Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ra sức thi đua thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2018!
Từ khóa tìm kiếm Từ khóa tìm kiếm

NHÀ VĂN VĨNH PHÚC HIỆN ĐẠI (Phần 1; Quyển 1)

(Ngày đăng: 19/01/2018, số lượt xem: 83)

 

 

   


LỜI ĐẦU SÁCH 

Hơn nửa thế kỷ qua, đồng hành với những chặng đường  cách mạng vẻ vang của Đảng, của dân tộc, từ ngôi nhà chung “Hội Nhà văn Việt Nam”, những người con Vĩnh Phúc “lớp anh trước, lớp em sau” đã tạo nên dấu ấn đậm nét trong sự nghiệp văn học, nghệ thuật nước nhà.

Những sáng tạo của các nhà văn Vĩnh Phúc hướng con người tới các giá trị Chân - Thiện - Mỹ, không chỉ đóng góp đáng kể cho sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, mà còn góp phần quan trọng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam.

Ghi nhận những thành quả lao động sáng tạo không mệt mỏi của các nhà văn, nhân dịp kỷ niệm 20 năm tái lập tỉnh (1997-2017), được sự quan tâm chỉ đạo của Tỉnh ủy, UBND tỉnh, Hội VHNT Vĩnh Phúc xuất bản bộ Tuyển tập tác phẩm đoạt Giải thưởng VHNT giai đoạn 1997-2016 và một số cuộc thi, bao gồm các thể loại: Tiểu thuyết, Truyện ngắn - ký, Thơ - trường ca, Âm nhạc, Mỹ thuật, Nhiếp ảnh, Văn nghệ dân gian, trong đó đầy đặn hơn là cuốn “Nhà văn Vĩnh Phúc hiện đại”. Đây có thể coi là hệ thống tư liệu về tác giả, tác phẩm của một chặng đường văn học của một miền đất giàu truyền thống lịch sử và cách mạng, tiếp thêm niềm tin bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.

        Từ niềm tin về những dự cảm tốt đẹp, Đảng ta đã xác định: “Văn học, nghệ thuật là lĩnh vực rất quan trọng, đặc biệt tinh túy của văn hóa; là một trong những động lực to lớn trực tiếp góp phần xây dựng nền tảng tinh thần của xã hội và sự phát triển toàn diện của con người Việt Nam” (Nghị quyết 23-NQ/TW, ngày 16/6/2008 của Bộ Chính trị). Đây chính là động lực, là cơ hội tốt để văn nghệ sĩ Vĩnh Phúc tiếp thu sinh khí mới, tiếp tục phát huy tính tích cực và trách nhiệm xã hội, nỗ lực sáng tạo ra những tác phẩm có giá trị mang đậm dấu ấn Vĩnh Phúc, cho hôm nay và mai sau...

        Ra mắt trong dịp kỷ niệm 20 năm tái lập tỉnh (1997 - 2017) và kỷ niệm 60 năm thành lập Hội Nhà văn Việt Nam (1957 - 2017), bộ sách là món quà tinh thần dâng tặng bạn đọc với tất cả sự trân trọng.Vượt qua những khó khăn về nguồn tư liệu, các thành viên trong ban tuyển chọn đã có nhiều cố gắng biên soạn, sắp xếp, diễn đạt, để đạt được mục tiêu cao nhất, song chắc chắn bộ sách không tránh khỏi sự khiếm khuyết. Chúng tôi rất mong nhận được sự chia sẻ, góp ý, bổ sung của bạn đọc để kỳ vọng một sự hoàn chỉnh hơn trong những lần tái bản bộ sách này. 

                       HỘI VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VĨNH PHÚC

 

 

 

 

 

 

CẦM GIANG  

 

- Họ và tên khai sinh: Lê Gia Hợp

- Họ tên thường dùng Lương Cầm Giang

- Sinh năm 1931, mất năm 1989

- Bút danh: Bạc Văn Ùi, Cầm Vĩnh Ui

- Quê quán: Thôn Nguyệt Viên, xã Hoằng Quang, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa, nơi thường trú tại Thôn Khách Nhi, xã Vĩnh Thịnh, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc.

- Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam (2010)

- Tác phẩm chính đã xuất bản:

 * Thành rồng thành hổ (Tập thơ)

 * Rừng trắng hoa ban (Tập thơ)

 * Cầu vào bản (Tập thơ)

 * Gió núi biên phòng (Truyện thơ)

 * Người bản Nà Phiêu (2 tập truyện thơ) 

 * Nà Phiêu đánh Mỹ (3 tập truyện thơ)

 

 

 

A - TRONG KÝ ỨC BẠN BÈ

 

CẦM GIANG - THƠ TÀI HOA, ĐỜI TRẮC ẨN

     PGS.  Phùng Ngọc Diễn

Tôi biết anh Cầm Giang từ tháng 2/1961 trong dịp Đại hội thành lập Chi hội Văn nghệ Việt Bắc ở TP Thái Nguyên khi đọc lý lịch trích ngang danh sách bầu cử BCH chi hội.

Tôi đọc kỹ về anh Cầm Giang vì tôi đã đọc nhiều tác phẩm của anh từ thơ đến truyện ngắn và sưu tầm, dịch thuật từ tiếng Thái sang tiếng Kinh, hơn thế còn có máu “đồng hương quê choa”.

Lần đó anh Cầm Giang trúng cử vào BCH Chi hội mà Chủ tịch là nhà thơ Nông Quốc Chấn và Phó Chủ tịch là nhà thơ Bàn Tài Đoàn… Chi hội VNVB tồn tại có 14 năm (1961- 1975) vì từ mùa hè 1975, có quyết định giải thể khu tự trị VB, nên chi hội cũng “tan Hội” luôn.

Trong 14 năm đó tôi còn có nhiều lần gặp lại anh Cầm Giang, vì từ năm 1965 đến năm 1975 tôi có chân trong BCH chi hội này, tiếc rằng từ năm 1967-1968 tôi không gặp lại anh nữa chỉ nghe tin anh đã chuyển từ mỏ Cẩm về Vĩnh Tường để dạy học và vẫn là “ông lang” cứu giúp người nghèo.

Tôi nhớ trong các lần gặp nhau như thế anh Cầm Giang bao giờ cũng là kho chuyện lạ. Chứng tỏ anh viết nhiều, biết nhiều và nói cũng hấp dẫn, nhất là chuyện hài hước kiểu Trạng Quỳnh (quê Trạng mà).

Ký ức của tôi vẫn đọng nguyên cái bóng to cao, nói năng diễn đạt rành mạch và vẫn phảng phất ngữ âm xứ Thanh. Từ những năm 60 thế kỷ trước, tôi đã đọc “Thành rồng, thành hổ” (NXB Phổ thông, 1957), “Rừng trắng hoa ban” (NXB Văn học, 1961).

Trong tập “Thành rồng, thành hổ” anh Cầm Giang ghi là sưu tầm, là dịch từ tiếng Thái ra tiếng Kinh. Nhưng tôi nghĩ và cũng không ít nhà thơ khác khẳng định đó chính là giọng điệu thơ Cầm Giang, hoặc như anh có sưu tầm, có biên dịch thì chính anh đã tạo ra vóc dáng khác cho bài thơ, ví như bài “Có hai người”.

Ới bản Mường ơi!

Một cái nhà sắp đổ

Đêm khuya, gà gáy ran trong ổ

Suối ngừng lại cả rồi

Gió lay chuyển động trời

Núi sạt nhanh xuống đất

Rừng cây rạp đổ tất

Vì dưới thang có hai người

Đang trộm ôm nhau,

 đang đổi cái hơi…

Rồi bài “Em tắm” với tên tác giả là Bạc Văn Ùi, hay như bài “Nhớ vợ” với tên tác giả là Cầm Vĩnh Ui. Đó là hai bài thơ Tình nổi tiếng của dân tộc Thái, của Bạc Văn Ùi hay của Cầm Vĩnh Ui thì công đầu vẫn là của Cầm Giang, hay nói thật lòng tôi thì hai bài thơ đó chính là của Cầm Giang.

Nhà văn Hoàng Quảng Uyên trong tập sách “Ẩn số  Cẩm Giang” (NXB Văn hóa dân tộc, 2006) vừa được giải thưởng năm 2006 của Hội VHNT các DTTS Việt Nam cũng đã trích đăng lại một bài anh đã viết trên báo Văn nghệ tháng 10/1988 “Chuyện phiếm từ một bài thơ”.

“Từ một góc nhìn nghịch ngợm, nhưng hoàn toàn nghiêm túc, tôi cho bài thơ Nhớ vợ là một đơn xin nghỉ được viết bằng thơ:

Đơn xin nghỉ: Nhớ vợ

Họ và tên: Cầm Vĩnh Ui

Dân tộc: Thái

Lý do xin nghỉ: Tôi nhớ vợ tôi lắm

Thời gian nghỉ: Cho tôi về    hai ngày

Nơi nghỉ: Nhà tôi ở Mường Lay

Có con sông Nậm Rốm”...

Và anh khẳng định: “Nhớ vợ là một bài thơ hay với đầy đủ ý nghĩa của khái niệm này. Trong nhiều yếu tố nghệ thuật làm nên giá trị bài thơ, có một yếu tố quan trọng là việc xử lý giỏi giữa sự phi lý và có lý, giữa vô thức và có ý thức, giữa trừu tượng và cụ thể…”.

Nhà thơ Lò Ngân Sủn trong phim tài liệu “Ẩn số Cầm Giang” đã nói: “Người ta có thể quên nhiều thứ nhưng có một thứ tôi tin người đời sẽ không quên đó là Em tắm, Nhớ vợ, Em là con gái Châu Yên, Có hai người, Núi Mường Hung – Dòng sông Mã”.

Bài thơ “Em tắm” cũng đã được nhạc sĩ Doãn Nho phổ nhạc rất thành công và ông nói: “Tôi thấy rằng, có lẽ ít dân tộc nào có lối nói đậm đà bản sắc riêng đến như vậy mà đồng thời cũng hiện đại đến như vậy”.

Cầm Giang có hàng trăm bài thơ sáng tác, sưu tầm ở Tây Bắc, Việt Bắc và không ít bài  viết về bạn bè, về quê hương thật đằm thắm, thật sâu nặng ân tình.

Từ mỏ Cẩm (Thái Nguyên), Cầm Giang về Vĩnh Tường và ở đó có những người bạn tri âm khỏa lấp trong anh những nỗi buồn, nhưng vất vả của dòng đời bao giờ cũng có hai mặt phải trái, tốt xấu, trắng đen. Anh đã viết cho nhà giáo, nhà thơ Nguyễn Bùi Vợi một bài thơ dài, trong đó có những câu gan ruột:

Gặp nhau mới một bận

Hiểu nhau quá trăm lần

Từ những câu thơ bộn ý, chắp vần

Đến nỗi chữ xoáy cồn lên    suy nghĩ

Tôi muốn một phút thôi

Thay chị từ thủ thỉ

Anh! Bão đã lặng chưa?

Nếu còn lác đác mưa

Thì sách giáo khao che tạm...…

(Đầu tháng 5/1970)

Theo nhà văn Hoàng Quảng Uyên đã từng đi lại nhiều lần về Khách Nhi, Vĩnh Thịnh, Vĩnh Tường (Vĩnh Phúc) để thăm hỏi gia đình, gặp cô giáo Lương Nguyên (con gái nhà thơ) và thắp hương viếng mộ nhà thơ Cầm Giang.

Anh đã cho chúng ta thấy rõ hơn “ẩn số Cầm Giang” để anh tri âm với nhà thơ  tài hoa, với những bài thơ hay đóng góp không nhỏ cho nền thơ ca đương đại của chúng ta. Anh Uyên cho biết bản lý lịch mà Cầm Giang khai năm 1967 từ mỏ Cẩm xin chuyển về dạy học ở Vĩnh Phúc:

Tên thường dùng: Lương Cầm Giang

Tên khai sinh: Lê Gia Hợp

Ngày sinh: 2/5/1931

Nơi sinh: Xóm 3, Nguyệt Viên, Hoằng Quang, Hoằng Hóa, Thanh Hóa…

Và như chúng ta biết từ năm học 1968 anh chuyển về dạy học đến khi anh qua đời năm 1989 khi mới 59 tuổi đời.

Có người nói: Cầm Giang bỏ vợ là chị Lê Thị Vịnh ở quê, trong khi chưa ly dị đã cưới cô Nguyễn Thị Kiên ở Khách Nhi nên “phạm luật”!

Có biết đâu rằng gia đình anh “ép” anh lấy vợ từ 14 tuổi, anh không chấp nhận và bỏ đi lang thang ra Nam Định, Hà Nội rồi gặp ông Lương Hữu Ca, người có lòng từ tâm, nên anh được ông nhận làm con nuôi (vì thế mà họ Lê đổi thành họ Lương).

Mối lương duyên “ép buộc” đó gần 20 năm anh và cô Vịnh mới chính thức ly dị ở ngay quê nhà. Lại có người nói: Ở quê nhà anh là địa chủ, nên “lý lịch nặng”, anh phải bỏ nhà ra đi, thay tên đổi họ để đi bộ đội, làm y tá, làm thầy giáo.

Do “nặng căn” như thế nên ở đâu anh cũng bị “mặc cảm”. Ngay khi về dạy học ở Vĩnh Tường, cũng có những kẻ “xơ cứng” cho là con địa chủ, không có bằng sư phạm chính quy mà Ty GD lại cho dạy cấp 2.

Tuy anh không có bằng cấp chính quy, nhưng ở bộ đội, anh đã dạy học, rồi anh tự học ở sách, ở đời, ở bạn nên anh trở thành giáo viên dạy giỏi cấp huyện, cấp tỉnh và đặc biệt anh giảng văn, dạy lịch sử rất hay.

Anh còn là “bác sĩ” của những người nghèo luôn được miễn phí cả Tây y và Đông y, rồi anh dạy phụ đạo cho HS giỏi, HS yếu không bao giờ thu tiền.

Con người như anh thật tài hoa mà đầy trắc ẩn, anh có nhiều bài thơ tự sự chép trong nhật ký rất hay, nếu sau này những bài thơ đó được tập hợp trong “Tuyển tập Cầm Giang” thì bạn đọc sẽ chia sẻ thêm những buồn vui, cay đắng cuộc đời của anh.

Người vợ cuối cùng của anh (vợ thứ ba) là bà Đỗ Thị Chắt đã hết lòng vì anh, vì các con anh, nên bây giờ con cái anh đã nên người và luôn nghĩ về sự thua thiệt của người cha kính yêu của mình.

Các con anh hy vọng Hội Nhà văn VN quan tâm việc “khôi phục” hội viên cho ông vì ông đã dự Đại hội thành lập Hội Nhà văn VN, năm 1957, nay đã 50 năm qua đi và Hội hãy giúp đỡ “phần hồn” cho Cầm Giang có được “Tuyển tập Cầm Giang” (cả thơ và văn).

Còn với quê hương xứ Thanh hay quê hương Vĩnh Phúc, những người yêu thơ, mến mộ Cầm Giang góp sức mình ghi nhớ một tài năng, một con người Thơ như Cầm Giang. 

 P.N.D

 

 

 

 

 

THÊM MỘT NÉN NHANG CHO NHÀ THƠ TÂY BẮC CẦM GIANG

Phạm Đăng Kim 

 

Hồi tháng 8 năm 2008, trong buổi gặp mặt và giao lưu với đoàn văn nghệ sỹ đang theo học lớp bồi dưỡng ngắn hạn về lý luận phê bình văn học của trường viết văn Nguyễn Du, do nhà văn Nguyên An phó hiệu trưởng nhà trường làm trưởng đoàn. Lần đó nhà thơ Trần Nhuận Minh đã mời nhà văn Dương Hướng, nhà thơ Nguyễn Châu, Mai Phương cùng một số anh em trong hội văn học nghệ thuật tỉnh Quảng Ninh tham dự.Hôm đó ,tôi tình cờ ngồi bên cạnh nhà văn Hoàng Quảng Uyên. Qua trao đổi được biết ,năm 2006 anh vừa xuất bản cuốn sách “Ẩn số Cầm Giang”. Kể về những chuyện xung quanh cuộc đời của nhà thơ Tây Bắc-Lương Cầm Giang- Nhà thơ đã nổi tiếng một thời với những bài thơ được nhiều người yêu thích như: Núi Mường Hung, dòng sông Mã,Em tắm, Nhớ Vợ, Em là con gái Châu Yên…

“Nhà thơ Cầm Giang- Đời và thơ là một trong không nhiều trường hợp để lại nhiều ẩn số”. Và anh đã lấy trong cặp ra tăng tôi cuốn sách đó.Về nhà tôi đọc đi đọc lại nhiều lần Cuốn sách toát lên một Cầm Giang tài hoa và sắc sảo trong cách viết thơ văn, trong nhận xét phê bình, nhiều bạn bè, sống ngay thẳng ,chân tình với tất cả mọi người. Nhất là phần: “mười năm mỏ Cẩm” “tình bạn tình thơ” Và những ẩn số”.  Với sự tiếc nuối về một nhà thơ một thời để lại tiếng vang trong lòng hàng triệu người hâm mộ với những bài thơ nổi tiếng của mình. Một con người trên văn đàn thời những năm 1950-1960 nổi tiêng thế mà lại chịu những, thiệt thòi, suốt đời phải gồng mình lên để sống cho đến bây giờ vẫn chưa có được lời giải?

Thời đó tôi rất thích bài hát “Núi Mường Hung, dòng sông Mã”do nhạc sỹ Bùi đức Hạnh phổ  thơ Cầm Giang. Bài hát đã được phát nhiều lần trên sóng của đài tiêng nói Việt Nam đến nỗi rất nhiều người thuộc .Mấy năm gần đây tôi lại được đọc một số bài viết nhằm làm sáng tỏ thêm những bài thơ ông đã viêt vào thời kì đó.Không nghi ngờ gì nữa để mà nói rằng: “ Nhà thơ Cầm Giang không chỉ là tác giả của một số bài thơ viết về Tây Bắc . ông còn là tác giả của những bài thơ dịch với những cái tên như Bạc văn Ùi,

Cầm vĩnh Ui…đã được tuyển vào tập 100 bài thơ hay của thế kỷ 20.

Đến bây giờ nghĩ lại tôi tự trách mình, lúc đó đã đứng trước một cây đại thụ mà không biết nương nhờ bóng cây để đi, để lỡ một thời không thể tìm lại.

Đó là vào những năm 1964-1967 , được sống và làm việc bên cạnh ông ở mỏ than Làng Cẩm- Thái Nguyên. Dạo đó, chúng tôi - những học sinh trường ngoại ngữ vừa học xong chương trình thì sảy ra chuyện hai nước Liên Xô- Trung Quốc mâu thuãn nhau . thế là họ rút hết chuyên gia giảng dạy về nước. Sinh viên được chuyển đi làm ở nhièu nơi, riêng 60 anh em chúng tôi được nhận về mỏ than Làng Cẩm.

Đón anh em chúng tôi lên mỏ có một anh là cán bộ phòng y tế . Mãi mấy hôm sau mới biết đó là nhà thơ Cầm Giang. Anh người thấp béo, dáng đi lạch bạch như con gấu, trông có vẻ một anh nông dân thực thụ hơn một nhà thơ có hạng. Nhưng anh lại không thuộc loại người ăn to nói lớn, trái lại anh nói năng nhẹ nhàng, rủ rỉ, hấp dẫn người nghe. Hồi đó cả mỏ có khoảng 1000 công nhân viên chức. Nhưng phòng y tế chỉ có 3 người, anh như người trực giải quyết tất cả các sự vụ y tể trong mỏ.Anh là y tá cấp thuốc tây ,nhưng lại biết rất nhiều những cây thuốc lá, anh đã hướng dẫn và chữa cho nhiều người khỏi bệnh bằng cách chữa đông y. Hồi đó ở mỏ có một số anh em hàng binh Pháp ở lại làm việc với nhiều lí do khác nhau, trong đó có cả người da đen, da trắng, Không biết anh học tiếng Pháp từ bao giờ mà giao tiếp, nói chuyện với họ rất ngon lành, trong dội ngũ hàng binh có một da đen người Ănggôla, được anh chữa khỏi căn bệnh sốt rét ác tính. Ít năm sau anh này về nước, nghe nói đã làm đến chưc bộ trưởng. Nhân một chuyến sang thăm Việt Nam có hỏi thăm nhà thơ Cầm Giang. Nhưng vì anh đã chuyển về quê Vĩnh thịnh- Vĩnh Tường nên ông ấy khong lên thăm được. Thật cũng là điều đáng tiếc cho cả hai người.

Tôi nhớ, khi lên Làng Cẩm đươc khoảng 3 tháng ,nhà thơ Cầm Giang đã tổ chức cuộc thi thơ trên báo tường, tôi có gửi bài dự thi. Hồi đó Cầm Giang phụ trách thi đua tuyên truyền, và một đội văn nghệ rất mạnh đã từng được nhiều huy chương trong các lần hội diễn của tỉnh . Phải nói thêm rằng hồi đó lên mỏ làm việc có rất nhiều thanh niên  học sinh tốt nghiệp cấp 3 trường Lương Ngọc  Quyến- thành phố Thái Nguyên. Theo tiêng gọi của đảng tình nguyện lên  làm việc Họ có nhiều khả năng  văn hoá,văn nghệ như  các anh: Hiền Nhân-hoạ sỹ, Nguyễn Vĩnh viết kịch và đạo diễn… Kết quả chấm giải,  bài thơ của tôi được giải nhất. Bài thơ có tựa đề: “Bài ca kế hoạch” có một khổ được anh đánh giá cao:

Bác mi nơ dán mình trên than rắn

mồ hôi nhoè và nóng bỏng bàn tay

vẫn cuốc vững tay như những đường cày

Anh nói “Tôi làm mỏ khá lâu, nhưng chưa nghĩ ra cái từ- dán mình- như chú viết”

 Thời kỳ ở mỏ anh vẫn viết liên tục, nhưng như nhà văn Hoàng Quảng Uyên đã nhận xét:

“ Những sáng tác của ông thời gian này đều truội đi cả,10 năm sáng tác rất ít tác phẩm đọng lại, tồn tại lâu dài… ông viết nhiều về hò vè…dường như đụng đến đề tài nào ông cũng viết thành thơ” “Một Cầm Giang sản xuất thơ chứ không phải là sáng tác nữa”

Nhưng thời gian này anh còn viêt  truyện ngắn, bút ký,và anh ghi nhật ký rất đều đặn với những nhận xét thẳng thắn, sắc sảo… Truyện ngắn “Ông Giang chó” là một truyện ngắn hay đã đươc đăng báo khu tự trị Việt Bắc,và đã được cánh dân thợ bàn tán sôinổi.Chuyện có thật về một bác thợ lò bậc 6/6 chuyên mổ chó bán ngoài giờ làm việc.Câu chuyện về nhân tình thế thái với những tình tiết cười ra nước mắt.

Nhớ và nói về ông, trong khoảng hơn 3 năm đươc sống và làm việc so với cả cuộc đời văn nghiệp của ông quả là không đang kể gì.Nhưng có cái gì đó cứ thôi thúc tôi cầm bút viết lên những dòng hồi tưởng lại thời xa xưa về nhà thơ quá cố. Coi như một nén nhang thắp cho nhà thơ miền Tây Bắc nổi tiêng một thời .

P.Đ.K

 

 

 

 

 

 

NHÀ THƠ CẦM GIANG: MỘT MIỀN THƠ TÂY BẮC

Hoàng Quảng Uyên

 

Ngày Thơ Việt Nam - Nguyên Tiêu Đinh Hợi (2007). Văn Miếu, Quốc Tử Giám Hà Nội. Trung tâm văn hóa doanh nhân Việt Nam công bố 100 bài thơ hay do Trung tâm tổ chức bình chọn. 100 bài thơ của 100 nhà thơ được vinh danh trong đó có 3 bài thơ "đậm chất Tây Bắc" là các bài: "Núi Mường Hung, dòng sông Mã" của nhà thơ Cầm Giang; "Nhớ vợ" của Cầm Vĩnh Ui; "Em tắm" của Bạc Văn Ùi.

 

Trên khán đài, tiếng công bố vừa dứt chợt thấy hiu hiu gió trên ngọn cỏ, lá cây sân sau Quốc Tử Giám. Trong mưa bụi, nhà thơ Cầm Giang xuất hiện trong dáng vẻ của một ông giáo làng vùng quê Vĩnh Tường, Vĩnh Phúc…

Tôi tiến đến vái ông ba lạy: "Xin chúc mừng và bái phục nhà thơ. Trong 100 bài thơ hay thế kỷ mình ông đã chiếm 3 bài!". Cầm Giang lùi lại một chút, nheo mắt nhìn tôi: "Tôi chỉ có mỗi một bài "Núi Mường Hung, dòng sông Mã" được ông Bùi Đức Hạnh phổ nhạc thôi. Ông không nghe lầm đấy chứ!". "Không! Bài "Nhớ vợ" và bài "Em tắm" cũng là của Cầm Giang, ai chả biết!".

"Đấy là các ông nói, chứ không phải tôi nói đâu nhé". "Thì có ai bảo là bác nói đâu, bác cẩn tắc quá đấy. Thời thế bây giờ khác nhiều so với 50 năm về trước, cái ngày mà bác công bố những bài thơ Tây Bắc trong tập thơ "Thành Rồng - Thành Hổ"- nhà xuất bản Phổ thông - năm 1957". "Ừ nhỉ, ờ, ờ… Cầm Giang bùi ngùi - Nhanh quá,  chóng thật, mới đấy mà nửa thế kỷ đã trôi qua. "Em Tắm", "Nhớ Vợ", "Em là con gái Châu Yên", "Núi Mường Hung, dòng Sông Mã", có hai người… đã năm mươi tuổi, lên lão cả rồi!".

"Những bài thơ ấy không bao giờ lên lão. Vẫn mãi trẻ trung, mới mẻ, sẽ tiếp tục được bình chọn là những bài thơ hay". "Các ông quá khen đấy thôi - có thể ban tuyển chọn đã có một chút ưu tiên dân tộc khi chọn những bài thơ mang chất dân tộc của vùng Tây Bắc". "Không! Cái gọi là ưu tiên dân tộc là có đấy, nó nặng nề nữa là đằng khác. Nặng nề tới mức làm cho một số người thiếu bản lĩnh, thiếu nhân cách cứ nhận "xằng" mình để được ưu tiên… ". "Ông nói thế nghe hãi quá! Thế ra các ông cũng liệt tôi vào hạng người ấy à? Vậy thì tôi đi. Các ông không hiểu tôi".

Thoắt cái Cầm Giang vụt chạy, loang loáng trong sân Văn Miếu. Ẩn hiện sau những tấm bia đá. Rõ ràng ông vẫn bị "không khí thơ" Văn Miếu níu kéo. Tôi ân hận vì lỡ lời bèn chạy theo ông. Một hồi, thấy ông tựa lưng vào gốc cây sấu già, mặt hơi tái. Tôi lại vái ông ba lạy xin ông hai chữ đại xá: "Cầm Giang là bút danh thơ, còn trong lý lịch lưu ở tổ chức vẫn ghi đúng họ tên dân tộc, quê quán: Họ tên: Lê Gia Hợp, Dân tộc: Kinh, quê: Thanh Hóa. Ông có phải là người khai man lý lịch đâu mà sợ người đời xếp vào hạng người mạt hạng ấy. Không một ai được nghĩ xấu về ông".

Nghe những lời rất thật ấy khuôn mặt Cầm Giang đang tái bỗng tươi trở lại: "Thì vẫn biết thế, trong cuốn "Ẩn số Cầm Giang", Hoàng Quảng Uyên đã nói kỹ rồi, tôi yên tâm lắm. Nhưng sách của Uyên in ra có mấy ai đọc đâu... Thôi không nói chuyện ưu tiên dân tộc nữa nhé. Nói chuyện Thơ cho nhẹ người". "Vâng! Em cũng chỉ muốn biết về mấy bài thơ "Em tắm", "Nhớ vợ" của ông Ui, ông Ùi nào đấy, mong bác nói thật".

"Ông tắt ghi âm đi - Cầm Giang vẫn cảnh giác - Đơn giản thôi. Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, tôi lên Tây Bắc là bộ đội Cụ Hồ thuộc C8, D7, E280, F338, sống giữa lòng dân Tây Bắc, giữa thiên nhiên khoáng đạt miền Tây Tổ quốc, sống với những người lính trẻ các dân tộc Thái, Mường, Puộc… nghe họ tâm sự về nỗi nhớ nhà, nhớ vợ, tôi đã chuyển những lời tâm sự ấy thành thơ. Đó chính là những nguồn cảm hứng và tư liệu giúp tôi viết được những bài thơ "đậm chất Tây Bắc".

Tôi đã gửi những bài thơ ấy cho Báo Quân đội nhân dân, một biên tập viên đã trả lời bằng thư cho tôi: "Tòa soạn rất hoan nghênh sự tham gia xây dựng tờ báo Quân đội nhân dân của chúng ta. Bài của đồng chí đã giúp cho tòa soạn theo dõi được thêm tình hình tư tưởng của bộ đội, nhưng không đăng trên mặt báo được vì ít giáo dục bộ đội mà lại càng khơi thêm cho bộ đội ý tò mò. Hơn nữa trên mặt báo cần nêu được nhiều gương tốt để giáo dục cái xấu".

Nhận được thư tôi suy nghĩ rất nhiều thấy biên tập viên nói cũng đúng. Ai lại đi nói cái chuyện "vớ vẩn" dù rất thật: "Tôi nhớ vợ tôi lắm/ Cho tôi về hai ngày..." "Đúng như thế! - tôi góp lời - hồi ấy muốn được về với vợ phải nói dối - phải có cái điện báo ghi trên giấy: "Bố (mẹ) ốm nặng, về ngay!" mới được xét…". "Có anh còn bảo vợ đánh điện: "Bố chết, về ngay!" - mà nào đã có ai chết! Tôi buồn quá, nói thật thì không được chấp nhận, nói dối lại được nghỉ. Tôi gửi tâm sự ấy vào thơ, nhưng thơ viết xong không được in thì buồn quá. Nghĩ chắc chẳng có báo nào chịu in những bài thơ "vớ vẩn" ấy. Buồn nhưng thơ thì không thể không viết, cứ hy vọng có một lúc nào đó những bài thơ kể về tắm suối, chuyện hai người hôn nhau… sẽ được in".

"Vào lúc nào? Tôi ngắt lời Cầm Giang". "Cũng chẳng biết bao giờ nữa. Trong lúc bí, tôi nảy ra sáng kiến: phải "trộn lẫn" thơ, may ra…". "Trộn lẫn kiểu gì?". "Tôi mang một số bài dân ca Tây Bắc dịch ra tiếng Việt, tu chỉnh lại, ấy là một loại. Loại thứ hai là những bài mình sáng tác "giả giọng" dân tộc, đặt cho bài thơ một cái tên tác giả dân tộc nào đấy, thơ do Cầm Giang dịch. Loại thứ ba là những bài thơ "hoàn toàn" Cầm Giang. Đem ba loại thơ ấy "trộn" vào nhau thành một tập thơ lấy tên "Thành rồng, Thành hổ", gửi Nhà xuất bản Phổ Thông. Họ in ngay. Sách in ra được hoan nghênh lắm". "Bác tài quá, bái phục, bái phục". "Tài cán gì! Bất đắc dĩ mới làm như thế. Đó chỉ là một trò chơi". "Nếu không có cách xuất hiện tài tình như thế thì chắc không có những bài thơ đậm chất Tây Bắc, đậm chất dân tộc như thế".

"Các ông làm lý luận - phê bình, cứ hay soi mói, tìm gốc rễ. Mệt quá". Nói rồi Cầm Giang chợt im lặng. Không ra buồn, không ra vui. Quả thật Cầm Giang có cả một miền thơ Tây Bắc đủ làm nên tên tuổi của ông. Với hơn 100 bài thơ và nhiều truyện thơ được in (Người bản Nà PhiêuRừng trắng hoa banQuê tôi Điện Biên,…). Ông xứng đáng là người đại diện thơ cho người Thái, người Mường, người Puộc, người Lự… Họ chấp nhận Cầm Giang là người nói thay cho họ, là người phát ngôn (bằng thơ) của họ.--PageBreak--

Dứt ra khỏi miền thơ Tây Bắc, tôi trở lại với nhà thơ Cầm Giang. Ông vẫn đứng đó, không buồn, không vui. Lần này, tôi hỏi cụ thể hơn: "Thưa nhà thơ, xin ông cho biết Cầm Vĩnh Ui, tác giả bài thơ "Nhớ vợ" là ai?". Cầm Giang nhìn thẳng vào tôi: "Trong bản in đầu tiên tôi đã có "chua" một dòng tên tác giả: "Cầm Vĩnh Ui là ai? Ghi bằng chữ Lào, bút chì, trên bẹ nứa mờ gần hết". Làm sao tôi biết Cầm Vĩnh Ui là ai, ngay lúc bấy giờ cơ quan tư pháp có tra tôi để lấy chứng cứ thì cũng chẳng lần ra chứng cứ!". "Bác giấu kín như thế thì có thánh cũng chẳng lần ra".

Cầm Giang ngửa mặt cười.

"Nhưng mà, thưa nhà thơ. Tài và khéo như thế nhưng trong bài "Nhớ vợ" vẫn còn có chỗ sơ hở!". "Sơ hở chỗ nào? - Cầm Giang giật mình. "Ở cái câu: "Nhà tôi ở Mường Lay/ Có con sông Nậm Rốm". Con sông Nậm Rốm cách Mường Lay gần 100 cây số - nếu quả có ông Cầm Vĩnh Ui, người Thái, quê Mường Lay thì không bao giờ có sự nhầm lẫn ấy". "Ông có nhớ một triết gia phương Tây nói thế này không - Cầm Giang chống chế - Nếu thực tiễn không phù hợp với lý thuyết thì phải thay đổi thực tiễn"!

Tôi xin nói lái: "Nếu thực tiễn không phù hợp với thơ, thì phải thay đổi thực tiễn". Đem con sông Nậm Rốm về đặt tại Mường Lay! Nói vui thế thôi, ai lại đi chú ý đến những chi tiết vặt vãnh ấy. Bài thơ viết cho người Kinh đọc là chính. Người đọc chỉ biết ở Tây Bắc có Mường Lay, có Nậm Rốm, chứ cần gì biết xa hay gần. Thật không thể giấu các ông được".

Lại một khoảng lặng, lúc sau tôi lại rụt rè hỏi: "Thế còn ông Bạc Văn Ùi tác giả bài thơ "Em tắm" mà Cầm Giang dịch là ai? Mà chỉ xuất hiện một lần rồi mất tăm cùng ông Cầm Vĩnh Ui!". "Đời nó lạ thế - khi bài thơ xuất hiện rồi chiếm được vị trí trên thi đàn, lúc đó tác giả đã hoàn thành nhiệm vụ. Lúc đó người ta chỉ còn nhớ đến thơ. Tôi nghĩ tác giả của nó là Bạc Văn Ùi hay Cầm Giang cũng chẳng quan trọng gì. Có đúng thế không?".

"Vâng, Đúng thế, xin tán đồng. Nhưng cái "giả" Trong "Em tắm" nó cứ lồ lộ trên văn bản. Này nhé, cái người "rình xem em tắm" là Bạc Văn Ùi là người dân tộc Thái, mà đối với con trai người Thái thì việc tắm tiên của các cô gái giữa suối là "chuyện thường ngày" chẳng việc gì phải rình, phải trộm xem cả. Cứ thoải mái đi! Chỉ có anh bộ đội người Kinh mới thấy điều ấy là lạ, gây tò mò tới mức đi rình xem rồi bị người con gái phát hiện, "nói lỡm". Như vậy, người đi rình - tác giả bài thơ là một anh Kinh một trăm phần trăm, chứ chẳng có ông Bạc Văn Ùi nào cả".

Lần này thì Cầm Giang không giở lý luận nữa. Ông nhỏ nhẹ: "Đúng là tôi không giấu được các ông. Tôi đã đọc hết cuốn sách của ông viết về tôi rồi. Tôi không có ý kiến gì vì khen ông viết hay về tôi thì nó buồn cười quá. Đúng, sai, hay, dở cứ để người đọc phán xét. Riêng cái tên sách "Ẩn số Cầm Giang" tôi thấy được, nhưng tôi không thể hiểu nổi là các ông cứ cố công đi tìm lời giải cho những ẩn số đó, những bài thơ nghi vấn ấy để làm gì!

Ở đời mà tất cả những ẩn số đều tìm được lời giải, mọi việc cứ trắng đen rõ ràng, cứ lúc nào cũng tới bến… thì cái đời ấy nhạt nhẽo, bằng phẳng vô cùng. Hãy cứ để Cầm Giang với những ẩn số, những bài thơ nghi vấn để mà còn có dịp gặp nhau, đàm đạo thơ và đời. Mà này thơ tôi cũng có những câu hay đấy, nhưng không nằm ở những bài ấy. Có thể sẽ có lúc nhìn ra. Thôi tôi đi đây".

Cầm Giang vụt biến mất trong thinh không... Hóa ra những điều tôi vừa trao đổi với ông chỉ là trong tưởng tượng - trong đời thực, Cầm Giang đã giã biệt trần thế từ năm 1989...

 H.Q.U   

Đê La Thành, nhớ lại đêm 23/8/2008

 

 

 

 

 

B - MỘT SỐ TÁC PHẨM TIÊU BIỂU

 

NÚI MƯỜNG HUNG DÒNG SÔNG MÃ

Anh là núi Mường Hung
Em là dòng sông Mã
Sông nhiều rêu, nhiều cá
Núi nhiều thú, nhiều măng
Chiều bóng anh che sông
Sớm mắt em long lanh
Sáo cành cây anh thổi vang lanh lảnh
Gió lùa qua miệng anh lại mỉm cười
Rộn ràng em thuyền độc mộc ngược xuôi
Như trăm nỗi băn khoăn khi đến tuổi
Nếu trời làm em sóng nổi
Anh ngả mình ngăn lại lúc phong ba

Em là búp bông trắng
Anh là ngọn lúa vàng
Thi nhau lớn đẹp nương
Toả mùi thơm cùng nghe chim hót
Em cứ về nhà trước
Đợi anh ở bên khuông
Anh làm no lòng mường
Em làm vui ấm bản
Nếu con gấu giẫm gãy cành bông trắng
Lá lúa anh sẽ cứa đứt chân
Nếu lúa này chuột, khỉ dám đến ăn
Sợi bông em sẽ bay mù mắt nó

Anh là rừng thẳm
Em là suối sâu
Cây rừng anh làm cầu
Bắc ngang lên dòng suối
Hoa sim nở đỏ chói
Soi bóng xuống lòng em
Nếu hùm về, suối em thành thác
Nếu sói về, rừng anh sẽ thành chông
Quyết chẳng chịu đau lòng
Đời chúng ta rừng núi
Suối em phá tan bóng tối
Rừng anh chặn lại bão dông
Để anh lớn mãi thành núi Mường Hung
Em ngoan chảy thành dòng sông Mã.

 

 

 

 

 

 

 

NHỚ VỢ

 

Tôi nhớ vợ tôi lắm 
Xin được về hai ngày 
Nhà tôi ở Mường Lay 
Có con sông Nậm Rốm 

Ngày kia tôi sẽ đến 
Lại cầm súng được ngay 
Tôi càng bắn đúng Tây 
Vì tay có hơi vợ 

Cho tôi đi, đừng sợ 
Tôi không chết được đâu 
Vì vợ tôi lúc nào 
Cũng mong chồng mạnh khoẻ 
Cho tôi đi anh nhé 
Về ôm vợ hai đêm 
Vợ tôi nó sẽ khen 
Chồng em nên người giỏi 

Ngày kia tôi về tới 
Được đi đánh cái đồn 
Hay được đi chống càn 
Là thế nào cũng thắng 

Nếu có được trên tặng 
Cho một cái bằng khen 
Tôi sẽ rọc đôi liền 
Gửi cho vợ một nửa.

 

 

 

 

 

 

 

 

EM TẮM

 

Sao anh lại rình

Trộm xem em tắm?

Da của em ngần trắng

Da của ái của êm

Tay của em lấm lem

Tay của than của bụi

Tay của rừng của núi

Tay của đất của nương

Em tắm xong lại sạch

Vẫn ngát thơm hoa rừng

Da của em trắng ngần

Là của anh tất cả

Không phải người xa lạ

Việc gì mà trộm xem

Em tắm suối giữa mường

Tắm trong mối yêu thương

Có anh đang đứng giữ

Chớ để Tây đến mường

 

 

 

 

 

 

 

 

RỪNG TRẮNG HOA BAN 

 

Giữa mùa rừng trắng hoa ban

Hồng leo chín đỏ dưa vàng nương ngô

Vớt rêu hái nấm phơi khô

Sông Đà sửa núi lững lờ trôi xuôi

Địch đến đốt ngày vui

Bắn chìm thuyền độc mộc

Hiếp gái trước mặt người

Nứa nổ loang tiếng khóc

Ông đội trưởng du kích

Hy sinh giữa Đèo Giào

Chúng đâm ông chủ tịch

Treo xác trên cành đào

Còn lại anh đội phó

Mắt sáng như đại đao

Họp dân anh nói rõ:

“ … Quyết giữ vững phong trào

Có Bác Hồ dẫn đầu

Rừng hoa ban lại trắng!...”

Rời bản vào ở lán

Rào các nẻo đường quen

Làm nương nhỏ từng mảng

Lập thêm đoàn du kích các em

Vót nhiều lao, nhiều tên

Nữ cũng tập quân sự

Trăng tạm đợi tiếng khèn

Anh đi từng lán động viên

Mỗi gốc cây quyết thành nơi giết giặc

Biến của rừng thành thức ăn thức mặc

Tre, giang đan áo trấn thủ, dây lưng

Nhũ đá vôi thay phấn, học bình dân

Thiếu muối có than gianh

Đói cơm có măng, mài, củ bớn

Lại mùa hoa ban, mùa khô dưa chín

Địch tập trung càn lớn

Ta chặn đánh suối ngoài

Núi địch đóng ban ngày

Ban đêm ta chiếm lại

Địch đi vòng Huối Chải

Ta giật bẫy đá lăn

Địch lùi xuống Na Ngân

Ta triệt đường nước uống

Khi chúng đi ngựa súng

Lúc về đầy cáng thương

Máu nối giọt trên đường

Đường in câu địch vận

Thắng càn; ngô chóng lớn

Lúa trái vụ chóng xanh

Vui trưa học bình dân

Bông tốt thi với sắn

Anh đội phó chào dân đi họp Đảng

Nắng ấm đường, rừng trắng hoa ban.

                            Châu Mai Sơn tháng 1/1953

 

 

 

 

 

 

THÀNH RỒNG THÀNH HỔ  

  

Con rắn mấy lần lột xác

Con bò tót mấy lần thay lông

Con rắn nay biến thành Rồng

Con bò tót không thành con hổ

Vì con rắn không con gì cưỡi cổ

Vì bò tót không có ai đè lưng

Con người lột xác có một lần

Nhưng đứng lên thành Rồng thành Hổ

Vì con người bị thằng giặc cưỡi cổ

Bị nhà giàu quan lại đè lưng

Bị chẹn hông bịt mắt mấy từng

Bị mất máu, mất mồ hôi bao kiếp

Chắc không riêng gì dân Việt

Cũng không riêng gì người Thái chúng ta

Mới đứng lên lột xác thay da

Để biến thành Rồng thành Hổ

Đã là người dù nước to, nước nhỏ

Tận bên Tây, bên Úc, bên Phi

Da vàng, da đen, da đỏ hay da gì

Đã bị đè lưng cũng đều đứng dậy

Đứng dậy một lần để lột xác thay da

Như cái ngày tháng tám của nước ta

Để khỏe mạnh thành Rồng, thành Hổ

Để cắn hết những đứa nào cưỡi cổ

Để quận nhừ những đứa đè lưng

Nước chúng ta đã là Hổ, là Rồng.

                     Châu Mai Sơn tháng 1/1957

 

 

 

 

 

 

 

EM LÀ CON GÁI CHÂU YÊN

 

Rừng Châu Yên có nhiều cây khế

Suối Châu Yên có lắm tai chua

Có nhiều cái mỏ thật to

Nhưng con gái Châu Yên không chua không chát

Ngọt ngào như tiếng cười câu hát

Giỏi đánh cồng, ham xòe quạt

Thích gội đầu lá sả tóc như rêu

Thích làm nương, đi súc, dệt, thêu

Ghét lắm những người đi làm giặc

Suối Yên Châu chảy nhanh nhiều thác

Nhiều đá ngầm hang thẳm vực sâu

Như bàn tay con gái Yên Châu

Lại mềm hơn cành hóp ngọn lau

Đồ xôi nắm xôi thơm dẻo

Nướng quả ớt thấy mùi thơm đĩa chéo

Đụng vào khung cửi vải thành hoa

Tung nắm tấm thành ra đàn gà

Khua cái chày hóa ra ghạo trắng

Đụng vào cỏ thì cỏ chết nắng

Vuốt lên lúa thì lúa ra bông

Sáng vòng bạc khéo cả ôm chồng

Rừng Châu Yên có nhiều rắn, nhiều ong

Có đười ươi, có nhiều con hổ

Có cả voi đàn, chăn gió, gấu đôi

Nhưng gái Yên Châu hiền như những lá sồi

Lành như con chim, con rúi

Cha mắng sợ run không giám nói

Em trai cãi cũng làm thinh

Chồng ra nương lén lút ngoại tình

Cũng chỉ biết ôm chồng mà khóc

Nhặt quả nui hái rau sắng khó nhọc

Chị em nghèo muốn san sẻ cùng nhau

Gái Yên Châu ấm như bông vải, ngọt như canh rau

Má thơm mùi quả nê, cao gạc

Miệng nên khướu khi hát

Chân nên công lúc xòe

Êm ái đưa tróng ru con ngủ đêm khuya

Thủ thỉ làm lành khi chồng đang giận

Nhưng khi giặc đến giết người Thái Trắng

Thì con gái Yên Châu cũng giỏi bắn

Cũng làm nên cái bẫy, cái chông

Cũng biết pha từng đùm thuốc độc

Thương người Yên Châu thì khóc

Lo việc cho chồng bận đánh nhau

Để thằng Tây kinh cái đất Yên Châu

Để thằng ngụy sợ người con gái

Thằng thổ phỉ không dám quay lại

Yên Châu là đúng Châu Yên

Con gái Yên Châu vẫn đẹp vẫn xinh

Vẫn mềm mại như bông lau cành hóp.

 

                                 Châu Mai Sơn tháng 10/1957

 

 

 

 

 

 

 

TRÊN TRỜI SAO VẪN SÁNG

Nụ cười tan trong tối

Tay run vịn vai chồng

Lách lên nhìn bối rối

Gió thổi mái tranh rung

Trăng mờ soi sườn núi

Lướt nhanh mấy bóng người

Có lẽ phỉ lại tới

Nước mắt chị muốn rơi

Như trăng sao đã tắt

Núi heo hút mênh mông

Nhớ lại mấy tháng trước

Vội ôm chặt vai chồng

Phên tre nom mỏng mảnh

Lo âu xé nát lòng

Tiếng chim khuya lanh lảnh

Lạy ma trời, thoát không?

Thấy chồng như chiếc lá

Giữa xuối lũ ngập tràn 

Tay chị mền yếu quá

Đơn lẻ vẫn dăng dăng

Chó sủa ran đầu bản

Năm cái mũ mến yêu

Trăng sao như rực sáng

Mắt chị sáng hơn nhiều

Rừng ơi đừng quạt gió

Ông trời đừng reo sương

Lạnh lắm – bộ đội đó

Mồm đậu mãi tiếng thương

Cửa vườn hé chị gọi

“ Vào sưởi bộ đội ơi

Nước lam uống đỡ đói”

Bừng ấm áp từng lời

Chân không rừng nửa bước

Câu từ chối ngọt ngào

Chạy theo đưa ống nước

Vòm trời lấp lánh sao

Chị nhìn theo lặng lẽ

Ống nước vẫn ấm tay

Năm bóng ngoặt đường rẽ

Quên trời sương vẫn bay

“ Bộ đội đi tuần đấy”

Hoa ngàn nở trên môi

Ngon lành tiếng chồng gáy

Mộng đẹp suối êm trôi.

                Châu Mai Sơn tháng 01/1957

 

 

 

 

 

NGƯỜI XÁ

 

Que củi tôi là que củi mục

Bọng ong mật là bọng ong ngon

Củi đã mục trôi mãi cũng gãy mòn

Nhưng ong mật để lâu càng sánh

Người Xá ta có hai tay mạnh

Hai chân không biết mỏi đi rừng

Như ong đốt đau nhưng mật ngọt

Không như que củi mục trôi xuôi

Người Xá đen ta chịu khổ mãi rồi

Phải sánh lại như mật ong chín tháng

Hai cái chân đi theo cách mạng

Hai cái tay dùng nỏ bắn kẻ thù

Cũng như việc phát nương trồng ngô lúa.

 

                                        (Anh Nen-Ót kể )

 

 

 

 

 

 

NGƯỜI XÁ DỖ CON

 

Thôi con ơi! Hãy nhịn thèm thịt hoẵng

Bố cũng thèm, cũng đói như con

Sau này ta ăn thịt hoẵng càng ngon

Đạn súng kíp bây giờ mua đắt

Đạn còn nhiều cái súng càng vui

Cái cò kia còn thích liếm tay người

Cái súng nổ ròn bản mường không mất

Ta còn giữ được cái đất

Con hoẵng vẫn là của chúng ta

Để sau này nó càng lớn, càng đẻ ra

Ta bắn về ăn mừng độc lập.

 

                      Châu Mai Sơn tháng 02/1957

 

 

 

 

 

 

 

 

NGƯỜI PUỘC 

 

Ai bảo người Puộc ngu

Ai chê người Puộc nhác

Ai nói láo rằng ta sợ giặc

Người Puộc chỉ nghèo, chỉ đói vì quan

Người Puộc chỉ khổ vì thiếu dao thiếu vải

Người Puộc có nhiều con trai con gái

Có cái tay giỏi bắn, giỏi đan

Bao nhiêu người đến mua đến đổi

Cái mồm không giỏi nói

Nhưng có nhiều con suối nói hộ ta

Váy con gái Puộc không có hoa

Nhưng có hoa trên môi trên mắt

Có cái hoa mọc ở tay ở ngực

Ai muốn thăm mời đến tận đây

Nghe tiếng đàn bằng cật nứa bằng dây

Cái nhà hẹp nhưng rừng rất rộng

Cái bát cái mâm có bẩn

Nhưng ép cơm vừa trắng vừa thơm

Thịt con chuột con nai đầy sàn

Cái lũng đấu tranh ở kín

Thằng Tây đào nát núi cũng chẳng ra

Chặt hết cây rừng không thấy một nhà

Nhưng khi về là gặp ngay du kích

Nuôi bộ đội người Puộc nhiều gạo nhất

Có cụ Hồ người Puộc giỏi từ đây

Từ khi nào người puộc giỏi thế này

Giỏi bằng người Mẹo, giỏi như người Tày

Người Puộc yêu mường ghét giặc

Tay chăm làm lòng yêu cháu thương con

Cúi đau lưng rồi nay phải ngẩng lên

Và ngửng mãi không bao giờ cúi nữa.

                                Châu Mai Sơn tháng 11/1957

 

 

 

 

 

 

 

 

 

TẶNG CÔ GÁI KHẠ

 

Cha chửi hỏi em đi đâu

Mà ngày nào đo rẫy cũng về sau

Em nghĩ bị oan không dám nói

Mẹ hỏi nhỏ chị em đi cùng

Em vẫn len đi luồn rừng sâu

Nắm xôi, gói muối nuôi anh khỏe

Dân bản hỏi miệng em không hé

Em vẫn đi dù Phìa Tạo nghi em

Em lên đây lót thêm lá anh nằm

Nấu nước sôi rửa lại vết thương

Nói anh nghe câu chuyện bản mường

Lợp lại lều kẻo lá khô mưa giọt

Nhìn má anh sương cao xanh dợt

Mắt trũng sâu, tóc rậm em thương

Em đem kim chỉ vá chiếc áo rách lưng

Anh nhìn em có cái gì lo ngại

Em vá không đẹp bằng người Thái

Nhưng cũng biết nên lành

Đêm khuya anh có nghe em khóc

Nghĩ đến ma, đến hổ lại thương anh

Khi mặt trời lấp sau ngọn núi

Mẹ cha hỏi em lại nói dối

Lên với anh chắc anh đợi anh trông

Mỗi lần về nước mắt lại thành dòng

Anh khỏi rồi đêm nay về đơn vị

Anh không nghe em bảo cứ về

Vết thương khỏi rồi nhưng còn yếu

Tay cầm tay nước mắt cứ đầm đìa

Anh đi khi nào về đây nhé

Chóng về giải phóng quê em

Chớ có quên cái lòng người Khạ

Đang sống như đêm tối không đèn

Khi nào về giải phóng quê em

Anh đến nhà gặp bố mẹ em

Nhớ kể cái chuyện này anh nhé

Cho mọi người cười, bố mẹ sẽ khen em.

                    Châu Mai Sơn tháng 11/1957

 

 

 

 

 

MƯỜNG BẢN CHƯA YÊN

 

Em khoe tóc em xanh

Chưa xanh bằng rêu suối

Em khoe mắt em đẹp

Chưa đẹp bằng hoa lim

Em khoe má em đỏ

Chưa đỏ bằng mặt trời

Em khoe môi em tươi

Chưa tươi bằng nương sắn

Em khoe da em trắng

Chưa trắng bằng búp bông

Em khoe em yêu chồng

Chưa yêu bằng mường bản

Em khoe em can đảm

Chưa bằng đời cha ông.

Anh yêu em cạn lòng

Chưa bằng yêu rừng núi

Anh không quen nói dối

Nhiều khi yêu em hơn

Nhưng mường bản chưa yên

Nhà ta còn sợ cháy

Giặc muốn giết ân ái

Muốn cướp lợn, cướp trâu

Em đẹp có yêu đâu

Em tươi không thắng giặc

Tai muốn nghe em hát

Nhưng còn phải tuần tra

Để giữ yên bản mường.

                    Châu Mai Sơn tháng 02/1957.

 

 

 

 

 

 

NHỚ ANH TÂY TIẾN 

 

Có anh bộ đội Tây Tiến

Đi rồi dân nhớ dân thương

Giúp nhau ngón tay chỉ đường

Chia nhau cái kim dúm muối

Nhường nhau miếng sắn miếng măng

Đường kim vá áo khăn thêu

Vì dân rơi xương đổ máu

Rét nứt chân vẫn chiến đấu

Xa cha xa mẹ miền xuôi

Đói vẫn hát, rách vẫn cười

Yêu núi rừng như đồng ruộng

Yêu bản mường chẳng khác quê hương

Mang súng bom đi giữ tình thương

Thủ thỉ bên tai du kích

Những lời tự tin giết địch

Nên người anh khuyên phụ nữ trồng bôi

Tiếng cười vang hoa nở trong lòng

Mỗi khi nghe bom nổ

Tây lại chôn mươi thằng ở đó

Cho mơ sai quả, cho lúa vàng nương

Mến nhau quen hơi bén tiếng

Đi rồi dân nhớ dân thương

            (Chị A - Boọng người Lự kể lại)

 

 

 

 

 

 

 

RỪNG THIÊNG 

 

Bố mẹ bảo cái rừng này thiêng

Người ta nói cái rừng này thiêng

Có nhiều ma, nhiều đom đóm

Đêm đi qua ai cũng nói rừng thiêng

Nhiều lần em cũng thấy nó thiêng

Nghĩ đến thấy lòng sờ sợ

Anh hẹn em đêm nay đến đó

Yêu anh em thấy nó chẳng thiêng.

                    Châu Mai Sơn tháng 02/1957

 

 

 

 

 

 

CHIẾN THẮNG

 

Đêm qua nghe súng nổ nhiều

Đứng trên núi lòng lo tôi đếm

Súng nào của bộ đội, súng nào của Tây

Nghe tiếng nổ to thấy đồn bốt cháy

Bộ đội thắng rồi vào đốt lửa nướng xôi

Sao hôm nay tôi ghét ông trời

Gà gáy mà còn lâu sáng thế

Chờ lâu lòng vui tôi lại kể

Cho bà con trong bản cùng nghe

Ngày xưa có ông cụ lùng chuya

Họp con trai lại tập võ

Dùng bẫy nỏ, gậy tre

Đánh tan bọn giặc hay về bắt gái

Người Giáo ta còn nhớ mãi

Người Mẹo cũng phải khen ông

Đem tôn ông làm cha mẹ cả vùng

Nhưng ông không nhận chỉ muốn làm dân

Tên Lùng Chuya là ngọn đuốc sáng ngần

Soi sáng đầu óc gái trai người Giáo

Bây giờ người Giáo lại đánh Tây

Hơi thở Lùng Chuya làm đỏ thêm dòng máu

Muốn như làm sáng cả óc người Kinh

Vì Lùng Chuya của cả nước chúng mình

Bà con cười vui, trời đã sáng

Người Thái, người Mèo, người Mán

Người Puộc, người Xá, người Lự xuống núi rồi

Kìa áo xanh, áo đỏnhư hoa khắp đồi

Ta cũng đi nhanh cho kịp

Gái trai lấy áo đẹp mặc vào

Quấn cái khăn cho thật tròn,thật lớn

Đeo những cái vòng thật trắng

Lên giây đàn chéo cho căng

Đem theo cả rượu mấy cóong

Xuống ta vui với các anh bộ đội

Chắc bộ đội có nhiều người Giáo ở đây

Tất cả của người Việt Nam ta

Vì trong máu cùng có hơi thở Lùng Chuya

Bà con ta nhìn kìa

Cái đồn tan tành thằng Tây ngồi cúi mặt

Các anh bộ đội đến đón ta

                          (Cụ Chi Voong kể )

 

 

 

 

 

 

TẶNG ANH CÁN BỘ 

 

Hỡi anh cán bộ người Kinh

Anh bỏ gia đình lên mãi tận trên đây

Anh đi có nhớ mẹ thầy

Nhớ vợ đêm ngày vẫn chờ đợi trông mong

Anh đi có nhớ ruộng đồng

Đem cả cái lòng lên sống với chúng tôi

Người mường lại được thêm người

Cây lá cũng cười chòm bản nhận đàn con

Anh lên cho tiếng học ròn

Bông lúa thêm tròn củ sắn cũng thêm to

Anh lên cho thằng Pháp mau thua

Phụ nữ gặt mùa du kích chặn giết Tây

Cụ Hồ cái bụng tốt thay

Đưa đến chòm này người cán bộ giỏi giang

Chòm tôi thắng tám lượt càn

Dụ được lính hàng, tránh được tàu bay

Thêm thân với người Xá, người Tày

Trai gái nên tài làm cán bộ như anh

Cụ Hồ đưa giấy đòi anh

Chòm bản phải đành đưa lại đứa con

Người Mường nay đã giỏi hơn

Đấu tranh vững vàng giữa địch hậu Sơn La

Anh về thưa với mẹ cha

Người Mường Sông Đà đã giỏi hơn xưa.

                             ( Bà Nái kể )

 

 

 

  

 

 

MƯỜI TAY 

        

         Bồng bồng, con ngủ con ơi!

Dưới sông cá lội, trên trời chim bay

Ước gì mẹ có mười tay

Tay kia bắt cá, tay này bắn chim

Một tay chuốt chỉ luồn kim

Một tay làm ruộng, tay tìm hái rau

Một tay ôm ấp con đau

Một tay vay gạo, tay vào cúng ma

Một tay khung vải guồng sa

Một tay bếp nước cửa nhà nắng mưa

Một tay chẻ củi, muối dưa

Còn tay van lạy, bẩm thưa đỡ đòn

Tay nào để giữ lấy con?

Tay lau nước mắt, mẹ còn thiếu tay

Bồng bồng, con ngủ cho say

Dưới sông cá lội, chim bay trên trời .....

                                        Tháng 12/1952

 

 

 

 

 

MÍA

        Tặng: Chắt

 

Phải chăng yêu mía Vĩnh Tường

Mà anh về, ấm mái trường nơi đây

Sông hồng ngọt nước, ngọt cây

Bãi dài xanh mướt, đất dày phù sa.

 

Yêu rồi, đất hóa quê ta

Đọt xanh mía nhọn thành hoa trắng trời

Khi em vun luống mồ hôi

Tưởng em tưới mật cho đời, cho anh.

 

 

Mía xanh tít tắp mía xanh

Lá vung gươm giữ yên lành quê ta

Sông dâng, mía ngấm phù sa

Em chăm bóc lá phơi da mía hồng

 

 

Có em, mía lịm mật ong

Cốc đường thắng trận ngọt lòng quê xa.

Nhìn em chất mía lên phà

Tưởng em xếp súng gửi ra chiến trường.

 

 

 

 

 

THĂM QUÊ TRẦN NGUYÊN HÃN

 

Sông Lô giữa mùa lụt

Nước mở rộng đôi bờ

Sơn Đông đây rồi nhỉ

Như vọng từ xa xưa

Tướng quân Trần Nguyên Hãn

Đi bán dầu về khuya…

 

 

Vẫn con đường sỏi đá

Mùa mít thơm tiếng ong

Thấy cả thành Tam Giang

Tướng quân vừa đánh chiếm

Bờm ngựa tung cờ vàng

Hướng Lam Sơn thẳng tiến

Hương mít quê bay cùng

Khi đánh chiếm Tân Bình

Sóng biển reo đất mới

Gió Đèo Ngang ca ngợi

Mây Hải Vân kết hoa

Tướng quân thả chim thiếp

Thư về thăm mẹ già

Có phải chim đang hót

Cạnh bệ thờ cây đa.

 

 

Chỗ này xưa tướng quân

Hẳn là nơi luyện võ

Nên ổi toàn ổi đỏ

 Và hàng dừa thẳng băng

Khi vây hãm Đông Quan

Ghé vào thăm Sơn Đông

Trước ngày lên Chi Lăng.

Quân về đây tập luyện

Bãi cuội còn kể chuyện

Dây thìm bìm lắng nghe.

 

Non tơ những búp chè

Nơi tướng quân đọc sách

Hẳn chè quê bảo cách

Tướng quân giết Liễu Thăng.

 

Sông Lô lụt réo vang

Tiếng gọi đò văng vẳng

Tưởng tiếng Trần Nguyên Hãn

Gọi đời giữa đêm xưa…

 

Đến nay đời mới thưa

Sơn Đông ơi! Ngói đỏ

Hương mít thơm trong gió

Thưa tướng quân: Sáng rồi.

 

 

 

 

 

TÌNH CA 

 

Vợ thì dại con còn nhỏ quá

Đời đã hát được bao lăm

Một đoạn tình ca nửa ánh trăng rằm

Còn thì toàn là hành khúc

Sông thì toàn bên trong, bên đục

Đất thì toàn những thụt, những trơn

Nên nói chuyện với con

Như tâm tình bè bạn

Là tình ca trong sáng

Ru mình nhịp võng trưa

Và giọng hò thuyền nước sông xưa

Đã chảy về nơi ta bắt đầu viết.

 

 

 

 

 

ĐƯỜNG THẲNG SONG SONG                                                      

 

Giảng bài “ Đường thẳng song song”

Nghĩ đến cuộc đời tiến thẳng

Tay thước dài, tay phấn trắng

Muốn đưa đường kẻ khôn cùng.

Đây đường đê thẳng sông Hồng

Ca – nô kéo phà đầy chuối

Cầu dài soi màu sơn mới

Những đăng cá bột dập dềnh.

Song song đường sắt vươn mình

Trên những hố bom sâu hoáy

Tàu Đất tổ chở thương binh

Tưởng tàu chẳng cần đầu máy.

Đường thẳng lò cao cao mãi

Lâm Thao khói trắng mây hồng

Suýp – pe gọi đồng lúa mẩy

Càng thơm ngọt bưởi Đoan Hùng.

Đường băng thẳng tắp song song

Lao vút tầng không phản lực

Tên lửa thẳng lao vào giặc

Giữ quê thẳng những bờ vùng.

Trường Sơn thẳng những đường mòn

Chiến công song song tiếp nối

Càng gian khổ càng xốc tới

Đường đi từ những trái tim.

Kẻ đi em, viết đi em

Đường thẳng trong lòng đất nước

Những cần song song nhớ trước

Là đường độc lập tự do.

 

 

 

 

 

 

NGUYỆT VIÊN  

            Tặng Kiên

 

 

Sáng nay anh đưa em về sông Mã

Về Nguyệt Viên – Thanh Hóa quê ta

Có chợ Hôm, có đường đất cát pha

Thăm bến nước, thăm mẹ già lay lắt

Nhà ta đấy, em ơi đừng ngơ ngác

Đây xóm Ba bát ngát rặng dừa

Đất này em hỡi ngày xưa

Nứa reo nhạc sáng, bánh trưa reo vần

Xanh cây khế ngọt đầu sân

Tường hoa sắc nét, ngói ngân gió chiều

Gỗ nằm chân dậu nối theo

Cong cong đòn gánh, reo reo học trò

Nhưng thôi, tựa con đò

Chuyến qua rồi đến chuyến khác

Vẫn sông xưa, vẫn cánh buồm nâu bạc

Nhưng đã thay dòng nước biếc lẫn người qua

Chỉ biết nay em đến quê ta

Xơ xác ấy khoanh buồn lên mắt trẻ

Đấy, nhà mẹ!

Đấy, quê ta!

Anh biết em từng mát mắt phù sa

Đàn cò trắng tinh khôi vỗ cánh

Đọt mía cờ ngô rung tiếng cười lanh lảnh

Mộng ngân tròn như tre múa đêm trăng

Anh biết em từng nhìn núi dăng dăng

Xuyên hy vọng, thủng màu xanh, tím đá

Vượt những võng, đèo sương che kín lá

Để thấy quê chồng ấm tuổi phân vân

Quê chồng chắc cũng mùa xuân

Cũng thơm bờ dậu cúc tần ngõ đi

Nắng mừng đậu sáng hàng khuya

Sửa nhanh cặp tóc trước khi vào nhà

Một cây rơm, mấy con gà

Bên cầu nước rửa, vườn cà chen rau

Anh biết em như trầu biết lòng cau

Mộng đôn hậu thủy chung thời con gái

Thời con gái!

Trong ước muốn có bao giờ sai trái

Đi làm dâu ai chả ước chân thành

Miễn mẹ thương, cha quý, mẹ lành

Mùi cơm tẻ sớm chiều lên khói bếp

Chỉ vậy thôi cũng đủ rồi mơ ước

Mà ngày nào dấu hỏi cũng chân mây

Ừ, em đã về đây

Nguyệt Viên ơi! đón người làng ta nhé

Nguyệt Viên ơi, giới thiệu em với mẹ

Có cần không thủ tục ấy quê hương?

Nguyệt Viên ơi! Hãy nhìn rộng bốn phương

Nông Cống lúa vàng, Nga Sơn đồng cói

Những vùng đất húc lên từ nghèo đói

Để giới thiệu em với mảnh đất này

Quê ta, em nhỉ, hôm nay

Dền gai, cà đắng mọc đầy thềm xưa

Mái nhà không để che mưa

Phên nhà mắt cáo, rào thưa còn đầy

Cửa không cần khóa, cần dây

Ngõ vào mất lối, xóm dài bơ vơ

Em đăm chiêu cúi lặng đặt con thơ

Ta ngồi im chào thầy ngoài Cồn Mến

Trăm lạy thầy, con dâu thầy đã đến

Đến quê thầy với đàn cháu xinh ngoan

Trăm lạy thầy, người cha đã cả gan

Đem lòng mình pha xốp từng đất cứng

Thác sông Mã có còn gầm sóng giận

Bão điền Lư có còn rít đêm dài

Đường Rừng Thông có còn ngập chông gai

 Ngã ba Bông xoáy nước còn quay tít?

Em! Đời thầy em có biết

Sống trung thành, chết lặng im

Cho con ta ríu rít tiếng chim

Ăn cá bơn, uống nước dừa làng Ngoạt

Nhà ta đó, em ơi! Đừng ngơ ngác

Đừng nói với con,

                            Nói với bốn phương trời

Nói với những luống cày đang cày bổ vào đời

Bắt sỏi đá thành đỗ tương, ngô lạc

Tiếng chiêng dũa mòn núi đá cao như tạc

Đêm cót gai sợi quấn chặt tuổi xuân

Đấy cũng quê ta, vì đấy cũng người thân

Người Nguyệt Viên đang bơi trong bể khổ

Em hãy nói với đồng chiêm, nước vỗ

Gợn sóng ao bèo, bè rau muống bồng bềnh

Đang chắt chiu từng hàng lúa, con tôm

Nhà tranh đất, mảnh sân vuông trung cổ

Đấy cũng quê ta, người Nguyệt Viên đến ở

Đem tình thương, níu toạc long đong

Nói đi em, nói với quê chồng

Như sông Mã nói với em khi tắm

Em khen sông nước trong mát lắm

Có thấy chăng mùi nước mắt mồ hôi

Đã chảy tuôn hàng chục năm trời

Đang kết lại thành ngân hà, vết đá

Của Sông Chuối, Sông Chu, Sông Lâm Hóa

Chảy về đây cùng Sông Lệ xóm Ba

Đói khổ hóa thành chai sẹo quê ta

Sông có mát là sông trong lòng mẹ

Trắng sữa, ngọt cam, bùi hạt giẻ

Còn nước sông đời mặn đáy em ơi!

Nói đi em, nói với mẹ hết lời

Một người mẹ, chuyện vọng phu hóa thành hẹp nghĩa

Được làm con của mẹ

Có hạnh phúc không em

Người mẹ Nguyệt Viên

Mòn trăm đòn gánh

Em có nhìn sao quê ta lấp lánh

Đấy chính là mắt mẹ chiếu trên sông

Mà nỗi lòng đang trang trải mênh mông

Chân em bước giữa quê chồng

Có in dấu lại trong lòng họ đương

Đường đê pha cát quê hương

Có in chân của người thương lòng mình

Nguyệt Viên! ơi Nghĩa Ơi tình

 Qua đò mẹ tiễn tạc hình bên sông

Em về thăm vội quê chồng

Sau này biết có còn không lại về.

                            Hoằng Quang - Hoằng Hóa - Thanh Hóa, Hè 1964

 

 

 


 

 

  DƯƠNG KIỀU MINH

 

      - Họ và tên khai sinh: Kiều Văn Minh

- Bút danh: Dương Kiều Minh

- Sinh năm 1960,

- Mất năm 2012

- Quê quán: Nam Cường, Tam Đồng, Mê Linh, Hà Nội

- Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam

 

- Tác phẩm chính đã xuất bản:

1. Thơ

* Củi lửa (NXB Tác phẩm mới – Hội Nhà văn, 1989)

* Dâng mẹ (NXB Văn hóa, 1990)

* Những thời đại thanh xuân (NXB Văn học, 1991)

* Ngày xuống núi (NXB Văn học, 1995)

* Tôi ngắm mãi những ngày thu tận (NXB Hội Nhà văn, 2008)

* Thơ Dương Kiều Minh (NXB Hội Nhà văn, 2011)

2. Tùy đàm văn chương:

* Tìm hiểu người xưa qua sách cổ (NXB Lao động, 2006)

* Những viên ngọc sáng (NXB Hội Nhà văn, 2008).

- Giải thưởng văn học:

Năm 2012, sau khi nhà thơ mất, tuyển Thơ Dương Kiều Minh (2011) đã nhận được giải thưởng thành tựu thơ của Hội Nhà văn Hà Nội ghi nhận những nỗ lực bền bỉ của ông trong diễn trình đổi mới thơ Việt Nam đương đại.

- Suy nghĩ về nghề văn:

 Nhà thơ cũng vậy, số phận và địa khí sinh ra nhà thơ. Nhà thơ hội thấu tinh khí trời đất và thời cuộc rồi tạo tác ra sản vật, đó là thơ. Mỗi bài thơ ra đời bỏ lại phía sau mọi vật cản. Mỗi bài thơ là việc của người, nhưng là vật của trời. Dù nói gì thì nói, không ai chối bỏ được thời đại của mình.

 

 

 

A- TRONG KÝ ỨC BẠN  BÈ 

 

 

NHÀ THƠ DƯƠNG KIỀU MINH 

   VÀ “NHỮNG MÙA THU ÁM ẢNH TRONG CÕI LỬNG LƠ” 

  Đặng Thân

          Tôi đã đọc Dương Kiều Minh theo cái cách mà tôi gọi là “random access”.[*] Bài thơ đầu tiên của ông đến với tôi có tên “Không đề”. Cái duyên đầu đã là “không”. Theo tôi, “không” chính là mẹ đẻ của thơ.

Cú làm quen xẹt như sao băng, vừa kịp “sinh” sao đã đành “lão”, “bệnh, “tử”:

Qua hai cơn mưa đầy ắp vị thu. Đêm nào hè phố hoa bàng rơi trắng tóc, đêm này đã những trái bàng chín rụng đầy

là câu đầu phần 1 của bài thơ tràn ngập những những “thu”. Sang phần 2 lại

chợt dừng lại ở mùa thu những trái bàng chín vàng rơi trên hè phố vắng

“Thu” và “bàng” – những tín hiệu tâm linh nào đang phát sáng đấy? Chúng ta nghe thấy âm thanh và ánh sáng của chiều. Đó cũng là biểu tượng của tuổi học trò, những mùa thu của khai giảng, những tán bàng của sân trường. Mộng về với tuổi thơ. Mà hỡi ơi, những trái bàng đã chín vàng, mà sao chỉ toàn rơi với rụng! Tuổi thơ ươm những mầm thơ đã chín. Chín mà chi! Khi

Dòng đời đục mãi, lòng mình đục mãi. Biết bao giờ lắng? bao giờ trong?

Khi mà

Chúng ta đang sống, hay chúng ta đang chết?

Sao tránh khỏi những lúc

ngửa mặt than đời quá chật

Nhưng còn đấy lòng tin của sự tinh tế và nhậy cảm:

Làn gió thu mỏng tang lướt qua làm mọi vật trên thế gian biến đổi

Dẫu lòng tin ấy thật ngây thơ như những nụ cười tươi rói trên sân trường kia, vâng, đó là những nụ cười của thiên thần, vì chúng có cánh, để mà bay lên, để “thượng thanh khí”:

Tiếng chim ngân vang tiếng vọng dội từ kiếp trước từng luồng ánh sáng trong suốt hắt từ tháp mái

Cõi lòng trống trải tuột dây nhè nhẹ chạm vùng gió nắng

Có sự lắng nghe nào sâu xa như thế nữa không? Nếu “thần” không “trong”, “khí” không “thanh”? “Cõi lòng trống trải tuột dây”, một con diều cất cánh từ tuổi thơ đầy nắng đã bay thật cao.

Đến đây, tôi đã muốn thét thật to gọi thơ Dương Kiều Minh là một cánh diều trong nắng chiều thu.

Sau đó, tôi được đọc một số bài trong tập Củi lửa. Nơi đây, những ý thơ khủng khiếp đã được gieo xuống.

Ai cũng bảo đây là tập thơ đầu, mà ai biết đấy có phải là tập thơ cuối. Bởi “củi lửa” hàm ý những trở về, và đây, như ngay trong bài “Củi lửa”:

Mẹ già nua như những buổi chiều

Có níu kéo gì ở đây không khi có người đòi đã “già nua” thì phải về với “buổi tối”. Tôi thì nghĩ nếu “buổi tối” thì ánh dương đã tắt, là cái chết đã ngự trị. “Mẹ” vẫn còn “chiều” như vào đầu đông, để đàn con lặng nhớ thầm những ngày xuân, đêm hè, với những

ao xưa, mảnh vườn nhỏ ngày xưa

bậc thềm dàn dụa trăng mỗi tối

Đến đây, vẫn thấy trong thơ Dương Kiều Minh một vẻ đẹp thanh khiết, như từng. Nó vẫn thanh khiết trong những khung cảnh mới, đẹp như tranh (kiểu trường phái “Fauvism”), như trong bài “Thành phố buổi đêm”:

Chiếc ô tô màu xanh lá cây

những ngôi nhà màu xanh lá cây

ô cửa chớp hình hoa loa kèn đỏ

Một cái đẹp rực mà nền. Nhưng cũng là câu thơ hiếm, vì hiếm người đưa được những thứ như là “ô tô” vào thơ. Nhà thơ vẫn sống và thở cùng với cuộc-sống-đang-là.

Có hai bài thơ trong tập thơ Củi lửa này làm tôi thao thức mãi. Bài “Hy vọng” và bài “Cánh đồng thơ ấu”. Đọc“Hy vọng” tôi đã nghĩ rất lung trước đoạn này:

Ở mãi âm thanh ngày nao nức

Con chạy trên đồng lúa rộ vàng

Mạng nhện giăng giăng bụi hoa cúc dại

Mặt trời lung linh khu vườn mẹ

Bức tường ánh sáng...

Điều gì dào lên trong những hạt li ti.

Đoạn thơ ấy làm tôi nghĩ đến những người đã trải qua “kinh nghiệm cận tử” (NDE – Near Death Experience). Những người đã từng “hồn lìa khỏi xác” ấy thường thấy linh hồn mình bay lên trong những con đường ống đầy ánh sáng diệu kỳ, rồi họ được gặp linh hồn của những người thân đã khuất, nhất là cha mẹ mình, trong những khu vườn kỳ lạ và tuyệt đẹp… Ý thơ “dào lên trong những hạt li ti” càng làm rõ nét cái cảnh giới ấy. Đây là một ý thơ khủng khiếp, nó phản ánh được cả “thế giới hạt” lẫn “thế giới sóng” của vật chất. Cái tên “hy vọng” càng làm nên một cuộc “cận tử” trác tuyệt. Càng là nói lên cái công năng đặc cách của Thơ:

– Thơ có thể xuyên suốt mọi cõi,

– Thơ có thể nói được mọi điều,

– Thơ có thể đưa ta đi khắp 3000 thế giới,

– Thơ có thể đưa ta về bên Mẹ bất cứ khi nào,

– Thơ rất hư mà rất thực,

– Thơ là cái vô cùng lớn và vô cùng bé…

Bài “Cánh đồng thơ ấu” thế này:

Ở giữa cánh đồng của mẹ

trong chiếc nôi màu thiên thanh

Mơ mơ cánh đồng thơ ấu

không không không cả bóng n[g]ười

không bước chân ngày ngây dại

cậu bé bây giờ về nơi?

Em đây, em cười, thôn nữ

chào ta như thể quen rồi

chốn này đâu là ta nữa

cánh đồng cậu bé ấy thôi!

Kia đôi nhân tình gần khuất

kia chiếc cầu cong thảnh thơi

kia những hàng cây thân trắng

kia toà nhà cổ im lời

Đấy cánh đồng ngày thơ ấu

ta chỉ như là khách thôi

tất cả kia là cậu bé

chìm trong mờ ảo sắc trời

Tại sao một bài thơ như thế này lại chưa từng được nhắc đến trong các thi tuyển? Nếu bài thơ này không được đưa vào sách giáo khoa thì sẽ thiệt thòi lắm cho các em học sinh. Nếu con em chúng ta không đọc, không cảm gì được về bài thơ này thì, phải chăng là đã đến lúc chúng ta nên tuyên bố: Thơ đã chết!

Cánh đồng ấy là thực hay trong mơ? Ấy cánh đồng hay chiếc nôi? Cánh đồng nằm trong nôi hay giữa đất trời? Còn có trí tưởng tượng nào bao la hơn thế?

“Cậu bé bây giờ về nơi?” gợi lên bao nhiêu kỷ niệm trong bạn? Những “em”, những “đôi nhân tình”, những “chiếc cầu”, những “hàng cây”, những “tòa nhà cổ” là cõi thực hay cõi tiên? Hay cõi hoang tưởng nào? Có ai ở đây còn nhớ tưởng Hoàng Cầm “Em đừng lớn nữa Chị đừng đi”??[1]

Biết bao nhiêu ẩn ức? Cả một dòng tiềm thức như một ngọn thác khổng lồ đổ ập xuống. Mà không làm ta chết đuối. Mà làm chúng ta mơ, chúng ta bay, chúng ta ngây ngất, chúng ta nhức nhối… trong cõi nhớ-về.

Lại cả một đoạn kết hiếm hoi lắm trong thi ca Việt. Cả một không gian lập thể. Một không gian “n chiều”. Tất cả quá khứ và hiện tại và cả con người cùng linh hồn của nó hiện ra cùng một lúc trong những chiều không gian khác nhau mà lại cùng nhau. Nhìn thấy đấy mà không thể nào với [tay] tới!

Một bài thơ sánh cùng thế giới ở tất cả các chiều: ảo, vọng, thực, hư, tâm, trí, tưởng…

Tôi còn thấy trong tập thơ ấy mấy câu thơ lục bát hiếm hoi của Dương Kiều Minh, ở bài “Trong mưa”. Không thấy ông dấn thân ở thể loại này, nhưng mấy câu đây thì quả là “khủng”:

Trong mưa có một ngôi đền

mưa từng ngón buông mềm mái tây

và mưa từng ngón ngón gày

len len run rẩy bàn tay gượng gàng

Với tôi, làm thơ lục bát cũng như thể viết sex. Viết thì dễ nhưng mà để cho thậm hay (mấy câu trên là một ví dụ) thì là việc của đại văn hào.[2]

Thưa quý vị, tôi mới viết đến đây thì sét đã đánh ngang. Dương Kiều Minh đã rời trần thế lúc 11 giờ 8 phút, ngày 28 tháng 3 năm 2012. Ung thư phổi.

Từ đây, tôi đã nghẹn lời.

Mặc dù tôi đã định viết rất nhiều nữa, nhưng không hiểu sao, cho đến tận hôm nay, tôi như không thể nào viết tiếp được nữa. Người đã đi rồi, mọi câu chữ sao cứ như vô duyên; sao cứ như ném vào mặt người viết một dấu chấm hết như một búng máu lớn.

Tôi đã nghẹn lời… dù

Tôi đã định viết về “Về đi, chú dế nhỏ” lạc vào

Tai ách trần gian, kiếp nạn trần gian!

Dế ơi, ngươi có biết

Có người đã nghe thấy

Mẹ ngươi đã khản tiếng gọi ngươi giữa trời sương phủ

Ngươi có biết người có thể nói chuyện được với côn trùng cây cỏ là người có trực giác vô cùng linh mẫn

Thế gian này là hiếm hoi

Tôi đã định viết về “Hành trình”

Ngay từ cách đây 7 năm thi sỹ đã linh

Ôi, đường dài

ngày sắp hết

Cuộc đời luôn luôn đang ở trên đường, từng số phận lần lượt dừng lại mãi mãi bên vệ cỏ xa xăm nào đó.

Những chuyến đi dù xa đến mấy, rồi sẽ tìm một con đường riêng để trở về.

“Trở về”, cũng là đường của Đại Đạo

Là đích đến

của mọi mọi hành trình

Tôi đã định viết về “Những ngôi nhà trôi trong sương sớm”

Nhìn thấy nhà trôi thì chỉ có ánh mắt của linh hồn

Đang dõi cuộc đời từ đỉnh những đám mây

Quả nhiên

Có tiếng người ghé tai tôi nói khẽ:

“Cầu chúc những linh hồn về cõi thiên thu”

Tôi đã định viết về khoảnh khắc rợn người “Liêu Trai của Liêu Trai” khi đọc “Tưởng nhớ một nhà thơ”

Lúc hồn gặp hồn

Băn khoăn

Nhà thơ và cuộc đời - cái gì là thực? Cái gì là ảo?

Choàng tỉnh,

một làn khí nhẹ lướt qua rặng trúc rồi bốc vút lên bầu trời cuối năm!

Tôi đã định viết hẳn một bài về “thơ độc thoại nội tâm”/ “thơ nhật ký”/ “thơ dòng tâm thức” (mấy cái “thuật ngữ” tôi vừa chợt nghĩ ra) của Dương Kiều Minh

Khi đọc “Cha ơi, ngày tháng này làm con phiền lòng”

Rồi đọc

“Thu ẩm”

“Núi đồi và hoa mận trắng”

“Chiều xuống rồi”

“Ghi trong cơn dịch cuối năm Đinh Hợi”

“Khúc tưởng niệm”

“Những cuộc tiễn đưa”…

Và tôi nhận thấy

Có thể nói “dòng tâm thức” – đó là con đường thơ của Dương Kiều Minh

Càng về cuối càng rõ

Khởi thủy là “cha”

Cha ơi, ngày tháng này làm con phiền lòng. Ngày giỗ Cha vào tiết cơm mới, con ưu tư như đang đi trong ngày cuối năm. Từ lâu con thấy gánh nặng cuộc đời đè lên đôi vai bé nhỏ. Nhiều khi con tưởng quỵ xuống rồi gắng gượng đi tiếp. Nhiều khi con tưởng gục ngã - đường đời xa ngái cha ạ - đường đời thăm thẳm hút xa. Con buồn, trơ trọi, ngày tháng làm con phiền lòng.

Đã đem đến những tiên cảm

Con muốn thoát vào trong bầu trời, hàng ngàn sợi dây vô hình móc con trở lại. Trái tim con yếu đuối, gương mặt con già nua trước tuổi. Con cứ ngắm những chiếc xe màu đỏ dừng lại dưới chân đồi – một cuộc tiễn đưa – một viễn cảnh ngập tràn âm thanh và ánh sáng.[3]

Những tiên cảm lồng trong không thời gian mặc định: “thu”

Từ “thu ẩm”

Hơi lạnh đệm thu nửa đêm giật giấc, cảm phiền đời người dằng dặc và thoáng chốc

Dằng dặc và thoáng chốc

Những trái bàng chín vàng lặng lẽ rơi trước cửa…[4]

Đến “thu xao xác”

Cơn giông thu xao xác. Hơi lạnh đến sớm nhè nhẹ loang theo những luồng gió mang theo hơi mưa ngập tràn khắp ngả.

Rồi một ngày cuối thu ta trở về đã những nấm mộ nhỏ nhoi lần lượt lẫn trong màu lúa chín.

Cơn giông thu xao xác cuối chiều những quả đồi nhoà dần lẫn vào mưa gió lẫn vào sương khói dâng lên mù mịt.[5]

“Thu khô”

Ở một mùa thu lá phi lao khô phủ kín những bờ cây[6]

Rồi “thu sương khói”

Rồi lại “chiều thu”

Bạn hoảng hốt cái chết đến bất thình lình. Ôi sống - chết, ai cầm được bản mệnh mình trong lòng bàn tay?

Cuối buổi chiều thu tôi thấy mình rơi hẫng vào một không gian mơ hồ theo những luồng khí xô đẩy vô định.[7]

Để níu kéo

Để day dứt

Trong tiếng thơ cuối

Tôi ngắm mãi những ngày thu tận[8]

Mà vẫn để lại “Những đoạn thơ không đầu, bỏ dở”

“Người thơ đường thơ thu” ấy có lận đận

Chỉ biết

Người chưa kịp đến với “mùa đông”

Thưa

Tôi thực sự đã nghẹn lời.

Đ.T

 

___________________

[*] Về cách tiếp cận văn bản kiểu “random access” tôi đã nêu ra lần đầu trong bài “Đoàn tàu ‘Thống Nhất’ (hay là ‘quân tử dĩ hậu đức tải vật’)” viết về nhà lý luận phê bình Đỗ Lai Thúy và cuốn Phê bình văn học, con vật lưỡng thê ấy (Tư tưởng phê bình văn học Việt Nam, một cái nhìn lịch sử) của ông do NXB Hội Nhà văn ấn hành năm 2011.

[1] Hoàng Cầm (1922–2010), “Cây tam cúc”.

[2] “Những bậc thánh của lục bát” không nhiều, đời cho đến nay chỉ có thể ghi nhận những cái tên của Nguyễn Du, Nguyễn Bính, Bàn Tải Cân. Tôi cũng đang có dự định viết về nhà thơ Bàn Tải Cân này, với một bài có cái tên “Á thánh của 68”.

[3] Dương Kiều Minh, “Cha ơi, ngày tháng này làm con phiền lòng”.

[4] Dương Kiều Minh, “Thu ẩm”.

[5] Dương Kiều Minh, “Khúc tưởng niệm”.

[6] Nt.

[7] Dương Kiều Minh, “Những Cuộc tiễn đưa”.

[8] Tên tập thơ cuối cùng của Dương Kiều Minh.

 

  

 

LỜI BÌNH CỦA MAI VĂN PHẤN

Một sớm vắng

ùa lên khói bếp

về đây củi lửa ngày xưa... 

                                             (Dương Kiều Minh) 

Vừa giấc mơ dịu dàng đậu xuống”, tên bài thơ thứ 240 xếp cuối cùng trong tập sách “Thơ Dương Kiều Minh (Nxb. Hội Nhà văn, 2011) như tạm khép lại những giấc mơ tuyệt đẹp, lạ kỳ của chính nhà thơ. Giấc mơ ấy đã nhiều lần đậu xuống, đánh dấu quá trình vận động, cách tân và những cảm thức lạ lẫm của ông. Chỉ vừa xướng tên các tập thơ của nhà thơ Dương Kiều Minh, tôi như nghe rõ tiếng cửa mở vào những không gian mới lạ, tinh khôi của ông: “Củi lửa” - “Dâng mẹ” - “Những thời đại thanh xuân” - “Ngày xuống núi” - “Tựa cửa” - “Tôi ngắm mãi những ngày thu tận” - “Khúc chuyển mùa” - “Thơ Dương Kiều Minh”(1).Thơ Dương Kiều Minh là một giọng điệu riêng biệt trong dòng chảy thơ cách tân sau 1975 tại Việt Nam. 

 

*

*        *

 

 “Củi lửa” (1989), tập thơ đầu tay của nhà thơ Dương Kiều Minh đã cháy  nổ. Sức nóng của nó đã phả lên đời sống văn học vốn đang khá lạnh lẽo và tẻ nhạt lúc đó. Tập thơ là tiếng nói biệt lập, run rẩy với nhiều tầng bậc cảm xúc phức hợp, tựa chiếc đầu máy mới xuất xưởng có công suất lớn. “Củi lửa“ đủ sức kéo theo những toa tầu chở nặng, và còn nối theo nhiều toa nữa sau này.

 Tập thơ đầu tay thường đánh dấu điểm mốc quan trọng trong sự nghiệp sáng tác của những thi tài. Nó hiển lộ hương sắc, và cả hạn chế của người viết, mà sau đó, dù nhà thơ ấy có rẽ sang nhiều ngả khác, thì khả năng sáng tạo thường được tiên báo trong những trang viết đầu đời. Xin nêu một số trường hợp tiêu biểu: tập thơ “Điêu tàn”(2) của Chế Lan Viên, tập thơ “Lửa thiêng“(3) của Huy Cận, tập thơ “Thơ thơ“(4) của Xuân Diệu; một số nhà thơ nước ngoài, như Adonis (Syria) với tập thơ “Những bài thơ đầu“, 1957; Pablo Neruda (Chile) với tập thơ “Hai mươi bài thơ tình và một bài thơ tuyệt vọng“, hoàn thành lúc ông chưa đầy hai mươi tuổi, v.v..

 Tập thơ “Củi lửa“ của nhà thơ Dương Kiều Minh là một ví dụ khác. Đó là cánh cửa rộng, đột mở, đưa bạn đọc vào một ngày mới ngập tràn ánh sáng, với nhiều ý tưởng bất ngờ, tinh khôi và tươi ròng cảm xúc đến nghẹn thở. Tập thơ được viết bằng thi pháp mới, chắc tay, được chuẩn bị kỹ lưỡng, đặc biệt hơn, ở đó không có thái độ ngập ngừng, lưỡng lự như một số tác giả cùng thế hệ còn ảnh hưởng những quan niệm của thi pháp truyền thống, mà quyết liệt, đầy tự tin. 

Thơ Dương Kiều Minh là không gian riêng, vì ngay trong nhiều hình ảnh quen thuộc như “ô ban công”, “chùm mùng tơi”, “bông cúc”, “rèm cửa”, “cô gái mù”, “tiếng lá”, “bóng đêm”, “heo may”, “dòng sông”, “chiếc giày”, “mầm cây”… cũng để lại những dấu vân tay và hơi thở nóng hổi của một cá thể có sức sáng tạo mạnh mẽ, giàu bản sắc. Về tập thơ này, nhà thơ Nguyễn Quang Thiều đã chia sẻ sự đồng cảm của mình một cách tinh tế và chân xác: Khi đọc tập thơ đầu tay của Dương Kiều Minh, tập “Củi lửa”, tôi thấy thi đàn Việt Nam lúc ấy xuất hiện một giọng nói riêng biệt. Giọng nói ấy tách biệt khỏi rất nhiều những giọng nói khác đầy tính lệ thuộc. Giọng nói ấy vang lên trong sáng và quyến rũ, nhưng đầy cô đơn. Tập thơ “Củi lửa“ của Dương Kiều Minh đã tạo một dấu ấn quan trọng, trước tiên với chính nhà thơ trong hành trình xác lập những giá trị của lối viết khác. Tôi từng đọc “Củi lửa“ nhiều lần, trong nhiều tâm trạng khác nhau, và luôn bắt gặp ở đó sự thơ ngây mê đắm của nhà thơ trước sự khởi sinh, tái tạo của thế giới. Thiên nhiên và con người hiện lên huyền ảo và trong suốt, còn nhà thơ, đang ngơ ngác trở về thuở bé dại, ngỡ ngàng nhìn muôn vật muôn loài với tràn trề xúc cảm, yêu thương.  Ngỡ vừa qua giấc mơ hoang dại/ cậu bé tìm lại đồng xu đánh mất ngày xưa/ đáy bể ngâm trong vắt/ ồ một vầng trăng vừa được vớt lên (Cám dỗ).

 Nổi trội trong “Củi lửa“ là sự tinh tế và huyền nhiệm. Đây cũng chính là phong vị riêng của nhà thơ. Trong những tập thơ sau này, mạch thơ Dương Kiều Minh vạm vỡ, bung phá theo nhiều hướng khác nhau, nhưng vẫn luôn giữ được nét tinh tế trong kiến tạo hình ảnh và tiết chế cảm xúc ở mức cần thiết. Đoạn thơ trích từ bài thơ “Trong mưa” là một minh hoạ cho sự mẫn cảm trước thế giới tinh khiết, trong lành của ông: Trong mưa có một ngôi đền/ và mưa từng ngón buông mềm mái tây/ và mưa từng ngón ngón gày/ len len run rẩy bàn tay gượng gàng (Trong mưa). Nhà thơ, như một điêu khắc gia tài hoa tạo hình chính xác từng chi tiết kỳ ảo và sống động: Mặt trời lung linh khu vườn mẹ/ Bức tường ánh sáng.../ Điều gì dào lên trong những hạt li ti (Hy vọng). Đó là những ban mai vừa lộng lẫy tái sinh, những đồng cỏ đầm sương chợt hiển hiện như trong cổ tích: Đâu phải nữa con búp bê bằng cỏ/ Con đường hoa vối rụng đầy/ Ban mai đổ về xa vắng/ đồng cỏ đầm sương loá ướt dưới trời (Bản giao hưởng đồng quê). Dương Kiều Minh chọn cho mình một góc khuất im lặng để sống và viết. Ông quan sát, ghi chép và chậm rãi kể những câu chuyện đời theo ngôn ngữ của riêng mình. Những “chiếc ô tô”, “ngôi nhà”, “ô cửa”, “hoa loa kèn” được nhà thơ đặt trong một khung cảnh tạo nên hình ảnh phố đêm gần gũi và rất đỗi dịu dàng: Chiếc ô tô màu xanh lá cây/ những ngôi nhà màu xanh lá cây/ ô cửa chớp bình hoa loa kèn đỏ (Thành phố buổi đêm) 

 

Bài thơ “Củi lửa”, chủ điểm của cả tập thơ, như một chớp mắt để thức giấc bàng hoàng. Nó mở ra những hình ảnh thân quen, ấm nóng như ta vừa được ôm ấp, được chạm tay vào. Và giữa tầng tầng hình ảnh, lớp lớp câu thơ là khoảng trống, một đặc sắc trong thi pháp thơ Dương Kiều Minh: lăng lắc tuổi xuân/ lăng lắc niềm thôn dã/ bếp lửa ngày đông... Những hình ảnh “tuổi xuân”, “thôn dã”, “bếp lửa ngày đông” đứng cạnh nhau tưởng như rời rạc, phân rã, nhưng chúng được kết dính, đan bện lại trong một trường cảm xúc mạnh mẽ và nhất quán. Bạn đọc sẽ cảm nhận được ánh sáng thanh khiết, ấm áp toả ra từ chính những khoảng trống đó. Đọc thơ Dương Kiều Minh, ta ngỡ như ai đó liệng viên sỏi xuống lòng hồ yên tĩnh làm các vòng tròn đồng tâm trên mặt nước cứ lan đi. Bên những hoàng hôn loang lổ gò đồi/ mùi lá bạch đàn xộc vào giấc ngủ/ con về yêu mái rạ cuộc đời. Những hình ảnh ấy chính là sự giao thoa giữa hiện thực đời sống và thế giới kỳ ảo, của giấc mơ này đang mơ về những giấc mơ khác nữa. Bài thơ có khổ kết rất độc đáo mang đặc trưng phong cách Dương Kiều Minh: Một sớm vắng/ ùa lên khói bếp/ về đây củi lửa ngày xưa... Hình ảnh “sớm vắng” nhói lên như nốt cao nhất trong một nhạc phẩm không lời, làm phát sáng, làm âm vang đồng hiện những diễn tiến hình ảnh, rồi chốt lại trong câu thơ cuối. Đó là trạng thái sâu lắng của cảm xúc, lôi cuốn người đọc vào thế giới của mặc tưởng trang nghiêm, nuôi dưỡng trạng thái rộng mở, thanh khiết của tâm hồn. Cách viết này còn được triển khai trong nhiều bài ở những giai đoạn sau, tạo nên nét đặc trưng riêng chỉ có trong phong cách thơ Dương Kiều Minh. Đó là ban mai trong tiếng ho húng hắng của mẹ: Những ban mai như thể đầu tiên/ ào ào đổ/ lấp lánh dòng ánh sáng/ mẹ húng hắng ho…/ mưa bụi dưới thềm (Ban mai). Đó là “giọt sương treo trên cành trúc”, sự đột biến để nâng cảnh huống thực lên cái cao vời của tâm tưởng: Rượu đây/ Bạnđấy/ Ta nâng cốc chạm làn gió đầu đông mang bí ẩn khởi lên xao động trong ngần tựa giọt sương treo trên cành trúc (Bên cuộc rượu mùa thu). Đó là bức tranh tương phản giữa “đổ nát và thanh xuân” đã thổi bùng sinh khí mãnh liệt: ấy ngọn lửa bùng dậy/ ngọn lửa cất giữ tháng năm xa cách/ ngọn lửa dìu các triều đại trườn qua đổ nát/ những thời đại thanh xuân. Đó là cách ông quán tưởng trong khoảng không tĩnh lặng của bài thơ “Không ai gọi tôi trở dậy vào buổi cuối thu”. Ở đó mỗi hình ảnh sự vật đều mở ra một khoảng không lạ lẫm, riêng biệt. Cả bài thơ như cánh cửa lớn mà phía sau đó là vô vàn những cánh cửa nhỏ với đan xen những lối đi. Hãy cùng lắng nghe nhà thơ Dương Kiều Minh gọi hồn sự vật: số phận giống câu thơ vừa viết xong, bị xoá/ bản nháp bài thơ gió nhấc lên tựa một lá bùa. Ở đây ta thấy Dương Kiều Minh như hạt sương nép vào vạn vật làm cho chúng trở nên mát lành, trong suốt. Và nhân vật “tôi” trở nên tỉnh táo trong một biến ảo rất lạ ở khổ kết của bài thơ: Không ai gọi tôi trở dậy vào buổi cuối thu/ tôi nằm viên mãn - chiếc lá vàng dưới hàng song thụ/ Nếu mẹ tôi mà biết/ Liệu mẹ tôi trách cứ các người (Không ai gọi tôi trở dậy vào buổi cuối thu). Sự biến ảo này cũng là cách gọi mời, kích thích sự sáng tạo tiếp theo của người đọc, tuỳ thuộc vào mặt bằng văn hoá và trải nghiệm riêng của họ.

 

 

 

*

*        *

 

 Sau tập thơ “Củi lửa“, nhà thơ Dương Kiều Minh luôn chú tâm khai triển thi pháp đã minh định từ tập thơ đầu tay này. Ở những tập thơ “Dâng mẹ”, “Những thời đại thanh xuân”, “Ngày xuống núi”, “Tựa cửa”..., ông vẫn giữ được giọng nói trong trẻo, thơ ngây ban đầu. Đây là một mùa vàng đầy bàng hoàng, như thể thế giới vừa bắt gặp trong cái nhìn đầu tiên: Mùa vàng, mùa vàng/ những ký ức không bao giờ lặp lại/ ta còn nguyên sơ hơi thở tự do (Những thời đại thanh xuân). Còn nữa, là giai điệu và tiết tấu của đời sống vừa rộn rã vừa thanh khiết: Bài Ca Niềm Vui Sống/ ấy tiếng chuông cuối chiều dóng dả/ cơn lốc cuốn theo đám bụi nô đùa/ hai đứa trẻ dắt nhau chân trời xa tít (Khúc dâng Mozart). Những bài thơ về sau, nhà thơ đã dần tiết chế sự trong trẻo, thơ ngây, để thế vào đó tâm trạng tỉnh táo đầy chiêm nghiệm thế sự: Ồ khát sao/ cơn khát thuở nhỏ/ cơn khát thuở khai thiên lập địa/ cơn khát ruổi dài theo mộng ước ta (Những thời đại thanh xuân).

 Có thể nói, nhà thơ Dương Kiều Minh phần lớn tiếp thu có chọn lọc những tinh hoa của thơ ca phương Đông kim cổ. Ông thường mượn thiên nhiên, cảnh vật để nói về cái hữu hạn, mong manh chìm nổi của kiếp người: Ta hát về người niềm tưởng nhớ/ Sóng nước phù sa/ Tháng năm ruồng bỏ/ Ta chiếc lá cơ may trôi dạt lên bờ (Sông Hồng). Ánh sáng của văn hoá, minh triết phương Đông, đặc biệt của thi ca, càng sáng tỏ trong những giai đoạn sau này, từ tập thơ “Tôi ngắm mãi những ngày thu tận” đến tập thơ “Khúc chuyển mùa”. Tôi ngủ thiếp trong bài thơ Đường/ sương dăng dầy bến bãi/ Vành trăng động mắt người con gái/ bức rèm buông toà lâu đài Tàu (Bộc bạch). Ông nặng lòng vương vấn với những thi liệu quen thuộc của thơ ca phương Đông nhưng biết mở những chiều kích bất ngờ của liên tưởng và suy niệm trong thi tứ, chữ của ông bình dị nhưng có sức ám ảnh,  tuy nhiên đôi khi biểu lộ sự quẩn quanh phức rối của cảm xúc. Sức vươn của mạch thơ luôn khoẻ khoắn, nhịp điệu tự nhiên và tự do. Năm giờ sáng nước chảy tràn trên mái/ tựa hồ số phận ấn định/ thinh không buông tiếng chuông nhói ngực (Vô đề). Tôi chợt hình dung thấy hình ảnh một kẻ sĩ thời hiện đại đang tự vấn bằng giọng trầm, đều đều… cất lên trong quầng sáng lung linh và thanh sạch. Nhưng khi đọc liên tục nhiều bài thơ của nhà thơ Dương Kiều Minh, tôi lại thèm tiếng quát mắng, thậm chí tiếng cười khôi hài của ông với đám người đùa nghịch, hỗn xược nào đó… 

Khác với tập thơ đầu tay, nhiều hình ảnh dung dị trong thơ Dương Kiều Minh sau này được hiển lộ bằng hệ quy chiếu khác. Câu thơ sau làm ta hình dung Dương Kiều Minh có lúc muốn hiện thân thành nhà tư tưởng hơn là một nhà thơ: Ôi, mưa đông, mưa đông! Cơn mưa lướt qua cuối chiều mang theo bao giấc mộng/ Một hạt mưa ghé sát nói nhẹ: Thân xác này thật ra đã được tạo bằng tư tưởng (Mưa đông).

 Tập thơ “Khúc chuyển mùa” là ngôi nhà thơ để Dương Kiều Minh trở về sau những chuyến du hành. Ở đây, ta gặp lại sự trẻ trung và điềm đạm, sâu sắc và thơ mộng: Lô xô những quãng đời/ Dựng men theo bờ nước/ Giật mình cơn mơ đêm trước/ Hiện về tuổi trẻ của ai (Chúng tôi gặp nhau ở bên kia hồ nước). Nhưng lần này, hình ảnh ruộng đồng, thôn dã tái hiện trong thơ ông mang vẻ đẹp và âm hưởng hoàn toàn khác trước: Đã lâu rồi không đi qua những cánh đồng sương sớm tươi mùi cỏ xuân những lá mầm vươn dậy mãnh liệt/ Vọng đến tiếng kèn buổi chiều giữa xuân trỗi dậy nỗi niềm xa vắng (Tự sự bên mùa). Cánh cửa một “mùa xuân chín” đã mở ra trước mắt nhà thơ Dương Kiều Minh bằng âm điệu và hình ảnh mới, bền bỉ, với nguồn nãng lýợng thấm sâu toả rộng hõn: Niềm xuân thúc giục/ Niềm xuân mách bảo/ Niềm xuân vươn dậy cõi mênh mông tĩnh lặng/ Bóng lớn cây dã hương cổ thụ vươn cao giữa trời đất trong rạng rỡ ngày mới/ Thổn thức làn ánh sáng toả lan hơi thở xuân về (Giao thừa).

 Ở khía cạnh khác, thơ văn xuôi là một thế mạnh của nhà thơ Dương Kiều Minh. “Sực nhớ núi đồi”  một trong những bài thơ văn xuôi đầu tiên tiêu biểu, và ở đây, nét ung dung, tự tại, cảm xúc tươi non được kiềm chế lại.  Mạch thơ trải rộng, câu thơ được kéo dãn với góc quan sát rộng, giàu liên tưởng. Tôi chợt nhớ núi đồi những đêm tĩnh lặng trong trẻo, ngôi sao xanh ánh sáng bị làn hơi ẩm tách ra thành nhiều sợi tinh khiết.../ Đêm đêm những nàng tiên cánh mỏng bay là là trên những cánh rừng và dòng sông hắt ánh sáng dìu dịu bờ dốc thoai thoải. Những hình ảnh trong bài thơ thật dung dị, có lúc tưởng như sao chép chi tiết của đời sống nhưng vẫn đậm tình cảm riêng biệt của người viết: Tôi mở ý tưởng thơ mộng chỉ thấy hình ảnh thế giới khô cằn. Mùa đông đến dài dặc, mùa xuân hiện gương mặt tiều tuỵ căn nhà chen chúc cũ nát. Có thể, trong bài thơ văn xuôi đầu tiên này, hiệu ứng ngôn ngữ và hình ảnh chưa cao, một số câu thơ còn lẫn với cách nói của văn xuôi, khoảng trống giữa các câu thơ chưa lớn và chưa tạo được nhiều bất ngờ. Bài thơ này, không thấy in trong tập thơ “Thơ Dương Kiều Minh”, nhưng theo tôi, đã đánh dấu sự chuyển biến trong thi pháp thơ của tác giả. Ở những bài thơ văn xuôi sau này, xét một cách tổng thể, mạch thơ ngày càng vạm vỡ, tự do, tung tẩy hơn và đó cũng chính là cốt cách phong vận của ông. Nhiều bài thơ của Dương Kiều Minh tựa cơn gió lớn bất chợt ùa về cánh đồng rộng lớn, đem đến cho bạn đọc cảm giác phóng túng, ngang tàng và tự do: Giữa thinh lặng mênh mông tiếng gió từ phía sông Đáy duổi qua con đê kéo ngang cánh đồng trước nhà hoà cùng tiếng côn trùng tiếng xào xạc cây lá tạo nên những giai điệu kỳ bí của đêm toả ngát hơi thở bí ẩn thiên nhiên và vũ trụ (Gửi bạn đêm cuối năm).

 Không gian trong thơ văn xuôi Dương Kiều Minh là những hình khối, những quần thể tượng đài độc đáo, gợi ta nhớ tới những biến tấu từ bảy mô-đun của điêu khắc gia Điềm Phùng Thị, mang đậm phong vị và triết lý phương Đông. Nó bí ẩn dựng lên bức tường cao ngất, tiếp nối, dọc ngang, gây choáng ngợp. Nhiều hình ảnh vừa mới thoáng hiện đã nhanh chóng đan lồng với những hình ảnh khác lớn hơn, dị biệt hơn: Ai vẫn đứng kia buổi cuối chiều giông gió, phố xá bời bời, hồn chia hai ngả. Vẫn ở đó ao đầm gò bãi, hiện về đây hiu hắt núi đồi. Niềm thương cảm quanh quất bao năm dâng ngùn ngụt núi rừng chập chùng dòng sông vách đứng (Tựa cửa). Trong không gian này, cùng với cảm xúc là những chiêm nghiệm về vũ trụ, trải nghiệm về nhân sinh. Mỗi hình ảnh trong đó, tưởng chừng đơn điệu nhưng đều chứa đựng những ý nghĩa phổ quát và nhiều gợi mở. “Chiếc lá sen khô” trong câu thơ sau mang một vẻ đẹp của nhiều trạng thái cảm giác, mở cho bạn đọc liên tưởng khác về thiên nhiên, đời sống: Sự kiêu hãnh giờ chỉ còn dấu vết kỷ vật. Những chiếc lá sen khô đội mưa tìm lại mùa thu đầm Vạc. Những âm thanh trong trẻo vang động đâu đó trong trời đất ngân trên cây thiên cầm thuở ấy (Những chiếc lá sen khô). Dương Kiều Minh thường chủ ý làm cho những chuyển động của hình ảnh thơ chậm lại so với quy luật thông thường. Trong khi đó, những nhà thơ cách tân cùng thế hệ với ông thường đẩy tốc độ hình ảnh đi nhanh hơn, tạo khoảng cách lớn, làm phân rã, đột ngột thay đổi quy luật chuyển động của chúng.

 Nhịp điệu được tiết chế chậm lại trong thơ Dương Kiều Minh đã tạo một hiệu ứng khác biệt. Nó diễn tả một thái độ sống, thái độ ứng xử trước nhân thế, cho ta thấy được tâm trạng lưỡng lự của một người vừa yêu vừa chán ngán sự đời: Sương muối giăng mù trời, lòng người lửa đốt. Mười hai tháng trôi qua chớp mắt. Mọi việc chậm chạp, trì trệ gần như ngưng đọng. Mình như con ếch ngắm bầu trời hiếm hoi trong đêm, dường như có điều gì bất ổn nơi từng đám sương từ từ trút xuống chộn rộn mờ ảo.…/ Ngang cõi nhân gian huyền ảo cô lạnh, kia ai cầm ngọn lửa phất qua (Ghi ở buổi cuối năm). Bàn tay ai “cầm ngọn lửa phất qua” cho thấy thái độ vừa chằm bặp vừa lơ đãng, vừa trách nhiệm vừa buông bỏ, thờ ơ trong biến ảo khôn lường của đời sống thực tại. Bằng cách kìm nén này, nhà thơ Dương Kiều Minh đã sáng tạo nhiều bài thơ văn xuôi thành công. Trong bài thơ “Tìm sen ở Quan Sơn”, ta nghe thấy giọng nói chậm rãi cất lên, vừa uể oải vừa thông tuệ: Chiều xuống, thoáng mưa ngâu nhè nhẹ. Bên rặng phi lao, những em bé gái đeo giỏ mò cua bên cầu Dậm. Núi non hồ nước phủ làn hơi mưa, một vài trái núi bị đẽo gọt loang lổ lộ ra trắng toát. Cảnh vật ở đây đang diễn ra như vốn có, buồn tẻ nhàm chán, hay chộn rộn, mơ hồ… còn tuỳ ở cảm nhận của người đọc, nhưng cái vẻ “trắng toát” lộ ra khi “một vài trái núi bị đẽo gọt loang lổ” đã tạo một hiệu ứng kinh hoàng, khi chính bàn tay con người phá huỷ vẻ đẹp nguyên sơ của thiên nhiên. Đọc đến câu cuối, ta thấy tất cả những hình ảnh vừa gặp từ khổ thơ đầu đã không còn ở vị trí cũ, mà hoảng hốt, xáo trộn để làm nên một trật tự mới.

 Nỗi cô đơn hiện lên khá đa diện trong thơ Dương Kiều Minh. Chúng di chuyển như không còn mối liên hệ với chung quanh, trong lẻ loi, cô quạnh pha chút luyến tiếc: Sự ưu tư buổi cuối chiều đòi hiện trên trang trắng. Bóng tối theo hơi lạnh thấm dần xuyên qua lùm cây, mái nhà, ô cửa/ Cơn khát dục vọng thiêu cháy làm biến dạng những khuôn mặt/ Lại đã để lại phía sau mùa lũ, dòng sông vào đông để lộ những vạt đất bồi, những con chim rẽ giun từ đâu đến mải mê thản nhiên quên cả chiều đã xuống/ Vẫn lùm cây này, vẫn bờ gạch lát, câu chuyện đã là của thế kỷ trước (Những con chim rẽ giun bên vạt sông chiều).

 Hình ảnh người mẹ toả sáng suốt các tập thơ của Dương Kiều Minh, như biểu tượng của nguồn cội, là nơi nhà thơ nương tựa lúc cô đơn, nơi cố hương tiễn biệt và nơi để quay về. Bất cứ câu thơ nào nhắc tới mẹ, mơ hồ chạm hình bóng mẹ, đều vang lên trong tâm hồn nhà thơ rưng rưng tiếng chuông cầu nguyện, niềm khắc khoải khôn nguôi, nỗi nhớ quay quắt, da diết… Một vệt nước trên tán lá, một tiếng hát và bước chân, tiếng mẹ gọi trong chiều khói lam là những “giấc mơ dịu dàng” của nhà thơ: Cơn mưa đêm để lại vệt nước trên tán lá khóm đại hồng môn/ Bài ca duổi theo bước chân trẻ thơ con đường dọc bờ rào ô rô chạy men đồng bãi/ Ai như tiếng mẹ gọi ngôi làng khói toả xa xa (Vừa giấc mơ dịu dàng đậu xuống). Chiếc giày” trên “lớp lá thu” trong câu thơ sau diễn tả tâm trạng hụt hẫng, phi lý, cô độc của nhà thơ bên phần mộ mẹ: Trên cánh đồng mẹ nằm cô quạnh/ Mẹ hằng mong tôi khôn lớn một ngày/ Đâu đó bên hàng song thụ/ Trên lớp lá thu còn một chiếc giày(Không ai gọi tôi trở dậy vào buổi cuối thu). Tình cảm ấy lúc như tơ nhện giăng trên mặt hoa mỗi sớm: ổ mầm đậu hoà lan mẹ ủ lên mỗi sớm/ Có mùi sương mùi nước/ tuổi thơ ăm ắp buồn (Bướm trắng);  lúc bóng mẹ hiện về ấm áp, bao dung: Mẹ chẳng trách. Mẹ lần lần run rẩy/ nghe tiếng tôi thốt lên phía hiên nhà (Bên những sợi tơ ánh sáng). Từ tập thơ “Tôi ngắm mãi những ngày thu tận”, những nỗi đau bệnh tật đôi khi được nhắc tới càng đẩy ông vào cô quạnh. Trong cơn lẻ loi ấy, nhà thơ thường cất tiếng gọi mẹ; tiếng gọi ngắt quãng, bập bẹ thơ ngây như thuở ông còn bé bỏng trong vòng tay âu yếm của Người: Mẹ ơi, mùa xuân gấp gấp, con nghe thấy ngõ quê tinh khôi rải ướt xốn xang bước chân thôn nữ gánh nước ngày cuối năm, cây đào trụi lá nở những bông hoa đầu tiên, hơi xuân tràn về từ những cánh đồng (Mẹ ơi, mùa xuân gấp gấp).

 

* 

*        *

 

 Những bài thơ cuối cùng của tập thơ “Thơ Dương Kiều Minh” đã mở thêm những chiều kích khác trong suy tưởng và cảm xúc, là sự tìm đến, cũng là cuộc trở về của nhà thơ với vẻ đẹp giản dị và hiện đại. Hơi xuân tràn về từ những cánh đồng. Câu thơ ấy như ánh sáng luôn soi chiếu suốt hành trình thơ ca Dương Kiều Minh, là đích đến phía chân mây, là “nhân đức tin” cho ông vượt qua mọi thử thách, khó khăn để gặt hái những thành công ngoài mong đợi. Dương Kiều Minh cùng với các nhà thơ cùng thế hệ đã làm cuộc “vượt thoát” ngoạn mục, góp phần quan trọng vào cuộc cách tân thơ Việt trong những thập niên qua. Tôi chọn câu thơ trong bài “Tự sự bên mùa” của Dương Kiều Minh để kết thúc bài viết, như một lời cầu chúc cho linh hồn nhà thơ được thảnh thơi ở cõi vĩnh hằng: Tỉnh dậy, đã đầu hạ/ Âm nhạc reo vang những con đường rộng thênh xa hút ngang qua những nẻo quê, một miền quê bỏ lại…     

 M.V.P

 

 

 

 

 

B- MỘT SỐ TÁC PHẨM TIÊU BIỂU

 

 

THÔN QUÊ 

I

Bông hoa cỏ dịu dàng thiếu nữ

thôn quê ăm ắp nước và gió

thôn quê khát khát chân trời

 

Cánh đồng bao la rập rờn tiếng hát

hồ nước

đụn rơm

cây cầu gỗ

hội hè thôn quê sênh sáo nhặt khoan

 

Bông hoa cỏ dịu dàng thiếu nữ

các nàng tiên thiên giới tụ về

 

II

Ánh sáng tắt dần. Mùa hè sắp hết

hoa sam đất khu vườn cổ tích

Tuổi thơ nồng nàn lam lũ

bông súng thần tiên ngạo nghễ mặt đầm

 

Nở hoang tàn bụi thục lan rực màu huyết dụ

tôi bị hất bên lề ngày tháng

may chăng còn kỷ niệm thôn quê? 

 

May chăng không hất ngoài niềm thương nỗi nhớ

mẹ giờ này dờ dẫm dậu thưa

lá mồng tơi thấm hơi sương đồng đất

 

Tha thứ chăng?

Hiển hiện miền quên lãng

bông súng thần tiên ngạo nghễ mặt đầm

suốt đời ngụp lặn

hoà - ánh - sáng nồng nàn trong trẻo bao la…

 

 

 

 

 

 

HY  VỌNG

 

Tiếng đầu tiên mẹ gọi giữa trưa nồng
Bên vòi nước bỏ quên
Ô ban công nhìn ra bãi trống
 

Khắc khoải trầm dài miền quê xa tít
Ai đợi con bên ô giậu thưa
Chùm mùng tơi tim tím
 

 

Ở mãi âm thanh ngày nao nức
Con chạy trên đồng lúa rộ vàng
Mạng nhện giăng giăng bụi hoa cúc dại
Mặt trời lung linh khu vườn mẹ 
Bức tường ánh sáng...

 

Điều gì dào lên trong những hạt li ti.

 

 

 

 

 

 

CÁNH  ĐỒNG  THƠ  ẤU

 

Ở giữa cánh đồng của mẹ
trong chiếc nôi màu thiên thanh
 

Mơ mơ cánh đồng thơ ấu
không không không cả bóng nười
không bước chân ngày ngây dại
cậu bé bây giờ về nơi?
 

Em đây, em cười, thôn nữ
chào ta như thể quen rồi
chốn này đâu là ta nữa
cánh đồng cậu bé ấy thôi!
 

Kia đôi nhân tình gần khuất
kia chiếc cầu cong thảnh thơi
kia những hàng cây thân trắng
kia toà nhà cổ im lời
 

Đấy cánh đồng ngày thơ ấu
ta chỉ như là khách thôi
tất cả kia là cậu bé
chìm trong mờ ảo sắc trời

 

 

 

 

 

 

CỦI  LỬA

 

Đời con thưa dần mùi khói
Mẹ già nua như những buổi chiều
 

lăng lắc tuổi xuân
lăng lắc niềm thôn dã
bếp lửa ngày đông...
 

Mơ được về bên mẹ
ao xưa, mảnh vườn nhỏ ngày xưa
bậc thềm dàn dụa trăng mỗi tối
 

Bên những hoàng hôn loang lổ gò đồi
mùi lá bạch đàn xộc vào giấc ngủ
con về yêu mái rạ cuộc đời
 

Một sớm vắng
ùa lên khói bếp
về đây củi lửa ngày xưa...

 

 

 

 

 

 

THÀNH  PHỐ  BUỔI  ĐÊM 

 

Dâng rực tím vòm bằng lăng nước
em về dãy phố mùa hè
thương mến mười năm trở lại
 

Chiếc ô tô màu xanh lá cây
những ngôi nhà màu xanh lá cây
ô cửa chớp hình hoa loa kèn đỏ
 

Thiếu nữ hỏi câu gì rất khẽ
cốc nước mía
nụ cười thoáng nhẹ
mấy chàng trai ghé quán trà đêm
 

Phố xưa dìu dịu
tấm gương soi thẫn thờ...

 

 

 

 

 

 

 

 

TRONG  MƯA

 

Trong mưa có một ngôi đền
và mưa từng ngón buông mềm mái tây
và mưa từng ngón ngón gày
len len run rẩy bàn tay gượng gàng
 

Ngôi đền giật giấc mơ màng
tự bao giờ thế? bàng hoàng cổ xưa
lâu rồi vẫn đứng trầm tư
lớp thời gian phủ thờ ơ nhân tình...
 

Lâu rồi vẫn đứng một mình
hoang sơ như cả mối tình hoang sơ
Chợt run trong ngón tay mưa

 

 

 

 

 

 

 

TIẾNG ĐỊCH

 

Tiếng gì đơn độc

xa hơn nỗi buồn

ước vọng trườn trong thanh vắng

Đấy – bài ca xưa

đấy – vườn trăng xưa

Vẫn sống rêu phong mái cổ

một tình yêu tìm đến tự tình

thềm son lặng bóng mai già đổ

 

ừ niềm đau chẳng bao giờ nói

ừ hy vọng mong manh như cả kiếp người.

 

 

 

 

 

 

KHÔNG AI GỌI TÔI TRỞ DẬY VÀO BUỔI CUỐI THU 

 

Không ai gọi tôi trở dậy vào buổi cuối thu 
Mây trắng ngổn ngang bầu trời mấy chục năm về trước 
Những cậu bé quàng khăn đỏ rảo bước nhanh 
con đường mới đắp. 

Rất nhiều người trong căn phòng rộng 
qua ô cửa khuyết 
tôi gọi hoài không ai nghe thấy 

Bên dòng sông khói sóng dâng mù mịt 
trên con đường gió bụi xa xăm 
số phận giống câu thơ vừa viết xong, bị xoá 
bản nháp bài thơ gió nhấc lên tựa một lá bùa 

Trên cánh đồng mẹ nằm cô quạnh 
mẹ hằng mong tôi khôn lớn một ngày. 
Đâu đó bên hàng song thụ 
trên lớp lá thu còn một chiếc giày... 

Tôi hứa rằng không nói với ai 
câu chuyện sẽ mang theo mãi. 

Không ai gọi tôi trở dậy vào buổi cuối thu 
tôi nằm viên mãn - chiếc lá vàng dưới hàng song thụ 
Nếu mẹ tôi mà biết 
Liệu mẹ tôi trách cứ các người...

 

 

 

 

 

 

 

KHÔNG ĐỀ

 

 

 

 

 

Bông loa kèn nở ngang tàng mùa hạ 

Chợt rơi hẫng... 
Ngày chiến tranh vừa dứt. 
Anh thờ thẫn đi, hoang trong mộng mị 
Bên đồng đội 
Vòng tay ghì chặt 
Vị khế rừng 
Nắm cơm chua loét 
Bom vừa xoá căn hầm ba người 

Dòng Pô-kô xác bạn bè mất hút 
Nước dữ dằn 
Mưa tối mặt 
Tấm ni-lông lỗ chỗ đạn xuyên... 
Anh gào trước khoảng sâu im lặng. 

Sau cánh rừng 
Quầng mặt trời đặc sánh 
Những người lính theo nhau dần khuất phía chiều.

 

 

 

 

 

 

 

GỬI CON GÁI NHẬT NGÂN ĐẦU XUÂN 2010

Nước và cỏ cây phủ lên mặt đất sự bí ẩn. Theo đường mặt trời, mặt trăng đi qua chiếc cầu bốn mùa. Đầu xuân tôi muốn gửi tới con biểu tượng của vũ trụ giữa nền tím thẳm sâu của đêm nổi lên khối cầu lớn màu mận chín kiến tạo bởi những đường xoáy ngược chiều kim đồng hồ. Xa tít vành trăng khuyết xanh ngọc, theo linh hồn con người những vệt sao băng viền quanh khối cầu màu mận chín.

Tôi có ý niệm trồng những cây mận trên mảnh đất của ngôi nhà cũ.

Ba ngày tết ngủ quên trong hơi lạnh mơ màng

Con vừa chuyến bay đầu xuân

Những sân bay ở đâu cũng vậy, mênh mông trơ trọi như quốc đảo trôi

                                               bồng bềnh giữa đại dương.

Con chỉ cho đó là tiền sảnh bước vào giảng đường cuộc đời.

Bỏ lại phía sau bầu trời mang nền nhiệt dưới 9oC

Tháng giêng bận rộn với chăn đệm và áo choàng

Buổi tối vừa râm ran bè bạn, cách hai giờ đã xa hơn ngàn cây số với nắng gió

                        phương nam.

Lùi lại hai mươi ba mùa xuân cuối con đường ký ức

Ờ, nửa đêm chợt con mưa đầu năm đến chào bụi trúc trước cửa

Giờ con đã đặt chân tới vùng đất mới

Kìa chân trời vừa nâng lên theo chuyến bay mùa xuân.

 

 

 

 

 

GỬI NHÀ THƠ MAI VĂN PHẤN

ĐÊM MƯA Ở VÂN ĐÌNH

 

1.                        

Như cánh chim bay lạc trong đêm

Vương những vì sao đến từ biển

Bí mật câu chuyện còn cất giữ

Theo con đường gập ghềnh đá sỏi

Bóng tối xuống thật nhanh

Uy nghi cơn giông ập đến

Gió giằng giật tán dù phần phật

Bạn tìm về đây mối chia sẻ lớn lao

Thế giới bủa vây niềm thương nỗi nhớ

Ngày tháng thật xa, mùa hạ thật gần

 

2.

Đấy cánh chim vỗ hoài trong giấc ngủ

Bầu đêm đen thẫm màu mưa

Phố xá nhập nhoà vệt nước tràn tầng thượng

Sông Đáy phía sau, bạn ở phía trước

Lối phố nhỏ theo mưa rực màu xanh cánh đồng vào hạ

Thế giới ngổn ngang vật chất

Ngổn ngang tham vọng.

Đêm lữ thứ những vì sao trốn biệt

Bao sự thương tâm, bao nỗi bận lòng

Dễ gì chia sẻ

 

3.

Lời cảm ứng với bạn từ đầu hạ đã qua giữa hạ

Chợt choáng ngợp màu phượng vĩ dâng lên hối thúc

Nói gì đây với bạn?

Mang trên đôi cánh sự uy nghi tĩnh lặng

Cơn giông và mưa và đêm tối

Ai đặt cược những câu thơ cách trái đất triệu triệu năm ánh sáng

Mắt xa xăm phóng từng luồng ký ức về phía biển

Câu hỏi trồi qua làn mưa nặng hạt

Khuya khoắt đường trường ...

Vâng, những câu thơ vẫn vang lên đâu đó

Từng toà mây hiện qua ánh chớp

Cánh chim lực lưỡng vút lên vụt bùng thành đám lửa

Còn điều gì ở ngoài khát vọng!

                                                   Hà Đông, ngày 25/ 5/ 2008



 

 

 

BÀI THƠ ĐẦU ĐÔNG

                    Tặng Đỗ Lương Hồng

 

Em mất hút vào tiếng ầm ào đại lộ như cơn lũ buổi sáng

Hiện ra trong tiếng ầm ào xiết chảy cuối chiều

Những cơn lũ của cuộc đời cuốn chúng ta mải miết

Xô dạt vào bờ bến của tuổi già

Nỗi bất an lấn sâu vào giấc ngủ

Chợt hiện lên những bông hoa cải cúc cắm đơn sơ trong chiếc cốc thuỷ tinh

Mùa đông choàng lên chiếc áo len thô

Sự kỳ diệu của cuộc đời chứa đựng vẻ giản dị đơn sơ

Trong nghèo khó đạm bạc những bông hoa cải cúc cất giữ cảm xúc theo những

                                                                                                  con đường dốc

Nơi mùa đông giấu thật sâu hơi nóng mùa hè

Hiện gò má sắc hồng của lửa

Buổi đầu gặp gỡ tặng em bài thơ đầu đông giờ đã thất lạc

Còn đấy những bông hoa cải cúc nở bên những con đường dốc sương muối phủ dày

Trong bóng sẫm tối của mùa đông trập trùng đồi núi

Những chấm đèn mờ nhạt chìm trong mênh mông làng bản trong sự tĩnh lặng bỏ quên từ tiền kiếp

Hình như góc nào đó trong trái tim thèm một hơi ấm

Ánh lửa đốt nương trên dãy núi bên kia sông thăm thẳm

Kìa em hiện ra trong tiếng ầm ào chảy xiết vào đêm.

 

 

 

 

 

TỰ SỰ BÊN MÙA  

 

1
Có loài chim tước khu vườn phía sau kêu suốt đêm làm mùa xuân thức
Bồn hoa đỗ quyên đang độ rực rỡ
Mải theo làn hơi lạnh men theo bờ biển khuếch tán về phương Nam
Thấy mùa xuân thật dài
Vòng đời của con người thật ngắn bởi ước vọng mãi vươn về phía trước
Năm mươi tuổi đã ngấm mệt ngước lên trời đêm thấy tiếng thở dài của ai
đó đang đẩy những đám mây mang đầy hơi nước trong đêm mùa xuân
2
Đã lâu rồi không đi qua những cánh đồng sương sớm tươi mùi cỏ xuân
những lá mầm vươn dậy mãnh liệt.
Vọng đến tiếng kèn buổi chiều giữa xuân trỗi dậy nỗi niềm xa vắng
khuất sau vạt sương buông kín những ngôi làng xa xa
3
Những bông hoa gạo lộ ra màu đỏ làm lòng ta ấm lại trong làn mưa bụi
từ sáng đến chiều tối.
Bên toà nhà cổ kính ai đó vừa quét lên màu vàng
Gặp vào thời tiết ít mưa sông Hồng cạn trơ
Cây cầu cũ bằng sắt bắc qua sông vào đầu thế kỷ trước mang bóng dáng
lãng mạn chân dung kiến trúc sư ngoại quốc.
Dòng sông cạn trơ mang trong mình biết bao huyền thoại
Cây cầu cũ nhoà mờ trong mưa bụi
4
Gần sáng nghe tiếng gió mùa xao động bên ô cửa
Thật ngại ngần những con đường xa
Phải, mình đã già rồi
Tỉnh dậy, con gái đã bay chuyến bay sớm về phương nam
Nhìn sâu mãi vào làn sương buốt giá
Ừ cuộc đời từng mỉm cười thân ái bao dung chở che
5
Tuổi hai mươi trở về như mộng
Qua tán phượng mướt xanh cuối hạ
Vừa cơn mưa chiều tối
Từng bậc thang dần xuống khu vườn rêu ẩm
6
Mưa thu trắng lặng bên cầu
hơi mưa thấm lặng
về đâu cuối chiều
Bến đò xưa đã phong rêu
yên giấc mộng đều đều thu không
7
Không có cách gì trở lại con đường thơ ấu
Sắc thu vang lên ngàn đôi cánh nhỏ xíu vỗ nhẹ từ từ nâng lên khoảng
không xanh thẳm ngào ngạt nắng gió
Những đôi mắt mở to ngơ ngác nhìn từ những đám mây xốp nhẹ.
8
Ùa về những làn sóng âm thanh ngày đầu thu trong trẻo làm thức dậy
những khoảng trời trẻ trung da diết ước ao thăm thẳm
Những âm thanh vang động trong đêm mang theo ánh sáng của ban ngày.
Những âm thanh mang vẻ u huyền của đêm
Chợt thèm ngao du ngắm núi non mây nước trong cảm giác dòng ánh sáng
lấp lánh chảy dài, bồng bềnh trôi ngang trập trùng cao vút.
Quả là núi mộng sơn ta chưa từng qua, ngay trong khu vực mà không rõ ở chỗ nào.
9
Làn gió cuối thu lùa đi bao tai ách
Tai ách bủa vây số phận mỗi con người
Tai ách buông xuống theo làn sương buổi tối
Con người không sao kiểm soát được mình

Ta cảm ơn làn gió cuối thu
đã xoa mờ bao nhiêu thương tích
ngươi lần lượt dìu bao người thân của ta về đất
ta ngoái lại tạ từ bên ngưỡng cửa tuổi già
10
Chìm dần chìm dần xuống đáy mùa thu
Cắt đứt những sợi dây néo buộc
Thế sự chỉ còn là những ảo ảnh khuất sâu sau phép chồng hình
Ở giữa sự trong suốt tĩnh lặng gặp bài thơ cổ tâm sự còn phong kín
Gặp lại những gì lặng lẽ chìm dần xuống đáy hồ thời gian
11
Nghìn nghìn năm sương khói đã từng phủ lên những cánh đồng cuối thu
Tôi tư lự đắm chìm trong cảm xúc mới mẻ nguyên lành
Một cảm giác vừa được trút vợi một gánh nặng vô hình nào đó
Như tấm màn nhung vừa từ từ hạ xuống che khuất một bi kịch
Ờ một điều gì đó
nằm sâu kỷ niệm như chiếc lá vàng ép trong cuốn sổ
12
Bước vào tuổi ngũ tuần tôi chợt nhận ra rằng, cái dinh dưỡng đời sống
tinh thần của các nhà nho Á Đông là sự chuyển động của mùa, thiên
nhiên biến đổi theo mùa luôn mới mẻ và sinh động. Con người là một
phần rất bé nhỏ của thiên nhiên.
Tôi yêu bốn mùa của miền Bắc Việt
Nam, đó là một vẻ đẹp không thể thay
thế. Mỗi mùa thu đến, ta như rơi vào một thế giới khác lạ.
13
Chợt xao lòng cơn gió lạnh cuối mùa
Sao ngươi tìm về giữa đêm
Chào đón ngươi bụi trúc trước cửa xào xạc
Ngươi trở về trong bầu tĩnh lặng uy nghi lúc buổi giao mùa
14
Thời trẻ chìm trong day dứt nỗi nhớ xa mẹ, chớm già bao phủ trong sự
trống vắng bất an khi con gái đi xa.
Ôi, đời người mãi không ra khỏi tình thương nỗi nhớ. Những bến bờ đến
rồi đi, những bến bờ lướt qua cuộn theo dòng nước.
Mình cứ dằn lòng mãi, vẫn vang xa nỗi niềm khuất khuất. ước ao chẳng
là bao, hy vọng vẫn còn treo trên giọt sương sớm bụi hoa hồng dại nơi
cánh đồng thơ ấu.
Bước chân ai đó đang trở về đường chiều sẫm chín, những chiếc lá ân
tình vừa rớt xuống vệ cỏ.
15
Tỉnh dậy, đã đầu hạ
âm nhạc reo vang những con đường rộng thênh xa hút ngang qua những nẻo
quê, một miền quê bỏ lại.
Ai ôm ấp điều gì, hành trang quá đơn sơ, lùi lại tượng đài mùa vụ, rồi
ta hằng gặp lại trên những con đường quê kiểng

Chiều đang xuống dần mênh mông núi đồi dòng sông in thẫm
Tiếng xào xạc lan mãi vang xa từ đỉnh núi xuống thung lũng đổ về hạ du
Những cơn gió lồng lộng chẳng vương phiền lụy như tuổi trẻ của ai đó
mang đôi cánh rộng dài
Tỉnh dậy, nghe sấm động liền trời hơi xuân đã hết
Vốc nước khoả lên mặt vẫn nhận thấy vị lạnh còn ẩn dấu bên trong
16
Hy vọng như ánh sáng chiếc kim nơi đáy bể
Bạn nói sao ân huệ của mùa
Viên nước đá tan dần
Tôi chợt nhớ mối tình thôn dã
17
Vừa cơn mưa đầu thu trú vội dưới tán cây ngô đồng
Giờ đang dưới tán cây trong cái nắng se se đầu đông
Cái thoáng vụt của thời gian mang đến mùi vị của ảo giác
Hiện tại là thực hay cái vừa trôi qua là thực
Như vừa vuốt nước mưa trên mặt cơn mưa rào đầu thu
Chẳng hay bao biến động của thời cuộc tan nhẹ rồi lắng đọng trong sự
vận động tuần tự của mùa

 

 

 

 

 

 

VÔ ĐỀ

 

Năm giờ sáng nước chảy tràn trên mái

tựa hồ số phận ấn định

thinh không buông tiếng chuông nhói ngực

 

Sương sớm trùm sông Nhuệ

nguy nghi và đơn lẻ

mong manh điều gì ngọn Hoả Tinh*

 

Tiếng thì thầm tĩnh mịch

con dế tìm nơi trú ẩn

bài hát cuối cùng vang vọng…

 

Hiu quạnh sưởi ngày đông lạnh lẽo

hiu quạnh những con sông xối theo bờ dốc

 

Ô hô trấn ngự kiếp người

cô độc dựng chân trời

ánh sáng loà ngọn tháp xá lợi.  

 

* Hoả Tinh: Tên ngọn núi thuộc Chúc Sơn, Chương Mỹ.

 

 

 

 

 

 

CHA ƠI, NGÀY THÁNG NÀY LÀM CON PHIỀN LÒNG

 

Cha ơi, ngày tháng này làm con phiền lòng. Ngày giỗ Cha vào tiết cơm mới, con ưu tư như đang đi trong ngày cuối năm. Từ lâu con thấy gánh nặng cuộc đời đè lên đôi vai bé nhỏ. Nhiều khi con tưởng quỵ xuống rồi gắng gượng đi tiếp. Nhiều khi con tưởng gục ngã - đường đời xa ngái cha ạ - đường đời thăm thẳm hút xa. Con buồn, trơ trọi, ngày tháng làm con phiền lòng. 

Con muốn thoát vào trong bầu trời, hàng ngàn sợi dây vô hình móc con trở lại. Trái tim con yếu đuối, gương mặt con già nua trước tuổi. Con cứ ngắm những chiếc xe màu đỏ dừng lại dưới chân đồi – một cuộc tiễn đưa – một viễn cảnh ngập tràn âm thanh và ánh sáng. Con ám ảnh mãi những quả hồng giấy chín đỏ những ngày tháng mười se lạnh, bức phên dại trước cửa ken bằng tre lâu ngày đã mục, những đống rấm ủ bằng vỏ trấu âm ỉ suốt đêm. Trong bóng tối làng quê tĩnh lặng, con mơ mộng ngắm nhìn mãi những ngôi sao xa lạnh, rồi thiếp ngủ khi nào không rõ – con thấy sự ấm áp, chở che trong nghèo khó và đạm bạc.

 

Thưa cha, tình yêu của con với cha với cuộc đời này là thiêng liêng – con không van xin, con gắng đến kiệt sức – con không hối hận, con vẫn thường trở về theo những đám mây lang thang trên cánh đồng thơ ấu đầy nắng và gió – dưới chân con, cỏ và nước và bốn mùa nhịp nhàng truyền dẫn qua con nguồn cảm xúc cuốn con đi không thể chối từ.

 

 

 

 

 

 

VỪA GIẤC MƠ DỊU DÀNG ĐẬU XUỐNG

 

 Vừa giấc mơ dịu dàng đậu xuống

vươn dậy đồng loạt bông tiểu li lan mùa thu

Cơn mưa đêm để lại vệt nước trên tán lá khóm đại hồng môn

bài ca đuổi theo bước chân trẻ thơ con đường ô tô chạy men đồng bãi

ai như tiếng mẹ gọi ngôi làng khói tỏa xa xa

Mẹ ạ,

con đang trở về bên giấc mơ dịu dàng lanh canh những chiếc chuông

nhỏ xíu

bên mùa thu âu yếm chở che

mang mộng tưởng lang bang qua trời xanh đồng rộng

“những đám mây thong dong đợi cùng theo với”

ta đang trở về giấc mơ ngày trẻ dại

ta đuổi theo hoài giấc mơ ngày trẻ dại

những bờ cỏ tươi nồng những cánh đồng sương nước

Một ngày mới dần hiện ra

một ngày mới bắt đầu

Mẹ ạ, giấc mơ con đã đủ đầy cơn gió lành đồng nội

mương nước ngập tràn cánh đồng đổ ải

những đám mây đã đợi con thênh thang trời rộng

những đám mây đã chở con qua dâu bể cuộc đời

con nhận thấy giấc mơ dịu dàng vừa đậu xuống

đồng loạt vươn bông tiểu li lan

theo bài ca dài bước chân trẻ thơ vang vang đầu thu con đường

sương khói.

Ồ, trên tán khóm đại hồng môn còn để lại vệt mưa đêm trước.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

CHÚNG TÔI GẶP NHAU Ở BÊN KIA HỒ NƯỚC

 

Lô xô những quãng đời

Dựng men theo bờ nước

Giật mình cơn mơ đêm trước

Hiện về tuổi trẻ của ai

1.

Chúng tôi gặp nhau ở bên kia hồ nước

Đã trở thành câu chuyện hôm qua

Tuổi hai mươi xô lạc giữa công trường

Đi tìm giữa trời xanh và đất đá

Núi im lìm

Sông Đà gào thét

Đã trở thành câu chuyện hôm qua

Trong chúng tôi một người bạn đã mất

Anh mang câu thơ vượt dòng sông về phía sau dãy núi

Đã trở thành câu chuyện hôm qua

Chúng tôi đã chớm già

Qua cơn bão cuộc đời tơi tả

Ngổn ngang mỗi người xô dạt về một phía

2.

Chúng tôi gặp nhau ở bên kia hồ nước

Mải miết đi tìm, để gặp mình nơi núi non trầm mặc

Để lạc mình trên đất đá bên sông

Câu chuyện bất thần như cơn lũ cuốn theo ba mươi năm

Tựa làn bụi bốc lên nơi thác nước xối vào ghềnh đá cũ

Chẳng ai có thể tìm lại gì trong câu chuyện xưa

Núi rừng, hồ nước và những luồng khí trĩu nặng hơi ẩm theo những

con đường dốc ngày ngày tràn xuống quãng sông bị chặn lại

3.

Tôi nằm sâu trong luồng khí chuyển xuống buổi cuối chiều

Khóm trúc bị táp sém sau đợt sương giá đầu tiên

Dòng sông người vẫn trôi xiết cuốn theo sức hút vô hình như những

đợt thủy triều định mệnh

Nửa đêm hôm qua động đất vùng Tây Bắc, ô cửa kính chợt rung lên

ngỡ như đợt gió mùa mới tràn về

Ai đó định nói gì rồi im bặt

Thức dậy câu chuyện hồ nước trên núi và tuổi xuân của chúng tôi

bên bờ nước

Những đêm trắng dưới quầng đèn đục ngầu sương muối

Tiếng dòng sông gầm gào trong lòng đêm tối

Tôi lạnh lẽo trơ vơ lẫn cùng những tảng đá lô xô bên vách đứng

dòng sông

Ai đó định nói gì rồi im bặt

Vang lên câu chuyện không hồi kết thúc.

 

 

 

 

 

 

 

 

BA BẢY

 

Chiếc lá vàng vừa rơi trước cửa

chưa kịp nhặt lên, mùa thu qua quá nửa

 

Chiếc lá vàng vừa rơi trước cửa

chưa kịp nhặt lên, mưa đông mờ đất

 

Tuổi ba bảy tôi trôi nặng nề, ách tắc

những nẻo đường chống chếnh lạnh lẽo

sương muối phủ dày trăng

  

Tuổi ba bảy tôi trôi ẩn nhẫn, câm lặng

xứ sở ồn ào, người hiền vắng vẻ

nỗi sầu dâng cao niềm trắc ẩn

 

Ai nói gì? Ai hỏi gì?

vươn mãi lên trời con sông độc chảy

những ngọn núi phồn sinh mang khát vọng

theo nhau oằn chạy

 

Cuối năm không thắp đèn, để đêm trùm xuống

một ngày? Một tháng? Một năm? Trăm năm?

thời gian bào mòn dấu vết

 

Tuổi ba bảy tôi nghi ngút hiện nền kinh xưa cũ

bên song vắng rơi đôi ba tiếng hạc

một con đường màu đất hung hung.

 

 

 

 

 

 

 

 

KHÚC XUÂN

 

1

Trở lại tháng ngày đẹp nhất

xuân sẽ về cánh đồng gió lộng

những con sẻ nâu chiêm chiếp bên thềm

 

Trở lại tuổi thơ vừa đấy

trang tiểu thuyết lầu hồng vầng trăng cổ

mái nhà xiêu xiêu

vòm cây đổ đổ

tóc sắp hoa râm

âm thanh xưa còn rực

 

Thời gian phủ lấp đời người

tuổi trẻ mất tăm, chỉ còn tiếng vọng

còn xuân cõi vô tình

nỗi niềm ta thành nông nổi.

 

2

Chưa ra khỏi ngõ xuân đã hết

xuân với mình chẳng hệ lụy gì

chút vương vấn đêm qua trĩu mái hiên từng giọt

 

Ồ sầu chung

sầu riêng chưa thoát

vùi qua đông khu vườn nhà bên tiếng chim vừa hé

hơi ấm lên ở cuối giêng hai

 

Ta mang niềm xuân chất lên đầy gánh

ban mai

đường dài.

 

 

 

 

 

 

 

THÁP BÚT

 

Những đám mây hình mai rùa dong về phía bể

Thanh gươm xưa bao giờ thấy lại?

Tháp Bút

Uy nghiêm

Sừng sững

Dáng thi nhân

Câm lặng và lực lưỡng

Câu thơ viết lên nền trời

Bài thơ viết lên nền trời

Ngông cuồng viết lên nền vương quốc

Tự Do

Cái Đẹp

Tôi tìm kiếm thời gian vầng trán

Cố đô con rồng bay chưa nhỉ?

Trở về tâm sự người xưa

Tâm tình ấy chẳng bao giờ nguội lạnh

Tốt tươi như đồng cỏ mùa hè.

 

 

 

 

 

ĐỖ HÀN

 

- Họ và tên khai sinh: Đỗ Văn Hàn

- Sinh năm 1959

- Bút danh: Đỗ Hàn, Hoà An

- Quê quán: Vĩnh Thịnh, Vĩnh Tường, Vĩnh Phúc

- Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam.

 

- Tác phẩm chính đã xuất bản:

* Thương giọt ca dao (Tập thơ, NXB Hội Nhà văn, 2006)

* Những con đường trong sương (Tập thơ, NXB Hội Nhà văn, 2008)

* Bức huyết thư (Tập truyện ngắn, NXB Hội Nhà văn, 2009)

* Với cỏ (Tập thơ, NXB Hội Nhà văn, 2010)

* Nước mắt thánh nhân (Tập truyện ngắn, NXB Hội Nhà văn, 2014)

- Giải thưởng văn học:

* Giải B truyện ngắn kỷ niệm thành lập tỉnh Vĩnh Phúc, 2000

* Giải C về đề tài Thương binh liệt sỹ tỉnh Vĩnh Phúc, 2002

* Giải thưởng VHNT Vĩnh Phúc 5 năm lần thứ III (2005-2010)

* Giải C thơ Hội Nhà văn Việt Nam và Tập đoàn than khoáng sản Việt Nam, 2011.

- Suy nghĩ về nghề văn:

“Với tôi: Trong mỗi nhà văn có một nhà giáo”

 

 

 

 A - TRONG KÝ ỨC BẠN BÈ

 

THÊM MỘT BÀI THƠ HAY VỀ CHỊ 

Phan Cung Việt

 

Tết của chị                       

Từ ngày chị lấy chồng xa

Mỗi lần sắp bát dư ra một người

Mẹ trông ra cuối chân đồi

Cành cọ cựa gió ngỡ lời chị thưa…

Tết về hương thắp cuối trưa

Chai rượu tuột nút vừa mua cuối làng.

Đĩa cam quả tím quả vàng

Ngượng ngùng chị gói chiếc làn lên xe…

Ghé ngồi mớm dóng chõng tre

Tay quờ quai nón mắt nghe mẹ cười!

Bóng chị vừa khuất chân đồi

Nhìn tàn hương cháy… mẹ ngồi ngóng tin.

                                                            (Đỗ Hàn)

Như đã thành thiên vị, từ ngày học làm thơ cho đến khi vào đời, hễ thấy thơ đâu là tôi tìm đọc thơ viết về Mẹ và Chị trước. Cái Sery Thơ như chén thuốc bổ, như những gì thuộc về vĩnh hằng. Tôi nghĩ thật hạnh phúc cho những văn nhân thi sĩ khi viết về Mẹ và Chị. Viết hoa.

Những ngày lạnh man mác này, tôi gặp bài thơ Tết của chị, của nhà thơ Đỗ Hàn. Bài thơ đã đánh thức trong tôi nhiều cảm xúc. Và tôi lại đinh ninh rằng Đỗ Hàn là người hạnh phúc.

Có lần tôi đã nói điều đó với anh. Và nhân thể nói luôn về thơ. Viết về Mẹ và Chị, đặt ra cho nhà thơ những gì thật bình dị mà cũng thật lớn lao. Hạnh phúc đấy mà cũng là thử thách. Khai mở vào cái kho vàng ròng này không phải là việc dễ dàng. Vì nó thử thách cao nhất cái tâm, cái tài, cái tình của nhà thơ. Lại còn bản sắc riêng của nhà thơ nữa. Chị và Mẹ của mình, nhưng cũng là của muôn đời…

Từ ngày chị lấy chồng xa/Mỗi lần sắp bát dư ra một người/ Mẹ trông ra cuối chân trời/Cành cọ cựa gió ngỡ lời chị thưa…Lối vào thật là bình dị, thật hay.Câu này đã tự giới thiệu rất sớm một Đỗ Hàn viết về Chị và Mẹ. Cũng hé mở sớm cái chất của Đỗ Hàn. Câu thơ có sức mở như thế.

Tết về, hương thắp cuối trưa/Chai rượu tuột nút vừa mua cuối làng …Tôi tưởng tượng ra một Đỗ Hàn tuổi thơ sinh sắc và ấm áp. Một tuổi thơ đầy chất thơ dân giã. Đầy phong vị quê hương.Từ đó, hình ảnh đầy xúc cảm của Người Chị hiện ra:

                            Đĩa cam quả tím quả vàng

                   Ngượng ngùng chị nhấc chiếc làn lên xe…

Và rồi:

                            Ghé ngồi mớm gióng chõng tre

                   Tay quờ quai nón, mắt nghe mẹ cười

Và câu kết:

                             Bóng chị vừa khuất chân đồi

                    Nhìn tàn hương cháy, mẹ ngồi… ngóng tin

Đỗ Hàn đã thành công khi kết nối Mẹ và Chị. Kết nối những gì muôn thuở !

Cả bài thơ, tự đáy tâm hồn mình, Đỗ Hàn có những từ, những ý thật riêng, thật đắt.Cựa gió  .Tuột nút.Mớm gióng chõng tre.Tay quờ quai nón…Đó là một hệ thống từ thơ sớm làm nên một Đỗ Hàn trong thơ viết về Chị.

 

Thơ, văn Đỗ Hàn chân thành và tươi mới.Một vẻ đẹp chân thành, một vẻ đẹp tự nhiên. Anh là một trong số không nhiều các nhà thơ trẻ có chất riêng trong những gì thuộc về vĩnh cửu.

 

 

 

 

 

“NƯỚC MẮT THÁNH NHÂN”, 

CỔ TÍCH MỚI CỦA ĐỖ HÀN

                                                                                                                   Đặng Hiển

 

Nước mắt thánh nhân, tập truyện ngắn của Đỗ Hàn, NXB Hội Nhà văn 2014 là một cuốn truyện như thế. Tiểu biểu là truyện mà tác giả lấy làm nhan đề cuốn sách “Nước mắt thánh nhân”.

Nước mắt thánh nhân là truyện viết về Thánh Gióng, người anh hùng thần thoại, một trong bốn tứ bất tử của nước ta. Người mà theo trí tưởng tượng dân gian đã có sự sinh ra kỳ lạ, sự lớn lên kỳ lạ, lòng yêu nước kỳ lạ và hành động đánh giặc cứu nước là kỳ tích nhưng nguồn gốc là sự thật lịch sử (sử chép dân ta thời ấy  đã đánh thặng giặc Ân Trung Quốc thời Tần Thủy Hoàng) và bản chất là anh hùng của nhân dân (sinh ra từ người mẹ nhân dân, được nhân dân nuôi lớn (bằng thức ăn dân dã cơm, cà), vũ khí (ngựa sắt, roi sắt…) cũng được rèn đúc từ lò lửa của nhân dân, gậy được nhổ lên từ bụi tre của làng. Nhưng đặc biệt trong truyện của Đỗ Hàn, người anh hùng ấy là người con rất thương mẹ. Đánh giặc xong, anh chỉ muốn về ngay với mẹ. Bà mẹ ôm lấy con – bà chỉ đứng đến ngang gối đứa con khổng lồ. Bà kiếm cho con thức ăn từ quả rừng đến ngô khoai sắn… Dân làng đã mang thức ăn đến đầy nhà. Gióng rất lạ thấy dân làng hôm nay nhìn mình có vẻ khép nép, e sợ, trong khi anh vẫn mang tâm hồn của một đứa trẻ, muốn chơi trốn tìm với lũ bạn. Anh từ chối lên gặp vua để lĩnh thưởng, để được ban chức tước… Anh muốn đưa mẹ đi tìm cha (mặc dù là anh hùng nhưng anh nghe thấy vẫn còn những dư luận định kiến: mẹ anh chửa hoang đẻ ra anh). Anh vô tình để tay lên đùi mẹ làm mẹ bị gẫy chân. Anh bế mẹ lên rừng để chạy chữa và tìm cha. Nước mắt thương mẹ, nhớ cha của anh chảy ròng ròng trên đường dài. Về sau anh được sắc phong Phù Đổng thiên vương và được thờ trên núi Nghĩa Lĩnh cùng với các vua hùng.

Gióng là người anh hùng tiêu biểu của dân tộc trong dã sử, trong tín ngưỡng dân gian nhưng Gióng vẫn là con người bình thường trong nhân dân, người con rất có hiếu với cha mẹ, rất có lễ với dân làng, yêu nước một cách hồn nhiên, vô tư, không màng danh vọng, bổng lộc, chức tước, người anh hùng của nhân dân với nghĩa đầy đủ, cao đẹp nhất của từ này.

Viết mới truyện cổ tích này, Đỗ Hàn đã làm việc việc giải thiêng anh hùng theo nghĩa tích cực, cao đẹp của từ này, ngược với lối giải thiêng bảng bố dân tộc, báng bổ tổ tiên của một số cây bút. Cách giải thiêng của Đỗ Hàn cũng là một thông điệp với hôm nay về tính nhân văn, tính nhân dân cần có của những người có danh, có chức…

Mưa rửa đền là một giải thích mới bằng cách cải biên cổ tích xưa, truyện 101 con voi ở vùng đền Hùng và hiện tượng mưa vào ngày 10/3 hàng năm ở vùng núi Hùng.

Truyện kể vua Hùng có 101 con voi, khi có loạn, 99 con voi đã trung thành quay đầu hướng về núi Tổ nhưng có hai con, 1 nằm ngang, không quay về chầu vua Hùng đã minh oan cho hai con đó, một con bị thương, một con bị sét đánh. Theo lời nguyền khấn của vua, máu từ vết thương của con voi bị thương chảy thành dòng, còn con bị sét đánh thì hóa thành cái bãi nổi giữa sông. Số là khi vua Hùng đưa một nửa số lạc hầu, lạc tướng đi mở cõi thì ở nhà có một lạc tướng tên là Lương Án đã lừa mẹ Âu Cơ, định làm phản thoán ngôi. Hắn đút lót dụ dỗ số lạc hầu, lạc tướng ở lại để hắn được làm chủ lễ tế trời đất và ngầm huy động binh mã về đánh úp kinh thành. 101 con voi của vua Hùng đã không theo y, một con voi đực đã lồng lên giày xéo quân địch và bị trọng thương, một con voi cái thì bị sét đánh khi vượt sông. Sau khi dẹp loạn, vua Hùng đã khấn trời cho mưa xuống để minh oan cho hai con voi trung nghĩa. Đó là ngày mồng mười tháng ba hàng năm. Người ta còn gọi là “mưa rửa đền”.

Truyện rất hay về lòng trung thành với đất nước, nhưng còn hay hơn ở chỗ: tất cả thần dân đều hướng về đất tổ, nếu có ai bị oan thì oan được rửa, công được ghi nhớ. Chỉ kẻ nào thực sự phản quốc mới không đáng so với loài vật.

Huyền thoại đầm vạc là một huyền thoại về sự sinh ra của Đầm Vạc ở gần chân núi Tam Đảo. Đầm mang tên Vạc, tên của cô con gái của cha là vua núi Tam Đảo và mẹ là thần rừng Xạ hương. Vạc yêu Thành Ngạnh, con trai của thần sông là kẻ thù truyền kiếp của thần núi Tam Đảo. Thành Ngạnh đã phản chiến, chống lại lời nguyền xưa và bị quân của cha giết chết. Để ghi công chàng và tránh cho con tiếng xấu là yêu con của kẻ thù, thần Tam Đảo đã phong cho chàng là thần núi của Thành Lanh, còn nàng Vạc hóa thành một cái đầm nước trong xanh hướng về núi Thành Lanh thanh lọc nước mà mọi dòng suối chảy xuống. Vẩy lưng của chàng Ngạnh trôi về đầm Vạc hoá thành đàn tép dầu ngon có tiếng bây giờ. Truyện đã chi tiết hóa, thi hóa truyện dân gian, đặc biệt nhờ ngôn ngữ văn chương (rất giàu chất thơ). Truyện là huyền thoại giải thích sự hình thành địa hình ở địa phương nhưng qua ngòi bút của Đỗ Hàn đều mang một ý nghĩa nhân văn mới: bước qua lời nguyền (hận thù) bằng chiến thắng của tình yêu, tình yêu lứa đôi và tình yêu hoà bình, hữu nghị.

Nhưng truyện còn kết thúc bằng một chi tiết liên hệ thực tế: bây giờ đầm Vạc thu nhỏ lại và không được trong lắm, dân làm nhà lấn sâu vào đầm, trên bầu trời Vĩnh Yên bây giờ có đàn vạc bay về, đêm đêm kêu ràng rạc như lời than của nàng Vạc… Một thông điệp về môi trường và mặt trái của đô thị hóa…

Truyện Sự tích một câu ca dao thực chất là truyện Mỵ Châu, Trọng Thuỷ được kể vừa giống và vừa khác xưa.

- Mỵ Châu vốn thích lấy người nước ngoài (khác)

- Mỵ Châu đã có một thời gian về nhà chồng ở nước ngoài, nhưng sau không chịu được sự xa lạ nên xin về nước (khác). Triệu Đà cho con trai sang ở rể (giống). Triệu cho nhiều người sang giúp Âu Lạc (như làm tàu thuyền, binh giáp) nhưng đều có ý xấu, làm cai thứ sau không dùng được trong điều kiện Việt Nam và nhất là do thám, vẽ bản đồ (bổ sung).

Trọng Thuỷ vốn là kẻ không chung tình (khác), không tự tử mà về lại giếng ngọc, thấy nước trong mát thì cúi xuống, không may bị lộn cổ (khác). Ngọc trai ăn phải máu Mỵ Châu ở bể (giống) khi rửa vào giếng nước quê hương thì trong sáng hơn (chứ không phải trong sáng vì cái chết (tự tử) của Trọng Thủy đã làm rõ nỗi oan của nàng.

Câu chuyện rõ ràng tăng thêm tính chiến đấu chống xâm lược phương Bắc (âm mưu độc hại, ý đồ xâm lược, cướp nước thấm vào máu từ cha đến con) nhưng cũng mất đi một ít thi vị và nhân văn. Âu đây cũng là cách kể mới đáp ứng yêu cầu của thời sự, có điều chưa khéo (ví dụ có thể tăng thêm chi tiết về âm mưu thủ đoạn xâm lược nhưng cứ để Trọng Thuỷ yêu Mỵ Châu nhưng tình yêu không thắng được máu bành trướng và phụ quyền).

Ngự Dội là sự giao duyên giữa cổ tích và hiện đại, giữa chuyện đời xưa và chuyện đời nay, giữa riêng và chung. Nó để lại nhiều dư vị của tình yêu, tình yêu lứa đôi, tình yêu đất nước và cuộc sống.

Truyện kể: Ngựa của Thánh Tản bị thương. Có một cô gái quê đã múc nước bằng chiếc sọt đựng cỏ của cô để thánh tắm và rửa vết thương cho ngựa và thỉnh cầu mẹ núi biển túm cỏ thành sữa, thành thuốc cho ngựa được mau lành.

Chuyển sang vào những năm 40 của thế kỷ trước, có một anh bộ đội bị thương (Bình) được một cô gái chăm sóc bằng vị ngọt của cỏ và dịt vết thương cũng bằng thứ cỏ đó. Về sau, anh lại gặp một cô cắt cỏ khác và thành vợ chồng. Cỏ đã cứu sống cậu con trai của 2 người một lần đã lả đi vì đuối nước. Ông bác sĩ ngày xưa đã chữa cho anh Bình phát hiện ra anh đã được dịt vết thương bằng một thứ cỏ có chất kháng sinh. Vợ ông, bà Loan cũng là bác sĩ sau đó đã bảo vệ thành công luận án tiến sĩ về loại thảo dược đó. Về sau anh Bình và bà Loan tình cờ gặp nhau. Ông bác sĩ đã hi sinh trong chiến tranh chống Mỹ, còn vợ ông Bình thì đã mất vì bệnh cách đấy 3 năm. Giữa hai người bất chợ nảy nở sự thông cảm cao hơn tình đồng đội, cao hơn tình nghĩa của người bác sĩ và thương binh.

Cổ tích ở đầu truyện chỉ là một cái cầu để bắc sang một truyện cổ tích thời hiện đại cũng lấp lánh không kém mà đa diện hơn.

Trâu vàng là một huyền thoại liên quan đến lịch sử mà tác giả nói là thời Lý Thái Tông, có tục lệ khi hoàng hậu băng hà thì phải chôn theo một số cung tần mĩ nữ của vua.

Làng Cài ven Hồ Tây có một lão bà sinh được một cô gái đẹp tên Líu. Cô sẽ phải chết theo Ỷ Lan, nhưng cô vốn là công chúa thuỷ cung được vua Thủy Tề giao cho chăn dắt con nghé vàng. Con nghé này khi nghe tiếng chuông được người khổng lồ đúc bằng đồng đen từ khắp vùng, thì lồng lên tìm mẹ và gây ra nạn lụt ở Đại La. Từ lúc được Líu chăn dắt, nó trở lên ngoan ngoãn nhưng khi Líu chết, nó lại quấy đảo làm cho nước Hồ Tây sôi sục. Dân quanh Hồ Tây phải chọn một cô gái đẹp còn trinh để cúng vua Thủy Tề. Tên quan chủ tế nổi lòng dục đã ăn nằm với cô gái và nạn lụt lại xảy ra. Từ đó việc cúng gái trinh đã bị bãi bỏ và cái làng Cài từ đó cũng không sinh ra được gái đẹp nữa.

Câu chuyện nạn lụt ở kinh thành xưa liên quan đến tục hiến sinh nhưng cũng liên quan đến 2 danh nhân lịch sử quan trọng là thái hậu Ỷ Lan và vua Trần Nhân Tông nên tác giả nên cân nhắc thêm.

Yếu tố huyền thoại còn đậm nét trong một số truyện về con người hiện đại như truyện Khối tình còn lại.

Hai anh chị, chị thanh niên xung phong, anh lái xe gặp nhau, yêu nhau trong một trận bom, 2 người ngất đi trong tư thế ôm chặt lấy nhau, khiến người ta phải gỡ chân tay họ ra. Sau chiến tranh, họ lại gặp nhau nhưng anh bị chấn thương sọ não, không còn cảm giác về tình yêu nhục cảm, nhưng vì yêu họ vẫn sống chung với nhau. Anh học đàn để gẩy cho chị nghe. Một hôm anh bị tai nạn. Rồi anh đi buôn, chẳng may bị lợi dụng chở đồ quốc cấm. Anh được miễn tố nhưng bị tổn thương nặng nề về danh dự. Anh tự hủy hoại thân mình và qua đời. Chị héo hon và sống với ký ức về tình yêu.

Có một anh sinh viên giống anh như đúc. Chị nhận làm con nuôi. Chị trẻ lại và có thai phải mổ. Bác sĩ phát hiện chị hãy còn trinh. Chị chấp nhận đổi sinh mệnh mình lấy đứa bé. Nhưng thai nhi chỉ là một khối máu huyết trong như pha lê và rắn như kim cương. Người ta dùng khối đó làm vật chứng để tố cáo chất độc màu da cam. Nhưng thực ra khối đó là khối tình của chị với người chồng.

Đây là một huyền thoại thời hiện đại mà hình tượng của nó đã được Đỗ Hàn sáng tạo từ chi tiết huyền thoại; khối tình trong truyện cổ như khối tình Trương Chi nhưng là để ca ngợi một mối tình cao thượng gắn với lý tưởng của con người Việt Nam hiện đại.

Có một số truyện hoàn toàn hiện đại, hoàn toàn theo bút pháp hiện thực không có yếu tố huyền thoại như truyện Người chỉ biết ngồi xổm, phê phán những quan chức vừa có tính tham vừa có tính sĩ, cuối cùng gậy ông đập lưng ông và tự mình lại mâu thuẫn với mình Lão Cổn mắc bệnh  đau đầu gối không ngồi bệt xuống chiếu được. Khi còn làm Phó Chủ tịch, lão làm cỗ khao thọ mẹ được lãi 100 triệu. Khi lão về hưu, mới 65 lão đã mừng thọ 70, quen mui thấy mùi ăn mãi, hi vọng cũng kiếm được kha khá, không ngờ phải đổ đi mất 30-40 mâm cỗ. Nhưng còn tiếc và tham, lão ứng cử Bí thư Đảng uỷ thị trấn và lại dính vào vài vụ đất đai, bị chuyển sang Chủ tịch Mặt trận. Sang chủ tịch Mặt trận được 2 năm thì vụ khao thọ mình 70 (như đã nói ở trên). Khi đương chức lão luôn rao giảng, hạ giá thơ văn, phê phán những người về hưu, không làm việc gì hữu ích mà sính làm thơ vì rỗi hơi, hiếu danh, nhưng chính lão sau khi bị mất chức chủ tịch mặt trận thị trấn lại thành lập một câu lạc bộ thơ và làm chủ nhiệm mặc dù cả đời không làm được câu thơ nào…

Có một truyện, tác giả dùng thi pháp nhân hóa đó là Đổi kiếp. Con chó sau khi chết báo mộng cho chủ là mình đã hóa kiếp thành quỷ. Chủ trách chó chó nói “Chúng con (quỷ) chỉ hay nghịch ngợm, chứ không ác với ai bao giờ” Chủ hỏi: “Có muốn về cõi người không?” Chó nói “Không bao giờ, con người giả dối, khó sống lắm ông ơi”.

Truyện dài, đoạn trên có chi tiết rất hay: chó biết thương yêu nhau, khi một con ở cùng nhà chết, con kia bỏ ăn bới đào xác bạn. Rồi chuyện con chó biết ăn trộm thịt ở chợ mang về cho chủ, bị chủ đánh bắt mang giả người bán hàng. Như vậy chủ là người tốt, nhưng ở đoạn cuối tác giả đã mượn lời chó phê phán người. Âu cũng là có nhiều người xấu không có tình có đức bằng chó nên chó không muốn đổi làm kiếp người.

Có một truyện mà đến nay tôi vẫn chưa biết thâm ý của tác giả đó là truyện Làng rắn.

Nhà Bân buôn rắn, nuôi rắn để lấy nọc làm thuốc, anh đang bị mất một con rắn hổ mang. Anh gặp một cô gái có chửa đến tháng đẻ. Anh giúp cô sinh nở. Cô cũng là một khách buôn rắn (nọc rắn tinh chế). Vì mẹ cô cũng buôn nọc rắn và là người Hoa đã về Trung Quốc, nên cô nhờ anh mua hộ một ngôi nhà để ở. Chồng cô là một người bài bạc nên cô phải biến tất cả tiền bạc thành tinh nọc rắn để hắn khỏi lấy mất tiền. Cô và Bân có lần đã ăn nằm với nhau. Bân trở về nhà. Một đêm nằm bên vợ anh thấy mềm mềm trên ngực, ngỡ cánh tay cô gái, nhưng hóa ra con hổ mang đã tìm về nhà. Hai vợ chồng đưa con rắn vào lại chuồng.

Ngoại trừ truyện này, còn các truyện khác trong tập đều rõ ý, tất nhiên với những lớp và mức độ quan trọng khác nhau. Đặc điểm chung của tập truyện là sử dụng nhiều yếu tố huyền ảo; chủ nghĩa hiện thực huyền ảo vốn là đặc sắc của văn học Châu Mỹ La tinh. Ở ta cũng đã có người vận dụng. Đỗ Hàn trong tập truyện này cũng đã sử dụng yếu tố huyền ảo theo cách của anh. Đó là ở Đỗ Hàn ta thấy đậm chất cổ tích, chất truyền thống, chất dân tộc, có khi là phóng tác cổ tích (với sự gửi gắm thông điệp hiện đại), có khi viết hẳn một cổ tích mới, có khi mượn một thoáng huyền thoại, mượn yếu tố ẩn dụ, phóng dụ của cổ tích, có khi kết hợp bút pháp huyền thoại với bút pháp hiện thực, có khi là “kim cổ giao duyên”. Cách kết hợp đó như thế nào cho hay nhất cho hữu hiệu nhất là điều còn phải bàn nhưng ý đồ sáng tạo và gửi gắm thông điệp tư tưởng của tác giả trong tập Nước mắt thánh nhân đã là một thử nghiệm, một nỗ lực đáng khích lệ.

  Đ.H

 

 

 

 

B - MỘT SỐ TÁC PHẨM TIÊU BIỂU 

 

 

NƯỚC MẮT THÁNH NHÂN

(Truyện ngắn) 

 

Gióng ôm xác mẹ khóc rống lên.

Tiếng khóc ồ ồ, có lúc tắc nghẹn; vừa tức tưởi, vừa nghẹn ngào, vừa ngây ngô. Rừng xanh cũng như buồn lây. Im phắc! Chim rừng cũng như chia sẻ. Im phắc!

Gióng lóng ngóng lật mẹ từ bên này sang bên khác, lật đi, lật lại. Miệng gào to “Mẹ … Mẹ ơi….”. Tiếng gọi đập vào núi đá ầm ầm, âm âm rồi tắt ngấm.

Đã bao giờ Gióng gần xác chết thế này đâu. Trong chiến trận, ngồi trên lưng ngựa, Gióng chỉ thấy ngựa sắt phun lửa cháy tóc, cháy áo lũ giặc, khét lẹt. Gióng vung gậy sắt rồi vung cả bụi tre ngà, quơ sang hai bên mình ngựa, lũ giặc chết như ngả rạ. Gióng có biết chôn người chết như thế nào đâu. Việc ấy đã có các đoàn dân binh chạy theo ngựa Gióng lo toan.

Giờ ôm xác mẹ giữa rừng sâu, Gióng sợ và Gióng lóng ngóng!

*

*       *

Hôm đó, trên đỉnh núi Sóc, Gióng ghìm cương ngựa, quay nhìn bốn phía. Lũ giặc Ân đã tan tác, chín phần chết, một phần sống sót chạy vào rừng hay nhảy xuống sông, run như cầy sấy. Quân triều đình đang lo bắt tù binh và thu gom vũ khí. Dân binh các ấp đang lo dập lửa ở các thôn xóm và chôn cất các xác giặc.

Làng xóm cháy miên man. Từ phía tả ngạn sông Hồng sang phía hữu ngạn sông Cầu, sông Đuống, các đám cháy vẫn bốc lên rực trời. Một phần đám cháy là do giặc đốt, một phần là do lửa phun ra từ miệng ngựa sắt của Gióng. Gióng gạt mồ hôi, cởi giáp sắt vắt lên lưng ngựa rồi vỗ vỗ tay vào mông ngựa sắt.

- Mày từ đâu đến thì về nơi đó đi. Giặc chết hết rồi.

Ngựa sắt co hai chân trước, tung bờm hý lên ba hồi thống thiết như chia tay.

Gióng bảo:

- Tao nhớ Mẹ, tao về làng đây!

Ngựa sắt chớp chớp mắt, gật đầu.

Gióng bảo:

- Mẹ tao nghèo lắm, tao thương mẹ!

Ngựa sắt rung bờm, gật gật.

Gióng bảo:

- Đi nhé! Nhớ đừng phun lửa nữa, cháy hết nhà, hết lúa rồi đấy!

Ngựa sắt liếm lên tay Gióng.

Người và ngựa bịn rịn chia tay.

Giữa lúc ấy, một cơn giông kéo đến, trời tối sầm. Gióng luống cuống tìm đường xuống núi. Một tiếng sét rung đất chuyển trời. Lòa sáng rồi tắt ngấm. Một đường sáng chói nối giữa tầng mây xám với đỉnh núi Sóc. Trong nháy mắt, ngựa sắt tan vào trong luồng sáng chói ngoằn ngoèo lên mây….

Gióng về đến nhà thì đã quá nửa đêm. Trăng cuối tháng ròng ròng màu trắng sữa, tỏa khắp cánh đồng, cây đa, mái đình, phủ lên làng xóm huyền ảo. Mẹ vẫn ngồi ở bậu cửa ngóng ra ngõ. Thấy bóng của Gióng lừng lững ngoài cánh đồng, bà lật bật chạy ra đón.

Gióng hét lên “Mẹ…Mẹ…” rồi định sà vào lòng mẹ. Nhưng cậu đứng chững lại. Mẹ nhỏ thó, đen đúa đứng chỉ đến đầu gối cậu. Mẹ giang hai tay, lập bập rên lên “Gióng, Gióng đấy phải không?”. Bà kiễng chân, tay quờ quờ cũng chỉ xoa được vào hai cái đùi chắc như hai cột lim.

Gióng đành đưa một tay xuống, ôm vào lưng mẹ, gần như là cắp mẹ vào nhà.

Nhưng Gióng cũng không thể vào nhà. Thân hình kềnh càng, to cao của cậu, cúi gập xuống cũng không thể lọt qua mái tranh. Gióng đành ngồi giữa sân, nhìn Mẹ.

Mẹ lăng xăng chạy quanh người Gióng. Bà lấy khăn ướt lau cẳng tay, lau ngón tay rồi lau lưng cho Gióng, miệng xuýt xoa: Con bẩn hết người rồi…. đen sạm nữa... khổ thân con… khổ thân con tôi quá!

Gióng trìu mến nhìn mẹ rồi bỗng xịu mặt:

- Mẹ ơi… Con đói!

 

*

*        *

Đúng là lúc này Gióng đói thật.

Đã ba ngày nay, Gióng chưa có một thứ gì vào bụng. Mấy hôm trước, mẹ bỗng sốt xình xịch trên lưng Gióng. Từ ngày cõng mẹ vào rừng, ngày nào mẹ cũng chỉ cho Gióng những quả trên cây có thể ăn được. Gióng nhón chân là với tới. Mẹ lại chỉ cho Gióng biết những củ mài, củ từ nằm sâu dưới đất. Gióng dùng con dao nhỏ, cạy một lúc là có ăn. Mẹ sốt, sốt li bì, mặt mẹ đỏ rần, tóc tai mẹ bơ phờ, người mẹ nóng hầm hập. Mẹ chỉ đòi uống nước. Gióng lóng ngóng chẳng biết chăm mẹ thế nào. Một mình Gióng, không biết tìm quả gì, củ gì để ăn. Gióng đói, đói lả người bên thân hình gầy gò đang hầm hập sốt của Mẹ. Giọng Gióng thì thào:

- Mẹ ơi… Mẹ dậy đi… Con đói!!!   

 

 

*

*      *

 

 

Sáng sớm hôm đó, Mẹ lôi tất cả khoai lang dưới gầm giường ra, khều tất cả ngô giống vắt trên dây xuống, đào tất cả sắn non trong vườn, luộc cho Gióng ăn. Mẹ nghẹn ngào:

- Con ơi, nhà mình nghèo, con ăn tạm thế nhé, lát nữa trời sáng, mẹ đi mò cua, bắt tép về nấu canh cho con ăn.

Gióng ăn một loáng hết sạch khoai, ngô, sắn mẹ vừa luộc ra dù chúng còn nóng hôi hổi.

Gióng vươn vai rồi ngó xuống mái nhà, mái nhà đã dột, lâu không ai dọi lại. Gióng  nhìn vào cái chõng tre mẹ vẫn thường nằm, cái chiếu rách lua tua, thủng ở giữa, nơi mà ngày trước Gióng đái dầm, mặt chiếu thâm lại. Gióng ngẩn ngơ, thương mẹ lắm nhưng chẳng biết làm gì. Tay Gióng lóng ngóng kéo mấy nụn rơm đậy lên mái nhà, như chơi đồ hàng. Mấy nụn rơm lả tả rơi xuống đầy mặt chiếu. Nản quá, Gióng ngồi tựa vào gốc cây sấu ngáp dài rồi ngủ gật. Quá trưa, Mẹ mang một rổ ổi về. Gióng bừng tỉnh, chưa kịp ăn thì nghe tiếng nhiều người xôn xao ngoài ngõ.

Dân làng nghe tin Gióng về nhà, đã ùa theo Mẹ,
về theo…

Thế rồi, người gánh, người đội, người đẩy xe mang gạo, mang bí, bầu, khoai, sắn… ùn ùn kéo đến. Một loáng, gạo chất cao như đồi, ngô dồn vào thành mấy đống.

Nhưng không như lần Gióng sắp ra trận. Dân làng vẫn lúi cúi nấu nướng cho Gióng ăn, nhưng người nào người nấy cứ lấm lét, nem nép nhìn trộm Gióng. Gióng đi đến đâu, dân làng đều chạy dạt ra xa, nếu không kịp thì quỳ thụp xuống, vái lia vái lịa.

Gióng lấy làm lạ lắm!

Gần tối, một đoàn bô lão với áo the khăn đóng, rước một cái hương án và có một cỗ kiệu to đùng đi vào sân.

Đồng loạt các cụ bô lão quỳ sụp xuống trước mặt Gióng, lạy như tế sao. Gióng ngơ ngác rồi gọi Mẹ.

Mẹ Gióng lập bập chạy ra, chẳng biết làm gì, cũng rập đầu lạy các cụ bô lão.

Một cụ già nhất trong làng trịnh trọng thưa:

- Kính lạy đức Thánh! Chúng con người trần mắt thịt, không biết Người về. Nay chúng con thể theo lòng dân, kính xin đức Thánh vui lòng dùng bữa tối, rồi dời gia thất đến ở đình làng để dân làng chúng con tiện bề cung kính!

Gióng đưa mắt cầu cứu Mẹ.

Mẹ vẫy tay ra hiệu Gióng cúi xuống. Gióng đang ngồi giữa sân, người phải gần như nằm nghiêng sang bên hè bếp. Mẹ với miệng gần tai Gióng thì thầm:

- Con ơi! Ngày xưa vì mẹ vào rừng gặp cha con, mẹ mang tiếng không chồng mà có chửa, bị dân làng đuổi ra ở chỗ vắng vẻ này. Nay, con phải nghe các cụ bô lão thôi. Nếu không, mẹ con mình không có đất mà dung thân con ạ!

Gióng cười hì hì rồi bảo:

- Mẹ đi với con!

- Ừ, con ra ở đó, rồi ngày nào mẹ cũng ra với con.

Gióng ngoan ngoãn:

- Vâng ạ!

Tối đó, cả dân làng bày tiệc ra đường, bày mâm cỗ ra vườn, cùng vui đánh chén cho tới khuya. Tiếng bát đũa khua vào nhau loeng queng, tiếng cười, tiếng nói rổn rảng như hội làng.

Rồi kèn trống nổi lên. Kiệu bát cống hạ xuống. Mười sáu thanh niên trai tráng của làng gồng những bắp thịt rắn như đồng hè nhau nâng kiệu, rước Gióng về đình.

 

*

*       *

 

Gióng cứ lay mẹ, giật áo mẹ mà gào. Hai tay Gióng lật mẹ bên phải, quay mẹ bên trái, lắc, rung. Giọng Gióng da diết:

- Mẹ ơi! Mẹ dậy đi, con đói!

Mẹ từ từ mở mắt:

- Đã tìm thấy cha con chưa?

- Chưa…ưa !!!

- Ừ, gắng lên con. Tìm thấy cha thì mẹ con mình sẽ không phải đói, cha con ở phía núi Tam Đảo kia con ơi…

- Ứ ừ… con không đi nữa – Gióng dằn dỗi.

Mẹ nhắm nghiền mắt, thều thào:

- Khổ thân con tôi. To lớn thế này mà không được ăn. Trời đất có thương, hãy cho con tôi sớm tìm được cha nó, để tôi có ra đi cũng mát lòng…

Người mẹ lả đi.

Gióng lại lắc, lại rung cái thân hình còm cõi… Cậu khóc tồ tồ “Mẹ ơi! Tìm thấy cha là no hả mẹ, mẹ ơi…”.

Những ngày đầu cõng mẹ vào rừng, Gióng đâu có biết đường rừng mịt mù như thế! Hai chân mẹ bị gãy, thõng thượt trên lưng, lắt lẻo theo bước đi của Gióng. Thân hình to lớn và bước chân huỳnh huỵch của Gióng làm lũ muông thú chạy dạt xa. Mẹ dạy Gióng làm bẫy nhưng Gióng cứ thập thò nhòm ngó, chẳng con thú nào sa bẫy cả. Hai mẹ con cứ ngày rẽ cây rừng mà đi. Tối đến ăn tạm nắm củ, quả hái vội, uống nước suối mà hy vọng tìm được cha…

 

*

*      *

 

Gióng ở đình làng được dân làng nuôi ăn no đủ. Hàng ngày Gióng ngồi trên chiếu điều ở giữa đình, vây xung quanh là các vị bô lão. Suốt ngày Gióng nghe những lời thưa:

- Lạy Thánh! Chúng con định xây lại ngôi chùa, Ngài chọn hướng giúp cho làng ạ!

- Kính lạy Thánh! Ngày kia dân làng định cho đào con mương ở đầu làng, kính Ngài chọn ngày giờ đẹp cho chúng con được nhờ ạ!

- Lạy Thánh chí tôn! Nhà con sắp sinh cháu, xin Người mở lòng thương, đặt tên cho cháu...

Gióng ngơ ngác nhìn quanh. Từ trước, Gióng có biết những chuyện này đâu? Mắt Gióng cứ hút vào mấy đứa trẻ đang tồng ngồng chơi khăng ngoài sân.

Các cụ bô lão trông coi Gióng cẩn mật lắm. Ăn uống, tắm rửa, đi tè, đi ị… các cụ đều phân công người chăm chút từng ly. Cấm có để Gióng phải đụng tay chân vào việc gì. Mỗi lần buồn tè, Gióng nhõng nhẹo “Ông ơi, cháu tè”. Lập tức có bốn thanh niên khỏe mạnh được các bô lão phân công, chạy vội đến, khênh một cái ang thật to. Gióng tè tồ tồ vào ang. Nhiều nhà trong làng tranh nhau múc nước ấy, mang về nhà cất giữ như được báu vật. Ai cũng bảo “Nước Thánh đấy, đau chỗ nào, xoa bóp vào, khỏi ngay”. Có người lại còn bảo “Ai uống được nước Thánh lúc còn ấm ấm, sẽ chữa được bách bệnh”!!! Các cụ bô lão hò hét, tất bật… Trưa, tối, các cụ cắt cử người ngủ ở gian cạnh, nơm nớp lo Gióng giật mình tỉnh giấc.

Một trưa, mấy cụ ngủ say, Gióng len lén bước ra sân rồi ra cổng đình. Gióng vẫy gọi mấy đứa trẻ tóc để chỏm, không quần áo, đen trũi như cá trắm đang đứng nem nép ngoài bờ chuối.

Gióng thì thào:

- Cho tớ chơi trốn tìm với!

Mấy đứa trẻ sợ sệt rồi có đứa mạnh dạn thưa:

- Thưa…. – Nó nhìn lên chỏm tóc của Gióng, nhìn cái khố ngắn tũn của Gióng rồi tợn tạo nói:

 - Thưa… thưa mày…!- Một đứa giật tay nó:

- Thưa Thánh chứ!

- Ứ phải. Nó để chỏm giống tao.

Rồi nó nói cứng:

- Mày to cao thế, trốn vào đâu cho vừa!

- Thế cho tớ chơi trận giả với!

 Thấy Gióng không giận mà còn nài nỉ, lũ trẻ bỗng òa lên:

- Hì… cậu bước một bước bằng cánh tớ bước mười bước, chúng tớ thua là chắc!

- Thế cho tớ chơi khăng vậy!

Cả lũ bĩu môi rồi cười váng:

- Tay cậu thế kia, khăng nào vừa được?

Gióng tức:

- Không cho tớ chơi, tớ mách mẹ!

-  Xì… mụ chửa hoang ý à… cóc sợ!

Gióng đành tiu nghỉu về ngồi trên chiếu giữa đình, mắt ngấn lệ.

Một sớm kia, có sứ giả của triều đình về làng. Sứ giả vung loa gọi:

-Loa loa loa loa…

Giặc giã đã tan

Xóm làng xanh lại

Vua cho vời gọi

Những kẻ có công

Sớm đến sân rồng

Để mà lĩnh thưởng

Loa loa loa loa…

Rồi sứ giả dừng ngựa giữa sân đình, ghếch chân lên bờm ngựa nói chõ vào:

- Làng này có cậu bé tên Gióng, biết cưỡi ngựa sắt, biết dùng roi sắt, lại xông xáo giữa trận tiền. Dân làng ghi công hắn, báo về kinh đô để Vua xem xét!

Các bô lão sụp lạy rối rít. Nhưng cũng có vị  mạnh dạn hỏi:

- Thánh của làng tôi giỏi vậy, từ đứa trẻ lên 3 vươn vai lớn hơn 10 trượng, cưỡi ngựa, phun lửa dẹp hết giặc Ân, ai cũng biết, sao Vua lại phải xem xét ạ?

- Hừm, có người báo về kinh đô, hình như mẹ hắn là gái hư hỏng, chửa hoang thì phải!

- Dạ… dạ… điều đó thì….

Tiếng vó ngựa của sứ giả xa dần, tiếng nói còn vọng lại:

- Thôi! Cứ thế mà làm!

Gióng bật dậy, lao ra khỏi sân đình.

Gióng về nhà gặp mẹ.

- Mẹ! Chửa hoang là gì hả mẹ?

Mẹ Gióng đang mơ màng ngồi nhớ con. Thằng bé Gióng của bà ngày nào không nói, không cười làm bà lo đứt ruột. Rồi nó ăn như trút, lớn như thổi. Rồi nó đòi có ngựa sắt, roi sắt. Rồi nó đi đánh giặc biền biệt mấy tháng trời. Giờ nó về, những tưởng bà được ôm ấp nó, bà được hôn hít nó. Nhưng nó đã thành người của làng. Làng giữ nó, làng nuôi nó, làng khấn vái nó… Khổ thân nó, mới ba tuổi đầu, đã biết và cơm đâu! Bốc cơm ăn, vẫn vốc cả hai tay. Đút cơm, nó vẫn vụng về đút cả năm đầu ngón tay vào mồm. Có hôm cắn miếng thịt lợn nó còn cắn cả vào tay, khóc thét lên…Thấy Gióng lộc cộc chạy về, bà như chợt tỉnh, quệt vội nước mắt rồi vẫy Gióng:

- Con nằm xuống đây… Mẹ xoa lưng rồi mẹ kể
con nghe.

Gióng nghe lời mẹ, ngả mình nằm xuống. Chân cậu vẫn ở ngoài ngõ, thân hình cậu choán hết khoảng sân, đầu gối lên bậc hè bằng đất. Mẹ Gióng ngồi bên thềm, xoa đầu, xoa vai Gióng:

- Con ạ, bố và mẹ gặp nhau ở trong rừng rồi có con. Bố bận việc không về làng được, mẹ không lấy ai mà có chửa đẻ ra con, thì dân làng gọi đó là chửa hoang.

- Nhưng con vẫn có bố!

- Đúng vậy! Nhưng với dân làng thì mẹ không giải thích nổi nên dân làng đã đuổi mẹ con mình ra đây.

- Hừ! Thế thì con ứ thèm ra đình ở với làng nữa!

- Sao vậy con?

- Ở đấy chán lắm!

- Thế thì con về kinh đô lĩnh thưởng nhé!

- Con cũng ứ thèm!

- Thế con muốn gì?

- Đến đấy họ bảo mẹ chửa hoang. Con ghét lắm! Mà mẹ ơi, ngựa của con phun lửa, cháy bao nhiêu nhà, con sợ vua mắng! – Ngừng một lát, Gióng quả quyết – Con đi tìm bố.

 Bà mẹ hốt hoảng:

- Không được đâu con ơi! Bố ở xa và đường đi nguy hiểm lắm. Hai nữa con ở với làng còn có cái ăn, cái mặc… chứ con ở với mẹ thì... – Lời mẹ nghẹn ngào trong nước mắt – thì… con chết đói mất!

- Không cần mẹ ạ! Con sẽ đào củ, con sẽ săn thú nuôi mẹ, nuôi cả bố nữa!

- Ôi! Con ngoan của mẹ! Đợi con lớn lên chút nữa, mẹ sẽ dẫn con đi tìm bố.

- Không! Đi bây giờ cơ. Mà con lớn rồi mà!

Gióng co chân, gồng bắp tay khoe với mẹ.

Đúng lúc ấy có tiếng phèng la và đoàn nhạc rước kiệu rộn ràng nổi lên. Đoàn các cụ bô lão của làng lại đang rồng rắn đến đón Gióng về ở đình làng. Gióng vội vàng:

- Mẹ ơi! Con không thích ra ở đình làng nữa.

- Con ơi! Cả làng này có ai được như con?

- Không! Con không thích, con thích chơi trốn tìm, con thích chơi khăng với các bạn cơ…

Tiếng nhạc và đoàn người đã đến đầu ngõ. Gióng chồm dậy. Trong lúc vội vàng, tay cậu chống lên hai chân của mẹ đang duỗi thẳng. “Rắc… rắc…” hai tiếng kêu khô ròn báo hiệu một cái gì đã gẫy.

Mẹ Gióng kêu thất thanh “Ối!” rồi ngất lịm. Gióng chưa hiểu mô tê gì. Nhìn mẹ thì thấy mẹ  lả đi, đau đớn. Nhìn đoàn người thì họ đang ầm ập vào ngõ. Gióng một tay bế xốc mẹ lên. Tay kia quơ vội mấy cái váy áo của mẹ vắt ở cây sào nứa. Chạy!

 

*

*      *

 

Nghe nói: Trong khi đó, ở kinh đô Phong Châu, Vua Hùng họp các quần thần để bình công, xét thưởng. Lạc hầu phụ trách quan lại và dân binh thì muốn tặng thưởng cho quan ở vùng đồng bằng, người đã có công tìm được Gióng. Quan coi việc quân lương thì muốn thưởng cho người đã đúc được ngựa sắt và roi sắt. Quan ở ngoài trận chiến thì xin Vua thưởng cho người đã dụ quân giặc tập trung đóng quân vào một dải đất để Gióng dễ tiêu diệt. Lại có Lạc tướng thưa rằng nên mời Gióng về kinh, cho làm chức quan to. Một Lạc hầu cự lại: Xong việc binh đao, để các tướng võ chăm việc rèn binh, luyện sỹ, không nên dính vào chuyện an dân vốn là việc của văn quan.

Quần thần bàn đi, bàn lại đến nát óc. Có người vừa tố việc mẹ Gióng chửa hoang, giờ lại tố rằng, ngựa của Gióng đã thiêu rụi mấy chục làng, bản. Dân làng ai oán lắm! Việc định công cho Gióng xét mấy buổi chưa xong…

*

*      *

Gióng bế mẹ trên tay, rồi cõng mẹ trên lưng nhằm phía núi Tam Đảo chạy miết. Mấy ngày đầu, khi tỉnh, mẹ chỉ cho Gióng hái lá thuốc đắp chân cho bà. Được gần tháng, chân mẹ đã khỏi. Được mẹ chỉ bảo, Gióng đặt bẫy bắt thú, Gióng đào củ nấu canh, Gióng trèo cây hái quả. Mẹ con bữa đói bữa no sống qua ngày. Nhưng bóng dáng người cha vẫn bặt vô âm tín.

Mẹ nựng Gióng:

- Gặp được Cha, con sẽ tha hồ được chơi như các bạn, con sẽ tung tẩy, đùa giỡn với các trò chơi.

- Gặp được cha, cha sẽ săn thú, trồng tỉa cây bắp cho con ăn, con sẽ không phải đói nữa.

Mắt Gióng sáng bừng lên khi mẹ nói.

Thế rồi mẹ ốm.

Mẹ sốt run người mà mồ hôi vã ra như tắm.

Lá thuốc mẹ chỉ cho Gióng hái, mẹ uống vào không cắt cơn sốt. Gióng lóng ngóng, không biết chăm mẹ thế nào.

Rồi sức mẹ kiệt dần.

Đã ba hôm nay, Gióng đói lả, ngồi bên thân mẹ héo quắt, Gióng khóc rống lên thảm thiết. Nước mắt cậu trai lã chã rơi lộp bộp xuống thảm lá rừng. Gióng khóc thương mẹ ốm đau, khổ cực suốt đời hay Gióng khóc vì không tìm được cha? Tiếng nấc tủi nghẹn ngào! Gióng khóc vì thương cho bao người dân khốn khổ vì khói lửa chiến tranh hay thương phận mình mồ côi? Tiếng khóc rung lên đau đớn. Hay Gióng khóc vì không được cùng lũ trẻ chơi trò đánh khăng đánh đáo? Tiếng khóc dỗi hờn u uẩn. Khóc ròng rã như thế, nước mắt Gióng chảy hòa vào nước suối rừng đại ngàn, rào rào chảy. Gióng thiếp đi trong đói lả và mệt rã rời.

Trong mơ, Gióng gặp được cha ở cuối đường rừng. Nơi đó có suối chảy rì rào, có hoa thơm trăm sắc đua nhau nở. Cha là người cao lớn, trí dũng hơn người. Cha cai quản cả một vùng đất đẹp như tranh. Gióng gặp người nào cũng tươi cười, hăng say làm việc. Gióng gặp các con thú rừng mà ngoan như thú nhà. Những chú gấu rúc vào chuồng lợn nằm kềnh bên chú ỉn; những chú nai nhảy nhót đùa cùng bầy chó tíu tít. Chao ôi, lũ trẻ con mới thích làm sao. Đứa nào cũng to cao và mặc áo quần đẹp ơi là đẹp. Gióng òa vào vòng tay lũ trẻ lúc chơi trốn tìm, Gióng tìm thấy chúng. Gióng công kênh chúng trên vai khi Gióng chơi trận giả, bị thua. Ôi, còn cái ăn nữa, sao mà thích thế. Bữa nào cha cũng cho người nấu hàng trăm món thức ăn cho Gióng và lũ trẻ. Người lớn cũng ăn cùng nhau. Ăn xong, trai gái ôm nhau nhảy múa, vui không sao kể hết.

Một tiếng sấm rền vang. Gióng giật mình tỉnh lại…

Mẹ vẫn nằm co quắp, như không còn thở. Rừng đại ngàn vẫn âm âm u u trong hơi đá lạnh. Phía trời tây tím sậm một màu đau buốt.

Gióng nâng mẹ trên hai tay, giơ lên trời cao, gào:

- Cha ơi! Cha ở đâu….

- Âu… âu… âu… âu….

Tiếng rừng già vọng lại âm u đến não lòng.

Cậu trai làng Phù Đổng, tóc để chỏm, giang hai chân, vác mẹ trên vai, thở hộc lên:

- Cha!...

Tiếng hét làm cho tất cả lũ thú trong rừng, lũ chim trên cây đứng tim. Lặng phắc!

Từ trời cao một lằn chớp xanh vụt sáng, một tiếng sét vang động cả đại ngàn.

Hai mẹ con cùng hóa giữa rừng già.

Trong nắng chiều bảng lảng, có người nhìn thấy bóng chàng trai cao lớn ôm mẹ gọn trên tay như ôm bó lúa vàng rực, bay về trời.

 

*

*      *

 

Nghe nói: Mấy trăm năm sau, ở đời Vua Hùng thứ 18, công trạng của Gióng được ghi khắc trong văn bia triều đình và được Vua ban cho chữ “Phù Đổng Thiên Vương”.

Dân làng Phù Đổng được cắt đất để hương khói thờ phụng.

Sử ghi: Đến đời Vua Đinh Tiên Hoàng – tức hơn 1000 năm sau, Gióng được đưa lên thờ ở núi Nghĩa Lĩnh, tục gọi núi Hùng – cùng với 18 vị vua Hùng.

Ngày nay, ai lên đền Thượng đều thấu hiểu điều đó! Nhưng mấy ai hiểu được giọt nước mắt của Người đổ xuống những con đường – những ngày đi tìm cha? !!!./.

                             

 

 

 

 

 

NGƯỜI CHỈ BIẾT NGỒI XỔM

 (Truyện ngắn)

 

Kể ra gọi ông Cổn là lão thì chưa đúng lắm !

Bởi tuy đã nghỉ hưu trên 5 năm, nhưng trông ông rất phong độ. Cái trán tuy hơi hói nhưng bù lại, mái tóc vẫn đen, bồng bềnh rất “nghệ”. Hai hàm răng tuy đã gãy 4 chiếc phía trong nhưng “bộ nhai” trước cửa còn chặt và trắng. Ấy, hàm răng mái tóc mà thế thì gọi “lão” có gì đó không ổn.

Nhưng mọi người gọi là “lão” – Lão Cổn – chính vì cái lễ lên lão ở tuổi 65 của ông ta.

Chuyện lên lão của ông Cổn là câu chuyện được kể dài dài ở cái thị trấn nhỏ bé vùng trung du này. Họ kể ra, thêm thắt vào, rồi lắc đầu, rồi lè lưỡi. Khi thì họ bảo “đổ đi 30 mâm chứ chẳng chơi!” lúc họ bảo “40 mâm là cái chắc!”. Miệng lưỡi thế gian, không biết đâu mà lần.

Số là, khi đương chức Giám đốc Sở Khoa học – Tài nguyên của tỉnh, lão làm một cái lễ thượng thọ cho bà mẹ 80 tuổi – Một cái lễ khao thọ to và oai nhất huyện. Ngày ấy, phong trào khao thọ cho các bậc sinh thành đang rầm rộ. Các cụ hưởng thọ 80, 90 ... được con cháu lồng áo đỏ, khăn đỏ vào! cho ngồi ngay ngắn trên bộ ghế giữa nhà. Con cháu, dân làng, họ mạc, thân bằng cố hữu gần xa lần lượt vào bắt tay cụ, chúc mừng. Có cụ ngồi cả ngày chỉ một động tác gật gật. Có cụ ngồi được nửa buổi đã lả đi, phải gọi người đến tiêm thuốc tăng lực. Quà mừng thì ê hề đường, sữa, rồi kẹo, bánh. Sau thấy bất tiện, họ chuyển sang mừng các cụ bằng phong bì. Có vị hài hước bảo “Đấy là mừng nụ cười hình chữ nhật”!!!. Phong bì vừa tiện dụng, vừa kín đáo. Lại được gia chủ dễ bề “xử lý” sau này. Qua vụ khao thọ mẹ, lão Cổn thu lãi mấy trăm triệu (!)

Về hưu rồi, lão nghĩ: Ngày mình làm Giám đốc Sở có bao tay nhờ vả, cầu cạnh. Khi thì đất cát, lúc thì khai thác cát, sỏi ... Làm thọ mẹ mình có đứa còn chưa đến, có đứa còn bủn xỉn mừng nhỏ giọt. Nay ta làm thọ cho chính ta, làm sao không đến mừng ???

Thế là về hưu được 4 năm, lễ lên lão 70 của ông Cổn được thông báo. Người thân tình thì bảo: “Tính ra ông mới nghỉ được sang năm thứ 5, lên lão 65 tuổi sao được?” – Lão bảo: “Ối giời ! Bao năm cống hiến cho Đảng, cho Nhà nước, sức vóc tôi cũng yếu lắm rồi! chẳng biết có sống nổi dăm năm nữa không. Thôi thì làm dăm mâm dưa muối gọi là... kẻo sau này lại ân hận (!)

Mấy bạn bè từ thuở để chỏm thì khẳng định: “Ông Cổn vào tuổi 70 thật rồi! Chẳng qua khi đương chức, ông ấy sửa lý lịch thế nào ấy mà làm thêm được mấy năm trên ghế quan! Chứ bọn tôi thì ai cũng làm thọ hết rồi!”. Được ý ấy, lão Cổn càng phấn chấn. Lão cho gọi cả đội quân nấu nướng, bếp, bàn của nhà hàng Hoa Phố từ thị xã về làm cỗ. Cũng 9 đĩa 2 bát, cũng nem chua, chả nướng, cũng canh bóng hầm hạt sen, thuốc bắc... xôn xao cả thị trấn.

Lại nói về thị trấn lão đang ở. Ngày trước, khi còn làm phó chủ tịch huyện, lão đã chọn ô đất đẹp nhất huyện lỵ này. Ô đất vuông vức mỗi chiều 20 mét, nằm sát trục đường liên tỉnh.

Lão làm căn hộ hai tầng khiêm tốn nhưng cầu kỳ về vật liệu. Lão trực tiếp về tận Giếng Đáy ở Quảng Ninh để chọn ngói và gạch xây. Lão cho người vào tận Quảng Nam để mua gỗ về đóng cửa. Lão còn đón ông thầy địa lý từ Lao Cai về để chọn hướng nhà. Ông thầy chỉ tay đắp hòn núi giả – thợ đắp! Ông thầy khoát mắt sang phải chọn thế Thanh Long, lão Cổn vâng vâng dạ dạ. Vì thế mà lão kỳ cục đi tìm hai tháng trời mới mua được cây sakê (có lá to, đen thẫm, xoè như tay quạt – gốc gác từ nước ngoài – Theo lời thầy). Cây sakê gốc từ Nhật Bản, quả ăn bùi như khoai tây, ngọt như khoai lang tím, ngầy ngậy như lạc – được đứng trấn trạch nhà lão Cổn.

Cũng lạ! kể từ khi về ở căn hộ ấy, cả nhà lão Cổn “phát” trông thấy. Lão chuyển từ Phó Chủ tịch huyện lên quyền Giám đốc rồi Giám đốc Sở. Mấy năm sau, chức phó Chủ tịch tỉnh phụ trách kinh tế đột nhiên vào tay lão khi có một ông Phó chủ tịch đang sung sức bỗng đột tử. Lũ con bốn đứa nhà lão cũng cứ lên lây lẩy. Hai đứa con gái không đỗ trường Đại học nào, lão cho vào các lớp tại chức của tỉnh, ra trường: đứa kế toán, đứa công đoàn. Rồi chồng con đề huề. Ổn cả !

Hai cậu con trai thì chưa học hết cấp 3. Lão vội nhét vào làm hợp đồng ở Bưu điện và Ngân hàng Công thương. Thế rồi cũng đều có bằng tốt nghiệp đại học tại chức!!!.

Khi cả đất nước đang phấn đấu phổ cập đại học, chuyện ấy không có gì lạ !

Về hưu, lão Cổn rút về ở căn hộ ở thị trấn với bà vợ già. Lão cho rằng căn nhà “phát lộc” ấy cần phải giữ gìn cho hậu thế. Lão nhường hai căn hộ ở thành phố tỉnh lỵ cho hai cậu quý tử.

Lại nói về bữa cỗ lên “lão” 65 của lão Cổn. Đến 9 giờ sáng lẹt đẹt có mấy ông hàng xóm sang mừng. Hơn 10 giờ được mấy ông bạn học từ thời phổ thông đến dự. Kim đồng hồ nhích dần đến con số 11, lòng lão nóng như lửa đốt. Lão hất mái tóc bồng bềnh đen (thực chất là đã nhuộm), đi đi lại lại từ sân vào nhà. Hai môi lão mím lại. Môi lão vốn mỏng nên khi hai bờ môi dính tịt vào nhau, trên khuôn mặt chỉ còn thấy một vệt hằn nằm ngang, với hai khoé miệng chặt đứng vuông góc xuống. Trông mồm lão như một chữ I nằm ngang, chữ I dán lên khuôn mặt đỏ au vì mấy chén chào xã giao vừa rồi!

Chẳng lẽ lại điện hỏi?

Mấy chục phút sau được mấy ông lãnh đạo các sở đã về hưu lục tục kéo đến. “Quân” văn phòng uỷ ban, “quân” của sở lão đã từng làm Giám đốc, tiệt chẳng thấy mống nào!

Cực chẳng đã, lão nhấc điện thoại, kìm giọng nhẹ nhàng hỏi tay Giám đốc sở. Đầu dây bên kia tiếng xuýt xoa vang lên: “Báo cáo anh, em đang có cuộc họp quan trọng, em xin lỗi, chiều nay em sẽ về với anh chị. Em quên làm sao được công lao vun đắp của anh với sở ta và đặc biệt lòng ưu ái của anh với thằng em?...”

Lão dập mạnh tai nghe. Lão lạ gì mấy cái cuộc họp của các bố!!! Đọc mấy bài báo cáo rỗng tuếch rồi rủ nhau đi đánh chén. Lão lẩm bẩm “Đồ vô ơn!”. Đi được mấy bước, lão chựng lại “Ừ! Mà mình về hưu rồi, mắng chúng nó sao được!” Lão ngồi phịch xuống ghế, thở dốc. Nghĩ về những ngày tháng chạy đôn chạy đáo, hết thường vụ tỉnh đến các vụ ở Bộ để lo cho nó thay mình. Nghĩ mà ức. Lão chợt thấy ậc lên một cục nước bọt to tướng. Lão đứng dậy, nhổ phọt cục nước bọt xuống nền nhà, vội vã chạy ra đón mấy bà cô họ ở quê vừa đến (!)

Chuyện gia nhân đêm đó phải bí mật đổ đi ba hay bốn chục mâm cỗ xuống con kênh chạy qua đầu thị trấn cứ thế rì rầm, lan truyền mãi.

Từ hôm đó, cứ chiều chiều lão Cổn lại ngồi trên chiếc xích-đu để ở đầu hè, mắt nhìn ra con đường liên tỉnh hun hút chạy về thị xã. Nơi lão đã một thời vang bóng. Miệng lão cứ lẩm bẩm: “Thật là ăn cháo đá bát... ăn cháo đá bát...”! Lão ngồi đến khi bóng cây sakê với những chiếc lá to như chiếc quạt, đen sẫm lại. Bóng cây trùm dần lên người lão. Chiếc ghế cũng từ từ sẫm đen trong nền hoàng hôn loang lổ. Khi bà vợ loẹt quẹt đôi dép tổ ong đến gần, lão mới nhổm dậy, chống hai tay lên đầu gối, bặm miệng, nhăn nhó đứng dậy vào ăn tối.

Lại nói đến chuyện cái chân của lão với căn bệnh oái oăm lão mắc phải. Khi đương chức, lão đã chớm bị, càng về sau càng nặng. Khi về hưu, nó đã thành mãn tính hay cố tật, cũng chẳng biết nữa.

Ngày ấy, có một lần, trời cuối thu se se lạnh. Hơi đá từ các thung sâu đùn lên mờ mịt. Triền núi Tam Đảo như một ngăn đá tủ lạnh đang bốc khói. Lúc đó, lão Cổn đang còn đương chức, lão phải lên tiếp một đoàn khách từ miền Nam ra.

Khách đã được báo trước là trời sẽ lạnh. Nhưng mấy ông khách Nam Bộ lại khoái cái rét Bắc Kỳ, cứ nằng nặc lên núi khi mùa đông đã chớm.

Thị trấn Tam Đảo nằm ở độ cao trên nghìn mét, vốn là nơi nghỉ mát có từ thời Pháp. Khi quản lý thị trấn này, lãnh đạo tỉnh đã chỉ đạo ngành Du lịch tập trung cao độ để phát triển ngành. Nhưng khốn nỗi, động đến đâu, là động đến đền bù đất đai. Mà các ông chủ của các ô đất béo bở ấy mới nghe tên khối người toát mồ hôi (!) Vì thế, thị trấn chỉ còn là chỗ ngủ và một vài nhà hàng ăn uống với mấy món đặc sản thú rừng săn trộm hoặc thú rừng giả. Nó cũng là nơi để uỷ ban tỉnh hay các sở ngành tiếp khách xa đến thăm.

Đêm đó, rượu đã ngà ngà nhưng lão Cổn vẫn phải xuống núi vào quãng gần nửa đêm. Lão chẳng khoái gì ngủ trên các căn phòng lạnh cóng ấy! Nhưng sáng hôm sau, lão thấy hai đầu gối tê tê rồi mấy tháng sau nó nhức. Rồi nó cưng cứng bánh chè. Rồi nó khô khô, khó gập lại. Lão chạy khắp các bệnh viện chữa. Đông, Tây y đủ cả, nhưng bệnh không khỏi. Dần dà, lão chỉ có thể ngồi trên ghế cao hoặc ngồi xổm trong chốc lát.

Những khi về quê có giỗ, con cháu rải chiếu để ngồi ăn là lão chịu. Bởi khi ngồi xuống, hai chân lão không co lại được, nó cứ đuồn đuỗn ườn ra chiếu. Khổ nhất là khi đứng dậy. Phải có người đến gần, cúi xuống cho lão vịn vào lão mới nhổm lên được. Mỗi lần như thế, mặt lão nhăn lại, cau có. Cái miệng lại có dịp mím chặt. Cái chữ I nằm ngang mặt lại hằn lên, xẻ sang hai bên má đã sề sệ. Trán lão rịn mồ hôi …

Tuy chân tay như thế, nhưng lúc nào lão Cổn cũng thể hiện ra mặt cái sự mạnh mẽ và dẻo dai của mình. Khi có phong trào chơi cầu lông, lão hô hào anh em trong sở tập kín các ngày nghỉ. Khi phong trào chơi ten-nít rộ lên, lão bắt cả văn phòng uỷ ban sắm vợt, ra sân.

Được cái, khi đứng đôi để tập hay thi đấu thì mấy cái môn này được phép bao sân cho nhau. Vì thế các bạn trẻ trong cơ quan tha hồ thể hiện lòng trung thành với lão Cổn. Họ xung phong đứng đôi với lão, họ đôn đáo chạy cuối sân, giành cho lão đứng gần lưới, thi thoảng vụt vài quả gọi là. Chính vì thế mà lần nào lão ra sân và lão đứng ở bên nào thì bên đó chắc thắng đến chín mươi phần trăm (!)

Mỗi lần nhận giải (dù giải nội bộ), lão Cổn rạng ngời khuôn mặt. Lão đứng dạng hai chân, hai tay giơ thật cao, vẫy vẫy khán giả. (Tuy khán giả nhiều khi chỉ có mấy em nữ văn phòng lão bắt ra ngồi xem và vỗ tay). Có lần, chỉ có ba cặp chơi, lão cũng bắt cậu phó văn phòng ra trao giải. Cũng bục nhận huy chương, cũng hoa tặng và cũng tiếng vỗ tay bôm bốp. Thể thao có khác! Nó làm con người ta vô tư, hồn nhiên đến kỳ lạ!

Mấy năm trước khi về hưu, lão Cổn đi diễn thuyết rất nhiều. Lão nhận lời giảng bài cho các lớp tập huấn cán bộ chủ chốt cấp huyện. Lão đồng ý đến nói chuyện về tình hình kinh tế – xã hội của tỉnh ở các lớp tại chức mở ở Trường Chính trị tỉnh. Khoản “nhuận mồm” lão không quan tâm lắm, tuy rằng bao giờ lão cũng được gấp mười, hai mươi lần giảng viên khác. Điều lão quan tâm là lão được thể hiện sức đọc, sức nói của lão. Lão thao thao nói về mọi lĩnh vực: Triết học, chính trị, kinh tế, văn hoá, khoa học kỹ thuật … tuốt tuồn tuột, lĩnh vực nào lão cũng nói được. Lão thường nhắc nhỏ anh em cấp dưới: “Người lãnh đạo là người phải am tường trên mọi lĩnh vực. Để khi làm lãnh đạo, không anh nào loè được mình!”

 Điều lão nói là cả một mớ kiến thức thu nạp từ báo chí, từ cuộc sống bao năm lão tích luỹ rồi từ những trang website mà các trợ lý coppy về. Mặt ngẩng cao hãnh diện, tay lão chém chém vào không khí quanh bục nói chuyện, giọng lão Cổn xủng xoẻng: “Tôi rất không đồng tình với những người làm quan chức, khi về hưu lại quay sang làm thơ, hoạt động văn học nghệ thuật. Họ ngụy biện rằng: “Thời trai trẻ bận công tác, không có thời gian. Họ cứ làm như là Đảng và Nhà nước đã làm lụi tàn tài năng của họ không bằng! Theo tôi, còn sức thì phục vụ Đảng, phục vụ nhân dân đến lúc tàn sức thì thôi. Nhưng phải trên lĩnh vực mà mình am hiểu, mình tâm huyết”. Lão riết róng: “Già rồi, sức kiệt rồi, minh mẫn gì nữa, tươi tắn gì nữa mà thơ với phú? Còn vốn sống ư? Cứ vốn sống nhiều mà viết được văn, làm được thơ thì Hội người cao tuổi sát nhập với Hội Văn học Nghệ thuật làm một…”.

Lão có những kiến giả cũng ngồ ngộ. Lão đứng trên bục giảng, miệng bặm lại, vạch chữ I nằm ngang ra giữa mặt, rồi bật ra những dòng diễn giảng:

- Khi người ta thiếu cái gì, người ta thường bàn nhiều, nói nhiều về cái đó. Vì thế, chúng ta không lạ gì khi các nhà văn, nhà thơ ngồi đâu cũng nói chuyện chính trị, nói chuyện sắp xếp tổ chức này nọ. Ngược lại, ta cũng rất dễ hiểu khi các nhà lãnh đạo hễ rảnh rỗi là cao giọng bình thơ, say sưa bàn về phương pháp sáng tác, khuynh hướng sáng tạo… người ta thường khát khao những thứ mà mình không có!”

Hăng lên, lão còn phán: “Các nhà văn, các hoạ sỹ bây giờ cứ chạy theo lối sáng tạo đầy rối rắm, hết trường phái nọ đến trường phái kia. Trong khi nhân dân đang cần những gì? Họ cần những thứ thiết thực gần gũi như cơm ăn, áo mặc hàng ngày…!” Vô tình lão lại cao giọng lạm bàn về văn chương!!!

Cả hội trường lặng tanh, những điều lão nói cứ trơn tuột qua các dãy bàn mà học viên đang lúi húi đọc tin nhắn trên điện thoại?

Từ cái suy nghĩ rất cách mạng là phải phục vụ Đảng, phục vụ nhân dân dến hơi thở cuối cùng ấy mà vừa về nghỉ hưu hơn bốn tháng, lão Cổn đã ra ứng cử chức Bí thư Đảng uỷ thị trấn.

Chuyện là, Ban chấp hành Đảng uỷ thị trấn khoá đương nhiệm đang có nhiều bi bét. Chủ tịch Uỷ ban bị cách chức vì vụ đấu thầu đất đầy mờ ám. Phó Bí thư thường trực thì dính vào vụ tham ô khi còn làm Phó Chủ tịch phụ trách kinh tế. Bí thư Đảng uỷ thì bị dân kiện vì giành mua đất giá chỉ đạo cho con cháu nhiều quá. Có đứa cháu nội mới 8 tuổi cũng đứng tên ô đất trên hai trăm mét vuông ở giữa thị trấn. Tình hình địa phương đang nước sôi lửa bỏng thế, lão Cổn không thể yên tâm! Lão bảo vợ: “Tôi còn sức, còn trí tuệ, tôi phải ra giúp dân, giúp làng”.

Vợ lão vốn quen phục tùng. Im lặng.

Bạn bè thuở hàn vi thân tình góp ý: “Ông ở tỉnh lãnh đạo dễ lắm, về làng xã không khéo mất cả danh lẫn giá!”. Người bà con còn bảo thẳng: “Ông không làm, họ còn gọi là “ông”, là “bác”. ông làm không khéo họ gọi bằng “thằng” chứ chẳng chơi!”

Lão cười khẩy, giọng kẻ cả: “Đảng viên họ cần họ cứ đến yêu cầu… chứ tôi thì …”

Lão đến gặp Bí thư Huyện uỷ, đề đạt các phương án ổn định tình hình địa phương. Ở một huyện có 25 xã, thị trấn; mà tới 20 xã có “vấn đề”, thế nên ổn định được xã nào hay xã nấy! Ban Thường vụ Huyện uỷ như vớ được vàng, lập tức đưa lão vào danh sách ứng cử trước Đại hội Đảng bộ thị trấn.

Hội trường Đại hội Đảng bộ như rung lên khi Bí thư Huyện uỷ lên phát biểu. Đồng chí hết lời ca ngợi những đóng góp của lão Cổn với tỉnh, với huyện. Đặc biệt, những giải pháp có tính khả thi rất cao trong việc đưa thị trấn phát triển, xứng tầm là “thủ đô” của huyện nhà.

Ngồi ở bàn chủ tịch đoàn, lão Cổn quay sang nói với “tay” Bí thư Đoàn đang dự kiến là thường trực Đảng uỷ khoá tới: “Các cậu cứ yên tâm! Bí thư Huyện uỷ là anh em chí cốt, là đệ tử ruột của tớ ngày trước. Giờ hắn về làm Bí thư huyện nhà, chẳng ủng hộ mình thì ủng hộ ai?

Mấy người trong Chủ tịch đoàn mắt cứ chớp long lanh, tràn trề hy vọng.

Lão Cổn làm Bí thư Đảng uỷ chưa được nửa khoá, đơn kiện đã tới tấp lên Huyện, lên Tỉnh. Giải phóng mặt bằng, kêu gọi đầu tư, phát triển công nghiệp không làm được. Đưa giống mới tăng năng suất cây trồng trong nông nghiệp thì đổ bể. Nội bộ cán bộ lục đục, kiện cáo lẫn nhau. Việc trả tiền đền bù cho dân bị cán bộ cắt xén. Làm trường, làm đường chưa bàn giao đã xuống cấp thậm tệ …

Đề án ổn định tình hình địa phương của lão Cổn tan nhanh như bọt xà phòng.

Chính lão Cổn cũng dính vào mấy vụ do đàn em lôi kéo.

Quen lối quản lý hành chính ở cơ quan cấp tỉnh, lão áp đặt vào công việc địa phương. Việc gì Bí thư cũng nhúng vào. Bí thư cho ý kiến cả việc đấu thầu xây dựng đến chế độ ăn của các lớp mẫu giáo… Lão lập luận: “Đảng lãnh đạo toàn diện, thống nhất là phải thế !!!”. Hệ thống cán bộ chỉ “vâng, vâng, dạ, dạ” lấy lòng trước mặt. Không ai mặn mà với lối quản lý “hét lấy được” của lão. Thậm chí có mấy tay trưởng thôn còn bảo “Thị trấn mình làm gì có uỷ ban mà xin dấu?”. Tệ hại hơn mấy tay văn phòng uỷ ban, khi quá chén, lại bô bô: “Sếp cả nhà mình ăn chơi vút tầm nhé, hôm đi hát ka-ra-ô-kê, sếp bắt các em tiếp viên cởi truồng hết! Hai em kè bốn cặp vú lên vai sếp, hát say sưa. Tay sếp vê vê đến là điệu nghệ …”

May mà mấy cái ảnh bị chụp trộm được Ban kiểm tra Huyện uỷ giấu nhẹm đi, không thì tan nhà nát huyện chứ chẳng đùa.

Lão Cổn vội vã từ chức Bí thư Đảng uỷ chứ không thì chính Bí thư Huyện uỷ – đệ tử của lão – sẽ phải có quyết định cách chức lão.

Thế mà lão còn trách Bí thư Huyện uỷ chơi không đẹp! Vì còn chân trong Đảng uỷ, lão Cổn nhận chức Chủ tịch Mặt trận tổ quốc thị trấn. Đi đâu lão cũng cười và nói với mọi người: “Mình còn ham hố gì đâu! Làm là do Đảng yêu cầu, do dân đề đạt mà mình gắng sức thôi…”

Sáng nào lão cũng buộc cặp vào sau xe máy. Vợ hỏi, lão bảo phải đi họp ở Huyện. Lúc thì lão bảo họp ở xã bên. Bà vợ có lúc bực mình lẩm bẩm: “Buổi tối lên giường cũng bảo họp!”.

Lão cũng chỉ làm Chủ tịch Mặt trận tổ quốc được hai năm. Tức là vừa đúng một khoá cấp uỷ. Việc lão phải dời Chức chủ tịch Mặt trận tổ quốc thị trấn chính là vì cái vụ làm thọ 70 của lão (mà theo giấy tờ công tác lão mới vào tuổi 65).

Chủ tịch Mặt trận mà khao thọ rầm rộ như chiến dịch vận động quần chúng đi triệt sản, sinh đẻ có kế hoạch ấy! Phông, màn, kèn, loa, đài nhạc rậm rịch mấy ngày trời. Rồi cái vụ con trai lão lập công ty ma, lừa ngân hàng trên 4 tỷ đồng, phải vào nhà đá… đã chính thức đưa lão Cổn trở về “vạch xuất phát”.

Đầu gối của lão càng ngày càng đau. Đôi khi đứng dậy tiếp khách lão đã phải tập tễnh. Nghĩ cũng tội!

Gần đây, nghe đâu lão lại tham gia chân tuyên truyền trong Ban quản lý tu tạo ngôi đình làng.

Việc này, lão rất hồ hởi, khoe với bạn của con gái lão rằng: “Các cháu thấy chưa? Bác vẫn rất có ích cho xã hội, cho dân làng đấy chứ!”

Vợ lão có ý không bằng lòng, dằn hắt: “Ông không ở trong cái nhà này được một ngày yên ổn à? Hay nhà này có ma?” lão gạt đi, bảo: “Dân làng cần mình thì mình phải có tấm lòng chứ! Ngần này tuổi đầu, có cháu nội cháu ngoại rồi tôi còn thớ lợ gì đâu mà bà phải lo?”

Chỉ khổ cho lão, việc ở đình làng thì thường ngồi chiếu để bàn công việc. Những lúc như thế, lão cứ đứng lom khom. Sợ kéo ghế ngồi nhìn xuống thì e bất kính với các cụ thượng. Mà ngồi bệt xuống chiếu thì là cực hình. Vì thế, lão ngồi ne né trên một chiếc ghế thấp do lão tự làm rồi cắp theo ra đình làng. Ngồi, nhưng lão vẫn cố khép nép, thu cái bụng phệ lại. Ngồi, nhưng lão cứ nhấp nha nhấp nhổm, sợ các cụ cao niên quở trách. Nửa năm sửa đình, lão cứ nhấp nhổm ngồi xổm thế!

Sau tết vừa rồi, lão có vào thị xã thăm đứa cháu họ gọi bằng ông trẻ. Ông cháu này đang làm ở toà soạn báo tỉnh, phụ trách trang văn nghệ nên được ông trẻ Cổn điện hẹn gặp nhờ một chút việc về văn thơ.

Vừa gặp nhau, chưa kịp uống cạn chén trà, lão đã vồn vã:

- “Cu cháu” này! – Ông cháu nhăn mặt, nhìn quanh sợ có nhân viên nào nghe thấy. Vì dù sao hắn cũng là Phó Tổng biên tập tờ báo tỉnh – Cháu biết đấy, ngày ở huyện, ông đã nhờ vả rất nhiều vào tay bác sỹ Quy ở xã Tân Phúc. Tay này còn trẻ nhưng rất đức độ. Anh ta chữa bệnh cho bà trẻ, rồi các dì Trung, cậu Mai, bác Cấn, ông trẻ Nhẫn, đến các cháu chắt nhà ông, mà không lấy tiền, anh ta tốt đến mức…

- Vâng, vâng, cháu có biết anh ta ạ!

- Ừ, thế thì tốt! Anh ta chữa bệnh cứu người là chính. Nhưng nhà cũng rất giàu.

- Ý ông trẻ là…?

- À, sắp đến ngày 27 tháng 2, ngày Thầy thuốc Việt Nam. Ông muốn có cái gì đó tặng anh ta. Anh ta là ân nhân của nhà ta. Cái đận cứu con Cúc bị chửa ngoài dạ con, không có anh ấy thì chết đứ đừ rồi. Ông chưa biết trả ơn thế nào. Tiền thì không được rồi, vật quý nhà anh ta cũng có nhiều. Nên ông đang nghĩ cách …

- Thế thì ông trẻ tặng một cái gì đó có giá trị về văn học nghệ thuật ý! Vừa ý nghĩa, vừa làm cho anh ta không coi thường mình được!

- Ấy, ấy … đúng thế! Ông có làm mấy câu thơ đây, nhờ anh sửa giúp!

Ông cháu cười vang:

- Ồ, tưởng gì chứ việc đó là nghề của cháu rồi! Đâu, ông đưa ra đây!

Thế là hai ông con vần vã hết cả buổi trưa để có 4 câu lục bát như thế này:

“Nửa đời cười với gian truân

 “Đến nay có được Phúc, Ân giữa trời”

 “Đẹp như viên ngọc sáng ngời”

 “Hào hoa vẫn giữ lẽ đời đơn sơ…”

Đấy! Bốn câu thơ ra đời với những lời giải thích của lão Cổn kèm theo đầy thoả mãn.

Lão Cổn duỗi thẳng chân, gác lên cái bàn uống nước của thằng cháu Phó Tổng biên tập, đắc ý:

- Hay! Hay và ý nghĩa lắm “cu cháu” ạ!

Ông cháu quay vội nhìn ra cửa, nhăn mặt.

- Cháu đặt cho ông cái tên bài thơ được không?

Anh cháu ngẫm nghĩ một lát rồi buột miệng:

- “Trong sáng giữa đời” được không ông?

Lão Cồn bặm miệng, suy nghĩ. Cái chữ I nằm ngang lại được dịp trưng bày trên khuôn mặt đã có chiều phùng phụng, biểu hiện thận yếu. Lão gật gù:

- Phải đặt là: “Viên ngọc giữa đồng quê” cháu ạ!

- Như thế nghe có vẻ tâng bốc quá …

- Không! Phải thế mới xứng cháu ạ. Rồi lão vỗ đùi kêu “tét” một cái; co chân chống đầu gối đứng dậy. Lệnh khẽ:

- Cháu đưa vào vi tính, đánh máy ngay cho ông; để lát nữa, ông ra cửa hàng nhôm kính, cắt cái khung vàng thật oách lồng vào.

Lão tập tễnh đi quanh phòng trong khi ông cháu ngồi vào bàn vi tính:

- À, phía dưới tên bài thơ cháu đánh: “Quý tặng Bác sỹ Hà Đương Quy – nhân ngày thầy thuốc Việt Nam”.

Lão bỗng gác chân lên ghế của thằng cháu, nhòm vào màn hình vi tính:

- Cuối bài, cháu đánh mấy chữ đậm cho ông: “Tác giả Bùi Đình Cổn - Phó Chủ tịch UBND tỉnh”. Ông cháu buột miệng:

- Phải có chữ “Nguyên” ở đằng trước, “nguyên Phó Chủ tịch” chứ ông?

- Không cần! Mình có ghi cụ thể tặng ngày tháng năm nào đâu. Cứ ghi thế, ai hiểu thế nào thì hiểu …

Ông cháu Phó Tổng biên tập chỉ biết cúi đầu, gõ chan chát vào bàn phím.

Vừa chờ máy in, ông cháu quay lại:

- Ai dè, ông trẻ cũng “tâm hồn” ra phết!

- Ấy, ấy, suýt quên. Tới đây ông sẽ cho ra mắt câu lạc bộ Thơ ở đình làng ta. Tập hợp tất cả các ông bà hưu trí rồi người già yêu thơ của làng Vân Trụ ta để sinh hoạt thơ văn cho vui. Lấy tên là câu lạc bộ thơ “Vân du” nghe được cháu nhỉ? Cháu nhớ về dự và phát biểu động viên các cụ! Cháu là nhà thơ cấp tỉnh về dự làm vinh hạnh cho Câu lạc bộ lắm đấy! Động viên các cụ già ở làng ấy, chứ ông trẻ thì… Lão bỏ lửng câu nói ở đó làm cho ông cháu chỉ biết “Vâng, vâng” mà không biết sẽ ứng xử ra sao…

Ông cháu tiễn ông trẻ ra cổng. Nắng cuối ngày đã chếch bóng, in hình những cây bàng khẳng khiu không lá, quét lằng nhằng lên bức tường cổng cơ quan.

Nhìn dáng ông Cổn tập tễnh, tay ôm khư khư cái cặp có bài thơ; bước lên taxi, ông cháu bỗng xót xa: Chân ông thế kia, không hiểu khi về nhà ngồi chiếu ăn cơm với bà trẻ, hay ngồi ăn cỗ với dân làng ông làm thế nào nhỉ?/.

 

 

 

 

 

BỨC HUYẾT THƯ    

 (Truyện ngắn)

 

Trăng sáng!

Ánh trăng tãi trên ngọn dương. Bóng trăng ỡm ờ vuốt ve rặng liễu. Gió lạnh se se thổi. Cái lạnh không khiến người ta rùng  mình nhưng cũng đủ làm cho làn da chờn chợn. Thúy Kiều ôm đàn ra ngồi dưới mái hiên, bên cạnh gốc mộc lan. Hương mộc xoa trên tóc, phớt nhẹ lên má Kiều. Nàng ngước mắt nhìn trời, chạnh nhớ mười lăm năm lưu lạc. Khi Vô Tích, lúc Lâm Truy… khi lầu Ngưng Bích… Có bao đêm trăng đã qua? Đã bao lần nàng đã ngồi ngắm? Mà trăng đêm nay sao sáng thế? Bất giác nàng thở dài. Tay nàng lướt trên phím đàn. Tiếng đàn rung lên. Tiếng thanh vẫn vút cao, ngần ngật, tiếng trầm vẫn rền rĩ. Nhưng tiếng đàn đêm nay sao cứ chơi vơi, cứ thổn thức? Nó không hừng hực da diết như ngày đầu ngồi bên Kim Trọng, không tủi hờn như ở nhà Hoạn Thư, không đớn đau như khi hầu quan Tổng đốc, không réo rắt ngập vui như ngày tái ngộ. Tiếng đàn như dỗi, như hờn, như âm ỉ cháy!... Tiếng đàn lan đến đâu, nước mắt nàng dường như cũng trào đến đó. Lòng nàng vời vợi, xót xa…

Đã hơn 5 năm về sống cùng Kim Trọng và gia quyến, nàng bỗng chợt nhận ra mình như người thừa giữa chính nhà mình. Thứ nàng cháy lòng cần có thì nay nàng đã có, nhưng lại không phải là có. Chàng Kim tất bật lo toan việc công đường, có khi đến hơn tháng chàng mới ghé qua thăm. Thuý Vân túi bụi với một đàn con lít nhít. Tiếng bẳn gắt đôi khi cắt ngang cả tâm trí nàng lúc thiền tọa. Ông bà Viên ngoại đã già, đôi lúc lẩn thẩn; sang chơi ngồi nói chuyện với nàng mà cứ gọi là Vân(!) Mỗi khi giáp mặt Kim Trọng, nàng hết sức bối rối. Nàng không còn cái e ấp của người tình, mà cũng chẳng có cái ngấm nguýt của người vợ. Xa không xa, gần cũng chẳng gần… trong khi nàng mới vào tuổi 40, lửa lòng đâu đã lụi?

Muốn thổ lộ với chàng – còn thể diện? Muốn xa lánh chàng – con tim không nói thế! Tiếng đàn chùng xuống, chờn vờn đến lắt lay…

Giữa lúc tiếng đàn đang quyện vào ánh trăng, xoắn vào hương mộc, hồn nàng đang thổn  thức… Bỗng ánh trăng như loãng ra, trời trắng bệch. Một làn hơi lạnh ào đến. Tiếng vó ngựa rầm rập. Kiều ngửa mặt nhìn lên vầng trăng, lơi tay đàn. Từ trong làn sóng trăng và biển hơi bảng lảng ấy hiện ra một hảo hán đang gò cương, ghìm chân ngựa. Rõ ràng một chiến binh hàm én, mày ngài, lẫm liệt. Kiều thảng thốt rên lên: “Trời ơi! Từ công…”

Từ Hải vẫn ngồi trên yên ngựa, mắt xếch ngược, trừng trừng nhìn xuống. Cái nhìn như thấu qua bàn tay Kiều đang lập bập trên phím đàn.

- Nàng sao thế? Nàng có được khoẻ không? – Tiếng nói âm âm như trong hang núi dội ra. Kiều vội vàng thi lễ:

- Cám ơn chàng, thiếp có sao đâu! Thiếp khoẻ…

Tiếng âm âm dội lại:

- Không sao ư? Thế mà tiếng đàn đêm nay lại lạ lùng đến vậy? Nàng ước ao điều gì đó phải không?

- Dạ thưa… Nàng ngẩng đầu, ngập ngừng. Từ Hải cắt ngang lời nàng:

- Nàng có được hạnh phúc không? –  Kiều bối rối:

- Nếu hạnh phúc là no đủ, là yên ổn thì thiếp đang được hưởng hạnh phúc!

Giọng Từ công trầm xuống, cảm thông:

- Chồng nàng đối xử với nàng ra sao?

Kiều lặng đi, mặt cúi gằm rồi se sẽ cất lời:

- Chồng ư? Thiếp chỉ có duy nhất một người chồng. Thiếp chỉ có duy nhất một lần vu quy. Chàng có biết không? Chỉ một lần có băng nhân dạm hỏi, có lễ rước dâu. Chao ôi! Một lễ cưới uy nghi, rầm rộ có một không hai ở đất Hàng Châu. Đó là khi thiếp lên kiệu hoa, theo quân sỹ về quân doanh của người hảo hán. Đến giờ thiếp vẫn chỉ là vợ của người ấy mà thôi!...

Từ Hải ngây người:

- Thế là sao?

Rồi tiếng chàng đầy u uẩn:

-Nàng sống với người ta như thế được à? Sao không phải là vợ?... Thế là gì?... Tình nhân à?

 Kiều nghẹn ngào chấm chấm dòng nước mắt:

- Xin chàng đừng hỏi nữa, thiếp đau lòng lắm…

Từ Hải bỗng nhướn mày, mặt đỏ rựng:

- Nàng đau khổ ư? Có bằng ta đau khổ? Có bằng ta nhục nhã không?

- Trời ơi! – Kiều sụp xuống – Xin chàng, thiếp xin chàng, thiếp biết tội của mình lớn lắm… Thiếp đã từng đập đầu dưới chân chàng, thiếp đã nhảy xuống sông Tiền Đường để được theo chàng… Nhưng trời đâu có cho thiếp chết?

Từ Hải lắc đầu:

- Điều đó ta biết. Ta biết nàng muốn yên ổn về với gia quyến, ta đã nghe theo nàng. Nàng mong tìm lại được người tình xưa, ta cũng mặc nàng. Nhưng nàng làm vợ, nàng làm mất cơ đồ của chồng vì cái gì, nàng có biết không?

Giọng Từ bỗng uất hận:

 - Nhục lắm! Cha con Hồ Tôn Hiến thắng ta, ta cũng không thèm đau khổ nếu ta thấp mưu hơn hắn. Nhưng ta đau là ở chỗ: Dưới suối vàng, binh sỹ xì xầm. Trên dân gian người ta bàn tán… Đến muôn đời sau, người đời vẫn hiểu rằng: Ta đã để nàng tham dự vào việc quân cơ. Rồi ta – nàng đã nhận đồ đút lót của tên Hồ Tổng đốc đốn mạt ấy. Người đời cho rằng: Với món quà mang đến nhà riêng “Hai tên thể nữ, ngọc vàng nghìn cân” mà nàng đã nhận, hắn đã mua được ta, đã khiến ta phá tàn cơ đồ lừng lẫy. Ở dưới suối vàng, quân sỹ cả hai bên, nhiều người đã khinh bỉ, nhổ nước bọt rồi ngoảnh mặt không nhìn mặt ta… Nàng có hiểu không? Có hiểu không?

Kiều chết lặng. Bây giờ nàng mới hiểu hết cái tâm, cái trí, cái nỗi đau vô bờ của Từ công khi chàng chết chôn chân, sừng sừng giữa trận tiền ngày ấy. Nàng rập đầu nấc lên:

- Tội thiếp đáng chết, ngàn lần đáng chết… Xin chàng cho thiếp đi theo… Xin chàng cho thiếp được chết!

Từ Hải cúi xuống:

- Nếu nàng đã muốn vậy, ta chờ!

Kiều rối rít:

- Tạ ơn chàng, tạ ơn chàng… Dù thiếp có làm tỳ thiếp, có làm…

Từ Hải cười vang:

- Ha…ha…Không! Nàng sẽ vẫn là vợ ta, mãi mãi là vợ ta… ha, ha… Tri kỷ trước sau mấy người?

Nói rồi, Từ nhảy khỏi yên ngựa, con ngựa hý lên, mõm ngoạm vào ánh trăng, Từ dắt ngựa, tản bộ, chân bước bồng bềnh trong làn sương mỏng. Bỗng Kiều lại cuống quýt:

- Xin chàng, xin chàng chờ thiếp… Chàng cho thiếp viết đôi dòng gửi lại.

Tiếng Từ âm vang, rền như sấm:

- Việc đó tuỳ nàng!

Kiều giở vội tấm lụa trắng dài hai thước mà Kim Trọng tặng nàng ngày tái ngộ. Nàng lao vào phòng, nhặt bút, chấm mực, hối hả viết. Nàng viết như không bao giờ còn được viết. Nàng đưa tay nhanh như sợ không kịp giãi bày ý mình. Con chữ trào ra trên ngòi bút như đã chực sẵn từ bao giờ. Nàng viết trong tiếng nấc thẳm sâu của ân hận. Nước mắt nàng dào lên, chảy vào khoé miệng, mằm mặn. Những giọt nước mắt lã chã rơi trên dòng chữ. Những giọt nước mắt thấm xuống bỗng đỏ hồng nền lụa trắng.

Nàng viết dưới cái bóng lừng lững của Từ công. Người anh hùng họ Từ đăm đăm nhìn nàng… Chờ đợi…

Khi tấm lụa đầy kín chữ – những con chữ đen nhánh nổi lên trên nền hồng của những dòng huyết lệ, Kiều cuộn bức thư, phong kín và ghi rõ bên ngoài: “Gửi em Vân”. Nàng buông bút, ngã vật ra. Ghế bàn lục cục đổ. Cây đàn rơi “choang” một tiếng, đập vào gốc mộc lan. Mấy gia nhân giật mình tỉnh giấc, chạy đến, vực nàng lên giường. Người thuốc, kẻ thang rầm rập. Từ phòng riêng, Kim Trọng vươn vai, uể oải hỏi: “Chuyện gì mà ồn ào thế?” Nghe bẩm lại, chàng Kim vội xốc xống áo, chạy sang. Mắt nàng đã thất thần, môi trắng lợt. Khi tay Kim Trọng luồn vào mái tóc, nâng đầu nàng thì môi nàng bỗng mấp máy… Trong tiếng va của hàm răng ngọc và làn hơi yếu, Kim Trọng nghe thoảng tiếng nàng “Kim lang… Kim lang… Thiếp… Thiếp lại... lại phụ chàng… từ đây!”. Nàng nhắm mắt, một dòng máu trào ra bên khoé miệng.

Xa xa có tiếng ngựa phi. Ánh trăng ngập trong đám mây đen, trời tối sầm. Một làn hơi lạnh ào qua, Kiều từ giã nhân gian.

Kim Trọng buồn bã hàng tháng, bỏ bê cả công việc. Sau, nhiều người cùng xúm vào khuyên giải: “Ngày xưa, biết nàng còn sống mà không tìm được, đau khổ đã đành. Nay, có thương nhớ, có sầu muộn đến đâu thì nàng cũng chẳng thể sống lại…”. Dần dà, chàng Kim cũng nguôi ngoai.

Kim Trọng trị nhậm Nam Bình được mấy năm, lại được bổ nhiệm về Lâm Thành, Phúc Kiến. Sau đó lại được thăng chức cai quản một số châu phủ lớn. Đi đến đâu, Thúy Vân cũng mang theo bức huyết thư của chị. Đến phủ đệ mới, nàng lập ngay bàn thờ chị. Mỗi lần, trước khi chuyển theo chồng, nàng đều thắp hương trước bài vị Kiều mà khấn rằng:

- Thưa chị, lúc nào em cũng khắc cốt ghi tâm lời chị dạy trong thư. Em đã gắng làm đúng như chị mong muốn… Cũng có khi em phải hết sức khó khăn để dằn lòng mình. Mong chị hãy phù hộ, độ trì cho vợ chồng em và các cháu…

Không ai biết thư Kiều nói gì. Chỉ biết rằng Kim Trọng đi đến đâu cũng được dân mến. Khi chuyển đi nơi khác, dân đều tiếc. Mấy chục năm làm quan, được ca tụng là người liêm khiết.

Bây giờ ở vùng Chiết Giang, Trung Quốc người ta đã tìm thấy bức thư của Kiều để lại cho Vân. Họ cho in và phát hành rộng rãi. Nghe đâu có nhiều người tìm đọc lắm, nhất là các bà vợ của các vị chức sắc.

Tiếc rằng ở ta chưa có bản dịch nào…/.

 


 

 

 

 

HÀ ĐÌNH CẨN

 

- Họ và tên khai sinh: Hà Đình Cẩn

- Sinh năm 1945

- Quê quán: Tử Du, Lập Thạch, Vĩnh Phúc

- Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam (từ 1982)

- Hội viên Hội Nghệ sĩ Sân khấu Việt Nam, Hội viên Hội Điện ảnh Việt Nam, Hội viên Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh.

- Tác phẩm chính đã xuất bản:

* Đã xuất bản 19 cuốn sách gồm ký, truyện, thơ, tiểu thuyết, kịch bản sân khấu, nghiên cứu sân khấu.

- Giải thưởng văn học:

* Rừng quả đắng là kịch bản được xét Giải thưởng Nhà nước. 18 kịch bản Tuồng, Chèo, Kịch nói, Cải lương được dàn dựng tại các Nhà hát và công diễn. 

* Giải thưởng Nhà nước về Văn học - Nghệ thuật.

* Một số giải thưởng của các Hội Sân khấu, Điện ảnh, NXB Kim Đồng, Tạp chí Văn nghệ Quân đội, Báo Văn nghệ…

- Suy nghĩ về nghề văn:

Nghề văn là hành trình liên tục vượt qua các thách thức… 

 

 

A - TRONG KÝ ỨC BẠN BÈ

 

 

THEO NĂM THÁNG ĐI 

    Hoàng Quý

Nhà văn Hà Đình Cẩn - tên khai sinh cũng là bút danh. Ông sinh ngày 21 - 3 - 1945 tại làng Tử Du, Lập Thạch, Vĩnh Phúc. Hiện thường trú tại Hà Nội. Ông là hội viên Hội Nhà văn, Hội Nhà báo, Hội nghệ sĩ Sân khấu Việt Nam.

Thàng 3 - 1965 Hà Đình Cẩn tham gia quân đội. Từ người lính bộ binh ông trở thành phóng viên mặt trận của báo Quân đội Nhân dân. Sau chiến tranh ông làm việc ở tòa soạn chính tại Hà Nội, rồi Tổng biên tập Tạp chí Sân khấu, Tạp chí Nhà văn. Hà Đình Cẩn là tác giả của những tác phẩm: Quần đảo san hô, Vùng rừng âm vang, Đường gập ghềnh, Vòng lăm vông thứ hai, Ký sự những ngày xưa (tập truyện ký),Thượng Lào ký sự,  Cây sa mu còn lại, Cuối đường có mấy người (tiểu thuyết), Trò đùa người lớn, Thứ phi, Ô cửa sổ bỏ ngỏ (tập kịch),Tác phẩm sân khấu tuyển chọn, Ký ức nghệ thuật  Sân khấu và tác phẩm… các tập thơ: Những câu thơ nhặt được (1989), Ngày đi qua (2010).

Nhà văn Hà Đình Cẩn được tặng Giải thưởng Nhà nước về  văn học nghệ thuật,Giải thưởng của Bộ Quốc phòng và nhiều giải thưởng văn học, nghệ thuật khác. Đặc biêt, các ký sự chiến tranh đã làm nên tên tuổi Nhà văn - chiến sĩ Hà Đình Cẩn. Tuy vậy, bạn đọc còn ít biết một một mảng phong phú khác trong sự nghiệp văn học của ông, đó là thơ.

  1. "Bây giờ nhạc đã nổi lên. Cô gái Lào xinh đẹp đã chắp tay hình búp sen trước ngực mời tôi vào vòng múa. Trong vạt rừng hoa quỳ vàng rộm tôi đã được múa vòng lăm vông thứ nhất trong ngày thắng giặc ở Cánh đồng chum. Đất dưới chân tôi ngày ấy bị bom đạn vằm nát. Rồi vòng múa thứ hai tôi múa ở cao nguyên Bô lô ven, trên vạt đất của nông trường cà phê Coong Tụn. Dưới chân tôi đất Lào đang hồi sinh. Và, bây giờ là vòng múa thứ ba trên sườn núi… tôi gặp một nước Lào mới - môt nước Lào bình yên đang phồn vinh. Chỉ quốc vũ lăm vông là vẫn thế, búp hoa sen vẫn nở trước ngực người con gái Lào đã qua ngàn năm, qua chiến tranh bom đạn, qua những ngày gian khổ, qua cả thời mở cửa đầy gió nóng nhưng vẫn trinh nguyên không tàn…”

(Hà Đình Cẩn - Nhớ Xiêng Khoảng)

Tôi đã đọc những dòng văn này và bao trang văn khác của ông mang vẻ đẹp đôi khi đến xơ xước và dào dạt một cách nghiệt ngã rải rác mấy mươi năm, cả trước và sau những tháng ngày Tổ quốc bước chông gai qua phập phồng âu lo và muôn nỗi gian nguy để tới được thanh bình. Mỗi lần đọc những trang ký ông viết, tôi thèm có ý nghĩ mơ hồ rằng con người này nếu không đôi khi bồng bềnh trong những giấc thơ sẽ là thậm phung phí. Kỷ niệm về đá, Nhớ Xiêng Khoảng, Stung - treng, Chăm pa sắc, Rừng thức, Cà phê Khe Sanh, Thăm thẳm quê…in hằn lốt dép của ông một người lính - nhà văn suốt gập gềnh núi đèo và đằng đẵng đời người. Nếu mỗi lốt dép là một dòng văn, bao nhiêu dòng văn đã cùng ông đi ra từ bước chân người lính ấy!

Tôi đã quen ông thế nào? Hình như bắt đầu từ những thước phim tài liệu chiến sự quý hơn phong lương khô lúc trung đoàn thiếu, đói, những thước phim có ông viết thuyết minh với giọng văn khi mềm mại khi truyền hơi ấm như một hữu cơ, thảng hoặc lắm mới được xem trong khoảng bình lặng hiếm hoi giữa cánh rừng mỏi mệt lúc dứt mùa chiến dịch. Có thể từ hàng loạt bài phóng sự, ký sự chiến trận hầm hập lửa chưa kịp nguội đầu nòng súng nhem nhúa bụi chiến hào.

Tôi đã gặp ông lúc nào? Cũng không cần phải điểm danh trí nhớ dẫu muốn. Bên bìa cháy na pan và nhoáng nhoàng phốt pho của chiến dịch Củ Kiệt chăng? Hay, ở những trận đánh phối thuộc giữa đơn vị chúng tôi với binh đoàn Nguyễn Chuông dằn mặt các tiểu đoàn lính Thái vây ép các bạn Lào và khống chế ta trên cao nguyên Cánh Đồng Chum chan chan bom và nhan nhản phỉ. Cũng có thể là mãi sau tháng ngày bom đạn chỉ còn như những kỷ niệm diệu vợi chúng tôi mới được cầm nắm tay nhau. Đâu còn là quan trọng! "Day đi dứt lại làm gì”! Chỉ biết rằng ông đi nhiều lắm. Những đôi dép rồi cũng được thay. Và rồi những đôi dép lại bung quai, vẹt gót. Ông đi mười năm trai trẻ trong những đoàn quân, theo những đoàn quân, dưới chớp lửa bỏng rát và chết chóc trong cuộc chiến giữ nước, và cả những cuộc chiến không lường hết ở hai đầu biên cương Tổ quốc với cây bút, khẩu súng, chiếc máy chụp hình Pratica cà khổ, với bao lần đói, sốt võ vàng, cả những tiếng cười cùng nước mắt…

Bây giờ, đôi khi một ban mai thư thái, một đêm phố nhợt đèn, tôi lại lần giở thật chậm hàng chục tập sách của ông, đằm lại những trang chữ hầm hập hơi nóng phả lên trần trụi cuộc chiến, trần trụi sống. Và thực cảm động, được đọc to lên những bài thơ của ông - một thứ Thơ bào ra từ gan ruột - nghĩa là, rồi cũng được thỏa mãn cái ý nghĩ mơ hồ ngày nào, rằng ông sẽ phải dành một phần sống cho Thơ, sàng sảy chữ cho Thơ, như một lẽ tất yếu.

2. Nếu có một tập biên khảo dù chỉ dừng ở việc tập hợp, ghi chép gần đủ các bài thơ (Kể cả trường ca - tất nhiên) viết về người lính thì ắt sẽ là một công trình vĩ đại. Ta cứ hy vọng một ngày nào đó sẽ có người (hoặc nhiều người) đủ tài năng, kiên nhẫn và sự công tâm làm được điều này. Trong tập bách thi đồ sộ hy vọng rồi sẽ có, bài thơ Người línhrất đỗi giản dị, kiệm lời, chữ trầm như nốt máu, lối viết ở khúc mở tựa một luận đề của Hà Đình Cẩn, mong các nhà biên soạn đừng quên:

"Tiếng có là tôi

Giữa đội hình tiểu đội

Mười hai tiếng có là A

Ba mươi sáu tiếng có là B

Một trăm hai mươi tiếng có là C

Khối tiếng có hoá quân cờ

Trên bản đồ chiến dịch

… Đánh vài trận bữa cơm lơ ngơ thừa bát đũa

Những tiếng có ngồi im không muốn xua ruồi

Cả đại đội giờ chỉ còn trung đội

Những tiếng có vô danh nằm lại phía sao rơi…”

Tháng 3 năm 1965, người thiếu sinh Hà Đình Cẩn bước vào đội hình "tiếng có”. Ông trở thành cái vi tế trong lớp lớp vi tế nhỏ nhoi nhất, chỉ nhận những mệnh lệnh, chỉ tiến về hướng phải đến, không có chỗ để lùi. (Mà nghĩ lại, những năm tháng ấy và nhiều năm sau nữa, bao trai, gái đã ra đi, ghì chặt hơn dây lưng và quai súng mà đi, cả dân tộc còn đâu chỗ để lùi). Ông quàng lên vai khẩu súng khi trời trung du hoa gạo rơi như máu, loang ướt và bầm dập giữa những nấm khói chết người và nát đổ khi cuộc chiến tranh của không lực Hoa Kỳ mỗi ngày mở rộng hơn, lấn sâu hơn, tàn bạo hơn trên những ruộng đồng, làng xóm mà mẹ ông, chị ông vốn chỉ thích yên vui với việc cày bừa. Và, cái "tiếng có” ông phải thuộc thật nhanh, gọn lỏn như một quan yếu sẽ theo ông đến tận ngày trở về, có thể còn theo ông đến mãi sau xa:

"Sau chiến tranh

Tôi đem tiếng có về quê không biết để làm gì

Con gọi bố, tôi vô tình thưa có

Bỗng nghẹn lòng thèm mẹ gọi tên xưa”.

(Người lính)

Tôi đã đọc một tập hồi ký của một tướng Mỹ ba sao ngoái nhìn cuộc chiến tranh Việt Nam. Ông (tướng ba sao) gọi uỵch toẹt cái cuộc chiến ông dính líu là "Sự nhầm lẫn và tăm tối khủng khiếp”. Trong thiên hồi ký có một đoạn, đại ý: Chúng ta đã không thắng, không thể thắng họ. Họ rất biết yêu cả trong những trầm trọng đương đầu với chết chóc. Chúng ta quá thiếu hiểu biết. Thì đúng đấy thưa vị tướng khả kính. Nếu ông cũng là một người yêu lấy những câu thơ như dân tộc ông yêu Uyt man và bao nhiêu nhà thơ khác, ông sẽ càng được củng cố thêm cái sự ngộ ra mà ông dũng cảm ngoái nhìn:

"Cả sư đoàn hành quân qua phố

Trong công viên có người hôn nhau

Chia tay vội cuối đường Nam Bộ

Thành phố thành hành lý gánh trên vai

Cả sư đoàn hành quân qua phố

Hoa sữa thơm nao lòng

Nhà bên sáng mai có cô gái trẻ

Ngẩn ngơ vì vắng đàn ông "

(Sư đoàn hành quân qua phố)

Trong sư đoàn lặng lẽ hành tiến chào biệt Hà Nội hôm ấy có chàng thiếu sinh Hà Đình Cẩn, một kẻ mơ mộng và lơ ngơ, một người biết yêu, đi trong đội ngũ điệp trùng những con người biết yêu, viết nên những trang văn, những câu thơ trung thực mà có thể nếu thiếu sự đóng góp của họ tâm hồn con người ta dễ thương tổn và xác xơ.

3. Hà Đình Cẩn làm thơ không nhiều và khá muộn. Những năm tháng bao nhiêu cam go, giá nước mắt ngang bằng giá máu, có thể với ông những trang ký cần hơn, nhanh hơn, thời sự hơn, chia sẻ với đồng đội, với mỗi số phận cả phía tiền duyên và phía sau lưng quan thiết và cụ thể hơn. Nhưng, cũng có có thể với ông chỉ giản dị là Thơ nó chưa đến. Mà cũng có thể (nếu đúng thì rất dở), bao năm tháng bỏng rãy những cái tên như Thu Bồn, Lê Anh Xuân, Bùi Minh Quốc, Phạm Tiến Duật, Hữu Thỉnh, Thanh Thảo, Xuân Quỳnh, Lưu Quang Vũ, Thanh Tùng…cùng bao nhiêu là tên tuổi khác với những bài thơ, những trường ca bay lộng lẫy trên bầu trời thi ca làm ông ngại.

Nhưng, ông không né mãi thơ được. Một dân tộc yêu thơ và thích làm thơ kỳ lạ như dân tộc chúng ta thì thơ đã như một món ăn khó có thể thiếu trên bàn tiệc cuộc sống. Huống hồ nhừng tháng ngày chúng ta đã trải và chứng thực nhiều mất mát, ngổn ngang, không thiếu bức bối và cả những xáo trộn ghê gớm. Văn xuôi có sức mạnh của văn xuôi. Nhưng,những tinh tế, phập phồng và ảo diệu của thơ không phải lúc nào văn xuôi cũng làm hộ được. Có phải ông sớm nhận ra quãng trống vắng ấy mà thêm vào những đêm mất ngủ, ông ghi lên mặt giấy những câu thơ rưng rưng:

"Ngọn đèn tắt sau hồi còi báo động

Đêm chiến tranh tối nhọ mặt người

Nắm cơm vữa trên tay

Anh ăn lừa cơn đói

Cánh rừng nằm nghiêng trong sấm dong

Chiến tranh gối lên đầu võng

Bên kia là em xa vời…

(Đêm rừng)

Sau trận đánh

Cả trung đoàn ngủ trong rừng sâu

Nắng hun hút tiếng ve nồng mắt lá

Có người lính ngồi trầm ngâm bên đá

Không tạc tên mình

Tạc vũ nữ Ăng Co

(Tạc tượng)

Đảo chìm nổi như chúng tôi chìm nổi

Chúng tôi mắc võng

Võng như thuyền sóng đẩy lên cao

Thèm nước thì hứng trời

Thèm đất hứng vào đâu được

Chúng tôi gieo hạt cải càng trong bát cơm ôi

(Tháng ba ra đảo)

Khi Thơ đã tìm đến ông rồi, ông không cưỡng lại những nhạc địêu lòng trên mặt chữ nữa.Gặp Lao Cai năm 79 ông viết: "Chiến tranh đi qua cỏ lút đầy phố xá/ Mặt trời treo trên cột điện gầy/ Trái cứ chín/ Trái rụng đầy ngõ phố/…Cả sao trời rụng giữa lòng tôi”. Lên cực bắc gặp cao nguyên Đồng Văn đá chồng lên đá, tưởng nơi ấy làm sao mà sống nổi thì ông lại viết được những câu thơ đẹp như tranh: ”Vùng đất không có đất/ Đá uy nghi dựng thành luỹ biên thùy/ Nương rẫy đá/ Sân vườn cũng đá/ Sơn nữ ngồi trên đá thổi khèn môi”. Ngày gặp Huế, Huế đọng lại lòng ông bằng những câu thơ thật bất ngờ: "Không gặp thi nhân thì làm vua vậy/ Mặc hoàng bào, ngai vàng anh ngự/ Chỉ hai mươi ngàn đồng chụp ảnh mua vui/ Thêm hai mươi ngàn mua đủ chín Chúa, mười ba Vua nhà Nguyễn/ Cả triều đại xếp chưa đầy một túi khoác vai” và hai câu kết "Tiêng dạ Huế dài không xếp vào đâu được/ Đường mưa sao xuyến rơi” thì biết ông yêu Huế lắm.. Cùng những bước chân ngang dọc, những câu thơ nhẹ nhàng đã giúp ông trụ vững.

Tôi muốn trích mấy câu thơ trong hai bài thơ của Hà Đình Cẩn. Bài thứ nhất có những câu thế này:”Ngày ấy trẻ trung/ Ngày ấy giữa quê mình/ Em tội tình gì đâu mà anh ruồng bỏ/ anh khao khát những chân trời bỡ ngỡ/ Em cúi mặt giữa làng chịu tiếng chồng chê”.(Người đàn bà mà tôi ruồng bỏ). Và trong bài thứ hai ông viết sau ngày chôn cất mẹ:”Một trăm năm ngắn lắm mẹ ơi/ Chưa qua khỏi cánh đồng bóng Người đã khuất/ Nhà ta nghèo mẹ ngẩn ngơ như đất/ Sáng cỏ dưới chân, chiều cỏ đã trên đầu” (Mẹ). Thêm lời bình cho những câu thơ này có khi vô duyên và nhạt.

4. Đã in tới tập thơ thứ hai nhưng Hà đình Cẩn chưa bao giờ nhận mình là thi sĩ. Ông bảo thơ rất khó nên ông làm thơ không nhiều, chỉ như một sự thì thầm trên trang giấy thôi. Ông còn cho rằng những bài thơ thường ngắn và không nhiều chữ của ông chỉ nên coi như những câu thơ nhặt được từ những tháng ngày đi qua ông. Cái tháng ngày nó cứ lạnh lùng băng qua mình, chứ mình nào có đi qua được nó, ông vui vẻ bảo thế, rồi đọc: "Những câu thơ chẳng để làm gì/ Không làm anh bất tử/ Nếu không một lần lọt trong mắt em/ Những câu thơ chẳng để làm gì/ Ngoảnh lại/ Mặt trời khuất/ Ngôi sao sà xuống thấp/ Câu thơ buồn mênh mang”. (Vô đề). Ông lại bảo lúc hứng nhất ông có cái thú đọc to lên những câu thơ của bạn bè, của tiền nhân, của các bậc ông tôn suy là các "ông thơ”, và thơ của những nhà thơ bất luận người nước ta hay tàu, tây mà ông thích. Ông khôi hài, thơ khéo như thuốc phiện, bập nó rồi nghiện, nghiện thơ thường bổ chả nên cai. Gặp cố nhân, ông kể có lần nằm mộng thấy các Tiên Thi giảng chữ Thơ vốn được viết trại ra từ chữ Vạn biểu tượng của Đức Phật, nghe vui vui mà nhã.Tốt hơn cả, ta lắng tiếng thơ ông để nhận lấy cái ánh ỏi đem đến từ chấm vô lượng tỏa từ chữ Vạn ông theo, tin và giữ nằm lòng. "Yêu trọng nhau nào được mấy người” (Câu thơ của Yến Vinh). Loại thơ có thể gây nghiện như thuốc phiện và trong suốt như chữ Vạn vốn giản dị hồn hậu, không hoang chữ, không hô hoán, không dọa đổ bóng xuống ai, mà cũng chả cần bắt quyết niệm chú hay tô trát vẽ vời. Một đời vật vã sống và viết chả dễ nhiều như cát!: "Anh chắp tay phải vào tay trái/ Bên có trái tim và bên không có trái tim/ Bên hư vô và bên hữu hạn/ Bên không em, bên anh đứng một mình”.( Đi chùa). "Nơi ngày xưa anh qua chỉ còn mây trắng/ Cô thanh niên xung phong giờ đã hoá bà già/ Nơi ngày xưa anh qua cỏ lau khép lối/ Máu đồng đội tưới khắp rừng, hoá dây dợ này chăng”.(Mây trắng). Và, huyền minh thầm ấm ở đây nữa: "Anh vẫn biết/ Ngày phá bom, đêm san đường kiệt sức/ Nhưng các em ngủ thế đã đủ rồi/ Dậy đi các em/ Có rất nhiều quà tặng/ Lược đồi mồi và giấy viết thư/ Hộp kim chỉ và những chùm bồ kết/ Cả gương soi khuôn mặt lấm bùn/ Người thăm viếng nghĩ các em giải lao đâu đó/ Không nỡ hoá vàng mà gửi lại phấn son”. (Đánh thức các em gái ở Đồng Lộc). Đọc thơ Hà Đình Cẩn, nhà thơ Đỗ Trung lai viết: "Thơ có đứng được giữa cuộc đời hay không không chỉ là những câu thơ hay, những bài thơ hay mà còn đòi hỏi những câu thơ có tư tưởng làm nên cái xương sống khoẻ khoắn đứng vững giữa đời sống vốn đã nhiều thơ”. Có thể hiểu đó cũng là một cách nói khi Đỗ thi sĩ gặp những câu thơ nương ánh ướt phổ quang.

"Vừa chạy Lum vừa vịn vào cây rừng cho khỏi ngã vật xuống. Lum chạy như thế vẫn không kịp đám lính. Thằng Sốt dừng lại. Nó nhìn vào bụng Lum bằng đôi mắt trắng nhợt, vừa man rợ, vừa thèm khát. Nó nói với Lum hãy phá cái thai đi, chạy theo nó. Nó muốn lấy Lum nhưng không nhận cái thai vô thừa nhận Lum đang mang. Lum lạy nó. Thằng Sốt nhếch mép, bất ngờ đạp lên bụng Lum. Rừng vắng quá. Còn ai ở đây nữa không? Sao hoa ê - pa lại nở vào mùa này?... Bày thú dữ nhảy quanh đám lửa…Ai đó gọi thật vang…”

Đoạn này trong ký sự mang tên Stung - treng, viết bỏng rát, sống động và đầy nhạc điệu, có thể đọc ngân nga như đọc một đoạn Khan Ê Đê hay S’tiêng nào đó.

Nếu cứ khăng khăng sẽ chỉ sống trọn nghiên bút với văn xuôi thôi, nào có đơn giản vậy! Thơ - có khi nó nấp ngay bên lề trinh trắng trang văn như thời gian lặng lẽ tăm sôi mà anh chưa thình lình nhận thấy đấy thôi. Con người đã đo được thời gian có khi trước cả văn minh sông Hằng. Tôi dám bảo các nhà thơ còn biết cân thời gian xem nặng nhẹ thế nào từ thuở biết hát ca tiếng nói. Nhà thơ dụng chiếc cân thời gian khi mang niềm say, khi vấp nỗi buồn. Có phải vì thế nhiều nhà thơ mới nói một cách mĩ miều rằng thơ đứng về phe nước mắt. Một người lính cầm cả súng và cây bút như Hà Đình Cẩn tất nhiên đã trải đẫm nỗi niềm mặn nhạt. Và như thế thơ ông đa cảm, nhẹ êm như để khoả vợi những ưu tư, những khoảng trống trong lòng.Thơ Hà Đình Cẩn đọc chậm mới nhận lại dư ba, thi ảnh chứa chan không chói gắt. Vả lại, những câu thơ truyền sự ấm áp và cảm động sang ta phải chăng phần nhiều thường giản dị:

"Người tạc tượng nào gửi em vào rừng sâu

Để cánh tay trần dừng ngang điệu múa

Gỡ dây bìm trên vầng trán em

Tượng đá ngủ triền miên thức dậy

Cánh tay trần múa tiếp

Rừng già

Đột ngột

Trăng lên…

(Vũ nữ trong rừng)

"Nước như gương

Sợ chạm tay là vỡ

Cầm lòng thôi

Trả gió về ngàn

Trả nắng về đêm

Trả sông về biển

Trả bờ này. Tu hú gọi bờ kia…

Cây rút ruột xanh không còn gì để trả

Trả ngu ngơ về cho anh

(Mong manh)

  H.Q

 

 Viết tại Thành Phố Vũng Tàu

 

 

 

B - MỘT SỐ TÁC PHẨM TIÊU BỂU

 

 

RỪNG QUẢ ĐẮNG 

 (Kịch)

 

 

        Nhân vật:

NGƯỜI ĐÀN BÀ (THANH thời trẻ)

NGƯỜI NHÀ GA 

BS KHÁNH

YS.MAI

BS THÌN

DS ĐOAN

NGƯỜI ĐÀN BÀ ÔM HOA (Hồn BS THÌN)

TRUNG ĐOÀN TRƯỞNG

SĨ QUAN THAM MƯU

TNXP 1, 2, 3

CHIẾN SĨ A, B, C

MỘT SỐ NHÂN VẬT PHỤ LÀ CHIẾN SĨ VÀ TNXP

 

LỜI GIỚI THIỆU

 Trong những người lính từ mặt trận trở về sau chiến tranh có một nữ TNXP đi ra từ cánh rừng bị nhiễm độc
đi-ô-xin.

Cánh rừng quả đắng.

Cô bị mất mát, đau đớn về tình yêu, nên đã lên một con tàu, thực hiện cuộc hành trình dài từ ga Dĩ Vãng tới ga Hạnh Phúc, với hi vọng tìm lại  được những gì đã mất.

Cuộc tìm kiếm thật gian nan và buồn bã.

Con tàu chở cô không đơn tuyến, đôi khi ngược xuôi giữa hai chiều thời gian, nên dọc đường cô gặp lại không ít những thân quen, những buồn vui, những người tốt và kẻ xấu, những cao cả và thấp hèn, lòng nhân ái và sự phản bội.

Họ hé lộ ở sân ga và sau các ô cửa sổ của con tàu.

Liệu cô có tới được ga Hạnh Phúc?

Các nghệ sĩ, diễn viên chúng tôi kể lại câu chuyện bằng một chuyến tàu giả định, nhưng tiếng còi tàu là thật, nó hú vang trên suốt cuộc hành trình, để nhắc nhở hành khách đừng quên quá khứ gian nan và nhiều mất mát trong chiến tranh khi lao nhanh về tương lai.

Con tàu khởi hành từ ga Dĩ Vãng.

Chúc quý khách thượng lộ bình an...     

GA DĨ VÃNG

  Tiếng chuyển bánh của con tàu chậm dần để vào ga.

  TIẾNG NÓI NGƯỜI  NHÀ GA - Tầu đã vào ga.  Quý khách chuẩn bị hành lý trước khi xuống tàu.

  NGƯỜI ĐÀN BÀ bước ra sân ga, thoảng thốt - Xin hỏi, ga nào đây?

  NGƯỜI NHÀ GA bước ra - Ga Dĩ Vãng.

  NGƯI ĐÀN BÀ - Không! Không! Tôi không xuống ga này.

  NGƯỜI NHÀ GA - Vậy quý khách muốn tới ga nào?

  NGƯỜI ĐÀN BÀ - Cho tôi tới ga Hạnh Phúc.

NGƯỜI NHÀ GA - ngẫm nghĩ - Rất tiếc, chúng tôi không thể làm vui lòng quý khách. Ga Hạnh Phúc còn rất xa, ở cuối cuộc hành trình. Xin mời quý khách lên tàu đi tiếp.

NGƯỜI ĐÀN BÀ ngước nhìn về phía trước - Không có ai chờ tôi ở đây cả, mặc dù cái sân ga này từng gắn bó với tôi. Đã từ lâu lắm rồi tôi bắt đầu cuộc hành trình tìm kiếm hạnh phúc...

Ngày ấy, tôi còn trẻ, học xong lớp 10 xung phong khắc ba lô lên Trường Sơn. Ở đó có một cánh rừng, một con suối, một đám bạn gái vui nhộn và một người tôi si mê...Mắt Người đàn bà nhìn xa xăm, rồi cất tiếng gọi - Thúy ơi, Nga ơi, Yến ơi...

CHIẾN TRƯỜNG

 Cánh rừng. Con suối.

Các cô TNXP mang vác ba lô, hòm đạn, bao gạo xuất hiện.

TNXP - Cậu ơi, lại gặp suối.

TNXP 2 - Dầm nước suốt ngày, quần áo chỉ còn mỗi bộ đang mặc là khô. Lại lội suối thì biết làm thế nào đây?

TNXP 3 - Mặc ướt rượt, chịu thế nào được. Chỗ này kín đáo, cởi để qua suối được đấy, các cậu ạ.   

TNXP 4 - Lỡ chẳng may có người ...Eo ôi....

TNXP 3 - Ôi dào, tay nào nhìn trộm, nó ngượng mặt nó. Này - Cô TNXP nghé vào tai cô đứng cạnh, thì thầm gì đó. Hai cô cùng cười.

TNXP1 Ôm lấy cô TNXP3 - Hai con này thì thầm nói xấu chị em phải không? Khai ngay, nói gì?

TNXP 3 - Nói gì đâu.

TNXP1 Ôm chặt lấy bạn - Chối này...Nói gì khai mau. 

TNXP3 - Không nói xấu ai đâu. Nó chỉ bảo, bây giờ mà được một thằng kẻng trai nó ngắm lại chả mê.

TNXP1 - À, đánh giá thấp chị em nhé. Phạt vác hai hòm đạn qua suối. Ở giữa chiến trường gái này càng có