trai, hai gái. Vậy mà cả ba anh con trai đều vào chiến trường. Hai cô con gái đã lấy chồng. Hai tràng rể đều là bộ đội, cũng vào cả chiến trường.

Anh con dể lớn - anh Thuận - chồng cô Thế, chiến sĩ lái xe tăng, vừa bị thương trong trận đánh vào căn cứ Làng Vây. Nghe nói xe tăng của ta tràn lên hàng rào giây thép gai tiến vào bắn sập bao nhiêu lô cốt. Mãi đến khi ta chiếm toàn bộ Làng vây, con rể cụ mới bị thương. Vết thương nặng lắm, anh đang điều trị trong bệnh viện, chưa khỏi nên chưa về thăm nhà được.

Còn con dể thứ hai - anh Mai - chồng cô Cảnh, là bộ đội thông tin, chuyên đánh tạch tạch, tè tè bay lên trời, để ta liên lạc với nhau. Chỉ có ta nghe được chứ thằng địch có nghe được cũng chựu. Nghe đâu chú ấy cũng đang theo một ông chỉ huy nào cao lắm vào trong mặt trận.

Vậy là con trai, con dể đều đã đi tuốt, ở nhà còn hai cụ, hai chị con dâu với lũ cháu nhỏ. Hai chị con dâu của cụ đều là Đảng viên, cán bộ. Thôi thì trăm công, nghìn việc. Lúc đi họp, lúc đi phục vụ bộ đội. Tất cả cho tiền tuyến mà. Lại còn công việc đồng áng, con lợn, con gà. Cứ là tối mắt, tối mũi lại…

Bà cụ từ khi các con vào mặt trận cả, nhiều lúc cứ như người ngớ ngẩn. Thỉnh thoảng nhớ các con, tự dưng cụ lại sụt sịt, có bữa bỏ cơm. Một hôm cụ Thung hỏi chị Sự:

- Này mẹ Tâm - cụ vẫn gọi chị bằng cái tên đứa cháu - Dạo này rượu có đắt không nhỉ?

- Cũng chả đắt đâu ông ạ! Ông có uống vài chén cho khỏe để con mua.

À, nếu vừa phải, không đắt, con mua cho bố một chai. Mỗi ngày bố uống một hai chén, cho nó giãn gân cốt.

Chiều hôm ấy, sau khi đi họp Đảng bộ xã về, chị Sự tạt qua phố mua một chai rượu gạo. Chị mua luân mấy bìa đậu để hai cụ ăn. Cũng đã lâu rồi, rau muối kham khổ. Chị cứ nghĩ, chồng đi chiến đấu, các em cũng đều vào mặt trận cả, ở nhà mọi việc trong gia đình, nhất là việc chăm sóc bố, mẹ, chị đều tự nguyện đứng mũi, chựu sào, lo toan hết thảy, kể từ khi chồng chị và các em vào hết trong chiến trường, tâm tính cụ ông thay đổi, chứ không riêng gì cụ bà. Chị thấy cụ ít nói hơn, lầm lỳ hơn, không khí trong gia đình trầm lắng hẳn xuống.

Nhất là từ ngày có chính sách báo tử. Cứ mỗi lần có đợt báo tử, cả làng, cả xã, nhà nào cũng lo mất ăn, mất ngủ. Nhà nào mà chả có con em mình vào Nam chiến đấu. Cái làng Gáo nhỏ bé chưa đầy tám chục nóc nhà này đã có hơn ba chục người hy sinh trên các chiến trường, báo tử rồi. Mà cuộc chiến tranh thì vẫn có thể lâu dài, gay go nữa. Cho nên cứ mỗi lần rục rịch báo tử thì ai cũng cầu mong đừng có rơi vào nhà mình, mà cũng đừng có rơi vào nhà nào cả. Cứ nhầm tên ai đó trên cõi đời này đi.

Hay là sáng nay cụ lại nghe được tin sắp có đợt báo tử nữa, cụ lo mà bảo chị mua rượu, uống say để quên nỗi lo đi.

Bữa cơm tối mãi đến tám, chín giờ mới được ăn. Mâm cơm đặt dưới trăng, giữa sân. Chị Sự đem chai rượu đặt bên cạnh bố chồng:

- Con chả biết nếm. Chả biết rượu có khá không: Có mấy bìa đậu phụ, để ông uống  rượu và bà ăn cho mát ruột.

- Vẽ, tiền đâu mà con còn mua đậu phụ? Bảo con mua chai rượu bố đã nể lắm rồi. Nước nhà có giặc, đấng nam nhi chúng nó phải có trách nhiệm đi đánh giặc. Ở nhà một lũ con dại, lại còn bố mẹ già, trăm cái lo đến tay, phải tằn tiệm con ạ. Bố mẹ có trách móc gì các con đâu. Nào thôi, đã chót mua rồi thì cho các cháu nó ăn. Bà chia cho các cháu mỗi đứa một miếng. Tôi cũng ăn một miếng.

Ông cụ bảo bà cụ vậy, rồi rót rượu nâng chén nhấp một hớp.

- Ừ rượu mẹ Tâm mua được đấy. Khá, nặng mà dựu đấy chứ không xốc.

Bà cụ đặt vào bát ông cụ cả bìa đậu. Còn  lại bà chia cho sáu đứa cháu mỗ đứa một miếng. Cả hai chị con dâu mỗi người một miếng. Cuối cùng cụ để vào bát mình một miếng rồi chép miệng thở dài:

- Khổ, cái thằng bố Thịnh nó thích ăn đậu phụ lắm. Vào trong ấy chả biết có mà ăn không. Hôm bố nó lên đường, mẹ Tâm lại quên chả mua cho nó vài bìa.

- Cái bà này hay nhỉ - Ông cụ ngắt lời - Cứ nhắc đến chúng nó cho chúng nó vấp. Lo gì chả lo, lo có đậu phụ cho nó ăn không.

- Ấy là nói chuyện thế, chứ tôi lo gì. Lo cũng chả được. Có lo thì tôi chỉ lo cho thằng bố hai. Thằng Giang ấy, tính nó ngỗ ngược, bướng bỉnh, chả biết có nghe lời cấp trên chỉ huy không. Xông pha vào chỗ mũi tên hòn đạn mà ngỗ ngược là chết.

Nghe mẹ chồng nhắc đến chồng mình, chị Căn lại chớp chớp mắt, miếng cơm cứ bã ra. Liếc thấy thế, cụ Thung nâng chén nhấp hớp rượu nói đắn:

- Chả lo, con ngựa bất kham thường là con ngựa hay. Cái thằng bố hai thì nó thế thật. Bạo hổ bằng hà, tiểu chu quá hải. Cái thuyền con mà giám vượt bể. Nhưng biết chèo chống là tới đích, làm nên nghiệp lớn.

- Bà ơi, bố cháu là "bạo hổ bằng hà" hả bà? - Thằng Long con anh Giang hỏi.

- Ừ bố mày đấy - ông cụ bảo cháu - mày có biết "bạo hổ bằng hà" là thế nào không cháu? Là ngỗ ngược, ngang ngạnh như con hổ ấy, nghe chưa?

- Nhưng mà bao giờ bố cháu về, bố cháu mua khối đậu cho ông, bà, cho cả nhà nữa.

- Ừ, - Vẫn ông cụ - chờ bố mày về nua đậu cho ông thì ông đã ra Bãi Mé.