NHIỆT LIỆT CHÀO MỪNG NGÀY NHÀ GIÁO VIỆT NAM 20/11!
Từ khóa tìm kiếm Từ khóa tìm kiếm

TIỂU THUYẾT VĨNH PHÚC - Tuyển tập tác phẩm đoạt Giải thưởng Văn học Nghệ thuật 1997 – 2016, (phần 5)

(Ngày đăng: 19/01/2018, số lượt xem: 108)

 

 

 

CHƯƠNG NĂM

 

1. Thời gian mãn tang bà nội đã tới. Thứ xin phép cơ quan về “thay nhà” cho bà. Những ngày này, bà như đang sống bên anh. Đêm ngày, anh luôn nghĩ đến bà. Đời bà khổ đến thế là cùng. Bà sống trong đói nghèo để nuôi con rồi lại nuôi cháu. Máu thịt của bà san sẻ cho con, cho cháu. Bà chưa một ngày được nghỉ ngơi. Cả đời bà chỉ biết làm bạn cùng dưa muối và khoai sắn.  Quần áo của bà đều nhuộm bằng củ nâu lấy trong rừng nên rất cứng. Mặc dù kinh tế còn nhiều khó khăn, eo hẹp, túng thiếu nhưng anh phải xây cho bà ngôi mộ thật khang trang, đẹp đẽ để tỏ lòng biết ơn và xứng đáng với công lao của bà.

Trước khi về quê sang cát cho bà, Thứ có nói chuyện với An và má Khang. Bà Khang và An không cầm được nước mắt. Cả hai đều muốn về thăm quê, thăm mẹ, thăm nội lần cuối. Nhưng bà Khang và An đều băn khoăn thời gian Thứ thông báo gấp quá, cái chính là danh chưa chính, ngôn chưa thuận, vì tất cả đều phải giấu kín, nói ra lúc này chưa thích hợp về nhiều mặt. Bàn đi, tính lại, bà Khang và An quyết định gửi ít tiền nhờ Thứ lo thay nhà cho bà và hương khói cúng bà. Đó là tấm lòng trở về nguồn, sự báo ơn và đạo lý làm con, làm cháu. Thứ suy nghĩ rất nhiều, không báo cho má Khang và An thì bị quở trách.  Báo cho má Khang và An mà không về thăm quê, thăm nội được thì lại ân hận, bận tâm suốt cả đời. Tấm lòng của má Khang và An là đáng quý, đáng trân trọng. Không nhận lễ sợ họ buồn, nhưng nhận thì về nhà biết nói với mẹ và gia đình làm sao đây? Khó quá! Nhưng má Khang và An nói mãi, anh đành phải nhận tiền, nhận lễ để mua hương hoa cúng bà. Giải quyết như thế là được cả đạo lý và tình cảm. Cuối cùng anh không nỡ từ chối.

Về tới nhà, Thứ bàn ngay với mẹ, lần này không chỉ thay nhà và xây mộ cho bà mà xây luôn cả mộ ông nữa, đưa ông bà về ở bên nhau. Ông ra đi từ rất sớm, tuổi hãy còn trẻ lại rất vội vàng. Ông, bà xa cách nhau thời gian khá dài. Bây giờ ông bà mới được đoàn tụ, sum họp chắc ông bà vui lắm. Ở vùng quê này việc xây mộ bằng gạch trát vữa xi măng kiên cố vẫn là giấc mơ của nhiều gia đình. Không chỉ xây mộ, Thứ còn thuê khắc bia đá từ Sài Gòn mang về đặt trên mộ chí của ông bà. Nghe anh bàn vậy, mẹ anh vui lắm. Nét mặt của mẹ  rạng rỡ, như trẻ lại. Mẹ kể với con: Đến ngày mãn tang, thay nhà cho bà, mẹ rất lo. Đêm ngày chẳng ngủ nổi, đôi mắt cứ chong chong từ lúc chập tối đến sáng. Mẹ muốn xây cho bà ngôi mộ thật to, thật đẹp hơn tất cả mọi người để tạ lỗi với ông bà nhưng tiền bạc có hạn. Mặc dù vậy, mấy năm nay, mẹ ăn uống rất hà tiện, tiết kiệm từng đồng xu. Nay được con nói thế, lòng mẹ cứ lâng lâng như đang bay trên không trung.

Việc làm của mẹ con Thứ được tất cả anh em nội ngoại và dân làng khen ngợi và khâm phục. Anh nhớ rất kỹ khi áo quan vừa mở. Anh thấy bà như đang tươi cười với anh. Bà vụt bay lên, ôm anh vào lòng. Bà vuốt vuốt mái tóc, sờ lên mặt và nắn tay chân anh. Bà nói: Cháu bà béo khỏe và đã trưởng thành. Bà vui lắm. Rồi bà cười tít mắt nói tiếp: Bà mãn nguyện lắm. Bà đi đây! Anh vội nói: Bà ở nhà chơi với cháu đã. Bà cười, hai má rung rung. Anh nắm tay bà... không thấy bà đâu.

Anh bước xuống huyệt, nhặt từng đốt xương xếp vào tiểu sành. Còn thiếu mấy đốt xương tay, xương chân, anh cố tìm cho bằng được, cho dù phải ngồi lâu dưới huyệt. Anh lau từng đốt xương cẩn thận và sạch sẽ, Anh làm với tất cả tình cảm và lòng biết ơn đối với bà.  Việc làm của anh đâu khó khăn, vất vả bằng bà khi cõng anh trên lưng suốt ngày. Lúc anh đói sữa, dỗ cháu không nổi bà vạch vú cho anh bú. Không có sữa, cháu khóc, bà khóc. Bà nhịn ăn, nhịn mặc để nuôi anh đi học.

Khi mọi việc đã xong, anh nói với mẹ:

- Lần này mẹ đi với con chứ?

  Mẹ anh cười. Mẹ chẳng còn lý do gì để từ chối lời thỉnh cầu rất chính đáng của con nữa. Mẹ nhớ lời hứa của mình lắm chứ! Mẹ đã thưa với hai ông chú và ông cậu rồi. Các ông ấy bảo rằng:

- Cháu lo cho mẹ mồ yên mả đẹp, lại xây mộ cho cả hai ông bà kiên cố, khang trang, đẹp đẽ. Cháu rất xứng đáng là dâu thảo của họ Trần. Cả gia đình này, nói rộng ra cả làng này chưa ai làm được như cháu. Cháu luôn biết nghĩ về cội nguồn, mãi mãi là gương sáng để mọi người cùng noi. Chúng tôi rất tự hào về cháu. Cháu đi với thằng Thứ là rất phải. Khi mẹ cháu mới mất, nếu cháu đặt vấn đề này ra, chúng tôi cũng đồng ý liền, không phải chờ tới ngày hôm nay. Hai mẹ con cháu chờ đợi tới hôm nay là quá chu đáo rồi. Mẹ thưa:

- Các ông rộng lượng cho như thế, cháu xin cảm ơn. Phận làm con, làm cháu phải giữ đúng đạo lý, gia phong.

- Thưa mẹ! Con đề nghị với mẹ, đất đai nhà cửa và tất cả những đồ dùng trong gia đình, gửi tặng lại các em ngoài này, không cần tiền bạc gì cả. Mọi đồ dùng ở trong đó con đã mua sắm cả rồi. Chăn màn quần áo rét không cần mang theo. Sài Gòn không rét như ngoài này đâu.

- Được! Con mẹ  giỏi lắm! Những suy nghĩ của con rất hợp với ý của mẹ!

Vài ngày sau, mẹ Thứ đến nhà ông chú Tần nói:

- Thưa chú! Ít ngày nữa con vào Nam sống với cháu Thứ như đã thưa chuyện với chú và đã được chú cùng mọi người chấp thuận. Mẹ con con vui và cảm ơn chú cùng toàn gia quyến. Nhà cửa, đất đai, cháu nhường lại cho em Tấn con chú. Mọi đồ dùng trong gia đình như giường tủ, bàn ghế, xoong nồi, chăn màn cháu gửi tặng lại các em, các cháu. Ai cần thứ gì thì lấy thứ đó.

 Ông chú ngạc nhiên hỏi
         - Đất đai nhà cửa nhường lại cho thằng Tấn nhà chú, cháu định lấy bao nhiêu tiền?

- Gia đình nhà ta, duy nhất em Tấn là chưa có đất nhà. Mẹ con cháu tặng lại chứ tiền bạc gì đâu. Nói xong, mẹ đưa giấy chuyển nhượng đất đai, nhà cửa cho chú Tấn xem. Chú tròn xoe mắt nhìn mẹ:

- Mẹ con cháu tốt quá. Phúc đức cho nhà chú biết nhường nào. Bố con chú mãi mãi cảm ơn mẹ con cháu. Trước khi đi, mẹ con cháu tới ăn bữa cơm chia tay với gia đình chú để thể hiện tình cảm sâu nặng giữa người đi,  người ở.

- Cháu xin vâng.

Một buổi tối, mẹ khó nhọc, vất vả lắm mới nói với con trai:

- Thứ ạ! Từ khi mẹ về sống ở đất này, cả nửa đời người, mẹ chưa một lần về thăm bố mẹ và các em. Lần này, mẹ muốn đưa con về thăm ông bà ngoại và các cậu, các dì.

- Mẹ nghĩ thế là phải lắm. Nhưng tại sao đến bây giờ, mẹ mới nghĩ tới việc này. Quá muộn đó mẹ ạ! Con nghĩ, chắc có việc gì uẩn khúc mẹ giấu con nên cứ đắn đo, trăn trở trong lòng mãi. Vì thương mẹ con không nói, sợ động tới những kỷ niệm đau buồn của mẹ.

- Mẹ sẽ kể hết cho con nghe. Nhưng con phải hứa, giữ bí mật việc này, đừng nói với bất kỳ ai.

- Vâng! Vâng! Con xin hứa.

*

*      *

Bà kể :

- Cách đây lâu lắm rồi, dễ chừng gần ba mươi năm. Khi ấy Huyền còn rất trẻ, khoác trên mình đầy ắp những mộng mơ của tuổi học trò. Huyền vừa học xong lớp 10 (nay là lớp 12 PTTH). Huyền đem lòng yêu thương một người con trai. Tên anh là Dân. Anh hơn Huyền ba tuổi. Anh là sinh viên Văn khoa năm thứ ba của Trường Đại học sư phạm Hà Nội. Anh khỏe mạnh, đẹp trai và thông minh, học giỏi. Nhiều cô gái muốn có được tình cảm của anh. Nhưng Huyền là người duy nhất được anh quan tâm, yêu mến.

Tình yêu của anh, chị được nhen nhóm từ khi còn để chỏm cùng ngồi trên lưng trâu nghe chim hót, cùng đi hái sim và ăn sim. Được lệnh lên đường nhập ngũ, anh xếp bút nghiên, cầm súng đi đánh giặc, cứu nước. Anh được nghỉ phép nửa tháng. Anh muốn cưới Huyền trước khi lên đường đánh giặc. Nhưng Huyền chưa đồng ý không chịu vì chị còn mơ tới giảng đường đại học, mơ trở thành kỹ sư nông nghiệp, gắn bó với đồng ruộng để xây dựng quê hương ngày một giàu đẹp. Thời gian ấy, đêm nào, anh chị cũng đi chơi cùng nhau nơi hai người thường đến  nhưng là ở đồi sim của làng.

Đêm cuối cùng của đợt nghỉ phép, anh rủ chị lên đồi sim. Trăng sáng lắm. Trắng như tấm lụa vàng khổng lồ trải khắp đồi sim. Anh chị cùng ngồi dưới trăng. Ngắm trăng và thỏa thích uống trăng tan. Bao nhiêu ước mơ và tình cảm lứa đôi được phơi bày dưới trăng. Ánh trăng khuyến khích, thúc giục, kích động tình yêu đang ngùn ngụt bốc cháy. Đồi sim tràn ngập ánh trăng, Anh chị đã hiến dâng cho nhau tất cả. Anh là của chị. Chị thực sự là của anh. Ngày mai, khi bình minh tỉnh dậy, chị tiễn anh ra mặt trận. Hôm ấy, chị cố ý mặc chiếc áo màu tím hoa sim để được nổi bật trong đám con gái đưa tiễn tân binh. Và để nhắc nhở anh luôn nhớ về những kỷ niệm của đồi sim, đêm trăng chia tay. Chị hứa với lòng mình sẽ suốt đời chung thủy với anh. Nhưng cả hai chẳng dám nói gì với nhau mà chỉ đưa mắt nhìn nhau, bốn con mắt thay lời nói lên tất cả. Người đi giữ mãi màu tím áo em. Người ở lại cất giấu màu tím chung thủy chờ ngày gặp lại.

Ít lâu sau, chị phát hiện mình có thai. Tin chị có thai đến với bố mẹ anh. Gia đình anh khước từ giọt máu anh để lại. Chị bị bố đánh đập, xỉ vả vì cái tội không chồng mà chửa. Thời bấy giờ, chửa hoang được xem là tội lớn của đạo đức. Người ta truyền tụng lại rằng, ngày xưa mà chửa hoang thì phải gọt gáy bôi vôi, dắt đi bêu khắp làng rồi đem thả bè buông sông. Uất ức quá. Tủi nhục  quá. Xấu hổ quá. Vì muốn anh yên tâm đi chiến đấu, nếu chẳng may anh hy sinh thì anh cũng một lần được hưởng hương vị tình yêu nên chị đã tự nguyện hiến dâng.  Chị phải rời bỏ quê hương, lìa xa cha mẹ và các em ra đi. Đi đâu, chị chưa biết.

Chị nhớ. Đêm ấy. Cả nhà ngủ say. Xóm làng thật yên tĩnh. Chỉ có tiếng ngáy đều đều, lúc to, lúc nhỏ của bố mẹ và các em. Và tiếng chuột chạy đuổi, cắn nhau kêu chí chóe trên mái nhà. Xa xa, tiếng giun dế nỉ non. Chị lẻn dậy xếp đồ đạc vào túi xách. Nói là đồ đạc nhưng thực ra chỉ có vài bộ quần áo. Chiếc áo tím cất ở đáy túi xách. Chị chỉ có đôi khuyên vàng hai đồng cân và lấy cắp của mẹ mấy chục ngàn làm tiền ăn đường, đi tìm việc làm. Chị ngồi ở cửa nhà bếp chờ sáng thêm chút nữa. Chị đi rất nhanh, chân chưa kịp chạm đất, chị phải đi thật nhanh để tránh sự truy tìm của gia đình. Chị đến ở nhờ người bạn thân, cùng học ở làng bên để lẩn tránh gia đình. Sớm hôm sau, chị đi thật sớm. Thoát khỏi sự  truy tìm của gia đình, chị đi lang thang hết nơi này đến nơi khác. Nhiều khi chị phải nhịn đói, nhịn khát.

Ánh nắng già cỗi, nhàn nhạt cố níu lại trên ngọn cây cao. Hoàng hôn buông dần xuống. Chị gặp một dòng sông rộng mông mênh, bát ngát. Chị ngồi chờ đò để sang sông. Trời rộng mênh mông, đất rộng mênh mông. Gió thổi miên man mát rượi. Bến sông vắng lặng, không một bóng người, không một con đò. Chị cảm thấy cô quạnh. Nỗi buồn nhớ nhà, nhớ cha mẹ, nhớ các em tràn ngập lòng chị. Nỗi  tủi nhục ám ảnh. Đi đâu bây giờ? Câu hỏi cứ xoáy tít trong đầu chị. Bỗng chị nghĩ đến cái chết. Dòng sông là nơi gửi mình đẹp nhất, mát mẻ và sạch sẽ nhất. Chết cho thoát nợ đời. Chết ở nơi đây chẳng ai biết, chẳng ai hay, khỏi phiền lụy tới gia đình, cha mẹ. Ôi nước mát quá! Nước ngập kín bàn chân. Nước tới đầu gối! Nước ngập tới đùi! Ôi lạnh quá. Chị dừng lại. Chị nghe có tiếng gọi: Mẹ ơi! Mẹ đừng chết! Mẹ đừng giết con, tội nghiệp lắm mẹ ơi! Mẹ ơi! Mẹ đừng chết. Đừng giết con! Lời thề với anh lại vang lên. Cái chân bị rắn cắn tê dại, khiến chị nhớ tới anh. Mẹ phải sống để nuôi con. Chị dừng lại.

Chiều hôm sau, chị gặp cái chợ vắng vẻ, khách về gần hết. Chị định ngủ lại để mai đi tiếp tìm công ăn việc làm. Chị gặp bà mẹ. Tuổi chừng trên dưới 50. Bà nhìn chị với đôi mắt dịu hiền, nhân từ. Bà nhỏ nhẹ hỏi:

- Cháu định đi đâu bây giờ?

Chị thở dài, buồn bã trả lời ;

- Cháu định đi tìm việc làm. Chiều nay, cháu chưa biết đi đâu. Rất có thể cháu phải ngủ lại ở chợ. Sáng mai tính sau.

Bà mẹ nhân từ kéo chị về nhà. Chị như người sắp chết đuối vớ được cọc. Hai người đàn bà, một già, một trẻ đồng cảm và thương yêu nhau bởi đường dây tình cảm vô hình đặc biệt. Tối hôm ấy, mẹ và chị ngủ chung một giường. Mẹ tên là Nguyễn Thị Thương, người dân trong làng quen gọi là bà Lượng, vì bà có người con trai duy nhất tên là Trần Đình Lượng. Mẹ  thủ thỉ kể rằng:

-  Mẹ góa chồng khi tuổi còn rất trẻ, mới ngoài hai mươi tuổi đầu. Anh Lượng khi đó mới tròn một tuổi. Ba năm sau, đoạn tang chồng, nhiều người đàn ông đến với mẹ, cau phơi tái, gái góa chồng mà con. Lúc ấy mẹ cũng khát khao hạnh phúc lứa đôi lắm chứ. Nó như ngọn lửa cháy hừng hực trong lòng. Bất kỳ lúc nào nó cũng muốn đốt mình thành than. Thực tình, mẹ cũng muốn bước thêm bước nữa. Nhưng thằng Lượng, đứa con trai bé bỏng của mẹ đã khiến mẹ ở lại. Vì thương con, vì trách nhiệm của người mẹ đã nhấn chìm những khát vọng vào sâu đáy lòng, đóng kín phòng the đứng vậy thờ chồng nuôi con. Mẹ phải trải qua cảnh đời đói cơm, rách áo, nhà tranh vách đất, chăn chiếu cũng thiếu chẳng biết trông cậy vào đâu. Mẹ đã vượt qua chính mình, bỏ qua mọi cực khổ, làm lụng suốt ngày đêm để nuôi con. Khi Lượng khôn lớn trưởng thành, nó đi công nhân rồi đi bộ đội. Mẹ lại tiếp tục sống cô đơn, hiu quạnh.

Tấm lòng độ lượng và chân thành của mẹ Thương khiến chị xúc động, Chị kể tường tận, tỉ mỉ hoàn cảnh éo le và đau khổ của mình cho mẹ nghe.  Mẹ khóc và nói:

- Làm cái thân đàn bà con gái nó khổ thế đấy! Mẹ rất thương chị. Mẹ muốn chị ở lại với mẹ cho vui cửa, vui nhà. Mẹ và chị sẽ dựa vào nhau mà sống. Con trai mẹ, anh Lượng vừa đi bộ đội, vào Nam chiến đấu. Chiến tranh còn dài chứ đâu phải ngày một ngày hai. Khi Lượng trở về thì con đã mẹ tròn con vuông. Lúc đó, ở đâu, đi đâu là tùy con.

Nghe mẹ nói vậy, chị mừng rơn vì chị chẳng biết đi đâu nữa. Chị nói với mẹ: - Được mẹ thương tình cho con ở lại thì còn gì bằng nữa.

Chị quỳ xuống chắp tay cảm tạ mẹ. Mẹ đỡ chị dậy: Con đứng lên đi. Mẹ nghèo lắm, con ở với mẹ sẽ, vất vả lắm đấy. - Khổ mấy con cũng chịu được.

 Mẹ đưa cho chị tấm ảnh của Lượng và dặn dò rất kỹ những điều cần thiết cho phù hợp với hoàn cảnh cũng như những lời mẹ kể. Chị là người bơ vơ, không nơi nương tựa bỗng dưng chị có gia đình, có mẹ và những người thân. Chị ngoan ngoãn làm theo lời mẹ.

- Hôm sau, mẹ sửa mâm cơm cúng gia tiên và mời các ông chú, ông cậu, cùng mấy đứa cháu đến uống rượu nhận cháu. Mẹ giới thiệu với mọi người, cháu Lượng và cháu Huyền cùng làm công nhân ở Lào Cai. Các cháu yêu nhau từ lâu. Trước khi đi B đã tổ chức cưới, có sự chứng kiến của cơ quan, bạn bè. Cháu Lượng sợ gia đình không tin nên đưa cháu Huyền tấm ảnh trước khi đi B. Cháu Huyền tìm về tới đây là nhờ sự chỉ dẫn của cháu Lượng.

Ông Tần, chú của Lượng hỏi:

 - Tại sao cháu Lượng về nghỉ phép đi B lại không nói chuyện này với chúng tôi?

Chị lễ phép thưa:

- Cháu và Lượng yêu nhau đã lâu nhưng vì đường sá đi lại khó khăn lại chiến tranh nên chưa có dịp về thăm gia đình của nhau. Khi cháu về quê nghỉ phép thì anh Lượng có lệnh nhập ngũ và đi B. Khi cháu trở lại cơ quan thì anh Lượng về nhà nghỉ phép. Khi anh Lượng trở lại cơ quan để giải quyết các giấy tờ cần thiết, chúng cháu tranh thủ tổ chức cưới ngay để anh ấy yên tâm ra mặt trận chiến đấu.

Ông chú Lượng kết luận:

- Bà và cháu nói vậy. Chúng tôi tin vậy. Không tin cũng chẳng biết làm gì, đường đất xa xôi, đi lại tàu bè khó khăn. Thời chiến, chúng ta phải trông trước cho nhau mọi nhẽ. Nhưng dù sao chúng tôi cũng mừng cho bà và cháu.

Vì  điều kiện thời chiến mọi người dễ thông cảm, chẳng ai vặn vẹo gì. Mọi người vui vẻ, chúc mừng cho bà Lượng từ nay không phải sống cô đơn, sớm tối có mẹ, có con. Chị trở thành chị cả Lượng từ đấy.

Khi biết chị đã có thai, mọi người mừng lắm. Bà Thương mừng quá đi khoe khắp xóm. Bà nói nhờ hồng phúc các cụ để lại, nhờ ông ấy nhà tôi run rủi, mẹ con tôi được gặp nhau. Gia đình hạnh phúc vui vẻ.

Nhà mẹ Thương nghèo lắm. Đời sống còn nhiều khó khăn, có khi ăn bữa sáng lo bữa chiều. Mẹ chỉ có ba gian nhà tranh tre nứa lá. Nói đúng hơn là một gian và hai chái vảy. Xung quanh đắp tường đất, có những vết nứt dọc, ngang to bằng ngón tay. Trước nhà là cái sân sỏi đất, nhờ quét đi, quét lại nhiều lần qua năm này đến năm khác nên phẳng lì, nhẵn bóng. Chung quanh nhà, vườn rộng mênh mông, một phần trồng sắn, còn lại trồng những cây lưu niên như bưởi, mít, hồng. Lối đi vào nhà nho nhỏ chỉ đủ cho người đi bộ, lượn vòng quanh quả đồi.

Sáu tháng sau, chị sinh con trai. Đứa con đó chính là con. Thứ ngạc nhiên hỏi lại mẹ.

- Như thế, con không phải là con bố Lượng?.

- Đúng! Con là con bố Dân. Càng lớn con càng giống bố Dân. Con là bản sao của bố Dân. Con và bố Dân giống nhau như hai giọt nước, không những chỉ giống về hình dáng bên ngoài mà giống cả về tư chất thông minh, siêng năng chăm chỉ học hành, nhân cách làm người. Khi con ra đời,  bà Thương mừng quýnh lên. Mẹ thấy lòng mình lâng lâng như đang bay trên mây. Cả gia đình dòng họ đều phấn khởi, vui mừng. Người đến thăm nườm nượp, người cho chục trứng gà, người cho nải chuối, cân đường hộp sữa.

Khi mẹ sinh con, bà Thương ở một chái, hai mẹ con mình ở một chái. Còn gian giữa dùng làm nơi thờ cúng và tiếp khách.  Trước đây, mẹ Thương ở ngay ba gian nhà này. Mùa đông còn khả dĩ, mùa hè nắng nóng ngột ngạt khó chịu lắm. Nơi đun nấu là gian chái của hai mẹ con ta nằm. Khi có hai mẹ con mình, bà Thương phải gấp rút làm thêm gian bếp.

Hơn một năm sau, gia đình ta nhận được giấy báo tử của bố Lượng. Bố Lượng hy sinh anh dũng ở mặt trận phía Nam. Bà Thương của con đau buồn lắm, hầu như ngày nào bà cũng rửa mặt bằng nước mắt. Mẹ cũng gầy rạc đi như con mắm. Nhờ có con nên bà thương cũng dần nguôi ngoai.

Người mẹ kể tiếp:

- Từng ấy năm trời, bà Thương và mẹ ra sức lao động, ăn nhắt hà tiện, tiết kiệm tới mức cao nhất. Mẹ bán đôi khuyên vàng, cộng với tiền tích lũy nên mẹ và bà làm được bốn gian nhà, khung bằng gỗ, chung quanh bưng ván. Cửa gỗ thay cho những tấm liếp ngày xưa. Nhà này với người khác chẳng đáng là bao nhưng với bà và mẹ thì đúng là một kỳ tích. Ngôi nhà để lại trong mẹ biết bao nhiêu kỷ niệm buồn vui. Mồ hôi nước mắt của mẹ thấm ướt từng cây gỗ, cây tre và từng tàu lá cọ. Bây giờ từ biệt nó, mẹ thấy luyến tiếc quá. Nhưng vào trong ấy sống với con và nhường lại đất nhà cho em Tấn, mẹ thấy vui lắm, mình không ở thì các em, các cháu ở cũng vậy.

Vườn nhà mở rộng thêm và cải tạo để trồng sắn, trồng chè. Đồng quê này mà quên cây sắn, cây chè là chết đói. Sắn là lương thực chủ yếu. Sắn được thái nhỏ thành từng miếng, phơi trên những tấm liếp, tấm cót đặt dưới sân, ngoài sườn đồi. Sắn khô cất vào chum, vại để ăn dần. Vào thời vụ, ăn sắn tươi là chủ yếu. Sắn khô chỉ ăn vào cuối vụ, lúc giáp hạt. Sắn khô trộn với gạo để nấu cơm. Hôm nào rảnh rỗi, sắn khô giã nhỏ thành bột, sờ tay vào thấy mịn, mát, đem ra làm món “bánh sắn nhân đũa”. Đó là cách gọi dân dã cho vui. Bột sắn nhào với nước cho thật dẻo đem nặn vào chiếc đũa. Sau đó rút bỏ đũa tạo thành lỗ hổng ở giữa khi luộc hoặc xôi chóng chín và trong suốt. Nhiều khi tiết kiệm, dùng bột sắn nấu cháo, ăn được nhiều lại hết ít sắn. Đun nước sôi, rắc bột sắn từng ít một vào nồi cho đều, tới khi đặc là được. Hôm nào có thêm chút hành mỡ làm bánh sắn, nhân hành mỡ là sang lắm. Ngon lắm, ăn no lâu. Ngày Tết thanh minh 3-3 nhà người ta làm bánh dùng, bánh trôi bằng bột gạo nếp để cúng ông, bà tổ tiên. Nhà mình, mẹ phải dùng bột săn để làm bánh trùng, bánh trôi. Nhưng, mẹ vẫn thấy ngon và hạnh phúc.

Sắn tươi lột bỏ vỏ, đem luộc chín để giã bánh dày. Bánh dày sắn chẳng có gì đặc biệt nhưng thay đổi cũng lạ miệng, ngon đáo để. Ăn kiểu này mất việc lắm. Còn lá sắn non hái về luộc chấm tương, không có tương thì chấm muối ớt. Lá sắn non còn dùng để muối dưa. Dưa lá sắn ăn hấp dẫn lắm. Nếu có tép, hoặc cá nấu với dưa lá sắn ăn nhớ đời. Cơm độn sắn, ăn với dưa lá sắn, lá sắn luộc. Khi sinh con, mẹ chỉ ăn cơm độn sắn, bánh sắn, cháo sắn mà vẫn khỏe mạnh, da cứ trắng hồng và đủ sữa cho con bú. Con chỉ ăn sữa mẹ cũng đủ no. Khi biết ăn, con cũng ăn như mẹ mà vẫn khỏe mạnh và chóng lớn. Con bụ bẫm, đôi má phinh phính trắng như bột. Ai nhìn thấy cũng muốn bế và thơm vào đôi má.

Bên cạnh cây sắn là cây chè. Chè trồng thành từng luống, chạy vòng quanh đồi nhà từ thấp lên cao theo kiểu bậc thang, dây diều. Nhờ có chè mới có tiền tiêu vặt hàng ngày, nuôi con đi học, may mặc quần áo và tiết kiệm làm nhà.

Nương chè, nương sắn từng  bậc, từng bậc dắt nhau chạy lên đồi. Những ngày thu hoạch sắn, nhổ sắn, chuyển về nhà, bóc vỏ rửa sạch, thái nhỏ phơi khô. Thu hoạch sắn xong, phải gom cây sắn làm giống để trồng tiếp vụ sau. Việc hái chè, sao chè tuy không nặng nhọc như trồng sắn, thu hoạch sắn nhưng chiếm mất khá nhiều thời gian. Rất may, thời gian thu hoạch sắn không cùng với thu hoạch chè nên một mình mẹ vẫn xoay xở được. Khi bà còn khỏe, con học cấp 1, cấp 2 đã đỡ đần mẹ rất nhiều. Nhưng khi bà tuổi già sức yếu, con bận học hành thì mọi công việc đều trút cả lên vai mẹ. Không làm sắn thì đói, không trồng chè thì không có đồng ra đồng vào. Vì thế mẹ cứ kiền kiệt suốt ngày trên nương. Ngoài ra, mẹ còn đi làm Hợp tác xã để có thóc lúa ăn. Từ khi giao đất, giao ruộng cho nông dân, mẹ chủ động sản xuất nên đời sống nhà mình đỡ hơn.

Kể từ ngày ở với bà Thương, suốt ngày mẹ làm lụng quần quật trên nương, trên rẫy nên đời sống của gia đình ta đỡ khó khăn, vất vả hơn. Chỉ ngày giỗ, ngày Tết mẹ mới nghỉ. Tuy không lên nương, lên rẫy, không phải làm việc nặng nhưng mẹ vẫn luôn chân, luôn tay toàn những việc không tên mà hết ngày. Kể cũng tài thật, từ một cô nữ sinh chỉ biết bầu bạn với đèn sách sống dựa dẫm vào cha mẹ nay trở thành người mẹ đảm đang, gánh vác mọi công việc trong gia đình trong thời gian dài đằng đẵng, nuôi được con khôn lớn trưởng thành, chăm sóc mẹ già đến nơi, đến chốn. Mẹ biết ơn cây sắn, cây chè và núi rừng, đồng ruộng nhiều lắm. Nó nuôi mẹ con ta sống suốt cuộc đời. Chia tay với nó, lòng mẹ bồi hồi, xao xuyến, nhớ nhung quá.

Ngày lại ngày con khôn lớn, trưởng thành. Con là niềm vui, tự hào và kiêu hãnh của bà, bà dành tất cả tình thương cho con. Hai bà cháu cứ như hình với bóng, luôn luôn ở bên nhau. Khi con nói:  Cháu xin vào trong đó công tác để có thời gian đi tìm phần mộ của bố cháu. Nghe con nói vậy, bà rất cảm động và hết sức khen ngợi con.

Hai năm sau, mẹ nhận được tin bố Dân hy sinh ở Tây Ninh. Con biết mẹ đau khổ nhường nào không? Mẹ khóc bố Dân nhiều lắm nhưng chỉ dám khóc thầm, khóc vụng thôi. Vì chẳng may có ai bắt gặp mẹ khóc, mẹ phải nói dối là mình khóc bố Lượng, nhớ thương bố Lượng. Nguồn hy vọng mẹ dồn cả vào con. Mẹ không về thăm quê, an phận gửi xương, gửi thịt ở đất này. Mẹ vẫn định bụng, khi nào sắp sang thế giới bên kia sẽ kể hết bí mật này cho con. Ngày mai, mẹ con mình vào đất Sài Gòn làm ăn sinh sống mà không về quê từ biệt ông bà ngoại là bất hiếu, vô tình quá. Nhưng về quê, mẹ lại nhìn thấy nhiều điều khó xử, khơi dậy nỗi đau đã được đào sâu chôn chặt vào năm tháng. Nghe xong câu chuyện này, con lập tức viết thư cho An và má Khang để họ khỏi bận tâm về ngôi mộ và anh em cùng cha khác mẹ. Con thông cảm và thương mẹ không?

Ngồi nghe mẹ kể chuyện, ngay từ đầu Thứ đã biết mình là ai rồi. Anh chuẩn bị cho mình thái độ đúng đắn trọn vẹn, có trước, có sau:

- Mẹ đừng khóc nữa! Con xin mẹ! Con chẳng thương mẹ còn thương ai nữa. Mẹ là người san sẻ máu thịt cho con.  Mẹ là người thân duy nhất, yêu thương nhất của đời con, suốt một chặng đường dài gần ba mươi năm bề ngoài tưởng như êm ả, suôn sẻ nhưng bên trong chứa đầy những nỗi đau đứt ruột, đứt gan. Mẹ âm thầm chịu đựng, không biết san sẻ cùng ai. Nếu không được bà Thương dang tay cứu vớt, cuộc đời mẹ con mình sẽ đi về đâu, đến đâu? Ai mà đoán được có ngày hôm nay. Suốt đời mẹ con mình không được quên ơn bà Thương. Mẹ ở lại quê ba năm để trông nom phần mộ cho bà thật là tuyệt.  Mẹ đã dạy cho con bài học làm người vô cùng quý giá: “Ăn quả phải nhớ kẻ trồng cây”.  Bây giờ con mới hiểu lòng mẹ. Mẹ ở lại chịu tang bà không đi ngay với con. Thực tình khi ấy con rất buồn. Cuộc chia tay giữa ông bà và mẹ con ta đầy lưu luyến, không bao giờ quên. Một tình người bao la đầy ắp lòng biết ơn của mẹ con mình.

Con và mẹ lại có cuộc họp mặt với ông bà ngoại đầy bất ngờ. Khi ra đi, mẹ chẳng biết đi đâu? Sống chết ra sao? Mẹ gửi thân mình vào số phận, may rủi. Đoạn đường đầy chông gai, đau khổ một mình mẹ phải gánh chịu là vì ai? Là sự khắt khe, tàn nhẫn của ông bà ngoại. Là sự thờ ơ, vô tình, thiếu trách nhiệm của ông bà nội. Nhưng mẹ con ta không được phép oán trách các cụ. Các cụ đâu muốn ném con cháu mình ra đường. Các cụ hành động vì thúc ép của xã hội, vì những hủ tục bảo thủ, lạc hậu độc ác khi xưa. Suy cho cùng tất cả đều do chiến tranh. Nếu không có chiến tranh thì mẹ và bố Dân sống bên nhau hạnh phúc, sung sướng con đàn cháu đống. Bố Dân là thầy giáo dạy văn chương, đêm ngày vui bên trang giáo án cùng em nhỏ. Mẹ là kỹ sư nông nghiệp vui với những trang trại trồng trọt, chăn nuôi. Nhưng thôi mẹ à, tất cả đã là quá khứ mình nên khép lại mẹ ạ! Mẹ con ta cùng mọi người trong gia đình hướng tới tương lai sáng lạn hơn. Con xin cảm ơn mẹ! Mẹ cho con biết trước để khỏi ngỡ ngàng, ngạc nhiên khi về tới nhà, khi gặp bên nội, bên ngoại. Con sẽ viết thư cho An và má Khang như lời mẹ dạy.

Bà và mẹ đã giấu kín việc này suốt từng ấy năm trời. Giờ đây, mẹ và con sẽ tiếp tục sự nghiệp ấy. Mẹ và con sẽ đi từ Bắc Thái sang Vĩnh Phú chơi ít ngày rồi bay thẳng Sài Gòn. Hai mẹ con chỉ mang một túi xách tay là xong.

Bà Huyền vui sướng mỉm cười, gật đầu.

- Phải lắm! Con mẹ rất thấu đáo, kín kẽ.

*

*       *

2. Nắng vàng rực rỡ. Ô tô dừng lại. Hai mẹ con bà Huyền đi xe ôm về làng. Làng quê đây rồi. Mẹ con bà Huyền đi bộ về nhà. Tới cổng làng, bà Huyền không khỏi nhớ đến những ngày đi chăn trâu. Khi ra khỏi cổng làng, Dân phải làm ghế để bà trèo lên lưng trâu. Con trâu nhà bà dữ tợn nên phải nhờ Dân dắt đỡ. Nhớ lần bị rắn cắn, Dân hết lòng vì bà.

Hôm nay, bà xấp xỉ 50 tuổi.  Nhưng da dẻ bà hồng hào, dáng đi nhanh nhẹn. Vì vài năm gần đây, đời sống đầy đủ, công việc nhàn hạ nên bà Huyền trẻ lại trước tuổi. Nét đẹp thời con gái còn lưu giữ trên khuôn mặt. Đi bên cạnh người mẹ là chàng trai cao lớn, khỏe mạnh và rất điển trai. Anh mặc bộ quân phục mới cứng, trên ve áo lấp lánh quân hàm thượng úy quân y. Con đường về nhà, lâu lắm bà mới trở lại. Vẫn đường đất đồi như xưa nhưng mở rộng hơn, bằng phẳng hơn. Con đường này in sâu trong tâm trí của bà. Biết bao lần, bà đã đi trên đường làng. Bà nhắm mắt cũng nhớ những khúc cua, những đoạn đường thoai thoải, gồ ghề dẫn tới quê hương, dẫn tới nhà. Hôm nay, trở lại  trên con đường làng sau bao năm xa cách chân bà không khỏi ngỡ ngàng, ngập ngừng. Gần tới nhà, bà thấy hồi hộp quá, tim bà đập thình thịch, liên hồi. Bà sẽ kể với mẹ những gì? Gia đình ai còn, ai mất? Bà cố trấn tĩnh nhưng không tài nào ngăn nổi những dòng nước mắt của ngày họp mặt. Bà vội lấy vạt  áo lau nước mắt. Bà sẽ quên đi những hình ảnh tức giận, những lời xỉ vả gay gắt của bố mẹ để tận hưởng niềm vui sum họp. Bố mẹ tức giận, thậm chí còn đánh đập thậm tệ chỉ vì thương bà, sợ dân làng chê cười.  Ở vào hoàn cảnh ấy chắc bà cũng hành động như vậy. Bà không được phép oán giận cha mẹ. Càng nghĩ, bà càng thương bố mẹ nhiều hơn. Mấy chục năm trời, bà không hề thăm hỏi, không đồng quà tấm bánh, không chăm sóc nuôi dưỡng. Nếu bố mẹ quở trách bà xin nhận tội. Tất cả tội lỗi đều do bà gây nên. Tất cả vì chiến tranh.

Ngôi nhà của cha mẹ bà đã xuất hiện trước mắt, nơi bà cất tiếng khóc chào đời, cùng bao kỷ niệm buồn vui. Ngôi nhà tuy không còn như xưa, nhưng vẫn nhận ra nó, bởi chỗ đứng không thay đổi. Cái nếp nhà, bà từng ngồi nấu ăn, cùng cha mẹ và các em quây quần bên mâm cơm, khi đói, khi no. Bây giờ được thay bằng gạch cao ráo, sạch sẽ và vững chắc hơn.

Ngôi nhà lớn xưa có 5 gian, chân tay bằng tre, lợp lá gồi thấp lè tè, tường trình bằng đất khá mịn và nhẵn. Từ nhà ngoài có hai cửa nách đi vào hai chái. Nhưng làm gì có cánh cửa, đi thông thống. Cửa ra vào bằng những tấm liếp đan từ nứa chặt ngoài rừng về. Nhờ thế, hôm bà trốn khỏi nhà chỉ lách qua tấm liếp dễ dàng, êm ru không có tiếng động nên bố mẹ chẳng nghe thấy. Cửa bếp cũng bằng phên liếp. Sân đất đầy sỏi, khi đi sỏi đâm vào chân buốt tới đỉnh đầu, khi ấy làm gì có dép. Cây khế đứng giữa khoảng tiếp giáp đốc nhà trên và nhà bếp. Chắc khi làm nhà chặt bỏ, thay vào đó là giếng nước. Cây khế là bạn thân thiết, giúp bà nguôi vơi những cơn thèm của chua khi mang thai.

Ngôi nhà của cha mẹ bà hôm nay, tường gạch quét vôi trắng tinh, mái ngói đỏ tươi. Cửa sơn màu xanh nhạt vừa đẹp mắt, vừa vững chắc. Sân gạch rộng thênh thang sạch sẽ, đi lại dễ dàng. Khi mang thai thằng Thứ, bố mẹ chửi mắng, bà vẫn chạy xuống bếp ngồi. Trước lúc ra đi, bà ngồi ở cửa bếp chờ trời sáng thêm. Duy có cái cổng bà Huyền không nhận ra. Bà đứng tần ngần mãi. Bà quan sát thật kỹ để tìm hướng cổng mới. Bà run run đặt chân vào cổng. Tim bà đập mạnh, máu chạy nhanh hơn mọi khi, nước mắt hối hả tuôn trào, bà không tài nào kìm nổi. Nghe tiếng động, con chó chạy ra sủa giật giọng, gâu, gâu... Bà cụ Thân từ trong nhà chạy ra đuổi chó. Bà Huyền gọi thật to:

- Mẹ! Mẹ!.

Cụ Thân mở to đôi mắt mờ đục nhìn vào mặt con. Bỗng cụ ngạc nhiên kêu lên:

- Cái… Cái Huyền! Hai mẹ con cụ Thân ôm choàng lấy nhau nức nở. Mẹ! Mẹ!

-  Con! Con!

- Cha đẻ chị chứ! Chị đi biền biệt từng ấy năm trời. Tưởng chị giận bố, giận mẹ không thèm về nhà này nữa.

Cụ Thân đưa đôi mắt chậm chạp nhìn Thứ từ đầu tới chân. Sung sướng quá, cụ lấy tay gạt những giọt nước mắt lăn trên đôi má dúm dó như vỏ quả dừa khô. Cụ hỏi con gái:

- Ai đây?

- Cháu ngoại của mẹ đấy!

Thứ cố nén xúc động :

- Cháu chào bà ạ!

- Thôi mẹ con vào trong nhà đi! Cụ Thân giục con, giục cháu. Bình tĩnh trở lại cụ hỏi:

- Chỉ có hai mẹ con về thôi à?

- Vâng! Mẹ định hỏi ai nữa? Thầy con và các em, các cháu đâu cả?

- Thằng Thân lấy vợ, làm nhà ở riêng, gần đây thôi. Bố con ở với nhà nó để trông nom nhà cửa. Vợ chồng thằng Mão ở nhà này, chúng nó đi làm vắng, các cháu đi học cả.  Cái Đào, cái Mận lấy chồng ở cả gần đây thôi. Nghe tiếng gọi của vợ, cụ Thân lò dò sang nhà Mão. Cụ bà nói với chồng:

- Ông biết ai đây không? Cụ bà chỉ tay về phía con gái và cháu ngoại. Cụ Thân mở to đôi mắt nhìn. Sau giây phút suy nghĩ, tìm kiếm trong trí nhớ. Cụ buồn rầu lắc đầu, chịu thôi!

- Con gái và cháu ngoại của ông đấy! Cụ Thân đưa mắt kèm nhèm về con và cháu. Cụ nở nụ cười:

- Cái Huyền! Con gái tôi đấy ư? Xúc động quá, cụ Thân ngã quỵ xuống sân. Mọi người xúm nhau dìu cụ vào trong nhà. Thứ nhanh nhẹn đi lấy túi thuốc cấp cứu cho ông ngoại. Một lúc sau cụ Thân tỉnh lại. Cụ nói liền một mạch như để sám hối với con, cháu:

- Ngày trước, bố chửi mắng, xỉ vả, thậm chí còn đánh đập con thậm tệ. Vì những cơn nóng giận nhất thời. Con bỏ nhà ra đi khi bụng mang dạ chửa khiến bố ân hận tới nay. Sáng hôm ấy, bố nhờ người đi tìm khắp các bến sông, bến tàu, bến xe nhưng không thấy. Thậm chí có lúc, bố nghĩ con quẫn trí, dại dột đâm đầu xuống sông, xuống giếng. Tìm mãi không thấy, bố lại nghĩ con đã nằm xuống ở nơi nào đó vì đói rét và uất ức. Nhiều đêm, bố khóc thầm. Không ngờ hôm nay, bố con ta lại được gặp nhau, lòng bố thanh thản hơn bao giờ hết. Nếu có phải từ biệt thế giới này, bố không ân hận gì nữa. Bà Huyền vội gạt những giọt nước mắt nóng bỏng trên má. Bà nói:

- Bố đừng nói gở. Bố phải sống đến trăm tuổi để hưởng phúc tuổi già và cho con cháu nhờ cậy, nương tựa.

Cụ Thân cười khà khà:

- Bố cũng mong muốn như vậy. Nhưng con đi đâu mà biền biệt từng ấy năm trời, không lời hỏi thăm, không thư từ. Cứ mỗi khi đến ngày giỗ, ngày Tết, gia đình đoàn tụ, thiếu vắng con. Mẹ con lại khóc. Đặc biệt khi anh Dân trở về và thường xuyên đến thăm bố mẹ đúng với nghĩa con cái trong nhà. Nó như tiếng trống gõ vào đầu óc, trí nhớ và tình thương của bố mẹ đối với con. Khi anh Dân đi tìm con không thấy, thất thểu trở về. Lòng bố mẹ lại càng đau xót. Anh Dân không chỉ đi tìm con một lần mà năm nào anh ấy cũng lặn lội đi tìm con, cho đến hôm nay, anh ấy vẫn chưa chịu lấy ai. Bố mẹ định mang duyên chị buộc vào duyên em Đào. Nhưng anh ấy không chịu. Anh ấy nói: “Con không thể phản bội Huyền. Huyền đã vì con mà gánh chịu bao điếu đắng cay chua xót. Con cũng phải vì Huyền mà hy sinh”. Nỗi đau cứ trở đi, trở lại hành hạ, cấu xé lương tâm bố.

Bà Huyền xúc động, khóc thút thít nói:

- Hoàn cảnh của con cũng cực kỳ khó khăn, rồi bà kể vắn tắt quãng thời gian xa nhà, lời bà cứ nghẹn tắc lại:

Con không ngờ có ngày hôm nay nên không thư từ, không hỏi thăm bố mẹ. Tâm lý chung, khi phải lìa xa quê hương, lìa xa người thân đi kiếm ăn nơi xa, lòng đau đáu luôn nhớ quê cha, đất mẹ. Muốn về thăm quê nhưng chỉ khi nào no đủ, khấm khá mới dám về. Xin bố mẹ và các em thông cảm,  thứ lỗi cho.

Trưa hôm đó, gia đình cụ Thân có mặt đông đủ các thành viên. Một bữa liên hoan nhẹ, đầy tình nghĩa được khẩn trương tổ chức. Anh em, bà con xa gần nghe tin Huyền đưa con về, lần lượt đến hỏi thăm. Căn nhà cụ Thân đầy ắp tiếng nói, tiếng cười. Người hỏi chuyện bà Huyền, người hỏi chuyện Thứ. Ai cũng mừng cho gia đình cụ Thân và mẹ con bà Huyền. Vui quá bà cụ Thân buột miệng nói:

- Thằng Thứ giống ông giáo Dân như đúc, trộn đâu cũng không lẫn.

 Bà Huyền vờ như không nghe thấy. Nhớ lời mẹ dặn, Thứ thản nhiên trả lời bà. Anh vừa thừa nhận, vừa chối khéo;

-Thưa bà! Người đời nhiều khi giống nhau đến không ngờ. Mẹ cháu vẫn bảo: “Cháu là bản sao của bố cháu, không sai một chi tiết dù là nhỏ”.

- Bác Dân đã chịu lấy vợ đâu. Năm nào bác ấy cũng đi tìm chị và cháu mà chẳng thấy. Thật tội nghiệp. Ôi thiêng quá! Bác Dân đến kia rồi. Vừa nhắc tới là bác tới ngay. Đào chen ngang vào nói.  Ông Dân từ tốn, lễ phép nói:

- Con chào hai cụ. Chào cả nhà. Con về chủ nhật, nghe tin bà Huyền đưa con về chơi tôi đến thăm luôn cho đúng với những gì đã hứa, đã qua. Dân đến thăm mẹ con bà Huyền là nhờ có Đào báo tin. Bà Huyền thấy người nóng bừng bừng, hai má như có ai châm lửa đốt khi nhìn thấy ông Dân. Người bà mềm như cái dọc khoai phơi nắng và chỉ muốn gục ngã xuống. Nhìn thấy nét mặt của mẹ thay đổi, Thứ cảm thấy lo lo. Anh khẽ hích nhẹ vào người mẹ. Bà Huyền trấn tĩnh và cố gắng kiềm chế. Bà thản nhiên, dũng cảm “tấn công” trước:

- Chào bác Dân! Bác vẫn khỏe chứ? Tôi nghe nói, bác hy sinh lâu lắm rồi cơ mà! Bác được mấy anh, mấy chị rồi?

Ông Dân nhìn thẳng vào mặt bà Huyền mà trả lời. Bà Huyền hai má cứ nóng bừng, cúi mặt nhìn xuống chân.

- Chuyện sống, chết của tôi dài lắm. Nếu bà đồng ý và muốn nghe, tôi sẽ kể sau. Tôi là một thương binh, sức khỏe chẳng còn bao nhiêu, là thầy giáo nghèo nên chẳng ai “nhòm ngó” tới. Điều quan trọng hơn cả, tôi sợ “chú Cuội ném cành đa vỡ mặt cho đến chết mới thôi” nên không dám lấy vợ. Đó là lời nguyền dưới đêm trăng, trên đồi sim đầy trăng. Lời nguyền ấy, gắn với máu thịt của tôi và theo tôi suốt cuộc đời. Vợ còn không có thì làm gì có con. Đó là lẽ đương nhiên.

Nghe ông Dân nói, lòng bà Huyền rối bời xen lẫn buồn vui. Những lời ông Dân nói như những mũi dao chích vào tim bà, khiến những kỷ niệm ái ân khi xưa ào ào chảy về đầy ắp. Một đêm ly biệt giữa ông và bà. Bà thật không ngờ gặp lại người xưa. Người bà tưởng đã chết từ lâu rồi. Ông ấy đang nghi ngờ lòng chung thủy của bà, xa xôi, bóng gió trách cứ bà. Ông ấy có ngờ đâu vợ, con đang ngồi ngay trước mặt. Anh đi tìm em hết nơi này, nơi khác mà không thấy. Hôm nay, vợ con anh tìm về. Vợ anh khỏe mạnh, con anh khôn lớn và trưởng thành. Ngày đoàn tụ gia đình đang mở ra trước mắt anh mà anh không biết. Bà Huyền vờ như không biết. Bà tiếp tục thử lòng ông Dân:

- Thôi! Bác cũng nên cưới vợ đi! Ngoài năm mươi tuổi rồi còn gì nữa. Bác hơi đâu mà cắm sào đợi hoài, chờ mãi chẳng mang lại ích lợi gì đâu. Về già không vợ, không con khổ lắm đấy bác ạ!

Từ khi ông Dân xuất hiện, Thứ ngồi im như thóc. Đôi mắt anh không rời ông Dân. Anh quan sát thật kỹ không bỏ qua chi tiết nào dù là nhỏ nhất. Lời nhận xét của mẹ không sai chút nào. Giữa ông và anh như cùng một khuôn đúc ra. Chỉ gặp nhau một lần là có thể nhận ra điều này. Sự khác nhau giữa ông và anh. Bố anh già yếu, mái tóc muối tiêu và cái chân tập tễnh. Anh khỏe mạnh, đẹp trai.

   Các em trai, em gái dâu, rể và các cháu đều vui vầy quây quanh mẹ con bà Huyền. Cả nhà đều vui khi  thấy bà Huyền mạnh khỏe, Thứ khôn lớn trưởng thành. Cả nhà tràn ngập niềm vui sum họp sau bao năm xa cách, biệt ly và đều muốn nghe đoạn đường gian truân của mẹ con bà Huyền.

*

*      *

3. Chiều thứ bảy, An định về nhà, chị nhìn đồng hồ mấy lần mà vẫn chưa hết giờ làm việc. Lòng chị như lửa đốt. Chị sốt ruột quá, đứng lên, ngồi xuống không yên. Đầu óc chị không thể nào tập trung vào công việc. Tại sao thời gian dài thế? Trôi đi chậm chạp thế? Mọi công việc chiều nay, chị đã hoàn tất. Chỉ còn chờ tiếng kẻng báo hết giờ là chị phóng xe đi liền.

Từ chiều tối qua tới nay, lúc nào chị cũng thấy lâng lâng như đang bay trên không trung, xao xuyến, bồi hồi như người xa quê nhiều năm bây giờ mới được trở về gặp người thân. Buồn quá không ngủ được đã đành. Không ngờ vui quá cũng thao thức suốt đêm chẳng ngủ nổi… Bức thư Thứ gửi cho An, chị đã đọc đi, đọc lại gần như thuộc lòng mà vẫn muốn đọc. Chị sợ đọc lầm, đọc sai. Chị nghĩ đến lúc gặp má, chắc má vui chẳng kém gì chị. Cuộc đời sao nhiều bất ngờ đến thế, ngoài sức tưởng của chị. Khi anh ấy phát hiện mộ chí bố Lượng tại vườn nhà ngoại út làm xáo động cả đời sống lẫn tinh thần trong gia đình chị. Lá thư anh gửi chiều qua làm cho đời sống của gia đình chị trở lại bình thường, thanh bình, hạnh phúc như xưa. Tình yêu giữa anh và chị lại đằm thắm và ngọt thơm trái xoài vừa chín tới. Mọi bí mật về đời sống của anh và chị nằm trong tay mẹ anh. Nó được giấu kín gần ba mươi năm trời. Chẳng biết lý do gì mà bí mật đến thế. Vì nó mà anh, chị phải lao đao, vất vả, khổ sở nhiều ngày quên ăn, nhiều đêm mất ngủ. Thậm chí có lúc quẫn trí muốn rủ nhau tìm đến cái chết.

Kẻng hết giờ làm việc, An nhờ người cùng làm việc đóng giúp cửa phòng. Chị nhanh nhẹn lấy xe đi luôn. Chị chạy xe nhanh hơn ngày thường. Ra khỏi thành phố, chị phóng như bay trên đường, vượt qua tất cả nhũng người đi trước. Tiếng gió thổi vù vù bên tai. Có lúc chị thấy rùng mình. Vì gió mạnh, gặp ô tô chạy ngược chiều, xe như muốn nhấc bổng khỏi mặt đường.

Về tới nhà, trời vừa tối thật, không nhìn rõ mặt người. Điện sáng như ban ngày. Chị kêu to:

- Má ơi! Má! Con có tin vui cho má đây!.

Bà Khang từ trong nhà chạy ra. Nhìn thấy con gái vui như Tết, mặt mày hớn hở, cười toe toét, chân đi như không chạm đất. Niềm vui ấy truyền sang bà Khang.  Bà líu lưỡi hỏi:

- Chuyện gì khiến con vui thế?

- Má đọc đi rồi sẽ biết.

 An lấy lá thư trong túi đưa cho má.

Bà Khang cầm lá thư vào phòng riêng, bật công tắc điện lấy mục kỉnh đọc:

Bắc Thái ngày....

An thương yêu!

Anh xin thông báo tới em một tin đặc biệt, thật vui và bất ngờ chẳng khác nào khi anh phát hiện thấy ngôi mộ bố Lượng ở vườn nhà ngoại út. Anh không phải là con bố Lượng. Anh và em không phải là anh, em cùng cha khác mẹ. Anh đã gặp bố Dân, người đẻ ra anh rồi. Bố Dân cũng là chiến sỹ giải phóng quân, nhiều năm chiến đấu ở chiến trường Nam Bộ. Bố Dân là thương binh, là thầy giáo. Mặc dù vẫn biết so sánh là khập khiễng nhưng anh vẫn phải so sánh để em hiểu. Bố Lượng là cái thân cây để mẹ và anh là cành tầm gửi mượn danh sống nhờ. Nếu mối tình của bố Lượng, mẹ Khang khơi nguồn từ căn hầm bí mật, hai người chiến sỹ, sống và chiến đấu bên nhau. Mối tình ấy thật đẹp và thi vị, có thể nói độc nhất vô nhị. Có thể anh cường điệu quá chăng. Nó được đơm hoa kết trái từ căn hầm, ngay trước đồn thù, giữa cái sống và cái chết thì mối tình của bố Dân mẹ Huyền được khơi nguồn từ đồi sim, khi hai người còn để chỏm, cùng chăn trâu, cùng đi học. Mối tình ấy được đơm hoa kết trái dưới đêm trăng sáng, trăng tràn ngập đồi sim. Trăng như tấm lụa khổng lồ trải khắp đồi, nối tiếp những quả đồi. Đồi sim, đồi trăng là nơi hò hẹn, nơi tiến đưa người thanh niên lên đường ra mặt trận. Lời thề từ, đồi trăng, đồi sim ngập chìm ánh trăng: “Kẻ nào phản bội, sẽ bị chú Cuội ném cành đa vỡ mặt cho đến chết mới thôi”. Lời nguyên ấy theo bố Dân ra ngoài mặt trận và đến nay vẫn còn vang vọng bên tai. Chính vì thế, bố Dân chưa lấy ai, ngoài người thiếu nữ trao tình yêu cho mình nơi đồi sim, đồi trăng năm ấy. Lời thề ấy theo mẹ Huyền vượt qua mọi nghiệt ngã của đời thường, đói cơm rách áo, có lúc tưởng như không sống nổi. Mẹ Huyền suốt đời chung thủy với người chiến sỹ đã gắn bó với mình nơi đồi sim, đồi trăng. Cả hai đều giữ trọn lời thề. Bố Dân đã ngoài 50 tuổi mà vẫn chưa lấy ai. Năm nào nghỉ hè, bố Dân cũng lặn lội đi tìm vợ, con. Đất nước dài, rộng bàn chân bố thì ngắn lại bị thương tật nên chưa tìm thấy vợ con. Bố tự hứa với lòng mình: “Đời này, kiếp này chưa tìm thấy vợ con thì kiếp sau, đời sau sẽ tiếp tục đi tìm”. Mẹ Huyền cũng hứa với lòng mình một lòng, một dạ chung thủy với bố Dân, tin tưởng ở bố dù phải chết cũng không quên lời thề năm xưa. Lời thề ấy chính mẹ Huyền nêu ra đêm chia tay tại đồi sim, đồi trăng. Bố Lượng chỉ là chồng mượn danh trong lúc mẹ bụng mang dạ chửa, hai bàn tay trắng. Bố Lượng và mẹ Huyền chưa hề  quen biết, chưa một lần gặp mặt. Dựng lên vở kịch này là cụ Thương mẹ đẻ ra bố Lượng giàu lòng nhân ái thương người, khi gặp mẹ Huyền đang lúc khó khăn. Câu chuyện về mối tình nơi đồi sim, đồi trăng còn dài, ly kỳ hấp dẫn, anh sẽ kể cho em nghe vào một ngày gần đây.

Nhận được thư này, em báo ngay cho mẹ Khang và ngoại út biết để họ mừng cho chúng mình. Hôm nào, mẹ và anh đi Sài Gòn, anh sẽ điện cho em để em sắp xếp thời gian đi đón.

Chúc em vui khỏe, mở rộng lòng đón hạnh phúc.

Hôn em nhiều.

Trần Đình Thứ.

Đọc xong, bà Khang vui quá, Bà ôm choàng lấy con gái. bà nói qua làn nước mắt.

- Từ lâu, má vẫn tin tưởng rằng bố Lượng của con sống rất trung thực. Kể từ khi gặp má cho đến lúc hy sinh, bố con vẫn nói rằng: “Anh nhát gái lắm. Từng này tuổi đầu mà vẫn chưa có mảnh tình vắt vai. Anh chưa có vợ. Em hãy cứ tin lời anh đi”. Thế là từ nay, con không mất thằng Thứ. Từ nay, má không phải buồn. Hạnh phúc như một vườn hoa rực rỡ, muôn màu, muôn sắc và đầy tiếng chim đang chờ đón các con. Chuyện thằng Thứ không phải con bố Lượng chắc có nhiều uẩn khúc, bí mật và ly kỳ lắm, nó được giấu kín mấy chục năm qua.

An nói với má như để giải thích:

- Từng ấy năm rồi, má đâu có nói cho con biết, con là con bố Lượng. Má Huyền chắc cũng vì thế mà phải giấu con trai.

- Cách lý giải của con có thể chấp nhận. Nó sát với hoàn cảnh thực tế hơn. Bà Khang gật gù khen con gái.

Lâu lắm. Đêm nay. Bà Khang ngủ chung với con gái. Tình cảm má con như những cơn sóng biển nổi lên, bà ôm con gái vào lòng, hôn lên mái tóc, lên trán An. Chị nhớ lại những ngày còn thơ dại, nằm gọn trong lòng má để tận hưởng cái hương thơm dịu mát từ má toả sang. Chị day đầu vào ngực má để tận hưởng cái tình yêu mênh mang vô bờ bến của má, Bà Khang âu yếm vuốt mái tóc, vuốt cánh tay con gái tâm sự:

- Khi thằng Thứ phát hiện thấy ngôi mộ bố Lượng và thừa nhận là cha đẻ của nó, má choáng váng cả người, đầu óc quay cuồng, mắt tối sầm lại chỉ chực ngã. Rất may, má kiềm chế được ngay và trấn tĩnh trở lại. Mặc dù, má cố giấu kín tình cảm và nỗi xúc động đến đâu chăng nữa thì cũng không qua nổi đôi mắt tinh tường và trí thông minh của thằng Thứ. Tuy nó không dám quả quyết, nhưng nó đoán má bị cú sốc quá mạnh mẽ khi nó thấy mộ bố Lượng. Vì chưa đủ căn cứ buộc Thứ phải nêu lý do; má bị say xe, đường xóc khó đi, tuổi già sức yếu. Biết vậy, má bấm chặt vào nhận xét của nó để giải thích về sự thay đổi đột ngột về cảm xúc. Phải thừa nhận nó thông minh và khéo léo, tinh tế trong cách ứng xử.

An dời khỏi tay má, nhỏ nhẹ nói:

- Má khen anh Thứ thì khen cả ngày không hết. Khi má nói: “Con và anh Thứ là anh em cùng cha khác mẹ” nó như tiếng sét giữa trời quang mây tạnh nổ trên đầu con. Đầu óc con quay cuồng, choáng váng, trái tim đập loạn xạ, chân tay bủn rủn và chỉ muốn khóc, muốn gào thật to lên “đời con sao khổ thế”. Những ngày tiếp theo con quên ăn, đêm không tài nào ngủ nổi. Có lúc con muốn tìm đến cái chết má ạ”.

Trong đêm tối bà Khang quờ tay sang phía con gái khẽ nở nụ cười:

 - Nếu chết, thật uổng phí nhỉ. Có cho ba Tư biết chuyện này không?

- Ba thừa biết,  con không phải là con đẻ của ba. Con là con của một bộ đội quê miền Bắc đã hy sinh anh dũng ở chiến trường Nam Bộ. Nói cho ba biết lúc nào chẳng được. Chẳng lẽ ba ghen với người đã khuất à? Nhưng theo con lúc nào chúng con nên vợ, nên chồng thì má hãy nói cho ba Tư biết chuyện này. Thuyền theo lái, gái theo chồng, ba muốn giữ con cũng chẳng được, kể cả việc con theo Thứ về miền Bắc cũng tốt chứ sao. Tự cổ chí kim có mấy người phụ nữ ở với cha, mẹ suối đời. Con gái lớn phải lấy chồng, đó là quy luật, loại trừ những trường hợp đặc biệt.

- Tụi bay có học, ít tuồi mà suy nghĩ thấu đáo, kín kẽ. Ba Tư sợ nhất một ngày nào đó con về ngoài Bắc. Ông ấy dễ cảm thấy bơ vơ. Con gái lớn thì phải đi lấy chồng. Đó là niềm vui, niềm hạnh phúc của người làm cha, làm mẹ. Chẳng ai ngớ ngẩn, ích kỷ mà giữ con gái ở nhà suốt đời. Về mặt nào đó, con theo Thứ về Bắc cũng tốt chứ sao. Con và Thứ sẽ được sống ở quê nội. Má chỉ lo cho cuộc sống của các con sau này thôi. Ba, má không giàu có gì, chỉ giúp đỡ các con phần nào thôi. Gia đình Thứ ở ngoài ấy chắc cũng khó khăn, nếu không muốn nói là nghèo - Bà Khang tâm sự với con gái.

- Má cứ yên tâm đi! Với tay nghề của con và anh Thứ, nhất là anh Thứ, ném vào đâu cũng sống đàng hoàng. Bệnh viện con làm khi xưa đang đòi con trở về. Trước đây, con kiên quyết từ chối không trở lại. Nay tình thế thay đổi, chờ Thứ vô, con sẽ trở lại làm việc ở bệnh viện cũ. Con là bác sỹ gây mê, phụ mổ; Thứ là bác sỹ phẫu thuật thì hết chê. Anh Thứ khí khái lắm, vợ chồng bác Năm, Phó Tư lệnh muốn mua cho anh ấy chiếc xe máy. Nhưng Thứ một mực từ chối. Thứ trả lời bác ấy rất khéo: “Một chiếc xe máy, con mua lúc nào cũng được. Con đang cân nhắc xem khi nào cần thiết. Con từng này tuổi đầu chưa giúp ba má việc gì, tội quá lớn. Con nỡ lòng nào chìa tay nhận chiếc xe của ba má. Xin má cứ để con tự lực. Giả thiết ba má cho anh ấy chiếc xe máy, chưa chắc anh đã nhận. Có những ca mổ, phức tạp, mổ xong, gia đình tự nguyện bồi dưỡng phong bì dày cộp, Thứ chẳng bao giờ nhận. Thứ còn tiến xa. Vị trí Chủ nhiệm khoa - Giám đốc bệnh viện trong tầm tay, chỉ chờ đủ ngày, đủ tháng như cô gái đủ chín tháng mười ngày mới sinh, nhiều người nằm mơ cũng chẳng thấy. Đời sống của chúng con chẳng có gì khó khăn cả. Nhà ở tập thể, xe máy, ba má mua cho con rồi. Vài thứ lặt vặt trong gia đình đáng kể gì. An nói rõ tình hình cho má nghe.

Bà Khang mắng yêu con gái:

- Cha đẻ chị chứ! Con lại mắc bệnh mẹ hát con khen hay,  tự nắm tóc nhấc mình cao lên rồi đó. Chủ quan nó vừa vừa thôi, bay cao quá có ngày ngã đau.

Tiếng chim kêu: Vít! Vít! bay lên không trung gõ vào bộ nhớ của bà Khang. Đêm ấy, Khang đưa Lượng đi điều nghiên đồn Z về cũng nghe tiếng chim này. Hai người vừa đi, vừa chạy gằn. Chẳng may, anh chị lao xuống cái đìa. Bùn lầy nước sâu. Lượng phải ghé lưng cõng Khang và còn bao nhiêu kỷ niệm êm đềm, đẹp đẽ nữa, ào ào chảy về tràn ngập lòng bà. Bà Khang thiếp đi trong niềm vui sướng ấy. An quay vào phía trong để má ngủ ngon.

An không tài nào ngủ nổi. Cái đêm, sau khi tìm thấy mộ bố Lượng, má và chị khóc suốt đêm. Nước mắt đầm đìa áo má, áo con. Sáng mai bốn con mắt đều đỏ như quả nhót chín, sưng vù, cay xè. Đêm nay được biết Thứ không phải là con bố Lượng, anh và chị không phải là anh, em cùng cha khác mẹ. Hai má con nói chuyện vui vẻ từ chập tối đến giờ. Nhưng chị chưa dám hỏi má: “Tại sao không lập bàn thờ bố Lượng”? Chắc có điều gì khó xử. Đó là chuyện ngày mai, cho hạnh phúc lứa đôi, má vui con mừng. Sau này, con sẽ lập bàn thờ bố Lượng.

Trời sáng rõ.

*

*      *

4. Trước khi đi Thành phố Hồ Chí Minh, mẹ con bà Huyền nghỉ lại quê ngoại ít ngày. Khi xưa, cuộc ra đi vụng trộm, chạy trốn đau xót kéo dài gần ba mươi năm. Lần này chia tay với bố, mẹ và các em để mở đường cho cuộc sống hạnh phúc lâu dài, đàng hoàng tươi đẹp như cánh diều gặp gió. Những ngày họp mặt sau bao năm xa cách, sống bên bố mẹ và các em bà Huyền vẫn cảm thấy có gì không vui. Bà cứ ngơ ngơ, ngác ngác như bỏ quên, đánh mất cái gì thiêng liêng quý giá. Bà chẳng để tâm đến xung quanh. Bố mẹ và các em đều đặt sau những gì bà hằng quan tâm và suy nghĩ.  Khi mới về, bà vui là thế. Từ buổi gặp lại ông Dân, bà đứng ngồi không yên. Ông Dân đã thu hết tâm trí của bà. Bao nhiêu kỷ niệm đẹp của tuổi đôi mươi, của mối tình đầu, sôi nổi, nhiệt tình và hào hứng cứ ào ào chảy về tràn trề trong lòng bà. Bà muốn đến gặp ông Dân, kể hết những nỗi đắng cay, tủi nhục suốt chặng đường dài đầy chông gai vừa qua. Bà muốn ngả người vào lòng ông, bắt ông phải đền bù những mất mát tưởng chừng không vượt qua nổi. Ông bà đã có với nhau một đứa con. Nhưng không danh chính ngôn thuận, ông bà có là gì của nhau? Cái khó cho ông bà ở chỗ đó. Nên khi gặp nhau, trước con mắt của mọi người, ông bà phải vờ như người xa lạ. Thâm chí, bà con giục ông ấy lấy vợ, kẻo về già mà không vợ, không con sống cô đơn khổ lắm. Nhưng tất cả họ đã thuộc về nhau.

Ông Dân nổi tiếng là người bám trường, bám lớp, toàn tâm, toàn sức vì nhà trường, vì học sinh thân yêu nhưng từ hôm gặp mẹ con bà Huyền, lòng ông luôn luôn cuồn cuộn nổi sóng. Bà ấy là người bằng xương, bằng thịt, ông đã thấy rồi, không còn lầm lẫn. Nhưng còn đứa con trai đi theo bà ấy là ai? Con ông hay con người ta? Đó là câu hỏi lớn mà vẫn không có câu trả lời. Nếu nó là con ông, sao bà ấy không nói thẳng ra. Đứa con ấy có nhiều nét rất giống ông, theo quan sát, nhận xét của ông: Khuôn mặt, đôi mắt và dáng đi của nó rất giống ông. Nhưng tại sao từng ấy năm trời, bà ấy không thông báo cho gia đình biết? Nếu là con người ta thì bố nó là ai? Tại sao ông ta không về cùng mẹ con bà ấy. Có lúc ông muốn khẳng định nó là con ông. Cho nên bà ấy mới nhìn thẳng vào mặt ông để hỏi: Bác có gia đình chưa, được mấy cháu? Thôi bác cũng nên  lấy vợ đi, 50 tuổi rồi còn gì nữa. Nếu là con người khác lại biết ông chưa lấy ai thì bà ta không đủ cam đảm nói vậy. Nếu được vậy, bao năm ông chờ đợi không uổng phí. Khỉ thật, hôm gặp bà ấy tại sao mình lại không hỏi cho rõ ngọn nguồn để bây giờ cứ bán tín, bán nghi mãi. Chủ nhật này, mình phải về làm rõ chuyện này. Ông tự nhủ mình như vậy.

Thấu hiểu tình cảm của mẹ, nhân lúc có hai mẹ con ở nhà, Thứ mạnh dạn hỏi:

- Mấy hôm nay mẹ làm sao vậy? Lúc nào mẹ cũng như người mất hồn. Điều gì khiến mẹ phải suy nghĩ, buồn phiền. Xin mẹ nói cho con hay.

- Con nói gì mẹ chưa hiểu? Bà Huyền như chợt tỉnh lại sau giấc mơ dài đầy sung sướng và lo âu hỏi lại con.

- Tai sao mấy hôm nay mẹ buồn?

- Vài ngày nữa, mẹ phải xa bố mẹ già và các em theo con vào thành phố Hồ Chí Minh thì vui sao nổi.

Thứ hiểu hết ruột gan của mẹ. Anh khéo léo:

- Con nói điều này, nếu không phải mẹ bỏ qua cho con. Mẹ đừng giận con nhé. Người mẹ quan tâm lúc này là…là... ông Dân. Ông ấy hút mất trái tim, linh hồn của mẹ rồi. Điều đó chẳng có gì sai mẹ ạ! Tình cảm con người chứ đâu phải gỗ đá mà vứt bỏ dễ dàng. Tình yêu của mẹ với bố Dân thật là đẹp và có với nhau đứa con là con đây. Tình yêu ấy vẫn như xưa và mạnh mẽ hơn.

Bà Huyền thổ lộ lòng mình cùng con ;

- Mẹ định bàn với con chuyện gặp bố Dân. Tình cảm của mẹ và ông Dân rất sâu nặng và gắn bó từ khi còn để chỏm cùng đi học, cùng chăn trâu. Những kỷ niệm về bố con từng giờ, từng ngày thấm sâu vào máu thịt của mẹ. Cứ nhìn thấy con, mẹ lại nghĩ tới ông ấy. Vì con và bố Dân giống nhau như hai giọt nước. Những lời thề còn đây. Mẹ và ông ấy sống tất cả vì nhau, cho nhau, của nhau. Mẹ chưa biết phải bắt đầu từ đâu, đối xử với ông ấy thế nào cho phải đạo. Nếu ông ấy hy sinh hoặc lấy vợ rồi thì chẳng con phải bàn nữa. Nhưng ông ấy, một lòng một dạ chờ đợi mẹ suốt mấy chục năm trời. Năm nào, ông ấy cũng đi tìm mẹ con ta khắp chốn cùng nơi. Ông bà ngoại định buộc duyên chị vào duyên em nhưng ông ấy một mực khước từ. Vì trái tim ông ấy chỉ có hình ảnh mẹ thôi. Lời thề năm xưa như tượng đài sừng sững trong trái tim mẹ và ông ấy. Nó là sức mạnh vô biên để cả hai vượt qua những ghềnh thác, giông bão cuộc đời. Mẹ rất cần lời khuyên, lời bàn của con.

Không cần suy nghĩ  nhiều, Thứ trả lời dứt khoát:

- Mẹ bảo còn phải bàn bạc gì nữa. Bố mẹ về ở với nhau đi! Những ngày còn lại là kết quả của những năm xa cách mòn mỏi chờ đợi, mất mát và đau thương. Tuy bố mẹ chưa cưới nhau nhưng cả dân cả làng đều biết, có đồi sim, đồi trăng chứng kiến và một đứa con trai là con. Thế là đủ tình nghĩa vợ chồng rồi. Cái quý giá hơn nữa, tấm gương sáng ngời về lòng chung thủy ít ai có như bố mẹ. Bố Lượng và mẹ chưa một lần gặp nhau, không hề quen biết. Mẹ con ta tay trắng, không nhà cửa, không nơi nương tựa nên phải mượn danh bố Lượng. Bà Thương chẳng nói với mẹ rằng:  “Cháu ở đây với bác, sinh con xong. Cháu muốn đi cũng được, bác không giữ.” Ân nghĩa của mẹ Thương là quá lớn, nhưng mẹ đã chăm sóc cụ ấy hàng chục năm trời, lo cho cụ mồ yên mả đẹp. Trước khi ra đi, mẹ con ta đã xây mộ cho hai cụ khang trang, to đẹp hơn hẳn những người ở địa phương. Đất đai, nhà cửa và mọi đồ dùng trong nhà đều nhường lại cho con cháu các cụ. Khi mẹ đến như thế nào, lúc ra đi cũng chỉ vậy. Bố Lượng có gia đình vợ con rồi. Bố Lượng không là bố đẻ thì là bố vợ có sao đâu. Tứ thân phụ mẫu đều như nhau. Cả Cụ Thương và bố Lượng yên nghỉ ở nơi vĩnh hằng biết điều này chắc vui lắm. Sau này, con sẽ thờ cúng hai cụ và bố Lượng suốt đời. Tình nghĩa như thế là trọn vẹn. Mẹ con ta không mang tiếng là kẻ vong ân bội nghĩa. Những nỗi đau khi mẹ bụng mang dạ chửa phải bỏ nhà ra đi chỉ còn là vết sẹo, kỷ niệm về quá khứ, nhắc đến cũng chăng ích gì nữa. Xét cho cùng tất cả đều do chiến tranh.

Bao nhiêu nỗi buồn lắng sâu trong lòng bà Huyền như được giải tỏa. Bà vui vẻ, hào hứng hẳn lên:

- Con nói rất trúng ý mẹ. Nhưng mẹ chưa tìm được những bước tiếp theo. Bắt đầu từ đâu, làm gì bây giờ?

- Theo con, mẹ cần gặp bố Dân bàn bạc cụ thể và thống nhất phương án giải quyết. Khi mới gặp bố Dân, mẹ chẳng giục ông ấy lấy vợ đi là gì? Bố Dân đâu có biết bố Lượng chỉ là cái ô cho mẹ con ta trú đang cơn nắng gắt, mưa dầm. Bố Dân mới thực là chồng của mẹ, cha đẻ của con. Sự việc rõ như ban ngày, còn giấu đố, úp mở gì nữa. Mấy hôm nay, con đi chơi ở trong xóm, người ta truyền nhau rằng: “ Tình yêu của ông Dân và bà Huyền vượt qua bao nhiêu ghềnh thác, cuối cùng họ cũng được đoàn tụ. Đáng mừng hơn cả, anh con trai, khi bà Huyền bỏ nhà ra đi còn nằm trong bụng mẹ thì nay đã gần ba mươi tuổi, giống ông Dân như đúc”. Bố mẹ khổ quá rồi. Ở đời ít ai khổ sở, gặp nhiều trắc trở như bố mẹ

- Tối nay, mẹ con ta gặp bố Dân.

Bà Huyền tỏ ra hăng hái, quyết tâm nói với con.

Tối hôm ấy, trăng sao đầy trời. Gió thổi hiu hiu. Những đám mây lưng thững trôi. Mặt trăng khi sáng tỏ, lúc bị mây che khuất làm cho bầu trời tối sầm lại. Cụ Thân và vợ chồng con cái nhà Mão đi chơi vắng, dành nhà cho mẹ con bà Huyền tiếp khách.

Tối một lúc lâu, ông Dân tới. Cả ba người đều ngồi lặng yên. Chỉ có tiếng chuột chạy đuổi nhau trên mái nhà và tiếng vo ve của đàn muỗi. Ngoài trời thật yên tĩnh, gió vẫn thổi, trăng, sao vẫn sáng tỏ. Bà Huyền chủ động phá cái không khí nặng nề bằng câu hỏi:

- Anh có biết ai đây không? Bà chỉ tay về phía Thứ.

Ông Dân đưa đôi mắt rực sáng nhìn về phía Thứ. Rồi ông lắc đầu. Bà Huyền tự trả lời:

- Con trai anh đó! Nó là kết quả cái đêm trăng sáng trên đồi sim để ngày mai anh lên đường ra mặt trận.

Sau câu nói của bà Huyền hai bố con ông Dân ôm lấy nhau,.  Ông Dân gọi con. Thứ sung sướng gọi bố. Nước mắt ông Dân ướt đầm mái đầu con. Cha con cứ ôm ghì lấy nhau cho bõ những ngày mong đợi, tìm kiếm, lo âu, khắc khoải. Niềm vui sum họp, khiến bà Huyền không cầm nổi nước mắt. Nhìn hai bố con ôm nhau lồng ngực bà Huyên muốn nổ tung vì vui sướng. Ông Dân nghẹn ngào nói:

- Em và con hãy tha thứ cho tôi. Vì tôi mà em và con lưu lạc suốt mấy chục năm trời, uống cạn chén nước oan nghiệt, tủi nhục và gian khổ. Hai mẹ con sống đến ngày hôm nay, tôi vui như trời cho tôi sống lại, sống lại sau bao lần chết hụt. Gần ba mươi năm chờ đợi, hai mươi năm đi tìm của tôi quả không uổng. Nó được đền bù bằng sự, sum họp hôm nay.

Bà Huyền vừa khóc, vừa kể lại những ngày đã qua. Tiếng nói của bà bị đứt quãng bởi những nghẹn nấc. Nhưng bà cố kể hết ngọn ngành cho ông nghe. Con người cứng rắn như ông Dân mà cũng không cầm nổi xúc động, nước mắt tuôn trào.

- Em và con đã bàn với nhau rồi. Lúc trẻ, vợ chồng không được sống bên nhau. Những ngày còn lại, chúng ta không thể xa nhau nữa. Ý anh thế nào?

- Cám ơn em và con. Anh không hề mất giọt mồ hôi, nước mắt, không hề phải nuôi dưỡng con. Bây giờ, anh có tất cả. Anh sung sướng quá, hạnh phúc qua: “Vợ con tôi đây rồi”. Nhưng cái khó là chúng ta danh không chính, ngôn không thuận. Phải làm gì để giải tỏa cái hàng rào vô hình mà phức tạp này?.

Câu hỏi của ông Dân đưa ra cũng là nỗi đau, nhức nhối của bà Huyền và Thứ. Mọi người ngồi lặng phắc. Bỗng tiếng nói của Thứ phá tan không khí nặng nề này:

- Xin phép bố mẹ, con xin đưa ra lời giải. Thưa bố mẹ! Bố Lượng chỉ là cái bóng để mẹ và con nương nhờ khi khó khăn, lúc đầu là giả. Thời gian biến đổi, giả thành thật. Về mặt dư luận xã hội và luật pháp mẹ là vợ bố Lượng. Con là con bố Lượng, pháp luật thừa nhận hẳn hoi. Nhưng về đạo nghĩa, bố Dân và mẹ mới là vợ chồng thật. Con là giọt máu của bố Dân. Nhưng trớ trêu thay cái thật ấy chỉ bó hẹp trong phạm vi gia đình nhỏ bé. Ông bà nội, ngoại thì mới thừa nhận. Cái giả được xã hội thừa nhận gần ba mươi năm rồi. Trong khi đó cái thật lại bị rơi vào lãng quên. Bố mẹ đã có với nhau một đứa con, nếu sớm như người ta đã có cháu rồi. Đó là kết quả của mối tình tuyệt đẹp, sự hiến dâng tự nguyện cho bố lên đường ra mặt trận bảo vệ Tổ quốc. Một lời thề giữ trọn vẹn, lòng chung thủy trong sáng như pha lê hiếm có. Bây giờ, mẹ là người đàn bà góa chồng. Bố là người đàn ông chưa vợ. Về mặt pháp luật và dư luận xã hội, bố mẹ làm lễ cưới nhau chẳng có gì sai. Thời gian gấp lắm. Con hết phép rồi. Con và mẹ đi Sài Gòn trước. Bố lo giấy tờ xin chuyển vào trong đó, ta tính sau. Sự thật về bố mẹ ở trong đó mới chỉ có ngoại út, má Khang cả An biết thôi, nhưng họ là những người thân, họ hiểu và rất thông cảm. Con xin phép ra ngoài một lát, bố, mẹ cứ bàn kỹ đi!

Chỉ còn lại ông Dân và bà Huyền. Tất cả những kỷ niệm của thời trẻ ào ào chảy về với họ. Sức mạnh của tình yêu, bị kìm nén bao năm qua vùng dậy, thôi thúc, giục giã họ. Bà Huyền đến ngồi bên ông Dân, bà ôm lấy ông Dân hôn lấy, hôn để bù lại những năm xa cách. Ông Dân sợ con quay trở lại tức thì, khẽ đẩy bà ra:

- Kìa em! Con nó quay trở lại đấy!

 Thằng Thứ biết lắm. Con nó đi ra ngoài là muốn bố mẹ tự do, anh không phải ngại.

Nghe bà Huyền nói vậy, sự kìm nén, chờ đợi suốt mấy chục năm trời vụt sống lại trong ông. Ông quay ngoắt người lại, ghì chặt lấy bà vào lòng và trận mưa hôn xối xả, ào ào trút xuống người bà Huyền. Bà Huyền ngồi ngây người đón nhận, đê mê sung sướng… Ông vuốt ve, âu yếm như ngày nào. Một lúc sau, Thứ quay trở lại. Vừa đến sân, anh hắng giọng đánh động cho bố mẹ. Ông bà lại ngồi cách xa nhau, vừa nhìn nhau say đắm và tiếc nuối, vừa trò chuyện vui vẻ. Vừa vào tới nhà, Thứ hỏi ngay:

- Bố mẹ định thế nào?

- Bố mẹ bàn kỹ rồi. Phương án con đưa ra là tối ưu. Bố đi lúc nào cũng được. Ông bà nội về quê cả rồi. Các chú, các cô đều có gia đình riêng. Ông bà ngoại tuy lớn tuổi nhưng các cậu, các dì đều ở gần kề. Bố có hai điều đáng lo: Chuyển công tác vào thành phố Hồ Chí Minh rất khó khăn. Vấn đề nhà ở, con chuẩn bị đến đâu rồi?  Ngồi nghĩ một lúc Thứ trả lời bố:

- Nhà ở, bố mẹ khỏi lo. Con được phân căn hộ khá rộng, một phòng khách, phòng cho bố mẹ, phòng của chúng con, khu nhà bếp vệ sinh riêng biệt. Sau này gia đình phát triển ta tính tiếp. Còn việc thuyên chuyển công tác vào thành phố thì khó thật. Nếu không muốn nói là cực kỳ khó khăn phức tạp. Nhưng khó đối với người không có điều kiện, với bố con bảo đảm xin được.

- Bố con anh nhẹ gánh. Khi đi chỉ đẩy sào là xong, không vương vấn gì. Chỉ có tôi là nặng gánh. Ra đi ngổn ngang trăm mối tơ vò.

- Mẹ có gì nặng gánh. Mẹ kể cho bốvà con nghe xem. Thứ ngắt lời mẹ nói.

- Ông bà nội, ngoại của con đã già như chuối chín cây, bố mẹ không ở nhà chăm sóc được.

Bà Huyền buồn buồn nói cùng chồng con.

- Mẹ đừng lo. Mẹ đi lấy chồng thì phải theo chồng, theo con, phải lo việc nhà chồng. Có ai làm trái điều đó không? Khi vào trong đó,  mỗi năm mẹ về thăm ông bà ngoại một lần. Thi thoảng gửi quà, hoặc tiền biếu ông bà ngoại. Việc đó bây giờ chẳng có gì khó khăn. Mẹ yên tâm chưa?

Ông Dân cũng vào hùa với con:

- Thằng Thứ nói rất phải. Em không cần bận tâm nữa. Khi ra đi em phải vui lên mới phải. Bao năm em làm lụng vất vả, ăn đói, mặc rách, nuôi mẹ chồng, nuôi con, nay em có quyền nghỉ ngơi, hưởng hạnh phúc gia đình đoàn tụ. Em phải vui lên cho bố con tôi yên tâm.

Thứ nói với bố:

- Bố phải làm hồ sơ xin chuyển công tác để con mang theo. Con nhờ bố nói với các chú, các cô bên nội, vì hoàn cảnh con chưa đến thăm được. Rất mong mọi người thông cảm và xin khất dịp khác.

- Ngay mai, em và con cứ đi trước, anh sẽ vào sau. Xa nhau bao nhiêu năm còn chịu nổi, huống chi ngày đoàn tụ chỉ tính từng ngày.

Vừa lúc đó, vợ chồng Mão và các cháu đi chơi về. Thứ nhanh nhẹn thay mặt bố mẹ mời.

- Mời cậu, mợ ngồi uống nước.

Uống xong chén nước nóng, Mão hắng giọng nói:

- Sáng mai, vợ chồng em làm vài mâm cơm liên hoan tiễn chân bá Huyền và cháu Thứ, mời bác Dân tới dự cho vui. Khi bá Huyền đi khỏi nhà, em mới khoảng 9-10 tuổi gì đó. Gần ba mươi năm chị em mới có dịp gặp nhau, Bác Dân chờ đợi, đi tìm kiếm gần hai mươi năm chứ ít đâu. Bây giờ hai bác gặp nhau cả nhà đều vui, mở tiệc ăn mừng là đúng quá rồi.

Ông Dân từ chối khéo:

- Cám ơn cậu mợ. Sáng mai, tôi có giờ dạy nên phải đi sớm. Đúng ra phải đi từ chiều hôm nay. Rất tiếc, tôi không dự tiệc vui này.

Mão thật thà nói:

- Bác nghỉ một buổi có chết ai đâu. Bác không muốn dự nên lý do thế thôi!

- Không! Không được đâu. Bỏ giờ là bị kỷ luật liền ngay tức thì. Ông Dân xin phép ra về. Bà Huyền tiễn chân ra tới cổng. Ông, bà còn nói chuyện với nhau khá lâu. Cuối cùng bà nắm tay dặn:

- Anh nhớ thu xếp nhanh nhanh lên nhé. Em và con mong anh từng ngày, từng giờ! Ông Dân hôn nhẹ lên má bà Huyền. Họ chia tay nhau đầy ắp những kỷ niệm vui, buồn và hy vọng tràn trề hạnh phúc.

- Mọi việc ổn thỏa cả rồi, mẹ yên tâm chưa?

 Thứ hỏi mẹ.

- Là mẹ nói thế! Mẹ không đi Sài Gòn với con thì còn đi đâu bây giờ. Đất đai, nhà cửa, mọi tài sản trong nhà, mẹ chia cho các cháu hết rồi, còn gì nữa. Qua cầu rút ván quay về thế nào được nữa.

- Nhưng mẹ phải vui lên cho con yên tâm.

*

*       *

5. Khi mẹ con bà Huyền xuống đến ga Hà Nội thì nắng đã nhạt. Hoàng  hôn chuyển dần sang màu tím. Bà Huyền không khỏi nhớ tới mùa hoa sim và đêm trăng sáng trên đồi sim. Nhà ga người chật như nêm cối. Ngồi ở phòng chờ, bà Huyền nửa mừng, nửa lo. Kể từ hôm nay, cuộc đời bà sang trang mới. Bà cùng chồng con ở thành phố đông dân nhất nước, trung tâm kinh tế, chính trị lớn. Nhưng bà làm gì để sống, bà vốn là người lao động? Ngồi không ăn bám chồng, con à? Trước nay, bà chỉ biết làm nương, làm rẫy trồng sắn, trồng chè và cấy lúa. Liệu chồng con có nuôi nổi không?

- Mẹ cứ ngồi đây, con đi gọi điện cho An. Lời nói của con trai cắt đứt dòng suy nghĩ của bà.

- An à! Anh và mẹ lên tàu vào giờ... Đến ga Sài Gòn vào giờ... Nếu em không bận thì đón anh và mẹ vào giờ trên. Nếu bận thì đón anh và mẹ tại nhà. Bữa trưa ta tổ chức đón mẹ tại nhà.

- Dạ! Em sẽ đi đón mẹ và anh tại ga Sài Gòn.

Là học sinh tốt nghiệp PTTH, đầy ắp những ước mơ đẹp rất lãng mạn, bà Huyền tự giết chết nó, vùi đầu vào việc nuôi mẹ già, nuôi con khôn lớn và trở thành nàng Tô Thị của thời đại. Cả cuộc đời bà buộc chặt với đồng ruộng, bạn cùng tương cà, dưa muối. Bà chưa một lần đi khỏi cái làng quê xa xôi, hẻo lánh. Tháng  ngày bà ẩn mình dưới những dãy núi cao. Buổi sáng, khi sương sớm giăng giăng phủ kín bầu trời, khi ánh dương vượt lên những ngọn núi cao, uống cạn những giọt sương đêm trên lá, trên cỏ, bà lên nương, rẫy. Bà làm việc cả buổi trưa trên những mảnh ruộng bậc thang. Bà quen thuộc từng góc bờ, bụi cây. Hoàng hôn buông xuống như bụi phấn mờ bà mới trở về nhà. Lần đầu tiên đặt chân tới Hà Nội, bà thấy cái gì cũng mới lạ. Người ở đâu ra mà đông như kiến vỡ tổ. Bà đi sát bên con, không dám rời con nửa bước. Từ nhà ga lên tàu Thống nhất, bà bám chặt lấy thắt lưng con mà đi. Bữa cơm đầu tiên trên tàu, bà Huyền thấy khó nuốt quá, bởi những mùi vị lạ hoắc đưa vào mũi, vào miệng khiến bà chỉ muốn nôn ọe. Bà uể oải xúc từng thìa cơm đưa vào miệng, nhắm mắt, nhăn mặt mà không nuốt hết suất cơm nhà tàu. Thấy vậy, Thứ hỏi mẹ:

- Tại sao mẹ ăn ít thế?

- Mẹ ăn đủ rồi. Bà trả lời cho con vui lòng.

   Vài giờ sau, bà thấy bụng đau quặn liên hồi cứ như có ai thúc vào bụng. Bà gục đầu xuống cái bàn con, lúc nghiêng bên này, khi ngoẹo bên kia, oằn oại. Bà muốn đi vệ sinh quá! Tàu lắc lư thế này thì đi sao nổi. Đi ở đâu bây giờ? Bà buộc phải thú thực với con. Thứ dìu mẹ tới buồng vệ sinh và hướng dẫn mẹ từng ly từng tí. Anh ra ngoài đứng chờ mẹ. Là bác sỹ, anh hiểu ngay bệnh tình của mẹ. Uống vài viên thuốc, bà khỏi liền. Những bữa tiếp theo, anh chỉ cho mẹ ăn bánh mì và uống nước khoáng. Bà thấy bụng dạ dịu êm, người trở lại bình thường.

Đoàn tàu đưa khách tới ga Sài Gòn. Bà Huyền thấy choáng ngợp giữa đám người đông như kiến vỡ tổ, còn đông hơn cả ga Hà Nội. Người trên tàu xuống ga. Người đi đón người thân, người đi chở khách thuê, người khuân vác thuê, người đi lại như mắc cửi. Vừa bước xuống sân ga, Thứ đã thấy An đang nghển cổ tìm kiếm. Anh gọi thật to:

- An! An! Anh đây cơ mà!

An chạy tới đón túi xách từ tay Thứ. An dắt mẹ theo sau. Thứ vui vẻ giới thiệu:

- Đây là mẹ anh! Còn đây là con dâu tương của mẹ.

An lễ phép:

- Cháu chào bác ạ!

- Bác chào cháu!

Thứ phân công:

- Em đưa mẹ về trước! Anh bắt xe ôm về sau.

- Anh không phải đi xe ôm đâu. Hạnh cũng đi đón bác và anh. Cô ấy trông xe ngoài cổng ga.

- Hạnh sốt sắng phân công:

- Em đưa bác về trước. Anh chị tự lai nhau và chở đồ đạc.

Kể từ khi đụng độ nhỏ với Thứ, được bà chỉ bảo, Hạnh thay đổi hắn. Chị thực sự nhìn nhận Thứ là anh trai. Chị quý mến chị An hơn bao giờ hết, chấm dứt cái nhìn ghen ghét, theo dõi nhau từng li, từng tí và đối đáp cạnh khóe từng lời. Khi chị An gọi điện tới, Hạnh hồ hởi dắt xe đi liền. Thứ dặn Hạnh:

- Thôi được rồi. Hạnh đi từ từ kẻo má sợ. Mẹ ôm chặt vào cô Hạnh, nhắm mắt lại là hết sợ.

Tất cả gia tài của bà Huyền chỉ nằm gọn trong cái túi xách nhỏ. Thứ và An về tới nhà lâu rồi mà vẫn chưa thấy Hạnh chở mẹ về. Thứ cảm thấy không yên tâm. An nói, tay lái của Hạnh rất lụa anh khỏi phải lo. Chỉ sợ mẹ lần đầu ngồi đi xe máy, nhìn thấy dòng xe lao vun vút, mẹ hoảng hồn, ngồi không vững làm cướp tay lái của Hạnh xảy ra tai nạn ngang  đường. Thứ bớt lo lắng. Anh nói với An:

-  Này An! Em chịu khó đi chợ mua cái gì ăn. Anh ở nhà lau chùi, dọn dẹp nhà của. À quên, mua gì tùy em nhưng không được thiếu rau muống và đậu phụ nhé!

Anh rút tiền đua cho An. Chị nhìn anh tình tứ nói:

- Anh sòng phẳng quá đấy! Em cho anh vay rồi trả em sau.

Hạnh vừa đưa bà Huyền về đến nhà, Thứ hỏi ngay:

- Em đi lâu thế. Anh lo đứng lo ngồi mãi. Em đưa mẹ đi tắm giúp anh. Hai, ba ngày nay, mẹ chưa được tắm chắc khó chịu lắm đấy. Khi tàu tới Đà Nẵng, bảo mẹ đi tắm nhưng mẹ ngại. Khi hậu trong này oi bức, nóng nực lắm. Một ngày không tắm chịu sao nổi.

Hạnh đưa bà Huyên vào buồng tắm. Cô giúp bà tắm giặt rất chu đáo. Bà Huyền ngoan ngoãn làm theo lời hướng dẫn của cô. Hạnh đưa cho bà Huyền bộ quần có màu hồng nhạt loại vải tốt, đắt tiền, sang trọng, kể cả đồ lót. Khi thấy bà ngần ngại. Hạnh nhỏ nhẹ:

- Ở trong này người ta mặc cả thế mẹ ạ. Trên đường từ ga về nhà, mẹ thấy có ai mặc quần áo cũ đâu. Đây là tiền anh Thứ, chị An gửi nhờ con mua giúp mẹ. Mẹ đừng ngại, rồi sẽ quen.

Bà Huyền chẳng còn lý do gì để chối. Bà đón lấy bộ quần áo từ tay Hạnh. Bà Huyền mặc bộ quần áo mới vừa vặn như in. Từ trong phòng tắm đi ra, bà Huyền sang trọng, lịch lãm hẳn lên. Mùi thơm của dầu gội đầu, xà phòng thơm tỏa khắp căn phòng. Bà thực sự đổi đời. Thứ biết ngay Hạnh là đạo diễn “vở kịch” này. Anh khen mẹ mà chính để khen “tác giả và đạo diễn”. Thứ ngạc nhiên hỏi, quần áo ở đâu ra mà mẹ diện thế! Ồ vừa vặn, quá sang trọng, quá lịch thiệp. Rất mô-đen. Rất Sài Gòn.

Nghe con khen vậy, hai má bà Huyền nóng ran. Bà thấy ngường ngượng. Biết thế này đừng mặc cho xong. Nhưng con mọc răng nói năng gì nữa. Thôi đành vậy. Bà giải thích:

- Trên đường từ ga về nhà, cô Hạnh dừng lại ở dọc đường mua cho mẹ. Vì thế mới lâu vậy. Mẹ định không mặc, nhưng cô Hạnh khéo nói quá, nhiệt tình quá khiến mẹ không từ chối nổi. Cô ấy nói, anh Thứ và chị An gửi tiền nhờ cô ấy mua đỡ. Không những chỉ một bộ mà còn ba bộ chứ ít đâu.

- Em gái anh thông minh, giỏi lắm. Xứng danh là nhà “ngoại giao” tài ba.

Thứ khen.

Nghe anh trai khen, Hạnh mát từng khúc ruột. Hạnh nghĩ “Chị không xấu người, xấu nết. Chẳng qua, chị yêu anh anh quá nên có lúc mù quáng. Khi nhận  ra ánh sáng, chị thông minh, tháo vát như ai. Vài bộ quần áo tặng mẹ có đáng gì với sự chăm sóc, giúp đỡ, thương yêu của anh ấy”..

An đi chợ về, chị nhìn thấy mẹ Huyền liền nói:

- Mẹ ăn mặc rất có duyên, rất quí phái và kiêu sa. - Chợt chị cảm thấy ngượng ngại khi dùng từ mẹ, liệu có quá sớm không. Chị vội chữa:

- Đây mới là bước khởi đầu, bác còn phải thay đổi nhiều hơn nữa cho phù hợp với dân Sài Gòn. Một cuộc cách mạng, đổi đời đấy bác ạ! Đây chắc là sáng kiến của cô Hạnh.

Bữa cơm liên hoan, gọn nhẹ giữa mẹ con bà Huyền và hai cô gái Sài Gòn thật thân tình và vui vẻ. Mọi người nói cười râm ran. Niềm vui đầy ắp trong căn phòng, thấm vào đường gân thớ thịt mỗi người. Bà Huyền thỉnh thoảng góp đôi lời, bà biết gì mà nói chuyện. Điều bà biết, nói ra lại sợ sai. An và Hạnh không còn là địch thủ của nhau nữa, cười nói thoải mái hết cỡ. Họ đến với nhau trong tình thân người cùng một nhà, cùng bầu trời đầy sao. Cô em gái và chị dâu thực sự thông cảm, yêu thương nhau, không như ai đó đã nói: Giặc bên Ngô không bằng mãnh bà cô nhà chồng. Hạnh xin phép đi làm buổi chiều, để lại cuộc họp mặt cho ngày hôm sau.

Thứ bàn với An:

- Chủ nhật này để mẹ nghỉ ngơi cho lại sức. Chủ nhật sau đưa mẹ về dưới quê thăm ba má. Hai bà mẹ sẽ có dịp bày tỏ nỗi lòng cho nhau nghe. Cuộc gặp này chắc đặc biệt lắm, chắc chẳng ai vui bằng, muốn đốt cháy tâm can. Hai bà mẹ có hoàn cảnh gần giống nhau, cùng trải qua những khốc liệt của cuộc sống. Bây giờ, họ sắp là thông gia, là bạn với nhau. Một ngày chứ mười ngày nói vẫn chưa hết chuyện.

An tham gia thêm.

- Cũng phải thôi! Ngày mai, em tới đưa mẹ đi may vài bộ đồ và mua giày dép luôn thể.

Bà Huyền giãy nảy lên như đỉa phải vôi:

- Không! Mua làm gì cho tốn tiền. Cô Hạnh vừa mua cho mẹ ba bộ đồ mới tinh và rất đẹp. Mẹ có đi đâu mà cần quần áo đẹp, ở nhà mẹ mặc rông rài thế nào cũng xong.

Thứ động viên mẹ:

- An nói phải đó mẹ ạ! Con đã nói với mẹ từ ngoài nhà, mẹ có nghe đâu. Mẹ tha những quần áo ấy từ ngoài vào đây để làm gì. Ở đây, mẹ phải thay đổi cách ăn mặc cho phù hợp với thành phố. Mẹ không cưỡng nổi đâu. Cô Hạnh mua quần áo cho mẹ là quà tặng của cô ấy. Còn An sắp là con dâu mua cho mẹ, tại sao mẹ từ chối? Mẹ cứ để mặc chúng con.

Tối nay, An phải trực. Chị nấu cơm sớm hơn mọi ngày. Ăn xong, chị xin phép đi làm.

- Thong thả chút nữa, còn sớm mà. Sao em vội thế? Thứ hỏi

- Em phải ghé qua nhà tắm giặt, thay quần áo.

Bà Huyền sửng sốt hỏi:

- Tại sao cháu phải đi làm đêm?

- Dạ! Thưa bác, hôm nay cháu nghỉ cả rồi. Đêm phải đi làm bù. Nghề nghiệp của tụi cháu thế mà…

An đi rồi. Bà Huyền nằm nghỉ cho đỡ mệt. Vừa đặt mình xuống, bà ngủ như chết. Hai đêm trên tàu, bà mất ngủ. Thứ tiếp tục thu dọn đồ đạc và rửa bát đũa. Anh nghĩ tới công việc ngày mai. Việc đầu tiên là phải hướng dẫn mẹ cách sử dụng đồ điện, nước và một só điều cần thiết về sinh hoạt thành phố. Đặc biệt, anh phải hướng dẫn mẹ cách giao tiếp, ứng xử sao cho phù hợp với nơi thị thành mà không để mất đi bản chất tốt đẹp của mình. Với mẹ, đây là cái mốc thay đổi trong cuộc đời. Mẹ phải thay đổi những lối sống, tập quán xưa. Rất may, mẹ có kiến thức nên chỉ nói qua là mẹ biết ngay, tiếp thu  nhanh. Chỉ có điều, tiền bạc thâm hụt quá nhiều. Ba năm trời tằn tiện, tích cóp được một ít đem về sang cát và xây mộ cho ông bà, quà cáp, rồi đi đường gần cháy túi. Còn nửa tháng nữa mới đến kỳ lĩnh lương. Nhưng quyết không để mẹ biết.

Tiếng còi ô tô inh ỏi ngoài cửa. tiếp đến là tiếng gõ cửa cọc! cọc! cắt đứt dòng suy nghĩ của Thứ. Anh vội chạy ra mở cửa. Anh hết sức ngạc nhiên trước mặt anh là ông bà Năm và Hạnh. Thứ lắp bắp:

- Con chào ba, má! Anh chào Hạnh.

Ông Năm giải thích luôn:

- Ba vừa đi làm về. Nghe Hạnh nói, con vừa đón má vô lúc sáng. Ba má vội đến thăm ngay. Má con đâu?

- Dạ! Thưa ba, má! Mẹ con vừa chợp mắt được một chút. Lần đầu tiên đi tàu xe, đường dài nên rất mệt. Ba, má ngồi chơi, con đánh thức mẹ con dậy

Bà Huyền từ trong phòng bước ra. Bà tươi cười, niềm nở:

- Em chào hai bác! Bác chào cháu Hạnh.

Thứ giới thiệu ;

- Con giới thiệu với mẹ. Đây là ba, má Năm. Cha mẹ đỡ đầu của con. Những năm xa nhà, xa mẹ, con được ba, má cưu mang, thương yêu như chính con mình đẻ ra.

Từ khi vào nhà, bà Năm chưa hề nói câu nào. Bà để ý bà Huyền từ lời ăn  tiếng nói cho tới bước đi và cách ăn mặc. Bà tự nhủ, bà này xem chừng cũng được học hành. Chỉ có điều lam lũ nhiều quá nên gầy và đen. Thời con gái chắc cũng có nhan sắc làm bao chàng trai chết mê, chết mệt. Nhưng bà ấy còn ngượng ngùng đủ thứ, nhất là bộ quần áo mới. Bà Năm hỏi chị thứ mấy? Bà Huyền ngớ người ra, chẳng biết trả lời như thế nào. Bà nhìn Thứ để cầu cứu.

Thứ vội đỡ lời mẹ:

- Dạ! Thưa má!, Mẹ con thứ hai ạ!

Bà Năm lại hỏi:

- Chị Hai bao nhiêu tuổi?

Từ lâu, bà Huyền đâu có nghĩ đến tuổi tác. Bà nhẩm nhẩm rồi trả lời:

-Thưa bác! Em bốn mươi bảy ạ!

Bà Năm cười:

- Chị xấp xỉ tuổi tôi. Nhân dịp chị vô trong này ở với cháu, vợ chồng tôi có ít quà biếu chị. Gọi là tấm lòng thành.

Một lần nữa, bà Huyền đưa mắt cầu cứu con trai. Thứ cười. Bà Huyền hiểu ngay, nhận được không phải giữ ý. Bà Huyền đưa hai tay đón nhận gói quà.

- Em xin hai bác. Hai bác cho em nhiều thế! Em cảm ơn hai bác nhiều!

Ông Năm hào hứng, phấn khởi:

- Tôi xin thông báo để chị Hai biết. Cùng một lúc chị và cháu có hai niềm vui. Thứ nhất hai mẹ con được đoàn tụ với nhau. Thứ hai, Thứ vừa có quyết định bổ nhiệm làm Phó chủ nhiệm khoa, quyền chủ nhiệm.

Thứ xúc động, sôi nổi nói:

- Con xin cám ơn ba. Con sẽ cố gắng làm việc để xứng đáng với sự quan tâm dạy bảo của ba.

Ông Năm cười, cười xoa tay:

- Ba chẳng có công lao gì trong chuyện này. Đó là tài năng, đức độ của con. Tổ chức con định đề bạt vượt cấp làm trưởng khoa ngay. Nhưng bàn đi, tính lại làm thế sợ mọi người chưa phục. Bản thân con dễ tự cao, tự mãn. Làm phó mà quyền trưởng thì vẫn thế, thuận tiện cho công việc của con hơn, giúp con phấn đấu tốt hơn, thêm một vài năm thì làm trưởng.

Bà Huyền tỏ ra là người hiểu biết và khôn ngoan:

- Mẹ con em xin cảm ơn bác. Nhưng gia đình còn nỗi buồn và khó khăn là vợ chồng, cha con chưa được sống cùng nhau.

Ông Năm sững sờ hỏi:

- Nghe nói ba Thứ hy sinh rồi cơ mà!

Tình thế bắt buộc Thứ phải kể hết đầu đuôi câu chuyện cho ông Năm nghe về mối tình chung thủy của cha mẹ suốt mấy chục năm qua. Lúc vui,  khi buồn và cuộc gặp gỡ bất ngờ gần đây. Việc anh không phải là con bố Lượng, liệt sĩ quê Bắc Thái. Anh chỉ giữ kín việc An là con bố Lượng thôi.

Ông Năm càng sững sờ, ngạc nhiên hơn. Ông hỏi:

- Bố cháu là Phạm Đình Dân quê xã X, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phú.

Bà Huyền gật đầu xác nhận. Thứ  không trả lời ông Năm, anh đưa bản sơ yếu lí lịch của bố cho ông Năm. Tay ông Năm run run đón bản lí lịch. Ông vội đọc ngay. Ông đập tay xuống bàn, thốt lên tiếng kêu:

- Trời ơi! Bà Năm ơi! Hạnh ơi! Bác Dân đã hai lần cứu mạng tôi đây rồi! Vợ chồng mình đã lập bàn thờ anh ấy trên gác ba. Khi ấy anh Dân là Tiểu đoàn trưởng, tôi là Chính trị viên tiểu đoàn. Khi nghe anh ấy hy sinh, tôi bỏ ăn mấy bữa và nằm bẹp trên võng. Hôm làm lễ truy điệu anh Dân, ai cũng thương tiếc người chỉ huy gan dạ, dũng cảm, thông minh, lúc nào cũng hết lòng vì đồng đội. Hai mươi năm qua, tôi lập bàn thờ anh. Hạnh ơi! Con chạy về mang tấm hình bác Dân đến đây. Nơi công tác của bố Dân có điện thoại không?

- Dạ! Số điện thoại của bố con đây ạ. Thứ hai tay đưa số điện thoại cho ông Năm.

Ông Năm lấy điện thoại di động, bấm số máy nơi ông Dân công tác.

- Đầu dây bên kia có tiếng hỏi lại: Ông gặp ai? Cho tôi gặp ông Phạm Đình Dân. Bác chờ cho một tí. Có tiếng gọi: Bác Dân ơi! Có người cần gặp! Tiếng chân bước, tiếng nặng, tiếng nhẹ. Tiếng ông Dân từ đầu dây bên kia:

- Tôi là Dân đây! Xin hỏi, ông là ai? Gọi từ đâu tới?

Ông Năm cười khà khà:

- Anh không nhận ra tôi à? Tôi đang nói với anh từ nhà thằng Thứ đây. Vợ con đã đến Sài Gòn an toàn rồi.

- Anh cho tôi gửi lời chúc mừng họ.

- Tao là Năm Mập chính trị viên tiểu đoàn B26 đây. Trong trận đánh vào cứ điểm AL mày đã cứu mạng tao. Hai mươi năm qua, tao lập bàn thờ mày. Cứ đến ngày mày hy sinh, tao sửa mâm cơm cúng mày!

- Tao là Dân tiểu đoàn trưởng B26, cùng đánh cứ điểm A1 với mày đây. Mọi việc chắc vợ con tao kể rồi. Nhưng tại sao mày biết con tao?

- Chuyện dài lắm. Chẳng biết trời xui, đất khiến thế nào, vợ chồng tao lại nhận thằng Thứ làm con đỡ đầu từ mấy năm nay. Thằng con của mày thật là tuyệt, nó có thể đánh đổ hai, ba đứa khác. Nó vừa được đề bạt làm phó chủ nhiệm khoa, quyền chủ nhiệm. Con đường đi lên của nó rộng mở thênh thang.

Tiếng ông Dân từ đầu dây bên kia:

- Đó là nhờ Đảng, nhân dân, quân đội và đặc biệt là mẹ nó nuôi dạy. Tao chỉ là thằng ngồi gốc sung mà hưởng lộc trời.

- Việc mày chuyển vô trong này, tao xin hứa danh dự với mày, nhanh là vài tuần, chậm là một tháng. Chuẩn bị tinh thần đi. Hôm nào vô Sài Gòn phải liên hoan một bữa. Sau đó tao với mày ôm nhau ngủ cho đã đời.

- Ừ! ừ! Cho tao gửi lời thăm hỏi và chúc mừng tới vợ con mày nhé! Mày được mấy đứa con? Ừ! ừ! Hai gái một trai. Ông Dân cười: Đầu lòng hai ả tố nga/ Một trai sau cuối để mà khói hương.

Ông Năm cười khà khà. Mày vẫn như xưa, hóm hỉnh, thông minh và hay văn nghệ.

   Bà Năm hỏi chuyện gì mà hai ông cười thế? Ông Năm nhắc lại câu chuyện giữa ông và ông Dân cùng hai câu thơ cho bà Năm nghe. Bà Năm rất phấn khởi và khen.:

- Bác Dân tài thật đấy, vừa nghe xong đã có thơ liền.

- Dân ạ! Tao vừa nhắc lại hai câu thơ của mày cho cả nhà cùng nghe. Bà xã tao khen lắm.

Ông Dân cười thật to, rất thoải mái:

- Thơ phú gì đâu, tao chỉ tào lao cho vui thôi mà. Mày cho tao nói chuyện với thằng Thứ.

- Thứ đấy à? Cuộc gặp gỡ bất ngờ giữa bố và chú Năm Mập thật là tuyệt và lý thú. Bố chúc mừng con, mong con cố gắng nhiều hơn. Mẹ con thế nào? Khỏe không?

- Mẹ con rất khỏe và vui lắm. Khi nào giấy tờ xong, con sẽ giử thư bảo đảm cho bố.

- Cho bố nói chuyện với mẹ.

- Mẹ ơi! Bố muốn nói chuyện với mẹ.

Bà Huyền khéo léo nói với con:

- Con nói với bố, cho mẹ khất khi khác. Bà ngượng chín cả người. Biết điện thoại thế nào mà nói.

Vừa lúc ấy, Hạnh mang tấm hình ông Dân tới. Tấm hình được vẽ lại khổ 18-24 đặt trong khung kính trang trọng. Ông Năm cầm tấm ảnh giải thích:

- Tấm hình này đặt trên bàn thờ ở tầng ba. Những lần con đến thăm ba má, con không nhìn thấy bàn thờ và tấm hình à?

- Con không những nhìn thấy mà còn đọc đi, đọc lại lời ghi dưới tấm hình. Nhưng lúc đó con cứ tưởng, con là con bố Lượng.

Sau khi quan sát kỹ tấm ảnh, bà Huyền nở nụ cười mãn nguyện. Bà đưa tấm ảnh cho bà Năm:

- Bác xem, cha con nó giống nhau không? Rồi bà tự trả lời. Giống nhau như đúc, như hai giọt nước. Ông ấy bây giờ vẫn thế, chỉ khác mái tóc muối tiêu và cái chân đi tập tễnh vì bị thương.

Bà Năm tán thưởng:

- Bố con anh ấy giống nhau quá. Dù trộn thế nào cũng nhận ra ngay. Đôi lần tôi vẫn bảo với ông Năm nhà tôi, thằng Thứ trông rất giống bác Dân. Kể cũng buồn cười thật đấy, người trong hình và người bên ngoài thường xuyên gặp nhau mà không nhận ra nhau.

Ông Năm cười hể hả:

- Tấm hình này, tôi tạm giữ. Khi nào anh Hai vô, chiều theo ý anh ấy. Chiều mai, 5 giờ mời chị Hai và các con đến nhà tôi dùng cơm. Tôi sẽ cho xe đến đón. Chị Hai nhớ bảo con dâu tương lai đến nhé.

Bà Huyền từ chối khéo:

- Em mới vào còn lạ nước, lạ cái. Hai bác cho em khất. Khi nào nhà em vào, cả hai vợ chồng và các cháu đến thăm hai bác.

- Không được! Đến nhà tôi, chị coi như nhà mình, không phải ý ăn, ý ở gì hết. Chuyện nào đi chuyện đó. Khi nào anh Hai vô lại khác. Lúc đó, tôi lại mời cả nhà. Chị cũng phải tập đi đây, đi đó cho quen dần. Mai mốt, anh Hai vô gọi là tiệc tùng liên miên. Bạn bè ở đây nhiều lắm. Cuộc nào cũng phải có chị. Thôi nhé! Vợ chồng tôi về.

Đó là lời ông Năm Mập.

Chiều nay, bà Năm đến đón bà Huyền. An đi trực không tháp tùng được. Thứ có việc nên đến sau. Trên đường đi, bà Năm cho ô tô dừng lại tiệm may quần áo. Bà Năm may cho bà Huyền ba bộ quần áo dài và hai bộ bà ba (quần áo mặc ở nhà, nếu cần đi đâu đó cũng được. Còn quần áo dài dùng đi dự lễ, hoặc tiệc tùng). Tất cả bằng vải tốt đắt tiền. Qua cửa hàng giày dép, bà Năm mua cho bà Huyền ba đôi giày dép, với kiểu dáng khác nhau. Bà Huyền khăng khăng từ chối. Bà Năm ngọt ngào giải thích: “Chị đừng ngại, anh Năm nhà tôi chẳng nói. Nhà mình và nhà anh Hai Dân như anh em ruột thịt. Anh Hai hai lần cứu mạng tôi. Chị Hai vất vả mãi rồi. Nay chị ấy mới vô, vợ chồng mình phải lo cho chị ấy đầy đủ và chu đáo. Từ nay, chị em mình phải thường xuyên đi lại với nhau. Chị hiểu cho em. Mai mốt, em đưa chị đi Vũng Tàu chơi để chị mạnh dạn lên”.

Bữa cơm chiều hôm ấy là sự họp mặt của gia đình ông Năm và mẹ con bà Huyền. Bữa cơm ghi nhận tình cảm vốn có từ lâu, nhưng hôm nay mới gặp gỡ. Bữa cơm tuy mới lạ, lần đầu bà Năm, bà Huyền gặp nhau nhưng được các ông chồng vun đắp từ những ngày chiến đấu bên nhau, nhường cơm sẻ áo cho nhau. Người vui nhất là ông Năm. Hầu như ông nói cười suốt bữa, ít khi thấy ông ăn uống.  Ông kể cho cả nhà nghe, khi ông Dân hỏi ông có mấy đứa con. Ông vừa trả lời, hai gái một trai. Ông Dân đọc luôn hai câu thơ: Đầu lòng hai ả tố nga/ Một trai sau cuối để mà khói hương.

Cả nhà đều cười. Hà khoái quá, dừng lại nói:

- Bác Dân vận Kiều tài thật, rất phù hợp với hoàn cảnh nhà mình. Bác Dân chắc yêu văn học và am hiểu thi ca lắm.

Ông Năm tủm tỉm cười, tự hào về người bạn già:

- Bác Dân vừa bảo vệ xong học vị tiến sỹ văn chương rồi đó. Mai mốt, bác vô đây, ba giao con cho bác kèm cặp. Hạnh hồ hở nói luôn:

- Anh Thứ cũng chẳng kém. Tấm bằng tiến sỹ y khoa trong tầm tay rồi. Học đến gầy rạc cả người đi. Toán và ngoại ngữ cũng vào loai giỏi đấy. Ba đừng coi thường. Cha nào con ấy mà.

Thứ thấy hơi ngượng, chữa thẹn:

- Hạnh khen anh quá lời rồi. Em định cho anh đi tàu bay giấy à?

Hà cười hi hí, đến bên anh nũng nịu:

- Tối mai, anh đến em hỏi bài toán nhé. Khó quá, em nghĩ nát óc, bạc đầu mà vẫn không làm nổi.

- Được phục vụ em gái, anh rất phấn khởi và xin sẵn sàng. Bà Huyền thấy bố con ông Năm hết lời khen ngợi bố con ông Dân, bà thấy hả lòng, hả dạ, bõ nhưng ngày vất vả, gian khổ.

Ông Năm hồ hở, phân trần:

- Bữa cơm hôm nay, chỉ là khúc nhạc dạo đầu. Hôm nào, anh Hai vô, còn nhiều tiết mục ly kỳ, hấp dẫn nữa. Đấy mới là bản đại hợp xướng của những người lính chúng tôi.

Sau bữa cơm, ông cho lái xe đưa bà Huyền về.

Sáng nay, An được nghỉ bù. Chị phóng xe đến nhà Thứ. Anh ấy đi vắng. Chị tươi cười nói với bà Huyền:

- Hôm nay, con đưa mẹ đi tham quan thành phố.

Chị không gọi là bác nữa mà chuyển sang gọi mẹ. Đêm qua, chị đã nghĩ nát nước rồi, Thứ gọi ba, má chị là ba, má từ lâu. Có gì, chị gọi mẹ anh là bác. Bà Huyền còn đang ngần ngại, lưỡng lự chưa quyết định. An giải thích:

- Mẹ vô trong này, con và anh Thứ là người gần gũi, thân yêu nhất. Sau này, mẹ con ta ăn  đời ở kiếp với nhau, còn nhờ cậy nhau nhiều. Chúng con phải có trách nhiệm với mẹ. Mẹ đừng ngần ngại gì cả. Bà Huyền ngồi lặng yên. Chị tiến thêm bước nữa. Chị dịu dàng, nhỏ nhẹ nói:

- Ở trong này mỗi khi đi khỏi nhà, nhất là khi đi chơi đều phải mặc quần áo đẹp và trang điểm. Để con trang điểm cho mẹ. Bà Huyền như người bị kiến đốt. Bà giãy nảy lên.

- Không! Mẹ chịu thôi!

- Mẹ ạ! Vạn sự khởi đầu nan, lần đầu hơi ngại, lâu dần sẽ quen. Ở ngoài quê, nếu mẹ trang điểm son phấn, người ta tưởng văn công, cả xóm, cả làng chạy đến xem. Anh Thứ kể với con như vậy. Nhưng ở trong này, không trang điểm, sẽ chẳng giống ai cả. Chị vừa nói, vừa cười, có khi... người ta chạy đến coi. Thực lòng, bà chẳng muốn chút nào nhưng nể con:

- Thôi! Tùy con. Nhưng ít ít thôi!

- Anh Thứ không chịu con son phấn lòe loẹt như người ta. Ở tuổi con, có thể đậm hơn một chút. Ở tuổi mẹ, chỉ phớt phớt qua, làm cho da mặt hồng hào thêm.

Trang điểm xong, bà hể hả nói:

- Kể cũng được. Nó làm cho mẹ giảm đi cái màu nắng, gió của đồng ruộng.

 An cười mãn nguyện, ôm lấy mẹ:

- Mẹ nhận thức nhanh lắm, không bảo thủ cố chấp.

 Bà Huyền ôm chặt chị vào lòng.

Hai mẹ con bà Huyền đi chơi. An đưa mẹ đi dạo quanh phố phường. Xe chạy chầm chậm. Đi đến đâu, chị cũng giới thiệu cho mẹ nghe. Đây là chợ Bến Thành, lớn nhất thành phố. Kia là vườn hoa Quách Thị Trang, đường Trần Hưng Đạo chạy từ Sài Gòn vô tút lút mãi trong Chợ Lớn nay gọi là quận 5. Hôm nào rảnh con đưa mẹ vô trong đó chơi, những khu phố toàn người Hoa là người Hoa, mẹ sẽ có cảm tưởng đây là nơi nào đó bên Trung Quốc. Đây là đường Nguyễn Huệ, kia là tượng đài Bác Hồ mới được xây dựng sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, thống nhất đất nước. Ngôi nhà đồ sộ, nguy nga kia là Dinh Độc Lập nay gọi là Hội trường Thống nhất. Bà Huyền vừa nghe xong lời giới thiệu thì xe lại vụt sang phố khác. Bà cố nhớ mà không tài nào nhớ nổi.            

An dừng xe trước cửa tiệm may, bà Huyền ngạc nhiên hỏi:

- Con dừng xe mua gì?

- Con biếu mẹ vài bộ đồ!.

Bà Huyền thật thà:

- May làm gì nữa con. Hôm qua, bà Năm may cho mẹ 5 bộ đồ rồi. Ba bộ quần áo dài và hai bộ nữa gọi là gì mẹ không nhớ. Bà Năm còn mua cho mẹ ba đôi giày dép nữa.

- Mẹ chê chúng con nghèo à? Bà Năm may cho mẹ những 5 bộ thì chúng con cũng may cho mẹ vài bộ. Thế là quá khiên tốn đấy mẹ ạ!

Giọng bà Huyền buồn buồn
       - Con đã nói thế, mẹ chẳng còn biết nói gì nữa. Thôi tùy các con. Khi vào tiệm may, bà Huyền chỉ vào những màu sắc đã có ở nhà để An lựa chọn.

Về tới nhà. An nhanh nhẹn đi làm bếp. Bà Huyền giúp chị những việc có thể làm được. Vừa làm, hai mẹ con vừa nói chuyện tâm đầu ý hợp. Mọi việc gần xong, Thứ đi làm về. Nhìn thấy xe của An anh hiểu ngay. Anh đi nhẹ nhàng xuống bếp, khẽ bịt mắt An: Òa! Chị âu yếm nói:

- Em biết thừa. Tiếng bước chân của anh, in sâu trong tim em từ lâu rồi. Lẫn thế nào được.

- Giỏi! Giỏi! Thưởng cái đây - Anh hôn nhẹ lên má chị. Chị mãn nguyện, cười cười - Chị xoay người lại chìa má để anh hôn.

Bữa cơm trưa ấy. Bà Huyền ngồi giữa, Thứ, An ngồi ở hai bên. Bà Huyền vừa bưng bát cơm lên, tự nhiên hai hàng nước mắt tuôn trào, khiến bà không tài nào nuốt nổi miếng cơm vào bụng. Thấy vậy, Thứ, An đều hỏi:

- Mẹ sao thế?

- Mẹ cảm thấy hạnh phúc quá! Mẹ như cánh diều gặp gió bay là là trên không trung, dưới mắt mẹ là vườn cây đầy hoa trái trĩu cành, thơm ngon đến kỳ lạ. Gần ba mươi năm, lần đầu tiên, mẹ được hưởng hạnh phúc này. Bao nhiêu năm chờ đợi, trèo mãi, trèo lên cây rồi, mẹ chỉ cần đưa tay ra là hái được quả. Chỉ còn tầm tay với nữa thôi là hạnh phúc trọn vẹn,  khi bố con vào sống ở trong này. Bỗng mẹ nhớ tới bố con.

Bà nghẹn nấc, đặt bát đũa xuống mâm:

- Trong lúc mẹ con mình ăn uống vui vẻ, đầy đủ thịt cá, rau dưa thì bố Dân một mình lủi thủi, đun nấu, ăn uống một mình. Có thịt lại không có rau. Thật tội nghiệp. Mai kia, bố Dân vào, các con cưới nhau. Lúc đó, gia đình mới hạnh phúc thật đầy đủ, trọn vẹn.

Thứ an ủi mẹ:

- Thôi! Mẹ đừng buồn nữa. Ít ngày nữa bố Dân vào, mẹ là người vui nhất, có khi quên cả các con.

Bà Huyền ngồi lặng đi một lúc. Bà nói:

- Con nói sai rồi! Mẹ học hành ít, nhưng theo mẹ, xưa nay ít thấy người mẹ nào vì những thú vui riêng mà quên cả đứa con mình dứt ruột đẻ ra. Những loại người ấy là đồ bỏ đi. Nhưng người ta thường thấy những đứa con được bố mẹ nuôi ăn học tử tế, nhưng khi trưởng thành làm ra nhiều tiền bạc, có chức, có quyền, giàu có hơn người, quay đầu lại khinh thường bố mẹ, thậm chí có kẻ còn đang tâm ném bố mẹ già ra ngoài đường.

Biết mình lỡ lời, Thứ quỳ dưới chân mẹ:

- Con cúi lạy, cắn rơm, cắn cỏ xin mẹ tha tội chết. Vì vui quá nên con lỡ lời. Con đâu dám nói mẹ như vậy.

- Đứng dậy đi con. Là mẹ nói thế thôi!

Để giải quyết tình thế, An lễ phép nói:

- Chủ nhật này, con mời mẹ về quê thăm ba má con. Bà Huyền tươi tỉnh nói:

- Nhất định mẹ phải về thăm ba má con rồi. Từ đây về dưới nhà có xa không? Đi bằng phương tiện gì?

- Thưa mẹ! Khoảng 70 cây. Đường dễ đi lắm. Phương tiện tối ưu là xe máy!

- Xe của em có đi ba người được không?

Thứ hỏi

- Không được. Họ phạt cho đấy!

 An trả lời.

Vừa lúc ấy, người cán bộ bưu chính chuyển thư tới gia đình. Thứ đón thư và đọc cho cả nhà cùng nghe.

Vĩnh Phú ngày…

Em và con yêu quý.

Qua điện thoại của anh Năm, anh biết em và con đã tới Sài Gòn an toàn, mạnh khỏe. Anh rất mừng.

Thứ nhớ giúp mẹ về mọi mặt để sớm hòa nhập vào cuộc sống sôi động ở thành phố. Mẹ con đã học hết PTTH và mang theo nhiều ước mơ đẹp. Nhưng vì bố con ta, mẹ sẵn sàng hy sinh tất cả, chờ chồng, nuôi mẹ chồng, nuôi con nên người. Cả đời mẹ con làm lụng vất vả, bạn cùng đồng ruộng và tương cà dưa muối. Công lao của mẹ đối với bố con ta lớn lắm. Nó cao như núi, biển rộng sông dài. Trả bao giờ cho hết được.

Em ạ! Vừa qua, anh được Nhà nước cấp cho 2,5 triệu tiền trợ cấp những năm tù đày trong nhà tù Mỹ ngụy. Số tiền tuy không lớn, không nhiều nhưng thể hiện sự quan tâm của Đảng, Nhà nước đối với những đóng góp một phần xương máu của anh vào cuộc chiến tranh vệ quốc. Dân tộc ta vốn có truyền thống, đạo lý uống nước nhớ nguồn, ăn quả nhớ người trồng cây. Thực hiện đạo lý đó, anh chuyển số tiền ấy tới em và con. Vì anh nghĩ: Tất cả những hạnh phúc anh có được ngày hôm nay đều nhờ công lao của em và con. Em và con rất xứng đáng được hưởng. Anh viết thư trước để em khỏi ngỡ ngàng. Tiền đang trên đường chuyển tới em và con rồi.

Em và con chuyển lời thăm hỏi và chúc sức khỏe của anh tới vợ chồng Năm Mập và ba má An. Đặc biệt, Thứ nhớ chuyển lời thăm hỏi của bố tới An, con dâu tương lai. Nay mai, bố vào trong đó, đám cưới các con sẽ được tổ chức. Đời người chỉ cưới có một lần nên không thể úi xùi được, bạn bè chê cười.

Thời gian đã tới độ chín, bố mẹ rất vui lòng khi các con nên vợ nên chồng.

 Chúc em và con mạnh khỏe, hạnh phúc. Hẹn ngày gặp lại.

Hôn em và con.

Nghe đọc thư xong, bà Huyền nét mặt tươi tắn hẳn lên, nở nụ cười mãn nguyện:

- Bố các con sống tình nghĩa lắm. Bao giờ ông ấy nghĩ tới người thân, ít nghĩ cho bản thân. Thật là người hiếm có.

Thứ cười khích lệ:

- Bố con thật là tuyệt, Nhưng mẹ còn còn tuyệt vời hơn nhiều.

An nói với Thứ: - Chiều nay, em được nghỉ. Anh mang xe của em đi nhé! Xin phép mẹ con đi làm buổi chiều.

Thứ nói. Bà Huyền nói với An trong niềm vui bất tận:

- Thứ giống bố như đúc. Giống về hình dáng là chuyện bình thường nhưng ở đây con giống cả về tính nết nữa. Thứ chịu khó học từ nhỏ, mẹ có bao giờ phải nhắc nhở nửa lời đâu. Thứ và bố Dân đều thông minh và học giỏi. Nếu đặt lên bàn cân thì bố tám lạng, con nửa cân, chẳng ai hơn ai. Vì thế, những năm qua, ông ấy học thông thạo tiếng Anh, Pháp và Nga. Bố Dân vừa nhận bằng tiến sĩ văn chương. Tuy nhà nghèo, Thứ được bà và mẹ rất nuông chiều mà không hư hỏng. Năm nào cu cậu cũng đạt học sinh giỏi. Bà và mẹ rất toại nguyện. Bố Dân vất vả lắm con ạ. Những năm bị tù đày trong nhà tù Mỹ ngụy, chúng đánh ông ấy chết đi sống lại nhiều lần mà không chết là may. Hai mươi năm cô lẻ sống độc thân, côi cút chờ đợi và đi tìm vợ con.

An xúc động nói với mẹ:

- Chúng con rất yêu nhau nhưng rất ít khi anh Thứ đưa con đi chơi. Anh ấy bảo: “Thương yêu nhau, hiểu biết nhau rồi, cần gì phải dắt díu nhau đi ra ngoài đường, lén lút tình tự. Thời gian ấy nên dành để học hành. Là người thầy thuốc, tinh thần trách nhiệm cao, hăng hái, nhiệt tình công tác, hết lòng thương yêu bệnh nhân là cái gốc không thể thiếu được. Nhưng không nắm được tri thức khoa học, liệu giúp gì được ai? Nhìn thấy người bệnh quằn quại, đau đớn mà không biết cách cứu chữa đành bó tay. Người đó lại là người thân của mình thì càng đau xót hơn. Nhờ anh ấy giúp đỡ, chỉ bảo con cũng say mê nghiên cứu khoa học. Từng ấy năm xa chồng, nuôi mẹ, nuôi con, mẹ có hy vọng ngày gặp lại bố con không?”.

Bà Huyền thở dài:

- Lúc nào mẹ cũng linh cảm bố con còn sống. Con người như ông ấy không thể dễ dàng chết được. Nhưng khi đơn vị báo tử, mẹ buộc phải tin. Trong lòng mẹ luôn cầu nguyện có sự lầm lẫn nào đó đối với bố Dân. Một người ở cùng quê,  đã có báo tử hẳn hoi đến năm 1975 lù lù vác ba lô trở về trước sự ngỡ ngàng của dân làng. Mẹ luôn cầu nguyện bố Dân được như vậy. Ngày đó đã đến với mẹ. Tuy mới vào trong này ít ngày nhưng mẹ rất vui. Vì mẹ có Thứ và con. Tất cả những điều Thứ nói với con đều sự thật. Rồi đây các con nên vợ, nên chồng, mẹ vui và mãn nguyện lắm, còn hạnh phúc gì hơn nữa. Đêm ngày, mẹ cầu nguyện hạnh phúc sớm đến với mẹ con ta. Nhờ có niềm tin và hy vọng này, mẹ mới vượt qua tất cả những cơ cực, bất hạnh của cuộc đời. Con sông nào ở thượng nguồn chẳng nhiều ghềnh thác, nhưng về hạ lưu mới bằng phẳng, êm ả chảy. Người mất niềm tin, đồng thời đánh mất luôn cả chính mình con ạ!

Bữa cơm chiều đã chuẩn bị xong. Đúng lúc ấy Thứ đi làm về. Ba mẹ con vừa ngồi xuống mâm cơm thì có tiếng gõ cửa:

- Cộc! Cộc!.. Thứ nhanh nhẹn đứng dậy mở cửa. Anh reo to lên như một đứa trẻ:

- Mẹ ơi! An ơi! Em Hạnh và Hà đến thăm mẹ đây này.         Hạnh, Hà đẩy xe vào nhà. Thứ ngạc nhiên vui vẻ hỏi:

- Hà vừa được ba, má mua xe cho phải không? Khao mẹ và anh chị đi chứ!

- Người phải khao là anh.

Hạnh vừa nói, vừa đưa giấy tờ cho Thứ và giục:

- Anh cứ đọc đi rồi sẽ hiểu. Hà không để Thứ phải đọc, cô giải thích:

- Ba, má mua xe cho anh đấy! Ba nói: “Ba hứa mua xe cho anh từ mấy tháng trước nhưng vì bận quá chưa thực hiện được. Nếu hỏi nói, nó sẽ từ chối”. Thế là, ba mua xe và đăng ký tên luôn cho anh. Em chỉ là người mang xe đến cho anh.

- Anh phải khao là đúng rồi! Thật may hết chỗ nói, anh vẫn định bụng tối nay đến mượn xe Hạnh để ngày mai đưa mẹ đi thăm ba má chị An. An ơi! Em chịu khó đi mua ít thức ăn để anh chiêu đãi hai cô em gái. Thứ nói với mọi người.

An đứng dậy đi liền. Hà từ chối khéo:

- Ăn cơm ở đây, ba má phải chờ cơm, má la chết!

- Tội đâu, anh xin chịu. Ăn xong, anh đưa các em về. Anh cảm ơn và nhận tội với ba, má. Ngày vui thế này, hai em không nên từ chối, làm anh buồn. Các em cứ yên tâm đi.

Hạnh chen ngang:

- Ba má hông mắng anh đâu. Con cưng của ba má cơ mà..

Bữa cơm tối nay cả nhà đều vui. Người mang xe tới và người nhận xe vui lại càng vui hơn. Bữa cơm này là vết đục sâu thêm vào tình nghĩa anh em của Thứ và Hạnh, Hà. Khi ngồi xuống mâm, Hà nói:

- Anh chị mau mau làm đám cưới để tụi em kiếm bữa cỗ.

- Được thôi! Khi ấy, hai cô em gái không được than phiền, việc gì cũng đến các em, mệt đứt cả hơi nhé!

 An nói.

Hạnh nói:

- Nhà này anh Thứ là hên nhất. Anh được chị An cưng chiều. Ba má thì cưng chiều hết mức rồi. Nhiều khi tụi em muốn phát nghen lên. Việc gì cha con cũng bàn bạc với nhau. Mọi việc, ba đều nói, để ba bàn với thằng Thứ đã. Tụi em là phận gái trước sau cũng đi làm dâu nhà người ta, bị coi thường cũng phải thôi!

An đỡ lời Hạnh:

- Phận gái đều thế cả thôi. Đó là quy luật của muôn đời, có ai dám oán trách, tị nạnh. 

Thứ cười hết cỡ:

- Riêng anh rất quý em gái. Em gái tình cảm hơn em trai là cái chắc, ngoan dễ bảo hơn. Khi nào bố Dân vào, anh xin với ba, má Năm và bố Dân, mẹ Huyền cho Hà về bên này ở. Thế là nhà nào cũng có trai, có gái.

Hà cười nắc nẻ:

- Em đồng ý liền, xin giơ cả tay, hai chân. Nhưng bố Dân phải sửa hai câu thơ vừa chúc ba má Năm.

Nghe bọn trẻ trò chuyện, cười nói vui vẻ. Bà cũng thấy vui lây, bà góp chuyện:

- Mẹ vẫn mong có đứa con gái để chấy rận. Nếu mẹ còn đẻ được nữa, mẹ để liền. Bà nghiêng người về phía An, mẹ nói thế chị An thông cảm, đừng tự ái nhé. Người mẹ nào cũng muốn có nếp, có tẻ. Rồi đến lượt các con đều thế cả.

Hạnh reo to lên.

- Hoan hô mẹ! Mẹ thật tuyệt vời.

*

*     *

Vừa bước vào nhà bà Năm, Thứ nói thật to:

- Con chào ba, má!  Con đến để tạ ơn ba, má đã mua xe cho con!

Ông Năm vừa cười, vừa nói:

- Vẽ chuyện. Ơn với huệ gì. Ba hứa mua xe cho con từ mấy tháng trước nhưng bận quá. Bây giờ mới thực hiện là quá chậm.

- Con xin lỗi ba, má, con đã giữ hai em ở lại ăn cơm để ba, má phải chờ. To, nhỏ cũng là bữa cơm “rửa xe” mà thiếu hai cô em gái thì mất vui.

Bà Năm nói ngay:

- Hai nhà như một, có gì mà lỗi với hẹn. Các em ăn cơm bên ấy cũng như ở nhà. Nhưng ở nhà khác thì phải được phép của ba, má.

Hạnh cười khì khì và đưa mắt nhìn Thứ ;

- Em nói rồi. Anh là con cưng của ba, má. Ba, má không rầy la đâu.

Bà Năm lườm con gái:

- Chẳng thế lại không à. Thứ vô nhà má biểu. Thứ đứng dậy nói: Con xin phép ba và đi theo bà Năm.

- Con cầm lấy ít tiền về đặt ngay máy điện thoại để má và mẹ con nói chuyện cho vui. Vừa nói, bà vừa ấn tiền vào tay Thứ. Anh còn ngập ngừng đứng như trời trồng thì bà Năm gắt nhẹ:

- Cầm lấy. Má biểu con có nghe lời không. Tuần sau phải lắp xong máy nghe chưa?

 Thứ xanh mắt không dám nói nửa lời. Anh không lạ gì tính bà Năm. Khi bà cảm thấy đúng và đã quyết định rồi thì đừng có dại mà cãi lại. Hai tay run run, Thứ đón lấy xấp tiền, miệng lắp bắp;

- Dạ! Dạ! Con xin. Con cảm ơn má!

Từ phòng bên ông Năm gọi Thứ:

- Ba có điều muốn nói với con. Ba còn đi công chuyện. Ông Năm đưa tập hồ sơ cho Thứ và nói. Đây là quyết định tiếp nhận của chính quyền và Sở Giáo dục thành phố. Con gửi ngay cho bố Dân. Ba vừa điện cho bố Dân lúc chiều rồi. Ba dặn bố Dân thu xếp công việc vô càng sớm càng tốt. Mọi điều kiện ba nói với bố Dân rồi.

Thứ đưa hai tay đón tập hồ sơ, miệng nói:

- Con xin cảm ơn ba. Được tin này, chắc bố mẹ con vui lắm đây. Ngày mai, con xin phép ba má, đưa mẹ con xuống thăm ba, má An.

- Con nghĩ thế là phải  lắm -  Ông Năm nói.  Thứ định chào ba, má và các em để về thì Hà kéo lại. Hà nũng nịu:

 - Em khổng cho anh về đâu. Anh phải hướng dẫn em giải bài toán đã mới được về. Chị Hạnh nói anh giỏi toán lắm cơ mà.

Thứ cười to:

- Chị Hạnh cũng nghe hơi bắc chõ, có nhìn thấy anh giải toán bao giờ đâu. Nếu anh không giải được, ngồi cắn bút, em đừng cười nhé!

Thứ vui vẻ, nhiệt tình đi theo Hà. Vốn tính say mê khoa học, Thứ quên tất cả. Hà đưa đề toán cho anh. Anh đọc đi, đọc lại và chau mày suy nghĩ.  Một lúc sau, anh hỏi Hà:

- Em đọc kỹ chưa?

- Em đọc rất kỹ và suy nghĩ cả tuần nay mà vẫn tắc tịt.

Anh đặt đề toán xuống bàn và chỉ cho Hà những bí ẩn của đề toán mà những học sinh bình thường không tìm thấy và dễ lầm lẫn. Hà vốn là học sinh thông minh chỉ nghe gợi ý là cô hiểu ngay. Hà reo lên, cô đập nhẹ vào đầu:

- Ngu quá chừng,có thế mà em nghĩ không ra. Em hiểu rồi. Em giải cho anh xem.

Trong khi chờ Hà giải bài toán, anh xem xét các sách vở của cô. Khoảng một giờ sau, Hà đưa bài toán cho anh xem. Anh chăm chú, xem từng bước giải và từng cách lập luận. Anh nói: Bài toán đúng rồi. Phần một em giải hơi dài. Phần hai lập luận chưa thật chặt chẽ, chưa thật lô-gíc lắm. Phải giải như thế này mới ngắn gọn. Phải lập luận như thế này mới đúng và chặt chẽ. Sau đó, anh chỉ cho Hà những lỗ hổng cơ bản của hai môn Hóa học và Sinh học. Từ đó dẫn tới làm sai một số bài tập của hai môn này. Hai môn này là tủ của anh mà. Hà như cô học trò nhỏ chỉ biết há hốc mồm ngồi nghe. Thỉnh thoảng Hà lại nói: Dạ. dạ..

Mười một giờ ba mươi, ông Năm đi làm về thấy phòng của Hà vẫn sáng đèn, vẫn nghe tiếng Thứ đang nói. Ông lặng lẽ bước tới cửa phòng lắng nghe. Hai anh em vẫn say sưa không hề hay biết. Anh say sưa như một thầy giáo thực thụ, em lắng nghe như nuốt lấy từng lời. Bà Năm vẫn chưa ngủ. Bà nghe rõ tiếng Thứ nói mồn một. Nhưng bà biết chắc chắn Hà kính phục Thứ lắm. Bà vùng trở dậy đi theo chồng sang phòng của Hà.

Ông Năm giục:

- Khuya rồi! Con để anh nghỉ chứ! Thứ như tỉnh lại quay về với thực tế:

- Con chào ba, má! Kể từ nay, khi nào yêu cầu hỏi gì, em cứ điện, anh đến ngay. Má vừa cho anh tiền lắp điện thoại rồi. Tín hiệu đầu tiên phát đi là số máy của ba, má! Con xin phép ba, má con về!

Hà đi theo Thứ để khóa cổng. Vừa vô tới nhà, Hà khoe luôn với ba, má:

- Anh Thứ thật tuyệt vời. thầy giáo ngay trong nhà mà con không hay.

Bà Năm chen vô:

- Nghe thằng Thứ giảng bài cho con Hà, tôi nghe mà phục. Phải thừa nhận nó bền bỉ, kiên trì và nhiệt tình hiếm có.

Chiều thứ bảy, An đến đón mẹ Huyền đi Mỹ Tho. Bà Huyền quần áo, giày dép sang trọng, lịch sự đứng chờ con. Vừa thấy An tới, bà nở nụ cười tươi tắn:

- Con đến rồi à?

- Mẹ chờ có lâu không? An hỏi. Thấy mẹ mặc quần áo dài, trang điểm lịch sự chị hỏi ;

- Mẹ có mang theo quần áo không?

- Không. Mai về cần gì mang theo quần áo? Bà Huyền hỏi lại An.

- Ở trong này nóng lắm, mẹ phải mang theo quần áo để tối thay. Theo con, quần áo dài mẹ để trong túi xách. Đi đường, mẹ chỉ mặc bộ  bà ba cho gọn nhẹ

- Con chờ mẹ một tí nhé! Mẹ đi chuẩn bị đã.

Mẹ xách gì mà lặc lè thế kia? An nói

- Mẹ mang chút quà biếu ông bà. Lần đầu tiên tới thăm gia đình, đi tay không sao tiện.

-Ta đi luôn kẻo muộn mẹ ạ!

Tuy chưa thành thạo nhưng bà Huyền không đến nỗi long ngóng khi lên xe. Bà đã mấy lần ngồi xe máy rồi. Bà không sợ đến nỗi phải nhắm mắt, ôm chặt lấy người lái xe. Bà mở to mắt để quan sát chung quanh. Mở mắt bà thấy chủ động hơn. Bà thấy mọi việc bình thường, không tái mặt, thót tim, chân tay run lấy bẩy như hôm mới vào được Hạnh lai về nhà.

Xe bon bon trên đường, đưa mẹ con bà Huyền về miệt vườn Nam Bộ. Trên đường đi, bà hỏi An nhiều điều. Đây là sông gì mà rộng mênh mông bát ngát thế? Nước sông trong xanh, chảy hiền hòa. An giới thiệu cho mẹ biết. Khi ngồi trên xe, nhìn dòng sông, bà Huyền lại nghĩ tới buổi chiều vàng nhạt như chiều nay. Trên đường đi tìm việc làm, bà cũng gặp một con sông như thế. Bến sông vắng lặng, không tiếng gió thổi,  không hàng quán, không một con đò. Bà định gửi mình nơi dòng sông này, để rửa sạch nỗi đau đớn, tủi nhục nhưng tình mẫu tử thức tỉnh, níu kéo bà lại. Nếu hôm đó, bà không dừng lại thì đâu có ngày hôm nay. Xương thịt của bà và Thứ gửi nơi dòng sông, hòa vào đất từ lâu rồi. Khi Dân của bà trở về, dù có phép mầu nhiệm của thần thánh thì mẹ con bà cũng không sống lại được. Niềm vui này còn in đậm những tủi nhục của ngày hôm qua, bà quên sao nổi.

Xe dừng lại trước sân. Ông bà Khang cùng chạy ra đón khách. An đã điện cho ba má từ mấy ngày trước. Bà Khang cầm tay bà Huyền dắt vào nhà. Ông Tư Thành vô nhà trước, sắp đặt lại bàn ghế.

Sau lời chào hỏi, chủ khách cùng ngồi uống nước, chuyện trò vui vẻ. Bà Huyền cầm gói quà nói:

- Em vừa ở ngoài quê vào, em biếu hai bác và gia đình, gọi là sản vật quê hương.

 Bà Khang đưa hai tay đón quà nói:

- Em xin cảm ơn chị! Cháu Thứ không xuống à?

- Tối nay, cháu Thứ phải trực. Sáng mai, cháu xuống sớm.

Ngồi nghe hai bà mẹ nói chuyên, An thầm thán phục mẹ Huyền về khả năng giao tiếp. Bà Khang cũng không khỏi ngạc nhiên trước cách ăn mặc, lời ăn tiếng nói và cử chỉ của bà Huyền. Mới hôm qua thôi, bà ấy còn là nông dân thực thụ, nay ai tinh mắt mới nhìn thấy cái chân quê. Bà Huyền dáng người tầm thước, gọn gàng, rắn chắc của người lao động. Khuôn mặt trái xoan, đôi mắt hãy còn đen lắm và sâu thăm thẳm. Hai má lúm đồng tiền còn nguyên, một lớp phấn phơn phớt chỉ đủ phủ kín cái nắng, gió của đồng quê. Mái tóc dày, đen nhánh, mượt mà dài tới ngang lưng như để khẳng định sức khỏe của bà. Khi nói chuyện, bà ấy thường nhìn thẳng vào mặt người nghe. Khi cười đôi mắt chỉ nheo nheo. Đôi mắt dịu hiền, phúc hậu. Đôi bàn tay còn nhiều chai sạn. Bước đi còn nặng nề. Đó là những dấu ấn của nhiều năm lăn lộn trên đồng ruộng, nương rẫy.

Đột nhiên ông Tư hỏi:

- Chị đã tìm được mộ chí và hài cốt của anh chưa?

Câu hỏi này bà Huyền đã chuẩn bị lời đáp từ lâu. Bà trả lời lấp lửng, nửa kín, nửa hở khiến người nghe hiểu thế nào cũng được:

- Cám ơn bác! Sau bao năm xa cách, chúng tôi đã gặp nhau rồi.

- Chúc mừng chị và cháu Thứ. Ông Tư vui vẻ nói.

Nghe câu hỏi của chồng, bà Khang thót tim. Nhưng khi nghe bà Huyền trả lời, bà thở phào nhẹ nhõm..

Mâm cơm được An lễ mễ bê lên đặt trên bàn. Tạm dừng những lời thăm hỏi xã giao. Bữa cơm chỉ khởi đầu nhưng tinh thần đã có từ lâu. Người gieo mầm, bắc cầu nối hai bờ vui là Thứ và An. Chủ và khách không phải giữ ý lắm nhưng dừng lại ở chừng mực,  hai nhà vẫn là hai nhà.

Đêm ấy, ông Tư đi trực cơ quan. Hai bà mẹ ngủ chung với nhau. Bà Khang thủ thỉ nói với bà Huyền: Qua các con, em hiểu hoàn cảnh của chị. Ngược lại chị cũng tường tận hoàn cảnh của em. Chị em ta như hai giọt nước, vừa giống nhau lại vừa khác nhau. Chị có thằng Thứ, em có cái An. Phía sau sự ra đời của chúng nó, chị em ta thật cơ cực, uống cạn chén nước đắng của tình yêu. Cha đẻ của chúng nó là những người đàng hoàng mà chúng nó vẫn phải gánh chịu những nỗi bất hạnh. Giữa chúng ta và các anh ấy là mối tình tuyệt đẹp sinh ra trong hoàn cảnh đất nước có chiến tranh. Phận làm trai, các anh ấy phải đi chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, thế mà chúng ta phải cúi mặt, che giấu cái bụng chửa. Nay mai, các con cái  thành vợ, thành chồng và có hạnh phúc, chúng ta không uổng công gánh chịu nỗi đau ấy.

Bà Huyền sụt sùi khóc, bà thật thà, bộc bạch:

- Dẫu sao, chị còn mát mặt hơn em. Chị được cơ quan cưu mang, đồng chí, đồng đội thông cảm là chỗ dựa về vững chắc về tinh thần. Tuy thiếu thốn, nhưng không đói cơm, rách áo, vì chị vẫn có công ăn việc làm đàng hoàng, chính đáng. Ốm đau có cơ quan, thuốc thang tử tế. Gia đình hai bên ở xa không ai biết đó là đâu.

Còn em - Bà Huyền khóc tức tưởi và nói tiếp - Cha mẹ xỉ vả, đánh đập. Gia đình nhà anh ấy thì không thừa nhận. Người đứng ra bảo vệ em thì đang chiến đấu ở miền Nam. Dân làng chê cười. Em đành bỏ nhà ra đi trong lúc bụng mang dạ chửa và hai bàn tay trắng. Em định lội xuống sông để gửi mình cho hà bá. Nhưng khi lội đến ngang đùi thì em dừng lại vì nghe đâu đó có tiếng con gọi: Mẹ ơi! Mẹ đừng giết con! Lòng thương con thức dậy, em quay trở lại bờ sông. Thế rồi em gặp mẹ Thương, là mẹ đẻ của anh Lượng đã cưu mang. Nhà anh Lượng nghèo lắm. Một gian nhà tranh và hai cái chái vảy, ăn ở nấu nướng tại đó. Nhưng  lòng mẹ Thương thì rộng mênh mông, vô bờ bến. Những ngày sống với mẹ, em phải làm lụng, vất vả, cực nhọc suốt ngày từ sáng sớm cho đến tối mịt trên đồng ruộng, trên nương rẫy để nuôi mẹ chồng, nuôi con. Bây giờ vào trong này, em chỉ có hai bàn tay trắng. Vì tất cả đất đai, nhà cửa và mọi đồ dùng trong gia đình em đều cho con cháu anh Lượng. Vào trong này em đều trông nhờ ông bà Năm và chồng con. Tuy các con chưa cưới xin, nhưng mạn phép chị, chúng ta cứ xem như thông gia rồi đây sẽ chung con, chung cháu. Em quê mùa nghĩ sao nói vậy. Nếu có điều gì không phải mong chị thứ lỗi cho. Mãi mãi em biết ơn mẹ Thương. Mẹ là cứu tinh của đời em.

Bà Khang xúc động. Bà không ngăn nổi những dòng nước mắt:

- Những điều chị suy nghĩ là những điều em rất tâm đắc. Việc xây dựng cho các con chị chẳng phải lo gì, có thì làm to, không có thì làm nhỏ, liệu cơm gắp mắm. Chờ anh ấy vô là tổ chức hôn lễ cho các con. Khi thằng Thứ nhận ra mộ chí của bố Lượng ở vườn nhà ngoại út, em và các con đều choáng váng. Em nằm bẹp trên giường cả tháng trời, tưởng đi theo anh ấy luôn. Nhưng từ khi nhận được tin Thứ là con trai bố Dân thì má con mới lấy lại thăng bằng và tạo ra sinh khí của gia đình.

Bà Huyền thở dài:

- Ở hoàn cảnh ấy, chị bảo ai chẳng tin là thật. Chị sắp xếp thời gian cho em đến viếng mộ anh Lượng. Em sẽ thắp cho anh ấy tuần nhang và thưa với anh những gì xảy ra từ khi anh ấy đi đến nay.

Bà Khang chân thành nói:

- Nghĩ tới anh Lượng, em phải cảm ơn chị nhiều lắm. Chị đã thay em nuôi mẹ anh Lượng và xây mồ mả cho cha mẹ anh ấy. Chị đã đi hơn em một chặng đường rồi đó.

Tiếng chim kêu vít vít báo sáng. Hai bà mẹ vừa chợp mắt được một lúc thì trời sáng bạch. Câu chuyện đêm qua để lại trong lòng hai bà sự thông cảm sâu sắc và không bao giờ quên. Nói chuyện cả đêm mà vẫn còn thèm. Bữa cơm sáng vừa đặt lên bàn thì Thứ phóng xe tới. Thằng Bình chạy ra và kêu toáng lên ;

- Má ơi! Chị An ơi! Anh Thứ xuống rồi nè! Hoan hô anh Thứ mua xe mới.

Thứ cười tươi, rạng rỡ ;

- Con chào mẹ! Con chào ba, má! Đúng là anh có xe mới. Mới chạy từ Sài Gòn tới nhà ta. Nhưng anh nghèo kiếc xác làm gì có tiền mua xe. Xe này là ông bà Năm mới trang bị cho anh chiều qua.

- Anh đi từ khi nào mà xuống sớm vậy. An hỏi.

Bà Khang giục:

- Mời chị hai và các con vô dùng cơm để còn sang nhà ngoại út.

Khoảng 8 giờ 30, xe ô tô tới nhà ngoại út. Đoạn đường này, bà Khang đi nhiều lần, bà có thể thuộc nơi nào có ổ gà, nơi nào có ổ trâu. Đường xấu nên xe lúc chồm lên, khi chúc xuống,  khiến bà thấy mệt nhoài. Nhưng bà vẫn cố. Bà Huyền vốn là nông dân chính hiệu, sức khỏe dồi dào. Đi đoạn đường này có thấm vào đâu đối với bà. Bà Khang thì quá mệt mỏi nhưng vẫn phải gượng vui. Vừa bước vào nhà, bà Khang đã giới thiệu.

- Đây là dì út của em. Thưa dì! Con xin giới thiệu với dì, đây là chị Hai Huyền là mẹ cháu Thứ. Chị Hai vừa từ ngoài Bắc vô trong này. Con đưa chị Hai xuống thăm dì.

Bà Huyền lễ phép thưa:

- Cháu chào bác! Năm nay, bác được bao nhiêu tuổi?

Ngoại út cười để lộ hàm răng móm mém ;

- Cảm ơn bà! Nhờ trời, năm nay tui ngoài tám mươi tuổi. Tui vẫn mong bà vô trong này để đám cưới của hai cháu sớm được tổ chức.

Bà Huyền chuyển cách xưng hô thân thiện:

- Thưa ngoại! Hôm nay, con xuống thăm ngoại và thưa chuyện với ngoại từ nay đến cuối năm, chúng con tổ chức cưới cho các cháu. Khi ấy, mời ngoại cố gắng lên Sài Gòn mừng cho ngày vui của các cháu.

- Ừ! Ừ! Nhất định tui sẽ đi!

Bà Khang xin phép ngoại đưa bà Huyền đi thăm vườn và cùng hai con đi viếng mộ Lượng. Bà Huyền vừa nhìn thấy mộ Lượng vội kêu lên:

- Trời ơi! Nơi anh Lượng yên nghỉ vừa tôn nghiêm, vừa đẹp nữa. Hoa trái rực rỡ,  đầy vườn ngát hương. Tiếng chim ca hót suốt ngày như để ru anh ngủ, như lời mẹ ru lúc trẻ thơ.

Đèn nhang được thắp lên. Lễ vật bày la liệt nào bánh kẹo, trái cây hái từ vườn nhà. Bà Khang và bà Huyền mặc áo dài trang nghiêm, tóc bỏ xõa vai. Bên bà Khang là An, bên bà Huyền là Thứ. Bà Khang chắp tay nói cùng Lượng:

- Anh Lượng yêu quý! Từ khi anh xa nhà, chị Huyền dưới danh nghĩa vợ anh, đã sống cùng mẹ Thương từ đó đến nay. Chị Huyền đã nuôi mẹ già. Khi anh đi chiến đấu xa nhà, mẹ Thương ra đi, chi Huyền lo cho mẹ mồ yên mả đẹp. Mới đây chị lại xây mộ cho bố mẹ khang trang đẹp đẽ. Hôm nay, chị vô thăm anh.

Bà Huyền đốt thêm nhang, chắp tay vái Lượng và nói:

- Anh Lượng ơi! Cuộc đời tại sao có nhiều nghịch lý và trớ trêu đến thế. Anh và em chưa hề biết nhau, chưa hề quen nhau. Nhưng em đã làm vợ anh mấy chục năm qua, cả gia đình và xã hội thừa nhận. Chị Khang mới thực là người yêu thương anh và sinh cho anh một cô con gái xinh xắn và thông minh, tài sắc vẹn toàn. Nhưng chẳng ai biết chị Khang là vợ anh.

Anh Lượng ơi! Xin anh tha lỗi cho em. Trong lúc em bơ vơ, không nhà cửa, không đồng tiền, bát gạo, không nơi nhờ cậy, lại bụng mang dạ chửa. Thương tình, mẹ Thương nhận em về cưu mang. Mẹ và gia đình cho em núp  dưới danh nghĩa là vợ anh. Em như cây tầm gửi bám vào danh anh để sống. Thằng Thứ ra đời cũng mang danh con anh. Mấy chục năm qua, em không quản ngại lao động cực nhọc, ăn đói, mặc rách làm lại nhà khang trang đẹp đẽ, nuôi và chăm sóc mẹ Thương tử tế. Khi mẹ về quê, em ở lại quê ba năm để trông nom phần mộ của mẹ. Mới đây, em đã thay nhà cho mẹ và đưa mẹ về nằm bên bố. Mồ mả của bố mẹ, em đã xây gạch, khắc bia đá và lồng khung kính tươm tất hơn tất cả mọi người cùng quê. Khi em vào Sài Gòn, đất đai, nhà cửa và mọi đồ dùng trong gia đình, em đều nhường lại cho các em, các cháu của anh. Khi em đến, hai bàn tay trắng, lúc ra đi cũng hai bàn tay trắng. Nhưng em mãi mãi biết ơn mẹ Thương và anh. Nhờ mẹ, nhờ anh, mẹ con em mới có cuộc sống như ngày nay.

Anh Lượng ơi!  Chỉ một thời gian ngắn nữa thôi, thằng Thứ con trai em sẽ lấy cháu An con gái anh. Em và anh sẽ là thông gia với nhau. Chúng ta chung con, chung cháu. Em sẽ cùng các con thờ cúng ông bà Thương và anh suối đời. Thứ và An cũng đang ở đây. Các con đang chắp tay vái lạy anh và chấp nhận những điều em vừa nói. Em xin cúi đầu tạ ơn đối với mẹ Thương và anh. Nếu em làm gì sai trái những điều em vừa hứa thì xin nhận sự trừng phạt của đất trời. Em xin kính báo để anh biết, nhờ anh thưa giùm với mẹ Thương. Chúc anh yên nghỉ và mừng cho các con.

Lời khấn của bà Huyền xuất phát đáy lòng nên rất khúc chiết và xúc động khiến cho bà Khang và An không cầm nổi nước mắt. An thêm một lần nữa phục tài của mẹ Huyền. Bà Huyền vừa khấn vái xong, một làn gió thổi qua. Ngọn nến bùng cháy, bó nhang trên mộ Lượng bốc cháy nghi ngút.

Ăn cơm xong, hai bà mẹ xin phép ngoại út về ngay để kịp tới Sài Gòn chiều nay. Ngoại út tặng mỗi bà một giỏ trái cây và cặp vịt. Bà Huyền chắp tay vái ngoại và nói;

Cảm ơn ngoại! Xin phép ngoại chúng con về. Mai kia, con lại xuống thăm ngoại. Khi nào tổ chức cưới các cháu mời ngoại lên Sài Gòn dự cưới các cháu và thăm nhà chúng con.

Ngoại út cười và khen:

- Mẹ cháu Thứ là con nhà gia giáo, được học, cư xử và nói năng phải đạo lắm. Khi nào rảnh rỗi, nhớ xuống thăm ngoại.

 

*

*     *

6. Đêm về khuya. Bà Huyền trằn trọc mãi mà không tài nào chợp mắt nổi. Bà mong trời mau sáng. Chỉ còn mấy giờ đồng hồ nữa là bà sẽ được gặp ông ấy. Giây phút hạnh phúc này, bà phải chờ gần ba mươi năm, có khi tưởng như tuyệt vọng, không ngờ lại có ngày hôm nay. Mặc dù, ông bà có mối tình đầu thi vị và lãng mạn, với một đứa con trai điển trai,  khỏe mạnh, thông minh và tài hoa. Nhưng chưa một ngày, ông bà được sống bên nhau đúng với nghĩa vợ chồng, chưa được ngồi ăn với nhau bữa cơm. Ngày ấy, mỗi khi đi bên nhau, nắm tay nhau âu yếm và mến thương nhau đều nơm nớp lo sợ, ai đó phát hiện, nhìn thấy. Khi mang bầu đứa con đầu lòng cũng phải giấu kín, lén lút ăn vụng khế. Người phụ nữ khi mang thai lần đầu thường tự hào với chồng và gia đình, đem phơi cái bụng để khoe với thiên hạ. Nhưng với bà, khi ấy phải tìm cách che giấu. Cách đây không lâu, bà yên phận là người phụ nữ góa chồng, thủ tiết với chồng, nhấn chìm tất cả đòi hỏi, những hạnh phúc của người đàn bà. Nhiều người đàn ông thấy bà có nhan sắc, lại đảm đang nên đã săn đón, mua chuộc, dụ dỗ. Nhưng bà một lòng đứng vậy, thờ chồng nuôi con theo gương mẹ Thương. Từ ngày gặp lại ông Dân, sức trỗi dậy của người phụ nữ đang độ tuổi hồi xuân cứ bừng bừng như ngọn lửa cháy chỉ muốn thiêu đốt bà. Nhiều đêm bà mất ngủ, lúc nào cũng chỉ nghĩ tới ông ấy. Sáng mai, ông ấy vào Sài Gòn, vui quá, mừng quá, nhưng tại sao bà lại khóc, lại không ngủ nổi.

Bà dậy từ sáng sớm. Bà phải ăn mặc và trang điểm thật đẹp, thật quý phái cho ông ấy mừng và ngạc nhiên. Vừa lúc ấy, ông Năm đến đưa bà cùng đi. Thứ và An đi xe máy từ trước… Bà Năm và Hạnh ở nhà chuẩn bị cơm. Nhà bà Năm tấp nập, nhộn nhịp hẳn lên.

Tàu dừng hẳn tại sân ga. Thứ và An nhảy lên tàu chuyển đồ đạc cho bố. Anh thừa biết chân bố không như mọi người. Chỉ việc lên tàu, xuống tàu bố đã quá vất vả rồi còn nói chi chuyện mang vác. Nhưng hành lý của bố chủ yếu là sách. Thứ đưa cho An túi nhỏ hơn. An gồng người lên mới đưa được gói sách của bố xuống tàu. Còn gói kia, Thứ cũng phải oằn lưng mới mang nổi. Xuống tới sân ga, cả hai thi nhau thở, mồ hôi vã ra như tắm. An bàn với Thứ:

- Phải thuê xe đẩy thôi. Em chịu hết nổi rồi!

- Anh cũng vậy.

Vừa bước xuống sân ga, ông Dân gặp người đàn ông khó đoán tuổi quá, nhưng quan sát kỹ ông thầm đoán ông này xấp xỉ tuổi ông… Ông ta mặc quần áo lao động, khỏe mạnh lực lưỡng, bắp tay nổi cuồn cuộn. Ông ta niềm nở hỏi ông Dân:

- Bác về đâu? Bác cần đi xe tôi chở!

- Cám ơn ông. Tôi có người nhà đón rồi!

Hai người đi ngược chiều nhau. Đột nhiên, người ấy quay trở lại, đuổi theo ông Dân. Người ấy hét toáng lên:

Bác gì ơi! Cho tôi hỏi thăm một chút!

- Ông Dân dừng lại. Người ấy chạy tới ;

- Xin lỗi bác! Bác có phải là bác Dân, D trưởng B26. Năm 1972 chỉ huy đánh cứ điểm Al?

- Vâng! Tôi là Dân D trưởng B26 đây.

- Thủ trưởng không nhận ra em à? Em là Tân! Tân liên lạc và cần vụ tiểu đoàn B26 đây!

Ông Dân như sống lại tất cả những kỷ niệm xưa. Ông ôm chặt lấy Tân trong vòng tay của mình. Ông vỗ vỗ vào lưng Tân, nói trong niềm xúc động, nước mắt lưng tròng.

- Tân nhớ không? Tao vừa hạ lệnh cho chú, liên lạc với các đại đội! Dù phải hy sinh đến người cuối cùng cũng phải giữ vững trận địa, tiêu diệt cứ điểm đúng quy định và chỉ rút lui, rời khỏi trận địa khi có lệnh của tiểu đoàn. Chú và Hà đi một lúc khá lâu. Một trái pháo rơi đúng hầm chỉ huy, tao bị thương và bị hất ra khá xa. Sáng mai, tỉnh dậy tao bị địch bắt với cái chân què, trong tay không một tấc sắt, người lại đang lên cơn sốt. Chuyện dài lắm. Hôm nay, tao vào Sài Gòn công tác và sống với vợ con. Địa chỉ của tao đây! Bây giờ Tân làm gì?

Tân thở dài, buồn rầu nói:

- Chuyện đời em dài lắm. Hiện tại, em làm nghề xe ôm. Hàng ngày, em ra ga đón khách. Tối nay, mời anh đến nhà em chơi. Em sẽ đón anh tại nhà.

- Đúng hẹn!

 Dân trả lời.

*

*    *

Xếp các thứ lên xe của ba Năm xong mà vẫn chưa thấy bố đâu. An nóng ruột giục Thứ quay lại đón bố. Thứ tức tốc quay trở lại. Anh vươn cao cổ để tìm kiếm. Tìm loanh quanh mãi, anh mới nhìn thấy bố đang nói chuyện với ai đó. Anh giục:

- Về thôi bố! Ba Năm và mẹ đang chờ!

Ông Dân chỉ tay về phía Thứ giới thiệu, đây là con trai anh! Đây là chú Tân liên lạc của bố khi xưa. Anh xin phép về kẻo mọi người chờ lâu. Nhớ đúng hẹn đón anh.

Từ xa, ông Dân đã nhìn thấy người đàn ông dáng cao cao, ốm nhách, mặc quân phục, trên vai lấp lánh quân hàm cấp tướng. Một người phụ nữ ăn mặc sang trọng đứng bên cạnh chiếc ô tô bóng lộn. Ông Dân tưởng là vợ chồng Năm Mập, nào ngờ khi đến nơi, người đàn bà ấy lại là Huyền - vợ ông. Người vợ mà ông rất mực yêu thương, quý mến, nguyện sống chết trọn đời. Ông không khỏi  ngỡ ngàng và vui mừng trước sự thay đổi ấy. Ông Năm Mập chạy lại ôm lấy ông Dân. Hai người lính già ôm ghì lấy nhau. Họ truyền hơi ấm cho nhau, lòng bồi hồi xúc động, nước mắt lưng tròng. Họ gục đầu vào lưng nhau, tay vỗ vỗ vào vai nhau. những giọt nước mắt hối hả, chảy ướt vai áo họ. Họ cứ tự nhiên coi như không có ai đứng ở bên cạnh. Bà Huyền và các con cũng xúc động, để yên cho họ ôm nhau. Họ cứ tưởng không có ngày hôm nay. Chỉ trong giây phút ngắn ngủi, trong họ những ký ức về một thời chiến tranh, chiến đấu sôi nổi, hào hùng, ào ào chảy về.

Vừa rời khỏi vòng tay ông Năm, ông Dân quay về phía bà Huyền:  Em! Bà Huyền đưa tay khẽ gạt nhẹ những giọt nước mắt đang lăn trên má: Anh! Ông bà không ôm nhau nhưng hai tiếng anh, em ngọt lịm như hồi trẻ, khi say men rượu tình yêu, mang đậm hương vị đồng quê, mật ngọt của trái sim thấm đượm vào cơ thể ông bà.

Ông Năm giục:

- Ta lên xe về thôi. Bà xã tôi đang chờ anh chị và các con ở nhà. Ông Năm ngồi ghế trên cùng với lái xe. Vợ chồng Dân, Huyền ngồi hàng ghế sau. Mùi thơm của nước hoa, mùi son phấn từ bà Huyền tỏa ra khiến ông Dân thấy mát dịu hẳn đi. Ông cười khà khà nói với Năm Mập:

- Vừa gặp vợ tao đã ngửi thấy hương vị, màu sắc Sài Gòn rồi. Thật là đẹp và quyến rũ! Bà Huyền nguýt yêu chồng và khẽ bấm vào đùi ông:

- Cái anh này.

Hai ông bạn già cùng phá lên cười.

Bà Huyền má đỏ nhừ, bà véo mạnh vào đùi chồng. Với ông Dân, đây là màn mở đầu cuộc sống hạnh phúc gia đình. Ông vui mừng khôn xiết. Kể từ nay, bà Huyền không phải làm lụng vất vả nữa. Lần đầu tiên vợ chồng công khai giữa bàn dân thiên hạ, được ngồi với nhau, trên chiếc xe ô tô sang trọng của đồng đội cũ. Lòng ông Dân rộn ràng vui mừng

Cả gia đình ông Dân đến ăn liên hoan đón ông từ ngoài Bắc vào Sài Gòn công tác tại nhà Năm Mập. Ông Năm Mập nói cả đời tôi có nhiều bữa liên hoan. Nhưng bữa liên hoan đón anh Hai Dân là quan trọng bậc nhất, đón người ân nhân của tôi từ cõi chết trở về.

*

*     *

Đầu năm 1971, đánh xong cứ điểm Y. Đơn vị mình rút ra vòng ngoài, kiểm điểm thấy còn một số thương binh, tử sĩ chưa mang ra được. Lúc ấy, tao là Chính trị viên phó tiểu đoàn, nhiệm vụ của tao là phải quay trở lại làm công tác thương binh liệt sỹ. Khi ấy, tao ốm nhách chứ được béo tốt như bây giờ đâu, lại đang lên cơn sốt rét. Anh Dân thương tao ốm, lại đang sốt. Anh Dân quay trở lại làm thay nhiệm vụ cho tao. Khi mang hết thương binh, tử sỹ ra thì anh bị thương nặng, may mà không chết. Đó là lần thứ nhất cứu mạng tao. Nhờ đó, tao được đề bạt lên chính trị viên tiểu đoàn.

Ông Dân đặt chén rượu xuống, chen ngang:

- Năm Mập đã một lần cứu tôi thoát chết về tay đàn bà. Xin lỗi bà Năm, bà Huyền và các con. Chuyện là thế này:

Lần ấy tôi bị thương phải vào viện điều trị.Trong thời gian điều trị ở bệnh viện, Chị K là y tá chăm sóc, nuôi dưỡng tôi rất tận tình và chu đáo. Chị luôn tỏ ra ưu ái đối với tôi từ miếng ăn, viên thuốc và giấc ngủ. Tôi thầm biết ơn và luôn kính trọng, quí mến chị ấy. Chị ấy khoảng 38 tuổi, hơn tôi gần 10 tuổi. Chị ấy có nước da trắng hồng. Đôi mắt hiền từ và đôn hậu. Chị ấy nói năng dịu dàng. Giọng Huế nhỏ nhẹ, ấm áp làm sao. Chị K kể rằng, ông già chị vô Sài Gòn từ năm 1950.  Vì thế, chị ấy vẫn giữ được giọng nói của quê hương. Từ Sài Gòn chị tham gia quân giải phóng. Mỗi lần chị ấy cầm kim cắm vào da thịt mà cứ tưởng như không thế mới chết người ta chứ. Khi chị thay băng cho tôi, chị luôn hỏi đau không em,  thấy tôi nhăn mặt, chị dừng lại ngay và hỏi đau lắm phải không em? Tôi lắc đầu. Chị tiếp tục nhé. Tôi gật đầu. Chị ấy người hơi quá khổ kiểu “thon thon” mình bồ. Mặt chị rỗ hoa nhưng có duyên đáo để. Chị chưa có mảnh tình vắt vai. Chị kể thế. Chị chưa một lần biết hương vị đàn ông. Chị kể thế. Tôi tin vậy.

Ông Dân dừng lại, uống hết ly rượu. Bà Huyền nét mặt lo lắng. Ông Năm vội giải thích:

- Anh Dân tuy là người Bắc nhưng anh uống rượu chưa thua ai bao giờ. Một cầu thủ siêu hạng. Chị Huyền không phải sợ anh ấy say.

Ông Dân tiếp tục:

- Vết thương của tôi đã khỏi, sức khỏe gần như bình phục trơ lại bình thường. Chỉ vài ngày nữa là tôi được ra viện trở về đơn vị chiến đấu. Chị K. đến thăm tôi. Không biết chị ấy kiếm đâu được gói thuốc Ru bi và ấm trà ngon, Chị mở gói thuốc ru bi ra, tôi đã thèm rớt nước miếng rồi. Chị mang sẵng bình tông nước sôi. Chị nói, còn ít ngày nữa, em ra viện trở về đơn vị chiến đấu. Chị em mình tổ chức bữa liên hoan theo kiểu thời chiến. Người đi, kẻ ở rất quý mến, lưu luyến. Vì những ngày em nằm viện, chị thấy chỉ có em là đáng mặt đàn ông hơn cả, vừa thông minh, tài hoa, vừa đẹp trai lại mạnh khỏe. Vì vậy chị rất mến phục và kính trọng.

- Em cảm ơn. Chị quá khen.

Chị trải tấm ni lông xuống nền đất bằng phẳng. Chị ngồi xuống và giục tôi cùng ngồi. Chị mời tôi hút thuốc, uống nước. Chị cũng châm thuốc hút, mới để điếu thuốc vào miệng. Chị ho sặc sụa. Chị cầm điếu thuốc bón vào miệng để tôi hút nốt. Tôi thầm nghĩ chị vừa là đồng đội, vừa chị em. Tôi đối với chị rất thân tình, không hề để ý gì. Một thằng lính ở chiến trường, điếu thuốc, chén trà nhiều khi thèm đến cháy lòng. Chị hỏi tôi về quê hương, gia đình. Chẳng biết vô tình hay cố ý, trước chị ngồi xa sau ngồi gần và gác đùi lên đùi tôi. Tôi càng lùi xa, chị càng dịch tới. Tôi đã lùi ra ngoài tấm ni lông mà chị ấy vẫn chưa buông tha. Chị ấy kể chuyện về mình dài lắm. Tôi không nhớ nổi nữa. Nói gần nói xa, chị nói thật.  Dân là người mạnh khỏe,  đẹp trai thông minh, nói chuyện rất có duyên. Chị muốn xin em...

Tôi chắp tay vái chị, xin chị buông tha. Nhưng chị sấn tới vồ lấy tôi. Nhưng nhờ trời, tôi khỏe mạnh nên chị chẳng làm gì nổi. Tôi định kêu toáng lên. Nhưng thương chị bao ngày hết lòng chăm sóc tôi ghìm sự bực tức lại. Tôi đứng dậy cuốn võng, cắt rừng trốn về đơn vị. Rất may đơn vị ở gần đó. Hôm đó trăng sáng như ban ngày nên tôi trốn về đơn vị an toàn. Cái khỏe mạnh, đẹp trai, nói chuyện có duyên làm tôi khổ thế đấy, tôi phải nhờ Năm Mập tới bệnh viện làm thủ tục ra viện và lấy giấy chứng thương.

Nghe ông Dân kể, cả nhà ngồi há hốc mồm nghe.

Hà lém lỉnh hỏi chen ngang:

- Ngoài việc chị K, bố còn cô nào giấu mẹ Huyền nữa không?

Đối với mẹ Huyền, bố rất chung thủy. Nhưng còn nhiều chuyện khá vui vui, hấp dẫn lắm – Ông Dân hóm hỉnh đáp và kể tiếp:

Chuyện là thế này:

- Những năm  sống và giảng dạy ở trường này, cả năm, cả tháng tôi gắn bó với nhà trường vì không vợ, không con, không nhà cửa chẳng có nơi mà về nên các giáo viên gọi là ông “Bám trường, bám lớp”. Họ rất yêu quý tôi. Phòng tôi ở không khi nào thiếu người ra vào, người trống giờ đến,  ngồi chờ, uống nước, hút thuốc và tán chuyện. Nếu ai có giờ lên lớp buổi chiều, nhà ở xa, cần ở lại thì góp gạo nấu cơm chung. Nếu ai vợ ốm, con đau hoặc nhà có việc riêng cần phải nghỉ, được nhà trường cho phép, tôi sẵn sàng dạy thay. Các đồng nghiệp thấy tôi cứ côi cút, lủi thủi sống một mình, lọ mọ đun nấu nên rất thương. Họ bàn nhau kiếm vợ cho tôi nhưng tôi cứ lờ đi coi như không nghe, không biết. Họ nghĩ,  hay là tôi không có “cái kia”. Họ quyết định thành lập “ Hội đồng khám xét”. Trưa hôm ấy, cũng tại phòng của tôi, sau khi ăn uống xong. Trời rét như cắt da, cắt thịt, “Hội đồng khám xét” quyết định khám xét tôi. Họ khóa chặt cửa lại, cẩn thận hơn, cử người đứng gác ngoài cửa. Họ vật ngửa và cởi tuột quần tôi ra, Tôi van lạy, quằn quại chống cự  họ nhưng không xong.  “Hội đồng khám xét” kết luận “Có số ta, máy móc tốt”. Họ quyết định đi hỏi vợ cho tôi. Đối tượng là cô giáo dạy sinh vật, kém tôi 15 tuổi. Cô ấy nhà ở xa, cũng sống độc thân và ở trong khu tập thể như tôi.  Cô ấy rất yêu mến, quý trọng tôi. Cô ấy nhiệt liệt hưởng ứng nhưng tôi kiến quyết phản đối. Không được, họ quay sang cô giáo dạy văn cùng tổ theo phương châm  “Lửa gần rơm lâu ngày cũng bén”. Cô này cố tình thực hiện phương châm ấy.  Buổi tối. lấy cớ trao đổi chuyên môn, cô ấy ghé sát người, có khi chịn cả bộ ngực nóng hồi hổi vào lưng tôi. Có lần, cô ấy nằm chềnh ềnh ở giường tôi, chẳng biết vô tình hay cố ý. Cô ta phơi cái bụng, cái rốn trắng hêu hếu ra. Nếu tôi không có bản lĩnh, chỉ tặc lưỡi một cái là xong chuyện. Nhưng tất cả những cách ấy không lung lạc được tôi. Vì tôi chỉ nghĩ tới bà Huyền và lời thề năm xưa.

Hàng năm. cứ đến kỳ nghỉ hè, tôi lại đi tìm vợ, con. Đất nước mình dài, rộng vô kể, bàn chân tôi đi không xuể. Bến tàu, bến xe nào tôi cũng tìm tới. Khi đi mạnh khỏe, khi về ốm đau, gầy còm. Có người đưa ra chi bộ kiểm điểm tôi vì hai tội

- Quan hệ bất chính với giáo viên B.

- Hành động mờ ám, hè nào cũng đi suốt mà không ai hay biết là đi đâu.

Tôi buộc phải cãi lại. Tôi với cô B quan hệ rất trong sáng trên tình đồng chí, đồng nghiệp. Các đồng chí đã có lần nào bắt được chúng tôi trai trên, gái dưới không? Các đồng chí đừng ăn ốc,  nói mò, nói không căn cứ. Nghỉ hè, đi đâu, làm gì là quyền tôi. Tôi không phạm pháp, không ai có quyền tra hỏi tôi. Hai vấn trên nếu đồng chí nào đưa ra chứng lý đầy đủ, tôi xin chịu kỷ luật. Tất cả lặng phắc.

- Bố Dân kể chuyện rất hấp dẫn và có duyên, không trách cô K, cô B chết mê, chết mệt là phải thôi.

 Hà nói

Ông Năm cười, nói:

- Năm 1972 đánh vào cứ điểm Al. Anh Dân vẫn chưa lành vết thương, theo quy định phải ở tuyến sau. Tôi phải trực tiếp chỉ huy chiến đấu. Nhưng anh Dân thấy tôi ốm đau, khập khừ nên cho tôi về tuyến sau, anh ra tuyến trước chỉ huy chiến đấu. Hậu quả của trận này và đến nay, mọi người đều biết. Anh Dân đã hai lần cứu mạng tôi.

Hà liến thoắng:

- Qua chuyện của ba Năm và bố Dân, con đề nghị, anh Thứ và chị An đương nhiên là con của ba, má Năm rồi. Ba chị em con, từ nay gọi bố Dân, mẹ Huyền là bố mẹ.

Cả nhà đều khen và nhất trí tán thành. Đến lúc này bà Huyền mới lên tiếng:

- Từ lâu, tôi vẫn ao ước có một cô con gái để chấy rận. Hôm nọ, Hà đồng ý nhận làm con tôi  rồi. Xin anh chị Năm cho cháu Hà sang bên tôi ở.

Hà nói ngay:

- Con có từ chối đâu, mãi mãi con vẫn là con bố mẹ. Nhưng là phận gái, ai cũng phải đi lấy chồng. Con ở bên này với ba, má Năm học hành xong đã. Khi nào lấy chồng, con về bên ấy để bố Dân, mẹ Huyền gả chồng.

Thứ vỗ tay khen:

- Hà giỏi lắm. Em thi vào trường Đại học ngoại giao mới đúng. Nhận mà hóa ra không nhận. Tài thật! Cả nhà cười vui. Người sung sướng nhất có lẽ là bà Năm. Chính bà cũng không ngờ, Hà đối đáp giỏi thế. Ông Năm đặt ly rượu xuống mâm, sôi nổi nói:

-Tôi đề nghị thế này. Chủ nhật tới, vợ chồng tôi, vợ chồng anh đi Mỹ Tho thăm vợ chồng anh Tư Thành và xin cưới cho thằng Thứ luôn một thể.

- Ông Dân sững sờ:

- Liệu có gấp quá không anh Năm? Hôm này, anh em mình xuống thăm anh chị ấy là phải rồi còn việc xin cưới phải để dịp khác. Việc này đốt cháy giai đoạn sao tiện?

Ông Năm xua xua tay:

- Vẽ chuyện! Người quen cả thôi! Việc này, anh cứ giả điếc, mặc tôi. Tội đâu, tôi xin chịu hết, Ông quay sang Thứ, An hỏi:

- Ý các con thế nào? An mặt đỏ nhừ, chị ngồi im như thóc. Hà tinh quái hỏi:

- Chị An không uống rượu mà tại sao mặt lại đỏ như thế kia?

An ngượng chín cả người. Chị gục đầu vào vai bà Huyền ngượng nghịu. Thứ mạnh dạn trả lời:

- Thời gian chúng con yêu nhau đã chín mùi. Tuổi chúng con xây dựng gia đình cũng không sớm, cũng không muộn. Còn việc tổ chức cưới xin khi nào, là tùy ba má và bố mẹ.

Ông Năm cười thật to, thật thoải mái:

- Anh Dân thấy chưa. Tôi nói, các con hưởng ứng ngay mà. thống nhất rồi. Không bàn nữa nhé! Ông móc túi lấy ra một tấm giấy, đưa cho ông Dân và giải thích:

- Tôi biếu anh chiếc xe cúp 50. Tuy cũ nhưng đã tân trang lại đi còn ngon lắm. Chân anh thế kia, hàng ngày đạp cái xe lọc cọc, đi mãi sao nổi

Ông Dân nhăn nhó:

- Anh chơi kiểu này, tôi khước từ sao nổi. Cách đây ít ngày, anh vừa mua xe cho thằng Thứ con tôi, nay lại mua xe cho tôi. Cha con tôi chịu ơn anh quá nhiều rồi đây!.

Ông Năm tỏ vẻ bực bội:

- Kể từ nay về sau, tôi cấm anh nói chuyện ân huệ. Ngày mai, Hà đưa xe đến cho bố Dân để ông ấy lấy phương tiện đi lại. Tối nay, anh Dân ngủ lại đây với tôi theo kế hoạch đã định.

Ông Dân cười khà khà:

- Khi xuống tàu, bất ngờ tôi gặp người bạn cùng đơn vị ngày xưa. Hiện nay, anh ta làm nghề xe ôm. Nó hứa, bảy giờ tối đón tôi tới thăm nhà nó. Tôi đã nhận lời rồi. Hơn nữa, gần ba mươi năm, bây giờ tôi mới gặp bà xã. Xin khất anh, để vợ chồng tôi mở bầu tâm sự với nhau. Anh có ăn nhạt đâu mà thương mèo. Cả tôi và anh cũng phải bàn với các bà ấy đã. Khất anh, đêm khác!.

Ông Năm đập tay vào vai ông Dân cười khà khà:

- Ngày xưa, cả đơn vị đều phục tài hùng biện của anh. Cấp trên, bạn bè mà tranh luận với anh thì chiến thắng bao giờ cũng thuộc về anh. Với cấp dưới, dù thắc mắc gay gắt tới mức nào, anh giải thích cũng đều êm ru. Tôi là cán bộ chính trị cũng không cãi nổi anh. Nhiều khi, anh em thắc mắc, tôi phải nhờ anh giải thích giúp. Tôi thua anh là cái chắc rồi.

Ăn cơm chiều xong, ông bà Dân đang ngồi xem ti vi. Bỗng có tiếng gõ cửa gấp gấp:

Cộc! Cộc! Cộc! Thứ vội chạy ra mở cửa:

- Bác hỏi ai? Tôi hỏi ông Dân mới ở ngoài Bắc vô sáng nay.

- Mời bác vào nhà.  Bố ơi! Bố có khách!

- Kìa chú Tân! Đây là chú Tân, liên lạc của tôi khi xưa. Con trai tôi chú biết rồi. Kia là vợ tôi. Còn đây là con dâu tương lai của tôi. Anh em tôi, đầy ắp những kỷ niệm một thời sống chết có nhau.

- Em đến đón thủ trưởng lại chơi nhà. Đồng đội ở đây nhiều lắm. Thủ trưởng cứ mệt mà đi chơi.

- Xin lỗi chú! Chú cho địa chỉ để cháu đến đón bố cháu.   Thứ đề nghị.

- Tôi sẽ đưa thủ trưởng về trước 11 giờ. Nhà tôi ở trong hẻm. Buổi tối khó đi lắm. Em không tìm nổi đâu.

Vợ chồng Tân chuẩn bị bữa cơm thịnh soạn đón Dân. Thức ăn đồ uống bày la liệt trên bàn. Mặc dù, đèn sáng, ông Dân nhìn rõ khuôn mặt vợ Tân. Nhưng vợ Tân, một người phụ nữ rất khó đoán tuổi. Người khô đét, ngực lép kẹp. Chân tay khẳng khiu như que củi. Nước da vàng như nghệ. Dáng người mệt mỏi, chậm chạp. Nhưng khuôn mặt còn trẻ, thời con gái chắc cũng có nhan sắc. Được cái, hai đứa trẻ con Tân rất giống bố, đều khỏe mạnh béo tốt. Quần áo lành lặn tuy không sang trọng. Một căn nhà lá lụp xụp, nhỏ bé, đủ ở, hòa mình vào những căn nhà cùng loại của xóm lao động. Tất cả cho thấy gia chủ kinh tế còn nhiều khó khăn.

Tân đưa ly rượu cho Dân:

- Ly rượu này, mừng buổi họp mặt giữa thủ trưởng và em ở giữa đất Sài Gòn! Nơi mà anh em mình luôn hướng tới. Vì nó mà chúng ta chiến đấu quên mình, không tiếc máu xương, dù phải hy sinh.

Dân cầm ly rượu nhưng không uống ngay:

- Từ nay, chú đừng gọi tôi là thủ trưởng nữa. Bây giờ tôi chỉ là anh giáo quèn. Chú cứ gọi tôi bằng anh cho thân thiện và đúng với thực tế cuộc sống. Nếu đồng ý vậy tôi sẽ uống liền.

- Dạ!

- Cuộc đời của tôi, khai hết với chú ngoài ga rồi. Còn chú, kể cho anh nghe đi?

Bằng giọng đều đều, buồn buồn,  Tân kể:

- Cuối năm 1975 em xin phục viên. Em không về quê mà ở lại thành phố. Nhờ bạn bè, đồng đội cũ giúp đỡ, em xin vào làm ở cơ quan nhà nước. Em chuyển qua, chuyển lại tới bốn cơ quan. Sau cùng em đến cơ quan Hải quan thành phố. Em rất mừng vì phù hợp với khả năng và đây là miếng đất màu mỡ để em làm ăn lâu dài. Lúc đầu, em làm ăn khấm khá lắm, nhiều người nằm mơ cũng chẳng có. Vì em biết đi cả hai chân. “Chân” nhà nước là tạo thế ổn định lâu dài,, tạo ra quyền lực chính trị, kinh tế cho mình. “Chân” ngoài nhà nước tạo ra nguồn lực kinh tế, để tích lũy lâu dài. Em vẫn tự hào với cách tính toán của mình và những bước đi như vậy. Em thường hãnh diện và cho rằng nhận thức và cách làm ấy là thông minh, khôn khéo, phù hợp với điều kiện xã hội, kinh tế lúc bấy giờ. Em cưới vợ. Vợ em người Sài Gòn thứ thiệt. Ngay việc cưới vợ cũng phải hòa hợp giữa hai miền. Ngả bên nào em cũng có phần. Nhiều người cho rằng em khôn ngoan, ranh ma, biết nhìn xa trông rộng. Tiền bạc như nước trên các núi cao, cứ từ từ chảy vào cái hồ túi của em.

- Vợ em chẳng phải làm gì. Cả ngày chỉ lo cơm nước, giặt giũ và tiếp bạn bè, khách khứa, sinh con. Cô ấy béo trắng, trẻ đẹp như chứ đâu ốm yếu như bây giờ.

Cô Mai, vợ Tân góp lời:

- Em vốn xuất thân là con nhà lao động, kiêm buôn bán nhỏ. Nhưng từ khi lấy anh Tân được ăn sung mặc sướng, nên trở thành con người chây lười. Suốt cả ngày, chỉ lo son phấn, trang điểm, ngắm vuốt chờ chồng đi làm về, là đi chơi, đập phá ở các nhà hàng, khách sạn. Cơm ăn có người bưng bê đến tận nhà. Quần áo thuê người giặt. Đẻ hai đứa con nhưng đều cho chúng ăn sữa bò, để giữ vẻ đẹp cho cơ thể và thuê người trông giữ.  Em có tới cả trăm bộ quần áo, đủ kiểu, đủ mốt. Ngày nào, em cũng đi chợ  xem có quần áo kiểu mốt mới để mua. Mỗi khi đi đâu, em mất hàng giờ để lựa chọn quần áo cho phù hợp. Khi ấy, em tiêu tiền không hề phải đắn đo. không phải tính toán. Chỉ tính riêng tiền quà cáp, tiền son phấn, tiền rải đường, rải chợ, tiền  vung vãi hàng ngày cũng đủ tiền sống hiện nay cả tháng trời. Vì  hàng ngày, Tân mang tiền về quá nhiều, em chẳng cần đếm mà cứ quẳng vào tủ. Giá lúc ấy, em biết tiết kiệm, nhặt nhạnh mua thêm mấy căn nhà, mấy ô đất nữa thì đâu đến nỗi khổ như bây giờ. Thôi! Âu cũng là số trời. Trời chỉ cho chúng em hưởng đến thế, chẳng tiếc làm gì cho tổn thọ. Nhưng thú thực, cũng tại em không ngăn chặn, hạn chế Tân mà còn ngầm động viên, khuyến khích anh ấy cố gắng làm ra nhiều tiền hơn nữa.

Tân lại tiếp tục kể:

- Bác Dân ạ! Khi có tiền, thừa ăn, thừa tiêu. Tiêu tiền không biết tiếc. Tuần nào, em cũng thuê xe đưa vợ con đi Vũng Tàu tắm biển, chụp ảnh. Ăn ngủ tại khách sạn, chơi bời thoải mái, xả láng cuộc đời. May mà nhà em nhắc nhở, em mới mua được căn nhà ngoài mặt đường lớn giá trị cả trăm cây vàng, không thì tiêu ma hết. Ở thành phố mà tháng nào, tuần nào, em cũng đưa vợ con đi ăn nhà hàng, ai thích ăn gì thì ăn nấy, tốn mấy cũng không đắn đo, lăn tăn. Tối nào, em cũng tiệc tùng tới khuya và say xỉn. Rủ bạn bè đi hát Karaôkê, tới vũ trường nhảy múa, đập phá. Nhiều tối vui bạn bè, tiêu vài ba triệu là bình thường. Số tiền ấy bằng bố mẹ em, cày cấy cả năm trời. Cuộc sống của vợ chồng em thật là đế vương, chắc bác không tưởng tượng nổi đâu. Nhưng lòng tham của con người thật vô bờ bến.

- Bác Dân ạ! Có nhiều tiền, càng ham kiếm tiền, thấy tiền là em cứ như con thiêu thân lao thẳng vào bất chấp hiểm nguy kể cả tính mạng. Em liều kinh khủng. Em dự định đánh một quả thật đậm thì dừng lại. Quả này thắng, vợ chồng con cái em ăn tiêu, đập phá cả đời không hết.

- Quả ấy là hàng gì? Dân hỏi.

- Lợi dụng chức vụ, lợi dụng thế mạnh của ngành Hải quan, móc ngoặc với tàu nước ngoài, em buôn hàng quốc cấm.

Tân dừng lại, tự rót rượu cho mình, quên cả mời Dân. Dân ngây người ngồi nghe. Tân hạ giọng:

- Nào ngờ! Đời có ai được chữ ngờ. Nếu học nổi chữ ngờ thì đâu đến nỗi bất hạnh và nghèo khổ như bây giờ. Một tên đàn em, xưa nay nó vẫn tận tụy trung thành tuyệt đối với em, Em đã cưu mang, giúp đỡ vợ con nó qua khỏi cơn đói nghèo. Thậm chí, em con còn đeo râu, vẽ mặt cho nó. Từ khi dấn thân vào cuộc chiến trận của thương trường, trận nào em cũng thắng đậm, nên em sinh ra chủ quan, tự mãn, coi thường người khác. Nó vừa cướp đoạt tài sản của em, lại báo công an bắt. Có đểu không? Có chó má không bác?

Tân lại uống rượu, và kể lể tiếp:

-  Nó đúng là một con rắn độc. Khi nó phải nhờ cậy em. Nó uốn mình mềm mại, rất êm, rất nhẹ nhàng. Đến khi thu hết tiền bạc của em. thu hết sức lực của em, nó quay lại phun nộc độc vào mặt em. Tàu vừa cập bên, nó dẫn công an tới bắt. Tang chứng, vật chứng rành rành, em câm họng lại và chết ngất đi. Thế là em trắng tay. Em vác cái án 10 năm tù, vào nhà đá bóc lịch. Bỏ vợ và hai đứa con nhỏ trôi nổi ngoài dòng đời.

Tân lại uống rượu và khóc tu tu. Dân an ủi động viên:

- Cái gì đã qua, em phải cho qua, tiếc cũng chẳng được, chẳng tiếc để làm gì.

Tân lại uống rượu và tiếp tục:

- Nhờ thành tích chiến đấu, nhờ cải tạo tốt, hai, ba lần giảm án. Còn 5 năm tù giam, em được tha. Em trở về với hai bàn tay trắng. Hai vợ chồng chẳng có nghề nghiệp gì. Căn nhà ngoài mặt tiền, vợ em bán em lấy tiền nuôi con, nuôi em ở tù. Thật may mắn, vợ em cũng dành dụm, tiết kiệm mua được căn hộ trong hẻm. Tuy ở trong hẻm, nhưng nhà rộng, thoáng mát nên em ở một nửa, cho thuê được một nửa. Nếu không bốn người nhà em sống vào đâu bây giờ. Vợ em buôn bán ngoài chợ, kiếm gạo nuôi các cháu. Em chạy xe ôm. Nửa năm nay, cô ấy bị ốm không đi chợ được nữa. Cả nhà trông vào “con ngựa sắt” của em.

Dân xúc động, xót thương cho hoàn cảnh của Tân. Anh nhỏ nhẹ nói:

- Anh hỏi thật chú nhé! Chạy xe ôm, mỗi ngày chú kiếm được bao nhiêu tiền? Liệu có đủ sống không?.

Tân buồn rầu nói:

- Nhùng nhằng cũng đủ nuôi vợ con. Chạy xe ôm cũng như người đi câu cá. Hôm nào gặp khách, kiếm được kha khá vợ con cũng mát mày, mát mặt. Hôm nào gặp ít khách như sáng nay thì vất vả lắm,cả nhà đều méo mặt. Đành lại rau cháo nhì nhằng qua ngày, đoạn tháng. Vất vả lắm anh ạ! Nhờ trời, nhờ Phật, em còn khỏe, tay lái vững vàng lắm. Vợ chồng em trong đội quân những kẻ đói nghèo, thất nghiệp của thành phố.

Dân cảm thấy giận và thương Tân. Thương vì gia đình Tân lâm vào cảnh bần cùng, vợ ốm con đau đói nghèo, thất nghiệp. Giận vì Tân tham lam quá, vì Tân đánh mất phẩm chất người lính cụ Hồ nên mới gặp phải nông nỗi này. Ngồi lặng đi một lúc khá lâu, Dân vừa cười, vừa nói:

- Tiếc và than thân trách phận cũng chẳng giải quyết được gì! Tất cả phải cho qua! Âu cũng là số trời. Trời, Phật chỉ cho hưởng có thế thôi. Nhưng anh trách em tham lam vô độ không biết dừng đúng lúc. Cứ thấy hơi tiền là lao vào như con thiêu thân, chết cũng đáng đời. Kiếm được tiền, em không biết tiêu tiền, phung phí đồng tiền làm ra. Em không nên trách ai mà trách bản thân mình mới đúng. Bây giờ, em định làm gì?

Tân chép miệng thở dài não nuột, Tân nói :

- Còn biết làm gì nữa. Phải chờ có dịp nào đó mới kiếm được nghề nghiệp bảo đảm đời sống cho gia đình. Anh còn nhớ thằng Hà, cùng liên lạc, bảo vệ với em không? Vết thương tái phát cu cậu nằm liệt giường, tất cả đều trông vào vợ. Hôm làm lễ truy điệu anh, em và nó khóc như cha chết, mẹ chết.          

Dân sốt ruột:

- Quên thế nào được thằng Hà. Từ đây đến nhà nó gần hay xa? Chú đưa anh tới thăm nó được không?

- Khuya rồi! Em phải đưa anh về kẻo chị mong. Để dịp khác.

- Chú biết tính anh. Anh chúa ghét những ai nói lời lại nuốt lời. Cho dù cuộc sống khó khăn đến đâu chăng nữa, anh em ta vẫn phải giữ lấy bản chất tốt đẹp của người lính cụ Hồ.

- Em còn lạ gì tính anh.

Tân dắt xe ra ngoài đường nổ máy đứng chờ. Dân đứng lại nói với vợ Tân:

- Anh gặp chú Tân ở ngoài ga và lại được đến nhà thăm cô chú. Anh rát hiểu hoàn cảnh của cô chú. Anh gửi cô ít tiền. Nhờ cô mua quà và may quần áo cho hai cháu, thuốc thang cho cô. Dân đặt gói tiền xuống bàn và chạy ra xe. Vợ Tân ngỡ ngàng, xúc động. Chị chạy ra cửa gọi theo Dân rất to nhưng cả Dân và Tân đều đã không nghe thấy. Vì ngoài đường tiếng xe máy, nhiều tiếng ồn ào đã át cả tiếng chị.

Khi Tân trở về. Chị Mai kể cho chồng nghe. Chị mở gói tiền ra đếm. Chị nói với chồng: Tận hai triệu. Bác ấy tốt quá anh Tân ạ!

- Ngày còn trong quân ngũ, bác ấy có thể nhịn ăn, nhịn uống nhường cho anh và Hà. Ngược lại, anh và Hà sẵng sàng lấy thân mình đỡ đạn cho bác ấy. Tụi anh không để bác ấy phải thiếu thốn và làm bất cứ việc gì, để bác ấy dành tất cả thời gian vào việc lãnh đạo đơn vị.

Bà Huyền ngồi ở nhà xem ti vi, nghe ca nhạc một mình. Thỉnh thoảng, bà lại ngước nhìn đồng hồ. Hơn 10 giờ mà ông ấy vẫn chưa về. Bà đứng lên, ngồi xuống mà không yên. Bà mở cửa chạy ra đường đứng nhìn. Bà bỏ cái ti vi tự nói, tự nghe một mình. Bà vừa khép cửa quay vào thì chồng về tới nơi. Lời đầu tiên bà trách chồng:

- Anh mải vui bạn bè, quên cả vợ con. Bố đi chơi. Con đi làm - Bà vừa khóc, vừa nói - Em ở nhà một mình ôm cái ti vi từ tối đến giờ. Có ai vô tâm như anh không? Vừa đặt chân tới nhà, đã bỏ vợ con đi chơi luôn?

Ông Dân đến bên vợ, cười khà khà thanh minh:

- Em thông cảm. Những năm ở chiến trường, anh và họ sống chết có nhau. Họ bảo vệ, giúp đỡ anh mỗi khi gặp khó khăn. Anh không thể quên họ.

Bà Huyền càng tức hơn. Bà khóc tức tưởi:

- Thế em không sống, chết vì anh à? Anh thử nghĩ xem?

Ông Dân ôm vợ vào lòng, tay vuốt vuốt mái tóc:

- Anh xin lỗi, Anh sai rồi. Với họ chỉ một lúc thôi. Anh và em còn cả đêm nay, đêm mai và mãi mãi...

*

*         *

   7. Gần ba mươi năm, mới gặp nhau. Hôm nay, ông Dân và bà Huyền mới thực sự là vợ chồng. Mặc dù, họ đã có với nhau một đứa con. Những lần gặp nhau trước đây đều ở ngoài đường, chủ yếu trên đồi sim. Một đôi lần ở nhà Huyền thì cửa mở to, đèn thắp sáng, ngồi thật xa nhìn nhau và nói chuyện. Mỗi khi ở bên nhau vừa sung sướng, hạnh phúc, vừa lo sợ có ai đó nhìn thấy. Đêm nay, hai người mới thực tự do, thoải mái, dưới ánh đèn sáng trắng. Ở góc độ nào đó là sự hâm lại, ong bướm cũ gặp nhau. Nhưng ở khía cạnh khác, đêm nay mới thực là đêm tân hôn. Sau trận mưa hôn dài như điên, như dại, bà như quên hẳn, khi chồng đi chơi với bạn bè để bà ở nhà một mình. Bà nói với ông:

- Để em khám xem những vết thương cho anh. Thương tật loại mấy.

Nhìn những vết thương trên cơ thể chồng, Huyền vừa khóc, vừa nói:

- Nhiều vết thương thế này không chết là may. Thật phúc đức. Những ngày xa nhà, anh có nhớ em không?

- Nhờ có sức khỏe tốt, anh mới chống chọi nổi những trận đòn tàn bạo của kẻ thù. Khi nằm viện, lúc ngồi tù anh luôn nhớ tới em. Khổ tâm nhất khi trở về không biết em ở phương trời nào. Tìm em như mò kim đáy biển. Lúc đi, anh có ngờ đâu em có con. Khi biết em có con, lòng thương nhớ em và con càng da diết hơn. Anh lặn lội, một mình đi tìm em và con mà chẳng thấy. Còn em?

Chị khóc thút thít kể:

- Bố em đánh đập, xỉ vả và bắt phá thai. Bố anh không thừa nhận. Em bỏ nhà ra đi. Đó là cách tính liều. Rất may gặp mẹ Thương dù đói nghèo nhưng yên ổn. Được tin anh hy sinh, em yên phận thờ chồng nuôi con. Cái đêm trăng sáng trên đồi sim, chúng mình dành cho nhau tất cả. Đêm nay, dưới ánh đèn sáng trắng, hai ta lại quấn quýt bên nhau, hiến dâng cho nhau. Bây giờ mới thực sự là đêm tân hôn của anh và em.

Ông Dân âu yếm vuốt ve vợ.

- Những ngày tiếp theo, anh và em phải tận hưởng tuần trăng mật.

Chị gục đầu vào ngực anh:

- Mật hay đường đều ngọt cả. Anh uống thử xem, em nói có đúng không? Có khác xưa không?

Ông gục đầu vào ngực bà, đắm đuối:

- Đầy đặn lắm! Ngọt lắm! Vẫn như hồi nào.

Tiếng nói của ông như có vật gì đó cản ở miệng!

Ngoài đường có tiếng rao bán hàng. Trời sắp sáng, chị tỉnh giấc. Bà Huyền vẫn có thói quen dậy sớm. Bà dậy để chuẩn bị bữa sáng. Bà đánh thức chồng.

 Dậy! Dậy đi anh! Mệt lắm à?

- Anh còn dư sức. Hai người lại đổ xuống giường!

Thứ đi làm về. Anh lên tiếng:

- Đêm qua, bố mẹ ngủ ngon không?

Ông Dân vui vẻ trả lời con:

- Thật là tuyệt con ạ!

- Đêm qua, ba Năm gọi điện cho con. Sáng nay, ba má Năm đến đón cả nhà đi Mỹ Tho. Con đã điện cho An rồi. Tám giờ, ba má Năm cho xe tới đón.

- Chị Năm cũng vừa gọi điện cho mẹ lúc sáng. Hai bố con đi ăn sáng kẻo muộn. Con chạy đi mua cho mẹ gói quà như lần trước.

*

*        *

   8.  Chiếc xe Toyota 12 chỗ ngồi mới cứng, đưa gia đình ông Năm và ông Dân đi Mỹ Tho. Xe chạy bon bon trên đường nhựa phằng lì, nhẵn bóng. Xe chạy ra khỏi thành phố, ông Dân phóng tầm mắt nhìn các làng mạc hai bên đường. Mặt trời như khối lửa đỏ, khổng lồ đã vượt lên trên những làng mạc phía xa xa. Nắng vàng rực rỡ, chan hòa tỏa sáng khắp cực Nam của Tổ quốc. Gió biển thổi vào mát rượi. Lần đầu tiên ông Dân được hưởng cái nắng, gió nơi đây khi đất nước hòa bình. Ông căng lồng ngực, khoan khoái hít thở. Sống và chiến đấu ở miền Nam bao nhiêu năm, hôm nay ông Dân mới được hưởng không khí thanh bình. Tất cả những cảnh đẹp của đất nước, ông muốn thu gọn vào tầm mắt, tận hưởng cái nắng, gió của xứ sở. Lúc này, ông Năm mới có dịp để ý tới ông Dân, ông vui vẻ kêu lên:

- Bà Năm, bà Huyền ơi! Nhìn anh Hai Dân ngon lành chưa, lịch sự chưa?

Mọi người đổ dồn con mắt về phía ông Dân. Ông Dân xúng xính trong bộ com lê màu rêu mới cứng, đường ly thẳng tắp, cà vạt đỏ chói. Ông khác hẳn hôm qua, trang nhã, lịch sự hơn. Ông ngượng ngùng khi bị mọi người chú ý. Bà Huyền từ hàng ghế trên quay xuống nhìn chồng. Bà chép miệng thở dài:

- Ông ấy mượn của con trai đấy. Nhưng đố ai biết là quần áo đi mượn. Vì bố mặc quần áo của con lại vừa như in. Nếu không thế thì chẳng biết xoay sở ra sao?

- Thôi được!  Gấp gáp quá, chẳng kịp may cho anh Hai vài bộ đồ. Có đáng là bao.

Lời phân trần là của ông Năm.

Tới nơi. Xe dừng lại trước cửa nhà ông Tư Thành. Vợ chồng Tư Thành quần áo lịch sự, đứng trước cửa đón khách. Bà Khang cầm tay bà Năm, bà Huyền dẫn vô nhà. Ông Tư Thành lần lượt bắt tay ông Năm và ông Dân. Bàn ghế, cốc tách cùng đồ uống đã chuẩn bị sẵn, bày la liệt trên bàn.

Ông Năm với tư cách là bạn bè thân tình đứng dậy giới thiệu ;

- Nhà tôi, chị Hai, anh chị Tư đã biết rồi khỏi cần giới thiệu. Anh Hai lần đầu tiên tới nhà anh Tư. Nhưng thực ra, anh Hai và anh Tư quen biết nhau từ rất lâu rồi, tôi sẽ nói sau. Anh Hai Dân là bố cháu Thứ.

Bà Huyền đứng dậy nói:

- Nhà em vừa ngoài quê vào, ông ấy mang theo ít quà biếu ông bà. Gọi là sản vật quê hương. Bà Năm cũng nói:

- Vợ chồng tôi từ trên thành phố, lâu ngày về thăm anh chị có ít quà biếu gia đình.

Bà Khang đứng dậy cảm ơn và nhận quà.

Sau màn chào hỏi xã giao và uống nước, ông Năm Mập, quay về phía ông Tư Thành hỏi:

- Anh Tư nhớ ai đây không? Ông chỉ tay về phía ông Dân. Cả ông Tư Thành và ông Dân cùng mọi người đều ngỡ ngàng. Ông Tư Thành, ông Dân nhìn nhau chằm chằm. Cố lục trong trí nhớ, tìm kiếm trong số người thân quen. Nhưng cả hai ông đều ngớ người, đứng ngây ra. Ông Tư Thành lắc đầu: Chịu thôi, ông Dân gõ gõ tay vào trán, dứt khoát là quen nhưng lâu ngày quá nên không nhận ra. Vì chúng ta thay đổi quá nhiều. Đều già đi!

- Các anh quên cả thì tôi xin giới thiệu vậy. Đây là anh Phạm Đình Dân D trưởng B26, Còn đây là anh Tư Thành C trưởng C1 của D- B26. Cả hai đều đánh vào cứ điểm AL năm 1972. Điều này tôi biết nhưng muốn dành sự bất ngờ cho hai anh và mọi người.

Ông Dân hồ hởi nói:

- Tôi nhớ rồi. Anh Tư Thành C trưởng C1, đơn vị chủ công đánh vào cứ điểm AL.

Ông Tư Thành ngạc nhiên hỏi:

- Anh Dân D trưởng, Thủ trưởng cũ của tôi, quên thế nào được. Nhưng anh Dân đã hy sinh từ 1972. Đơn vị làm lễ truy điệu, anh Năm là người đọc điếu văn chứ ai nữa. Anh Hai ra đi, để lại lòng thương tiếc và kính trọng của toàn đơn vị. Ông chỉ vào trán, rồi kéo xuống trái tim, tất cả những điều đó còn lưu giữ ở nơi này. Nhưng tại sao…?

Ông Dân cười khà khà, thoải mái:

- Ông Nam Tào định xóa sổ tôi. Nhưng tôi thương nhớ vợ con, thương nhớ đồng đội, bằng lý lẽ sắc bén của mình, tôi cãi thắng cả Nam Tào. Tôi trở về cùng vợ con, đồng đội nên hôm nay chúng ta mới gặp nhau. Cái số tôi lớn lắm chết thế nào nổi. Nói cho vui sự thể là thế này. Ông Dân tóm tắt cuộc đời gian nan của mình cho mọi người cùng nghe. Ông Dân, ông Tư Thành ôm nhau thắm thiết.

Ông Năm Mập:

- Anh Hai Dân vẫn khẩu khí văn chương như xưa. Anh Hai Dân vừa chuyển công tác vô Sài Gòn. Hôm nay, chúng tôi xuống thăm ông bà và xin phép làm đám cưới cho các con của chúng ta. Đúng ra, chúng tôi phải đi lại nhiều bước nữa. Nhưng ỷ thế là bạn bè, thân quen nên xin phép được rút gọn bớt đi. Kể cũng hơi liều mạng. Việc này đều do tôi khởi xướng và quyết định. Tôi và anh Tư đều dân miệt vườn Nam Bộ thông thoáng, dễ bỏ qua cho nhau. Rất mong anh, chị thông cảm cho.

Ông Tư cười chân thật:

- Việc đó vợ chồng tôi nhất trí liền. Chúng ta là đồng đội, là bạn bè với nhau, sẵn sàng bỏ qua nhưng nghi lễ rườm rà không cần thiết. Từ lâu, vợ chồng tôi coi chúng như con rồi, chỉ chờ anh, chị Hai vô là tổ chức cưới.

Ông Năm sốt sắng:

- Được anh, chị Tư cho phép, chúng ta bàn luôn. Tôi nghĩ suốt đêm qua rồi. Ngày cưới sẽ ấn định vào 15 âm lịch tháng sau, còn khoảng hơn hai mươi ngày nữa, đủ sức chuẩn bị. Ngày đó là ngày cúng Phật trùng vào chủ nhật thuận tiện cho bạn bè của hai bên gia đình và bạn bè  của các con tới dự. Lễ cưới sẽ tổ chức ở nhà nghỉ của quân khu. Việc ấy, tôi xin lãnh cả. Mọi nghi lễ, theo thủ tục nhà gái ở dưới này, phiền anh chị Tư lo giùm. Thời nay, cưới con trai hay con gái cha mẹ đều có trách nhiệm cả. Hai con, Thứ, An lo in thiệp mời, may quần áo cưới. Anh, chị Hai mới vô, còn lạ nước, lạ cái thì đóng góp tùy theo sức của mình.

Ông Tư Thành thật thà, vui vẻ nói:

- Anh Năm nói như đọc mệnh lệnh xuất kích, ngắn gọn và đầy đủ vậy thì còn ai bàn được gì nữa. Ông quay về phía bà Khang, riêng tôi chỉ biết tuân theo lệnh của anh Năm, còn ý bà thế nào?

 Bà Khang nhỏ nhẹ nói:

- Kể cũng hơi gấp. Nhưng đã nói là mệnh lệnh thì cứ thế mà thi hành. Khó mấy cũng phải vượt qua.

Thứ xin phép thưa:

- Thưa ba má! Thưa bố mẹ! Ba Năm phân định việc hôn lễ cho chúng con rất hợp tình, hợp lý và rất cụ thể. Con chỉ xin một điều, tứ thân phụ mẫu tuy chưa già nhưng cũng gọi là già, lo lắng cho các con như thế là quá nhiều rồi. Riêng phần kinh tế, chúng con xin tự lực cả phần nhà trai và nhà gái. Chúng con là những nhà khoa học, chẳng lẽ không lo nổi đám cưới cho mình mà ỷ vào bố mẹ già.

Ông Năm cắt ngang lời:

- Con nói sai rồi! Ba, má còn sống sờ sờ ra đây mà không cưới nổi vợ cho con à? Dựng vợ gả chồng cho con là nhiệm vụ của ba, má mà bắt các con đóng góp thì còn mặt mũi nào với thiên hạ nữa. Các con dành được bao nhiêu tiền thì để nuôi con sau này. Thế hệ nào có nhiệm vụ của thế hệ ấy.

Ông Dân nêu ý kiến:

- Phong tục tập quán trong này, tôi chẳng hiểu lắm. Những năm sống và chiến đấu ở miền Nam, tôi chỉ biết cầm súng nã vào đầu thù. Anh Năm, anh Tư dạy thế nào, vợ chồng tôi xin chấp hành vô điều kiện - ông cười khà khà, coi như  mệnh lệnh ngoài chiến trường.

Bà Khang khiêm tốn nói:

- Mọi việc chúng ta đều thông cảm với nhau trên cơ sở đồng đội và bạn bè. Nhưng mọi nghi lễ ở dưới này như: Đặt trầu cau, xin hỏi, xin cưới đề nghị anh chị Năm, anh chị Hai đều có mặt để chúng tôi giới thiệu với gia đình nhà gái cho thêm phần long trọng.

Ông Năm nói ngay:

- Đó là việc không phải bàn nữa. Khi nào anh chị Tư “triệu tập”, vợ chồng tôi và vợ chồng anh Hai xin sẵn sàng. Bây giờ xong việc, đề nghị anh chị Tư cho ăn cơm. Cái tính tôi nó thế, công việc là công việc, bàn xong mới nhậu, trong tiệc rượu không bàn công việc nữa. Ai say, tự do ngủ. Hôm nay, chúng ta phải uống thật say, không say không về để mừng...

Như một người dẫn chương trình kiêm chủ xị, ông Năm nói:

- Bữa tiệc bắt đầu. Ly đầu tiên, mừng anh Hai Dân chiến thắng trở về. Ba anh em tôi cụng ly. Các bà, các con uống bia, uống nước ngọt tùy khả năng, tùy ý thích. Đặt ly xuống bàn, ông Năm Mập đưa mắt kiểm tra ly của ông Dân và ông Tư Thành. Ly thứ hai mừng ba thằng ta hội ngộ, tôi chính trị viên, Anh hai Dân D trưởng, anh tư Thành C trưởng C1.

 Tiếng chạm ly cạch, cạch! Mỗi lần cụng ly các ông đều đứng thẳng, dáng rất “hiên ngang” và tươi cười mãn nguyện. Bữa tiệc sôi nổi, nhộn nhịp hẳn lên. Tiếng nói, tiếng cười muốn vỡ tung căn nhà.

Ly thứ ba mừng gia đình anh Hai Dân đoàn tụ, sum họp sau bao năm xa cách.  Ly thứ tư mừng hạnh phúc cho các con của chúng ta. Ly rượu này, các bà và các con đều phải tham gia, có thể uống chút đỉnh cũng được. Nhưng phải uống hết, tôi sẽ kiểm tra.

Ông Năm Mập kêu mệt, ngả lưng xuống giường. Chỉ một lúc sau, ông đã làm nhiệm vụ “kho cá”. Ông Tư Thành lai rai với ông Hai Dân được vài ly nữa, rồi lên giường nằm sóng đôi với ông Năm Mập. Thế rồi hai ông ôm nhau ngủ ngon lành. Ông Hai Dân ngồi nói chuyện với các bà và các con.

Nắng nhạt dần. Hoàng hôn từ từ buông xuống. Bà Năm sốt ruột đánh thức chồng dậy. Ba người lính già, ba người đồng đội tỉnh giấc. Bà Khang chuẩn bị nồi cháo vịt xiêm thật nhuyễn và sánh để các ông và mọi người ăn cho giã rượu. Bữa trưa chỉ uống rượu nên các ông đều thấy bát cháo vịt ngon và mát ruột. Ai cũng khen bà Khang nấu cháo khéo. Thứ và An chuyển những giỏ trái cây đủ loại như xoài, chôm chôm, sầu riêng, măng cụt lên xe làm quà cho gia đình ông Năm, ông Hai.

Họ chia tay nhau sau khi đặt xong viên gạch đầu tiên cho ngôi nhà hạnh phúc của các con. Từ đây, họ thêm thắt chặt mối thân tình hơn.

Ăn cơm xong. Chờ An dọn dẹp mâm bát xong, bà Huyền hắng gọng nói:

- Việc tổ chức cưới cho các con, vợ chồng mình và các con nên tính toán lại. Bác Năm rất nhiệt tình, mãi mãi chúng ta phải biết ơn anh chị ấy. Nhưng cưới vợ cho con mình mà để anh chị ấy lo tất, tôi thấy thấy sái sẩm quá. Ngay lúc đó, tôi định có ý kiến nhưng hoàn cảnh nhà mình đang lúc khó khăn, eo hẹp. Hơn nữa, anh Năm còn nói mọi chi phí cho lễ vu quy đều do vợ chồng anh Tư Thành đảm nhiệm, tôi thấy ái ngại quá. Đành rằng việc xây dựng gia đình cho con là trách nhiệm chung của hai bên cha mẹ. Tôi thấy lo quá, mấy hôm nay, ăn ngủ không ngon.

 Ông Dân khe khẽ vỗ vai vợ, cười khà khà:

- Bà lo lắng làm gì cho tổn thọ. Đời bà vất vả, gian khổ, ăn đói mặc rách chưa đủ hay sao? Bây giờ,  bà nghỉ ngơi cho khỏe mặc bố con tôi. Nhân đây, tôi nói luôn. Anh Năm nói “Anh, chị Hai mới vô chân ướt, chân ráo, còn lạ nước, lạ cái đóng góp tùy khả năng”. Thế có nghĩa vợ chồng mình góp bao nhiêu cũng được. Nhận cả về phía mình anh chị ấy không nghe đâu. Anh Năm nói: “Mọi việc của nhà gái, nhờ ông bà Tư Thành lo liệu giùm”. Theo tôi, trước mắt vợ chồng mình góp 20 triệu đã rồi bàn tiếp. Phương án này, anh Năm không từ chối nổi tôi đâu. Về phía nhà gái, ta đưa xuống cho ông bà Tư Thành 10 triệu chắc là ổn. Vấn đề còn lại là việc sắm sửa cho các con chắc cũng mười triệu nữa là ổn.

Bà Huyền cắt ngang lời chồng:

- Ông nói nghe rất ngon, dễ dàng như trở bàn tay. Nhưng trong túi ông có đồng nào chưa? Ông trả lời tôi nghe.

Ông Dân nhìn thẳng vào mắt vợ cười cười nói:

- Các cụ đã dạy rồi! “Mạnh về gạo, bạo về tiền”. Tôi có trong tay 30 triệu rồi! Bà cứ yên tâm đi. Còn thiếu ta sẽ đi vay.

Để ông bà Dân và Thứ bàn bạc thoải mái, tự do, An khéo léo nói:

- Con xin phép bố mẹ con về đằng nhà. Em về anh Thứ nhé!

An ngập ngừng nói. Bà Huyền nói với theo:

- Trưa mai, con về ăn cơm nhé! Kể từ nay, con về bên này ăn cơm. Mẹ ở nhà sẽ nấu.

- Dạ!

Thứ tiếp tục động viên mẹ:

- Tiền bạc mẹ đừng bận tâm. Bố và con sẽ lo được. Ngoài số tiền bố có, chúng con cũng dành dụm được bằng số tiền của bố. Cơ bản là đủ rồi. Đâu sẽ có đó, mẹ cứ vui và chờ ngày cưới con dâu.

- Là mẹ nói vậy. Mẹ không trông nhờ vào chồng con thì còn biết trông cậy vào ai bây giờ. Mẹ như ếch ngồi đáy giếng, nghe người ta nói cưới vợ ở thành phố tốn kém lắm. Bố con ông liệu cơm mà gắp mắm.

*

*        *

9. Khoảng 6 giờ chiều. Tân đến đón ông Dân đến thăm nhà Hà. Trước khi đi, ông dặn vợ:

- Anh đi thăm đồng đội cũ. Chắc là khuya mới về. Em và con không phải chờ cơm.

Bà Huyền kéo tay chồng lại nói nhỏ:

- Anh nhớ uống vừa vừa thôi. Uống nhiều quá chẳng may trúng gió độc lại khổ vợ con. Tối nào anh cũng say khướt, quên cả vợ con!

Ông Dân hôn nhẹ lên má vợ:

-  Em cứ yên tâm đi. Hôm nào anh cũng đi uống rượu thật nhưng có tối nào quên nhiệm vụ đâu. Bà Huyền khẽ tát yêu lên má chồng và bấm vào sườn, vào đùi:

- Già rồi...

Tân chở ông Dân đi vòng vèo hết phố này đến phố khác. Ông vừa nhìn thấy tên phố, chưa kịp hỏi Tân, xe lại đưa ông sang phố khác. Nhiều khi đèn sáng, Dân chỉ thấy loang loáng mà không biết đây là đường phố nào. Xe ngoặt vào trong hẻm. Đến một  cửa hàng ăn khách đông nghịt, người ra vào tấp nập. Nhưng đấy rõ ràng là quán ăn bình dân. Cửa hàng, bàn ghế và khách ăn đều là người lao động, quần áo đen nhẻm và đa phần là quần cộc, áo may ô. Tân dừng xe nói với ông Dân:

- Bác trông xe giùm em. Em vô đây có chút việc

Một lát sau, Tân lễ mễ xách một túi thức ăn và một can rượu từ trong tiệm bước ra. Mặc dù, Tân không nói gì như ông Dân thừa hiểu, Tân chuẩn bị sẵn đồ nhậu và rượu để khỏi phiền cho Hà.

Xe ngoặt vào trong hẻm “vương quốc” của người lao động nghèo, rồi vào hẳn trong ngách. Tân dừng xe. Dân xuống xe theo Tân. Tân gõ cửa, có tiếng nói từ trong nhà vọng ra.

- Tân đấy à? Vô nhà đi.

 Sáu Hà vốn quê miền Đồng Tháp Mười. Anh là con một gia đình nông dân thuần khiết, đông con. Anh được người chú ruột giáo dục tham gia cách mạng, nhập quân giải phóng khi vừa tròn 18 tuổi.  Anh chỉ quen việc cày cuốc trên đồng và bắt cá khi mùa nước nổi. Chính vì thế, mỗi khi gặp vũng nước hoặc đìa nước anh trổ tài bắt cá giúp bộ ba, Tân,  Hà và thủ trưởng Dân có bữa ăn tươi nhằm cải thiện đời sống. Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng đất nước thống nhất, Sáu Hà phục viên xin về quê cày ruộng, nhưng nghe Tân và một số bạn bè rủ rê anh ở lại thành phố làm ăn sinh sống. Sống ở Sài Gòn, anh không có anh em bà con thân thích mà chủ yếu dựa vào bạn bè. Mặc dù ở Sài Gòn,  nhưng anh vẫn giữ bản chất của người nông dân và người lính cụ Hồ. Vốn là một chàng lính trẻ đẹp trai, nhiều cô gái Sài Gòn chết mê, chết mệt nhưng Sáu Hà chọn Tám Bé - con một gia đình quê gốc Sài Gòn, ba và các anh trai Bé đều làm thợ, má cô buôn bán nhỏ ở chợ An Đông Sài Gòn. Sáu Hà nghĩ, gia đình Tám Bé không giàu có, tức là không bóc lột mà chỉ là gia đình lao động, buôn bán nhỏ nhưng thật thà, chân chất làm ăn. Gia đình bên nội không có ai ở Sài Gòn thì gia đình bên vợ sẽ là chỗ dựa vững chắc cho anh. Tám Bé theo má đi chợ buôn bán từ nhỏ nên rất rành việc buôn bán ở chợ. Khi Tám Bé lấy anh bộ đội Vũ Minh Hà thì chị theo chồng làm công nhân cùng với chồng.

Tân tay xách can rượu, tay xách túi thức ăn đẩy cửa bước vào. Dân lặng lẽ bước theo. Hà ngồi dậy nói:

- Nghe tiếng xe và tiếng gõ cửa tao nhận ra mày liền.

- Mày vẫn tự nhận có trí nhớ hơn người. Xưa nay, Tao vẫn bái phục. Nhưng mày có nhận ra ai đây không?  Tao xem tài nhớ của mày đến cỡ nào? Có bằng tao không?

Tân nói. 

Sáu Hà mở to đôi mắt nhìn Dân từ đầu tới chân. Dân cũng chiếu thẳng đôi mắt sáng rực về phía Hà. Bốn con mắt nhìn nhau như để giao cảm, tìm kiếm, lục lọi trong trí nhớ mà bấy lâu giấu kín với con người thực trước mặt. Người này là ai? Một lúc sau Sáu Hà nói:

- Người này có những nét quen quen, phải nói là rất quen mới đúng. Nhưng là ai thì tao chịu rồi!

Tân cười đắc thắng:

- Thế là mày thua tao rồi. Vừa gặp ông này ở ga Sài Gòn tao nhận ra liền, hỏi đúng tên. Mày nghĩ đi, tao để cho mày hẳn 10 phút nữa. Tao gợi ý cho mày nhé! Người thân, một thời sống chết có nhau đấy. Một thời nhường cơm,  sẻ áo cho nhau đấy!

Hà lắc đầu.

Tân cười:

- Quên thật rồi! Từ nay, tao xếp mày trí nhớ loại tồi. Bây giờ, tao xin giới thiệu để mày sáng mắt ra. Đây là thủ trưởng Dân của Tao với mày.

Hà vất vả, nặng nề lê đôi chân tới. Họ ôm lấy nhau. Hà khóc tu tu như một đứa trẻ. Hà nói qua làn nước mắt. Năm 1972 em và thằng Tân khóc anh như cha chết, mẹ chết. Cứ tưởng anh nằm lại ở nơi ấy vĩnh viễn. Nào ngờ… Chẳng lẽ anh chui ở dưới đất lên à? Hay là hồn ma hiện về, vào hùa với thằng Tân để lừa em. Hà lại khóc tu tu và kêu... Anh Dân ơi! Anh Dân ơi! Tại sao mày tồi thế Tân?  Mày gặp anh Dân từ bao giờ mà hôm nay mày mới cho tao biết. Mày là thằng tồi! Tồi hơn bất cứ thằng tồi nào.

- Tao đi đón khách. Tao gặp anh Dân ngoài ga. Tao hỏi bác đi xe ôm để em chở. Anh Dân nói cám ơn. Tôi có người nhà đón rồi. Mày biết không: Tao rất buồn. Tao bỏ đi liền. Nhưng tao quay lại hỏi: Em trông bác quen quá. Xin lỗi bác, bác có phải là thủ trưởng Dân, D trưởng B26? Vâng tôi là Dân đây. Hai anh em ôm nhau như mày và anh Dân ôm nhau hồi nãy. Ngay tối đó, tao đón bác Dân tới nhà chơi. Hôm nay, tao muốn dành cho mày sự bất ngờ và kiểm tra trí nhớ của mày.

Hà gọi vợ đến giới thiệu.

Tình thế buộc Dân phải tái bản cuốn tiểu sử bản thân những năm qua cho Hà và Tân nghe. Hà cười hề hề:

- Ly kỳ như cuốn tiểu thuyết trinh thám, ai mà nhớ nổi.

- Còn em so với anh thì ly kỳ hấp dẫn đến cỡ nào?

Dân hỏi.

Với giọng buồn buồn, đều đều, Hà kể:

- Hòa bình, em và Tân xin phục viên và ở lại Sài Gòn. Thằng Tân thì anh biết rồi. Lúc đầu, em làm ở phòng kế hoạch tài vụ tại nhà máy ĐN. Có thể nói, em gặp may hơn Tân rất nhiều. Công việc rất thuận lợi và em ngày càng có uy tín với lãnh đạo nhà máy và công nhân. Thời gian không lâu, em phát hiện thấy tay Phó Giám đốc nhà máy thông đồng với tay Trưởng phòng Kế hoạch Tài vụ phù phép nhập nguyên vật từ nhà máy này rồi lại lấy lý do hỗ trợ cho đơn vị bạn, nhường nguyên vật liệu cho nhà máy khác, lấy cắp tài sản của nhà máy tới 127 triệu đồng. Đồng tiền lúc ấy có giá trị lắm. Em kiên quyết tố giác chúng. Họ phải bồi thường cho nhà máy số tiến ấy. Giám đốc Hùng, buộc phải bàn với Phó Giám đốc Cường tính cách thí tốt. Họ buộc phải cách chức và sa thải Trưởng phòng Kế hoạch Tài vụ Dữ. Em nổi tiếng là người vác cờ đầu đi tiên phong trên mặt trận chống tham nhũng. Báo chí Trung ương và địa phương hết sức ca ngợi em. Họ đưa em vào làm Phó Ban thanh tra nhân dân của nhà máy. Em tiếp tục phê phán, lên án cách quản lý tài chính lỏng lẻo, chi tiêu vô nguyên tắc như ăn nhậu bừa bãi, làm thất thoát tài sản của nhà máy. Giám đốc Hùng, một đôi lần gặp em, động viên, khen ngợi tinh thần đấu tranh và khích lệ em mạnh dạn phát hiện, tố giác những biểu hiện tiêu cực trong nhà máy. Em như được chắp cánh. Tất cả những biểu hiện như ăn cắp vặt, đi muộn về sớm, lãng phí nguyên vật, tài sản của nhà máy đều nằm trong tầm ngắm của em. Những người tốt, người đúng đắn đều ủng hộ đứng về phía em. Những kẻ xấu, tiêu cực tập hơp nhau lại thành lực lượng chống đối em.

Hôm ấy, là một ngày đẹp trời. Mặt trời như khối lửa đỏ vừa vượt khỏi nhà máy. Gió thổi mát rượi… Bỗng nhiên, gió tăng tốc thổi vù vù. Mây ùn ùn kéo tới. Mưa bắt đầu rơi. Mưa nặng hạt. Mưa như trút nước. Mưa xối xả. Mưa gõ trên mái nhà thình thình, ầm ầm, ào ào. Nước mưa chảy xuống cống rãnh ở nhà máy réo ồ ồ. Đúng là những cơn mưa Sài Gòn quả không sai. Tất cả công nhân nhà máy vẫn đều hăng say làm việc. Tiếng máy chạy ầm ầm, tiếng mưa rơi ào ào. Cả nhà máy chìm ngập trong tiếng máy, tiếng mưa rơi làm át đi tiếng nói, tiếng trao đổi, mạn đàm của các phòng hành chính. Em còn đang phấn chấn, vui mừng với công việc của mình. Em nghĩ phải làm gì để phát huy được tác động tính tích cực góp phần đưa nhà máy tiến lên. Mưa đã ngớt. Mưa tạnh hẳn.

Giám đốc Hùng cho người gọi em lên phòng làm việc. Ông ta tươi cười,  hể hả nói:

- Nhà máy ta cần mua một số nguyên vật liệu quan trọng ở các tỉnh miền Tây. Suy đi, tính lại, người đi áp tải nguyên liệu này ngoài đồng chí ra không ai làm nổi. Vậy đồng chí hãy vì nhà máy, cố gắng đi một chuyến giúp chúng tôi, giúp nhà máy. Xưa đồng chí là dũng sĩ diệt Mỹ nay là dũng sĩ trên mặt trận chống tham nhũng. Đồng chí lại là người địa phương, thông thạo tập quán, đường đi lại.

Em phấn chấn hẳn lên:

- Được Giám đốc tin tưởng giao việc, dù phải nhảy vào lửa tôi cũng không ngần ngại, tiếc xương máu, hứa sẽ hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.

Giám đốc kéo em lại gần nói nhỏ:

- Ngoài đồng chí ra, còn mấy người cùng đi. Nhiệm vụ của Hà phải đoàn kết với mọi người, giúp đỡ họ để cùng hoàn thành nhiêm vụ được giao.

Ngày lên đường đã tới. Xe cộ đã chuẩn bị xong. Người cùng đi với em có lái xe Túc và Cường râu, Tám Hậu. Ba người này em biết rất rõ, lái xe Túc hiền lành như cục đất. Cường râu, Tám Hậu đều là lính thời đánh Mỹ ở miền Nam. Với những con người này, em có thể tuyệt đối tin tưởng ở họ. Lời dặn của Giám đốc không thừa. Nhưng em quá hiểu về những ưu điểm và cả những ngang tàng, liều mạng của họ. Bảy ngày sau, xe hàng và người về đến nhà máy. Em đang vui mừng, hãnh diện, tự hào về chuyến đi vừa qua. Xe vừa qua cổng nhà máy, công an, bảo vệ chặn lại kiểm tra. Số hàng của nhà máy thiếu đứt mười thùng. Nhưng thừa mười thùng thuốc lá ngoại nhập lậu. Lái xe Túc, Cường râu và Tám Hậu đều khai, sau khi nhận hàng để sáng mai đưa về nhà máy, đêm ấy, đồng chí Hà trực tiếp ngủ tại xe. Ba chúng tôi được đồng chí Hà bố trí ngủ ở nơi khác. Đồng chí Hà ngủ tại xe để bảo vệ hàng. Ngày hôm sau, trên đường về, xe dừng lại ở bến phà Bắc Mỹ Thuận. Khi ăn cơm xe đậu ở trước cửa hàng. Bốn người ăn cơm và cùng nhìn ra xe. Xe hàng bịt kín mít, chẳng ai biết hàng gì. Em thừa nhận lời khai trên là đúng. Ngay khi ấy, em bị công an giữ lại để làm rõ sự việc về số hàng bị mất và số thuốc lá lậu. Em bị tòa xử với hai tội danh: Lấy cắp hàng của nhà nước và phải bồi thường 30 triệu đồng và bị phạt hai năm tù giam. Buôn bán hàng lậu, quốc cấm bị tịch thu, phạt một năm tù giam. Cả thảy là ba năm tù giam.

Hai năm sau, em được ra tù. Vợ em buộc phải dốc toàn bộ tiền bạc và mọi khả năng kinh tế của gia đình, bán nhà lớn, mua nhà nhỏ theo phương pháp cổ truyền trút nồi sang niêu để lấy tiền đền cho nhà máy. Khi ra tù, em mới biết, Cường râu và Tám Hậu vâng lệnh Giám đốc Hùng chuốc rượu và bỏ thuốc mê cho em và lái xe Túc say để lấy cắp hàng và tráo hàng lậu vào. Mặt khác thuê người đi báo công an, cho nên xe chở hàng của bọn em vừa về tới nhà máy bị bắt liền. Em tới nhà máy chửi thẳng vào mặt Giám đốc Hùng. Không kìm nổi bực tức, vốn tính nóng nảy, em đã ném ghế vào mặt Giám đốc Hùng. Rất may, Giám đốc Hùng tránh được. Giám đốc Hùng cho bảo vệ nhà máy giữ Hà lại, lập biên bản khép vào tội phá hoại nhà máy và có hành động, ý đồ ám hại lãnh đạo. Ngay lúc đó, Giám đốc Hùng gọi điện cho công an, em bị bắt và vào nhà đá lần thứ hai.

Vợ Hà xin nghỉ việc nhà nước, quay về với nghề cũ, chạy chợ kiếm sống và nuôi chồng, nuôi con. Vết thương sọ não tái phát, Hà thường xuyên đau ốm, chân tay bị co giật, chẳng làm gì nổi. Vì đau ốm cả năm, cả tháng lại uất ức vì thời cuộc, Hà hay cáu gắt, bẳn bó vợ. Tám Bé phải nhẫn nhục chịu đựng, nhường nhịn chồng. Rất may, Tám Bé khỏe mạnh, buôn bán giỏi nên gia đình cũng mát mặt, tạm no cơm, ấm áo với mức bình dân.

Với giọng đau đớn, chua xót, Tân nói:

- Tao làm ăn láo phải tù đã đành, mày là người tốt, lúc nào cũng vì nước, vì dân, vì nhà máy mà chẳng thoát khỏi vòng tù tội. Thật bất công, trớ trêu. Nhưng hôm nay có bác Dân vô đây, tao nói mày ngu và mất cảnh giác nên mới chui vào bẫy của lũ người xấu. Vì mày say chiến thắng, mày cho rằng sau chuyện này, họ sẽ phanh phui nhanh chóng, thanh minh, giải oan cho mày. Tình ngay, lý gian. Thôi! Đừng buồn phiền nữa, chấp nhận số phận thôi! Lâu ngày, anh em gặp nhau mình uống rượu đã để mừng cho sự họp mặt của anh em ta.

- Vừa đặt chân tới Sài Gòn, bác Dân đã tới thăm tụi mình, thấy em nghèo khổ lại còn cho tiền nữa.

Tiếp lời Tân, Dân nói:

- Nghe Tân nói, Hà luôn đau yếu, kinh tế lại gặp nhiều khó khăn, anh gửi em ít tiền để thuốc thang và may quần áo cho các cháu. Dân lôi từ trong túi bọc tiền đưa cho Hà. Hà ngồi ngây người ra chưa biết nói gì cho phải. Tân đón lấy gói tiền, mở ngay ra đếm trước mặt cả nhà. Bỗng Tân cười thật to và nói lớn:

- Đúng ba triệu đồng. Bác Dân cư xử thật tuyệt vời. Tao còn khỏe mạnh còn lái được “ngựa sắt” chạy vù vù khắp thành phố, bác Dân cho hai triệu. Hà bệnh tật hay đau yếu, bác Dân cho ba triệu. Bác Dân đã cho, mày cầm lấy và cất đi cho tao nhờ. Tân ấn gói tiền vào túi Hà. Uống cạn ly rượu, Hà nước mắt lưng tròng nói:

- Hoàn cảnh bác Dân cũng chẳng hơn gì em và Tân. Nhưng một miếng khi đói bằng gói khi no. Vợ chồng em và các cháu không bao giờ quên tấm lòng của bác.

Ông Dân, cắt lời Hà:

- Vài ngày nữa, Tân chở Hà đến Bệnh viện X nằm điều trị một thời gian cho khỏi bệnh đi.

Hà giãy nảy lên như đỉa phải vôi:

- Lấy tiền đâu mà đi nằm viện, nào tiền thuốc, tiền ăn, tiền quà cáp cho bác sỹ và còn bao nhiêu thứ chi tiêu không tên nữa.

- Em cứ yên tâm đi! Đây là bệnh viện của quân đội. Em là thương binh nặng, nhà nước và quân đội sẽ nuôi em… Con trai, con dâu anh là bác sỹ ở đó, em lo gì nào?

Dân nói với Hà.

- Ngày mốt, tao sẽ chở mày đi viện. Tao chở miễn phí mà, được chưa?

Tân hỏi. Hà đánh trống lảng;

- Uống đi! Việc đó tính sau.

Tiếng chạm ly cạch, cạch. Đặt ly xuống bàn, Dân động viên Hà:

- Hà ạ! Nếu em thương vợ, thương con, thương anh và Tân thì em phải đi bệnh viện ngay. Bệnh tình của em, nếu không chạy chữa kịp thời, rất có khả năng bị liệt, nằm đâu, nằm đó. Anh không dọa đâu. Cái đột tử dễ dàng đời với em lắm. Đã là anh em một thời nhường cơm, sẻ áo cho nhau, một thời sống chết cùng nhau, anh nói thật. Mọi việc anh và Tân sẽ lo.

Hà đưa tay gạt nước mắt:

- Anh và thằng Tân đã nói vậy, em xin phục tùng và hứa chấp hành nghiêm chỉnh.

Hà gượng nói:

- Nếu thiếu gạo, em cho vợ đến nhà thằng Tân mà lấy. Nếu thiếu tiền đến nhà anh Dân mà hỏi.

Tân cười khà khà:

- Được! Được! Đừng có thách nhà giàu húp tương. Vài chục cân gạo đối với tao chẳng thấm vào đâu. Một ngày chạy xe, vợ con mày ăn nhòe. Uống ly này để quyết định Hà đi Bệnh viện.

Ngoài đường vắng người đi lại. Không gian yên tĩnh, nhiều căn nhà tắt bớt đèn. Đường phố giảm bớt ánh sáng, chỉ thấy mờ mờ. Gió thổi nhè nhẹ. Trăng, sao trên trời cũng thưa thớt. Những đám mây lãng đãng trôi. Tân chở Dân về nhà. Thứ đi trực vắng. Bà Huyền không tài nào ngủ nổi. Ruột gan bà cứ như lửa đốt. Hai, ba lần, bà ra cửa ngóng chồng mà vẫn biệt vô âm tín. Bà ngồi duỗi chân, tay để trên gối, mắt buồn buồn nhìn lên màn hình ti vi. Bỗng có tiếng gõ cửa. Bà Huyền mừng quýnh lên, chạy ra mở cửa:

- Em đưa trả chị anh Dân! Còn nguyên vẹn. Tân cười khì khì, chị khám lại xem em nói có đúng không?

- Mời chú vào nhà chơi! Liệu anh có say không?

- Còn lâu! Say thế nào được anh! Anh Dân là cầu thủ siêu hạng. Anh Dân mà say thì chúng em chết không kịp ngáp. Một ngày gần đây, thằng Hà khỏi bệnh, chúng em sẽ tới thăm anh, chị, để chị hiểu tình cảm của ba anh em. Thôi! Em về đây! Khuya rồi! Em chào anh chị.

Tân vội vàng biến vào trong đêm.

Bà Huyền đến ngồi bên cạnh chồng. Bàn tay bà âu yếm, nhẹ nhàng đặt lên người chồng. Bỗng bà hốt hoảng kêu lên:

- Trời ơi! Người anh nóng bỏng như than. Rượu tỏa ra khắp người đây này.

- Không sao đâu! Anh tắm xong là khỏi liền. Vừa nói xong, ông Dân cởi hết quần áo dài vắt trên ghế. Ông xăm xăm đi vào nhà tắm. Bà Huyền vội kéo chồng lại.

- Uống rượu xong mà tắm ngay dễ bị cảm, có thể chết đột tử như chơi.

- Chết thế nào được anh. Bà Huyền kéo chồng lên giường. Bà lấy khan lau mặt, lau người cho chồng. Vừa đặt mình xuống, ông Dân kéo gỗ ngay. Bà Huyền không hề chợp mắt. Thỉnh thoảng bà lại sờ lên người chồng. Ông Dân ngủ say như chết, ngáy như sấm vang. Bà Huyền cảm thấy thương và lo cho sức khỏe của chồng. Một thoáng buồn, một chút giận hờn qua đi.

   Gần sáng, ông Dân tỉnh rượu. Ông kéo vợ quay lại, ôm gọn bà vào lòng.

*

*      *

   10. Hết thời gian nghỉ, ông Dân tới trường. Ông chào bạn bè, đồng nghiệp. Ông bắt tay thăm hỏi tất cả giáo viên có mặt ở phòng chờ hôm đó. Mỗi bạn bè, đồng nghiệp, ngoài lời thăm hỏi, chúc mừng, ông còn gửi tặng nụ cười tươi rói, thân thiện và cái bắt tay siết chặt. Tập thể giáo viên có mặt hôm đó, ông Sơn và ông Hùng là những thương binh, tuy mới gặp nhưng qua lời giới thiệu của mọi người, tình cảm của các ông dành cho nhau thắm thiết, yêu thương hơn.

Từ phòng chờ đến lớp 12B cách khoảng gần 100 mét. Còn 5 phút nữa mới đến giờ lên lớp. Mọi giáo viên còn ngồi uống nước và tán gẫu nhưng ông Dân vội vàng cắp cặp lên lớp. Ông Sơn, Hùng ngăn lại:

- Thong thả! Còn năm phút nữa mới đến giờ!

Ông Dân nhoẻn miệng cười nói:

- Đôi chân thương tật, di chuyển chậm chạp, vất vả nên tôi có thói quen đến lớp sớm hơn mọi người.

Tất cả học sinh đứng dậy chào. Tay vẫn cắp cặp, ông Dân đứng lặng yên, đưa  mắt nhìn khắp lượt 40 học sinh.

- Thầy cảm ơn. Mời các em ngồi. Theo thông báo của nhà trường, về cơ bản các em có những hiểu biết về thầy bước đầu. Vì thế thầy không giới thiệu về mình nữa. Nhà đại văn hào nước Nga nói “Con mắt là cửa sổ tâm hồn”, thấy muốn gửi lòng mình tới các em qua đôi mắt và tặng các em một vườn đầy hoa và rộn tiếng chim. Vì thế, khi bước chân vào lớp, con mắt của thầy phải đến với tất cả bốn mươi khuôn mặt và khắc sâu vào trái tim mình những hình dáng của mỗi em. Do đó thầy để các em đứng hơi lâu. Rất mong các em thông cảm. Thầy trò ta bắt đầu học bài mới.

Tiếng thầy Dân luôn hòa đồng với cảnh vật, tâm trạng nhân vật trong bài. Khi thầy trầm lắng, nhỏ nhẹ, thánh thót như tiếng đàn bầu trong đêm khuya thanh vắng. Khi thầy buồn buồn, ảm đạm như tiếng gió thổi, tiếng lá rơi xào xạc khua vào nhau giữa cái không gian bao la rộng lớn. Lại có lúc tiếng thầy sôi nổi, mạnh mẽ như tiếng sóng cuồn cuộn, ào ào của đại dương  mênh mông. Khi cần triết lý, khúc triết, tiếng thầy ngắn gọn và sắc như tiếng gươm đao chém vào thân cây, vào đá núi giúp học sinh hiểu bài sâu sắc. Khi cần biểu lộ tình cảm, tiếng thầy êm êm, mượt mà, thủ thỉ như những khúc dân ca, rót mật vào tai học sinh. Cả lớp im phăng phắc, lắng nghe như nuốt lấy từng lời. Chỉ có tiếng soàn soạt trên trang giấy. Lại có lúc, thầy dừng lại đặt những câu hỏi để học sinh phải suy nghĩ, dắt dẫn các em tiếp cận, tiếp thu bài giảng dễ dàng. Thầy khen ngợi, động viên,  khích lệ những ý kiến đúng đắn sâu săc. Thầy ôn tồn nhận xét, chỉ bảo những ý kiến chưa hoàn thiện, chỉ ra cái đúng, cái hay và những thiếu sót của mỗi học sinh.

Khi thầy nói đến câu: Bài học của chúng ta đến đây là kết thúc. Cảm ơn sự chú ý lắng nghe của các em thì cũng là lúc tiếng trống trường vang lên tùng! tùng! tùng! Cả lớp đứng dậy chào thầy, kèm theo tiếng vỗ tay nhiệt liệt của học sinh. Các em nhìn người thầy giáo thương binh, bước thấp, bước cao đi ra khỏi lớp. Hình ảnh người chiến sỹ dũng cảm và hình ảnh người thầy giáo tài hoa quện vào nhau im đậm trong lòng mỗi học sinh.

*

*     *

Vừa về đến nhà, Hà đã rối rít khoe với ba, má và chị Hạnh:

- Bố Dân về dạy ở trường con. Tình cờ thế nào, tiết dạy đầu tiên của bố lại dạy lớp con. Lớp con bị bố thu hút ngay từ câu nói đầu tiên cho đến khi kết thúc bài giảng. Cả lớp im phăng phắc, há hốc mồm ngồi nghe, chỉ có tiếng bút đưa trên trang giấy. Bố Dân có giọng nói rất truyền cảm, ngọt ngào, không thừa, không thiếu và triết lý sâu sắc.

Ông Năm Mập nở nụ cười, vỗ vai con gái nói:

- Thế à? Liệu con có mắc chứng bệnh “Mẹ hát con khen hay không”? Hà  vờ nổi giận đấm nhè nhẹ vào lưng bà:

- Ba định kết tội con là xen lẫn tình cảm bố con trong việc nhận xét đánh giá chứ gì? Thiếu khách quan, vô tư chứ gì? Thưa ba! Con nhận xét hoàn toàn đúng với khách quan, khoa học công bằng vô tư.

Ông Năm quay lại xoa đầu con gái:

- Ba chịu thua rồi! Tốt lắm!

*

*        *

   11. Ngày cưới An và Thứ sắp tới gần. Người lo lắng nhất là bà Huyền, sau nữa là Thứ và An. Thiếp mời gửi khắp nơi rồi. Thứ nói với bố:

- Bố đã thảo luận và đưa tiền cho ba Năm chưa? Kết quả thế nào?

- Xong rồi! Nhà mình một nửa, nhà anh chị Năm một nửa. Phương án ấy anh chị Năm không thể từ chối nổi.

- Nhưng bố lấy đâu ra tiền mà nhiều thế?

- Lấy trong Ngân hàng nhà nước!

Bà Huyền lo lắng cắt ngang lời chồng:

- Việc hệ trọng như thế mà ông còn đùa nổi à?

Ông Dân vừa cười, vừa vỗ vai vợ giải thích:

- Cái số đào hoa của tôi đi đến đâu cũng có quý nhân phù trợ. Chuyện là thế này, tuần trước, tôi đến nhà xuất bản in cuốn tiểu thuyết “ Một bến hai đò” để nói lên tình yêu của tôi với bà. Tình cờ, tôi gặp anh Nguyễn Trọng Huân, giám đốc nhà xuất bản, bạn chiến đấu khi xưa. Anh còn là đồng hương của tôi.

Anh ấy quê xã nào, huyện nào?

Bà Huyền hỏi:

- Anh ấy quê miền đông, tôi chẳng nhớ ở xã nào? Gặp tôi,  anh ấy mừng lắm. Vì trong ký ức của anh ấy, tôi đã chết và nằm lại vĩnh viễn ở cứ điểm Al rồi! Lúc ấy, anh Bảy Huân làm Chính trị viên phó tiểu đoàn. Sau khi diệt xong cứ điểm Al, đơn vị rút khỏi cứ điểm, thương binh, liệt sỹ đưa ra hết rồi. Kiểm điểm lại chỉ còn thiếu một mình tôi. Anh Bảy Huân và Tân ( chú Tân vẫn hay đến nhà mình) quay trở lại tìm tôi. Không tìm thấy người mà chỉ thấy khẩu súng ngắn, cái xà-cột đựng tài liệu và cái bình tong của tôi. Họ kết luận là tôi đã hy sinh. Họ phải ngủ rừng đêm hôm đó. Ngày hôm sau nhịn đói, nhịn khát cắt rừng, luồn rừng trở về. Đêm hôm sau, họ mới về tới đơn vị. Một lần nữa, tôi phải tái bản cuộc đời sống chết của mình cho anh Bảy nghe.

 Anh Bảy xúc động gạt nước mắt nói:

- Thật không ngờ, anh em mình lại gặp nhau ở đây. Tôi cứ nghĩ, anh hy sinh mấy chục năm rồi và không biết có tìm thấy hài cốt không? Việc cưới vợ cho cháu, anh chuẩn bị đến đâu rồi? Tiền bạc còn thiếu bao nhiêu nữa?

Tôi ngồi lặng im, không biết nên trả lời anh thế nào cho phải. Anh Bảy nói ngay, anh định giấu tôi chứ gì? Một lúc sau, tôi đành phải nói thật:

- Tôi định giấu anh việc tiền bạc. Nhưng anh đã hỏi, tôi xin nói thật. Thật tình tôi rất kẹt tiền. Anh Năm Mập nguyên Chính trị viên tiểu đoàn, giờ là Thiếu tướng Phó Tư lệnh quân khu vừa mua cho hai bố con tôi hai chiếc xe máy trị giá khoảng 40 triệu đồng. Đám cưới con tôi, anh nhận lo từ đầu đến cuối. Tôi có bao nhiêu cũng được, vì chiếu cố vợ chồng tôi mới vào Sài Gòn còn lạ nước lạ cái. Thế mới khổ cho tôi chứ? Cuốn tiểu thuyết của tôi có giấy phép xuất bản rồi, nhờ anh in giùm và cho tạm ứng ít tiền.

Anh Bảy Huân thủng thẳng nói:

- Anh Năm Mập tôi nhớ rồi. Năm Mập nhưng mà “ốm” nhách chứ gì. Mời anh về đằng nhà dùng cơm với vợ chồng tôi, để tôi giới thiệu vợ con với anh.

Nhà anh Bảy Huân cũng, lớn như nhà anh Năm Mập và chẳng thiếu thứ gì. Vợ con anh bảy Huân đi vắng cả. Vì dở buổi, dở thì làm gì có ai ở nhà. Chị Bảy đi làm, các cháu đi học. Sau tuần trà xã giao, anh Bảy Huân mở tủ lấy bọc tiền đưa cho tôi:

- Tôi giúp anh bằng số tiền anh Năm Mập giúp, nghĩa là 50 triệu.

- Tôi một mực từ chối. Anh Bảy Huân cứ nhét tiền vào cặp và nói:

- Coi như tôi tạm ứng tiền nhuận bút cuốn tiểu thuyết cho anh. Khi nào lĩnh tiền nhuận bút anh trả lại tôi. Nếu anh quên, tôi sẽ trừ. Đồng tiền nó liền với ruột mà.

Bây giờ, tôi mới cầm số tiền ấy. Tôi nghĩ, có đến nhuận bút 5 cuốn tiểu thuyết tiền cũng chưa đủ số tiền này. Đến lúc này, tôi mới thấy mình có lỗi là chưa một lời hỏi thăm vợ con anh Bảy Huân. 

- Anh Huân! Cho tôi xin lỗi. Mải nói chuyện tiền bạc nên tôi chưa hỏi thăm chị và các cháu. Anh Bảy Huân giọng buồn buồn kể:

- Sau ngày giải phóng, tôi được phân công về nhà xuất bản. Tôi đã gặp cô Kiều Thị Thu Hương nhân viên đánh máy của nhà xuất bản. Cô ấy trẻ đẹp nên hút hồn tôi ngay từ buổi đầu gặp gỡ. Tôi một sĩ quan trẻ, đẹp trai từng làm cán bộ chính trị, nói năng hoạt bát và có giọng hát vàng trời cho. Những buổi biểu diễn văn nghệ, hai chúng tôi thường hát cùng, đóng kịch cùng. Những vai vợ chồng mà chúng tôi đóng đều được khán giả nhiệt liệt tán thưởng,  khen ngợi. Trên sân khấu là thật, ngoài đời là giả. Thật giả cứ lặp đi, lặp lại nhiều lần, chúng tôi yêu nhau lúc nào không hay. Tôi đón bố mẹ vào gặp ba, má cô ấy. Hai bên cha mẹ đều thấy chúng tôi là một  cặp đôi trời cho, thật là trai tài, gái sắc. Đám cưới của chúng tôi nhanh chóng tổ chức. Hương người tầm thước, thanh tú. Da Hương trắng hồng, mịn màng, lúc nào tôi cũng muốn hôn và cắn lên làn da của nàng. Đôi mắt của nàng mới đẹp làm sao, khi nàng ngước mắt lên sáng long lanh, thông minh sắc sảo lạ thường. Khi nàng nhìn xuống, mắt đen như hạt nhãn một nỗi buồn mơ màng, lãng mạn khó quên, tôi luôn ngụp lặn trong đôi mắt ấy. Cái cổ cao cao, bà mụ kẻ cho nàng ba đường ngấn thật tuyệt vời, Bờ vai tròn lẳn, trắng như ngó sen, mịn màng như nhung, lúc nào tôi hôn lên đó. Hàm răng của nàng đều tăm tắp, trắng ngần được bao bọc bởi cái miệng xinh tươi, cái môi đỏ đỏ như tô son, Đôi má bầu bầu trắng như bột lọc với hai cái lúm đồng tiền duyên dáng. Những lúc nhàn rỗi, tôi chỉ muốn hôn lên nơi ấy. Có lẽ, tôi là thằng đàn ông mắc bệnh ích kỷ, muốn giữ nàng ở nhà để hưởng thụ cái đẹp một mình. Lấy tôi được ba tháng, kiếm cớ nàng ốm nghén, tôi không cho nàng đi làm. Thế là nàng chỉ việc ở nhà lo trang điểm, cơm nước, giặt giũ chờ chồng đi làm về. Chiều nào, đi làm về, tôi cũng hôn nàng đến ngạt thở và nhấc bổng nàng lên. Tôi cứ nghĩ, tôi đã mang hạnh phúc đến cho nàng và nàng gắn chặt với đời tôi. Nhưng tôi đã lầm, trong khi tôi đi làm thì nàng đón người tình cũ về hú hí với nhau suốt từ sáng tới. Nàng cùng người tình cũ, vơ vét sạch bách tài sản của tôi rồi trốn tiệt… Người tình của nàng xưa là tên sĩ quan ngụy ác ôn khét tiếng, có nhiều nợ máu với nhân dân. Anh tính thế có đau không? Nghe đâu, họ đưa nhau trốn ra nước ngoài. Nàng để lại cho tôi mấy hàng chữ nhưng như dao đâm nát tim tôi, rằng:

 “Anh Huân thân mến! Cảm ơn anh! Những ngày sống bên anh,  Hương quá sung sướng, đầy dủ và quá tự do. Nhưng Hương phải đi theo tiếng gọi của trái tim. Và cũng xin nói thật, đứa con trong bụng Hương không phải là con anh. Nói ra điều này hơi tàn nhẫn  và độc ác nhưng vẫn phải nói.  Vì nó là sự thật. Vĩnh biệt anh”.

Anh Dân! Thế có trắng trợn, có tàn bạo không? Nếu tôi gặp hai kẻ đó, thì tôi sẽ xả cả băng AK cho chúng chết đi, dù tôi có phải đi tù!

-Thôi! Anh Huân ạ! Cái gì đã qua thì cho nó qua việc ấy đã thành sẹo rồi nhắc tới cũng chẳng ích gì. Thế thời gian bao lâu thì anh lấy chị sau? Tôi hỏi.

Anh Huân buồn buồn, mắt ươn ướt nói: Cũng phải ba, bốn năm sau tôi mới lấy vợ, vì lúc đó, tôi rất căm ghét phụ nữ. Người vợ sau của tôi tên là Dương Thị Hòa. Cô ấy làm công nhân. Đúng với cái tên cha mẹ đặt. Cô ấy chỉ biết thu vén cho cái gia đình nhỏ, tất cả dành cho chồng con. Nhiều khi, tôi phải cắu gắt, cô ấy mới chịu ăn ngon, mặc đẹp. Cô ấy sinh cho tôi hai thằng con trai.

Nhận số tiền ấy, chia tay anh Huân tôi đi thẳng đến nhà Năm Mập và đưa cho anh ấy 30 triệu. Số tiền các con dành dụm được và tiền mừng cưới sau này, các con giữ lấy làm vốn liếng. Số còn lại giao cho bà quản lý và chi tiêu.

Bà Huyền mở to mắt nhìn chồng, nhìn con:

- Đây là tiền của anh, em giữ làm gì. Anh cất đi sau này còn trả người ta.

- Tiền trong túi anh là tiền của anh. Tiền của anh cũng là tiền của em. Em chẳng giữ thì còn ai vào đây nữa.

Bà Huyền cầm bọc tiền cất vào trong tủ. Kể từ khi cha sinh mẹ đẻ đến nay, lần đầu tiên trong đời bà được quản lý số tiền lớn như vậy. Số tiền này, bà bán mặt cho đất, bán lưng cho trời cả đời cũng không có. Bỗng bà ngồi thừ ra, nếu ông ấy không bị thương và bị bắt thì ông ấy chẳng kém anh Năm, anh Bảy.

Thứ động viên mẹ:

- Mẹ cứ yên tâm đi! Cưới xong, nợ ai chúng con trả bằng hết “đồng tiền đi liền với ruột”, vợ chồng con chịu khó ít năm là đủ tiền trả nợ. Bố mẹ cực khổ quá nhiều rồi, quãng đời còn lại, bố mẹ nghỉ ngơi cứ an tâm.

Đám cưới Thứ - An diễn ra đúng với dự kiến. Bạn bè của bố mẹ, ba má Năm một thời chiến đấu sống chết có nhau đều tới dự đầy đủ cả. Bạn bè của Thứ - An không thiếu một ai. Anh em nhà ông Năm, ông Tư Thành có mặt đông đủ. Đám cưới thật là đông vui, ai cũng khen cô dâu, chú rể thật là đẹp đôi, hạnh phúc. Đúng là trai tài gái sắc. Mặc dù ngoại út tuổi cao,  sức yếu đường xa, không tới dự cưới hai cháu. Nhưng ngoại gửi tặng cháu sợi dây chuyền 5 chỉ, tặng cháu rể chiếc nhẫn vàng hai chỉ. Bác Hai, anh trai ruột ông Tư Thành lặn lội từ Mỹ Tho lên Sài Gòn dự lễ thành hôn của hai cháu và tặng một phong bì trị giá 5 triệu đồng.

Tiệc cưới khá lớn, vượt xa dự kiến của Thứ – An, cũng ngoài sự tưởng tượng của bà. Nhưng thời đại này, ở thời điểm này, tiền mừng còn gấp đôi, gấp ba số tiền phải chi. Vì thế các nhà quan chức, quyền thế, giàu sang, khi cưới vợ, cưới  chồng cho con tổ chức ăn uống linh đình tới hai, ba ngày, khách mời cả tỉnh, cả thành phố. Ở thành phố này, nghèo như Tân, Hà cũng phải 300 trăm ngàn đồng tiền mừng mới dám đi dự cưới, người giàu sang thì không giới hạn. Nhiều người ân tình với Thứ - An thì đây là dịp trả ơn, người ta mừng nhau bằng những tờ  đô la. Ban bè nhiều, khách khứa đông tỷ lệ thuận với số tiền mừng càng lớn.

Cưới con xong, ông Dân đem tiền đem trả ông Năm Mập và ông Bảy Huân. Ông Năm Mập trả lời, thằng Thứ là con anh thì cũng là con vợ chồng tôi. Đây là trách nhiệm của vợ chồng tôi đối với con. Ông Bảy Huân thì trả lời theo kiểu khác, đó là quà tặng của vợ chồng tôi đối với cháu. Chẳng lẽ chú không có quyền tặng quà cháu à?

Tài hùng biện như ông Dân cũng đành ngậm hạt thị mang tiền về.

  

 

CHƯƠNG SÁU

 

1. Chập tối nay, ông Dân kêu đau nhức chân, tức ngực và đau bụng dữ dội. Bà Huyền năn nỉ, nài ép mãi mà ông không ăn hết nổi bát cơm. Bà bón cơm cho ông nhưng ông cứ lắc lắc và ngoảnh mặt đi. Ông nói: Tôi không ăn nổi, bà đừng ép nữa.

Con trai đi trực vắng, con dâu đòi đưa bố đi viện. Ông Dân nói “Bố không sao đâu! Thời tiết thay đổi, bố thường vẫn đau nhức như vậy. Chỉ nghỉ ngơi ít ngày là khỏi thôi mà”. Ancho bố uống thuốc giảm đau và thuốc an thần. Ông Dân nằm yên. Có lẽ ông ngủ được một giấc khá dài là nhờ thuốc của con dâu. Bà Huyền nghĩ, chồng đã dứt cơn đau nên mới ngủ ngon như vậy. Bà Huyền ngủ thiếp đi lúc nào không hay. Ông Dân trở mình hoài. Ông quằn quại như con thú bị thương. Ông đau quá nhưng thấy vợ đang ngủ ngon nên gắng chịu mà không gọi vợ. Ông cắn răng chịu đựng.

Mười hai giờ đêm. Bà Huyền tỉnh giấc. Cơn đau dữ dội đang hành hạ ông Dân. Chân thẳng đừ, nhức như kim châm khiến ông Dân không co người lại được, không trở mình nổi. Nằm ngửa mãi, người ê ẩm đau nhừ, ông chỉ nằm nghiêng được một nửa người phía trên. Cuối cùng ông phải cầu cứu vợ “Em giúp anh trở mình qua bên trái một chút”. Bà Huyền phải ngồi nhổm dậy. Nặng nhọc, vất vả lắm, bà mới giúp chồng trở mình nổi. Vì bà nhỏ nhắn sức không được khỏe, ngược lại chồng bà cao lớn, to béo. Các ống xương chân ông Dân tê dại, đau buốt như có ai đang khoan vào từng đốt xương. Ngực ông đau ê ẩm như khi tụi ngụy quân dùng chày nện thình thịch xuống người. Xương sườn mềm nhũn, đang muốn gãy ra hàng loạt. Ông thấy đau cả tim phổi ruột gan. Ông co rúm người lại như con tôm và quay cuồng vật vã. Cổ ông nghẹn tắc lại. Hai lỗ mũi như có ai nhét bông vào. Nghẹt thở quá, khí quản như có cái gì mắc ở trong đó. Ông quằn quại đòi trở mình liên tục, vừa trở mình sang bên này đã thấy ê ẩm lại muốn trở mình sang bên kia…

Người ông Dân đầm đìa mồ hôi. Ông nằm bất động. Lúc rên to, khi rên nhỏ. Bà Huyền ôm lấy chồng lay gọi “Anh! Anh!” Ông Dân chỉ ậm ự. Ông đưa mắt nhìn bà, miệng há hốc mà không nói thành lời. Bà tự trách mình vô tâm. Khi chồng lên cơn đau mà không biết. Tính ông ấy đến kỳ lạ, đau thì phải gọi vợ con chứ, đằng này cứ nằm im mà chịu đựng. Vợ con chứ đâu phải người hàng xóm mà phải giữ ý giữ tứ.

Bà Huyền hốt hoảng gọi con dâu. Bà vừa gọi một tiếng, An biết ngay, tỉnh ngay. Chị biết bệnh tình của bố chồng đang trong cơn nguy hiểm. Chị luống cuống, nhấc máy điện thoại, gọi điện cho chồng “Bố ốm nặng, anh đưa xe về đón bố đi viện ngay”. Tiếng Thứ run run hỏi lại “Bố làm sao?  Khi chiều, anh đi bố vẫn bình thường. Có gì khác không? An không kìm được lo lắng, chị  gắt chồng “Anh hỏi gì mà lạ thế? Nếu không nguy hiểm, ai gọi điện vào giờ này” Chị quay sang nói với mẹ chồng: “Mẹ ơi! Mẹ chuẩn bị đồ dùng theo bố con vào bệnh viện ngay bây giờ. Tình hình không thể chần chừ, chậm trễ được nữa. Khẩn trương lên mẹ!”.

Nghe con dâu nói vậy, bà Huyền luống ca luống cuống như gà mắc tóc, chân tay cứ run lẩy bẩy. Bà không đủ minh mẫn, sáng suốt xem phải mang những thứ gì. Cả đời, bà chưa một lần đi bệnh viện, chưa một lần đi nuôi người ốm. Bà ngồi nặn chân, tay cho chồng và khóc. Nước mắt của bà, tưới ướt mặt chồng. Nhờ những giọt nước mắt nóng bỏng của vợ, ông Dân tỉnh lại, ông khe khẽ nói: “Cho tôi đi bệnh viện gấp”. Đầu bà Huyền gật gật, miệng càng khóc to hơn.

Vừa lúc ấy, tiếng còi ô tô inh ỏi ngoài cửa. Thứ chạy xộc vào nhà. Anh vội vàng cõng bố lên xe. Bà Huyền leo lên xe theo chồng. An thu dọn nhà cửa, khóa cửa đi xe máy đến sau. Chị vừa bước chân ra khỏi cửa thì chuông đồng hồ điểm mười hai tiếng dõng dạc.

Các bác sỹ chuyên khoa: Tim mạch, phổi, gan, dạ dày và chấn thương được mời hội chuẩn gấp. Cẩn thận hơn, chắc chắn hơn phải thông qua máy móc, phương tiện kỹ thuật hiện đại kiểm tra để có kết luận chính xác. Kết luận: Các vết thương ở chân tái phát làm đau buốt từ chân tới háng. Các xương sườn bị thương đang nhũn ra, gan phổi có dấu hiệu ung thư. Tim mạch hoạt động yếu. Phổi bị suy nhược gây ra khó thở. Tóm lại một cơ thể bị ọp ẹp hoàn toàn.

Thứ buồn lắm. Anh suy nghĩ rất nhiều mà chưa tìm ra cách nói với mẹ về tình hình của bố. Anh sẽ nói với mẹ thế nào đây? Nói hết bệnh tình của bố, sợ mẹ chịu không nổi. Lúc này đây, nói dối là cần thiết. Nói dối để mẹ đỡ buồn. Và nỗi buồn đến với mẹ chầm chậm, từ từ tránh cú sốc lớn về  mặt tình cảm đối với mẹ. Nhưng nói dối 100% cũng không nên. Lương tâm anh bị cắn dứt. Từ xưa tới nay, anh chưa một lần mở miệng nói dối mẹ điều gì. Thế mà hôm nay, anh buộc phải nói dối người mẹ thân yêu, kính trọng nhất. Bố mẹ anh vừa được sống bên nhau đúng với nghĩa vợ chồng đầy đủ, hạnh phúc trọn vẹn mới được hơn một năm. Thời gian họ sống vì nhau, chờ đợi nhau, một lòng một dạ chung thủy với nhau quá dài cho dù phải chết. Tình yêu, tình vợ chồng quá son sắt. Bây giờ, bố lâm vào hoàn cảnh này, mắc phải căn bệnh hiểm nghèo này, sự sống chỉ mong manh như tia nắng, mẹ buồn lắm. Mẹ không chết nổi thì mẹ cũng sống dở, chết dở, sẽ ngất lên, ngất xuống cho mà xem. Nỗi đau đớn, tủi nhục chồng chết của người phụ nữ, người mẹ gánh chịu gần ba chục năm trời chứ có ít đâu. Nó vừa xóa đi nỗi mất chồng vĩnh viễn thì nay lại đang rập rình ập xuống đầu mẹ bất cứ lúc nào. Nỗi đau phải xa vợ, xa con của bố cũng chẳng kém. Có ai sống trong cảnh độc thân, cô đơn, lẻ loi chờ đợi và tìm kiếm vợ con hơn hai chục năm trời như bố? Bố đi đành phận bố. Nỗi đau trút cả lên đầu mẹ. Tốt nhất chỉ nói với mẹ: “Các vết thương cũ đồng loạt tái phát làm bố đau đớn toàn thân. Điều trị ít ngày dần dần sẽ khỏi. Mẹ cứ yên tâm” Bố con vẫn chẳng nói: “Không sao đâu, thời tiết thay đổi, bố thường đau như vậy, nghỉ ngơi vài ngày là khỏi thôi mà”. Bà Huyền buồn rầu trả lời:

- Bố con lúc nào chẳng nói vậy!

Lòng Thứ cũng đau từng khúc ruột. Hết thương mẹ lại thương bố. Đời bố sao khổ thế. Nhưng đối với An, anh chẳng cần giấu giếm gì. Vì An là bác sỹ. Theo thói quen nghề nghiệp, cô ấy bình tĩnh, kín đáo và có kinh nghiệm giao tiếp với bệnh nhân. Hơn nữa tình cảm của An đối với bố chưa được thời gian bồi đắp nhiều. Thật không ngờ, anh vừa nói dứt lời. An khóc toáng lên. Cô ấy khóc thảm thiết: Bố ơi! Đời bố sao khổ cực và đau đớn thế? Bố nếm đủ những trận đòn độc ác, tàn bạo nhất thế gian của lũ quỷ dữ đội lốt người của nhà tù Mỹ ngụy. Bom đạn kẻ thù biến bố thành người tàn tật. Bao nhiêu năm sống trong cô đơn, côi cút, lủi thủi một mình như cái bóng, đêm ngày chờ đợi, hy vọng tìm được vợ con. Vừa gặp được vợ con, hạnh phúc vừa bất đầu, bình minh vừa hé rạng lại bị mây đen bao phủ. Căn bệnh hiểm nghèo, ung thư gan, phổi, xương sườn bị nhũn, chân bị liệt, cùng một lúc bố coi như lĩnh ba án tử hình. Bố ơi! Đời bố sao khổ thế! Ông trời sao nỡ ăn ở bất công đối với bố. Bố ơi!  Bố là người sống rất nhân hậu. Tại sao bố tôi khổ thế!?

Thứ sợ quá. Anh vuốt vuốt mái tóc vợ:

- Anh cầu xin em đấy. Em khóc to như vậy, mẹ biết thì khốn… Mẹ ngất xỉu thì nguy. Nghe lời chồng, An không dám khóc nữa. Chị vội lấy mùi xoa lau mặt. Rất may, lúc đó bà Huyền đi ra cổng mua cái gì đó. Nhưng từ cổng bệnh viện trở về, bà Huyền đã nghe tiếng khóc của con dâu. Bà nhìn thấy mắt An còn đỏ hoe. Bà sững sờ chẳng hiểu đầu cua tai nheo thế nào? Bà hỏi dồn dập:

- Tại sao con khóc? Vì sao con khóc? Vợ chồng lại bất hòa chứ gì? Con hãy nói cho mẹ nghe?

Thứ chưa biết trả lời mẹ thế nào cho ổn. An lau nước mắt ráo hoảnh ;

- Không! Không! Bố tỉnh rồi, mừng quá nên con khóc!

- Không đúng! Bố tỉnh con phải cười mới đúng. Nhất định có điều gì các con giấu mẹ,  Thứ tìm cách lảng chuyện:

- An nói đúng đấy mẹ! Mẹ cứ yên tâm đi. Chẳng có điều gì đáng lo đâu. Mẹ trông nom bố giúp chúng con. Chúng con có chút việc phải đi ngay. Khoảng hơn tiếng nữa, chúng con quay lại.

Ông Dân vẫn nằm bất động. Đôi mắt nhắm nghiền, chân duỗi thẳng. Chỉ có tiếng thở khò khè, nặng nề. Bà Huyền vỗ nhè nhẹ vào người chồng:

- Anh! Anh! Ông Dân mở to đôi mắt nhìn vợ. Đôi mắt uể oải, mệt mỏi từ từ khép lại:

- Anh mệt lắm à? Ông Dân khe khẽ gật gật. Thái độ này ít thấy ở ông Dân. Xưa nay, khi nói chuyện trả lời vợ con bao giờ ông cũng lịch lãm, tươi cười vui vẻ. Nếu tỉnh táo, minh mẫn chắc ông ấy lại tặng bà những lời ngọt ngào như mía nướng hoặc pha trò khiến bà phải phì cười, có khi cười đến vỡ bụng. Dù bực tức đến đâu, bà cũng phải dịu xuống. Ông nổi tiếng là có tài hùng biện, nói ăn phải nhẽ, thuận tình, biết động viên khích lệ mọi người.

- Em bón nước cam nóng cho anh nhé! Bà Huyền hỏi chồng. Ông Dân há miệng ra nhưng không nói thành lời. Cái đầu khẽ ngọ nguậy thay cho lời khước từ. Quan sát kỹ mặt, đôi mắt ông mờ mờ đục như nước hến chậm chạp. Đôi môi khô rộp. Với thần sắc của chồng và thái độ của con dâu, con trai, bà Huyền đoán chắc bệnh tình của chồng rất nguy kịch. Con trai, con dâu đều là bác sỹ chúng nó biết quá đi chứ. Chúng cố tình giấu bà. Chúng sợ bà buồn và khóc.

Hết giờ làm việc, Thứ đến thăm bố. Dáng đi hấp tấp, nét mặt buồn thiu. Anh nặng nề hỏi mẹ:

- Tình hình sức khỏe của bố con thế nào hả mẹ?

- Ô hay! Con là thầy thuốc mà lại hỏi mẹ câu đó?

- Con xin lỗi mẹ. Mẹ là người chăm sóc, theo dõi sức khỏe của bố?

- Mẹ là người trần mắt thịt. Có mắt cũng như mù, biết gì mà nói.

Thứ biết mẹ đang trách khéo anh. Anh lặng lẽ ngồi xuống bắt mạch và theo dõi sức khỏe của bố. Anh định lại đi liền. Mẹ anh kéo lại:

- Sáng nay, mẹ thấy vợ con khóc sướt mướt. Con thì tìm cách lẩn tránh mẹ. Phần nào mẹ cũng đoán được bệnh tình của bố con rồi.

 Thứ miễn cưỡng nở nụ cười:

- Mẹ đoán bệnh tình của bố con thế nào?

- Bệnh tình của bố con rất nặng, nếu không muốn nói là rất nguy hiểm, đang chờ ngày ra đi.

- Ai nói với mẹ như vậy. Con cũng đoán vậy, không hơn mẹ điều gì.

- Nói dối! - Bà gào thật to. - Con không biết thì ai biết nữa. Vợ chồng con bàn bạc với nhau để lừa dối mẹ chứ gì? Nhưng không lừa dối nổi mẹ đâu. Mẹ biết tất cả rồi.

- Mẹ ạ! Con hiểu lòng mẹ. Mẹ thương bố, lo lắng cho bố bao nhiêu thì lòng con cũng vậy. Việc gì cũng phải có thời gian. Mẹ cứ yên tâm chăm sóc nuôi dưỡng bố thật tốt. Việc này không ai làm tốt hơn mẹ. Còn việc thuốc thang cho bố chúng con lo, với những loại thuốc tốt nhất, hiện đại nhất hiện nay. Con ngàn lần cầu xin mẹ.

Bà Huyền quay sang đấu dịu với con:

- Mẹ hiểu tấm lòng của các con lắm. Vì thương mẹ mà các con mắc tội nói dối cả với mẹ. Mẹ cầu xin các con đừng giấu mẹ điều gì nữa. Mẹ biết, cũng chẳng giúp gì cho các con. Mẹ biết để chuẩn bị tinh thần đón nhận những điều chẳng lành đến với bố con.

- Mẹ cho con khất. Con cần có thời gian theo dõi, bàn bạc với các bác sỹ chuyên gia đầu ngành, những chuyên gia giỏi. Con thương mẹ lắm, mẹ phải đánh đổi cuộc đời của chính mình để có tình yêu, hạnh phúc như ngày hôm nay. Cái giá mẹ phải trả là quá đắt, gần như suốt cuộc đời phải giành giật lấy hạnh phúc, giành giật lấy chồng con. Tình cảm của bố mẹ mặn mà và sâu nặng như nước biển Đông, đẹp như một bài ca, tấm gương sáng về lòng chung thủy đáng để cho mọi người noi theo. Mẹ vừa gặp lại bố, vừa cưới con dâu, đứa cháu nội mẹ hằng mong muốn cũng sắp ra đời. Nhưng mẹ phải hiểu cho con, bao nhiêu năm nay, con mới được gặp người cha đích thực của mình bằng xương, bằng thịt. Con không cha như nhà không nóc. Con đang đứt từng khúc ruột, khúc gan. Nhưng con phải vững vàng tay lái để con thuyền đi đúng hướng, cập bến an toàn, không thể lơ đễnh, nghiêng ngả. Nếu mẹ ở địa vị con, mẹ cũng phải làm vậy. Xin mẹ hiểu cho lòng con.

Nghe con trai nói, bà Huyền lấy tay gạt nước mắt. Từ xưa tới nay, con trai bà chưa nói dối mẹ điều gì. Chắc có điều gì khó nói lắm nên nó cứ ầm ừ như người mắc cái xương cá ở họng. Khi còn trẻ, mỗi lần gặp ông ấy, bà vui mừng khôn xiết, chỉ muốn bắc cầu dải yếm cho chàng sang chơi. Nhưng lại thấp thỏm lo âu, chỉ sợ có ai nhìn thấy. Khi trao thân gửi phận cho nhau để ngày mai ông ấy ra trận cũng phải vụng trộm. Gần ba mươi năm, bà chờ đợi và hy vọng. Nhiều khi, bà an phận là người đàn bà góa chồng, chỉ biết một lòng, một dạ thờ chồng, nuôi con. Nhưng đời bà đầy rẫy những ngang trái và trớ trêu. Bao nhiêu năm qua, ngày giỗ, ngày Tết bà thờ cúng Lượng nhưng đêm đêm lại mơ được nằm bên Dân, ôm ấp Dân cho thỏa lòng mong ước. Cái giả cứ phải cư xử như thật. Cái giả được phép nước và xã hội, xóm làng công nhận. Cái thật phải đào sâu chôn chặt, chỉ mình biết với mình. Bây giờ, sự thật trở về với sự thật. Cuộc đời bà được giải mã, mã hóa. Vợ chồng mới được gần nhau hơn một năm. Cuộc sống vợ chồng vừa được bắt đầu thật hạnh phúc. Ông ấy lâm bệnh, nằm bên cạnh chồng như nằm bên khúc gỗ khi bà chưa hết tuổi hồi xuân. Thật trớ trêu. Thật ngang trái. Đêm ngày bà phải theo dõi, chăm sóc ông ấy từ hơi thở, tiếng rên và mỗi khi trở mình với tất cả tình thương yêu của người vợ. Lại phải lo thuốc thang cho ông ấy. Tiền bạc không thiếu. Ban bè đến thăm đông nghịt. Tất cả trái cây, đường sữa, bánh kẹo chất đầy giường. Ông ấy ăn được đâu. Ba mẹ con bà còn tâm trạng hứng thú gì nữa mà ăn, Những thứ ấy phần lớn bà “phân phối” và biếu cho những bệnh nhân nằm cạnh mạnh khỏe và gia đình bên cạnh. Nhà anh Năm chẳng thiếu gì, nhà ông bà thông gia Tư Thành ở xa. Thỉnh thoảng Tân Hà tới thăm bà bắt các em chở về ăn giùm. Tiền thuốc thang đã có quân đội. Gia đình chỉ phải đóng góp phần nào. Ai đến thăm, tặng quà, bà chỉ biết cảm ơn. Bà mệt mỏi, uể oải  nhét từng cái phong bì vào ở đầu giường. Khi nào con dâu tới, bà lại ấn vào túi xách của An. Bà không hề biết bao nhiêu phong bì, mỗi phong bì là bao nhiêu tiền, là của ai? Lúc đói sắn chẳng có mà ăn, rau dưa cũng thiếu. Suốt đời mơ một bữa cơm không phải độn ăn với thịt cá đầy đủ. Bây giờ vợ chồng gặp nhau, tiền bạc dư thừa, ông ấy lại ốm thập tử nhất sinh thì chỉ biết nhìn nhau, không tài nào nuốt nổi miếng cơm. Thật nghịch lý và trớ trêu.

Hôm nay, ông Dân tỉnh táo hơn, ông mở to mắt nhìn những tia nắng vàng rực rỡ đang ùa vào phòng, đùa giỡn, nhảy múa trước mắt. Gió thổi nhè nhẹ mát dịu. Xa xa tiếng chim đang hót líu lô trên cành cao. Tiếng nói chuyện râm ran, ồn ào. Tiếng chân người đi lại rậm rịch hối hả. Ông Dân thấy người khoan khoái, dễ chịu. Bệnh của ông giảm rồi chăng? Vợ ông đang ngồi như bức tượng đá quay mặt nhìn ra cửa. Ông khẽ khẽ đập tay phía vợ, bà Huyền vội ngoảnh lại. Nhìn thấy chồng nở nụ cười đáng yêu như mọi ngày. Bà Huyền mừng vui như người vừa qua giấc mơ đẹp, lạc vào động tiên:

- Anh tỉnh lại rồi à? Anh làm em lo quá, chết ngất đi. Tiếng ông Dân nói nghe nặng nhọc, vất vả như rất vui:

- Anh vừa đi gặp ông Nam Tào về. Lại một lần nữa, ông Nam Tào định xóa sổ anh. Anh nói “Mấy chục năm nay, tôi mới gặp vợ con. Tôi cắn rơm, cắn cỏ xin cho tôi sống một thời gian nữa. Tôi sống không phải vì tôi mà để phục vụ vợ con, bù đắp những năm qua. Họ vì tôi mà khổ sở, vất vả, ăn đói, mặc rách”. Ông ấy mỉm cười, gật gật. Anh sướng quá, chạy vội về thông báo cho em và các con.

Bà Huyền khẽ quệt tay vào má chồng:

- Anh thì chứng nào tật ấy. Vừa tỉnh táo một chút lại bịa chuyện đi gặp Nam Tào để làm yên lòng vợ con. Anh là cầu thủ nịnh siêu hạng. Bà dỗ ngon, dỗ ngọt chồng - Anh tỉnh rồi, anh chịu khó ăn bát cháo cho có sức khỏe để tiếp tục nịnh vợ con. Và nịnh hay hơn nữa, hấp dẫn hơn nữa nhé!

Ông Dân nể vợ, thương vợ nên gắng sức nuốt gần hết bát cháo nhỏ, uống cốc nước cam tươi. Ông lại tiếp tục ngủ. Bà Huyền vui vẻ, sung sướng như lần gặp lại chồng sau gần ba mươi năm xa cách. Bà kể cho các con nghe, chuyện bố đi gặp ông Nam Tào về. Thứ và An cũng tỏ ra rất vui để an ủi mẹ và giấu kín nỗi lo lắng trong lòng. Thứ  thừa biết, bố như ngọn đèn sắp tắt cố lóe sáng lần cuối, mẹ anh rất mừng. Ngược lại, anh rất lo, đây là biểu hiện bố sắp ra đi rồi. Bố gồng hết sức lực còn lại, gượng cười, gượng nói, gượng ăn uống cho mẹ vui để đáp lại tình yêu của mẹ.

Ông Dân yếu lắm rồi. Ông đang trong cơn hôn mê, bất tỉnh. Đôi mắt nhắm nghiền. Khi bà Huyền gọi: Anh! Anh ơi! Ông Dân chỉ máy môi, tỉnh nhưng không nói được. Bà Huyền ghé sát vào tai ông, chú ý lắng nghe. Nhưng bà thất vọng chẳng hiểu ông nói gì.

Thế rồi, chân tay ông lạnh toát. Lạnh cả người. Để tay vào mũi, bà thấy hơi thở yếu, yếu dần và lịm đi. Bà Huyền mắt tối sầm lại. Tinh thần bà hoảng loạn. Bà vừa khóc, vừa gọi:

- Anh Dân! Anh Dân! Anh đi thật rồi ư?

Vợ chồng Thứ và một số bác sỹ đứng ở đó nhìn nhau lắc đầu. An để những giọt nước mắt tuôn trào, ngoằn nghèo trên má. Chị sợ khóc to làm kinh động đến mẹ chồng. Chị cố kìm nén nhưng không nổi, tiếng khóc cứ bật ra. Thấy con dâu khóc, bà Huyền ôm lấy chồng và gào  lên:

- Anh Dân ơi! Đời anh sao khổ thế? Bao nhiêu năm sống, chết trong nhà tù của Mỹ ngụy nếm đủ những ngón đòn tàn bạo, dã man, độc ác nhất trên thế gian mà không giết nổi anh. Mười mấy năm trời, ăn đói mặc rách, nhịn khát đi khắp chốn cùng nơi để tìm vợ con nhưng vừa gặp vợ con, anh vội bỏ vợ con mà đi sao đành. Anh ơi! Anh nỡ bỏ mẹ con em mà đi à ? Đứa cháu nội chỉ con mấy tháng nữa sẽ ra chào đời. Nó sẽ hỏi em ông đi đâu. Em biết trả lời cháu sao đây? Không lẽ, em trả lời, ông nội cháu vừa chết à? Đau xót quá anh ơi! Thương cho con trẻ quá anh ơi, vừa ra đời đã không biết mặt ông. Anh vừa nói hôm qua thôi: “Chết thế nào được anh. Anh vừa đi gặp ông Nam Tào kiện đòi quyền sống. Trước lý lẽ sắc bén của anh, ông Nam Tào phải nhượng bộ, ông ấy cười và không xóa tên anh nữa” thế mà nay anh đi thật rồi. Trên thế gian này, có ai khổ như chồng tôi không? Tại sao ông trời ăn ở bất công với chồng tôi đến thế? Chồng tôi là người nhân từ, phúc hậu, sao ông nỡ bắt chồng tôi đi khi tuổi còn quá trẻ, hạnh phúc gia đình vừa mới bắt đầu. Trời ơi! Sao ông độc ác thế? Ông bất công đến thế là cùng. Ông ưu ái với người khác. Ông đối xử tệ bạc với chồng tôi. Thử hỏi chồng tôi làm gì nên tội gì? Tội gì? Không lẽ vì yêu nước, yêu đồng đội, yêu vợ con à?

Ruột gan bà Huyền đứt ra từng khúc. Trái tim bà ngưng đập. Đầu óc bà muốn vỡ tung ra nhiều mảnh. Bà ngã gục xuống đất. Bà ngất xỉu đi. Mặt bà tái mét, cắt không còn giọt máu. Chân tay bà lạnh toát. Chỉ có tiếng đập khe khẽ của con tim và hơi thở nhè nhẹ yếu ớt. Các bác sỹ xúm nhau lại đưa bà về phòng cấp cứu.

An không kìm nổi xúc động. Chị gào toáng lên: Bố ơi! Bố bỏ chúng con mà đi sao đành? Từ nay con biết trông cậy vào ai? Ai là người dạy con những điều khôn lẽ phải, ai là người dạy cháu sau này, con không cha như nhà không nóc bố ôi! chúng con sống sao nổi bố ơi là bố ơi!

Thứ đôi mắt đỏ hoe. Anh lấy khăn lau nước mắt, nuốt nỗi đau vào trong lòng, một mặt lo cấp cứu cho mẹ, mặt khác lo chuẩn bị đưa bố về nơi vĩnh hằng. Vừa khi ấy, Tân đến nơi. Anh chạy bổ vào ôm choàng lấy ông Dân mà khóc và kể lể. Anh Dân ơi! Những năm sống và chiến đấu bên anh. Anh thương em và thằng Hà hơn cả bản thân mình, anh sẵn sàng ăn đói, nhịn khát, nhường cơm và nước uống cho tụi em. Anh luôn nhận khó khăn, nguy hiểm về phần mình, nhường thuận lợi cho bạn. Năm 1972, đơn vị đánh vào cứ điểm AL. Một quả bom rơi trúng hầm chỉ huy, anh bị thương và bị bắt. Đơn vị tưởng anh hy sinh đã tổ chức truy điệu anh. Em và thằng Hà khóc anh như cha chết, mẹ chết, nước mắt đầm đìa. Nhiều người cười em và Hà là đồ đàn bà, con nít. Nhưng họ hiểu đâu nổi những tình cảm sâu nặng của người chỉ huy và người lính. Nhưng bom đạn của kẻ thù, đòn tra tấn dã man của kẻ thù của lũ mặt người dạ thú không giết nổi anh. Sau bao năm xa cách, vừa đặt chân tới Sài Gòn, anh quên cả vợ con tới thăm em ngay. Thương em nghèo, thương Hà bệnh tật đau yếu luôn, anh chia cho chúng em 1,3 số tiền tích cóp, dành dụm mấy năm trời dạy học. Mới hôm nào, anh em ta còn uống rượu mừng anh từ cõi chết trở về. Thế mà hôm nay, anh đi thật rồi. Tai sao những người nhân đức, hiền từ như anh, lại phải chết, phải nhận bao nỗi bất hạnh. Tai sao anh phải chết? Những kẻ độc ác như con thú dữ, phản dân hại nước lại sống nhăn răng ra đó? Trời đất ơi! Anh nằm đây mà vợ con anh chưa kịp vuốt mắt cho anh. Anh ơi! Chị Huyền vì anh mà bị ngất. Chị ấy vừa được đưa tới phòng cấp cứu. Tính mạng chị ấy trong tình trạng ngàn cân treo sợi tóc, chẳng biết sống chết ra sao? Chị ấy vì anh mà phải chịu bao nỗi đắng cay, nuôi mẹ chồng người ta, thờ cúng cha mẹ người ta để nuôi con anh khôn lớn trưởng thành như ngày nay. Chị ấy chờ đợi anh suốt mấy chục năm trời. Vừa gặp nhau, anh đã vội ra đi, đi xa mãi mãi, để chị ấy sống dở, chết dở. Anh Dân ơi! em thay mặt chị và các cháu vuốt mắt cho anh và quàn bên linh cữu của anh. Cháu An lo cấp cứu cho mẹ. Cháu Thứ lo chuẩn bị tiễn anh về nơi Tây phương cực lạc.

Anh Dân ơi! Bạn bè người thân đang đứng xung quanh anh. Đây là vợ con em, vợ con thằng Hà. Thằng Hà đang nằm viện thực hiện lời khuyên của anh. Nhưng vừa nhìn thấy anh, Hà không kìm nổi xúc động, Hà đã bị ngất lại phải đưa đi cấp cứu. Vợ con em, vợ con thằng Hà sẽ đội khăn tang đưa tiễn anh về nơi an nghỉ cuối cùng. Anh Dân ơi! Anh rất xứng đáng được kính trọng, kính trọng nhiều lắm.

Nhận được điện của Thứ, gia đình ông Năm Mập, ông Bảy Huân giám đốc nhà xuất bản, ông Tư Thành tức tốc phóng xe lên ngay. Tất cả họ đều đứng bên linh cữu của Dân, người nào người ấy đều sụt sùi khóc. Nhìn thấy ông nằm trơ trên giường, người phủ tấm khăn trắng toát. Vợ con ông chẳng thấy đâu, mọi người đều ngạc nhiên. Ông Năm Mập chỉ thấy nhân viên bệnh viện và bạn bè, đồng đội khi xưa, ông hỏi Tân:

- Vợ con anh Dân đi đâu cả chú Tân? Tân khẽ gạt nước mắt nói với người thủ trưởng cũ:

- Chị Dân bị ngất chẳng biết sống chết thế nào? Cháu An lo cấp cứu cho mẹ chồng. Cháu Thứ trong lúc tang gia bối rối biết bao công việc đặt trên vai nó. Thứ phải lo hậu sự cho anh Dân. Em ở đây túc trực bên linh cữu anh Dân.

Ông Năm Mập mở tấm vải trắng, nhìn Dân, nhìn người đông chí thân thương, người bạn lần cuối cùng, ông nhìn trời xúc động nói:

- Anh Dân ơi! Thường ngày, nắng như dải lụa mềm mại, mượt mà khổng lồ phủ kín bầu trời Sài Gòn, gió thổi miên man như những bàn tay nhẹ nhàng vuốt ve từng ngôi nhà, từng đường phố. Hôm nay hòn ngọc Viễn Đông từ ngày trở về với nhân dân được sự chăm sóc, mài rũa thêm hồng, thêm đẹp. Nhưng than ơi! Trời Sài Gòn hôm nay bỗng dưng u ám, ảm đạm và lặng gió. Cây cối đứng im. Chim ngưng ca hát. Tất cả, tất cả để tiễn đưa một người chiến sỹ, quê hương ở xứ sở hoa đào đã dũng cảm,  kiên cường và không tiếc máu xương gìn giữ cho những bông mai vàng, bảo vệ Sài Gòn về nơi an nghỉ cuối cùng.

Vĩnh biệt anh! Vợ con tôi, Bảy Huân, Tư Thành, Tân và Hà và các bạn bè, đồng đội của anh đều mang khăn tang, nước mắt như mưa.

Anh Dân ơi! Anh là tấm gương sáng về nhiều mặt cho chúng tôi học tập. Lòng quả cảm, kiên định lập trường trước kẻ thù, tình yêu thương đối với đồng đội, luôn nhận khó khăn về mình, nhường thuận lợi cho bạn bè. Nhờ vậy, tôi còn sống đến ngày hôm nay. Tôi mãi mãi biết ơn anh. Anh luôn lạc quan yêu đời, tin tưởng vào ngày chiến thắng. Mặc dù kẻ thù tàn bạo dã man nhưng không khuất phục nổi anh. Trái lại, anh làm cho tụi nó khiếp sợ trước sự dũng cảm, kiên cường của anh.

Anh Dân ơi! Anh còn là tấm gương sáng về lòng chung thủy đối với vợ con, anh một lòng, một dạ yêu thương vợ con. Gần hai mươi năm, anh không quản ngại đường xa, khó khăn, gian khổ, anh miệt mài đi tìm vợ con một cách kiên nhẫn, không biết mệt mỏi. Lòng kiên nhẫn ấy đã được đền bù, cuối cùng anh gặp vợ con.

Anh Dân ơi! Anh có người vợ thật tuyệt vời. Chị ấy một lòng, một dạ chung thủy với anh, mòn mỏi, chờ đợi anh bao năm. Thế mà anh lại bỏ chị ấy mà đi sao đành. Chị ấy ngất lên, ngất xuống, tính mạng đang trong cơn nguy kịch, chẳng biết sống chết thế nào?

Anh Dân ơi! Thằng Thứ con trai anh thật hoàn hảo, thông minh, tài năng và đức độ như bố. Thứ lúc nào cũng nghĩ tới cha. Nhưng cây muốn lặng gió chẳng đừng, cha con anh vừa gặp nhau, anh đã vội bỏ nó mà đi cho đành.

Vĩnh biệt anh, chúng tôi nguyện sống xứng đáng với anh. Anh Bảy Huân nói với Dân:

Anh Dân ơi! Tiểu thuyết: “Một bến hai đò” vừa in xong. Nhưng anh chưa được nhìn đứa con tinh thần ra đời, anh đã ra đi. Vĩnh biệt anh, vợ chồng tôi vô cùng thương tiếc anh.

Bà Khang đi bên chồng, vừa khóc, vừa nói lên nỗi lòng mình:

- Anh Dân ơi! Anh đi đành phận anh. Người đau khổ nhất sau chuyến đi xa này của anh là chị Huyền. Chị ấy, gánh chịu bao năm gian nan tủi cực nuôi con khôn lớn trưởng thành. Chị ấy ngày đêm mong tin anh trở về. Vợ chồng vừa gặp nhau, hạnh phúc vừa mới bắt đầu mà anh nỡ bỏ chị ấy mà đi sao đành. Anh Dân ơi! Anh có hiểu nỗi đau của chị Huyền và những người phụ nữ chúng tôi không?

Ba má đi rồi, Hà còn đứng như trời trồng và khóc sướt mướt. Cô thổn thức:

- Bố Dân ơi! Bố nỡ bỏ con mà đi sao đành. Nhờ bố, kỳ thi tốt nghiệp vừa qua con đạt điểm tối đa về môn văn và ngoại ngữ. Ước mơ của bố là dạy con thật giỏi về môn Pháp văn còn dang dở. Tại sao, bố không sống cho tới khi con đi lấy chồng. Bố vẫn hằng mơ ước, khi nào con khôn lớn, bố gả chồng cho con cơ mà. Con là con gái chấy rận của bố. Ước mơ còn đó, bố vội bỏ con mà đi sao đành? Đau xót lắm bố ơi! Ối trời cao đất dày ơi, sao các người độc ác thế? Tôi vừa gặp bố mà các ông lại bắt bố con tôi chia lìa nhau.

Bà Năm xúc động quá nên kéo con gái đi theo chồng. Bà không khóc và kể lể như con gái. Nhưng lòng bà đau xót vô cùng như có ai cầm dao đâm cắt tim gan bà ra từng khúc. Bà thương ông Dân, luôn sống vì bạn bè, hai lần cứu chồng bà thoát chết. Chồng bà có được hạnh phúc và quyền cao chức trọng như ngày hôm nay, một phần là nhờ ông Dân. Những người ăn ở hiền lành, phúc hậu tại sao cứ gặp những điếu chẳng lành? Bà thương ông Dân suốt cả cuộc đời gặp toàn những điều gian nan nguy hiểm, sẵn sàng ở giá để đi tìm vợ con. Chị Huyền cũng là người phụ nữ hiếm có, dám yêu hết mình, dám xả thân vì chồng con. Vợ chồng vừa đoàn tụ, chị ấy vừa hưởng hạnh phúc ít ngày thì nay lại vụt tắt ngay, mất mát, to lớn hơn bất cứ mất mát nào. Anh ấy ra đi vĩnh viễn thật rồi sao? Chị ấy lại tiếp tục làm nàng Tô Thị.

Dự lễ tang ông Dân còn có cặp vợ chồng khoảng dưới 50 tuổi. Họ ăn mặc lịch sang trọng trông rất quý phái. Nhiều người không khỏi ngạc nhiên, không biết vợ chồng họ quan hệ thế nào với gia chủ. Khi người vợ xõa tóc, vấn khăn tang lên đầu và khóc thảm thiết thì mọi người mới rõ:

Anh Dân ơi! Thầy Dân ơi! Em là Hồng đây, từ khi xa nhà đi khắp các tuyến đường Trường Sơn mở đường cho xe các anh ra mặt trận. Em đã ba lần bị thương mà không chết. Hòa bình lập lại, em gặp Khoan. Em là cô gái quá lỡ thì nhưng Khoan rất thông cảm với em. Chúng em nên vợ, nên chồng và có hai đứa con, một trai, một gái. Hiện nay chúng em công tác ở Uỷ ban Thành phố. Đời sống cũng tạm ổn. Suốt những năm qua, em luôn nhớ anh và chịu ơn anh nhiều lắm. Giữa trưa hè, em bị cảm nắng. Anh đã cõng em từ đỉnh đồi đầy nắng xuống chân đồi. Anh bảo bạn bè bẻ lá cây làm giường cho em nằm.

 Em thương anh nhiều lắm. Sáng nay, nghe tin cáo phó em mới biết anh ở thành phố này. Anh Dân ơi! Nhiều đêm, anh kèm cặp dạy thêm cho em và Huyền. Thế rồi đất nước có chiến tranh, em tạm biệt quê hương, tạm biệt bạn bè đi thanh niên xung phong. Trước khi đi, em dặn Huyền: Mày ở nhà phải lấy anh Dân để trả cái ơn mạng của hai đứa mình, vì tao đi chưa biết bao giờ gặp lại, có thể không trở về. Em những mong đêm ngày và cầu phúc cho hai người suốt đời được ở bên nhau, con đàn cháu đống.

Biền biệt từng ấy năm trời, hôm nay gặp lại anh và Huyền thì anh lại vĩnh viễn đi xa, Huyền đang nằm ở phòng cấp cứu chưa biết sống chết thế nào. Em đã kịp nói gì với Huyền đâu. Em đau đớn. Thương anh cả đời gặp toàn những gian nan vất vả, nguy hiểm. Anh từng sống côi cút, lẻ loi và lặn lội đi tìm vợ con. Thương  anh vò võ, từng ấy năm trời chờ vợ con. Vợ chồng vừa gặp nhau, hạnh phúc vừa nhen nhóm lại vụt tắt.

Anh Dân ơi! Ông trời  ăn ở chẳng công bằng chút nào. Nơi đất cao thì cứ bồi thêm mãi, nơi đất trũng thì cứ xói lở, đào bới thêm. Người sung sướng thì cứ sung sướng mãi, người khổ lại khổ suốt đời.

Bà Huyền vẫn nằm lả. Nước da nhợt nhạt như người chết đuối vừa vớt ở dưới nước lên. Đôi mắt bà nhắm nghiền chỉ có tiếng thở đều yếu ớt của con tim. Bà Khang nhìn thấy cảnh con gái, đầu tóc rối bù, quần áo nhàu nát đang khóc bố chồng. Chị không ngớt gọi tên ông. Bà Khang vừa thương, vừa lo cho con. Bà sợ con gái lăn khóc mãi sẽ ảnh hưởng đến thai nhi trong bụng. Bà ở lại phòng cấp cứu, giúp con gái chăm sóc mẹ chồng, cũng là người bạn thân thiết của bà.

Tối hôm ấy bà Huyền tỉnh lại. Người bà còn yếu lắm. Vừa tỉnh lại bà đã gọi;

- Anh Dân ơi! Anh đang ở đâu? An ơi! Con dắt mẹ đi tìm bố. Thứ ơi! con ở đâu. Các ông, các bà bác sỹ ơi. Làm ơn, làm phúc tìm chồng giúp tôi. Anh Dân ơi! Anh ở đâu? Anh giận em à? Em có làm gì sai trái mà anh giận em  đâu? Tại sao anh không trả lời em đi! Bà Huyền đột nhiên vùng dậy. Bà lao thẳng ra cửa. Bao mhiêu người chạy theo giữ bà lại. Bà gầm lên:

- Các ông, bà buông ra để tôi đi tìm chồng. Tôi cầu xin các ông, các bà đấy.

Bà dùng hết sức lực còn lại để thoát khỏi sự níu của hai người đàn ông lực lưỡng. Bà cong người như con tôm, chân đạp lung tung. Đôi tay bà đập mạnh vào hai người đàn ông giữ bà. Bà kêu gào thảm thiết.  Nhưng sức bà có hạn, bà lại lả mềm như sợi bún. Người ta đưa bà trở lại giường, thuốc thấm vào cơ thể, bà nằm im. Một lúc sau bà thiếp đi.

*

*      *

2. Sáng hôm nay, nắng non vừa tỏa khắp thành phố, báo hiệu một ngày đẹp trời trong  xanh cao hun hút. Gió thổi nhè nhẹ. Cây cối lao xao rì rào, cành cao chim hót líu lô. Nghi lễ tiễn đưa ông Phạm Đình Dân về nơi an nghỉ cuối cùng được cử hành. Người ngồi bên xe chở linh cữu, hàng bên phải có Thứ, An.  Hàng bên trái là bà Hồng, người bạn thân cùng quê với ông Dân và bà Huyền cùng Hà. Hai xe tiếp theo là đại diện đơn vị ông Dân từng công tác và chiếu đấu. Xe đại diện của  cơ quan Thứ, An. Kế tiếp là xe của các gia đình ông bà ông Năm Mập và vợ con, xe của ông Bảy Huân và vợ con, xe của vợ chồng thông gia và các con.

Theo sau là xe của vợ chồng con cái Tân, Hà – những người bạn cùng chiến đấu với ông Dân. Cuối cùng là xe của bạn bè thân hữu của ông Dân, bà Huyền và Thứ, An. Đặc biệt là xe của các thế hệ học sinh của ông Dân.

Đoàn xe từ từ rời khỏi thành phố. Tiếng nhạc hiếu át cả tiếng chạy xình xịch của các đoàn xe và tiếng ồn ào, náo nhiệt ở hai bên đường. Đoàn xe ra khỏi thành phố, thẳng tới nghĩa trang.

Trời bắt đầu trở gió. Mây đen ùn ùn kéo tới che khuất mặt trời. Mưa! Mưa! Mưa rơi lộp bộp trên nóc xe, mặt đất. Gió tăng tốc. Mưa mau và nặng hạt. Gió thổi mạnh. Mưa nghiêng ngả. Mưa xiêu xiêu hắt nước vào trong xe. Các xe đều đóng kín mít để chắn nước bắn vào trong xe làm ướt người. Mưa ào ào trút xuống. Cái gạt nước ở phía trước xe quay liên tục, quay hối hả cố hất những giọt làm khuất tầm nhìn của lái xe. Nước mưa trút xuống mặt đường ngày càng nhiều. Bánh xe chuyển động mạnh làm nước từ mặt đường bắn tung tóe. Xe đóng kín cửa, người trong xe lại đông nên rất ngạt thở nhất là người già yếu và trẻ con. Sáu Hà xúc động nói với mọi người:

- Cái số anh Dân khổ đến thế là cùng. Chết cũng không được yên thân. Trời vừa nắng đẹp, bỗng đâu mưa ngay được, cứ như trẻ con chơi trò ú tìm. Nếu ở nông thôn,
đi bộ mưa thế này trú vào đâu? Người chết cũng khổ, người đưa ma còn khổ hơn.

Tân bực dọc quát Sáu Hà

- Thôi! Mày im đi. Tao muốn phát điên lên đây vì sự bất hạnh này đây.

Xe tới nghĩa trang thì đừng lại. Mọi người vẫn ngồi trên xe, có tiếng ai đó kêu lên:

- Ngạt quá! Mở cửa xe ra.

- Lại có nhiều tiếng đáp lại:

- Mở cửa xe thì ướt hết à? Gắng chịu đựng chút nữa! Mưa ngớt rồi.

Hết mưa, Gió ngưng thổi. Nắng lại bừng lên. Mọi người thở phào nhẹ nhõm và đua nhau xuống xe. Nhưng niềm vui lại vụt tắt. Huyệt đầy nước. Tình huống bất ngờ xảy ra. Ngay lập tức, xe chở đô tùy quay lại thành phố lấy xô, chậu để múc nước. Thời gian đi về và tát nước mất khá lâu. Mọi người phải ngồi chờ ở nghĩa trang. Ai cũng nóng lòng, suốt ruột về sự chờ đợi này. Không ai nói ra, nhưng ai cũng thương cho số phận của ông Dân. Ông Năm Mập, Bảy Huân mặt buồn rầu: “Anh Dân đến lúc chết cũng khổ”.

Hạ huyệt xong, nắng trở lại rực rỡ. Trời lại trong xanh, cao thẳm. Gió thổi nhè nhẹ.

*

*        *

Nắng lâu ngày cũng phải mưa thôi. Mưa mãi rồi cũng phải tạnh. Buồn đau rồi cũng phải nguôi. Bà Huyền đã qua cơn hiểm nghèo. Người bà xanh như tàu lá, như cái dưa phơi nắng. Nhìn lên bàn thờ chồng, khói hương nghi ngút. Ông ấy đang nhìn bà đăm đăm. Bà hiểu tất cả, không cần giải thích. Chồng bà đã chết và được chôn cất xong xuôi.  Bà muốn đi thăm nơi yên nghỉ cuối cùng của chồng mà không đủ sức. Nước mắt đã cạn kiệt, không còn đủ sức để khóc chồng. Nhưng ông ấy luôn luôn ở trong trái tim bà, cùng ăn, cùng ngủ với bà. Ông ấy luôn tươi cười, âu yếm vuốt ve, che chở cho bà. Ông ấy còn nói những lời pha trò, để bà lúc nào cũng vui. Lúc nào  ông ấy cũng luôn tự hào, bom đạn của kẻ thù, những đòn tra tấn dã man, độc ác của lũ quỷ mặt người, còn không giết nổi ông ấy. Ông ấy, hai lần đi gặp ông Nam Tào để đòi quyền sống. Những người như ông không thể chết. Ông ấy còn ngồi kia. Ông ấy, đang mỉm cười với bà. Anh mất thật rồi à? Anh bỏ em mà đi sao đi sao đành. Bà lẩm nhẩm - Cuộc sống vợ chồng, mật ngọt của hạnh phúc vừa tới miệng đã bị tử thần cướp mất. Gần ba mươi năm, em làm việc cực nhọc, ăn đói mặc rách, nuôi mẹ, nuôi con, nhưng lúc nào cũng nhớ tới anh. Anh không chịu lấy ai, kể cả em Đào. Bố mẹ em và em Đào cũng thuận gả cho anh. Lúc nào, anh cũng một lòng một dạ tâm niệm đi tìm vợ con. Tình yêu của anh đẹp như một bài thơ, như bông hoa huệ trắng ngần, thơm ngào ngạt. Em đợi anh như hoa đợi nắng, như nương chè, nương sắn, mảnh ruộng chờ mưa. Anh đi tìm em và con như người mò kim đáy biển nhưng anh không mảy may nản lòng. Thế mà ông trời không cho chúng ta sống bên nhau trọn vẹn đến lúc đầu bạc răng long. Anh nỡ bỏ em mà đi. Ông trời độc địa làm sao? Không! Tất cả là do chiến tranh. Tất cả là do đế quốc Mỹ đưa quân vào xâm lược nước ta. Nếu không vì thế, anh chỉ biết vui vẻ, say mê sự nghiệp trồng người. Em sẽ là kỹ sư nông nghiệp, đêm ngày bạn cùng đồng ruộng, chuồng trại chăn nuôi đàn gà, đàn lợn. Vợ chồng mình sẽ sống bên nhau. Không còn chối cãi gì nữa, cuộc chiến tranh tàn bạo, có một không hai của đế quốc Mỹ đã chia cắt hạnh phúc vợ chồng và cướp mất anh, biến em thành người góa bụa. Càng nghĩ, em càng thương mình, thương anh và căm thù lũ cướp nước và lũ bán nước.

Được các con chăm sóc, bồi dưỡng, ăn uống chu đáo, thuốc thang đầy đủ, bà Huyền thoát khỏi lưỡi dao tử thần. Bà đã thấy thần chết thôi uốn éo vũ điệu c bi ai. Tinh thần và sức khỏe tạm ổn. Hôm nay, bà Huyền bắt các con đưa bà đi thăm mộ chồng. Đó là mong mỏi bấy lâu nay của bà.

Trời hôm ấy, thấp như cái chảo khổng lồ, úp xuống nghĩa trang và như đám mây đen lởn vởn bay. Đứng trước mộ chồng, bà Huyền chắp tay trước ngực, mắt nhìn ảnh chồng, miệng lầm rầm khấn vái:

- Anh Dân ơi! Tha lỗi cho em. Khi tiễn biệt anh về nơi yên nghỉ cuối cùng, em đang nằm ở phòng cấp cứu, chín phần chết, chỉ có một phần sống nên không được nhìn anh lần cuối, không được vuốt mắt cho anh. Hôm nay, em mới thoát khỏi cơn nguy kịch và bàn tay tử thần. Các con cứ lần nữa mãi, không chịu đưa em tới thăm anh. vì chúng thấy sức khỏe của em còn yếu. Anh Dân ơi! Nghĩa tử là nghĩa tận, em không muốn thế. Khi ấy, em chỉ muốn đi cùng anh để chúng ta được sống bên nhau. Nhưng em còn nặng nợ với đời nên trời không cho em đi. Anh cứ yên nghỉ ở nơi vĩnh hằng. Hẹn ngày sum họp.

Khấn xong, bà Huyền phục xuống bên mộ chồng. Bà cảm thấy như đang ở bên chồng. Hơi ấm của ông ấy, làm cơ thể bà bừng lên, tim bà như đang ca hát, reo vui. Ông ấy như đang vuốt mái tóc bà, âu yếm bà. Bà không khóc, nhưng miệng cứ lầm dầm như đang nói chuyện với chồng. Chẳng biết bà nói gì với ông. Và hẳn là điều bà nói, chỉ có bà và ông mới hiểu.

Khi bó nhang đã cháy hết. Thứ nhẹ nhàng nói với mẹ:

- Mẹ ơi! Nhang cháy hết rồi. Mẹ đã làm tròn phận sự của người vợ với bố Dân và bố Lượng một cách chu toàn và rất tình nghĩa. Mẹ ơi! Đời mẹ như một bến sông, suốt đời âm thầm, lặng lẽ đứng nhìn dòng sông êm đềm, lững lờ trôi và những con thuyền tấp nập, nhộn nhịp ngược xuôi. Một lúc nào đó, thuyền dừng lại bến, thuyền nghỉ ngơi, thuyền nhận hàng. No hàng, thuyền lại ra đi. Còn bến sông như là mẹ thì ở lại cứ đứng nhìn dòng sông trôi. Thuyền ra đi. Mẹ như bến, chờ mãi, đợi mãi cho đến khi hóa đá.

 

 

Trần Hải