NHIỆT LIỆT CHÀO MỪNG 93 NĂM NGÀY BÁO CHÍ CÁCH MẠNG VIỆT NAM (21/6/1925 - 21/6/2018)
Từ khóa tìm kiếm Từ khóa tìm kiếm

Đặc sắc không gian văn hóa hội Rưng

(Ngày đăng: 17/10/2017, số lượt xem: 90)

      Xã Tứ Trưng (kẻ Rưng xưa) được ghép từ bốn làng có tên “Trưng” là: Thế Trưng, Văn Trưng, Vĩnh Trưng và làng Bảo Trưng. Tứ Trưng có đầm Rưng, chợ Rưng và một danh tướng kẻ Rưng được lập thờ (Đền Đức Ông), nơi còn lưu giữ rất nhiều các di vật lịch sử quý giá.

 

Hội Rưng (xã Tứ Trưng, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc) là một trong các hội làng truyền thống đặc sắc của tỉnh Vĩnh Phúc bởi sự đa dạng trong các hoạt động, sắc thái văn hóa, cũng như về chủ thể, đối tượng tham gia lễ hội. Hội Rưng bắt nguồn từ nền văn hoá gốc nông nghiệp và truyền thống chống ngoại xâm của nhân dân ta, không chỉ đơn thuần là những giây phút thư giãn, vui chơi sau một năm lao động vất vả, cực nhọc của người nông dân mà thông qua đó họ còn gửi gắm những niềm tin, khát vọng về sự sung túc, sinh sôi nảy nở, hạnh phúc và bình an cho cộng đồng mình. Tuy nhiên đến nay, các truyền thuyết, phong tục, tập quán, lễ hội dân gian, điểm thờ tự ở xung quanh khu vực đầm Rưng - Tứ Trưng đang có nguy cơ mai một hoặc biến dạng. Mặt khác, phương thức lưu giữ vốn cổ và cách thức tổ chức, bảo tồn các di sản cũng chưa phù hợp với đặc trưng, đời sống của văn hoá dân gian. Song đến nay, vẫn chưa có nghiên cứu về vấn đề này.

1. Cơ sở hình thành văn hoá vùng

Sử sách còn ghi lại: “Phủ thành Vĩnh Tường đặt ở địa phận xã Văn Trưng”. Như vậy, Tứ Trưng có lịch sử văn hiến lâu đời, lại có truyền thống hiếu học. Đặc biệt, có một gia đình có 3 tiến sĩ, nên mới có câu: “Đồng thế đồng triều tam tiến sĩ/Nhất gia nhất nhật lưỡng vinh quy”. Tạm dịch: Một thời, một triều đại 1 gia đình đỗ 3 tiến sĩ và một ngày có 2 tiến sĩ về vinh quy bái tổ (Các ông đều được khắc tên trên bia đá ở Văn miếu - Quốc Tử Giám, Hà Nội).

Trong Từ điển Hán-Nôm, chữ  có nghĩa là “Rưng” (Rưng rưng nước mắt), là “Trưng” (Trưng cầu, trưng dụng).

Như vậy, bốn làng Trưng hợp thành xã Tứ Trưng có liên quan đến đầm Rưng. Theo một số tài liệu ghi lại, đầm Rưng là do dòng sông Kỳ Giang đổi dòng tạo nên. Việc này có liên quan đến nghĩa “Rưng rưng nước mắt”?

Lại nữa, chợ Rưng (chợ phiên diễn ra vào các ngày 1, 3, 6, 8, 11, 13, 16, 18, 21, 23, 26, 28 âm lịch hàng tháng) với hoạt động giao thương nổi tiếng khắp vùng, có liên quan gì đến nghĩa “Trưng cầu, trưng dụng”?

2. Không gian hội làng

Hội Rưng là lễ hội chung của các làng “Trưng” thuộc phủ Vĩnh Tường xưa (nay là huyện Vĩnh Tường). Tuy nhiên hiện nay, làng Bảo Trưng thuộc xã Phú Đa do điều chỉnh địa giới hành chính (?).

Giống như các hội làng truyền thống của cư dân nông nghiệp vùng đồng bằng Bắc Bộ, hội Rưng cũng được tổ chức vào mùa xuân - thời gian mà người nông dân được nghỉ ngơi, vui chơi sau mỗi chu kỳ lao động sản xuất vất vả, lam lũ.

Không gian văn hóa của hội Rưng không bó hẹp trong phạm vi của ba/bốn làng mà được diễn ra trên phạm vi rộng hơn với những nghi lễ độc đáo, mang đậm sắc thái vùng miền rõ rệt như: Thỉnh kinh tại chùa Dăm thuộc xã Yên Đồng (Yên Lạc), rước đức Thánh Khổng tại chùa Đồng thuộc thôn Cẩm Viên, xã Đại Tự (Yên Lạc), rước nước tại Vực Xanh (Vũ Di - Vĩnh Tường)...

“Thỉnh Kinh thời tại chùa Dăm

Rước đức Thánh Khổng chùa Đồng ba anh

Rước nước thời tại vực Xanh

Nghinh Thánh về đình, vui thật là vui”

Qua những câu vè trên, có thể thấy rõ những nét độc đáo, đa dạng của hội Rưng mà không phải hội làng truyền thống nào cũng có, đó là, ngoài không gian tổ chức tại đình, chùa, hội còn được tổ chức tại chốn chợ quê (chợ Rưng). Có một sự trùng hợp nhẫu nhiên là hội Rưng bắt đầu vào ngày mồng Sáu tháng Giêng, cũng là ngày diễn ra phiên chợ Rưng đầu tiên của năm. Theo quan niệm dân gian, đi phiên chợ đầu năm có ý nghĩa rất quan trọng, hoàn toàn không vì mục đích buôn - bán mà quan trọng hơn là đi “mua” lấy cái may mắn, cái lộc, cái phúc cho cả năm. Chính vì thế, hội Rưng đã có sức cuốn hút đông đảo các thành phần cư dân tham gia bao gồm: Nông dân, thợ thủ công và người buôn bán. Không chỉ ở Tứ Trưng mà người dân tứ xứ cũng về trẩy hội.

“Người xuôi - ngược, Đông - Tây kéo đến

Khách vãng lai hàng quán nghỉ ngơi”

Vì khách vãng lai vốn không phải người bản địa, lại có dịp tiếp xúc với nhiều không gian văn hóa khác nhau, cho nên, những khách tứ xứ đã góp phần tạo cho hội Rưng sự phong phú, đa dạng về sắc màu văn hóa.

Cứ thế, hội Rưng diễn ra trong nhộn nhịp, tưng bừng ở cả ba khu vực là đình Rưng, chợ Rưng và đền Đức Ông hết ngày mồng 6 tháng Giêng. Ngày mồng 7 tháng Giêng chỉ còn diễn ra tại đền Đức Ông, đây là các nghi thức cúng tế nhân ngày thánh hóa - ngày mất của danh tướng Nguyễn Văn Nhượng, đồng thời tôn vinh những đóng góp, công trạng của ngài đối với quê hương đất nước. Khi xưa ngày này được vua ban làm “Quốc tế” do quan hàng tỉnh đứng ra làm chủ lễ, điều đó cũng góp phần làm nên tầm vóc và sức hấp dẫn của hội Rưng.

3. Thần chủ

Danh tướng Nguyễn Văn Nhượng (chưa rõ năm sinh - năm mất) là người xã Hiến Trưng (sau đổi là Thế Trưng) thuộc xã Tứ Trưng, huyện Vĩnh Tường.

Sách “Nam Việt thần kỳ hội lục” chép ông vào danh sách các công thần võ tướng trong tổng số 25 người ở mục “Thượng lệ”. 

Nguyễn Văn Nhượng xuất thân làm chức Đông Kinh phán quan dưới triều vua Lý Cao Tông (1176 - 1210). Ông có công lao chinh phạt Ai Lao, được thưởng công cao. Hiện nay cả bốn làng có âm “Trưng” của xã Tứ Trưng đều thờ ông. Làng Văn Trưng thờ ở đền Đức Ông, làng Hiến Trưng thờ ở đình, làng Vĩnh Trưng thờ ở đình, làng Bảo Trưng (thuộc xã Phú Đa) xây lăng mộ.

Đình Rưng thờ hai vị thành hoàng làng là: Đông Kinh Phán quan Đại vương Thượng đẳng Phúc thần, húy là Nguyễn Văn Nhượng, như đã nói ở trên. Vị thành hoàng làng thứ hai là công chúa nước Chiêm Thành (vùng Nam Trung Bộ ngày nay) nhưng không rõ danh tính. Theo dân gian truyền kể: Vào thời Lý, triều đình đem quân đi chinh phạt các quốc gia nhỏ ở biên giới phía Nam, trong đó có Chiêm Thành. Khi thu phục được các nước này, nhà Lý đều đưa về Đại Việt một số hoàng thân, quốc thích làm con tin đề phòng nổi loạn. Lúc bấy giờ công chúa Chiêm Thành cũng bị mang về kinh thành Thăng Long. Trong một lần đi du ngoạn trên sông Kỳ Giang (đầm Rưng ngày nay) bất chợt trời giông to sóng lớn, nên thuyền bị lật nhào, công chúa cùng đoàn tùy tùng vài chục người đều bị tử nạn trên đoạn sông thuộc đất kẻ Rưng. Người dân sở tại vớt thi thể công chúa an táng và lập miếu để thờ, thấy linh thiêng nên nhiều người đến cầu cúng.

Có lẽ vì thế mà tại đền Đức Ông hiện vẫn có thờ một di vật đá hình trụ cao khoảng 40cm giống hình “sinh thực khí - Linga”. Đây là một chi tiết rất thú vị phần nào liên quan đến tín ngưỡng phồn thực ở hội Rưng. Thêm nữa, một số truyền thuyết về Đức Ông - Nguyễn Văn Nhượng sau khi dẹp giặc ở phương Nam có đem về rất nhiều tù binh, nhưng vốn bản tính nhân hậu, khoan dung nên ông đã không giết họ mà đưa họ về quê hương mình cho đất mà sinh sống hòa đồng cùng cộng đồng dân cư ở đây, điều này có thể lý giải vì sao ở đền Đức Ông lại thờ vật này.

4. Đồ dâng cúng

Hàng năm, vào tháng Hai, quan phủ Tam Đái cùng quan huyện Bạch Hạc (Vĩnh Tường ngày nay) cùng các hiệu quan tu sửa lễ vật là hai “ông trâu” đen, tiến hành tế xuân, gọi là “Quốc tế”.

Theo lệ chung, lễ vật được dâng lên cúng tế không phải bất cứ ai, bất cứ gia đình nào cũng đều được làm, mà phải do cộng đồng cắt cử. Để làm đồ tế, chủ tế của giáp đăng cai sẽ chọn lựa trong giáp những người có đạo đức, phu phụ song toàn, tử tôn hưng thịnh, có chức sắc, có học hành, chuẩn bị cho việc làm đồ tế.

Thông thường, từ xưa đến nay ngoài hoa quả, trầu cau, rượu nước là những thứ không thể thiếu trong lễ vật dâng lên nhà thánh, người dân thường dùng ván xôi con gà, cỗ xôi thủ lợn hoặc chân giò lợn để làm đồ tế thần. Cỗ thờ khi làm xong phải được làng khám xét cẩn thận, rồi mới dâng tế. Việc khám cỗ do quan viên của giáp đương cai đảm nhiệm để tỏ rõ sự trịnh trọng. Không ai được trái lệ.

Tuy nhiên đến nay…

 

5. Nghi lễ

5.1. Chuẩn bị

Hội Rưng được bắt đầu vào mồng Sáu tháng Giêng, trùng với ngày tổ chức phiên chợ Rưng đầu tiên của năm. Có nhiều câu ca nhắc nhớ:

“Tháng Giêng mồng sáu tiệc vui

Gần, xa nô nức đến chơi chợ này”

Hay là “Bỏ con, bỏ cháu không ai bỏ mùng Sáu hội Rưng”.

Việc chuẩn bị được tiến hành từ năm trước.

5.2. Rước nước

Đối với cư dân làm nông nghiệp, trong các yếu tố tự nhiên, thì nước là đầu. Bởi thế, trong hội Rưng, nghi thức rước nước không chỉ với mục đích để tắm tượng thần, rửa đồ tế khí, mà còn là hình thức để cầu cho mưa thuận gió hòa, mùa màng phong đăng hỏa cốc, quốc thái dân an. Trong hội Rưng, người dân Tứ Trưng không lấy từ nguồn nước sông Hồng, hoặc nước giếng làng như các lễ hội truyền thống khác mà “Rước nước thời tại vực Xanh” (thuộc xã Vũ Di, Vĩnh Tường) để thực hành nghi lễ cúng tế. Phải chăng, đây chính là biểu hiện sinh động của sự giao thoa văn hóa trong lễ hội Rưng?

5.3. Rước kiệu

* Chọn người rước kiệu: Những người rước kiệu thần (gọi là chân kiệu) đều phải kén chọn kỹ theo tiêu chí và tục lệ làng xã. Hầu hết là thanh thiếu niên nam hoặc nữ (đối với vị thần là nữ giới) chưa có vợ, chưa có chồng và đều là con nhà tử tế ở trong làng, không có khuyết tật thì được tuyển chọn. Vào ngày rước, các chân kiệu phải tập dượt trước một thời gian.

* Công việc “bao sái” (vảy nước và lau chùi): Từ vài ngày trước ngày lễ, kiệu được lấy từ trong hòm ra. Các quan viên tri lễ làm lễ cúng thần, rồi thực hiện vảy nước, lau chùi cho thật sạch bóng. Xem xét các bộ phận, nếu có chỗ nào lệch lạc thì sửa chữa lại cho vững chắc.

* Tiến trình vào lễ rước : Mỗi kỳ vào đám, khi vào lễ rước đều phải có lễ tế “phụng nghinh”. Nghi thức là: (1) Thượng hương (dâng hương); (2) Chước tửu (dâng rượu); (3) Đọc chúc, sau đó chuyển thần vị xuống kiệu, rồi tiến hành nghinh rước.

Lễ rước kiệu ở xã Tứ Trưng được xem là một trong số những lễ rước đặc biệt ở Vĩnh Phúc. Trong thần điện đình thờ hai cỗ bài vị đặt trong long ngai. Một bài vị của Đức Ông Nguyễn Văn Nhượng, một bài vị của công chúa Chiêm Thành (Vua bà Lão Tiên). Ngoài ra 2 ngôi miếu: Miếu Đức Ông, bên bờ đầm Rưng thờ ông Nguyễn Văn Nhượng; Miếu Đức Bà, ở địa phận làng Vĩnh Trưng thờ Vua bà Lão Tiên.

Sáng mùng 6 tháng Giêng hàng năm có lễ rước hai kiệu. Sau khi làm lễ nghinh thỉnh (mời lên kiệu để rước) ở hai miếu, lại tiến hành lễ rước hai kiệu về đình. Tại đây, kiệu Đức ông lùi lại phía sau 3 bước, nhường kiệu Đức Bà, ý nghĩa vì Đức Bà là con vua nước láng giềng. Kiệu Đức Bà vào đình nhưng sau đó lại lùi lại 3 bước, nhường kiệu Đức Ông vào đình trước, yên vị.

Theo các cụ già truyền lại, lễ rước này từ nhiều năm nay chưa được thực hiện lại được. Lý do là ngôi đình Rưng do tiêu thổ kháng chiến không còn, nên không có không gian văn hoá thực hành lễ rước.

5.4. Tế

* Lễ tế thần ở đây có ba nghi thức trở thành lệ: (1) Lệ dâng hương: Dâng hương mở đầu vào cuộc tế thần. Đốt hương thường theo số lẻ từ 1 đến 3 hoặc 5 nén, đều là các số dương sinh. (2) Lệ dâng rượu: Sau khi hương được đốt lên, rượu được rót ra, khi ấy khói hương, hơi rượu xông lên, là biểu tượng nối âm với dương, thời điểm âm dương giao hoà, thánh thần xuất hiện. (3) Lệ hiến sinh: Trong mỗi kỳ cúng tế, lễ vật luôn được coi là thiêng liêng (vô vật bất linh). Thường trong cuộc tế, các lễ vật được tiến lên trước.

Theo quan niệm của ngươi xưa “Tế đắc chí kỳ nghiêm”, việc cúng tế phải cẩn thận thì hồn khí (phi vật thể) mới trở lên trời, hình phách (vật thể) mới trở về đất. Cho nên cúng tế là cầu ở lẽ âm dương, tức là sự kết hợp hài hoà giữa hai yếu tố “lý” và “khí”. Bởi vậy, dù lễ tế được thực hiện ở đâu thì không gian thần điện ở đó cũng trở nên rất thiêng liêng.

* Y phục của các quan viên tế: Chủ tế màu đỏ, có cân đai, bối tử; các viên bồi tế có chung một màu cho mũ áo, thường là màu tím ; các viên chấp sự màu xanh lam. Tất cả đều đội mũ kiểu phốc đầu, áo tay thụng, quần màu trắng kiểu ống sớ, chân đi hia.

* Chủ tế, còn gọi là mạnh bái, thứ bậc xã hội là hàng mệnh quan, thứ bậc tâm linh là vị con trưởng nhà thánh. Về nhân thân, chủ tế là người được dân làng kén chọn kỹ càng nhất trong thành phần ban tế. Thường là bậc cao niên, khoẻ mạnh, vóc dáng phương phi, có chức sắc phẩm hàm, có học vị ngoài xã hội càng quý, gia đình song toàn, đông đúc, thê vinh, tử vượng. Các tiêu chí làng xã đều xếp bậc cao, gia đình có văn hoá.

* Âm nhạc trong lễ tế:

- Bộ gõ: Các loại trống, chiêng, sênh tiền (3 loại nhạc cụ). Sênh tiền dùng trong lễ tế (cả lễ rước kiệu) là để điểm nhịp trong hành lễ, múa theo vị chủ tế hoặc các viên chấp sự lên hương, lên rượu.

- Bộ hơi: Kèn và sáo.

Trong một cuộc tế thường sử dụng hai bản nhạc:

- Bài “Lưu thuỷ” dùng khi tiến tước, gọi là “lên âm”.

- Bài “Ngũ đối” dùng khi tiến tước hoàn thành, gọi là “xuống nhạc”.

* Bài xướng tế và công cuộc hành tế:

Khởi sự là một vị trong ban tế rung lên ba hồi trống (trống cái), chiêng, trống chiêng cùng rung lên (tiếng trống trước, chiêng sau - cặp đôi). Tiếp sau, người Đông xướng cất giọng xướng lên: “Khởi chinh cổ” (nổi chiêng trống).

Hai viên chấp sự làm phận sự của thủ hiệu (đánh trống - chiêng cầm hiệu lệnh dẫn tế) đứng ở hai bàn Đông - Tây, đi vào chỗ đặt giá trống, giá chiêng. Một người đánh ba hồi trống, một người đánh ba hồi chiêng, rồi mỗi bên đánh thêm ba tiếng nữa, đoạn vái đi ra.

Người Đông xướng lại xướng: “Nhạc sinh tựu vị” - Phường nhạc bát âm nổi lên và đồng văn đánh trống.

Người Đông xướng xướng tiếp: “Củ sát tế vật” - Một vị chấp sự bưng cây đèn dẫn chủ tế từ bàn Đông xướng đi lên theo hướng Đông, đến bên bàn để tế vật, xem xét lại đồ lễ có đầy đủ, tinh khiết hay không rồi trở về theo bên Tây gọi là “thăng Đông”, “giáng Tây”.

Tiếp đó, người Đông xướng xướng tiếp: “Ế mao huyết” - Một người chấp sự cầm cái đĩa đựng một ít huyết và mấy sợi lông của con vật tế đặt lên bàn Tây xướng đem đổ đi. Việc này là để chứng tỏ việc hiến sinh thực sự tươi sống, tinh khiết.

Đông xướng xướng tiếp: “Chấp sự giả các ti kỳ sự” - Các người chấp sự ai phụ trách việc gì phải chăm chú để giữ việc ấy.

Đông xướng - xướng: “Tế chủ dữ chấp sự giả các nghệ quán tẩy sở” - Người chủ tế và các chấp sự đều đến cả chỗ cạnh hương án bàn Đông xướng có một cây quán tẩy đặt cái chậu nước và treo một cái khăn sạch.

Đông xướng - xướng: “Quán tẩy” - Người tế chủ đưa tay vào chậu nước rửa, rửa tay trước, các chấp sự làm theo.

Đông xướng - xướng: “Thuế cân” - Người tế chủ lấy khăn lau tay trước, các chấp sự làm theo.

Đông xướng - xướng: “Bồi tế viên tựu vị” - Các vị bồi tế bước vào đứng ở chiếu thứ 4 (chiếu dưới cùng).

Đông xướng - xướng: “Chủ tế viên tựu vị” - Chủ tế bước vào chiếu của mình, chiếu “phục vị” (thứ 3), đi vào từ phương Đông, tiến lên chiếu theo hình chữ “ất” gọi là “nhập ất”.

Trong cùng lúc đó, các chấp sự viên cũng về đúng chỗ của mình. Đến đây, cuộc hành lễ bắt đầu.

Đông xướng - xướng: “Thượng hương” - Hai người chấp sự, một người bưng lư hương, một người bưng hộp trầm (hoặc lấy hương theo số nén lẻ 3 hoặc 5) đem đến trước mặt tế chủ. Tế chủ bỏ trầm vào lư hương đốt rồi cầm lư hương án trước điện vái.

Đông xướng - xướng: “Nghinh thần cúc cung bái” - Chủ tế theo 2 viên nội tán (theo sau viên bên Đông) dẫn lên chiếu thứ nhất quỳ xuống, các viên bồi tế quỳ theo. (Khi bước đi cũng theo nghi thức riêng gọi là “xuất á” - “nhập ất” “Xuất á” là khi trong chiếu bước ra thì đi thẳng rồi rẽ sang bên tay trái, quay một góc 900 để không lúc nào quay đằng lưng vào chính giữa ban thờ. Sau khi quay rồi mới đi thẳng vào chiếu thứ nhất theo lối “nhập ất”). Trong khi ấy các viên chấp sự hai bên bàn Đông - Tây cử hành dâng hương vào thượng điện theo nhịp trống khẩu điều hành và bài nhạc lễ “lưu thuỷ” (gọi là “lên âm”). Khi đoàn chấp sự hoàn thành việc dâng hương trở về bàn của mình thì bên Tây xướng - xướng: “Hưng” - Tế chủ và bồi tế đứng cả dậy.

Đông xướng - xướng: “Bái” - Tế chủ và bồi tế quỳ xuống lễ.

Tây xướng - xướng: “Hưng” - Tế chủ và bồi lễ lại đứng lên.

Cứ như thế cho đến khi lễ xong 4 lễ (4 lễ nghinh thần).

Đông xướng - xướng: “Bình thân” - Tế chủ và bồi tế đứng ngay người cho nghiêm.

Đông xướng - xướng: “Phục vị” - Tế chủ quay về chiếu của mình (chiếu thứ 3).

Cuộc dâng hương kết thúc. Sang tuần dâng rượu.

Đông xướng - xướng: “Hành sơ hiến lễ” (lễ dâng rượu lần đầu).

Người nội tán xướng: “Nghệ tửu tôn sở tử tôn gia cử mịch” - Tế chủ đi ra án để rượu, người chấp sự mở miếng vải đỏ phủ trên mâm đài ra.

Đông xướng - xướng: “Chước tửu” - Rượu được vị chủ tế rót ra các đài.

Lại xướng tiếp: “Nghệ đại vương thần vị tiền” - Hai người nội tán dẫn tế chủ lên chiếu nhất.

Nội tán xướng: “Quỵ” - Tế chủ và bồi tế quỳ cả xuống.

Đông xướng - xướng: “Tiến tước” - Một người chấp sự dâng đài rượu đưa cho tế chủ, tế chủ bưng đài rượu vái một vái rồi giao trả người chấp sự.

Đông xướng - xướng: “Hiến tước” - Các người chấp sự dâng rượu đi hai bên, hai tay nâng đài rượu đi vào nội điện xong trở ra.

Đông xướng - xướng: “Hưng” - Chủ tế và bồi tế cùng phục xuống lễ một lễ rồi đứng dậy. Lại xướng: “Bình thân” - Chủ tế và bồi tế sửa mình cho ngay ngắn.

Đông xướng - xướng: “Phục vị” - Chủ tế đi về chiếu của mình (chiếu thứ 3). Lại xướng: “Đọc chúc” - Hai người chấp sự vào trong nội điện kính cẩn bưng bài văn tế dán trên bảng chúc ra.

Người nội tán xướng: “Nghệ đọc chúc vị” - Hai người nội tán dẫn chủ tế lên chiếu nhất.

Đông xướng - xướng: “Quỵ” - Chủ tế, bồi tế, hai người bưng chúc đọc chúc, đều quỳ xuống.

Đông xướng - xướng: “Chuyển chúc” - Người bưng chúc trao bảng văn cho tế chủ. Tế chủ cầm lấy vái một vái rồi trao cho người đọc chúc. Lại xướng: “Đọc chúc” - Người đọc chúc lần này cất cao giọng đọc bài văn tế.

Tuỳ mỗi làng thờ vị thần nào hoặc tế lễ về nội dung nào thì nội dung lời chúc tuyên về vị thần đó và ngày lễ đó.

Đọc xong văn tế, chủ tế lạy hai lạy rồi lui ra chiếu của mình theo trình tự: Hưng - bái - bình thân - phục vị, do người Đông xướng điều hành.

Sau đó lại xướng lễ trở lại để dâng hai tuần rượu nữa. Tuần thứ hai gọi là “á hiến lễ” Tuần thứ ba gọi là “chung hiến lễ”.

Sau ba tuần “hiến tước” (dâng rượu), phần chính yếu của lễ hiến tế đã xong. Đến phần thụ hưởng của chủ tế :

Đông xướng - xướng: “ẩm phúc” - Hai người nội tán vào nội điện bưng ra một chén rượu và một khay trầu cau cúng tế.

Đông xướng - xướng: “Nghệ ẩm phúc vị” - Người chủ tế đi ra bước lên chiếu thứ 2 (chiếu “thụ tộ”). Lại xướng: “Quỵ” - Tế chủ quỳ xuống, hai người nội tán đưa hai chén rượu, khay trầu cho tế chủ.

Lại xướng: “Ẩm phúc” - Tế chủ bưng lấy chén rượu vái một vái, rồi lấy tay áo thụng che miệng uống một hơi hết ngay.

Lại xướng: “Thụ tộ” - Tế chủ bưng khay trầu vái một vái rồi ăn một miếng.

Rượu và trầu là thần linh ban cho tế chủ, tế chủ phải hưởng ngay trước thần điện mới là cung kính. Cũng từ đó lễ vật hiến tế mới trở nên rất thiêng liêng, gọi là “lộc thánh”. Phần lộc này sau tế, dân làng được “quân huệ” (chia nhau hưởng) gọi là “thừa thần chi dư” (lấy phần thừa của thần thánh). Sau đó tế chủ lễ rồi lui ra chiếu của mình.

Đông xướng - xướng: “Tạ lễ cúc cung bái” - Tế chủ cùng bồi tế cùng lạy tạ bốn lạy theo điều hành của các vị Đông xướng - Tây xướng: Hưng, bái, bình thân. Đến đây kết thúc phần lễ tế của chủ tế, bồi tế.

Đông xướng - xướng: “Phần chúc” - Viên nội tán đem tờ văn chúc đốt đi.

Lại xướng: “Lễ tất” - Mọi người trong ban tri lễ vào làm lễ bốn lễ, lễ xong đến phường nhạc.

Đến nhân dân vào làm lễ theo thứ tự tuổi tác, giới tính. Xưa kia chỉ có nam giới, nay nam nữ đều bình đẳng.

6. Một số trò chơi

Trong những lễ hội dân gian bao giờ cũng có hai yếu tố quan trọng, đó là phần lễ và phần hội. Sau phần lễ với các nghi thức quan trọng là đến phần hội với nhiều trò chơi, trò diễn, nghệ thuật dân gian đặc sắc. Phần hội chính là yếu tố được người dân mong chờ nhất. Bởi lẽ, trong phần hội, dường như mọi mong muốn của con người hằng ấp ủ được thỏa mãn, và được bình đẳng trong cộng đồng.

6.1. Tổ tôm điếm

Một trò chơi khá phổ biến ở chợ Rưng là trò “tổ tôm điếm”, trò chơi xuất phát từ thú chơi tao nhã của những người đàn ông xưa. Đây là thú chơi mang tính trí tuệ, có sự phân biệt cao thấp giống như người chơi cờ. Tổ tôm xưa là thú vui thanh cao, chỉ có con người thanh nhã mới biết cách giải trí bằng trò chơi này. Ở hội Rưng, tổ tôm chơi 5 người, người ta lập ra 5 cái điếm: Đông, Tây, Nam, Bắc, Trung. Những điếm này cất trên một khoảng đất rộng trong chợ, ngay phía trước đình. Bài tổ tôm điếm cũng giống như bài tổ tôm thường với các hàng văn, sách, vạn, yêu, thêm những con chi chi, thang thang, ông cụ… tổng cộng có 12 quân. Quân bài là hai mảnh gỗ ghép lại với nhau có thể mở được. Trên một mảnh ghi tên con bài và mảnh kia là nắp đậy lại, những lúc đánh phải mở ra để biết tên quân bài. Cách chơi và luật chơi tổ tôm điếm cũng giống như chơi tổ tôm thông thường. Cái khác là ở chỗ chơi tổ tôm điếm cần có một người chạy bài, khi người này rao tên một quân bài của điếm thì đánh một tiếng trống để các điếm khác rõ, muốn phỗng hay ăn đều có hiệu trống phát ra. Mỗi điếm có một chiếc trống nhỏ, khi nghe người rao xướng tên quân bài người chơi muốn ăn, muỗn phỗng, muốn bốc hoặc ù thì đều phải có hiệu trống, nếu không người chơi coi như phạm luật và không được chơi tiếp. Bài tổ tôm điếm được chia vào các ngăn riêng, người rao bài chuyển quân bài lên điếm cho các đấu viên. Các đấu viên giở bài ra xếp lại rồi đánh trống báo hiệu đã xếp xong bài, khi đó cuộc chơi mới bắt đầu. Người cầm cái (điếm cái) đưa bài cho người rao bài để đánh quân đầu tiên. Bắt đầu một ván bài bao giờ người rao bài cũng hỏi các điếm đã sẵn sàng chưa. Khi bắt bài hay bốc cái thì đều do người rao bài bốc, sau đó người này đọc to tên quân bài cho các điếm cùng nghe rõ. Chơi tổ tôm điếm được xem như cuộc tranh tài công cộng giữa nhiều người cũng như khán giả xung quanh. Trò chơi này thu hút nhiều nhất là các cụ cao tuổi. Phần thưởng của mỗi ván bài không lớn, đôi khi chỉ là một chai rượu, gói thuốc hay nải chuối.

6.2. Bắt chạch trong chum

Là một trò chơi dân gian rất đặc sắc của cư dân nông nghiệp vùng Bắc bộ. Trò chơi xuất phát từ quan niệm về sự sinh sôi nảy nở của sự vật, hiện tượng trong vũ trụ, chính nó đã duy trì sự sống của mọi sinh vật trên trái đất mà người ta vẫn gọi nó là tín ngưỡng phồn thực. Đối với người lao động hay cư dân nông nghiệp thì sự sinh sôi nảy nở là đặc biệt quan trọng. Ở lễ hội Rưng, người ta dựng một cái chòi bằng tre nứa cao chừng 4-5m trên khoảng sân rộng của chợ ngay phía trước cửa đình Rưng, chứng tỏ trò chơi mang tính thiêng, có sự bảo trợ của thần thánh chứ không đơn thuần là quan niệm trần tục. Trên chòi đặt một cái chum sành gần đầy nước, người ta thả vào đó một con chạch. Các đôi trai gái (thường là đang trong quá trình tìm hiểu yêu đương) tiến vào đình làm lễ rồi lần lượt từng đôi một được chọn để leo lên chòi bắt chạch. Sau khi được vị trưởng lễ (bô lão trong làng) cho phép bắt chạch thì họ liền vừa ôm nhau vừa bắt chạch. Người nam giới một tay khoắng nước bắt chạch, một tay luồn qua eo người con gái mà nắm (xoa) vú; người con gái cũng vậy, một tay bắt chạch, một tay ôm ngang hông người nam giới. Cứ thế, trước sự hò reo cổ vũ của mọi người, đôi trai gái một tay phải ra sức khoắng nước để bắt lấy con chạch mà lại bị chi phối bởi sự ngượng ngùng trong hành động của tay kia. Chạch trơn nên chúng rất khó bắt , dân gian thường có câu “lẩn như chạch”, thông thường phải mất chừng nửa giờ thì đôi trai gái kia mới bắt được chú chạch, nhưng cũng có khi sau khoảng thời gian quy định mà họ vẫn không bắt được chạch thì họ phải nhường cho một đôi khác. Giải thưởng thường là một dải khăn lụa hồng, trầu cau, trà mạn, cũng có khi là vài quan tiền, song trên hết là sự hào hứng, vui tươi của người xem, tâm tình của các đôi trai gái tham gia. Thông qua trò chơi này, các đôi trai gái như để công bố tình yêu của họ trước dân làng và cũng là để cầu xin thần Thành hoàng làng chứng giám, ban phúc lành cho họ, hầu hết các cặp đôi này sẽ nên duyên vợ chồng ngay trong năm đó.

6.3. Đu tiên

Được tham gia đông hơn cả, đặc biệt là các đôi nam thanh nữ tú. Bốn cọc tre cao vút được chôn sâu và chắc chắn ở giữa sân đền Đức Ông và chợ Rưng, hai cây tre được thả song song, từ đầu cọc có chốt ngang tạo chỗ đứng. Từng cặp đôi nam nữ áp mặt, áp ngực vào nhau, tay vịn vào cây tre rồi dùng sức toàn thân, nhún cho bay bổng lên nhịp nhàng khoan thai, người xem đứng vây xung quanh cổ vũ nhiệt tình cho các đôi đu đẹp. Về trò chơi này, thi sĩ Hồ Xuân Hương đã miêu tả khá hóm hỉnh nhưng rất thực tế:

“Bốn cọc khen ai khéo khéo trồng

Người thì lên đánh, kẻ ngồi trông

Giai đu gối hạc khom khom cật

Gái uốn lưng ong ngửa ngửa lòng

Bốn mảnh quần hồng bay phấp phới

Hai hàng chân ngọc duỗi song song…”

Tạm kết

Bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống là một chủ trương, chính sách lớn của Đảng và Nhà nước ta. Trong tiến trình phát triển đất nước, văn hóa truyền thống chứa đựng trong nó cả những mặt tích cực và hạn chế, vì vậy, bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa (những mặt tích cực) truyền thống là việc làm cần thiết nhằm thoả mãn tinh thần, đời sống tâm linh, tư tưởng, đạo đức, lối sống của con người, đồng thời góp phần phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, làm cơ sở cho việc xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế.

Đây mới chỉ là khảo cứu bước đầu về một vùng đất trên tiến trình trở thành trung tâm thương mại của khu vực. Như vậy, trong sự phát triển nội tại của văn hóa đang đặt ra những cơ hội, thách thức mới - và một trong những thách thức cơ bản nhất là làm thế nào để bảo tồn và phát huy được các giá trị văn hóa truyền thống trong môi trường nhiều năng động và cũng đầy biến động ở khu vực Tứ Trưng.

H.T 

 

 

_____________________

Tài liệu tham khảo

-Ban Quản lý di tích: Di sản văn hoá phi vật thể Vĩnh Phúc, Sở Văn hoá TT&DL Vĩnh Phúc, 2009

-Lê Kim Thuyên: Lễ hội Vĩnh Phúc, Sở Văn hoá TT&DL Vĩnh Phúc, 2002

Vũ Hương Xuân