NHIỆT LIỆT CHÀO MỪNG NGÀY NHÀ GIÁO VIỆT NAM 20/11!
Từ khóa tìm kiếm Từ khóa tìm kiếm

VĂN XUÔI VĨNH PHÚC - Tuyển tập tác phẩm đoạt Giải thưởng Văn học Nghệ thuật 1997 - 2016, (phần 1)

(Ngày đăng: 19/01/2018, số lượt xem: 119)

 

 

LỜI ĐẦU SÁCH

 

20 năm qua, kể từ sau tái lập tỉnh (1997) đến nay, đồng hành cùng với Đảng bộ và nhân dân các dân tộc trong tỉnh, Văn học Nghệ thuật (VHNT) Vĩnh Phúc đã không ngừng lớn mạnh cả về số lượng và chất lượng. Những sáng tạo của văn nghệ sĩ Vĩnh Phúc hướng con người tới các giá trị Chân - Thiện - Mỹ, đã đóng góp đáng kể cho sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, góp phần quan trọng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam.

           Khẳng định và ghi nhận bước phát triển mới của VHNT Vĩnh Phúc nhân kỷ niệm 20 năm tái lập tỉnh, được sự quan tâm chỉ đạo của Tỉnh ủy, UBND tỉnh, Hội VHNT Vĩnh Phúc xuất bản bộ Tuyển tập tác phẩm đoạt Giải thưởng VHNT giai đoạn 1997-2016 và một số cuộc thi khác, bao gồm các thể loại: Tiểu thuyết, Truyện ngắn - Ký, Thơ - Trường ca, Âm nhạc, Mỹ thuật, Nhiếp ảnh, Văn nghệ dân gian... Đây có thể coi là hệ thống tư liệu về tác giả, tác phẩm của một chặng đường VHNT, tiếp thêm hành trang bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.

Đảng ta đã xác định: “Văn học, nghệ thuật là lĩnh vực rất quan trọng, đặc biệt tinh túy của văn hóa; là một trong những động lực to lớn trực tiếp góp phần xây dựng nền tảng tinh thần của xã hội và sự phát triển toàn diện của con người Việt Nam” (Nghị quyết 23-NQ/TW, ngày 16/6/2008 của Bộ Chính trị). Đây chính là động lực, là cơ hội tốt để văn nghệ sĩ Vĩnh Phúc tiếp nhận nguồn sinh khí mới, tiếp tục phát huy tính tích cực và trách nhiệm xã hội, nỗ lực sáng tạo ra những tác phẩm có giá trị mang đậm dấu ấn Vĩnh Phúc, cho hôm nay và mai sau...

Ra mắt trong dịp kỷ niệm 20 năm tái lập tỉnh (01/01/1997 - 01/01/2017), bộ sách là món quà tinh thần của VHNT Vĩnh Phúc dâng tặng bạn đọc với tất cả sự trân trọng.

Vượt qua những khó khăn về nguồn tư liệu, các thành viên trong ban tuyển chọn đã có nhiều cố gắng biên soạn, sắp xếp, diễn đạt, để tuyển tập đạt được mục tiêu cao nhất, song chắc chắn vẫn không tránh khỏi những thiếu sót.

Chúng tôi rất mong nhận được sự chia sẻ, góp ý, bổ sung của bạn đọc để kỳ vọng một sự hoàn chỉnh hơn trong những lần tái bản bộ sách sau này.

   

HỘI VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VĨNH PHÚC

 

 


 

 

 

 

 

XUÂN MAI  

 

Giếng làng

 

NHÀ XUẤT BẢN TRẺ, 1997   

 

---------------------------------------------------------

   

Tập truyện ngắn đoạt Giải A,

 Giải thưởng VHNT tỉnh Vĩnh Phúc 5 năm lần thứ I

(1997 - 2000)

 


 

 

 

 

 

GIẾNG LÀNG

 

Nhờ sự giúp đỡ của y tế, ngày hôm trước nhà tôi khoan được cái giếng nước sạch thì ngày hôm sau là đến Tết Đoan Ngọ. Nhìn những xô, những chậu nước mới được bơm lên trong suốt, bà tôi cứ ao ước: “Giá như ngày xưa làng ta có nước trong thế này mà nấu chè kho thì quý hóa quá”. Tôi hỏi bà: “Sao nấu chè kho lại cần đến nước thật trong hả bà?” – “Vì đó là chè nấu để cúng cháu ạ. Cúng ông Thành hoàng làng thì nước phải thật tinh khiết. Cháu còn bé chưa biết chứ ngày xưa… ”.

Như rất nhiều lần, lần này tôi lại đụng đến cái ngày xưa của bà. Dường như bà chỉ còn có chuyện ngày xưa nữa thôi. Bà rủ rỉ kể rằng: Ở làng ta ngày xưa mỗi năm đến Tết Đoan Ngọ (tức là Tết mùng 5 tháng 5 âm lịch) được ăn to chỉ kém Tết Nguyên Đán. Ngày bà còn bé, năm nào cũng vậy, hễ đến Tết Đoan Ngọ là từ sáng sớm trẻ con nhà nào cũng được bố mẹ cho ăn hoa quả, rượu nếp, trứng luộc, bôi hồng hoàng vào thóp đầu, vào ngực, vào rốn để giết sâu bọ. Còn người lớn thì giết sâu bọ bằng cách uống rượu hòa với tam tần đơn, hoặc ăn rượu nếp. Trẻ con “giết sâu bọ” xong thì rửa mặt mũi, chân tay thật sạch rồi nhuộm móng tay, móng chân, đeo chỉ ngũ sắc… Buổi sáng hôm ấy không đứa nào được ngồi ở bậu cửa, bởi ngồi ở đấy sau này rất dễ mọc mụn nhọt. Riêng bà, bà rất hay được bố của bà bắt trèo lên cây mít. Theo lời dặn của bố, mỗi lần bố đánh một roi vào cây mít và hỏi: “Mít, sang năm mày có ra nhiều quả không?” Bà lại phải giả vờ làm vẻ đau đớn và nói: “Thưa ông, có ạ!” Quả nhiên năm sau cây mít có nhiều quả hơn năm trước thật. Làm xong cái công việc linh thiêng, huyền bí ấy bà mới được đi tắm. Mà là tắm nước giếng làng do mẹ bà gánh về từ sáng tinh mơ. Ai được tắm loại nước ấy đến mùa hạ sẽ không có rôm sảy! Tắm gội sạch sẽ xong, mặc váy áo mới, bà theo bố đem chè kho ra đình cúng Thành hoàng làng.

Bà cũng không biết tại sao Tết Đoan Ngọ là ngày giỗ ông Khuất Nguyên – (Ông này ở mãi bên Trung Quốc, thờ vua Sở Hoài Vương. Vì ngăn cản vua không được, bực mình ông ôm đá nhảy xuống sông Mịch La mà chết. Hôm đó là ngày mùng 5 tháng 5). Vì thương tiếc một người con trung nghĩa nên hàng năm đến ngày ấy nhân dân lại làm bánh ngọt, quấn chỉ ngũ sắc, rồi đua nhau bơi thuyền ra giữa dòng sông ném bánh xuống để cúng ông, làng ta lại có lệ nấu chè kho cúng Thành hoàng làng? Bà chỉ nhớ là, nước nấu chè kho phải thật trong, thật sạch. Bởi vậy năm nào làng cũng phải tát giếng làng từ đêm hôm mùng 4. Tát thật cạn, vét hết bùn, rác… Những gàu nước đầu tiên sẽ được đem đi nấu chè và giành cho trẻ con tắm. Chả hiểu có phải do được tắm nước tinh khiết ấy của giếng làng hay không mà trẻ con làng ta da dẻ đứa nào cũng nhẵn nhụi như hạt mít.

Câu chuyện của bà đã kích thích trí tò mò của tôi. Tôi không thể làm ngơ trước cái “ngày xưa” nữa:

- Bà ơi, thế giếng làng ở chỗ nào hả bà?

- Ở đâu ư? Ở phía đầu làng, gần nhà cụ Tùng. Chỗ có cây đa ấy cháu ạ.

Từ lúc nãy bố tôi vẫn đang mải mê với công việc xây lát nền giếng, giờ nghe bà bảo thế, vội nói:

- Là bà bảo giếng từ ngày xưa chứ hàng chục năm nay làng ta làm gì còn giếng làng nữa.

- Thế giếng làng bị lấp mất rồi hả bố thằng Hùng?

- Vâng! Lấp rồi. Bây giờ ở đấy chỉ còn mỗi cây đa già.

Nghe bố tôi nói vậy, bà tôi thở dài. Tôi có cảm giác như bà vừa đánh mất một cái gì đó quý lắm. Cái gì đó rất quý của bà thì tôi chưa thể hiểu được nhưng công việc đầu tiên của tôi là phải tìm ra nơi có cái giếng của làng tôi. Bụng bảo dạ như thế, tôi chạy phóng sang nhà thằng Dũng.

Thằng Dũng là cháu đích tôn của cụ Tùng. Nó bằng tuổi tôi, học cùng lớp với tôi. Tôi thân với nó bởi hai thằng khoái chơi những trò mạo hiểm. Đặc biệt là rất thích tìm hiểu những cái mà mình chưa biết. Keo này tôi với thằng Dũng sẽ tìm xem cái giếng của làng mình ngày xưa nằm ở đâu?

Nghe tiếng huýt sáo hiệu của tôi, thằng Dũng đang cùng ông nó lau lá giúp mẹ nó làm bánh rợm, bánh gai cũng phải đứng dậy chạy ra cổng. Tôi ghé tai nó, hỏi với giọng đầy vẻ quan trọng:

- Mày có biết hôm nay là ngày gì không?

Chắc cho tôi đã hỏi một câu ngớ ngẩn, thằng Dũng nhe răng ra cười thay cho câu trả lời. Tôi lại hỏi:

- Thế mày có biết ngày xưa các cụ phải lấy nước giếng làng để nấu chè kho cúng Thành hoàng làng vào ngày hôm nay không, hả?

Đến lúc này tôi biết thằng Dũng mới thật chú ý tới điều tôi gợi ra. Thấy nó lắc đầu, tôi liền “xì” một cái, đoạn với giọng kẻ cả, tôi bĩu môi:

- Vậy mà cũng đòi là nhà thám hiểm. Này, mày có biết ngày xưa làng mình có một cái giếng làng không?

Thằng Dũng lại lắc đầu. Tôi thật sự lấy làm buồn cho cái thằng bạn chí cốt của mình:

- Bà tao bảo, ngày xưa làng mình có cái giếng làng. Giếng ở gần nhà mày thế mà mày lại không biết!

- Giếng ở gần nhà tao?

- Là bà tao nói thế.

- Ồ, nếu vậy thì vào hỏi ông tao xem có đúng không? Đi! Nhanh lên!

Ông thằng Dũng năm nay đã hơn 80 tuổi. Râu tóc ông trắng như cước. Da dẻ ông đỏ đắn, hồng hào nhìn đẹp như ông tiên trong truyện cổ tích. Ông là người vui tính, rất yêu chúng tôi. Ông hay kể chuyện cho chúng tôi nghe lắm. Nhiều lúc tôi cứ nghĩ, trong đầu ông có chứa đến hàng ngàn pho sách. Ông hiểu biết nhiều thế thì chuyện về cái giếng làng làm gì ông không biết cơ chứ!

Quả đúng như tôi dự đoán, sau khi nghe tôi với thằng Dũng hỏi, không lau lá nữa, ông đứng dậy đi súc ấm, pha trà. Nhấm nháp gần hết chén trà đoạn ông mới chậm rãi nói:

- Các cháu có hỏi thì ông mới nhớ. Phải, ngày xưa cả làng ta chỉ có mỗi một cái giếng nên mới gọi là giếng làng. Xung quanh cái giếng này cũng có nhiều chuyện vui, buồn đấy các cháu ạ. Hai đứa có biết không, ngày xưa…

Ông thằng Dũng kể là, ngày xưa, nghĩa là từ lâu lắm rồi, khi lớn bằng chúng tôi, ông đã thấy làng có cái giếng ấy. Đó là một cái giếng tròn, to bằng ba cái nong. Tang giếng cao chừng 1 mét, nền giếng lát gạch nghiêng. Từ đáy đến tang giếng được chồng toàn bằng đá. Mùa hạ cũng như mùa đông, giếng lúc nào cũng đầy nước. Nước trong, ngọt và rất mát. Tương truyền rằng, từ ngày xửa ngày xưa có một lần Vua Hùng (tức là ông vua dựng nước Việt Nam ta ngày nay) đi săn tới đây thì dừng chân nghỉ. Người cho lính cắm trại, rồi đào giếng lấy nước nấu ăn. Người đi để lại cho dân làng cái giếng. Thấy nước giếng trong mát hơn nước ao hồ bà con mới bảo nhau đào rộng ra, sâu hơn. Tỏ lòng biết ơn vua cha đã cho mình cái giếng, dân làng lại xây một cái miếu thờ dưới gốc cây đa gần đó. Thời gian trôi đi, cây đa lớn lên, cái giếng vẫn còn, riêng cái miếu thì bị đổ nát chỉ còn lại mỗi móng với mấy chục viên gạch vỡ.

Vì cả làng mới có một cái giếng nên hầu như lúc nào ở ngoài giếng cũng có người. Sáng sáng các bà, các chị ra giếng gánh nước; chiều chiều người lớn, trẻ con ra giếng tắm giặt. Vô hình chung giếng là nơi tụ tập của dân làng, đông và vui lắm. Không những thế, giếng còn là nơi hò hẹn thề thốt của những đôi trai gái mới yêu nhau, khi phải xa nhau. Cụ Tùng bảo, chính cụ đã bắt gặp bà nội tôi hồi còn trẻ đứng khóc bên một anh Vệ quốc quân ở bên giếng làng vào một đêm trăng sáng. Anh ấy đóng quân ở làng tôi, yêu bà tôi. Khi phải chuyển quân ra mặt trận, hai người phải chia tay nhau, kẻ đi người ở… Nghe tới đây tôi chợt hiểu tại sao lúc nãy tôi lại có cảm nghĩ như bà tôi vừa đánh mất một cái gì quý lắm.

Ông thằng Dũng đang kể thì dừng lại đột ngột. Cụ thong thả rót nước ra chén. Sau một ngụm trà và lập bập rít mấy hơi thuốc lào thở khói trắng mù trước mặt, với một giọng ngàn ngạt, cụ kể tiếp:

- Nhân nói với các cháu về cái giếng làng, có chuyện này ông thấy cần phải kể để các cháu biết, nếu không nay mai ông chết, ông đem nó xuống hố thì coi như ông có tội với anh ấy…

Cả hai đứa chúng tôi tròn mắt, kinh ngạc hỏi:

- Chuyện gì hả ông? Ông kể cho chúng cháu nghe đi!

- Phải, ông sẽ kể để các cháu nghe. Đấy là chuyện về một người chiến sĩ hoạt động bí mật từ thời đánh Pháp. Các cháu không biết đâu, làng ta trước kia là vùng địch tạm chiếm. Cái lô cốt ở đầu làng, nơi mà các cháu hay chơi trận giả ấy là của thằng Pháp xây để giữ không cho bộ đội mình về làng. Một đêm, cũng vào dịp Tết Đoan Ngọ như hôm nay, giữa lúc mọi người đang lịch kịch giã bột làm bánh thì bỗng thấy có tiếng súng nổ rộ lên ở ngoài đầu làng. Tiếp đó là tiếng chó sủa, tiếng hô đuổi bắt ai đó cứ ầm ĩ, huyên náo khắp nơi… Sáng ra dân làng mới biết chuyện, đêm qua có một anh bộ đội từ vùng tự do bí mật về bắt liên lạc với du kích trong làng để chuẩn bị phối hợp lực lượng phá đồn, diệt bốt, giải phóng làng. Nhưng không may bị lộ, anh ấy bị chúng nó săn đuổi, anh liền nhảy xuống giếng làng ẩn náu. Đã dìm mình xuống nước chỉ còn hở hai lỗ mũi nhưng bởi nước giếng trong quá nên dẫu là đêm tối, chúng nó bấm đèn pin soi vẫn tìm nhận ra anh. Chúng nó bắt anh lên, trói anh vào gốc đa suốt một đêm, đợi đến sáng bắt mọi người đến xem chúng hành tội anh.

Anh bộ đội ấy còn trẻ lắm. Ông đoán anh chỉ ngoài tuổi hai mươi nhưng nom thật rắn rỏi. Trước mặt dân làng chúng đánh đập tra khảo anh rất dã man nhưng anh không hé răng khai lời nào. Cuối cùng chúng trói giật cánh khuỷu anh lại, kéo lên treo bùng biêng trên một cành đa, rồi thi nhau xả đạn vào anh. Dây đứt, chúng nó xúm lại túm lấy xác anh quẳng xuống giếng, và cấm không ai được vớt lên chôn cất. Tuy dân làng không ai được chôn cất anh nhưng ông cũng không rõ bằng cách nào, anh chị em du kích vẫn vớt được xác anh ấy, bí mật chuyển ra vùng tự do cho đơn vị của anh. Bà con mình chỉ ân hận một điều, anh ấy đã chết vì làng mà cả làng đều không ai biết được tên anh ấy là gì? Quê quán ở đâu? Mộ chôn ở chỗ nào? Phần thương anh, phần không thể bỏ được cái giếng làng, bà con bảo nhau tát giếng để lại có nước ăn…

Tôi thầm hiểu quá khứ buồn đau đang hiện về trong tâm trí cụ Tùng khiến cụ ngậm ngùi, nếu tiếp tục nói nữa khéo cụ bật khóc. Vì thế cụ lặng đi, mắt cụ chơm chớp và hai tay thì run run vê điếu thuốc lào mà nhét mãi vẫn không đúng nõ. Thấy vậy tôi vội vàng giúp cụ nhồi thuốc còn thằng Dũng giúp ông nó châm lửa. Hút xong điếu thuốc, không chờ chúng tôi hỏi tiếp, cụ vừa nhìn ra sân vừa bâng khuâng nói:

- Không biết có phải là từ ngày xưa năm nào dân làng mình cũng lấy nước sạch từ giếng làng đem về nấu chè kho cúng Thành hoàng làng nên được Ngài phù hộ, hay là nhờ linh hồn anh bộ đội vô danh phù hộ độ trì mà tuy làng ta nhỏ bằng cái bàn tay, có mấy chục nóc nhà nằm chen chúc trong lũy tre nhưng lại có vô khối người học hành cao, thi cử đỗ đạt. Như hai cháu thấy đấy, người làm cán bộ tỉnh có, làm cán bộ huyện có, bác sĩ, kỹ sư có. Có hai ông làm hiệu trưởng trường cấp ba, lại còn có cả hai ông làm nhà văn, nhà báo tầm cỡ trung ương hẳn hoi… Hôm nọ họp Hội những người cao tuổi, các cụ bảo nhau tới đây phải tu bổ lại cái đình làng. Rồi bàn với Hội cựu chiến binh xây lại cái miếu thờ ở dưới gốc cây đa kia kìa…

Chà, đấy là những công việc hệ trọng của các cụ, chúng tôi trẻ con đâu dám tham gia! Nghĩ vậy, chúng tôi chào ông và theo hướng tay ông thằng Dũng chỉ, tôi kéo nó chạy về phía có cây đa.

Giếng làng xưa không còn nữa! Từ khi mỗi nhà có một cái giếng, người ta đã lấp giếng làng rồi! Tôi và thằng Dũng đứng tần ngần cố hình dung ra cái giếng làng theo lời cụ Tùng kể. Nhưng chịu, không thể biết nó nằm chính xác ở chỗ nào. Hiện giờ ở đây chỉ còn cây đa thôi. Cây đa cũng đã già lụ khụ, rất ít lá, chỉ thấy khẳng khiu, lòng khòng những cành, những rễ. Không rõ là bọn địch đã treo anh bộ đội trên cành đa nào? Đang thầm hỏi thế bỗng chúng tôi giật mình vì có mấy anh thanh niên vác đồ nghề khoan giếng đi qua. Có một anh lớn tiếng hỏi:

- Ê! Hai chú nhóc! Có đi khoan giếng với bọn anh không?

- Không! - Tôi trả lời - Chúng em đang tìm lại giếng làng đây.

Anh ngửa cổ cười, vẻ nhạo báng:

- Giếng làng à? Thời buổi này làm gì còn giếng làng. Xưa rồi chú mình ơi!

Ừ nhỉ? Giếng làng xưa, quá xưa rồi thật. Dẫu biết vậy mà sao tôi vẫn thấy tiêng tiếc, vẫn ước ao giá như làng tôi còn một cái giếng làng để có nước tắm cho chúng tôi không bị rôm sảy vào những ngày Tết Đoan Ngọ như ngày xưa các cụ đã từng được tắm.

 

 

 

 

 

 

 

ỐC QUÊ

   Ăn cơm tối xong, đang ngồi uống nước chè xanh bên bàn bỗng ông bảo:

- Đã sang tháng Mười rồi. Mùa này ốc đang béo. Sáng mai chủ nhật đi bắt lấy ít ốc Phúc ạ.

Đang hí húi vót nan đan rổ ở ngoài hiên, cu Phúc hỏi lại:

- Bắt ở đâu hả ông?

- Ở dưới đồng Chằm Giàng. Chỗ năm ngoái hai ông cháu mình đi soi chém được con cá quả to bằng bắp chân ấy. Cháu còn nhớ không?

Ồ tưởng đâu xa chứ ở đồng Chằm Giàng thì Phúc nhớ. Phúc nhớ vì hàng ngày, những lúc không phải ngồi học, làm bài nó vẫn hay ra đó quăng câu và đánh lờ cá rô. Đấy là một cánh đồng sâu mỗi năm chỉ cấy được một vụ, còn một vụ bỏ trắng. Vụ không cày cấy ấy cỏ lác và cây hoa mặt mâm tha hồ mọc. Đây chính là môi trường lý tưởng cho các loài tôm, cá, ốc, cua… sinh sôi, phát triển. Ngày mai ra đó chắc là nó sẽ bắt được nhiều ốc lắm. Nghĩ thế, cu Phúc hào hứng hẳn lên:

- Tối mai ăn bữa ốc luộc hả ông?

- Ông cũng định thế. Nhưng muốn bắt được ốc thì cháu phải đi thật sớm, nếu không, nắng lên ốc lặn hết, khó mò lắm cháu ạ.

 

 

*

*      * 

 

 

Nghe lời ông dặn, Phúc bảo mẹ gọi dậy từ lúc gà mới ra chuồng. Tuy bóng đêm còn vương đầy trên mặt đất nhưng nó đã vội vàng úp cái nón mê lên đầu, buộc cái giỏ ngang hông, rồi con cón chạy ra cổng.

Thời tiết đã sang thu. Trời se se lạnh. Một màn sương mỏng nhẹ, giăng mờ như khói phủ lãng đãng bên các sườn đồi và trên các dộc ruộng bậc thang. Cu Phúc chạy một mạch qua con đường đất đỏ vắt mình trên đồi cọ là đến cánh đồng Chằm Giàng.

Ở nhà cứ tưởng mình dậy sớm nhất, với lại chỉ có mình đi bắt ốc. Có ra đến đồng mới biết khối đứa còn dậy sớm hơn cu Phúc và chúng nó đang đằm mình mò ốc từ lúc nào.

Dường như sợ bạn bè bắt hết, cu Phúc vội tụt quần áo, vo tròn lại, nhét vào bụi cây, đoạn mình trần như nhộng nó nhảy tùm xuống nước. Nó vừa lội, vừa bì bõm bơi. Chiếc giỏ như cái phao bập bềnh sau lưng nó. Có đứa nào đó lớn hơn cu Phúc thấy thế liền nhắc nó: “Đừng làm động nước, ốc lặn mất”. Cu Phúc chợt nhớ đến lời ông bảo: “Mùa này đi bắt ốc, nếu đứa nào tinh mắt, nhanh tay thì sẽ không phải mò”. Phúc liền dừng lại. Nó giương mắt nhìn xoáy xuống nước. Trong làn nước trong veo, nó nhìn thấy những con ốc nhồi to bằng những quả ổi, có màu xanh đen bám trên những chiếc lá hoa mặt mâm và thân cây lác… đang từ từ khép miệng, lẹ làng lảng dần, lảng dần xuống đáy nước. Đó là những chú ốc đêm qua nổi lên ăn sương giờ thấy động chúng vội vàng lặn trốn. Nhưng đã muộn! Cu Phúc đưa cả hai bàn tay ra tóm lấy từng con và nhét luôn vào giỏ… Bằng cách rình bắt ấy, đến khi mặt trời nhô lên khỏi dãy núi Tam Đảo, tỏa ánh nắng vàng hoe trên cánh đồng thì cu Phúc đã có một giỏ ốc đầy. Cả đám trẻ đi bắt ốc cũng vậy. Chúng nó gọi rủ nhau lên bờ, mặc quần áo (có đứa chỉ mặc quần còn áo vắt vai) đoạn rồng rắn kéo nhau về.

Cu Phúc vừa về đến cổng, mẹ đã hỏi: “Được nhiều không con?” Ông từ trong nhà đi ra nhìn qua giỏ ốc rồi bảo: “Đem ngâm với nước vo gạo cho nó nhả hết bùn để đến tối luộc ăn mới không bị sạn, mẹ cu Phúc ạ”.

 

            *

*      *

   

 

Trong lúc chờ mẹ đun lửa luộc ốc thì ở ngoài sân cu Phúc đang cùng với ông hí húi pha nước chấm. Vừa làm ông vừa nói cho cu Phúc biết có khá nhiều cách ăn ốc: Từ con ốc ta có thể chế biến thành nhiều món ăn khác nhau như: Ốc nướng, ốc xào chuối xanh, ốc nấu canh sắn… riêng món ốc nhồi thịt hấp lá gừng, “anh” đặc sản này phải là khách sang mới được ăn. Tối nay, ông cháu cu Phúc sẽ ăn món ốc luộc là cách ăn thông dụng nhất mà ngon cũng không kém các cách ăn khác đâu! Có điều ăn ốc luộc thì phải có nước chấm ngon. Mà xem ra ngon nhất là món nước chấm đấy nhá. Vì thế ông pha món nước chấm cầu kỳ, công phu lắm. Này nhé, ngoài nước mắm ngon còn phải có dấm này, mì chính này, gừng này, quất này, ớt nữa này… Chà thơm quá! Hấp dẫn quá! Thoáng ngửi thấy mùi, chân răng cu Phúc đã tứa đầy nước miếng.

Ông cháu cu Phúc pha nước chấm xong cũng vừa lúc mẹ nó luộc ốc chín. Ông bảo mẹ nó bê cả nồi ra sân và sai nó vào nhà lấy chiếu trải trên cái sân lát gạch. Sau đó ông lại bảo nó mở tủ lấy ra cho ông chai rượu trắng với cái chén con để ông nhắm rượu với ốc.

Khi ba ông con đã ngồi quây quần bên nồi ốc, mẹ cu Phúc mới mở vung ra. Một mùi thơm quyến rũ của lá bưởi, lá chanh cùng mùi mẻ, mùi ốc phả lên thơm đến nhức mũi. Mẹ định múc ốc bày ra đĩa nhưng ông bảo cứ để cả trong nồi ăn cho nóng, ăn con nào nhúp con ấy như thế mới thật ngon.

Sau một lát nhấm nháp vài ba con, ông khề khà tợp vài ngụm rượu, ông ngồi lặng nhìn hai mẹ con cu Phúc hí hoáy nhể ốc và liên tục phải sịt soạt, hít hà vì vị thơm cay của nước chấm. Hình như ông có chuyện gì sắp nói? Cu Phúc đoán thế bởi lần nào cũng vậy, hễ uống rượu là ông lại nói chuyện. Quả nhiên một lúc sau, với một giọng trầm buồn, ông chậm rãi kể:

- Ngày xưa, nhà mình nghèo lắm. Bố mẹ vẫn  phải đi mò cua, bắt ốc, đem bán lấy tiền đong gạo nuôi con. Hồi còn sống, bà thằng Phúc mò ốc tài lắm. Nhờ thế mới có đủ tiền nuôi bố nó lên tỉnh học. Bây giờ làm cán bộ nhà nước, được đi đây đi đó, được ăn những sơn hào hải vị, chẳng biết bố nó có còn nhớ đến món ốc luộc của quê mình nữa hay không?

Ông hỏi vậy rồi lại nâng chén rượu lên tợp một ngụm nhỏ. Bỗng cu Phúc ngừng tay nhể ốc, nó nắm lấy cánh tay ông, lắc mạnh:

- Ông ơi! Đợi hôm nào bố cháu về, ông cháu mình sẽ chiêu đãi một bữa ốc luộc như hôm nay xem bố cháu có khen ngon không, ông nhá?

 

 

 

 

 

 

 

ÔNG CHÁU MÍT-SU… PHÚ

   

Ông nội của Phú làm nghề dạy học. Từ ngày nghỉ hưu ông nó chuyên ở nhà làm vườn. Ông thường bảo: Tuổi già có hai cái thú. Một là, uống trà vào buổi sáng. Hai là, vạch lá bắt sâu và tưới tắm cho vườn cây.

Về chuyện uống trà của ông cu Phú cũng nhiều điều kỳ thú lắm. Thường thì ông thức dậy từ lúc gà mới ra chuồng. Ông lịch kịch nhóm lửa, đun nước sôi, cho vào phích. Nước pha trà của ông là nước mưa chứa trong cái bể. Trà ông uống là loại trà móc câu, trắng mốc do tự tay ông hái từ lúc trà mới một tôm hai cá, tự tay ông sao, rồi tự tay ông súc ấm, cho trà vào ấm… Ông ngồi uống nhấm nháp từng ngụm nhỏ kiểu như người ta thưởng thức một thứ đặc sản gì quý hiếm. Có một sáng ông mời mấy ông hàng xóm, cũng nghỉ hưu như ông, sang chơi uống trà. Đợi mỗi người uống cạn một chén trà ông mới hỏi mọi người rằng trà có hương vị hoa gì? Kỳ lạ thay là nước trà đều được rót ra từ một chiếc ấm nhưng mỗi ông lại trả lời một khác. Ông này bảo có hương hoa nhài, ông kia bảo có hương hoa hồng, ông khác lại cam đoan có hương hoa ngâu… Sao có chuyện thần tình thế? Thì ra từ tối hôm qua ông đã cọ tách chén thật sạch. Sau khi lau khô ông đặt vào lòng mỗi chiếc tách một bông hoa khác nhau, rồi úp chén lại. Hương hoa đã vương đầy trong lòng chén, thế thì làm gì các cụ chả có nhận xét khác nhau. Biết chuyện các cụ cười rung cả râu. Ai cũng tấm tắc khen ông nội cu Phú là người vừa sành uống trà, vừa biết bày vẽ những trò vui thú thanh tao.

Không biết uống trà nên cu Phú cũng không hiểu được cái ngon, cái thú của ông nó ra làm sao. Nhưng cái thú làm vườn với trồng cây của ông thì nó biết. Ông mới nghỉ hưu có vài ba năm mà mảnh vườn mấy chục mét vuông ngay trước sân nhà cu Phú đã xum xuê lá quả. Đấy là những cây cam Bố Hạ, những cây táo Thiện Phiến, những cây bưởi Đoan Hùng, những cây hồng Hạc Trì, những cây vải thiều Thanh Hà… Những cây giống này, có cây bố nó đem từ Trung tâm khuyến nông về, có cây được người ta biếu, có cây ông tìm mua.

Hầu như sáng nào cũng vậy, uống cạn một ấm trà, không cần ăn thứ gì khác nữa, ông vác cuốc xẻng đi làm vườn. Khi thì ông lóc cỏ đắp gốc cho cây. Khi thì ông san lấp mặt bằng. Ông cặm cụi, ông mải mê với công việc tưởng như không biết mệt, không thấy chán. Chiều xuống, ông lại xách nước từ dưới ao lên tưới đều cho các cây. Tưới xong, ông vạch lá bắt sâu. Mắt ông đeo kính, ông chăm chú nhìn. Hai bàn tay ông nâng niu từng cái lá và lần tìm từng con sâu, con nhện. Cứ thế, ông lặng lẽ làm cho tới khi tối nhọ mặt người mới nghỉ.

Có lẽ được ông chăm sóc như mẹ chăm con nên cây nào ông trồng cũng sống, cũng lớn nhanh như có phép lạ. Nhìn vào vườn cây của ông ai cũng tấm tắc khen. Ông chăm sóc cây đã khéo, ông chiết ghép cây còn khéo hơn, tài tình hơn. Ví như ông ghép cây chanh với cây cam, cây táo ta với cây táo Thiện Phiến, cây bưởi chua... rồi cho ra một giống cây mới. Lòng ham mê làm vườn của ông đã lây sang cu Phú từ bao giờ. Một hôm nó đang đứng xem ông chiết cây thì được ông hỏi:

- Cháu Phú có biết ông Mít-su-rin là ai không nhỉ?

Phú ta đứng ngẩn tò te suy nghĩ một lúc mà vẫn không biết ông Mít-su-rin là ông nào? Cả làng này có mấy ông già nhưng không có cụ nào có cái tên nghe lạ tai như thế cả. Nó đành lắc đầu, cười:

- Ông ấy là ai thế hả ông?

Ông ngừng tay nhìn Phú như chợt hiểu:

- À, năm nay cháu mới học lớp năm nên chưa biết ông ấy là phải. Ông này ở mãi bên nước Nga, là người đầu tiên tìm ra cách chiết ghép cây như ông đang làm đây này. Thế cháu có muốn trở thành ông Mít-su-rin không nào?

Cu Phú cười ỏn ẻn như con gái:

- Có ạ! Nhưng ông ơi, cháu chưa biết cách ghép cây.

- Thì phải học. Học sẽ biết hết. Nếu cháu muốn, ông sẽ dạy.

- Thế ông dạy cháu thật nhá?

Ông cốc khẽ vào đầu cu Phú một cái và mắng yêu:

- Thằng bố mày. Ông không dạy thật thì dạy đùa sao? Nào lại đây ông bày cách cho mà làm.

Thế là buổi học đầu tiên về phương pháp chiết ghép cây của cu Phú bắt đầu. Hóa ra người ta chiết ghép cây là để có một loại cây mới có quả nhiều hơn, lại ngon hơn. Mà muốn chiết ghép thành công thì trước hết phải biết chọn những cành cây giống không bị sâu, đang có sức phát triển tốt và những mắt cây phải lành lặn. Sau nữa, phải thật cẩn thận, tỉ mỉ và kiên nhẫn. Những đức tính này không thể thiếu đối với người làm vườn. Bởi những cây lá, hoa quả nó giống như trẻ con chỉ thích được chăm sóc chu đáo và thích được vuốt ve chiều chuộng.

Ông “lên lớp” một lúc lâu đoạn đưa dao kéo đồ nghề cho Phú thực hành ngay. Ông bảo Phú hãy chiết táo cho ông xem có làm được không. Sau giây lát lóng ngóng với dao kéo, Phú tách vỏ cây, trích lấy mắt cây đoạn đem ghép lại. Mọi động tác Phú làm đều khéo léo, in ắn y như một người thợ lành nghề. Ông đứng ngoài theo dõi luôn mồn khen: “Tốt! Tốt!”. Đợi Phú bó buộc xong, ông xoa đầu Phú nói:

- Cháu có thể trở thành học trò của ông Mít-su-rin được đấy. Từ hôm nay ông giao cho cháu cây này. Cây táo này là của cháu. Cháu phải trông nom, chăm sóc đến ngày nó ra hoa, kết quả. Liệu Phú có làm được không cháu?

Cu Phú mừng rơn chỉ còn thiếu ôm chầm lấy cổ ông mà nhận: “Có ạ!”.

Từ hôm ấy trừ những lúc phải đi học, ngồi học, làm bài và đi chăn trâu… thời gian còn lại nó quẩn quanh ở ngoài vườn cây với ông. Thay cho những lần trốn ông, trốn mẹ đi chơi bời lêu lổng với bọn trẻ con hàng xóm trước kia, bây giờ nó ở nhà cùng ông xới vườn, lóc cỏ, tưới cây. Càng làm nó càng hiểu ra rằng để có một bông hoa thơm, một quả cây chín ngọt, thật không đơn giản một chút nào. Người làm vườn phải tìm hiểu, phải rút kinh nghiệm để hiểu tính nết của từng loại cây. Có như thế mới biết cách mà vun trồng, chăm bón. Riêng với cành táo do chính tay Phú chiết ghép, nhờ được ngày nào nó cũng để mắt tới nên lớn nhanh trông thấy. Chẳng bao lâu từ một mầm táo đã thành cành táo, rồi thành cây táo. Cây táo vươn cành nở lá, xòe tán phủ kín một khoảnh đất rộng bằng cái nong. Rồi cây táo ra hoa. Cây táo kết quả. Chớm đông, táo bắt đầu chín. Những quả táo mòng mọng, sai trĩu cành cứ vàng rộm lên trong nắng. Đúng vào dịp này thì Hội làm vườn của các cụ ở làng Phú được thành lập. Ông của Phú được các cụ bầu làm Hội trưởng. Buổi sinh hoạt đầu tiên của Hội họp ngay tại nhà Phú.

Sau khi các cụ uống xong một tuần trà do chính Phú giúp ông súc ấm, pha trà, chế nước, ông mới bảo Phú ra vườn hái táo – cây táo mà nó tự chiết ghép và vun trồng ấy – để mời các cụ ăn nếm. Phú chọn hái một mủng con những quả chín nhất, mọng nhất đem vào đưa ông. Ông lại còn bảo nó bày táo ra một cái đĩa men, đoạn ông trịnh trọng đặt lên bàn thờ. Ông thắp hương và lầm rầm khấn vái. Khấn xong, ông quay ra nói với các cụ:

- Đây là những quả táo đầu do thằng cháu Phú nhà tôi làm ra. Tôi đã thắp hương mời tổ tiên thụ hưởng, giờ đến lượt anh em mình, mời các cụ ăn nếm xem có ngon không ạ.

Dứt lời, ông cầm táo đưa cho mỗi cụ hai quả. Các cụ vừa ăn một cách nhâm nhi, vừa bình luận rất sôi nổi. Có cụ khen táo ngọt, giòn, có cụ khen táo hạt nhỏ, thịt nhiều, hơn đứt anh “Thiện Phiến”… Có cụ nói với ông cu Phú:

- Đúng là giỏ nhà ai, quai nhà ấy thật. Cháu Phú khá lắm. Nay mai lớn lên cho nó đi học Đại học Nông nghiệp, học làm kỹ sư trồng trọt được đấy các cụ ạ.

Không giấu nổi niềm vui đang tràn ngập trong lòng, ông cu Phú cười khà khà và khoe luôn:

- Cháu nó đang mơ ước trở thành Mít-su-rin đấy ạ!

Một cụ khác nói:

- Ông Mít-su-rin ở tận đẩu tận đâu tôi không biết, từ nay chúng tôi sẽ gọi ông cháu nhà cụ là ông cháu Mít-su … Phú. Được không?

Các cụ cùng cười rộ lên tỏ ý tán đồng. Riêng cu Phú lại đứng im, mặt nghệt ra. Nó có ý chờ xem các cụ trong Hội làm vườn họp bàn về vấn đề gì? Nếu có thể, nó cũng sẽ xin ông cho gia nhập Hội. Liệu đã nên chưa nhỉ? Liệu có được không nhỉ?

 

 

 

 


 

LÃ THẾ KHANH

 

Cuộc chia ly dịu dàng

 

 

NHÀ XUẤT BẢN HỘI NHÀ VĂN, 1998

 

 

---------------------------------------------------------

 

 

Tập truyện ngắn đoạt Giải A,

 Giải thưởng VHNT tỉnh Vĩnh Phúc 5 năm lần thứ I

(1997 - 2000)

 


 

 

 

 

 

CUỘC CHIA LY DỊU DÀNG

  

 Họ vẫn khoác vai nhau lặng lẽ đi trên hè phố. Bàn tay của cô gái hờ hững bám vào eo lưng chàng trai. Còn anh, bàn tay gầy, xương xẩu, ôm riết lấy bờ vai cô gái. Anh vừa đi vừa như dìu cô về phía trước. Cả hai còn rất trẻ. Người con trai trạc hai mươi lăm, hai mươi sáu tuổi. Còn cô gái, nhiều lắm chỉ đến tuổi hai hai, hai ba. Họ ăn mặc giản dị nhưng lịch lãm. Dáng điệu cả hai đều rất thanh lịch.

Họ đi chậm chạp. Thỉnh thoảng cô gái lại như vấp váp, làm cho chàng trai khựng lại, chờ đợi.

Nhìn họ, không ai nghĩ rằng họ đang trên đường đi tới Tòa án để rồi vĩnh viễn xa nhau. Trời mùa thu xanh đến vô cùng. Những đám mây màu ngọc bích lững thững trôi, hồn nhiên và yên bình... Thi thoảng một vài ngọn gió đơn côi, se sắt tạt vào khuôn mặt hai người. Những sợi tóc dài, đen nhánh từ mái tóc người con gái vương vào mặt người con trai. Mùi hương sả từ mái tóc ấy rực lên, làm chàng trai xao xuyến, man mác… Ôi, mái tóc ấy chỉ ít phút nữa sẽ không còn là của ta! Chàng trai thầm nghĩ. Những ý nghĩ làm anh đi chậm lại. Còn cô gái, không một xúc cảm nào. Cô bước đi với một tâm trạng bình thản, thách thức. Nỗi đau trong cô đã bão hòa.

Cổng tòa án Quận đã hiện ra trước mặt hai người. Ngập ngừng giây lát, họ quả quyết bước vào. Đôi mắt cô gái vẫn nhìn thẳng. Cặp môi tím tái mím lại, kiêu sa. Còn chàng trai, anh chuyển tay mình từ bờ vai cô gái lên mái tóc cô gái. Một cảm giác mát lạnh truyền khắp người anh. Anh bất giác rùng mình…

Bà Chánh án giương đôi mục kỉnh lên rồi đăm chiêu, quan sát cả hai người. Họ chỉ trạc tuổi đứa con thứ hai, thứ ba của bà. Cầm tập hồ sơ lên rồi lại đặt xuống, bà hỏi, giọng đầy trắc ẩn:

- Có lẽ nào hai cháu đến đây để… ly hôn?

- Thưa cô, cháu tiếc rằng đó lại là sự thực! - Cô gái bình thản trả lời.

- Chắc đó là ý muốn của riêng cháu? - Bà Chánh án hỏi người con gái nhưng đôi mắt lại hướng về chàng trai. Anh vẫn mơ màng nhìn vào một điểm vô hình trên bức tường trước mặt.

- Lúc đầu là của riêng cháu. Nhưng bây giờ thì là của cả hai!

Cô gái lạnh lùng khẳng định.

- Thôi được! Cô đã xem kỹ đơn của các cháu. Nhưng dẫu sao, trước khi quyết định, cô vẫn muốn hỏi cháu một lần cuối cùng. Cháu hãy trả lời cho trung thực: Vì sao các cháu lại quyết định ly hôn?

Cô gái cúi đầu, hất ngược mái tóc lại phía sau, vẻ bướng bỉnh, rồi nhìn thẳng vào khuôn mặt phúc hậu, mệt mỏi của bà Chánh án:

- Thưa cô! Chẳng lẽ… suốt đời người ta lại cứ phải theo đuổi một tình yêu đơn phương?

- Cháu có bằng chứng về chuyện chồng cháu ngoại tình?

- Thưa… Không! Chuyện ấy thì anh ấy chưa có!

- Thế chẳng lẽ chàng trai này lại là một kẻ… vũ phu?

- Cũng không phải ạ! - Cô gái thở dài - Dù sao thì cháu cũng phải công nhận anh ấy là một người dịu dàng, thậm chí ủy mị nữa. Anh ấy… rất chiều chuộng cháu!

- Chồng cháu có nghiện ngập thứ gì không? Như thuốc lá, rượu chẳng hạn?

- Tất cả những thói xấu mà nhiều người đàn ông khác thường mắc phải thì anh ấy đều chưa có! Vâng! Đúng là thế ạ! Cháu vẫn thường tự hào với bạn bè điều đó!

- Thế thì vì lẽ gì? Cô… cô không thể hiểu nổi? - Bà Chánh án đứng dậy khỏi bàn, bước tới bên chàng trai, bà ân cần hỏi:

- Những lời cô ấy nói có đúng không cháu? Cô chờ đợi ở cháu một sự trung thực!

- Thưa…! Cũng có thể là quá lời. Song cơ bản là đúng như vậy!

Chàng trai khẳng định một cách dè dặt.

- Trong thời buổi hiện nay, nếu một trong hai người không mắc phải những lỗi lầm trên, thì theo cô không có gì đáng phải xa nhau cả. Làm nghề này, cô được biết, có những cặp vợ chồng đã từng coi nhau như kẻ thù. Vậy mà họ vẫn tha thứ cho nhau. Vẫn… đoàn tụ! Huống chi… Hay là các cháu có những lý do nào cô chưa thể hiểu được?

- Thưa cô! Chúng cháu không còn yêu nhau nữa. Đó là lý do duy nhất buộc chúng cháu phải xa nhau! - Cô gái mệt mỏi trả lời.

- Cháu có chứng cớ gì để lý giải điều này chứ? Chả lẽ…!!! Bà Chánh án ngoảnh mặt về phía chàng trai lúc này đang ngồi tư lự. Khuôn mặt anh lộ rõ vẻ hoảng hốt như người vừa làm điều gì xấu bị bắt quả tang.

- Bằng chứng như những cặp vợ chồng khác thì cháu không có. Nhưng… bằng chứng cho một tình yêu bị dối lừa, bị phụ bạc thì cháu có. Cô đừng bắt cháu phải đưa ra những chứng cứ cụ thể. Bằng trái tim người đàn bà, cháu có thể trình với cô những chứng cứ vô hình, nhưng nếu ở địa vị cô, xin lỗi, cháu xin ví một cách vô lễ như vậy, thì chắc cô sẽ xử sự như cháu. Cháu xin cô hãy bình tĩnh nghe cháu kể. Có gì không đúng, bạn cháu có toàn quyền phủ định cơ mà - Cô gái nói, giọng rành rẽ, lạnh lùng, chứng tỏ điều cô suy nghĩ, quyết định đã nung nấu trong con tim, thậm chí nó còn quá muộn so với cái thời khắc mà cô quyết định.

- Cháu cứ nói. Cô đang nghe đây mà! - Bà Chánh án khuyến khích cô gái.

Được sự đồng cảm, cô gái như phấn khích hẳn lên. Giọng cô đều đều, ảm đạm, như máy ghi âm, làm sống lại trước mặt bà Chánh án cái thời quá vãng vừa đau buồn vừa tiếc nuối của cuộc đời cô gái…

… Đó là một ngày đẹp trời! Hương (tên cô gái trong truyện) tổ chức lễ sinh nhật lần thứ 23 của mình. Hai mươi hai giờ kém mười phút, bạn bè của Hương đã về hết. Trong căn phòng xinh xắn ngổn ngang những ly, những cốc và tặng phẩm chỉ còn Quang - chồng Hương. Quang ngồi thờ ơ hút thuốc lá. Những lọn khói tròn, dích dắc bay lơ lửng khắp trần nhà. Anh nhìn vợ đang viên mãn trước hạnh phúc của mình nhưng đôi mắt anh thì trống rỗng, mệt mỏi. Đôi mắt Quang nửa như xâm chiếm trọn thân thể Hương nửa như hướng vào một điểm vô hình trên bức tường trước mặt.

- Quang! Anh mệt hay sao! - Hương nũng nịu. Vừa nói cô vừa bước đến bên chồng rồi ngồi xuống một bên ghế sa lông. Cánh tay trần trắng muốt của Hương ghì đầu Quang vào bộ ngực căng đầy của mình. Quang nghe rõ nhịp tim gấp gáp của vợ.

- Không! Anh không mệt! Anh hạnh phúc quá! – Quang ngước mắt nhìn vợ - Đôi khi hạnh phúc lớn quá cũng làm cho người ta mệt, người ta sợ phải không em?

- Quang nói gì em không hiểu! Đã là hạnh phúc thì sao lại phải sợ! Quang! Anh có thật yêu em không? Hương chột dạ. Vừa nói cô vừa vò tóc Quang rồi bật ngửa khuôn mặt rắn rỏi, lúc nào cũng đọng đầy ưu tư của chồng lên để nhìn ngắm.

Những cử chỉ của Hương làm Quang phấn khích đến tột độ. Anh như rơi vào một trạng thái không trọng lượng. Toàn thân Quang bồng bềnh trong một cảm giác vừa đê mê và hoang tưởng. Anh ôm ghì vợ vào lòng rồi tới tấp hôn lên môi cô những cái hôn bỏng rát. Hương cũng thế! Chưa hôm nào như hôm nay, cô cảm thấy mình là người hạnh phúc nhất. Mọi ngày, mỗi khi đi làm về, Quang thường kiếm cớ để tìm cách ngồi riêng một mình trong căn phòng làm việc. Quang rất ít khi dành trọn một buổi tối để vợ chồng tâm sự. Còn hôm nay, không hiểu sao Quang đã không từ chối bất cứ một yêu cầu nào của vợ. Anh lảo đảo kéo Hương đến bên giường. Vừa bật từng chiếc cúc áo của vợ, Quang vừa thầm thào:

- Liên! Anh yêu em… Anh yêu em mà. Liên!!!...

Dù đang đắm chìm trong một trạng thái đê mê, Hương vẫn đủ mẫn cảm để nhận biết trọn vẹn tiếng lòng của Quang. Cái xúc cảm phấn hứng trong người cô vụt biến đi, nhường chỗ cho một cảm giác xót xa, hụt hẫng. Hai cánh tay Hương đang ghì chặt Quang như tê dại. Thẫn thờ đến ba, bốn phút, Hương bỗng dùng cả hai bàn tay đẩy Quang ngã xuống giường. Cô nằm úp mặt xuống gối, nức nở khóc. Vừa khóc, Hương vừa nguyền rủa:

- Đồ… giả tạo! Đồ phản bội! Thật là…

Quang chợt tỉnh trước cú đẩy nghiệt ngã của Hương. Anh hiểu rằng anh đã phạm sai lầm mà những người con gái có lòng tự trọng không bao giờ tha thứ. Trời ơi! Sao cái tên của người ấy lại lọt vào môi anh trong lúc này! Đã dăm năm nay, kể từ ngày yêu Hương rồi lấy Hương, Quang đã cố tình quên hình ảnh, tên gọi của người con gái ấy. Vậy mà, cứ như chờ dịp thần kinh anh phấn khích, nó lại trở về, xâm chiếm trọn vẹn trái tim anh…

- Tha thứ cho anh! Hương… Anh trót lầm lẫn mà!

- Im đi! Đừng nói nữa! Đồ dối lừa! Đồ phản bội! - Hương vẫn tức tưởi - Hóa ra… năm năm qua anh đã mượn thể xác tôi để thỏa mãn tình yêu của anh. Anh đã ăn cắp lòng tin, tình yêu của tôi. Cút đi!… Hãy cút đi!

 

 

*

*        *

 

 

-… Thưa cô! Tất cả câu chuyện chỉ có thế! - Cô gái ngừng kể, ngước nhìn bà Chánh án - Cháu muốn cô hiểu cho! Sự dối lừa về thể xác đôi khi còn có thể chấp nhận. Nhưng sự phản bội, sự ngoại tình bằng ý nghĩ, bằng tình cảm thì đó là điều sỉ nhục nhất. Chỉ có những kẻ tàn nhẫn nhất mới như thế! Cô đồng ý với điều cháu nói chứ? Năm năm qua, cháu cứ nghĩ vợ chồng cháu như một tờ giấy. Một tờ giấy mà hai mặt của nó không bao giờ tách rời nhau. Mặc dù cháu vẫn biết trước đấy Quang đã yêu một người con gái nào đó. Vậy mà… hai mặt của tờ giấy ấy lại chẳng bao giờ giáp nhau được…!

- Thôi được! Cô hiểu điều cháu nói – Bà Chánh án ngắt lời cô gái rồi quay sang phía chàng trai:

- Cháu có điều gì cần phải làm rõ thêm?

Người con trai buông thõng hai tay trên đầu gối. Anh ngước nhìn toàn bộ căn phòng như muốn tìm một vật gì đó để tự vệ. Một lúc sau anh thở dài, thú nhận:

- Thưa cô! Hương đã nói đúng sự thực. Không hiểu sao năm năm qua cháu vẫn không thể nào quên được người con gái ấy. Mặc dù khi đến với Hương, cháu không có gì phải ân hận. Hương là một cô gái tuyệt vời. Có cách nào… cô giúp được cháu không? Hoặc chí ít cô hãy giúp cháu một lời khuyên?

Bà Chánh án không nói gì, mặc dù bà rất xúc động. Trở lại chiếc ghế của mình, bà lục tìm một tờ giấy gì đó rồi rút bút ký vào đó một chữ. Ký xong, như còn do dự điều gì, bà đăm chiêu ngắm nhìn tờ giấy với chữ ký của mình một lượt. Ít giây sau bà quả quyết đưa cho cô gái. Bà nói, giọng trầm mặc nhưng rành rẽ:

- Những trường hợp khác, cô có thể khuyên họ hòa giải. Nhưng còn hai cháu thì cô không khuyên điều đó!

 

                                                         Việt Trì, tháng 3-1991

        

 

 

 

 

ĐỒNG VỌNG NGƯỢC CHIỀU

 

            Theo cái gậy tre dò đường, bà lão rờ rẫm từng bước về phía cửa ga.

Bà đi như người tập làm xiếc trên dây. Chiếc nón lá rách lướp tướp, từ bàn tay gầy guộc, lẩy bẩy của bà huơ đi huơ lại, không lúc nào yên.

 Dừng lại bên đống rác lớn, bà lão bắt đầu van vỉ: Cháu lạy các ông các bà… Cháu mù loà già cả… Cháu xin các ông các bà nhón tay làm phúc…

Không một hồi âm, ngoài tiếng vo ve của mấy con nhặng xanh đang tranh ăn trên một chiếc lá bánh. Một con chuột ngày trơ tráo bò lên bàn chân bà lão. Bà sững người. Khuôn mặt loé lên một tia sáng mỏng. Bà đưa tay lần tìm từng tí trong lòng chiếc nón. Nhưng  ngay sau đó, cặp mắt nặng trĩu, ầng ẫng nước của bà tối sầm lại.

Bà lão tiếp tục van vỉ. Vẫn điệp khúc cũ. Nhưng càng về sau càng thống thiết, não nề. Những câu nói rời rạc, như tự chảy ra từ khuôn miệng dúm dó, xệch xạc của bà.

Cái nón vẫn trống huếch. Một tia nắng lọt qua cái chóp thủng, xiên thẳng xuống đất, như đóng đinh bà lão xuống nền đường.

Nằm dưới gốc cây sấu già, bé Chi thiu thiu ngủ. Nó gối đầu trên cái túi dúm dó, khâu bằng bốn, năm loại vải cũ, sờn. Một cái bát sắt hoen gỉ, thủng đáy, nằm lăn lóc bên cạnh. Bộ ngực gầy trơ xương của con bé thắc thỏm dưới làn áo cáu bẩn, nhàu nhĩ.

Từ sáng tới giờ chưa có chút gì trong bụng, nên bé Chi đói rũ người. Nó hy vọng giấc ngủ xua tan cái đói. Nhưng không thể được.

Mọi ngày vào tầm này, mèng ra nó cũng xin được đủ tiền mua hai cái bánh mì.

Hôm nay xúi quẩy thế nào, chỉ được tờ hai trăm đồng mất góc.

Bỗng bé Chi giật thót người. Có một bàn chân nào đó giẫm lên người nó. Đang lúc đói mệt, bé Chi gầm lên:

- Mù à? Người ta nằm thế mà giẫm lên!

- Bà mù... mù thật cháu ạ! Thôi, bà đã trót... Cho bà xin!

Lặng đi một lát, bé Chi đưa hai tay sờ mắt mình. Từ hai hốc mắt của nó, những giọt nước mặn chát, rỉ ra. Nó ngập ngừng:

- Cháu... Cháu xin lỗi bà! Cháu không biết là bà như thế...

Bà lão ngúc ngắc đầu như thể chấp nhận, rồi tiếp tục đi về phía có tiếng đông người. Vừa đi bà lại vừa lẩm nhẩm:

- Cháu lạy các ông các bà... Cháu xin các ông các bà nhón tay làm phúc... thương kẻ mù loà, khốn khổ này!

Ngẫm ngợi điều gì đó lung lắm, bé Chi lấy trong túi áo ra tờ giấy bạc hai trăm đồng mất góc, rồi quả quyết:

- Bà ơi!... Cháu bảo này!

Bà lão dừng ngay lại. Bà nhận ra người gọi mình chính là con bé bà vừa nói chuyện. Linh cảm mách bảo bà sẽ gặp may.

- Bà ơi! Cháu... cháu biếu bà!

Khuôn mặt lộ vẻ vui mừng, bà lão chậm chạp quay trở lại, rồi chìa nón về phía gốc cây chờ đợi.

Đúng khoảnh khắc ấy, một cơn gió nhẹ ào qua. Từ trên cây sấu già, những phiến lá khô rơi xuống, khẽ khàng, đúng vào cái nón của bà lão.

Ngỡ con bé thả tiền vào nón, bà lão đưa tay quờ đi quờ lại. Một cái nhíu mày xéo ngang vừng trán nhăn nheo. Bà lão buồn bã đi tiếp về phía cửa ga. Vừa đi bà vừa thầm rủa:

- Bố con nhà mất dạy... Lừa cả người già... Rồi giời sẽ bắt tội đấy con ạ!

Ngồi ở gốc cây, bé Chi vẫn chìa tờ bạc về phía trước, vẻ thành tâm. Chờ mãi, không thấy bà lão nhận tiền, nó đứng phắt dậy, thảng thốt gọi:

- Bà ơi! Cháu xin biếu bà! Thực đấy mà!

Không ai trả lời con bé. Nó đưa tay quờ quạng quanh mình. Bàn tay nó chạm phải thân cây sấu già, thô nhám.

Nhét tờ bạc vào túi áo, một tay cầm túi, một tay chống gậy, con bé mù thập thững tìm đường.

Lúc ấy là mười hai giờ trưa. Nắng mùa hạ chói chang, in hình bé Chi xuống nền đường, tròn như đồng tiền vàng.

 

 

 

 

 

 

 

ĐỨA CON CỦA LÀNG

  

Sáng nay hội trường UBND xã Sơn Đông rất đông người. Họ đang bàn tán đủ thứ chuyện trên đời. Một thanh niên mặc chiếc áo quân phục K72 đã bạc phếch quay sang nói chuyện với mọi người vẻ hiểu biết:

 - Trong số các vị về xã mình hôm nay có cả thằng Hiếu đấy. Nó đi lính sau tớ hai năm. Sau chuyển ngành đi học. Thế mà bây giờ đã là tiến sĩ. Oai đáo để.

Câu chuyện đang sôi nổi thì bị cắt ngang bởi tiếng động cơ ô tô. Một chiếc Altis còn mới cứng từ từ rẽ vào sân hội trường. Trên xe có một người đàn ông đã luống tuổi, ý chừng là trưởng đoàn và hai nhà khoa học khác còn rất trẻ. Những người đứng trên hành lang hội trường ùa xuống sân, vây quanh đoàn cán bộ. Ông Liễn, Bí thư Đảng uỷ xã chen vào giữa dòng người thân mật bắt tay từng vị khách. Đến lượt nhà khoa học trẻ nhất đoàn thì ông giang hai tay ôm ngang người anh ta, giọng xúc động:

- Hiếu!... Cháu khá lắm! Bác chúc mừng cháu! Cháu đã làm cho cả làng ta thơm lây! Không ngờ làng mình lại có một nhà khoa học nổi tiếng như  cháu.

Đáp lại tình cảm của ông bí thư già, người con trai có tên là Hiếu cũng xúc động không kém. Anh lúng búng trong miệng:

- Dạ… Có gì đâu bác…

Ông Liễn lắc lắc đôi vai Hiếu một lần nữa rồi săm sái chạy lên trước đoàn người để mời khách vào nhà uỷ ban. Hiếu vẫn đi sau cùng. Vừa đi anh vừa bẽn lẽn đáp lại những câu nói, cử chỉ suồng sã nhưng thân thiết của dân làng.

Khi cả khách và chủ đã ngồi yên trong hội trường, ông Liễn dáng điệu trịnh trọng, bước lên bục nói chuyện:

- Kính thưa đoàn khoa học! Thưa bà con toàn xã! Hôm nay rất vinh dự cho xã ta được đón đoàn khoa học của Trung ương về thăm và xem xét đầu tư một số dự án kinh tế nông nghiệp. Rồi đây các nhà khoa học sẽ giúp cho cái làng Gồi của chúng ta thoát nghèo thoát đói.

Tiếng vỗ tay rào rào nổi lên. Đợi cho làn sóng vỗ tay lắng xuống, ông Liễn mỉm cười nói tiếp:

- Như bà con đã biết! Đoàn khoa học gồm có ba đồng chí, do Giáo sư, Tiến sĩ Bùi Minh Ngọc làm trưởng đoàn. Nhưng… đặc biệt là trong ba đồng chí này như bà con đã thấy, có tiến sĩ Hiếu… Cháu Hiếu là người làng ta (Tiếng vỗ tay lại ào ào nổi lên to hơn, ầm ĩ hơn lần trước). Giáo sư Ngọc cho tôi hay, cháu Hiếu vừa nghiên cứu thành công giống vải thiều trồng trên đất đồi mà vẫn cho năng suất cao. Rất phù hợp với đồng đất làng ta. Đây phải nói là, là một cơ may lớn cho xã ta. Tôi đề nghị bà con hoan nghênh các nhà khoa học. Hoan nghênh cháu Hiếu, đứa con tài giỏi của làng Gồi ta…

Tiếng vỗ tay lại ào lên át cả tiếng nói của người bí thư già. Một bác nông dân đứng ở ngoài cửa hội trường đang tìm cách len vào trong nhà không được bèn gào lên rất to:

- Vậy thì mời anh Hiếu lên nói chuyện trước đi! Ưu tiên người nhà ta đã.

Thấy không khí dân làng như vậy, Giáo sư Ngọc quay sang nói nhỏ với Hiếu điều gì đó rồi giục anh lên nói chuyện trước. Nhưng rồi cũng phải để cho mọi người thúc giục, co kéo mãi, Hiếu mới bẽn lẽn bước lên bục. Hiếu bắt đầu câu chuyện  của mình một cách rời rạc:

- Kính thưa các cụ, các ông, các bà! Kính thưa… tất cả bà con, các anh các chị… Cháu… Cháu rất xúc động khi được về thăm quê hương. Được… Được quê hương dành cho một sự đón tiếp như thế này… Cháu không biết nói gì hơn. Chỉ biết cháu rất xúc động. Cháu cảm ơn các bác, các chú lãnh đạo ở địa phương đã… đã nuôi dạy cháu trưởng thành để cháu có được ngày hôm nay…

Ngồi thu mình ở phía dưới của hội trường, dáng bơ phờ, mệt mỏi là một người đàn ông tuổi trạc sáu mươi. Ông ta nửa như chăm chú nghe, nửa như không để tâm một chút nào tới những điều Hiếu đang nói. Người đó là ông Hoạch, một lãnh đạo chủ chốt của xã Sơn Đông mới nghỉ hưu vài năm nay. Con người ấy mấy năm trước béo tốt, khệnh khạng là thế, nay còm cõi đen đúa. Khuôn mặt ông bành  bạnh với những nếp nhăn thô, to chồng chéo lên nhau, trông càng khắc khổ lam lũ. Khác với mọi người đang bị câu chuyện của nhà khoa học trẻ cuốn hút, ông Hoạch ngồi nghe chiếu lệ. Từ trong tâm can ông có một điều gì đó mà lâu nay ông lãng quên đang trỗi dậy, làm ông bồn chồn, bứt rứt. Ông quay sang hỏi người đàn bà ngồi cạnh:

- Này! Cái cậu này nó là con ai nhỉ?

- Ông hỏi ai cơ? - Người đàn bà đã luống tuổi hỏi lại.

- Cái cậu đang nói chuyện kia kìa?

- Rõ chán cho ông! - Người đàn bà cười, ngạc nhiên - Con bà Thông ở xóm Gồi… À, nhưng mà cái hồi cậu ấy đi bộ đội thì ông không ở nhà nhỉ!

- Hồi đó tôi đang ở Lâm Đồng! Mới lại chúng nó tuổi bằng con mình thì biết thế nào được! - Ông Hoạch trả lời, giọng lạnh tanh. Quay sang phía người đàn bà ông hỏi tiếp:

- Quái nhỉ? Bà Thông làm gì có con? Trước có lấy một đời chồng nhưng không có con nên ông ta bỏ?

- Ông rõ chóng quên! - Người đàn bà vẫn chăm chú nhìn lên bục - nơi Hiếu đang nói chuyện - Cậu này nó là con nuôi bà Thông. Này, ông có nhớ cái nhà chị gù bán nước ở đầu làng ta không nhỉ? - Người đàn bà hạ giọng, thầm thào.

Ông Hoạch nhíu mày suy nghĩ. Thấy vậy người đàn bà cặn kẽ, chỉ đủ để ông nghe:

- Cái nhà chị gù ở bên cạnh nhà cụ Năm có con tên Ngãi là liệt sĩ ấy mà! Thằng Hiếu này chính là con đẻ của chị ta đấy. Hồi chị ta bỏ đi nó đâu mới được một tháng tuổi gì đó. Sau bà cụ Năm mới đem cho bà Thông nuôi… Khổ thân! Không hiểu bây giờ cái nhà chị ấy ở đâu nhỉ? Còn sống hay đã chết rồi? Lâu lắm rồi còn gì ông nhỉ? Dễ đến gần ba chục năm…

Con người đàn bà gù bán nước ở đầu làng Gồi à? Nhà khoa học trẻ đang nói chuyện trên bục kia là con trai của người đàn bà bất hạnh đó ư? Có lẽ nào lại như thế được? Ông Hoạch nhăn trán, cố lục trong vùng nhớ của não mình hình ảnh người đàn bà tật nguyền mà không sao nhớ nổi. Đúng là ông quên thật. Tính ông xưa nay vẫn vô tâm thế. Nhưng rồi… Ông Hoạch à lên một tiếng. Ông ngồi so người lại. Ông không còn nghe tiếng vị tiến sĩ đang nói chuyện trên bục nữa. Tai ông bỗng ù lên dữ dội. Khuôn mặt đen đúa của ông trở nên nhợt nhạt. Rồi trước mắt ông Hoạch, nhà khoa học kia bỗng mờ dần, mờ dần, lung lay nhẹ và biến thành một đứa trẻ. Đứa trẻ đỏ hỏn, non nớt. Nó đang cất tiếng khóc. Tiếng khóc của nó ngây thơ, thê thảm làm sao. Những tiếng khóc như báo hiệu với người đời rằng: Ở đây, tại căn nhà lụp xụp này có một công dân vừa chào đời. Công dân ấy trong trắng, vô tội và hoàn thiện như mọi người. Tiếng khóc của đứa trẻ khi xa, khi gần, khi rõ mồn một bên tai ông Hoạch khi thì chỉ còn lại như một tiếng rên ư ử… Nhưng rõ ràng là nó đang vặn vọ, cấu xé lương tâm ông. Ông Hoạch bàng hoàng thờ thẫn như bị một cú sốc tâm thần. Rồi trước mắt ông, như một ảo ảnh, bỗng hiện lên mồn một hình ảnh người đàn bà gù. Chị ta đang quằn quại, cắn chặt hai hàm răng, cố lấy hơi sức cuối cùng trong người để sinh đứa bé. Từ trên mái nhà dột nát những giọt nước mưa to như những hòn sỏi đang đổ xuống lòng nhà tong tả. Nền nhà sũng nước. Mặt và toàn thân người đàn bà tật nguyền cũng đẫm nước. Một thứ nước pha trộn của nước mưa và nước mắt. Bỗng một tiếng kêu … a… a vang lên lọt thỏm giữa tiếng rú rít của bão gió. Rồi tiếp đó là tiếng kêu oe, oe… của con trẻ. Tiếng thở phào sung sướng của người mẹ…

Ông Hoạch nhấp nhổm như trong người có hàng triệu con kiến lửa đang bò. Ông định nói với người đàn bà ngồi cạnh cho ông ra ngoài vì ông nhức đầu quá thể… thì bỗng nhiên ông ảo giác có một bàn tay già nua, nhăn nheo nào đó kéo ông lại. Ông quay ngang quay dọc. Không! Không có người nào chạm vào ông cả. Mọi người vẫn đang chăm chú nghe nhà khoa học của làng nói chuyện trồng cây vải thiều trên đồi. Nhưng… rõ ràng là có một bàn tay thực. Bàn tay ấy vừa lay gọi lương tâm ông dậy. À phải rồi - Ông Hoạch chợt nhớ ra - Đó là bàn tay của bà cụ Năm, người láng giềng tốt bụng của người đàn bà gù. Kìa! Bà cụ đang bế đứa bé đỏ hỏn trong tay đi tới trước cửa phòng ông - phòng vị Phó Chủ tịch Ủy ban hành chính xã. Ông Hoạch nghe mồn một tiếng thở hổn hển và tiếng nói nhọc nhằn của bà lão:

- Thưa ông! Đêm xưa mẹ Thảo nó đã sinh nở…

Bã lão nói chưa hết câu thì ông Hoạch đã tròn mắt cắt ngang:

- Bà vừa nói gì nhỉ? Thảo nào?

- Cái mẹ Thảo ở đầu xóm ấy - Bà lão giải thích - Nó ở gần nhà tôi ấy mà!

- Hố… hố…! Cái con gù ấy à? - Ông Hoạch cười khùng khục - Nó cũng đẻ được à? Bà không đùa tôi đấy chứ? Thế con nó có gù như nó không?

Ông Hoạch vừa nói vừa cười chảy cả nước mắt, nước mũi.

- Có gì mà ông cười thế? - Bà lão khuôn mặt rầu rầu, ngạc nhiên khi thấy thái độ của ông Hoạch như vậy - Chị ta là đàn bà thì chị ta đẻ được chứ sao. Cũng như vợ ông ở nhà. Có gì mà lạ?

- Ừ, thì tôi có bảo nó là đàn ông đâu - Ông Hoạch vừa cười vừa hỉ mũi xành xạch - Có điều tôi thấy chị ta gù thế mà cũng đẻ được thì tôi thấy lạ, tôi hỏi…

- Ông Hoạch này! Ông không nên ăn nói thất đức như vậy. Chị ta thế thì ảnh hưởng gì tới nhà ông? Nhẽ ra thấy những người như thế ông phải động tâm mới phải. Đằng này ông lại nhạo báng. Ác nhân ác khẩu…

Vốn là người thẳng thắn, xưa nay ít biết sợ ai, bà cụ Năm nói liền một mạch, không giấu sự phẫn nộ.

Trước thái độ của bà lão như vậy, mặt ông Hoạch bỗng ngây đờ ra. Miệng ông lúng túng như bị cấm khẩu. Nhưng chỉ mấy giây sau ông Hoạch đã lấy lại được cái thế của mình. Nổi cơn thịnh nộ, ông quát bà lão:

- Này! Bà định lên đây để lên lớp  tôi phải không? Tôi nói bà rõ! Đây là nhiệm sở. Là nơi thi hành phép nước! Chứ không phải là cái túp nhà bà để rồi bà quạc mồm ra mà chanh chua, chửi bới đâu nhé! Thôi bà về đi cho tôi làm việc… Mất thời gian… Vớ vẩn… Đương đâu thì lại đi nói chuỵên đẻ với đái…

Ông Hoạch vừa nói vừa lồng lộn đi lại trong phòng.

Hai bên mép ông sùi ra hai cục bọt trắng nhẽo.

Bà cụ Năm cũng không vừa. Thấy ông phó chủ tịch xã lấn mình như vậy thì bà không chịu. Bà đứng dậy một tay vịn vào bàn, một tay xỉa xói:

- Tôi có việc tôi mới lên. Chứ rỗi hơi mà tôi lên đôi co với nhà ông à? Tôi hỏi, giả thử cái nhà ông không làm việc bỉ ban thì tôi thèm gặp nhà ông à? Chứ tôi nói cho ông biết, ngày xưa gặp lý trưởng nó cũng không khó như gặp nhà ông đâu. Ông nạt tôi mà được à.

Hai người lời qua tiếng lại mỗi lúc một căng thẳng. Mấy người làm việc ở các phòng bên của ủy ban thấy vậy đổ sang xem. Ông Hoạch hình như nhận thấy mình hơi quá đáng, lại nghe thấy bà lão so sánh mình với lý trưởng ngày xưa thì đâm ra lo. Ông bèn dịu giọng hỏi, nhưng ánh mắt vẫn lộ vẻ tức tối:

- Thế bà gặp tôi có việc gì? Này thôi, mấy người kia sao lại đứng hóng thế - Ông Hoạch đay mặt qua mấy người cán bộ đang đứng nghe ở rìa ngoài - Có để tôi làm việc không thì bảo. Cái thói đâu cứ hơi tý thì đổ đến nghe…

Bà cụ Năm thấy ông Hoạch dịu giọng lại thì cũng từ tốn theo. Bà vừa thở vừa nói:

- Báo cáo ông! Tôi đến đây để trình ông. Xin ông cho thằng con nhà mẹ Thảo được làm cái giấy sinh nở…

- Bà họ hàng với chị ta à? Đằng nội hay đằng ngoại?

Ông Hoạch giễu cợt. Ông thừa hiểu bà cụ Năm với người đàn bà nọ không hề có quan hệ họ hàng.

- Tôi chả dây mơ rễ má gì với nhà nó cả. Tôi với mẹ nó cũng như tôi với ông thôi. Nhưng tình làng nghĩa xóm ông ạ. Tối lửa tắt đèn phải có nhau.

- Sao bà không bảo nhà chị ta lên đây mà khai?

- Ông này nói mới hay! Cứ giả thử như vợ ông ở cữ chưa được ba bảy hai mốt ngày thì ông có cho vợ ông đi lại nắng gió không? Đằng này mẹ nó vừa ở cữ được mấy ngày, lại yếu đau nữa. Chứ có khoẻ mạnh như người khác đâu. Mới lại tôi đi làm thay cho mẹ nó thì đã sao?

- Bà về bảo chị ta thế này nhé! - Ông Hoạch mặt hầm hầm - Chính quyền không cấp giấy khai sinh cho con chị ta được.

- Vì lẽ gì hở ông? - Bà lão bỗng trở nên sợ sệt. Giọng bà thoáng run rẩy.

- Còn vì sao nữa! Cái thứ nhất là chị ta không có chồng. Chị ta chửa hoang. Nguyên cái tội đó đã đủ để đuổi chị ta ra khỏi làng này rồi. Chứ nói gì tới chuyện khai sinh… khai tử… Cái thứ hai là… (ý ông Hoạch định nói chị ta đâu phải là một con người. Song ông đã kịp giữ lại trong miệng câu nói ấy. Ai chứ bà lão này sẽ không tha thứ cho ông nếu ông nói điều đó lần thứ hai)… Mà thôi, chỉ nguyên cái tội đó cũng đủ rồi.

Ông Hoạch vừa nói vừa đẩy cửa định đi ra ngoài.

Ông muốn chấm dứt cuộc tiếp xúc không lấy gì làm vẻ vang cho ông.

- Này ông - Bà cụ Năm xách cái nón lập cập chạy theo - Thế sao người ta bảo là… là con ngoài giá thú cũng vẫn được cấp giấy?

- Ai bảo bà thế? Ông Hoạch quay ngoắt lại, quắc mắt - Bà đã thấy cái làng này có ai đẻ hoang chưa? Tôi nắm chính sách mà tôi không vững bằng mấy bà à? Chỉ được cái… nói bừa…

Bà lão đi giật lùi lại. Đến lúc này thì bà thấy sợ ông Hoạch thật. Bà cố nhớ lại trong đầu: Đúng là cái làng của bà từ xa xưa tới nay không có người đàn bà nào lại như vậy. Ở mấy làng bên thì có. Ừ, nhưng đấy là chuyện làng khác. Mỗi làng có một cái luật, cái lệ riêng. Khổ thân cái nhà mẹ Thảo! Lại sinh ra ở đúng cái làng này. Ông ủy ban có lẽ ông ấy nói đúng… Nếu thế thì đành chịu thật…

Bà lão nghĩ ngợi lầm rầm trong đầu thế rồi nhã nhặn chào ông Hoạch ra về. Vừa đi bà vừa bần thần nghĩ tới thằng cu Hiếu - con của Thảo. Chà, cái thằng mới kháu làm sao. Chưa đầy nửa tháng mà nó đã xuống sữa. Chân tay bụ bẫm, hồng hào là… Vậy mà bây giờ nó không được người ta công nhận là người. Mai ngày lớn lên nó sẽ ăn đâu ở đâu? Lại còn con mẹ Thảo nữa chứ. Biết tin này chắc nó phải chết đi được. Bà cứ suy từ mình ra. Khi nghe tin Ngãi, đứa con trai độc nhất của mình hy sinh ở miền Nam, bà đã ốm đau ròng rã ba, bốn năm giời. Đấy là còn không trông thấy mặt nó đấy! Còn xa nó hàng chục năm giời đấy! Huống hồ cái mẹ Thảo, con nó nằm ngay bên cạnh, nó đang sống sờ sờ ra đấy mà lại bảo rằng nó không phải là con người thì mẹ nào mà chịu nổi.

 Vừa đi vừa nghĩ vẩn vơ thế, bào lão về tới nhà lúc nào không hay. Bà cố ý tránh mặt Thảo, định chưa nói cho chị biết cái tin sét đánh này. Bà sợ chị chưa được khoẻ hẳn. Song lúc bà về tới ngõ, Thảo ra sân phơi tã lót cho con nhìn thấy, nên bà cụ không kịp tránh mặt. Phải khó khăn lắm bà lão mới thuật lại cho Thảo nghe được một phần câu chuyện giữa bà và ông Hoạch. Người mẹ bất hạnh ngồi lặng đi, môi mím chặt. Mặt chị thẫm lại một nỗi đau khủng khiếp. Bàn tay chị run rẩy vạch vú cho con bú. Khuôn mặt xanh xao vàng võ trong giây lát đầm đìa nước mắt. Thằng bé còn quá nhỏ không hiểu gì chuyện của đời nên vẫn lim dim ngủ. Cái miệng nhỏ xíu của nó lần tìm vú mẹ bú chóp chép.

Nhìn khuôn mặt ngây thơ của con, Thảo bỗng thấy hiện lên mồn một cái đêm chị trở dạ đẻ và cả cái đêm làm tình chua chát, ê chề nước mắt của con người ấy…

Đó là một đêm đầu mùa thu hiu hắt…

Mưa mỗi lúc một nặng hạt. Những hạt nước mưa đầu mùa to như những hòn sỏi, trút xuống làm lún những mái rạ đã mòn đến cuống. Bầu trời như một cái chảo rang khổng lồ úp ngược, thỉnh thoảng sáng bừng lên bởi những tia chớp nhằng nhịt. Những tiếng sấm dội ùng ục như tiếng mìn phá đá kéo dài thành những chuỗi âm thanh rền rĩ ở phía chân trời. Tiếng mưa rơi, tiếng sấm rền làm Thảo bỗng thức giấc. Chị bị đau bụng âm ỉ từ chập tối. Cơn đau làm Thảo mỏi mệt rồi thiếp đi lúc nào không biết. Nghe tiếng kêu lủng bủng trong nhà, Thảo biết ngay nhà có chỗ bị dột. Thảo quờ tay tìm hộp diêm để châm đèn. Đốm lửa trong tay chỉ sáng lên hai, ba lượt rồi bị gió thổi tắt ngay. Mãi sau Thảo phải kiếm một cái nón che hướng gió lại, bật diêm. Ngọn lửa trong tay chị thoi thóp mấy giây rồi bừng sáng trong cái đèn hoa kỳ. Ánh lửa vàng ệch soi nhếnh nháng ba gian nhà lá nhỏ, cũ nát. Định thần trong giây lát, Thảo đến bên bồ đựng quần áo xem có bị dột không. Nhưng vừa ngồi dậy chị bỗng thấy bụng dưới tưng tức rồi một cơn đau dữ dội ập đến. Thảo cúi gập lưng lại, đưa hai tay ôm bụng, nằm lăn ra giường. Nhưng nằm cũng không ổn. Cơn đau mỗi lúc một dữ dội hơn. Thảo cảm thấy đứa bé trong bụng mình như đang muốn chòi ra. Linh cảm báo hiệu cho chị biết giờ sinh nở sắp đến. Thảo chưa có con. Chị chỉ nghe người ta kể rằng lúc sắp ở cữ thì đau ghê lắm. Không có cơn đau nào sung sướng bằng đau đẻ. Nhưng cũng không có cơn đau nào khủng khiếp như đau đẻ. Thảo chỉ biết có thế. Chị cắn răng chịu đựng. Ngoài trời mưa vẫn như trút nước. Cái rãnh phía đầu nhà nước đang tuôn xuống rệ đồi ào ạt. Mà giả sử trời không mưa thì Thảo sẽ gọi ai? Người mà chị có thể nhờ vả được lúc này sẽ là ai? Ngoài bà cụ Năm hàng xóm, Thảo không có ai là người thân thích. Quê Thảo ở đâu chị cũng không biết. Thảo chỉ biết rằng lâu lắm rồi chị đã ở đây. Chị ở với một bà cô goá chồng. Đến năm Thảo 15, 16 tuổi gì đó thì bà cô chết. Từ đó chị sống một mình. 15, 16 tuổi nhưng Thảo nhỏ bé, ốm đau quặt quẹo luôn. Cộng thêm cái khối u trên lưng Thảo, theo thời gian cứ lớn dần, như một cái gùi trên lưng, làm Thảo càng khổ sở, tội nghiệp. Thảo khóc ròng khi chị ý thức được số phận mình. Nhưng khóc mãi nước mắt cũng kiệt. Thảo dần quen với cảnh ngộ của mình. Duy chỉ có đôi mắt của chị là đọng lại một nỗi buồn ngơ ngác, sâu thẳm. Nhưng may thay, tạo hóa cũng không đến nỗi tàn nhẫn như con người thường nghĩ. Bù lại cái khuyết tật của Thảo, ông trời đã phú cho chị một khuôn mặt thật dịu dàng. Đôi mắt Thảo đẹp như mắt của một diễn viên màn bạc. Khuôn mặt trái xoan của chị, với cái miệng nhỏ xinh như một thứ ánh sáng làm mờ đi cái dị tật bẩm sinh trên lưng. Với khuôn mặt ấy không ít đàn ông đã ngơ ngẩn khi đi qua quán nước của Thảo. Chỉ khi ngồi vào hàng rồi, kịp phát hiện cô chủ quán có khuôn mặt hấp dẫn này không hoàn thiện, thì họ lại thất vọng, để lại cho Thảo một ánh nhìn tiếc nuối.

Cũng vì hoàn cảnh như thế nên khách hàng của Thảo thường là những người đã luống tuổi: những ông cụ, bà lão nhà quê vào nghỉ chân, uống bát chè tươi, hút nhờ một điếu thuốc lào. Ở cạnh nhà Thảo có bà cụ Năm, mẹ liệt sĩ. Bà lão cũng sống một mình như Thảo. Hàng ngày Thảo nhờ bà đi mua hàng giúp. Bà lão tuy già cả nhưng phiên chợ nào cũng có mặt. Hàng bà mua về Thảo chuộc lại. Lần nào cũng vậy, mỗi khi nhận hàng chị không quên đưa thêm cho bà cụ dăm ba hào, gọi là tiền trầu thuốc. Nhưng bà lão luôn luôn từ chối. Thành ra cứ mỗi phiên chợ hai bà con lại to tiếng với nhau. Nhưng cứ sau mỗi lần như thế thì hai cuộc đời đơn côi kia lại gắn bó chặt chẽ với nhau hơn. Những lúc rỗi rãi, bà cụ Năm chạy sang trông nhà cho Thảo để chị có thời gian tắm rửa hoặc làm một việc gì vặt trong nhà. Đáp lại tấm lòng tốt của bà lão, Thảo chỉ biết cầu trời khấn Phật phù hộ cho bà khoẻ mạnh, sống lâu.

Một lần nhân lúc bà cụ Năm đang hoan hỉ kể chuyện về dòng họ nhà mình, Thảo lựa lời hỏi lai lịch của thầy mẹ mình. Bà lão đang vui bỗng trở nên thờ thẫn. Đôi mắt già nua mệt mỏi của bà nhìn lảng đi nơi khác. Bà nói với Thảo rằng bà không biết gì về bố mẹ chị. Khi gia đình từ dưới xuôi lên xây dựng kinh tế ở đây bà đã thấy có Thảo rồi. Cũng từ đấy trong Thảo luôn có một nỗi lo sợ mơ hồ. Nỗi lo sợ ngày một lớn dần nhất là vào những lúc Thảo thấy trong người không được khoẻ. Bà cụ Năm - Thảo nghĩ - Dù chỉ có một mình nhưng cụ là mẹ liệt sĩ. Nếu cụ có mệnh hệ gì thì dân làng cũng không thể bỏ. Còn chị, chị chỉ là người đàn bà cô đơn, xấu số, không nơi nương tựa. Trời ơi! Trong cuộc đời này có người đàn ông nào thương xót, đoái hoài tới thân phận khốn khổ của chị?

Cho tới một đêm rất khuya. Trời cũng lạnh như hôm nay. Thảo vừa đi nằm được một lát thì nghe có tiếng gõ liếp bồm bộp. Chị dỏng tai lên nghe. Một người đàn ông nào đó lỡ độ đường đang khẩn thiết gọi cửa. Giọng người ấy trầm đục:

- Chị ơi! Chị chủ quán ơi, cho tôi nhờ tí!

Thảo lưỡng lự một chút rồi ngồi dậy châm đèn ra mở cửa:

- … Ông là ai? Có việc gì cần gọi thế?

- Chị… - Người đàn ông ngập ngừng - Tôi đi làm xa về nhỡ đường. Chị làm ơn cho tôi nghỉ nhờ đêm nay. Vào làng thì xa quá…

Dưới ánh đèn vàng đục, Thảo nhìn rõ gương mặt người đàn ông đó trạc 45, 46 tuổi. Ông ta thấp, đậm, khuôn mặt bành bạnh. Trên vai ông ta là cái cưa xẻ dài, còn tay phải ông ta cầm một hòm đồ nghề thợ mộc. Ngẫm ngợi một lúc Thảo gật đầu:

- Vâng, thế mời bác vào nhà. Nhà cháu chật, bác thông cảm. Đêm nằm năm ở! Chỉ sợ bác chẳng ngủ được thì mệt…

- Thôi thế là tốt rồi. Chật chội cũng không sao - Người đàn ông nói liến thoắng rồi lách tấm liếp chui vào trong nhà - Tôi thì nằm đất cũng đánh được một giấc tới sáng. Cầu kỳ gì… .

Biết người đàn ông chưa ăn cơm, Thảo lại lúi húi đi nấu. Khi cơm được bê lên đặt trên cái chõng tre, người đàn ông không khách sáo gì ngồi vào ăn luôn. Chỉ có mấy con tép kho và mấy quả cà muối mà người đàn ông ăn lâu quá. Dưới ánh đèn dầu khuôn mặt ông ta như sắt lại, đờ đẫn. Thảo lắc cái ấm đất thấy hết nước bèn cặm cụi đi đun. Ông phó mộc vừa ăn vừa đăm chiêu ngó về phía Thảo. Dưới ánh củi lau bập bùng, ông nhìn thấy khuôn mặt của người đàn bà gù này thật đẹp. Dốc ngược cái cút rượu vào cái chén vại, ông phó mộc đưa lên mồm ực một cái rất gọn. Uống, ăn xong, ông với cái khăn mặt màu nhựa chuối buộc thắt nút ở cái tay cưa, lau qua quýt mồm miệng rồi đứng dậy đi về phía Thảo. Lúc đầu ông ta ngồi xa Thảo, tư lự nhìn những đốm lửa trong bếp đang lụi dần. Mặc dù ngồi xa thế nhưng Thảo vẫn cảm thấy rất rõ mùi mồ hôi nồng nồng lẫn mùi men rượu tạo nên một cảm giác rất khó tả từ người đàn ông toát ra. Thảo ý tứ ngồi khép lại như muốn lánh xa cái mùi đàn ông lạ lẫm ấy. Nhưng rồi ông phó mộc từ từ nhích lại gần Thảo, suồng sã:

- Cô ạ! Thôi đun nước làm quái gì. Đi ngủ đi kẻo mệt…

- Bác mệt thì đi nghỉ đi. Bác ngủ trên cái giường kia!

Thảo chỉ tay về phía cái giường ọp ẹp mà chị vẫn nằm. Vừa nói chị vừa dụi tắt những mẩu củi lau đang cháy dở.

- Thế cô ngủ ở đâu?          

- Cháu á! Lo gì. Cháu ngủ trên cái chõng này cũng được.

Thảo nhìn về phía cái chõng bày hàng.

- Ngủ ở cái chõng này á! Nan mất hết ngủ thế quái nào được. Này cô, tôi bảo! Cô cứ ra giường mà ngủ. Hai người cũng vừa - Ông phó mộc thản nhiên nói. Vừa nói ông ta vừa ôm thốc Thảo lên giường. Thảo ngượng chín người. Chị cố vùng vẫy, giãy đạp nhưng không nổi. Chị lọt thỏm trong vòng tay người đàn ông lực lưỡng. Sức lực trong người Thảo kiệt dần. Chị nằm bất lực, buông xuôi và nhắm nghiền mắt lại. Trong chị không một xúc cảm nào gợn lên, kể cả xúc cảm đau đớn của người bị làm nhục…

Và bây giờ cái giọt máu của ông phó mộc ấy đang đạp cựa mỗi lúc một mạnh trong bụng Thảo đây…

Thảo tìm một tư thế để nằm. Cái khối gồ trên lưng không cho phép chị nằm thẳng như những sản phụ khác. Cơn đau mỗi lúc một dữ dội, cứ cuồn cuộn ở trong bụng làm Thảo mệt lử. Chị cuống cuồng lo sợ không biết rồi sự thể sẽ ra sao. Thôi, phó mặc cho số phận. Thảo không thiết sống. Nhưng chị cũng không đủ can đảm để nghĩ tới cái chết. Nước ối đã vỡ ra từ khi nào. Bây giờ Thảo rặn khan. Thảo có cảm giác như ai đang cầm một cái thuốn sắt quấy đảo trong bụng mình. Chị buột miệng kêu lên một tiếng kêu đau đớn, kéo dài.

Đúng cái phút khủng khiếp ấy thì như một phép màu, một luồng gió lạnh ào vào trong nhà. Thảo nhướng mặt ra phía cửa. Một bóng người nhỏ bé, run lập cập đang lách vào trong nhà. Bà cụ Năm - Thảo rên lên mừng rỡ. Bà lão hất vội mảnh áo mưa vào góc nhà rồi lập cập bước đến bên Thảo:

- Mày ở cữ phải không con? Sao lúc chiều trở dạ không nói tao biết. May mà… tao thấy bên nhà sáng đèn tao đoán tao sang…

Bà lão vừa nói vừa thở vừa hấp tấp chuẩn bị những thủ tục cần thiết cho đứa trẻ ra đời. May mắn thay cho mẹ con Thảo. Bà cụ Năm vốn là một bà đỡ có tiếng một thời. Bà hướng dẫn Thảo cách rặn đẻ, cách lấy hơi. Cứ thế mất gần một giờ đồng hồ, Thảo bỗng thấy cơn đau trong bụng mình hẫng đi rồi dịu dần. Một tiếng kêu e… e… lúc đầu nhỏ, sau cứ to dần vang lên. Thảo biết đó là tiếng khóc của con mình. Chị mỉm cười sung sướng. Khuôn mặt Thảo vốn xanh xao, dưới ánh đèn tù mù càng trở nên nhợt nhạt. Trước khi lịm đi vì quá kiệt sức, Thảo đã kịp biết mình đẻ con trai…

Thằng bé đang ngủ mơ màng bỗng khóc ré lên. Tiếng khóc của nó kéo Thảo trở về với cái thực tại tàn nhẫn.

Bên cạnh Thảo là bà lão láng giềng đang ngồi như pho tượng. Khuôn mặt phúc hậu già nua của bà hằn sâu một nỗi buồn vô hạn.

Một tháng sau, lúc trời còn tinh mơ, bà cụ Năm dậy đun cám lợn. Bà nghe thấy trong căn nhà của người đàn bà tật nguyền kia tiếng khóc như xé vải của thằng Hiếu (mặc dù người ta không khai sinh cho con mình nhưng Thảo vẫn đặt tên con là Hiếu). Quái lạ, con mẹ Thảo ngủ nghê thế nào mà để thằng bé khóc ghê thế? Bà lão nghĩ vậy rồi lại cắm cúi nhóm lửa. Nhưng khi cái bếp đã rực hồng, bà lão vẫn thấy thằng bé khóc. Linh cảm của một người mẹ báo hiệu điều gì không hay. Bà cụ Năm dụi tắt lửa rồi lập cập chạy sang nhà Thảo:

- Mẹ Thảo! Mẹ Thảo ơi… Ngủ nghê thế nào mà con nó khóc thế cũng không biết?

Không có tiếng trả lời. Chỉ có tiếng khóc khản đặc của thằng Hiếu tan loãng trong sương sớm. Bà lão kéo tấm liếp để lách người vào. Không phải khó khăn gì, bà lão cũng vào được trong nhà. Tấm liếp che cửa ai đã mở để hé ra từ khi nào. Trên chiếc giường đơn ọp ẹp bà lão không thấy Thảo đâu. Chỉ có thằng cu Hiếu. Nó đang giãy đạp liên hồi. Cái chăn chiên cũ nhàu đắp trên người thằng bé đã bị nó đạp tụt xuống phía dưới, để lộ thân hình bé bỏng, xám ngoét. Vội vàng ôm thốc thằng bé dậy, bà cụ Năm vơ vội mảnh chăn chiên trùm lên người nó cho khỏi lạnh.

Ôm chặt thằng bé vào lòng mình, vừa đi về nhà bà lão vừa mếu máo khóc:

- Mày bỏ con mày đi hả Thảo ơi là Thảo… Sao mày không bảo tao lấy được một tiếng… Mày nỡ lòng nào hả Thảo ơi…!

 

 

*

*      *

   

 

… Cho tôi ra ngoài tý bà! Ông Hoạch khom khom người nói với người đàn bà ngồi cạnh.

- Nghe nốt đã ông! - Người đàn bà nói nhưng không nhìn ông Hoạch - Thế mấy biết xã hội bây giờ giỏi thật. Đất đồi quê mình toàn đá ong mà cũng trồng được vải thiều. Nay mai ối nhà giàu to.

- Tôi nhức đầu quá! Ra tý thôi cho nó thoáng - Ông Hoạch lầm bầm trong mồm rồi cứ thế lách qua từng người một đi ra ngoài.

Ra khỏi hội trường, ông Hoạch đi như chạy về nhà. Ông muốn rời thật nhanh, thật xa cái khuôn mặt của người thanh niên đang nói chuyện trên diễn đàn kia. Nhưng bỗng sau lưng ông Hoạch tiếng vỗ tay từ hội trường uỷ ban nhân dân xã dội lên, làm ông giật thót người. Ông quay đầu lại. Ông ngỡ người ta đang hô đuổi bắt mình. Nhưng không, không có ai đuổi theo ông cả. Con đường đất đỏ từ hội trường uỷ ban đến nơi ông đứng vẫn im lìm, buồn bã, không một bóng người qua lại.

Bỗng dưng ông Hoạch cắm cổ chạy…

 

 

 

 


 

GIẢI THƯỞNG VĂN HỌC NGHỆ THUẬT

5 NĂM LẦN THỨ II (2000 - 2005)

 

 

I. Giải A:

Không có

II. Giải B: 01 giải

 

Tập truyện ngắn Trong rác không có rác

 

của NguyễnNhuận Hồng Phương

III. Giải C: 02 giải

1. Tập truyện và ký Những người đang đi ở cuối hàng

                    của Xuân Mai

2. Tập bút ký phóng sự Nhà máy tây ở làng ta

                   của Nguyễn Cảnh Tuấn

III. Giải Khuyến khích: 04 giải

1. Tập truyện ngắn Thuốc đắng

của Phùng Kim Trọng

2. Tập truyện ngắn Hạnh phúc muộn mằn

của Nguyễn Hoàng Long

3. Tập truyện ngắn Viên hồng ngọc

của Lê Thuần Thảo

4. Tập truyện ngắn Chuyện xưa viết tiếp

của Thảo Dân

 

 

 

 

 

 

  

 

NGUYỄN NHUẬN HỒNG PHƯƠNG

 

 Trong rác không có rác

 

NHÀ XUẤT BẢN LAO ĐỘNG, 2004

 

 ---------------------------------------------------------  

 

Tập truyện ngắn đoạt Giải B,

 Giải thưởng VHNT tỉnh Vĩnh Phúc 5 năm lần thứ II

(2000 - 2005)

 


  

 

 

 

LẬT TẨY

          Những tia máu đỏ quạch chằng chịt ngang dọc trong lòng trắng con ngươi. Cảm tưởng chỉ cần động mạnh, khối tinh lực long sòng sọc ấy SẼ rơi ra ngoài. Hắn đảo nhanh sang mấy thằng ngồi cùng chiếu:

Bên trái: Sáng cụt - Biệt danh do bị máy ép mía chạy điện cắt đứt hai đốt ngón ở bàn tay phải, nổi danh lì lợm, sẵn sàng năm mươi năm mươi với đối thủ.

Vế bên phải: Sơn lòng gà - Biệt hiệu gắn liền với công việc làm ruột gà do vợ giao khoán: “Hàng ngày mổ bao nhiêu gà, có ngần nào lòng mề ông phải làm cho xong rồi muốn đi đâu thì tùy!”. Khổ nỗi, cỗ bàn bây giờ thiên hạ vẫn trọng món thịt gà nên số lượng đặt ngày càng tăng. Dùng dao rạch nhuộm nhoạm, xối nước máy quấy quá cho xong rồi cứ vậy đút vào túi ni lông giao cho khách. Vợ chì chiết, Sơn vặc: “Thiên hạ ăn chứ cô ăn đâu mà lèm bèm?... ”

Đối diện: Một khuôn mặt có bộ râu quai nón xanh rì, chải dầu vadơlin bóng lộn, mang cái tên khá ấn tượng: Lý Hải, nhân vật cờ bạc bịp nổi tiếng trong phim xã hội đen của nước ngoài. Còn tên chính của y là Bươi, con bà Bưởi, chủ hiệu vàng. Một kẻ cờ bạc các kiểu có hạng ở thị xã. Y giỏi thuật “tung hứng”, “làm xiếc”… (tiếng lóng của dân cờ bạc bịp). Với bộ bài trên tay, trong nháy mắt, cây dưới đáy đã lộn lên trên, hoặc đổi cây tẩy bằng một cây bất kỳ. Và, quan trọng nhất là lượng tiền của y mang tới, kích thích sự thèm khát tất cả những kẻ cùng giới.

Nhưng ở đây, dẫu có ba đầu sáu tay Lý Hải cũng không dám khoe bản lĩnh. Tuy hắn không giỏi thuật đảo bài, không biết tung hứng, nhưng đã chơi bài với hắn không đứa nào dám qua mặt. Luật của hắn là sòng phẳng, làm sao để đối thủ móc tiền trong túi đặt xuống chiếu, tự nguyện rúc vào tròng rồi rút thòng lọng. Đó là điều hắn muốn. Kể cả hắn, nếu bị đối phương hạ gục, trong lòng cay cú nhưng bề mặt tỏ rõ sự khâm phục. Hắn nhìn theo chiếc gậy thu tiền của kẻ thắng, tự nhủ: “Chờ đấy! Cờ bạc ăn nhau về gà gáy”.

Hồi nhỏ, bố hắn, một công chức mẫn cán lúc nào cũng thuyết giáo: “Cờ bạc là bác thằng bần… ”. Ở trường, mấy thằng bạn thiếu chân tú lơ khơ rủ, hắn lắc đầu: “Không biết!”. Chúng bảo: “Ngồi vào chúng tao dạy. Dễ ợt… ”. Lên cấp hai, hắn cùng bạn bè ra quán dùng tiền chơi “đầu đít”: Tổng cộng dãy số sê-ri ai hơn hoặc bé (tùy nhà cái xướng) thắng. Kẻ thua phải trả tiền. Cũng vui!

Vào cấp ba, bố hắn khuyên: “Con gắng học, nối nghiệp bố. Làm cán bộ được nhiều người trọng nể… ”

Hắn trệu trạo nhai cơm độn bo bo, nhìn mẹ quẩy gánh ra ngã tư quạt ngô nướng bán. Mười hai giờ đêm, nghe tiếng mẹ vặn lưng răng rắc, tiếng loạt xoạt của tiền lẻ đổ ra mẹt, bụi than bay lên lẫn mày ngô cháy thoảng vào mũi…

 

 

*

*       *

   

 

… Chợt Sơn lòng gà giục:

- Mời đại ca lên bài…

Hắn nhấc cây bài đưa lên săm soi rồi ném đánh “phạch” một cái xuống chiếu: “Mẹ kiếp! Pha!”. Gã chủ nhà tiến tới, hai tay xoa vào nhau: “Ván này đại ca lại tha tụi đàn em… ”

- Tha cái mẹ gì. Đen thì thua… - Hắn vuốt mông cô bé tiếp viên, tay vướng gấu quần lót, hắn vỗ “đét”: - Đã bảo chỉ được mặc váy không… vướng bỏ mẹ…

- Đã dặn đứa nào hầu đại ca không được mặc xi - líp rồi mà… - Gã nhà sòng dẩu mỏ vào hùa.

Con bé hai tay ôm mông miệng lắp bắp:

- Em… em đâu biết đại ca chọn em.

Gã nhà sòng lừ mắt:

- Chỉ giỏi cãi! Hôm nào có đại ca, cả bốn đứa đều không được mặc! Vào cởi ngay! Lần sau mà còn thế, ông trả về địa phương cho lấy chồng…

Con bé phụng phịu đi vào phòng, hắn phì cười vì cách nói của gã chủ, hai tinh cầu đảo sang bài của Lý Hải: Thằng này chắc chắn ăn… nhưng nước mẹ gì! Hai chục triệu. Mẹ kiếp! - Hắn rủa thầm - Chỉ có Sơn lòng gà là may, ba ván thu ba trăm triệu. Được! Cứ béo lên con… - Mắt nhìn sang phía Sơn, tay phải hắn vuốt cặp mông nần nẫn của con bé vừa ra - Có thế chứ!

Đúng như hắn nghĩ, Lý Hải lật tẩy: con đầm nhép nheo mắt, miệng nở nụ cười may mắn…

- Trang ván mới, chủ sòng! - Hắn nói như ra lệnh.

 

 

*

*       *

   

 

… Tốt nghiệp phổ thông, hắn không nghĩ mình vào được đại học. Sáng hôm đi thi, mẹ thổi một chõ xôi đỗ. Lấy lá sen hái ở đầm gói một gói to, mẹ hắn dặn: - Con cố ăn, thể nào cũng đỗ.

Điểm chuẩn 15, hắn được 14. Cộng một điểm ưu tiên của bố, đỗ! Ai cũng nói số hắn may. Khi cầm giấy báo học, mũi hắn thoảng mùi xôi gói lá sen của mẹ…

Ra trường, hắn được nhận về công tác ở cơ quan nơi bố về hưu. Mọi người nhắc đến bố hắn đều trầm trồ ca ngợi đức tính liêm khiết. Nhưng hắn thì không! Hắn nhận thấy bố suốt đời chỉ sống bằng lý tưởng suông. Ngoài lương hưu và chiếc xe đạp Thống Nhất cà tàng buộc chiếc xà cột vải bạt, thì ông chẳng có gì. Mẹ hắn vẫn vậy, đêm đêm nướng ngô bán ở ngã tư.

Năm năm học ở Hà Nội, ngoài kiến thức, hắn học được một điều: Ai cũng cố gắng vươn đến cái đích: Tiền! Có thật nhiều tiền.

Trong mọi cách để có nhiều tiền, hắn nghiệm thấy: Kẻ có quyền kiếm tiền nhàn hạ hơn cả!

Học năm thứ ba, một thằng bạn rủ hắn đến nhà chơi. Hắn trợn tròn mắt nhìn đồ nội thất kê trong phòng khách nhà nó: Trên tường treo khẩu súng săn hai nòng đen sì, Made in Germany. Vắt chéo là thanh kiếm Nhật chuôi sừng khảm bạc, thân cong vút, lưỡi mỏng tang, ánh thép sáng xanh như nước biển. Uy lực khí giới toát đằng đằng. Bàn ghế xa lông gỗ quý mang từ Huế ra, nghe nói có một thời vua Bảo Đại đã ngự. Bộ sập chân quỳ dạ cá tuổi hơn một trăm năm. Chiếc tủ chùa cổ, trị giá mấy chục cây vàng. Gương Tàu tứ diện ghép khung gỗ hồng đào Quảng Đông. Thằng bạn khoe bố nó bảo: Gương này ngày xưa Nam Phương hoàng hậu đã soi nhiều năm…

Dùng bữa, có kẻ hầu đón bát xới, cơm gạo tám chan nước thịt gà ép cho bộ máy tiêu hóa dễ làm việc. Tráng miệng bằng hoa quả nhập ngoại, lau mồm bằng khăn nóng tẩm dầu thơm nghi ngút…

Biết là bạn học cùng với con, ông bố dành ít phút trước khi ngả lưng nghỉ trưa để nói về chủ nghĩa xã hội, giảng giải về con đường phấn đấu của thanh niên trong thời đại mới. Rồi ông kết luận:

- Để có được ngày hôm nay, bác đã phải phấn đấu bao nhiêu năm. Kháng chiến ngủ hầm, xông lên đồn giết giặc bằng súng kíp, mã tấu. Bây giờ các cháu sướng hơn nhiều, lớn lên đã đầy đủ các thứ, phải biết rèn luyện sao cho xứng đáng với truyền thống cha ông…

Ra tới cổng, hắn còn ngoái lại nhìn tòa biệt thự để khẳng định rằng mình không mơ.

Ngồi nhâm nhi ly cà phê bên bờ hồ Hoàn Kiếm, hắn hỏi: - Bố mày lấy đâu ra tiền mà giàu thế?

Thằng bạn cười vào mũi hắn: - Đồ tẩm! Bao giờ có quyền mày sẽ biết.

Hắn học thêm được một điều: Muốn có tiền trước hết phải có quyền!

 

 

*

*       *

 

 

… - Thưa anh, anh thêm bao nhiêu ạ?

Hắn nhìn xuống chiếu đánh giá tương quan lực lượng. Bài Sơn lòng gà và Sáng cụt pha. Bài của Lý Hải: Đôi đầm, đôi tây, quân tẩy úp mặt xuống chiếu, vẫn hoa nổi lăn tăn móc xích vào nhau như những dấu hỏi. Còn mặt bài của hắn: Tam cửu, lẻ gi, tẩy xì. Hắn liếc nhanh: Bộ râu quai nón của Lý Hải rung rung, đôi mắt đẹp như đàn bà đang mộng…

- Bao nhiêu rồi nhỉ? - Hắn hỏi.

- Dạ láng tư anh Bưởi tố một trăm là tròn sáu trăm anh ạ. - Gã chủ sòng nhanh miệng.

- Năm trăm nữa đi! - Giọng hắn thoảng như lá mùa thu rụng.

Nghe hắn tố, đôi lông mày của Lý Hải nhíu lại. Đối phương thong cáy hay… ? - Lý Hải phóng nhãn quang vào lưng con tẩy, như muốn dùng tinh lực xuyên qua lớp bìa để thấy mặt bài bên kia. Ma trận của đối thủ khôn lường, hư hư thực thực. Y đã bỏ nhiều thời gian để nghiên cứu, nhưng chưa bao giờ đọc nổi một ý trên khuôn mặt vừa quyền uy, vừa ma giáo này. Đột nhiên, Lý Hải nhớ tới hình vẽ âm dương trên bài bói quẻ. Hai mảng tượng hình đối lập: Nét tối: đen đúa, sẫm xịt, bức bối, biểu hiện dối lừa, man trá, xảo quyệt nhưng cứng câng, bất cần, vô hồn, lạnh lùng, tàn nhẫn. Nét sáng: phản tỏa, chói lọi, rực rỡ, biểu cảm anh minh, trong trẻo, lấp lánh, nhưng hào nhoáng, ẻo lả, mong manh, dễ vỡ…

Để trộn lẫn, hòa tan, hoặc tách ra cho bên sáng thật sáng, bên tối thật tối và khi cần sẽ bão hòa. Con người này như một loại dung dịch mà truyền hình hay quảng cáo: Ba trong một.

Lý Hải cân nhắc: Mặt bài nổi của hắn hơn, nhưng thế bài của đối thủ giống cái bẫy giương lên chờ… Nếu cây tẩy kia là con cửu nữa thì… sập!

- Chơi đi. Lâu bỏ mẹ… - Sơn lòng gà lầu bầu.

- Có gan theo, rét thì buông… - Sáng ngáp, đưa tay che mồm, khe hở của hai đốt ngón tay cụt như cánh cửa sổ nhe ba cái răng ố xỉn.

- Cứ để nó tính! - Hắn lừ mắt - Tiền của nó hay của chúng mày? Biết điều thì ngồi im.

Lý Hải gật gật đầu, nhưng con mắt vẫn mê mải săm soi những lá bài. Và không ngờ chỉ thoáng chút ngần ngừ, Lý Hải đã bị hắn bắt được thóp. Để tăng áp lực, hắn quyết định khủng bố Lý Hải bằng cách vít gáy ả tiếp viên, cọ cái cằm nhẵn thín như đít bụt vào bầu má non tơ, thơm ngát mùi nước hoa. - Ối! Đau em… - Ả tiếp viên giãy nảy vì chạm phải vật cứng. Thằng đàn ông nhấc mông con đàn bà, thọc tay vào túi quần rút khẩu súng K59 ném xuống chiếu cợt nhả: “Sao có cái cứng em lại thích?... ”

Sơn lòng gà, Sáng cụt và tay chủ sòng he hé cười phụ họa, bỗng im bặt khi nhìn khẩu súng đen ngòm lạnh lẽo.

Sự đụng chạm da thịt khơi gợi lời gã thầy tướng phán về lá số tử vi hồi hắn mới nhậm chức: “Cậu vốn là Thiên tướng trên trời, một lần đến dự tiệc ở vườn Ngự Thủy của Nam Hải Long Vương, gặp Đồng Cô Tiên Nữ. Trai tài, gái sắc, kẻ đầu mày, người cuối mắt, lén gặp nhau làm chuyện mây mưa. Quyền lực nhà trời không làm cho Thiên tướng và Tiên Nữ quên ái tính. Hai người hò hẹn đầu thai xuống trần gian. Đồng Cô Tiên Nữ xin Thái Thượng Lão Quân một bài thuốc cho Thiên Tướng uống để đánh dấu. Cho nên về danh, cậu phát đường quan lộc. Không chừng sau này còn thăng tướng, dưới một người, trên muôn người… Nhưng mép không ria, cằm không râu, biểu hiện số đào hoa. Đồng Cô Tiên Nữ chính là vợ của cậu bây giờ. Đẹp, lắm mưu nhiều kế, nhờ đó mà tiền của chảy vào như nước. Nhưng phải cái tính khí hay ghen… ”

Chẳng biết lời của lão ta nói có đúng không nhưng hắn nghiệm thấy có nhiều cái không sai. Vợ hắn xinh đẹp, sắc sảo, phốp pháp, hừng hực, là con một vị chức sắc hàng đầu tỉnh. Có điều hắn ngại nhất vợ ghen. Sự ghen tuông thường trực trong cái nhìn rất… đàn bà. Đi công tác về muộn, không thể không bị “kiểm tra”. Nhiều khi mệt bã người vì công việc nhưng hắn vẫn phải “cố”… Cũng không trách được thị. Tự hắn thấy mình có nhiều bóng hồng vây quanh. May mà thể chất đàn ông của hắn cũng khá. Có lần vừa lăn qua tay một ả, về đến nhà vẫn phải giả bộ với vợ như lần đầu gặp Đồng Cô Tiên Nữ vậy…

Vợ hắn ca cẩm: - Không hiểu anh thế nào? Hồi mới ra trường, nghèo kiết xác thì không thấy bài bạc. Bây giờ bổng lộc đầy ra đấy lại còn chúi mũi vào. Khéo lại đổ đốn với mấy con “phò” thì đẹp mặt!

Đúng là đồ… “từ trên trời rơi xuống”. Không tiền chầu rìa cũng chẳng được, nói gì đến ngồi sới. Còn bổng lộc là chuyện khác. Có quyền ắt có kẻ cầu cạnh, bợ đỡ. Tiền đến nhà là lẽ đương nhiên. Cứ nhìn gương “ông bố” của hắn thì biết. Công tác bao năm mà suốt đời ở nhà cấp bốn do ông nội để lại. Được ưu tiên phân phối đôi lốp sao vàng lại nhường đồng đội, còn bánh xe đạp của mình buộc túm dây cao su. Giúp người thế đấy! Tận tình với đời thế đấy! Bù lại được cái gì? Không có mẹt ngô của vợ, chắc mái nhà dột lương tháng không đủ mua lá cọ dọi lại. Nghèo như vậy thử hỏi lấy tiền đâu mà chơi? Hơi sức đâu mà thưởng thức? Cho đến khi chết mới được người ta ném vào quan tài ít con tổ tôm làm “quân” hầu hạ dưới âm phủ (!)

Đâu phải vì thiếu tiền mới chơi. Xì tố là “trò chơi” thời thượng dành cho giới “quý tộc mới”, tước hiệu xã hội đen phong cho những kẻ vừa có quyền vừa có tiền.

Ngoài việc đấu trí cao, thấp, bắt đối phương mửa tiền ra, cay cú nhưng vẫn phải tâm phục khẩu phục, còn là sự giao lưu của các giai tầng trong thời kinh tế mở cửa. Có những kẻ lấy tiền của thiên hạ dễ như bỡn. Thằng nào cũng béo múp như chim dẽ đồng sau mùa gặt, múp míp như chó thiến. So đẳng cấp, hắn tựa vào cái gậy quyền lực pháp luật trao cho để sinh lợi. Nhưng tiền thiên hạ mang đến cống nạp, nhờ chạy tội hộ chỉ tính từng chục hoặc đến trăm triệu là cùng. Còn bọn họ, dịch một dấu phẩy đã dư hàng tỷ. Có lần hắn chứng kiến một Giám đốc Công ty Xây dựng chơi bài, vờ thua Giám đốc Sở Xây dựng tỉnh một bàn thua vô lý… không dưới nửa tỷ. Ừ, cụ Sêcpia chẳng viết là gì: “… ròi bọ ăn phân, cá đớp ròi bọ… ông vua xơi cá… rồi lại… ”. Hắn chấp nhận quy luật ấy thôi.

Có điều hắn đồng ý với vợ là không phải chỗ nào cũng sà vào. “Ăn tùy nơi, chơi tùy chốn”, cổ nhân đã dạy, đừng quên!

Chẳng thế mà hắn chỉ chọn sòng này để vào: Kín đáo, núp dưới căn nhà ba tầng là một cái hầm chìm dưới mặt đất năm mét, sâu tun hút vào nửa quả đồi, có đầy đủ phương tiện phòng vệ, cảnh sát khu vực bảo kê. Còn điều kiện phục vụ, có thể sánh với khách sạn năm sao…

 

 

*

*      *

   

 

- Chung kết đi… Lâu bỏ mẹ…

Tiếng thằng Sáng cụt vang lên cắt đứt dòng suy nghĩ của hắn. Hắn ngước mắt, đôi nhãn cầu lồi cao muốn bật ra ngoài chiếu thẳng mặt Lý Hải. Cái nhìn như thách thức, dọa nạt. Lưng Lý Hải gai ốc nổi cộm, ngứa ran. Da mặt căng như trống ếch phơi nắng, hàng râu quai nón đẫm mồ hôi. Y thấy như rơi vào mê hồn trận. Bỏ thì tiếc. Nhưng hơn một tỷ! Nhưng nếu theo mà lọt cạm của đối phương thì… Sao hôm nay mình đen thế nhỉ? - Lý Hải nghĩ - Từ lúc ngồi sới, ngoài ván bài thu được hai mươi triệu còn toàn dốc túi. Bây giờ lại bị dồn vào thế sinh tử. Gần như vô thức, bàn tay y lơ đễnh thò xuống quân tẩy. Bỗng Lý Hải rụt phắt tay lại như phải bỏng. Đối thủ của y, một tay đẩy mạnh ả tiếp viên, một tay cầm phắt khẩu súng K59 dưới chiếu lên, ngón tay móc vào vòng cò súng quay tít rồi đút vào túi quần, mặt lạnh tanh. Hành động như vô tình, nhưng làm cho Lý Hải chờn chợn. Đột nhiên mồm y lẩm nhẩm như bị ma ám: - Thôi… buông…

Chỉ chờ có vậy, hắn quờ chiếc cù nèo thọc vào đống tiền. Chợt có tiếng động lạ phía sau. Trực giác nghề nghiệp thức tỉnh, nhưng cảm giác đầu gậy chạm vào tiền làm hắn mờ mắt. Chắc là thằng chủ sòng mở cửa đi đái?. Mỏ chiếc cù nèo ngoạm, gom đống tiền về phía hắn. Bỗng cửa phòng bật mở, tiếng động chát chúa đập mạnh vào tường, tiếp đó là tiếng hô:

- Tất cả ngồi im! Cảnh sát đây! Kẻ nào chống cự sẽ chết!

Theo phản xạ, hắn buông cù nèo, nắm báng súng. Nhưng một giọng nói đanh như thép vang lên:

- Thiếu tá, biết điều bỏ súng xuống!

Năm, sáu chiến sĩ cảnh sát lăm lăm súng trong tay ập vào. Đèn Flash lóe sáng. Cả bọn cúi đầu ngoan ngoãn đưa tay vào còng.

 

*

*      *  

 

Sáng hôm sau, khắp thị xã, chuyện hắn bị bắt quả tang đang đánh bạc được lan truyền.

Người bán phở gảy gảy cọng hành bám trên thành bát: - Lẽ ra phải bắt hắn từ lâu rồi mới phải.

Ông chủ hiệu giải khát hà hít hương vị cà phê bốc lên từ phin lọc: - Trời có mắt.

Một người khách trầm ngâm: - Có người nói ông ta làm nhiệm vụ xâm nhập thực tế, vài hôm nữa lại được thả về đấy mà…

Riêng tôi, tác giả viết truyện này lại nghĩ: Giống như lá bài lật tẩy, chỉ kẻ nào dám lật mới thấy mặt thật của hoa bài.

 

 

 

 

 

 

CHIẾC XE TANG 

Ông Chủ tịch Ủy ban thị trấn khoảng trên dưới bốn mươi tuổi. Người tầm thước, da mai mái, tóc chải rẽ ngôi trái, mặt bầu, trán thấp, lông mày thưa, trên mũi có nhiều nốt rân rân đỏ, lấm tấm mọc xung quanh rồi lan xuống hai bên miệng… Nhướn thân hình về phía trước, lướt mắt nhìn các thành viên có mặt trong phòng họp hai tay huơ huơ vào không khí, ông nhấn mạnh từng tiếng: “Tóm lại, nhằm thay đổi bộ mặt đời sống văn hóa của nhân dân, tôi đề nghị các đồng chí về khẩn trương phổ biến Nghị quyết của Đảng ủy và tinh thần cuộc họp này. Làm sao triển khai đến tận từng người dân. Thực hiện tốt kế hoạch góp tiền mua xe tang của thị trấn… ”.

   

*

*       * 

 

Kể cũng lạ, ở cái thị trấn vùng trung du này, không có cái gì giấu được dân. Kế hoạch vừa được ông Chủ tịch triển khai thì chỉ nửa giờ sau khi tan cuộc họp, đã có các cuộc “tọa đàm” không chính thức tại các quầy bia và quán nước trong nội thị. Người đứng tuổi nói: “Đúng quá chứ lị! Một thị trấn tầm vóc như vầy mà lại không có cái ô tô đưa tang là kém! Chưa văn minh! Chưa hiện đại!”. Mấy ông già về hưu thận trọng hơn: “Từ trước đến nay thị trấn mình vẫn đưa nhau bằng xe tang đẩy tay thì đã sao? Sống với nhau cả đời, đến lúc chết đưa nhau đi một quãng vài ba cây số nhằm nhò gì! Xe ô tô đi vù vù chắc gì đã hay?”. Còn mấy cậu choai choai mặt đỏ phừng phừng thì: “Cơ chế thoáng! Mời các cụ lên xe! A lê hấp! Các anh phường kèn “tò te tí toét” cũng xe đưa, xe đón: vừa lịch sự, vừa sang trọng lại được tiếng con cháu có hiếu nghĩa (!)”.

Việc tiến hành thu tiền để mua xe tang không ngờ lại rất trôi chảy và thuận tiện. Cán bộ tổ, khi phố không phải vận động nhiều như việc nộp tiền nhân công, không phải nằn nì như khi thu thuế đất, tới hộ nào là hộ ấy nộp ngay, thậm chí có gia đình còn ủng hộ thêm. Các ông chủ như doanh nghiệp Tiến Tân, hiệu vàng Đông Phong, chủ thầu xây dựng Thành Công… đều nhiệt tình tài trợ vài trăm nghìn đến hàng triệu đồng. Thế mới biết dân ở đâu cũng vậy, thấy việc có nghĩa, có nhân là làm, là tự nguyện đóng góp.

 

 

*

*      *

 

 

Trưởng Ban Văn hóa hăm hở báo cáo:

- Thưa Chủ tịch, theo chỉ thị của anh, tính đến hôm nay toàn thị trấn đã thu được sáu mươi nhăm triệu đồng. Đề nghị anh cho ý kiến mua xe ở đâu?

- Có tiền là tốt rồi! Nhưng mua xe ở đâu thì phải bàn bạc, phải xem xét cụ thể. Đây là “tiền đóng gạo góp” của dân nên phải thận trọng. Đồng chí thảo cho tôi giấy mời lãnh đạo thị trấn họp! Nhớ ghi rõ nội dung họp: Bàn về vấn đề tìm mua xe tang.

- Họp vào hôm nào thưa anh? - Trưởng Ban Văn hóa rụt rè hỏi.

- Xem nào! Xem nào! - Ông Chủ tịch lật lật mấy tờ lịch bàn - Hôm nay là thứ sáu… Mời vào sáng thứ hai! Sau giao ban, khoảng chín giờ thì bắt đầu họp. A… này, qua hành chính bảo Chánh Văn phòng lên gặp tôi có việc.

Ông Chủ tịch vươn vươn vai ngả người trên chiếc ghế xoay Xuân Hòa làm bằng i-nốc sáng loáng. - Thế là xong một việc! - Ông nghĩ - Phải hướng tập trung việc mua xe xong vào trước tháng 9 ta. Theo quy luật, vào mùa đông có nhiều người chết hơn. Làm lãnh đạo là phải biết thời cơ để vừa hoàn thành nhiệm vụ chính trị lại vừa tạo ra vốn để duy trì cho xe hoạt động… ”. Có tiếng gõ cửa làm đứt luồng suy nghĩ, ông nhỏm dậy: “Mời vào”.

Chánh Văn phòng Ủy ban bước vào, thân hình nhỏ nhắn, dáng thư sinh, da bợt bạt như bị cớm nắng, mặt dài, má hóp, mắt đeo kính American đổi mầu, lông mày sâu róm, mũi hếch, cái miệng lúc nào cũng cười cười như cố tình nặn ra trên đôi môi thâm nhợt vì bia rượu.

- Sếp cho gọi em ạ?

- Cậu ngồi xuống! Tôi gọi cậu lên cùng bàn bạc về vấn đề mua xe tang. Tôi định triệu tập cuộc họp vào sáng thứ hai tuần tới, cậu thấy thế nào?

- Dạ… Chánh Văn phòng ngập ngừng.

Thấy vậy ông Chủ tịch nói:

- Cậu cứ mạnh dạn trình bày, không phải úp mở gì cả!

- Dạ… - Chánh Văn phòng đắn đo - Em nói nếu chỗ nào chưa đúng xin sếp đại xá. Tại sao lại phải tổ chức họp ạ? Em tưởng có Nghị quyết của Đảng ủy và biên bản tinh thần hôm trước rồi ạ?

- Mình ngại vi phạm tính dân chủ, sai nguyên tắc. Nếu không công khai dễ dẫn đến hiểu lầm…

- Sao lại hiểu lầm ạ? Sếp chẳng đã công khai trước cuộc họp toàn cán bộ của thị trấn đó sao? Theo em, không cần họp nữa! Cứ dựa vào hai Nghị quyết ấy mà thực hiện, bàn nhiều em e…

- Ý kiến của cậu cũng có lý, để tôi suy nghĩ thêm một chút rồi sẽ quyết định. Tối hôm nay, cậu đến nhà tôi, ta bàn bạc cụ thể! Làm sao cho kín nhẽ.

- Dạ… em hiểu, sau chương trình Thời sự em sẽ sang hầu sếp.

Khi Chánh Văn phòng ra tới cửa, ông Chủ tịch dặn: “Cậu nói với Trưởng Ban Văn hóa thôi không cần thảo giấy mời nữa!”

 

  

*

*      *

 

 

Sau một tợp bia, Thanh hất hàm: “Ông phải cố gắng bằng được! Cú này hơi hay đấy! Không bẫm, nhưng dễ nuốt, không vấp điều kiện pháp lý! Tiền của dân chi không cần “ba lem”. Ông vòng trong, việc của ông thế nào ông biết rồi đấy! Nhưng chỗ bạn bè tôi nói thật, đừng tham, dễ hỏng việc! Phải nghĩ dài lâu; tiếng là thị trấn, nhưng khéo léo, bổng lộc còn hơn cả huyện đấy! Lát nữa đi, tôi tạm ứng cho chai “Bônnapac” mà làm quà, lựa nói làm sao để ông ta hiểu: Xong việc sẽ có “kết” hậu. Vòng ngoài, tôi chịu trách nhiệm, phần mua bán với chủ xe như thế nào là do tôi! Ông chỉ cần đưa bộ sậu của Ủy ban xuống xem xe là được. Tôi sẽ cho “đi tàu bay” hết!”

Chánh Văn phòng, mắt nhờ nhờ, mặt xám xạm: “Yên tâm! Yên tâm! Đây có thâm niên “phò” mấy đời Chủ tịch rồi, kinh nghiệm đầy mình! Thôi! Cứ thế nhé! Bái bai… ”

Thanh nhấc cốc bia lên nhưng không uống mà vê vê trong lòng bàn tay, hơi lạnh thấm vào da mát rượi. Thanh nguyên làm nghề lái xe, thỉnh thoảng đá gà đá vịt buôn bán ô tô; gọi là buôn nhưng thực tế là Thanh không bao giờ bỏ vốn. Cứ thấy cơ quan hay cá nhân nào có nhu cầu nâng đời hay đổi chác xe là Thanh tìm đến tìm cách xin tư vấn hoặc làm môi giới. Thanh có biệt tài nhìn xe chạy qua đã có thể nói đó là loại xe đời nào, sản xuất ở đâu, tình trạng kỹ thuật tốt, xấu, rồi giá cả bao nhiêu. Thanh nắm vững từng đầu xe, đọc vanh vách số biển kiểm soát, mua ngày nào, mua ở đâu, xe ấy của cơ quan hay cá nhân nào trong huyện… Chính vì vậy chiều nay, Chánh Văn phòng Ủy ban thị trấn đến nhờ Thanh làm tư vấn tìm hộ xe. Nghe xong, Thanh hỏi: “Cơ quan ông có bao nhiêu “đạn”? Định chơi “xịn” hay chơi “tàu tàu”? Không thiếu! Nhưng miễn có tiền”. Khi đã biết cơ số tiền và ý định của Ủy ban, Thanh cười: “Rồi! Có rồi - Một “em” TOYOTA hẳn hoi! Phải cái “em” hơi già, đời bảy tám, nhưng còn nền nã, ngon nghẻ… Mà Ủy ban chạy gì mấy? Có kinh doanh đâu mà ngại?”. Nghe Thanh nói mà người ta cứ tưởng Thanh tả nhan sắc của một người đàn bà…

 

 

*

*      *

 

 

Đến xem ô tô có đầy đủ các thành phần: Ông Chủ tịch, ông Phó Chủ tịch phụ trách văn xã, Thường trực Hội đồng nhân dân, Chủ tịch mặt trận, Trưởng Ban Tài chính… cùng các thành phần trong Ủy ban. “Phải để các đồng chí tham gia ý kiến! Tránh trường hợp cho rằng lãnh đạo áp đặt, thiếu dân chủ” - Đấy là lý do ông Chủ tịch nói với mọi người khi tập trung đi xem xe.

Đón khách, Thanh gọn gàng trong bộ quần áo ký giả, đầu đội mũ le màu xanh dán chữ TOYOTA trắng lốp, khuôn mặt hồng hào vì hai chén rượu buổi sáng cùng với bát phở tái nạm, cổ tay đeo chiếc đồng hồ mạ vàng sáng chóe, thũng thẵng bên hông một chiếc “di động” mác Samsung. Thanh chìa bao thuốc lá Manbơrô nói: “Mời các sếp hút thuốc, xong rồi ta xem xe. Các sếp cứ “vô tư”, nhìn tận mắt sờ tận tay, có gì các sếp cứ phát biểu! Tiền nào của nấy! Giá Ủy ban có đủ tiền em sẽ chỉ cho con xe Huynh đai “bom” nhập cảng là chấm hết! Cứ gọi là “kính coong”, miễn chê… ”. Thấy vậy Chánh Văn phòng Ủy ban ngắt lời: “Thôi thuốc nước gì thì để chốc nữa! Cho xe ra để chúng tôi kiểm định!” - Dạ! - Thanh xoa xoa tay rồi hất hàm bảo lái xe: “Đánh” xe ra cho sếp kiểm tra!

Chiếc xe nhãn hiệu TOYOTA 12 chỗ ngồi sơn màu trắng sữa. Bộ ghế được bọc vải nhựa màu sáng, các tay vịn lâu ngày đã tróc, rỉ loang lổ… Thấy ông Chủ tịch nhìn nhìn vào tay ghế, Thanh nói: “Sếp tính! Cơ chế thị trường, xe chạy “trên tầng cây số” tối ngày, không còn kịp sơn xi lại. Nhưng thế này các sếp mới biết được nước thép của nó vẫn còn tốt, còn “ologin”. Cần thiết, “chạy” qua một nước sơn là cứ bóng lừ… ”. Chánh Văn phòng tham gia: “Cũng phải tiền đấy ông ạ! Mà như thế này là chúng tôi còn phải “cải tiến” nhiều mới thành xe tang được!” - “Dạ! Có gì mà nhiều ạ? Lúc có đám, tháo ghế lấy chỗ đặt quan tài. Cần đi công tác, lắp ghế vào lại là xe 12 chỗ! Lịch sự, tiện lợi, đúng yêu cầu”. Ông Chủ tịch Mặt trận lắc lắc cái cửa: “Sao cánh cửa lại lung lay thế này?”- Thanh vê vê đầu mẩu thuốc lá: “Thay cái gioăng lại im phăng phắc ấy mà. Bác yên tâm! Khi bàn giao em tặng các sếp một bộ gioăng Tây dự phòng, khi nào thấy “rão”, thay!”. Thanh nói cứ như là cái xe đã được ngã giá xong xuôi rồi.

Ngó nghiêng một lúc, ông Phó Chủ tịch bảo: “Ăn nhau là bộ máy, anh cho chúng tôi đi thử xem máy kêu có êm không?”. “Dạ, mời các sếp lên xe!”. Thanh nói, rồi nhắc lái xe: “Chạy cẩn thận, toàn các sếp cả đấy! An toàn là chính! Ra quốc lộ, chạy đến đường rẽ sân bay thì quay lại, khi về đi một vòng quanh đường thị trấn, rồi chạy thẳng sang nhà hàng “bẩy món”… ”

Xe ra đến đường quốc lộ, đứng chân trên, chân dưới ở bậc lên xuống, quay lại phía mọi người, Thanh nói như giảng bài ở lớp đào tạo nghề: “Sử dụng xe Nhật là cả một nghệ thuật! Khi mới nổ không được ga to, dễ bị lột biên. Cầm vào tay lái như nắm tay người phụ nữ mình yêu quý… Chân ga, chân côn, tay số nhịp nhàng uyển chuyển. Nhìn ai lái được một đoạn là tôi biết ngay người đó tay nghề giỏi hay kém… ”

Bỗng có tiếng ỏn ẻn của Trưởng Ban Phụ nữ:

- Cái gì kêu “cục, cục” dưới gầm hả anh?

- Cái rôtuyn tay lái! Mang xuống xưởng bơm một tí mỡ là hết kêu ngay!

Ông Chủ tịch Hội đồng nhân dân:

- Sao cái trần lại bị rách thế này?

- Quần áo mặc mãi còn rách nữa là… căng thêm một lượt nữa là “đẹp giai” ngay! Nhưng dán làm quái gì? Xe chở người chết, lột đi rồi quét một nước sơn màu là ổn nhất!

Tiếng Trưởng Ban Văn hóa:

- Điều hòa hơi nóng!

- Thiếu ga! Một trăm nghìn bơm “bổ sung” là lại “tít” như “khách sạn năm sao”.

Ông Chủ tịch nghiêng nghiêng đầu:

- Máy hơi kêu?

- Dạ! Em sẽ cho thợ rà lại “dàn cò” là êm re…

Trưởng Ban Phụ nữ ỏn ẻn:

- “Cò” là gì hở anh?

- “Cò” - Thanh giảng giải: Nói theo tiếng Tây là “qui bi tơ”, gọi theo sách kỹ thuật được dịch từ tiếng “Tầu” là súp páp. Nó mổ mổ giống như mỏ con cò nên gọi là “cò”…

 

  

*

*       *

 

 

Đúng như sự tính toán của ông Chủ tịch, mới chớm vào rét đã có một cụ già bẩy mươi tuổi qua đời. Đây cũng là chuyến “mở hàng” đầu tiên kể từ hôm Ban quản tang nhận xe về. Khi xe tang đi qua các phố… ai cũng ra ngó. Người ta không chú ý đến xem ai chết, mà tò mò nhìn xem sản phẩm trong đó có cả tiền của mình đã góp vào. Đi đầu đoàn vẫn là các vãi cầm cờ phướn nhà Phật, tiếp tới là chiếc trống cái được đặt trên một chiếc xe đạp có người dắt và do nhân viên Ban quản tang phụ trách. Đi sau là đội kèn thuê ở làng Bảo Đức. Xe ô tô được treo xung quanh hoa tang tới tận nóc. Cánh cửa phía sau và ghế được tháo ra lấy chỗ để quan tài, xung quanh dăm, sáu người, mặc áo xô, trùm khăn tang đang ngồi khóc. Còn lại họ hàng và quan khách đưa tiễn dắt xe máy, xe đạp đi đằng sau.

Bỗng một làn hơi trắng toát từ đầu ca bin xe bốc lên bay mù mịt, rồi chiếc xe tang đứng khựng lại. Tiếng khóc bỗng nhiên ngừng bặt. Mọi người ngơ ngơ ngác ngác nhìn nhau chưa hiểu tại sao xe bị dừng thì một bà béo đi đằng sau ngước đôi mắt hùm hụp hỏi: “Đã tới chỗ nghỉ đâu mà dừng?”. Phía đằng trước mấy ông thổi kèn và đánh trống không biết xe bị chết máy nên cứ đi theo các cụ vãi cầm cờ, mãi có người chạy lên bảo mới biết.

Thấy lạ, mọi người ở phố đổ xô đến xung quanh chiếc xe tang để xem xem xảy ra sự cố gì? Vừa lúc ấy, anh lái xe nhảy từ buồng lái xuống, mặt mũi nhem nhuốc dầu mỡ, mồ hôi chảy ròng ròng… Anh hổn hà hổn hển: “Xe chạy chậm bị sôi nước, “thổi gioăng qui lát” rồi, không đi được nữa đâu… ”. Tiếng khóc của gia đình tang chủ bỗng ré lên át cả tiếng người lái xe. Ông chủ tang ngồi tận trong cùng không hiểu đầu đuôi ra sao, cố nói bằng cái giọng khản đặc: “Im đã nào! Để xem binh tình thế nào?”. Nghe vậy, những người chịu tang cố nín, chỉ còn nghe tiếng thổn thức, nức nở, nghẹn ngào… Anh nhân viên Ban quản tang rẽ đám đông đi vào: “Nào! Mời các vị dẹp ra để tôi nói chuyện với gia đình”. Khi tới chỗ ông chủ tang, anh nói: “Tình hình bây giờ là xe chết máy, không đi được nữa! Tôi đang thuê người xuống lấy xe tang đẩy tay mang lên để chuyển quan tài sang, mong gia đình… ”. Anh chưa nói dứt lời thì mọi người thân trong gia đình của người chết như bị sụp xuống. Tiếng gào… tiếng hờ… tiếng than khóc… có người còn lăn lộn ra giữa đường, cảnh tượng thật não lòng. Bỗng có tiếng gào rất to của một người phụ nữ: “Ối bố ơi! Đến chết mà bố vẫn chưa được yên… Ối bố ơi… là bố ơi… ”. Nhiều người đứng xem thấy vậy, quay mặt đi lấy tay áo chấm nước mắt.

 

*

*       *

 

 

Tôi được nghe kể, sau khi chuyển quan tài người quá cố sang xe tang đẩy tay, chiếc ô tô được kéo về để ở sân Ủy ban. Sau khi bàn bạc người ta chi ra một số tiền nữa để sửa chữa. Nhưng chiếc xe cũng chỉ chạy được vài ba chuyến nữa thì hỏng hẳn. Tôi còn được nhân viên Ban quản tang kể: Cách đây mấy hôm, có người trên khu gang thép Thái Nguyên về hỏi mua để đem về tháo ra làm sắt vụn. Nhưng Ủy ban không bán. Ông Chủ tịch nói rằng, đấy là xe mua bằng tiền của dân thì phải hỏi ý kiến dân đã (!)

 

 

 

 

 

 

 

PHÒNG CHỜ… 12 MÉT VUÔNG

                                           Tặng XT 

 

Cái biển ghi hai chữ “Phòng chờ” treo trên cửa như bảo tôi: “Vào đi”.

Tôi xoay tay nắm mở cửa. Một luồng không khí mát lạnh phả lên da mặt. Sự chênh lệch nhiệt độ trong phòng với cái nóng bên ngoài làm tôi rùng mình, gai ốc nổi rần rần. Nhìn nền gạch hoa bóng loáng, tôi cúi xuống, đưa tay định lột dép. Bỗng vang lên tiếng nói của một phụ nữ:

- Không phải bỏ! Cứ vào! Đóng cửa lại!

Một câu nói, ba cái lệnh. Tôi chấp hành tắp lự, rồi ngẩng mặt lên nhìn xem ai nói? Nhưng không nhận ra được, vì trong phòng đông người mà ai cũng nhìn tôi. Cái nhìn nửa biểu hiện như đó là điều tất nhiên, phòng chờ là của chung; còn nửa kia dành cho sự ngạc nhiên, bởi tôi đi có một mình, râu ria tua tủa, mặt già nua, lại ục ịch vác cái bụng phệ vì bia, được che bằng chiếc áo phông khuyến mại màu xám, in hàng chữ Vitek VTB nửa đỏ, nửa trắng nổi vầng trên ngực.

Tôi gật đầu:

- Chào… các đồng chí!

Không một lời đáp. Tất cả đã quay về với những gì liên quan tới họ.

Tôi ngồi xuống hàng ghế chưa có ai, kê ngang căn phòng, sát cửa ra vào, còn mắt thì liếc rất nhanh đám người và óc nhẩm rất nhậy: Mười hai người - tức sáu cặp vợ chồng. Tôi khẳng định chắc chắn vì ranh giới giữa đôi một là người cùng giới. Tất cả còn rất trẻ, mặt người nào người nấy hồng hào, tươi rói, rạng rỡ, mơn mởn. Từng cặp ngồi bên nhau rất tình ý; đầu chụm đầu, mắt nhìn mắt, tay trong tay, người phụ nữ nào bụng cũng vồng cao, như khoe với đạo Khổng rằng mình không mắc tội bất hiếu (!)

Căn phòng chừng 12m2. Nhưng thoạt nhìn đã thấy căn phòng được cố tình ngăn, tách ra làm thành phòng đợi. Phía ngoài là tường nhà cũ, cửa ra vào làm bằng khung nhôm, ép kính mờ vân hoa dâu. Phía trong, phần tường quay thêm dựng ván tráng phoóc mi ca màu trắng, kẻ ô vuông, thấp hơn trần nhà không quá nửa mét. Trước mặt sáu đôi trai gái đang ngồi là cửa kéo kiểu “ôsin”, thông với phòng làm việc. Trên ván cửa dán hàng chữ:  

IM LẶNG - TRẬT TỰ

Phía dưới thêm một hàng: 

KHÔNG HÚT THUỐC LÁ

Máy điều hòa kêu “rì rì”, lẫn trong tiếng thì thầm nhỏ to của những cặp vợ chồng ngồi trong phòng.

Chợt tay quả đấm cửa xoay. Cửa mở, thêm hai người bước vào, một bà nạ dòng và một cô bé. Gọi là cô bé vì trông mặt non choẹt, nhưng cái bụng vượt mặt thì không non tí nào. “Chắc sắp tới tháng đẻ?”. Tôi nghĩ vậy. Bà nạ dòng ngồi xuống ghế cạnh tôi, nói với cô bé:

- Vào đặt giấy đi.

Nghe vậy, tôi giật mình, lơ ngơ với tờ giấy in chữ vi tính mình đang cầm trong tay. Tôi hỏi:

- Cũng phải đặt giấy hả bác?

Bà nạ dòng trả lời tôi bằng một câu hỏi lại:

- Thế ông còn chưa đặt à? Thời nào mà chả phải xếp hàng thứ tự?

Cô gái khệ nệ vác cái bụng, đưa tay kéo cánh cửa. Tôi nhỏm dậy đi theo.

À… giấy đặt ở bên trong. Như vậy tôi lại phải đợi sau một người nữa! Thôi, cũng được! - Tôi tự an ủi - Tránh được con số mười ba.

Trở lại ghế ngồi, tôi hỏi:

- Con dâu của bác đấy ạ?

- Ối dào! Con gái đầu của tôi đấy! - Người mẹ kể lể - Khổ vì con. Cưới được hai tháng thì thằng chồng đi cai nghiện. Mẹ chồng, chị chồng, em chồng, cả nhà chồng hành hạ, nên phải “tay nải, gió đưa” về bám váy mẹ! Đã bảo đừng lấy, lại còn cố rước cái của nợ ấy vào. Bây giờ, sướng chửa?

Cô gái lấy cùi chỏ hích mẹ, miệng hấm hứ. Người mẹ đập vào khuỷu tay cô:

- Con nỡm, đau tao! Mà làm gì phải giấu? Chuyện ấy bây giờ như “chuyện thường ngày ở huyện” chứ có gì mà ngại. Mày không thấy ở phố ta, mười thằng con trai thì đi cai nghiện cả mười một à?

Cả phòng đợi cười ồ. Cô gái giãy nảy:

- Mẹ cứ ngoa ngôn.

Có tiếng bên trong nói vọng ra:

- Đề nghị trật tự!

 

 

*

*       *

   

 

Nghỉ hè, người tình bảo tôi:

- Thứ bảy này đi cùng em lên trại cải tạo trên Tuyên Quang!

Lệnh của người tình còn hơn cả lệnh của sếp. Tôi đổ đầy bình xăng xe, xếp áo mưa vào cốp, mở ví đếm tiền, nói:

- Nhuận bút truyện ngắn tháng 6 được hai trăm nghìn, tiêu mất trăm rưỡi rồi. Nói để em liệu.

Nàng cười tít mắt:

- Em vừa lĩnh lương. Đủ tiền bao anh theo kiểu: Vợ giáo học nuôi chồng văn sĩ.

Tôi lấy tay dứ dứ, dọa yêu vào mũi nàng.

Tám giờ sáng thứ bảy tôi và nàng đã tới cổng trại. Nhưng phải đợi đến buổi chiều mới được gặp. Hòa trong dòng trại viên được ra thăm người nhà, ông anh trai người tình của tôi xanh rớt như tàu lá chuối, gầy tựa một con cò hương, đầu nhẵn hín như đầu chú tiểu. Riêng đôi mắt bất cần nhìn tôi săm soi như đánh giá “đối tượng” đang theo đuổi em gái mình:

- Chào… hoàn cảnh là thế! Thôi, được… cũng thông cảm.

Câu nói không nhân xưng, chắc vì thấy đối tượng của em mình không cân xứng về tuổi tác. Chủ đề không rõ rệt, vì lần đầu anh và tôi gặp nhau. Tôi hỏi:

- Nghe nói, anh vừa bị kỷ luật?

- Chuyện vặt! - Anh ta bắt lời, không để ý đến thái độ rầu rĩ của cô em gái - Quen rồi, ở trại này còn “sướng” hơn nhiều. Phòng kỷ luật “thơm”, có “lính hầu” (trại viên) đến quét dọn. Hồi dưới TP, mỗi lần vào “nghỉ”, thối, khắm không chịu được!

Cô em lái sang chuyện gia đình:

- Thầy vừa đi mổ về, còn yếu lắm. Mẹ nhắn anh: Cố gắng cải tạo để được ân giảm.

- Tao nghe nói - Anh trả lời cô em - Tụi dính vào hàng trắng như bọn tao không được giảm. Hết hạn, không nộp đủ tiền phạt, không được ra.

- Anh bị bao nhiêu năm? - Tôi hỏi:

- “Tái cử ba khóa” nên bị chồng án. Còn “bóc” mười tám “quyển” nữa. Một giấc ngủ dài…

Tôi cố nén tiếng thở dài, đứng dậy, tế nhị để hai anh em nói chuyện với nhau. Mười tám năm. Mà bố mẹ anh ở nhà năm nay đã hơn bảy mươi tuổi rồi. Sự chờ đợi mới khắc khoải và xót xa làm sao?

Khi chia tay, người anh trai cầm lấy tay cô em gái dặn:

- Em về nói với thầy giữ gìn sức khỏe, bảo với mẹ anh sẽ cố gắng, nhắn với mọi người anh nhớ quê hương lắm…

Trong ánh nắng xế chiều, khuôn mặt bất cần đời dịu xuống, tần ngần, thẫn thờ, ngơ ngác. Rồi đột ngột anh buông tay đứa em, quay ngoắt, bước vội, giấu đi những giọt nước mắt sắp trào ra trên khóe mắt.

 

*

   *       *   

 

Cửa xịch mở, một phụ nữ mặc áo bờ-lu bước vào. Không chào, cô kéo cửa đi vào phòng. Tiếng thì thào theo sau:

- Bác sĩ đến rồi đấy!

Những lời đối, đáp từ trong phòng vọng ra:

- Sao đến muộn thế?

- Chậm có năm phút. - Người phụ nữ đáp lại - Ta bắt đầu làm việc chứ anh? Rồi tiếng cô trong vắt, xướng to, rành rọt:

- Ai là Lý Hương Liên? Mời vào.

Ngoài phòng đợi, cô gái có khuôn mặt bầu bĩnh, da mịn, căng mọng như da quả táo tây, môi hồng như gạch mới ra lò, ngồi ngay hàng ghế đầu đứng lên. Bụng cô lùm hơn bình thường một chút. Không thấy anh chồng đứng dậy, cô quay lại:

- Anh… vào với em.

Anh chồng đầu cắt tóc ngắn, thoáng nhìn trẻ hơn vợ, ngần ngại:

- Họ có cho vào không?

- Cứ vào với em! - Cô kéo tay chồng, giọng như lệnh.

Cửa phòng đóng lại. Một lúc sau, tiếng đàn ông lõm bõm vọng ra:

- … Đang trong thời kỳ hình thành… phát triển… tim… gan…

Nghe câu được, câu chăng, bất giác tôi thở dài.

 

*

*      *

 

Con nuôi cha không bằng bà nuôi ông”. Ai gặp tôi đều khuyên như vậy. Nghe, tôi gãi đầu gãi tai, vâng, ừ cho qua chuyện. Mấy thằng bạn đồng niên chê:

- Mày là đồ lợn thiến!

Tôi chẳng cãi. Với bạn bè thân thiết, tôi thổ lộ:

- Khó lắm! Cái gì làm lại dễ, chứ cái này làm lại không đơn giản chút nào.

Quả thật, ai ở hoàn cảnh như tôi mới thấy khó. Nào có “cành cao, cành thấp” gì đâu. Sự cô đơn là sự khổ nhất trần gian. Đang sống có đôi, có lứa, con cái dề huề, bỗng dưng bây giờ lẻ một, ai không khổ?

Nhưng sự đời đâu cứ vợ chết thì lấy vợ khác? Rổ rá cạp lại là xong? Biết bao chuyện sau khi “làm lại” rồi lại phải chia tay, “anh đường anh, em đường em” đấy thôi. Chuyện “trong chán, ngoài thèm” chẳng đầy rẫy đó ư? Chưa kể, trong người tôi lại có chút “điên điên, khùng khùng” của kẻ võ vẽ thơ phú, thi ca; có cái “chập choeng, hâm hấp” của chàng văn sĩ nghiệp dư.

Thấy tôi lần lữa, mọi người vận động mãi, chán! Bạn bè mối mai không được, tức! Kệ! Mặc cho tôi làm bạn với thơ văn. Có môn đệ của cụ Khổng còn khen tôi “chính chuyên” với người đã khuất! Nhưng có kẻ lại nghĩ: “Ối giời, bây giờ thời buổi thông thoáng, có tiền ở đâu mà chẳng sẵn. Năm chục, ba chục sẽ có đứa bằng tuổi con, nó liếm từ gót đến… ”. Tôi nghe mà phát khiếp.

Của đáng tội, tôi cũng chẳng cao đạo gì lắm đâu! “Trẻ chưa qua, già chưa quá”, mới hơn năm chục tuổi đầu, đêm nằm cô đơn, thèm một bàn tay ấp; vương vấn trong lòng, thèm một lời thổ lộ; bản năng thức dậy, thèm một chút ái ân…

Nhiều khi cũng muốn “ừ” cho xong. Kệ, muốn ra sao thì ra! Con cái đã có phần con cái. Nuôi chúng lớn, cưới, gả chồng, nhà cửa cho chúng xong là hết trách nhiệm. “Đời cua, cua máy; đời cáy, cáy đào”. Lo ấy à? Có lo đến “lúc sang tiểu”.

 

*

    *      *   

 

Tiếng chuông điện thoại kêu, nhắc tôi về với thực tại. Đã có ba đôi khám xong. Hàng ghế sau một đôi đã vào phòng trong. Cô chửa bụng vượt mặt chuyển sang ngồi một mình một ghế, hai tay xoa xoa vùng rốn, mặt nhăn nhó. bà mẹ ngồi cạnh tôi, đầu gối lên cánh tay ngủ ngon lành, tiếng ngáy nghe đều, nhỏ như dế rúc.

- A lô! - Tiếng đàm thoại của cô bác sĩ - Thôi, đừng nhận nữa. Làm hết số người này là tối. Hẹn họ đến mai… Ừ… thôi nhé! - Có tiếng “cạch” của ống điện thoại để xuống mặt máy, rồi kèm thêm một câu - Trực cả ngày, bã người ra rồi. Còn phải để dành cho chồng cho con chứ! Làm lấy chết à?

À… Ra đây là họ làm thêm. Tôi hỏi cô bé có cái mũi hếch ngồi ở đầu ghế:

- Họ là bác sĩ chuẩn chứ cháu nhỉ?

- Toàn các giáo sư, bác sĩ đầu ngành cả đấy! - Người trả lời tôi không phải cô mà là anh chồng - “Xịn” một trăm phần trăm! Ở đây làm ngoài giờ nhưng trách nhiệm hơn bệnh viện nhiều. Chúng cháu đến đây lần thứ sáu rồi đấy! Con trai là con trai, con gái là con gái! Không trượt được!

Tiếng ông bác sĩ từ trong phòng vọng ra:

- Các em nhìn thấy chưa? Đấy! Đúng là cái chim em ạ! Giọng người chồng reo rất to, làm tôi liên tưởng tới chuyện ông Ácsimét trần truồng chạy từ buồng tắm ra, mồm kêu: “Ơrêca! Ơrêca… ”

Cô bé ngồi đầu ghế hỏi chồng:

- Có chụp ảnh cho con không anh?

- Có chứ! - Người chồng sốt sắng - Còn phải lưu vào đĩa mang về cho vào máy vi tính để ông bà nội, ông bà ngoại xem chứ! Nay mai cu cậu lớn, lúc cưới vợ mang ra xem thì buồn cười lắm em nhỉ?

Cô gái bụng chửa vượt mặt quay xuống hỏi:

- Ghi vào đĩa mất bao nhiêu tiền hả chị?

- Dạ - Cô bé trả lời - Có mười nghìn thôi mà chị.

- Mày ghi làm gì? - Bà mẹ tỉnh dậy từ bao giờ, nghe con hỏi liền vặc - Gửi vào trại để thằng bé bị nghiện từ lúc mới mang thai à? Tao cấm!

Không khí trong phòng đợi chùng xuống.  

 

*

   *       *  

 

Tôi quen nàng vào hồi này năm ngoái, trong một lần xem triển lãm ảnh của các nghệ sĩ không chuyên trong tỉnh. Nàng chủ động:

- Anh viết cho báo nào?

- Tôi… tôi… à… anh viết tin cho đài… đài phát thanh tỉnh. - Không hiểu sao tôi bị nói lắp?

Nàng khoe có hai bức ảnh được trưng bày. Tôi vốn dốt về nghệ thuật, nên khi xem không dám nhận xét, mà chỉ khen: “Đẹp! Đẹp!”.

Nàng kéo tôi đến bàn bày tiệc đứng. Rót đầy hai cốc bia, nàng bảo:

- Em đọc truyện ngắn của anh rồi. Khiếp! Sao anh tả chuyện yêu đương bạo thế? Đọc đến đấy, xấu hổ chết đi được.

Tự nhiên tôi thấy mến cô gái có lẽ chỉ hơn con cả tôi một hoặc hai tuổi là cùng. Bỏ mặc phòng triển lãm và những bức ảnh, tôi rủ nàng đến ngồi bên một bãi cỏ ngoài hội trường:

- Anh muốn chơi với em, liệu có gì cản trở không?

Nàng thẳng thắn:

- Em và ông xã chia tay nhau rồi! Còn anh?

Tôi cũng thẳng thắn không kém gì nàng. Qua nói chuyện, tôi được biết nàng là giáo viên. Chụp ảnh lấy tiền nuôi ảnh nghệ thuật. Nàng say mê nghệ thuật thật sự. Chính thế, sau một thời gian, tình yêu tự đến bao giờ tôi không còn nhớ nữa.

Cách đây ít ngày, tôi đột ngột bỏ nhà đi lên huyện Bảo Yên tỉnh Lào Cai. Ở trên đấy, tôi bình tĩnh viết một lá thư vĩnh biệt gửi nàng. Trong thư, chan chứa lời yêu thương nhưng cũng tràn đầy nỗi tuyệt vọng. Ai ngờ, nàng lần theo dấu bưu điện. Khi tìm thấy tôi, nàng “áp giải” tôi về.

Tì sâu ba đầu ngón tay ấn mạnh vào hạ sườn phải, tôi nói:

- Anh yêu em. Nhưng chính vì tình yêu mà anh phải bỏ đi. Anh không muốn vì anh mà em khổ. Em còn trẻ, em hãy đến với người khác mà yêu thương. Còn anh…

Đặt bàn tay nồng ấm, áp lên chỗ tôi đau, nàng ngắt lời:

- Anh nhăng cuội gì đấy? Chắc gì đã phải… mà sợ.

Tôi biết nàng nói mạnh thế thôi, chứ thực ra đến hai từ “ung thư” mà nàng còn ngại không muốn nhắc đến nữa là… Còn tôi, bệnh trong người của tôi thế nào tôi biết chứ!

Trước thời gian tôi bỏ đi ít ngày, tôi thấy hạ sườn bên phải tưng tức, anh ách, như có vật gì chèn ép mãi bên trong. Muốn bớt khó chịu, phải lấy ngón tay thọc, day day mới đỡ. Một hôm, thằng bạn mời đi ăn đặc sản thịt trâu. Khi nâng cốc “cộc”, nó hỏi:

- Sao mắt và da của mày vàng thế?

Chột dạ, tôi soi gương, thấy lòng trắng con ngươi ngả màu vàng, da bợt bạt. Tôi đến nhà một anh bạn cùng thị xã có vợ chết vì ung thư gan tìm hiểu. Thấy tả hiện tượng y như bệnh tôi mắc phải, làm cho tôi kém ăn, mất ngủ. Bao nhiêu đề tài định viết tôi quẳng vào góc tủ. Máy vi tính để tơ nhện chăng ngang, chăng dọc. Lúc nào đầu óc cũng chỉ nghĩ tới ngày tận cùng của cuộc đời.

Một lần, nằm trên giường, nàng hôn tôi. Chợt nàng đẩy tôi ra xa ngắm nghía một lát rồi bảo:

- Em thấy anh xanh xanh thế nào ấy? Anh đừng uống rượu nữa! Anh làm sao, em biết làm thế nào?

Tôi giấu tất cả mọi người và nàng những cơn đau và nỗi khó chịu. Rồi một đêm, cơn buồn nản lên tới tột cùng, tôi lẳng lặng ra ga, lên tàu ngược.

Từ hôm tìm được tôi về, nàng quản lý tôi rất chặt. Nàng thuyết phục tôi đi khám xem bệnh tình thế nào. Tôi nhất quyết không đi:

- Sống chết đã có số! - Tôi cãi bài bây - Để “nó” trong bụng may ra còn sống được thêm ít ngày. Phát hiện ra, động dao kéo vào là xong!

Hết năn nỉ đến giận hờn, tôi vẫn không nghe. Nàng phát bẳn, thuyết giáo:

- Anh là người viết truyện. Khi nói về người anh hùng, sao anh miêu tả gan dạ, kiên trung thế? Cho họ đối mặt với hiểm nguy, cho họ nhảy vào nước sôi, lửa bỏng, hiên ngang trước mũi súng quân thù, coi cái chết nhẹ tựa lông hồng… Chẳng lẽ những nhân vật trong truyện của anh, chỉ là anh hùng rơm? Là mẫu người giả tạo?

Tôi trả lời liều:

- Truyện khác! Đời khác!

Nàng văng vào mặt tôi một câu:

- Anh là thằng hèn! - Nói rồi nàng lên giường úp mặt vào gối khóc.

Sáng dậy, tôi bảo nàng:

- Em lai anh về Hà Nội kiểm tra.

 

 

*

*       *

 

 

Ông bác sĩ bảo tôi:

- Bác nằm lên giường. Cởi cúc áo, nới thắt lưng!

Tôi làm theo, nằm ngửa, mắt nhìn lên màn hình màu treo trên cao. Cô bác sĩ ngồi góc nhà, trước mặt cũng có một cái màn hình; cạnh đầu tôi nằm là màn hình của ông bác sĩ. Như vậy màn hình của ai người ấy xem. Hiện đại thật! - Tôi nhủ thầm.

Người bác sĩ cầm một vật mềm, trông như cái micơrô nhúng vào một loại dung dịch gì đó, quét đi quét lại trên bụng tôi. Hình ảnh xuất hiện, tôi cố giương mắt nhìn lên, nhưng chỉ thấy một mớ ruột gan lộn tùng phèo hiện ra, không tài nào phân biệt nổi. Tiếng người bác sĩ đọc như tiếng phát thanh viên truyền hình:

Gan:

Kích thước bình thường, nhu mô echo đồng nhất, echo gan tăng âm honecho, thận giảm âm vùng sâu, trong gan không có khối bất thường.

Tĩnh mạch cửa và tĩnh mạch trên gan không giãn. Dòng chảy bình thường.

Tôi thở đánh phào một cái rõ mạnh. Người bác sĩ nói:

- Bác đừng thở thế để tôi nhìn cho rõ.

Nói rồi người bác sĩ đọc tiếp:

Hệ thống đường mật:

Đường mật trong gan và đường mật ngoài gan không giãn, không có hình ảnh bất thường.

Tôi lại thở đánh phào. Người bác sĩ nhăn mặt:

- Ấy… bác! Đã bảo đừng thở mạnh, khó nhìn…

Tôi cố thở thật nhẹ. Tiếng người bác sĩ vẫn đều đều:

Túi mật:

Túi mật kích thước bình thường, thành dày 4,6mm, lòng có nhiều sỏi nhỏ… Bỗng tiếng nói dừng lại. Người bác sĩ bảo tôi:

- Bác nghiêng người tôi xem nào.

Mặc dù nằm dưới nhiệt độ 200C tôi vẫn thấy lưng mình nóng ran, tim thắt lại. Sự im lặng tưởng chừng dài hàng thế kỷ. Một lát, người bác sĩ đọc tiếp:

Đường kính trung bình = 5cm chiếm gần hết thể tích túi mật. Dịch mật còn rất ít.

Tôi hỏi:

- Không có u bướu gì chứ bác sĩ?

Người bác sĩ trả lời:

- Đã soi hết đâu mà biết? Bác đừng ngọ ngoạy, nằm yên để tôi phát hiện cho chính xác! - Rồi ông nói thêm - Nếu phát hiện tiếp không có gì thì chỉ cần nhờ y học can thiệp giải quyết chỗ sỏi trong túi mật là xong.

Sau câu nói, cái “micơrô” lại quét đi, quét lại trên bụng, còn tôi cố nén sự hồi hộp, thở thật nhẹ… thật nhẹ…

 

 

*

  *       *  

 

 Tôi bước ra khỏi phòng chờ, đèn cao áp đường Hà Nội sáng rực. Nhìn thấy tôi, nàng nhỏm dậy, mặt tái xám, vẻ lo âu, căng thẳng vì chờ đợi. Chân nàng không dám bước tới, mắt nàng nhìn tôi không chớp, đôi mi cong của nàng run run. Thương quá! Không kìm nổi, tôi chạy tới, dang tay ôm choàng lấy nàng, gắn chặt môi mình vào môi nàng, trong phút chốc, quên đi tất cả mọi người ở xung quanh.

 

 

 

 

 

 

XUÂN MAI

 Những người đang đi ở cuối hàng

SỞ VĂN HÓA THÔNG TIN TỈNH VĨNH PHÚC, 2000

 

 ---------------------------------------------------------

 

Tập Truyện và Ký đoạt Giải C,

 Giải thưởng VHNT tỉnh Vĩnh Phúc 5 năm lần thứ II

(2000 - 2005)

 

 

 

 

 

 

 

NHỮNG NGƯỜI ĐANG ĐI Ở CUỐI HÀNG

                                                                                 

 

Có lẽ coi tôi là đứa con của quê hương nên đồng chí Bí thư Đảng ủy xã mới nhắn tôi về dự Hội nghị “Những hộ thường xuyên gặp khó khăn” của địa phương. Thú thật, khi nhận được tin mời tôi rất băn khoăn. Tôi chưa biết mình có nên hay là không nên về dự? Bây giờ, Đảng ta, Nhà nước ta đang ủng hộ những người biết làm giàu. Sự ủng hộ ấy không chỉ bằng lời nói mà còn bằng hàng loạt những chủ trương, chính sách với những biện pháp được cụ thể hóa có văn bản hẳn hoi. Rồi người ta còn tổ chức những hội nghị để cổ vũ, tuyên truyền, để rút kinh nghiệm chỉ đạo… Bản thân tôi cũng đã đến dự nhiều hội nghị của những người biết làm giàu cấp xã, cấp huyện, cấp tỉnh. Đó là hội nghị của những người làm kinh tế vườn giỏi, những người biết làm ăn giỏi. Ở những hội nghị này, tôi đã gặp những ông, những bà có khuôn mặt sáng sủa, đầy đặn, có dáng đi mạnh dạn và đặc biệt có tiếng nói, tiếng cười rất to, rất thoải mái, tự tin. Tôi đã được nghe tại một hội nghị có một vị dõng dạc nói như thế này: “Tôi mong rằng ai cũng biết lo, biết làm ăn như chúng tôi thì xã hội ta sẽ không có cảnh đói nghèo, chẳng có chuyện tiêu cực”. Ai cũng nghĩ, ông ấy nói như vậy về khách quan mà xét thì chưa hoàn toàn đúng. Nhưng vì đó là một người có tiềm lực mạnh, lại nói ở hội nghị những người biết làm giàu nên đã được mọi người vỗ tay hoan nghênh rất to và rất dài! Tuy không dám nói ra nhưng ngay từ hôm ấy tôi có cảm nhận là, hình như hiện nay người ta đang quên những người nghèo đói, mặc dù đồng chí Nguyễn Văn Linh, Tổng Bí thư Đảng ta đã nhắc nhở, đại ý, chúng ta không sợ những người giàu nhưng chúng ta cũng đừng quên những người nghèo. Có phải không quên những người nghèo mà đồng chí Bí thư Đảng quê tôi mới có ý định tổ chức một hội nghị dành riêng cho những hộ thường xuyên thiếu đói? Hội nghị nhằm giải quyết vấn đề gì? Và tôi? Tôi sẽ giúp được gì cho những người nghèo của quê hương? Chẳng có lẽ về chỉ để bà con kể nghèo, kể khổ? Mà chuyện khổ với chuyện đói ở quê, tôi đâu có lạ! Nó giống như căn bệnh mãn tính đã từ nhiều năm nay rồi. Nói đâu xa, vụ đói tháng ba năm ngoái, ở quê tôi vẫn có người phải đem con ra chợ bán. Có nhiều gia đình phải ăn rau cháo cầm hơi, nhiều nhà bếp chỉ đỏ lửa có một lần trong ngày. Nghe mà thương, mà giận. Thương cho những số phận nghèo hèn. Giận vì các vị lãnh đạo của địa phương sao nỡ để những câu chuyện đau lòng ấy kéo dài? Nhưng chả lẽ không dám nghe những người nghèo kể khổ mà không về? Những vị đứng đầu một xã còn dám đối diện với cái nghèo, cái khổ ngay trên quê hương mình, dưới quyền mình thì tại sao tôi lại trốn chạy như một người không trách nhiệm?

 

*

*       *

 

Đã có một thời Lê Thiệp làm chủ nhiệm Hợp tác xã nông nghiệp, sau đó anh được huyện rút lên làm Phó Ban nông nghiệp vài năm. Từ cuối năm ngoái huyện lại đưa anh về xã. Đại hội Đảng bộ khóa mới rồi, anh trúng vào Ban chấp hành, được phân công giữ chức Bí thư Đảng ủy.

Gặp Lê Thiệp tại Trụ sở làm việc của Đảng ủy, tôi nói với anh:

- Các ông to gan thật. Dám cả gan tổ chức hội nghị những người nghèo. Các ông đã chuẩn bị tinh thần nghe bà con “đấu” chưa?

Lê Thiệp gật đầu, mỉm cười:

- Đã dám tổ chức hội nghị thì đương nhiên chúng tôi chỉ muốn nghe sự thật, dẫu sự thật ấy có đắng cay đến bao nhiêu.

Trái với dự đoán của tối, những hộ thường xuyên gặp khó khăn đến dự hội nghị dành riêng cho mình chỉ có trên 20 người, trong khi Bí thư Lê Thiệp cho tôi biết số hộ thuộc diện này có tới 114.

Trước khi vào họp, tôi để ý thấy rất ít người dám đi một mình mà họ đi từng tốp 3, 4 người. Hình như được mời đến dự hội nghị kiểu này người ta ngượng, người ta tủi thân nên phải rủ nhau cùng đi cho đỡ xấu hổ? Khi vào hội trường, người ta lại cũng rủ nhau ngồi ở những hàng ghế cuối cùng, có người ngồi sát tường, khuất sau những cái cột nhà… Anh Lê Thiệp phải “kêu gọi” mãi mới có dăm người cui cúi đi lên ngồi trên mấy cái ghế đầu, vẻ rụt rè, nếu không muốn nói là khúm núm, sợ sệt. Đấy là những ông bà, những anh chị có khuôn mặt bơ phờ, hốc hác, có cái nhìn sầu muộn, có dáng đi chậm chạp và về mặc thì phải nói là khoác những cái ngẫu nhiên lên người, có sao mặc vậy!

Sau khi Lê Thiệp nói rõ mục đích, ý nghĩa hội nghị để mọi người phát biểu, thảo luận, không khí trong hội trường dường như căng ra, im lặng và bức bối như chuẩn bị cho cơn bão.

Nhưng mà tôi lại lầm. Không có bão bùng gì mà chỉ có mưa - những cơn mưa nước mắt. Ở hội nghị những người biết làm giàu nhiều tiếng cười bao nhiêu thì ở hội nghị này nhiều tiếng khóc bấy nhiêu. Có người khóc nức nở, có người khóc thổn thức, có người chỉ rưng rưng khóc. Họ vừa khóc, vừa nghẹn ngào nói. Tôi đã lắng nghe tất cả mọi người nói và không thấy ai oán trách Đảng, không có ai lên án chế độ. Họ chỉ bảo, họ tủi thân, họ xấu hổ. Vì cũng là một kiếp người, với đầy đủ mắt mũi, chân tay mà sao người ta giàu, mình lại nghèo? Ông Hợp, vốn là một thầy giáo, do hoàn cảnh gia đình quá khó khăn: Bố chết, vợ mắc bệnh phải mổ đã phải bán bò lấy tiền chạy thuốc. Rồi phải vay lãi. Lãi mẹ đẻ lãi con, dẫn đến kinh tế gia đình ngày một sa sút, ông phải bỏ nghề về quê giúp vợ con, đã nói rằng: “Tiên trách kỷ, hậu trách nhân. Trước hết hãy trách mình, sau hãy trách người”. Tại mình lười suy nghĩ, tại mình lười lao động. Các cụ nhà ta đã dạy: “Tay làm hàm nhai, tay quai miệng trễ”. Bởi vậy cho nên, thay mặt các hộ nghèo, ông hứa sẽ cố gắng làm ăn có kế hoạch để nay mai có bát ăn, bát để, để Đảng, Nhà nước không phải bận tâm đến mình. Ông chỉ có hai đề nghị: Hợp tác xã đừng rút ruộng, rút trâu bò của các hộ nghèo và cho nợ sản một năm.

Tôi biết Lê Thiệp chuẩn bị tư tưởng để nghe bà con “đấu” nhưng thật bất ngờ không có ai đấu bát gì cả! Bà con chỉ nói cho anh nghe về những khó khăn, thiếu thốn mà họ đang gặp phải và yêu cầu tập thể hỗ trợ, tạo điều kiện cho họ vượt qua những tháng năm vất vả này. Trước một thái độ biết người biết ta, là người đứng đầu lãnh đạo một xã, Lê Thiệp như thấy trách nhiệm của mình càng nặng nề hơn. Đứng trước mọi người anh thành thật tự phê bình về những non kém của Đảng ủy trong việc chỉ đạo sản xuất nông nghiệp. Những non kém ấy của lãnh đạo đã góp một phần không nhỏ làm cho đời sống của nhân dân địa phương chưa được cải thiện, nâng cao. Đảng ủy sẽ phải rút kinh nghiệm để lãnh đạo, chỉ đạo trên mặt trận nông nghiệp, tăng gia sản xuất tốt hơn trước. Thế nhưng về phía những hộ thường xuyên gặp khó khăn thì phải làm gì? Lê Thiệp thẳng thắn và mạnh dạn nói tiếp:

- Chúng ta phải làm cho rõ, phải tìm cho đúng căn bệnh thì mới có cách điều trị. Tôi đề nghị, chúng ta không đưa những hộ có người ốm đau, tai nạn rủi ro, họa vô đơn chí vào danh sách những hộ nghèo. Vì những khó khăn đột xuất ấy, sớm muộn gì bà con mình cũng có cách vượt qua. Còn các hộ nghèo thực sự? Tại sao mình lại nghèo? Theo ý chúng tôi tìm hiểu thì, một là không có kế hoạch làm ăn. Người chủ hộ không có năng lực tổ chức lao động. Không biết cân đối giữa thu và chi trong gia đình. Hai là, lười. Rất là lười! Có người ngủ trừ bữa. Ai đời là nhà nông mà ngủ cả trong giờ lao động.

Để minh họa cho hai nhận xét của mình, Bí thư Lê Thiệp đưa ra một loạt ví dụ. Đó là vợ chồng anh Đồng, ông Hồng, bác Nghị, anh Kính… Họ đều đông con và có vẻ rất chăm làm. Sớm mở mắt ra là lên rừng hái củi, tối nhọ mặt người mới gánh củi về. Ngày hôm sau lại đi chợ bán củi. Được đồng nào là mua bánh cuốn, mua cá, thịt, rượu đem về nấu nướng. Vợ chồng, con cái ăn cho no cho chán. Hôm sau hết tiền, hết gạo thì đi vay, đi mượn. Vay mượn không được thì đi ngủ nhịn! Đó là ông Luân, phải công nhận là ông là người rất hay làm, vì thương vợ, thương con. Người như thế quý lắm chứ? Nhưng là chủ gia đình mà để vợ con nằm đóng cửa ngủ trưa như viên chức nhà nước, còn mình tranh thủ giã cối gạo để chiều đi họp là hỏng mất rồi. Một người không biết bố trí, không biết sử dụng lao động mới làm như ông Luân. Đó là anh Nhĩ, dựng lán để làm kinh tế đồi rừng tuy ở ngay cửa rừng mà lại phải chạy về làng xin giềng mẻ làm thịt chó! Anh Hoạt thấy mưa phùn, gió rét, ngại đi kiếm củi liền lấy sắn lát khô trong hòm ra nhóm lửa để… sưởi! Đó là các anh Nhân, Tửu, Kính… còn rất trẻ, lấy vợ xong bố mẹ làm nhà cho ra ăn riêng, lại cho cả chó, gà, lợn làm giống, nhưng chỉ nuôi có vài tháng, thích ăn là mổ thịt, uống rượu luôn, chẳng cần giống má gì cả! Ở riêng đã được hàng năm mà trong vườn chưa trồng được cây chuối, cỏ mọc ở sân bò lên tới tận hiên…

- Các vị lười đến như thế, tổ chức gia đình như thế thì tập thể chúng tôi biết làm thế nào?

Bí thư Lê Thiệp nhìn mọi người. Anh băn khoăn hỏi cả hội nghị và như hỏi cả chính mình. Mọi người im lặng. Dường như có nhiều người đến tận lúc này mới thực sự thấy mình cũng là một trong những nguyên nhân góp phần gây nên sự đói nghèo của cả xã. Biết thế nhưng cái “số” mình nó thế thì biết làm sao? Chả lẽ ban nãy ông Cận ví von thế mà lại đúng. Ông ấy bảo, cuộc đời mỗi con người trong xã hội giống như cái vườn cây kia. Cây nào to vươn lên được thì cây cao bóng cả, được hưởng nhiều ánh sáng thì cành lá xùm xòa, sum suê xanh tốt. Cây nào nhỏ bé thì chen chúc ở bên dưới. Cũng có rất nhiều cây bị cớm nắng. Biết oán trách ai bây giờ? Tạo hóa sinh ra có người thông minh lại có người ngu dốt, có người ác lại có người thiện, có người giàu lại có người nghèo… Mình là anh nghèo thì phải cam phận nghèo thôi. Hay nói như ông Hợp cũng phải. Xã hội ta đã từ bỏ cái thời cùng xếp hàng ngang mà tiến rồi. Tiến quân theo lối ấy, người nọ níu áo người kia là không được. Xã hội đang xếp lại hàng ngũ, đang tiến theo đội hình hàng dọc. Chúng tôi là những người đang đi ở cuối hàng. Buồn đấy, tủi đấy nhưng biết làm sao? Tuy vậy, cũng có người nói lại: Không! Cuộc đời của mỗi người chúng ta sống dưới chế độ ta không thể lại vô thức như những loài cây trong vườn kia được. Xếp lại đội ngũ thì có, rất tự nhiên thôi, nhưng đừng lấy quy luật của tự nhiên để suy diễn áp đặt cho con người.

Hội nghị im lặng khá lâu. Tôi có cảm nhận là Bí thư Lê Thiệp cố ý tạo ra cái không khí ấy. Làm vậy là rất nên. Con người ta cũng cần có lúc phải bình tĩnh lại, lặng yên để suy ngẫm, để nhìn vào chính bản thân mình. Chỉ có như thế mới rút ra được những điều yếu, mạnh.

 

 

*

*       *

   

 

Là người của quê hương nhưng từ nhỏ tôi đã vác gạo đi trọ học mãi ngoài thị xã. Lớn lên, sau ngót 20 năm đi lính, đến khi được “giã từ vũ khí” tôi lại công tác trên tỉnh. Thứ bảy, chủ nhật mới vượt sông Lô về với vợ con thì như người đi thăm bẫy, như con chuồn chuồn đập nước… Với tất cả những lý do đó nên tôi không biết mấy ai ở làng xã mình. Thành thử sau khi dự hội nghị, tôi quyết định đi thăm một số gia đình, mà chỉ đến những gia đình khó khăn, những gia đình nghèo.

Biết được ý định của tôi, không những Lê Thiệp không can ngăn mà anh còn khuyến khích, ủng hộ, lại còn bố trí Lê Minh Sếp, Trưởng Ban Tuyên giáo xã, đi cùng.

Trên đường đi, Sếp bảo sẽ đưa tôi đến nhà ông Lê Văn Hảo trước tiên và anh tranh thủ giới thiệu cho tôi biết trước là ông Hảo mới 54 tuổi, có 5 đứa con. Hai cháu lớn đang tại ngũ, cháu bé nhất mới lên 3. Nhà hiện có 5 khẩu… Vậy mà thiếu ăn triền miên, nợ nần triền miên. Thiếu thốn thế, nợ nần thế nhưng ông Hảo lại rất hay ăn và rất hay uống rượu. Không có con trâu, bò nào trong xã chết mà lại vắng mặt ông Hảo. Ông không mua thịt mà chỉ xin mua cái xỏ và bộ da, chịu tiền đến mùa sẽ trả bằng thóc. Đem 2 thứ ấy về, ông Hảo “khao” vợ con một bữa thỏa thuê, còn thừa ông đem treo lên gác bếp, sấy khô đi để làm thứ nhắm rượu dần. Các con ông đứa nào cũng biết uống rượu và hút thuốc lào từ khi người còn thấp hơn cái ống điếu. Vợ ông thuộc diện “đi chợ thì hay ăn quà”, chả có mấy quán trong làng mà bà không có tên trong sổ nợ. Đã có lần chủ quán phải đến tận nhà bắt cày của ông để trừ nợ khiến ông phải nổi khùng, vác gậy đuổi đánh cả chủ nợ lẫn con nợ.

Nhà ông Hảo ở đội 2. Đấy là một ngôi nhà xây 5 gian nhưng tường chưa trát. Mái lợp lá đã mòn cũ, nhiều chỗ thủng nhìn thấy cả trời… Và, tuy có nhà nhưng vẫn không có cửa… Đang nửa buổi, khoảng tám, chín giờ sáng mà sao cả hai ông bà đều không đi làm? Còn mấy đứa con ông thì đang bận đánh đáo, đánh bi ở ngoài vườn.

Không ngần ngại, không giấu giếm, ông Hảo kể ngay gia cảnh của ông cho tôi biết: Rằng trước kia ông cũng đi thoát ly, làm kế toán của phòng Thủy lợi huyện. Vì hoàn cảnh gia đình bấn bíu nên ông phải xin nghỉ việc. Khi mới về quê ông còn có xe đạp, có đài bán dẫn Na - ti - ô - nan và xây được cái nhà này. Sau đấy mẹ ông ốm chết, ông phải bán trâu lấy tiền làm tang cho mẹ. Vợ ông bị viêm cơ, ông phải bán xe, bán đài, bán cả ba bộ cánh cửa kia để lấy tiền cho vợ đi viện chữa bệnh. Rồi các con ông đi bộ đội, ông phải vay mượn làm mươi mâm liên hoan cho con phấn khởi lên đường. Rồi 50 tuổi mà còn bị “vỡ kế hoạch”, vợ ông đẻ thêm con. Người làm thì ít, người ăn thì nhiều. Làm không đủ ăn thì phải đi vay. Vay không trả được thì lãi mẹ đẻ lãi con. Hiện ông còn nợ của Hợp tác xã và của một số bà con trên một tấn thóc! Người không có mà ăn còn nói gì đến chuyện chăn nuôi. Ông không có lợn, không có gà, không có trâu bò. Nhà ông bị xếp vào loại 3 của Hợp tác xã, được nhận làm 2 sào ruộng. Nhưng sức kéo không có, không có phân bón cho nên thường là cấy sau, gặt muộn, năng suất chẳng ra gì.

Nghe ông Hảo nói mà tôi thấy ngao ngán quá, bi đát quá. Tôi hỏi ông;

- Gia đình ta lắm khó khăn quá. Thế bác có đề nghị gì với Hợp tác xã không?

- Không! - Ông Hảo trả lời ngay - Hợp tác xã giúp đỡ tôi nhiều rồi, tôi không dám có đề nghị gì nữa. Tôi nghĩ là mình phải tự cứu lấy mình để mà, với gia đình tôi là dần lên, tiếp tới đi dần lên cho kịp mọi người.

- Chắc bác có kế hoạch để lên rồi chứ?

- Phải bám lấy ruộng đất, phải phát triển chăn nuôi, phải có thêm nghề phụ…

- Và phải ít uống rượu…

Lê Minh Sếp nói chen ngang thế làm ông Hảo thoáng đỏ mặt. Hình như mới nhắc đến tiếng “rượu” ông đã chếnh choáng say. Ông cười hề hề và đi mở hòm tìm rượu. Vừa mở khóa hòm, ông vừa xởi lởi mời:

- Chả mấy khi hai bác đến chơi, hai bác uống với tôi chén rượu suông mà cánh thanh niên chúng nó bảo là uống “xếch”, cho vui.

Tôi đang định từ chối thì ông Hảo đã lôi từ trong hòm ra một cái chai… không! Có lẽ ngượng với khách, ông lớn tiếng gọi con, giục nó chạy ra quán bà Hiệu “cho bố cháu mua chịu một chai sáu lăm’. Tôi và Sếp vội vàng đứng dậy, hẹn với ông để đến khi nào ông vượt được nghèo sẽ về uống rượu mừng, còn bây giờ chúng tôi phải tới thăm vài nhà nữa.

Nhà thứ hai chúng tôi đến là cặp vợ chồng Nguyễn Văn Chí – Nguyễn Thị Chanh.

Lê Minh Sếp cũng cho tôi biết trước là vợ chồng Chí Chanh còn trẻ lắm. Chồng 33, vợ 30. Trước kia Chí là công nhân lâm trường huyện. Vì yếu sức khỏe, Chí xin nghỉ việc về quê đã 6 năm. Bố mẹ anh làm nhà cho vợ chồng anh ra ăn riêng đã được 4 năm rồi. Anh chị đã có với nhau ba mặt con nhưng không may hai cháu ốm chết từ năm ngoái. Cũng năm ngoái, cô Chanh bị nghi là viêm gan, đi chạy chữa hết viện này đến viện khác. Vợ chồng anh đã phải bán đài, bán xe, bán đồng hồ, rồi vay nợ lãi để lấy tiền thuốc men, thăm khám… Cuối cùng phát hiện ra Chanh chỉ bị giun móc thì chao ơi, trong nhà đã rỗng tuếch, không còn lấy một hạt thóc nhổ râu! Bây giờ vợ chồng Chí có một thằng cu lên 3 và cô vợ lại chửa lùm lùm. Có 3 miệng ăn thôi mà nhà Chí nợ sản của Hợp tác xã tới hai tạ ba, bị xếp hộ loại 3.

 Nhà Chí ở trên một quả gò, rộng 3 sào, không có cổng. Lê Minh Sếp dẫn tôi đi theo lối mòn mọc rất nhiều cỏ may mà đến nhà Chí.

Vài năm nay do có điều kiện đi về các làng xã công tác nên tôi có nhận xét thế này: Bây giờ ở nông thôn, chưa cần vào nhà, cũng không cần hỏi, chỉ cần nhìn ở bên ngoài nếu thấy hộ nào có vườn cây sum suê lá quả, có ao thả cá, nuôi bèo, có chuồng nuôi lợn, gà, trâu bò, và nhất là, trước sân lại có một giàn nho, một hai búi hoa ngâu, hoa sói thì ta biết ngày rằng nhà này chí ít cũng phải đủ ăn. Còn nếu như thấy hộ nào, trước sân loe hoe vài ba khóm chuối, lơ phơ vài luống sắn thì chắc chắn là quanh năm chạy chẳng đủ ăn. Nhà Nguyễn Văn Chí thuộc diện thứ 2 này.

Chúng tôi đến giữa lúc thằng cu con đang tập quét sân, cô Chanh đang cho lợn ăn. Thoáng thấy chúng tôi, cô rối rít giục con đi gọi bố về, rồi cuống quít mở cửa, mời “hai bác vào nhà xơi nước”.

Đây là ngôi nhà ba gian, tường đắp vắt. Một gian ngăn lại làm buồng, một gian làm bếp, còn gian nữa kê: bên trong sát tường là cái hòm, bên ngoài là tấm phản bục. Cô Chanh lại cuống quít thu dọn mấy cái chén vại cáu bẩn, nằm lăn lóc trên phản. Rồi cô lau giường, lau hòm, vơ quần áo gọn lại một đống. Nhà không có phích, cô phải đi nhóm lửa đun nước. Chúng tôi ngồi trong ngôi nhà bé bằng… cái lỗ mũi, trên tấm phản cũ kỹ, long đinh, suýt ngạt thở vì khói bếp bay lên, quẩn quanh mù mịt.

Siêu nước vừa sôi thì Chí cũng đi từ dưới đồng về. Chí mặc quần áo cộc, đầu trần, chân tay còn dính bùn be bét. Biết chúng tôi là khách đến thăm, anh vừa cười như người có lỗi, vừa thanh minh rằng, anh đi vảy lấy mấy con tép và vội vã đi rửa chân tay. Rồi anh vào nhà mặc quần áo dài, súc ấm pha trà, cọ đĩa chén…

Chờ vợ chồng Chí Chanh chuẩn bị xong các động tác tiếp khách, Lê Minh Sếp mới bắt đầu vào chuyện. Nghe chưa hết mục đích của cuộc đến thăm của chúng tôi, cô Chanh đã òa khóc. Cô cắt ngang lời Sếp, nghẹn ngào trong nước mắt:

- Chúng cháu cám ơn các bác. Vợ chồng cháu rất ái ngại trước sự quan tâm của tập thể. Chúng cháu thấy xấu hổ và tủi thân lắm. Giá như chúng cháu không nghèo thì các bác không phải vất vả lặn lội đến tận đây.

Không muốn nghe thêm nỗi khổ của cái nghèo nữa, tôi hỏi:

- Khó khăn lớn nhất của cô chú hiện nay là cái gì?

- Ruộng và sức kéo bác ạ - Chí điềm đạm trả lời - Chưa có “ khoán 10” vợ chồng cháu còn có hai sào ruộng mà làm, nay Hợp tác xã rút ra một, ba khẩu mà chỉ có một sào là quá ít. Sức kéo không có, chúng cháu phải đi thuê trâu bò. Nếu không có tiền thuê thì phải cuốc, phải thay trâu bò mà vợ cày, chồng kéo. Hai bác tính, theo nghề nhà nông mà trâu bò không, ruộng đất không thì biết làm gì để sống?

- Nhưng cô chú vẫn đang sống và chắc chắn sẽ không chịu chết. Sức dài, vai rộng thế này mà chịu bó tay, ngồi chờ chết thì yếu quá.

Nghe tôi khiêu khích, Chí có vẻ hăng hái lên, anh mạng dạn nói:

- Cháu nghĩ là sông có khúc, người có lúc. Thế nào vợ chồng cháu cũng vượt qua những ngày bĩ cực để đến ngày thái lai. Chả giấu gì hai bác, chúng cháu đang nuôi hai con lợn, một nái, một bột. Cháu sẽ cho lợn ăn sắn ở ngoài nương, cua ốc ở dưới đồng. Cháu sẽ bán lợn mua thóc trả sản. Nội trong năm nay chúng cháu sẽ trả cho hết nợ. Không nợ nần gì nữa thì mới yên tâm làm ăn, phải không hai bác?

Ra khỏi nhà Chí, tuy biết vợ chồng anh còn thật lắm khó khăn nhưng tôi vẫn hy vọng, vẫn thấy vui vui. Dẫu sao thì đây cũng là những con người có lòng tự trọng, tự ái và có chí. Người xưa dạy: “Có chí thì nên”. Tôi tin là vợ chồng Chí - Chanh sẽ biết đi lên theo cái cách của mình.

 

*

  *       *   

 

Hai chúng tôi đi ra tới con đường liên xã thì tình cờ gặp Đào Văn Trực. Trực là người cùng làng với tôi. Anh rót 40 tuổi, có 6 con, lau nhau kiểu trứng gà, trứng vịt. Gia cảnh Trực cũng khó khăn, thiếu thốn, vất vả đủ bề. Nghe vợ tôi nói chuyện, năm ngoái Hợp tác xã rút ruộng của anh giao cho một hộ giàu làm, anh uất lên đã rút dao bầu đuổi chém ông chủ nhiệm, suýt nữa thì gây ra án mạng tày đình. Công an xã phải gọi Trực ra trụ sở làm việc, lập biên bản, phạt vi cảnh, anh mới chịu. Nhưng sau đó thì Trực cùng ba đứa con lơn lớn bỏ làng đi. Không ai biết là Trực phải bỏ làng ra đi vì miếng cơm manh áo hay bất mãn với lãnh đạo địa phương? Hợp là em trai Trực, can anh không được, đành để anh đi. Hợp sắm cho anh trai và ba cháu một cái cuốc, một con dao quắm và mấy bát gạo. Trực hứa với em, với vợ là, anh đi lần này, nếu không ăn nên làm ra thì anh sẽ chết ở nơi đất khách quê người chứ không thèm vác mặt về cái làng này nữa! Còn nếu như ông trời có mắt, ông trời thương, ở chỗ nào đó lại làm ăn được, anh sẽ về đón vợ và 3 con nhỏ đi sau. Cuộc chia ly kẻ ở người đi đều chứa chan nước mắt!

Do biết trước chuyện về Trực nên sau cái bắt tay, tôi hỏi ngay;

- Chú về bao giờ thế?

- Báo cáo hai bác, em về một tuần nay rồi ạ.

- Về ở với làng hay đón cô ấy với các cháu đi?

- Chuyện dài lắm. Hai bác vào đây uống với em chén nước đã.

Miệng mời, tay Trực kéo tôi và Sếp vào cái quán ngày bên lề đường (ở các làng quê tôi thời gian gần đây mọc lên rất nhiều quán nước). Trực bảo bà chủ quán rót cho 3 chén trà. Anh cầm bao Du lịch đỏ còn nguyên đai, bóc ra mời chúng tôi. Tôi không hút thuốc nhưng vẫn biết một anh nhà quê dám tiếp khách thuốc lá loại có cán, thế là chơi sang rồi đấy.

Vừa hút thuốc nhả khói trắng mù trước mặt, Trực vừa chậm rãi thuật lại cái ngày anh bỏ làng “đi tìm hạnh phúc” cho chúng tôi nghe.

Trực quyết định lên Hà Tuyên. Tiền không có một xu dính túi, bốn bố con anh phải cuốc bộ. Một, hai ngày đầu còn có cái ăn vào bụng, sức còn khỏe còn đi được. Khổ nhất là mấy ngày sau đó, Trực phải cõng con, phải đi đến đâu xin ăn đến đấy. Lôi thôi, lếch thếch. Thế là bốn bố con anh trở thành kẻ ăn mày!

Sau 5 ngày lang thang trên đường, Trực đã đưa các con đến một xã miền núi thuộc đất Tuyên Quang cũ. Anh dắt con vào ăn xin các gia đình người dân tộc. Anh kể cho họ nghe về tình cảnh của mình. Đồng bào thương bố con anh, họ cho ăn, cho ở nhờ. Rồi họ bảo nhau dựng cho bố con anh một cái lán, chỉ cho anh chỗ làm nương…

Với con dao quắm và cái cuốc trong tay, ngày này qua ngày khác, mấy bố con anh phát rẫy, đốt nương, đánh gốc, bốc chà. Vỡ đất tra ngô, trồng sắn… Thấm thoắt gần hai năm trôi qua, bố con anh đã có sắn, có ngô, có lúa, không chỉ đủ ăn mà còn dư thừa. Anh bán lúa, bán ngô, bán sắn lấy tiền mua lợn, mua gà, mua chó để chăn nuôi và mới rồi anh lại tạu được một con trâu cái. Cơ ngũ của anh đang lên. Lần này anh về để đón vợ và 3 con đúng như anh đã hứa.

- Hai bác thông cảm. Phải xa quê cha đất tổ, có lẽ là điều không ai muốn. Nhưng hoàn cảnh của em nó thế, bắt buộc em phải thế - Trực trút hơi thở dài đánh sượt, giọng anh trầm xuống, ướt nhòe nước mắt -  Thôi thì ở đâu làm ăn được ở đấy là quê hương vậy.

Nói xong câu ấy, Đào Văn Trực ngồi im. Hình như Trực sắp bật khóc. Anh chớp chớp mắt. Hai giọt nước to tròn, đùng đục lặng lẽ lăn trên má Trực…

Nghe Trực nói, nhìn Trực âm thầm khóc, tôi và Lê Minh Sếp cảm động ngồi lặng đi. Không rõ là nghe xong câu chuyện của Đào Văn Trực, đồng chí Trưởng Ban Tuyên giáo này đang nghĩ gì? Còn tôi? Tôi thầm hỏi: Tại sao cũng vẫn là con người ấy mà ở nơi này thì khổ, khi đến nơi kia lại không khổ nữa? Còn cái gì nữa ngoài yếu tố lao động cơ bắp ra, anh Lê Thiệp ơi, anh có biết chăng???

 

 

 

 

 

 

 

HƯỚNG ĐI TỪ MỘT VÙNG QUÊ NGHÈO

             

... Các cụ quê tôi bảo, phần lớn xã Hải Lựu ngày nay là làng Bạch Lưu Hạ ngày xưa. Từ xưa Bạch Lưu Hạ đã có tiếng là vùng quê nghèo của huyện Lập Thạch. Đó là một làng quê bám chênh vênh bên bờ con sông Lô, gồm mấy chục nóc nhà nằm chen chúc, mái gianh nhà nọ gối đầu lên mái gianh nhà kia. Mùa hanh khô, chẳng may nhà nào đó bị cháy là thế nào cũng kéo theo thêm vài nhà nữa cùng chung số phận.

Người dân làng Bạch Lưu Hạ chủ yếu sống bằng nghề làm ruộng. Nhưng ruộng ít, lúa ít nên người ta phải sống thêm bằng nghề sơn tràng. Nghĩa là bà con rủ nhau lên rừng hái củi, lấy dây tết quang gánh, đục cối đá... đem bán kiếm thêm tiền đong gạo. Tuy làm “anh” nông dân nhưng quanh năm sống bằng gạo chợ, nước sông. Dẫu có đổ mồ hôi, sôi nước mắt nhưng cái đói, cái no lại phụ thuộc vào bàn dân thiên hạ. Cuộc sống vất vưởng thế nhưng được cái không có ai bỏ làng đi tìm sự an nhàn, no đủ riêng cho bản thân mình. Dường như người dân Bạch Lưu Hạ càng nghèo lại càng bìu ríu thương nhau. Và, càng thương nhau lại càng không dám xa nhau để đi tìm nơi nào đó khả dĩ sống dễ chịu hơn, kể cả cái năm đói “ bốn lăm” làng chết mất trên ba mươi người. Phải đợi đến thời kỳ chống Mỹ, chỉ vì sợ bom đạn của thằng giặc trút xuống đầu, đồng thời không thể chịu nổi cảnh lụt lội mỗi mùa nước lên mà có một số hộ mới liều mạng rời làng vào trại. Họ phá rừng, làm nương, bới đất lật cỏ để sinh cơ lập nghiệp. Cư dân Hải Lựu mới giãn ra, đông dần lên từ đấy...

 Người ta còn nhớ cái thời đâu đâu cũng “Chiêm mùa cờ đỏ ven đê/ Sớm trưa tiếng trống đi về trong thôn”, những người lãnh đạo chủ chốt của Hải Lựu lúc bấy giờ không cam chịu để người dân quê mình chịu cảnh đói nghèo mãi, họ mới cơm nắm, cơm gói ra khỏi làng, đi tham quan, kiểu như tầm sư học đạo. Khi trở về họ đã phát động nhân dân làm thủy lợi. Bằng quang sọt, cuốc xẻng và đôi vai của mình, người dân Hải Lựu đã khoanh bờ vùng, bờ thửa, đã đắp hồ chứa nước, đã đào kênh mương, đoạn để dẫn nước, đoạn để chống xói mòn... Vậy mà vụ mùa vẫn bấp bênh, vụ chiêm vẫn là chiêm... bao! Lúa đang phơi màu, trời không mưa là coi như mất trắng. Lúa sắp đỏ đuôi chỉ cần một cơn mưa đã lại trắng tay. Chả biết ở những đâu làm chủ được thiên nhiên chứ ở Hải Lựu thì hoàn toàn bị thiên nhiên chi phối, thiên nhiên khống chế. Có lẽ bởi vậy mà cái đói, cái nghèo chẳng mấy năm buông tha cho Hải Lựu? Nói đâu xa, sau 2 năm vỡ đê vô khối người dân Hải Lựu phải tay dao, tay thuổng cuốc bộ trên 20 cây số vào tận núi Bầu, núi Thét đào củ mài, đánh cây đao đem về nuôi nhau cho qua những ngày giáp hạt.

Anh tính, thời nào chả thế. Ở đâu chẳng thế, dân có giàu thì nước mới mạnh. Dân Hải Lựu nghèo nên xã Hải Lựu cũng nghèo. Mà nghèo thì thường đi với hèn. Làm anh cán bộ một xã nghèo vốn đã lắm điều cơ cực nay lại nghèo trong lúc đâu đâu cũng đua nhau làm giàu thì điều cơ cực kia càng nhân lên gấp bội. Chưa nói đến nỗi băn khoăn, trăn trở mỗi khi nhìn thấy người dân quê mình phải đi chạy ăn, khu nghĩa trang còn quá sơ sài, hãy chỉ nói đến chuyện đi họp huyện, anh em xã bạn họ phóng xe kích, cúp vèo vèo, còn mình thì gò lưng đạp cái xe xích nhão, lốp “bó bột” mà tủi thân. Lắm bận đến muộn, đành cười trừ mà chống chế: “Mong các sếp thông cảm cho đồng bào vùng sâu, vùng xa”. Trong hội nghị, xã người ta giàu, người ta nói to lắm, cười to lắm, bắt tay chặt lắm. Còn mình thì ngồi lặng lẽ một góc trong hội trường, có nói, có cười cũng chỉ dám nói cười nho nhỏ thôi. Vẫn biết không ai bắt mình phải thế nhưng cái lòng tự trọng, cái liêm sỉ của anh cán bộ có tâm bảo anh phải ứng xử thế. Nghĩ lắm lúc buồn và ức đến phát khóc lên được, anh ạ.

Đồng chí chủ tịch xã nói đến đấy thì ngừng lời. Anh châm đóm hút thuốc lào và uống nước, rồi ngồi lặng đi.

Là người đã đi qua trong chiến tranh, tôi hiểu và cảm thông với nỗ băn khoăn, day dứt của các anh. Các anh làm lãnh đạo chủ chốt của xã Hải Lựu hiện nay hầu hết là những chiến sĩ bộ binh, đặc công, thông tin trong chống Mỹ, cứu nước... Khi chiến tranh kết thúc, họ xin “giã từ vũ khí”, kẻ trước người sau trở về với “ chùm khế ngọt’ của mình. Ai cũng ước ao sẽ đem sức lực của mình góp phần cải tạo quê hương, đưa bà con vượt qua cảnh đói nghèo, túng thiếu. Những tấm huân, huy chương cùng những vết sẹo trên cơ thể họ đã là “tấm bằng tốt nghiệp” về lòng tin yêu của bà con đối với người đã có một thời cầm súng vì nước, vì dân. Chả thế mà, đâu phải bỗng dưng, mươi năm nay các anh đều được Đảng cử, dân bàu làm người đứng mũi chịu sào của một xã? Ước mơ là thế mà lại chưa làm được bao nhiêu cho dân nhờ thì điều băn khoăn, trăn trở càng trở nên nhức nhối.

Nhìn đồng chí chủ tịch xã - Người chiến sĩ năm xưa, chỉ vì tấm lòng nặng nợ với quê nhà mà cách đây hơn 10 năm đã từ chối kết hôn với một cô gái Sài Gòn, đang cúi đầu trầm ngâm, nghĩ ngợi, tôi lại hỏi:

- Sau mười năm làm chủ nhiệm, làm Bí thư giờ đương nhiệm chủ tịch xã, theo anh, tại sao Hải Lựu lại chưa “ngóc đầu” lên được?

Như đã nghiền ngẫm điều tôi vừa hỏi từ lâu nên chủ tịch xã trả lời ngay:

- Nhiều lý do thuộc về chủ quan, khách quan lắm anh ạ. Để làm sáng tỏ vấn đề này, năm ngoái anh em chúng tôi đã tổ chức một hội nghị, kiểu như “Hội nghị Diên Hồng” của ông bà mình ngày trước, gọi là hội nghị tháo gỡ khó khăn cho quê hương. Hôm ấy các đồng chí là đảng viên lão thành của địa phương, các đồng chí từng là cán bộ cấp huyện, cấp tỉnh, bộ đội về nghỉ hưu, về phục viên... phát biểu hăng lắm, với nhiều gợi ý hay lắm. Nhưng đọng lại sâu sắc nhất trong đầu tôi là vấn đề hoàn cảnh. Hoàn cảnh nói ở đây là vấn đề địa lý Anh biết đấy. Hải Lựu là vùng quê bán sơn địa: Đồi rừng thì xen kẽ, ruộng đất thì bạc màu, lầy thụt. Đồi gò thường có độ dốc trên 15 độ, lại gần sông, thành thử bị úng lụt liên miên. Mùa màng được mất là tùy thuộc vào ông trời.  “Cụ” cho ăn thì được. “Cụ” bắt nhịn thì phải treo niêu! Bởi vậy, muốn thoát khỏi cảnh đói nghèo thì nhất thiết Hải Lựu phải giải quyết được khâu thủy lợi. Phải đi lên từ thủy lợi. Nghĩa là phải giải quyết được khâu tưới, tiêu cho đồng ruộng

Điểm cần tháo gỡ hay là hướng đi cho một vùng quê nghèo coi như đã rõ. Nhưng đào đâu ra vốn? Bây giờ chả cứ gì người đi buôn mới cần vốn mà người làm ruộng cũng cần phải có vốn mới tính chuyện làm ăn được, huống hồ đây là việc tày đình, nhẩm tính tiền triệu cũng phải đến hàng trăm. Thời bao cấp, Hợp tác xã còn có nguồn thu, còn có vốn, giờ kho tàng rỗng không. Chính quyền cũng vậy, thu không đủ chi mấy đồng lương còm cho cán bộ xã. Còn bà con mình thì nghèo. Vả lại, huy động vốn của nhân dân vốn đã không dễ lại thêm “dịch hụi” khắp nơi khiến nhiều người lo ngại, không tin. Hay là vốn của Nhà nước? Chắc chắn cũng không đơn giản. Ngân hàng cũng giống như anh nhà giàu, họ nhìn mặt mới cho vay. Mà khuôn mặt Hải Lựu lại thuộc loại không có máu, lấy gì để thế chấp mà cho vay? Thế mới thấm thía cái câu “cái khó bó nó cái khôn” đến thế nào!

Chủ tịch xã ngừng lời, lại nhẩn nha hút thuốc lào, uống nước làm tôi sốt ruột phải hỏi:

- Vậy làm sao các anh lại có vốn, theo chỗ tôi biết, không chỉ đủ làm thủy lợi mà còn làm đến điện thủy lợi?

Nhả khói trắng mù trước mặt, vẫn cái giọng trầm đục, chủ tịch xã kể tiếp:

- Cũng là chuyện tình cờ. Ở đời có nhiều chuyện tình cờ mà lại nên cơm nên cháo lắm chứ anh. Số là ở quê tôi có một ông cán bộ trên tỉnh, thương quê nghèo mới mách nước cho chúng tôi, không phải đi vay mà đi xin vốn. Nghe ông ấy, chúng tôi liều đi công cán một chuyến xem sao.

Khi mới vào cuộc, giờ nghĩ lại thấy mình vừa hăng, vừa liều. Nghe đồn bây giờ đi “giao địch” người ta coi trọng cái hình thức ghê lắm. Họ đón khách đi ô tô trước, khách đi xe máy sau, còn thời gian mới đến anh đi xe đạp. Mọi sự ưu ái cũng phải xếp theo cái thứ tự ấy. Anh em chúng tôi, như anh thấy đấy, chỉ có mỗi cái xe đạp cà tàng thì có khác gì “ đơm đó ngọn tre”. Nhưng thực tế lại không phải thế anh ạ, hay là ở huyện tôi không thế. Đồng chí chủ tịch huyện,, cùng các anh ở các phòng, ban trên huyện đã ưu tiên làm việc với một xã vừa nghèo, vừa ở xa huyện trước. Thế rồi sau nhiều lần phân tích đi, phân tích lại, lại cũng thấy rằng, cấp vốn cho Hải Lựu xây một cái trạm bơm điện bên bờ sông Lô để phục vụ cho công tác thủy lợi là có lý, có tình. Đồng chí chủ tịch còn giao cho Hải Lựu hai việc để thử thách quyết tâm của chúng tôi: Đó là đắp một đoạn đường từ Hải Lựu đi Lãng Công dài 300 mét và đào đắp một con kênh ở đập Suối Sải với khối lượng 6. 000 mét khối! Chủ tịch hẹn thêm: Hai việc không lớn này, nếu các đồng chí tổ chức được thì huyện mới tin, mới giao vốn lớn, làm việc lớn.

Vì lẽ muốn có vốn lại thêm vì lẽ vốn có lòng tự trọng của người lính, thế là anh em chúng tôi tập trung dồn sức huy động vốn từ bà con, tập trung sức lực trong 2 tháng thì hoàn thành 2 việc mà chủ tịch huyện giao. Sau đó, giữ đúng lời hứa, trên “rót” vốn từng đợt về cho Hải Lựu. Với tư cách là bên A, chúng tôi đã giao công việc khảo sát, thiết kế toàn bộ đường điện cao thế, hạ thế, trạm biến áp, lắp đặt thiết bị và máy bơm cho “xí nghiệp Dịch vụ cơ điện thủy lợi tỉnh” đảm nhận. Phần xây trạm bơm, đào đắp hệ thống kênh mương do chúng tôi tự lo. Có lẽ mời anh uống nước rồi anh em mình đi thăm công trình một chút.

Đây là lần thứ 2 tôi lên Hải Lựu. Lần sau cách lần trước chỉ một vòng quay trái đất... Vậy mà xem ra khuôn mặt Hải Lựu giống như người mới ốm dậy đang ở thời kỳ hồi sức. Đồi, gò, rừng của Hải Lựu vẫn nằm gối đầu lên nhau nhấp nhô thế nhưng nhờ có chính sách khoán và sự hỗ trợ vốn của tổ chức PAM mà rừng núi cũng như đồi gò đều xanh hơn, vẻ như trù phú, xum xuê hơn. Đồng ruộng của Hải Lựu vẫn là những cánh đồng nhỏ hẹp, nơi bậc thang, nơi lầy thụt, chạy ôm quanh dưới chân các trái đồi như trước, nhưng bông lúa dài hơn, mẩy hơn. Bên cạnh những thửa ruộng lúa vàng hoe là những vạt ngô đông và rau ngắn ngày chống đói tháng 3. Trên đường làng, đường liên thôn, liên xã mọc lên nhiều quán hàng, nhiều lò nung vôi, nhiều người đục và bán cối đá. Không khí làm ăn nhỏ thuộc các nghề thủ công và buôn bán nhỏ nhằm thu nhập thêm ngoài hạt thóc, củ khoai đang hình thành rất rõ ở Hải Lựu. Âu đó cũng là sự năng động, một hành động tự cứu mình của người dân. Đồng chí chủ tịch xã bảo, tới đây các anh sẽ khuyến khích bà con phát triển thêm các nghề phụ. Làm sống lại và cải tiến hơn nữa nghề làm đồ đá dân dụng truyền thống. Phải đưa người dân làm quen dần với sản xuất hàng hóa và kinh tế thị trường. Nhằm biến cái chợ quê từ hình thức chợ thành nơi giao lưu hàng hóa cho bà con nông dân. Các anh sẽ đầu tư vốn xây chợ ngoài bến sông để thu hút khách hàng từ Hà Giang, Tuyên Quang xuống, từ Bãi Bằng, Phong Châu sang. Nhưng trước mắt phải làm xong cái điện đã...

Công trình điện - thủy lợi đang được khẩn trương thi công. Tuy chưa kéo dây, điện chưa về nhưng trạm biến thế đã xây dựng xong. Những hàng cột điện trông như những người lính đứng trong hàng ngũ, giơ đôi cánh tay như chào mời, như vẫy gọi, như khích lệ người dân Hải Lựu hãy gắng lên. Sự khích lệ tưởng tượng ấy thực sự đã biến thành sức mạnh vật chất ở Hải Lựu.

Tôi cùng đồng chí chủ tịch xã đi ra bến Chảy. Ở khúc sông ồn ào sóng nước đầy vẻ hoang dã này của con sông Lô, Hải Lựu đã xả bạt 500 mét khối đất đá để xây và đã xây dựng xong trạm bơm điện với công suất 400 mét khối/ giờ. Từ trạm bơm chúng tôi lại đi dọc theo tuyến kênh mương. Do địa hình cao thấp khác nhau mà tuyến kênh phải, đoạn thì đào hạ thấp xuống, chỗ lại phải đắp tôn cao lên. Từ tuyến kênh chính này có rất nhiều mương “xương cá” và cống “xương cá” tỏa về các cánh đồng. Khi leo lên đến đỉnh đập hồ Khuôn, chủ tịch xã bảo tôi dừng lại nghỉ. Anh giới thiệu, đây là cái hồ được đào đắp từ những năm sáu mươi. Đứng ở độ cao này, chúng tôi nhìn thấy trạm bơm điện ngoài sông Lô và toàn bộ tuyến kênh mương mới được đào đắp của Hải Lựu tỏa ra chằng chịt trên những cánh đồng, y như những mạch máu trong cơ thể con người.

Chủ tịch xã giơ tay chỉ và hào hứng giới thiệu thêm:

- Kế hoạch của anh em chúng tôi là, từ trạm bơm kia sẽ đưa nước tưới theo 2 tuyến: Một, bơm về chứa ở hồ Khuôn. Rồi từ hồ Khuôn đưa nước về đồng Chăm, đồng Mọc, đồng Len... Một, thẳng về các cánh đồng như đồng Soi, đồng Him, Gò Hội, Trũng Hóp, đồng Dừa... Nay mai, khi công trình đưa nước vào sử dụng, trước mắt chúng tôi đảm bảo tưới tiêu cho 210 ha ruộng, trong đó có một số diện tích từ một vụ chuyển thành hai vụ, thành ba vụ. Sau đó kết hợp với các loại giống mới, chúng tôi sẽ cho thâm canh và thay đổi dần cơ cấu mùa vụ. Để hoàn thành công trình, Hải Lựu còn phải huy động nhân công và vốn sửa chữa, đào đắp mới 4 cây số kênh mương với khối lượng 12.000 mét khối đất đá, xây mới 36 cống lớn, nhỏ...

- Bằng vốn tự có hả anh? - Tôi hỏi chen ngang.

- Vâng, bằng vốn tự có. Tự có của tập thể một phần, còn một phần, mà phần chủ yếu là của xã viên - Như đoàn biết tôi chưa thật hiểu, chưa thật tin, chủ tịch xã giải thích - Đó là số công của nhân dân. Bà con cứ đi làm, cứ đưa vật liệu ra xây dựng mà chưa đòi tập thể thanh toán ngay. Cái vốn tiềm ẩn này trong nhân nhân đối với chúng tôi là lớn lắm, quý lắm.

Tôi gật đầu công nhận và góp phần lý giải:

- Điều lớn hơn, có thể coi đây là vốn của lòng tin của bà con đối với người lãnh đạo. Làm sao các anh lại được dân tin, dân ủng hộ?

Hẳn là đồng chí chủ tịch xã chưa một lần nào tự đặt ra câu hỏi này cho mình, vậy nên nghe tôi hỏi anh mới ớ người ra. Nhưng chỉ một thoáng sau anh lại trả lời tường tận ngay được:

- Là người lính trở về, sau mấy năm làm việc cho dân, tôi nghiệm ra điều này: Phàm những việc mình làm đều xuất phát từ lợi ích của dân, hợp với lòng dân thì đều được dân tin, dân ủng hộ. Làm công trình điện thủy lợi là vì hướng đi lên của quê hương, là vì cơm no, áo ấm của dân... cho nên dân mới hết lòng ủng hộ. Cấp trên tinh lắm, nhân dân cũng tinh lắm. Mình mà làm ngược lại lợi ích của dân thì sẽ bị dân phản đối, dân chửi cho không có tai mà nghe chứ nói gì đền chuyện đồng tình, ủng hộ.

Là người đã qua cái tuổi bồng bột nhưng nghe chủ tịch xã nói vậy, không thể kìm giữ nổi tình cảm của mình, tôi nắm lấy tay anh vừa siết chặt, vừa vồn vã khen:

- Đúng quá! Đây mới thực sự là yếu tố quyết định cho hướng đi của một vùng quê nghèo vươn đến cái đích ấm no, hạnh phúc.

 

 

 

 

 

 

 

NỬA ĐÊM LẠ LÙNG

Không biết tự bao giờ ở làng này lại có câu: “Gái thôn Đông ăn cơm với chồng một bữa, ngủ với chồng nửa đêm”? Câu nói ấy từ ngày xưa đã đúng, lâu nay vẫn đúng, và bây giờ càng đúng. Bởi vì hầu hết gái thôn Đông đều đi buôn. Họ ra đi đem hàng đến bán ở các chợ trong huyện từ lúc gà gáy. Chợ tan, cuốc bộ về đến nhà thì đã quá ngọ sang chiều. Thành ra họ chỉ được ăn cơm với chồng vào bữa tối, được ngủ bên chồng từ chập tối tới lúc sang canh.

Như nhiều cặp vợ chồng khác, vợ chồng anh Lục, chị Thường cũng rơi vào cảnh sống tương tự của cả làng. Có điều khác là họ còn trẻ. Anh chồng mới 30, chị vợ mới 28. Và chỉ có hai con: một trai, 1 gái. Vừa có nếp, có tẻ, vừa đúng kế hoạch “trên giao” thật còn hạnh phúc gì hơn. Hai, ba năm trước đây, dạo mới được bố mẹ cho ra ăn riêng, họ còn nghèo. Nhờ anh chồng chịu khó, chị vợ đảm đang mà họ ăn nên làm ra rất nhanh. Càng giàu họ càng vui, càng ham việc. Anh Lục ngoài việc nhận làm “khoán sản” với hợp tác xã, tối tối anh còn tranh thủ nhào đất, đóng gạch ùm ụp suốt đêm. Chị Thường đi chợ thì thôi, về đến nhà là lúc ở ngoài đồng, lúc ở ngoài vườn cuốc cuốc, xới xới, tối vào lại cám bã lợn gà… mải mê với công việc nên tuy còn trẻ mà có khi cả tháng vợ chồng chẳng “gặp” nhau lấy một lần. Anh Lục thì khả dĩ dễ hiểu, bởi khẩu hiệu của vợ chồng anh là: “Phải thắt lưng buộc bụng. Tất cả cho làm giàu”. Anh làm hùng hục như trâu húc bờ lại không dám ăn uống tẩm bổ gì nên người còm nhom như con ếch đói. Thế là cái “nghĩa vụ kia” đối với vợ anh ta cũng quên luôn. Ngược lại với chồng, là gái hai con, chị Thường vẫn tươi giòn lắm. Đi buôn đi bán vất vả thật nhưng bữa trưa ăn đồng quà tấm bánh cũng có chất hơn nên chị vừa khỏe, vừa béo, hai má lúc nắng cứ đỏ hây hây. Tuy thế, khi không thấy chồng “hỏi gì” chị cũng quên luôn đòi “cái của nợ”. Thường thì công việc buổi tối xong, mặc anh đóng gạch ngoài sân, chị ôm đứa con nhỏ vào buồng nằm một lúc là ngủ ngay được. Ngủ một giấc dài, thật sâu cho tới khi tiếng chuông đồng hồ “leng keng” báo thức, chị bừng tỉnh dậy, sắp xếp hàng họ để đi chợ. Đứa con nhỏ chị lại bế ra đặt cạnh bố đang ngủ mê mệt trên tấm giường phản ở nhà ngoài. Chị sẽ sàng khép cửa lại rồi đi mà không cần dặn dò gì. Họ sống mãi cái cảnh ấy nên quen rồi.

Hôm nay là phiên chợ Thiên, chị Thường đi bán bắp cải. Rau đầu mùa năm nào chả thế, gọi là đắt bay khói! Chị Thường vừa xếp những cái bắp cải đã được ngâm dưới ao uống nước no nê vào hai cái sọt vừa nghĩ thế, vừa mừng. Nếu “trúng” vụ rau này nữa thì gì chứ, vợ chồng chị đủ tiền mua một cái tủ buýt - phê lùn là cái chắc. Bằng mọi cách phải làm giàu! Thời buổi này không giàu thiên hạ người ta cũng khinh. Ý nghĩ này khiến chị Thường dù ngồi trên cái xe phía sau thồ hai sọt rau bắp cải đầy có ngọn mà vẫn đạp băng băng.

Đêm hạ tuần có trăng sáng, lại thuộc đường như lòng bàn tay nên chị Thường càng hăng hái đạp mà không sợ ngã. Đi chợ phải đi sớm. Có đi sớm mới chiếm được chỗ ngồi. Vị trí ngồi trong chợ quan trọng lắm. Phải ngồi ở phía đầu chứ ngồi giữa với cuối chợ, có mà đem hàng về.

Chị Thường đến chợ thật sớm, tầm này quá lắm mới 3 giờ sáng là cùng. Chị thoáng trách mình sao hôm nay lại đi sớm thế? Nhưng chỉ thoáng trách thôi chứ có đi sớm thế này mới không sợ mất chỗ ngồi lại đỡ mất mấy trăm mua vé vào chợ thì có đi sớm cũng chả thiệt gì!

Chị Thường dựng xe đạp vào cột tre của một cái quán đoạn lôi tấm ni - lông trải ra tranh thủ làm thêm một giấc. Về sáng trời se lạnh, chị nằm co lại như con tôm rang. Lát sau, một giấc ngủ hết sức dịu nhẹ và dễ dàng đã đến với chị.

Nhưng chị Thường đã giật mình tỉnh giấc bởi chị linh cảm như có ai đang đứng nhìn mình. Chị hốt hoảng ngồi bật dậy. Tưởng ngủ mơ hóa ra có người thật. Nhưng tưởng ai mới sợ chứ người đó là anh Hàm thì có gì mà sợ.

Tuy quê ở xa chợ Thiên đến một giờ đạp xe nhưng chả có phiên chợ nào chị Thường vắng mặt. Vì thế với anh Hàm chị là chỗ người quen cơ đấy. Vậy thì chị không sợ cũng chẳng có gì là lạ.

Hàm là một chàng trai trên 30 tuổi, nhưng chưa vợ. Mà cũng có thể nói rằng, Hàm không có vợ. Bởi Hàm câm từ bé. Khổ, người trông khỏe mạnh, đẹp trai lồng lộng thế kia mà “ông trời” lại bắt câm. Dường như biết mình là người tật nguyền nên Hàm ăn ở rất tốt với mọi người. Bằng sức lực của mình, hắn làm thuê được vô khối việc. Thấy hắn làm khỏe, công lại rẻ, trả thế nào cũng xong nên ai cũng muốn thuê. Vào những phiên chợ Thiên, hắn thường ra đây quét chợ, rồi bốc hàng cho các bà, các cô đi buôn… Công việc nhì nhằng vậy mà trừ ăn tiêu hàng ngày đi hắn cũng ki cóp được số tiền kha khá phòng khi ốm đau, bệnh tật sẽ có mà dùng. Hôm nay sao Hàm ra chợ sớm thế? Chắc là mới ngủ dậy Hàm đi ngay nên hắn chỉ mặc cái quần đùi, còn cái áo bộ đội tàu tàu của ai cho thì vắt trên vai. Dưới ánh trăng hạ tuần, nhìn hắn khỏe đẹp như bức tượng. Những bắp thịt trên đùi, trên tay, trên ngực hắn nổi cuồn cuộn, bóng láng như tráng một lớp đồng đen.

“Sao hôm nay ra sớm thế?” Không rõ hắn có nghe được không còn nói thì không rõ rồi nhưng chị Thường vẫn cất tiếng hỏi Hàm. Và, bằng một động tác, chị ra hiệu bảo Hàm gỡ hai sọt bắp cải ra. Hàm hiểu và làm việc đó rất nhanh. Thấy hắn đã xếp hàng xong như ý định của mình, chị Thường móc cái túi may liền trong quần lấy ra 500 đồng đưa cho Hàm. Hàm lắc đầu tỏ ý không nhận “Gớm! Hôm nay bụt lại chê oản. Hay chê ít? Hay là muốn gì?” - Chị thường hỏi hắn. Hàm không “nói” mà chỉ nhìn chị, nhìn xoáy vào cổ chị, phía trên cái hõm của hai bầu vú, lúc ngủ cúc áo bị tuột ra, nom trắng ngần. Cảm nhận được cái nhìn như biết nói của Hàm, chị Thường thoáng nóng mặt. Chị đóng vội cúc áo lại và ngồi thụp xuống, xua tay ra hiệu bảo Hàm: “Xong việc rồi, đi đi”. Nhưng Hàm không đi. Hàm vắt áo lên ghi-đông xe và hắn vẫn đứng im nhìn chị Thường.

Trời vẫn còn khuya lắm. Vắng vẻ quá. Quanh đây chỉ có tiếng giun dế rỉ rả kêu và xa xa phía trong làng vọng ra xao xác mấy tiếng gà gáy báo canh ba, canh 4 gì đấy. Hình như càng về sáng trăng hạ tuần càng sáng tỏ hơn. Bởi thế chị Thường càng nhìn rõ cặp mắt đen, sáng rất đẹp của Hàm. Từ cái nhìn ấy của Hàm, bằng sự nhạy cảm của người đàn bà đã hai con, chị Thường hiểu Hàm đang muốn gì ở mình. Trời ơi, chị muốn bỏ chạy, muốn lẩn trốn trước cái nhìn ấy của Hàm mà không thể chui xuống đất được. Mà sao lúc này chị lại nhìn thấy ở Hàm vẻ đẹp trai, khỏe mạnh quá. Cái cặp đùi vạm vỡ vẻ chắc nịch của Hàm đứng sừng sững ngay trước mặt chị, chợt đánh thức trong chị bừng lên một nỗi khát khao, thèm muốn. Chị nhìn Hàm. Hai ánh mắt giao nhau dưới ánh trăng, không nói gì mà như nói lên được tất cả.

Bất thần Hàm ngồi thụp xuống bên Thường. Hắn ôm ghì lấy Thường. Hai cánh tay rắn chắc như hai thanh sắt của Hàm ôm gọn Thường trong lòng. Đã đến nông nỗi này dù có muốn quẫy cựa, Thường cũng không thoát ra được nữa. Người Thường như mềm nhão ra, nóng rực lên. Chị để mặc hắn hôn như mưa trên mặt, trên mắt, trên môi mình. Bất thần hắn lại xô chị ngã ngửa ra trên tấm ni-lông trải từ lúc nãy. Rồi như một con thú đã vồ được mồi hắn cắn vào đùi, vào ngực Thường. Thường không thấy đau. Chị đắm mình trong cảm giác đê mê. Chị tự nguyện uốn cong người dâng hiến cho Hàm...

Giống như đứa trẻ khát sữa đã được bú no nê. Hàm lăn ra ngủ. Còn chị Thường, cơn lửa tình bùng cháy đã tàn, chị cũng mệt mỏi thiếp đi, rồi bất chợt ngồi dậy mặc vội áo quần, chải lại mái tóc rối tung, đoạn quay lại nhìn Hàm. Hắn vẫn ngủ như chết. Miệng hắn há ra, đầu ngoẹo sang một bên. Ôi, lúc nãy hắn cường tráng bao nhiêu thì nay hắn tiều tụy, mềm nhão bấy nhiêu. Bỗng chị thấy ghê sợ Hàm, căm ghét Hàm. Không thể ở đây đến sáng để trông thấy Hàm lần nữa. Chị hấp tấp đứng dậy, xếp vội những cái bắp cải vào sọt. Chị phải về hoặc là đi chợ khác. Ý nghĩ ấy giục Thường đặt sọt rau lên cái móc hàng, rồi cầm ghi-đông xe định dắt đi thì bắt gặp cái áo của Hàm. Cái áo có mùi mồ hôi chua chua, hai túi căng phồng. Chị mở nắp túi lôi ra. Trời ơi! Hàm có nhiều tiền quá, toàn tờ loại 5.000 đồng. Phải có tới vài trăm ngàn, thừa sức để mua một cái tủ. Không chần chừ, Thường nhét tất cả số tiền ấy vào túi quần mình. Còn tấm ni-lông? Thôi bỏ! Đáng là bao nhiêu mà đánh thức Hàm dậy? Dậy, nhỡ hắn đòi tiền và lại “đòi”… nữa thì chết. Phải biết thả con săn sắt bắt con cá sộp chứ? Bụng bảo dạ như vậy, Thường lấy tấm áo của Hàm đắp lên người Hàm đoạn lặng lẽ dắt xe đi. Vừa đi Thường vừa ngoái lại nhìn Hàm. Mặt đất rõ bằng mà chị ta vấp, suýt ngã mấy lần.

Trời đã rạng sáng. Có lẽ Hàm thức giấc bởi có tiếng chim hót ngay trên nóc quán và tiếng cười nói lao xao của mấy bà đi buôn đến chợ sớm. Hắn ngồi dậy, bàng hoàng nhớ lại chuyện đêm qua… Mơ hay tỉnh nhỉ? Hình như là hắn ngủ mơ. Mấy năm nay nhiều đêm Hàm vẫn mơ như thế. Nhưng tới khi Hàm sờ vào túi áo có hơn 200 ngàn đồng dành dụm từ vài năm nay mới có được không còn nữa thì hắn tỉnh hẳn ra. Ai móc túi tiền của Hàm? Hẳn là cô hàng rau chứ còn ai vào đây nữa. Cô ta đâu rồi? Hàm nhớn nhác tìm. Nhưng hắn chỉ thấy toàn người lạ. Chợt nhớ đến công việc của mình, Hàm đi lấy chổi. Bỗng hắn thấy đau đau ở ngực, Hàm cúi xuống nhìn thì đó là vết cắn của cô hàng rau lúc làm tình với hắn. Hai hàm răng của cô giờ là hai vệt bầm tím, chạy song song trên vầng ngực nở nang của Hàm…

 

 

 

 

 


 

 

 

 

Trần Hải