Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ra sức thi đua thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2018!
Từ khóa tìm kiếm Từ khóa tìm kiếm

NHÀ VĂN VĨNH PHÚC HIỆN ĐẠI (Phần 4; Quyển 1)

(Ngày đăng: 19/01/2018, số lượt xem: 120)

 

 

 

HỮU THỈNH

 

- Họ và tên khai sinh: Nguyễn Hữu Thỉnh

- Sinh năm 1942

- Quê quán: Làng Phú Vinh, xã Duy Phiên, huyện Tam Dương,
  tỉnh Vĩnh Phúc

- Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam (từ 1976)

 

- Tác phẩm chính đã xuất bản:

* Âm vang chiến hào (Thơ in chung, 1976)

* Đường tới thành phố (Trường ca, 1979)

* Từ chiến hào tới thành phố (Thơ ngắn, trường ca, 1985)

* Khi bé Hoa ra đời (Thơ thiếu nhi, in chung, 1985)

* Thư mùa đông (Thơ, 1994)

* Trường ca biển (Trường ca, 1994)

* Thơ Hữu Thỉnh (Thơ tuyển, 1998)

* Sức bền của đất (Trường ca, 2004)

* Thương lượng với thời gian (Thơ, 2005)

* Mùa xuân trên tháp pháo (Bút ký, truyện ngắn, 2009)

* Lý do của hy vọng (Tiểu luận, phê bình, 2010)

Ngoài ra còn viết nhiều bút ký văn học, viết báo.

 - Giải thưởng văn học:        

* Giải A, cuộc thi thơ báo Văn nghệ 1975 - 1976 bài Chuyến đò đêm giáp ranh, Trường ca Sức bền của đất.

* Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam năm 1980 với Trường ca Đường tới thành phố.

* Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam năm 1995 với tập thơ Thư mùa đông.

* Giải thưởng Văn học ASEAN, 1999.

* Giải xuất sắc Bộ Quốc phòng năm 1994 với Trường ca Biển.

* Giải thưởng Nhà nước về Văn học đợt I, 2001.

   - Suy nghĩ về nghề văn:

     Tôi rất tin: Thơ là kinh nghiệm sống.


A - TRONG KÝ ỨC BẠN BÈ 

 

MÔ - TÍP THỜI GIAN, MÔ - TÍP THIÊN NHIÊN TRONG THƠ HỮU THỈNH

(Đọc Thương lượng với thời gian1)

                                                            Hoàng Ngọc Hiến

 

Tác giả không thể không suy ngẫm về thời gian, vì thời gian đầy những sự bất trắc, cả những sự tráo trở nữa: “Đem cho”… “Đòi lại” (Và “Đòi lại không hề thương tiếc”), “bày ra” “rồi xóa đi”, “ham chơi và bỏ cuộc… “Thời gian, ông là ai?” (xem II, tr.21). Với người viết, thời gian càng bất trắc:

------------------

1Hữu Thỉnh- Thương lượng với thời gian. Nxb Hội Nhà văn, 2005. Được dẫn từ của cuốn sách này, thì số trang đề là II, tr… Được dẫn từ cuốn Thơ Hữu Thỉnh, Nxb Hội Nhà văn, 1997, số trang đề là I, tr…

 

Chưa viết giấy đã cũ

Chưa viết sông đã đầy

Đám cưới đi qua có người đang khóc

 

Chưa viết chợ đã đông

Chưa viết đồng đã bạc

Người than thở vì mất mùa nhân nghĩa

Trước những sự bất trắc (bất trắc nào cũng ít nhiều thô bạo), câu thơ hầu như bất lực vì quá mong manh:

Câu thơ đứng giữa trời

Vó nhện cất sương rơi.

                                                                     (I, tr.153)

Tác giả cảm nhận sâu sắc sự mong manh của đời người và muôn ngàn sự bất trắc, hiểm nguy rình rập khi con người ta lẽo đẽo đi vào ngõ thu cuộc đời: “muôn nỗi cánh diều mong manh”, ngày thì mau sập chiều, xoáy vực thì “chông chênh”, chỉ một cơn gió, bóng mẹ già bỗng thành thiên thu.

Tuy nhiên cũng có những sự bất chợt thú vị:

Bất chợt

được sưởi ấm

từ những ai không quen biết qua đường

 

Bất chợt

những cánh chim vụt hiện

vẽ đường đi vô định của con người

                                                            (xem II. tr.33)

Mô típ thời gian vĩnh cửu xuyên suốt bài thơ nổi tiếng của Hữu Thỉnh Phan Thiết có anh tôi:

Vuông đất là không gian hữu hạn, “Đồi”có rộng đến mấy thì cũng là hữu hạn. Đất và trời Phan Thiết là không gian bao la. Đất và trời là sự vĩnh cửu. Hình ảnh người anh hòa vào đất và trời vĩnh cửu.

    Em chưa hay cánh đồi ấy tên gì

    Nhưng em biết ngày ngày anh vẫn đứng.

                                                                     (tr.164)

    Anh không ngủ người đi câu không ngủ

    Biển đêm đêm trò chuyện vời hai người.

(tr.165)

“Ngày ngày”, “đêm đêm”, “thăm thẳm” (trong câu thơ biển màu gì thăm thẳm lúc anh đi, “thăm thẳm” thuộc phạm trù thời gian) là những điệp ngữ của sự vĩnh cửu.

Vẫn không ngờ có một trưa Phan Thiết

Em một mình đứng khóc ở sau xe.

Khoảnh khắc thời gian hữu hạn này làm sống động dòng liên tục thời gian vô hạn.

Thương lượng với thời gian, tác giả ngổn ngang tâm trạng và đau đáu nỗi niềm. Đây là một tác phẩm trữ tình. Trong tác phẩm này nổi lên hình ảnh hoành tráng hai nhân vật “sử thi”: người lính gỡ mìn và người thợ lặn cầu Thăng Long. Hoành tráng mỗi nhân vật một vẻ. Trong chiến trường chật chội, đấu tay đôi của người lính gỡ mìn, tính hoành tráng là ở cái biên giới nhỏ nhoi, khắc nghiệt nằm dưới đầu kim hỏa mỏng như hơi và hiệu quả vô cùng to lớn của công việc ô cùng nguy hiểm này:

    Đất mới thật là đất sau lưng anh

    Cỏ mới thật là cỏ sau lưng anh

    Anh dọn bữa tiệc xanh

    Gọi đàn bê tung vó.

                                                  (II, 52)

Hình ảnh người thợ lặn cầu Thăng Long hoành tráng một cách khác: bộ đồ lặn tám mươi cân, xoáy lũ sông Hồng, đám bùn nhão dưới năm mươi thước, và:

    cả dòng sông đè lên trái tim anh

                                                  (II, tr.64)

    Sóng nặng trĩu thét gào trên mạch máu

                                                  (II, tr.65)

Hình ảnh của họ hoành tráng,con người của họ lớn, họ giống nhau ở một điểm: niềm vui của họ vô cùng giản dị, người lính gỡ mìn trong mấy phút chỉ ngắn ngủi ngước mắt nhìn “mây tê tê một dải vắt ngang trời/ ngón tay lấm nghỉ ngơi trên điếu thuốc”, còn người thợ cầu Thăng Long “giật mình sửng sốt, khi lên bờ bắt gặp lá tre non” (II, tr.66). Họ chỉ là những người lao động bình thường, những con người vô danh. Xã hội nhìn họ như vậy, không hơn không kém, có khi vợ con họ và bản thân họ cũng nghĩ vậy vậy thôi. Với chân dung người lính gỡ mìn và người thợ lặn cầu Thăng Long, Hữu Thỉnh đã đóng góp cho thơ ca hình ảnh trác việt nhưng anh hùng vô danh thời bình…

Khổ thơ thể hứng cổ điển được kết cấu bởi tương quan giữa mô-típ thiên nhiên và mô-típ nhân văn, mô-típ thiên nhiên được trình bày trong những câu đầu, tiếp theo là những câu được trình bày theo mô-típ nhân văn. Chẳng hạn, trong chương I bài Ẩn kỳ lôi (Tiếng sấm ầm ầm), bài thứ 19 trong Kinh thi, thì 2 câu đầu (Tiếng sấm ầm ầm/ ở phía nam núi nam) là mô-típ thiên nhiên, những câu còn lại là mô-típ nhân văn: tâm trạng chinh phụ cô quạnh, mong nhớ chồng trở về (Sao chàng một mình rời khỏi chốn này/Mà không dám được tí gì rảnh rang). Trong thơ Hữu Thỉnh có những đoạn (hoặc khổ) thơ được kết cấu theo thể hứng cổ điển.

    Chim tha phương đậu xuống bụi chà là

    Câu vọng cổ theo người đi mở đất

                                                            (II, tr.69)

  Trong đoạn thơ này, câu 1 là mô-típ thiên nhiên, câu 2 là mô-típ nhân văn, giữa câu 1 và câu 2 có một liên hệ lô-gích nào đó, không xác định, chính tính không xác định này tạo ra sự khởi hứng ở người đọc.

    Trong khổ thơ sau đây:

    Mưa thanh xuân mưa trước cửa thiền

    Sông chảy chậm đợi chiều đang bị ướt

    Ta khoác chiều mưa

    Buồn chẳng vơi thêm

    Vui chẳng ngập

                                                            (II, tr. 56)

2 câu đầu là mô-típ thiên nhiên, 3 câu sau là mô-típ nhân văn (trạng thái an nhiên của người đã hòa nhập vào thiên nhiên).

Nhưng tiêu biểu cho thi pháp Hữu Thỉnh là cách kết cấu ngược lại với thể hứng cổ điển: mô-típ nhân văn đi trước, tiếp theo là mô-típ thiên nhiên.

    Có gì mới? Ngày đi hay cát đến?

    Có gì vui? Gió thổi lấy lòng cây

    Có gì bền? Nhân nghĩa có còn đây?

   

    Ta im lặng vì quá nhiều mây trắng.

(II, tr. 9)

Ba câu đầu là những câu hỏi có ý nghĩa nhân văn sâu sắc. Chẳng hạn, câu thứ hai, trước câu hỏi Có gì vui?Tác giả đón trước hàng trăm câu trả lời mà hầu hết chẳng qua chỉ là “Gió thổi lấy lòng cây”.

Câu 4 là một hình ảnh thiên nhiên (“quá nhiều mây trắng”) và một quan hệ lô-gích: trước những câu hỏi nhân văn hệ trọng ta im lặng vì quá nhiều mây trắng. Một quan hệ lô-gích khó hiểu, mỗi người sẽ hiểu một cách, hoặc chịu, không hiểu nổi. Chính sự không hiểu này tạo ra sự khởi hứng ở người đọc. Như vậy với một kết cấu ngược lại vẫn đạt được hiệu quả của thể hứng cổ điển. Ba câu đầu là trạng thái nhân thế và miệng thế. Câu thứ tư là sự im lặng được giải thích là vì quá nhiều mây trắng.Xem ra tác giả nghi ngờ miệng thế bao nhiêu thì tin ở mây trắng bấy nhiêu. Mây trắng là biểu tượng của thiên nhiên. Phép mầu nhiệm nào của thiên nhiên đã cuốn hút lòng tin của nhà thơ?

Trong bài Thấy (II, tr, 11, 12), 5 câu đầu là mô-típ nhân văn: những bộ mặt của sự gian ác, thế thái nhân tình ngày càng khó sống, một sự trì trệ vô vọng: hóa ra tất cả vẫn nguyên như cũ. Câu 6 chốt khổ thơ này là mô-típ thiên nhiên: Tháng ba đầu cành hoa bưởi còn kia. Tưởng như là một câu thơ vu vơ. Thực ra trước những điều trông thấy đau lòng cõi nhân sinh, với một tâm trạng ngao ngán đến tuyệt vọng, tác giả chẳng còn cách nào khác là níu lấy thiên nhiên, dù chỉ là níu lấy một cành hoa bưởi? Mô-típ thiên nhiên trong thơ Hữu Thỉnh rất khác mô-típ thiên nhiên trong những bài hứng cổ điển của Kinh Thi. Bức xúc, căm uất, có khi gần như tuyệt vọng trước những sự ngang trái và độc địa, những sự phản phúc và gian trá bày ra trước mắt, lại còn huênh hoang và nghênh ngang nữa, nhà thơ sống không nổi, anh tìm đến thiên nhiên, không phải để tìm những lời giải đáp, thiên nhiên không giải đáp, không giải quyết được bất cứ vấn đề gì. Anh níu lấy thiên nhiên, tựa vào thiên nhiên để lấy lại sự bình tâm, sự an nhiên, sự thanh thản. Không có sự bình tâm này, trước sau sẽ quay cuồng, điên loạn với đa đoan của thế sự và chìm nổi của dâu bể. Mà cũng chẳng có thơ nữa. Quan niệm của Lưu Hiệp: thơ ở lưng chừng giữa động (cảm xúc xao xuyến) và tĩnh (sự bình tâm, an nhiên). Trong mọi sự vật của thiên nhiên đếu có cái gì đó kỳ diệu (Aristote). Kinh tế thị trường man rợ cũng như công nhiệp hóa và hiện đại hóa mù đương tiêu diệt một cách tàn bạo và quy mô toàn cầu năng lực bẩm sinh của con người giao cảm với thiên nhiên kỳ diệu. Hữu Thỉnh dường như còn cảm nhận được cái kỳ diệu của “mây trắng và cành hoa bưởi”, của “tiếng gà trưa” “nhành sim tươi”, của “trời xanh và mây thắm” của “mặt trăng buồn và những cánh chim vụt hiện”…Anh còn nghe được hoa trong vườn Nguyễn Huệ kẻ sự nghiệp người anh hùng bằng ngôn ngữ của “mùi hương thao thiết” “mây thắm trên đầu” (xem II, tr.58). Không biết tác giả đã đạt đến minh triết của Walt Whitman chưa: “Sau khi anh đã nếm đủ mùi của kinh doanh, chính trị, tiệc tùng và vân vân, anh thấy được rằng cuối cùng chẳng có món nào làm anh thỏa mãn hoặc có giá trị lâu bền vậy thì còn lại cái gì? Còn lại thiên nhiên”.

Cây là biểu tượng của thiên nhiên mà tác giả yêu thích hơn cả. Hơn một lần anh thích làm cây.

Tôi như cây biết dấu lá vào đâu

Giữa gió bụi cõi người.

                                        (II, tr. 18)

Dường như chỉ có cây là thanh cao, còn con người mãi mãi kiếp phong trần.

Trong bài thơ ngụ ngôn Một thoáng làm người (II, tr.35), cây muốn đổi bóng cho người để “được làm người trong chốc lát”, dè đâu “mới một thoáng làm người cây đã đòi bóng lại”.

Bão trời ta coi khinh

Bão người không chịu nổi

Hữu Thỉnh làm thơ triết lý mà không triết luận.

Không biết bài Thương lượng với thời gian (II, tr.36) có phải là bài chốt của tập thơ mang tên bài thơ.

Buổi sáng lo kiếm sống

Buổi chiều tìm công danh

Buổi tối đem trí khôn ra mài rũa.

Đây là thời gian biểu thảm hại của những con người thảm hại kiếp phong trần. Tuyệt đại đa số không biết số kiếp mình thảm hại:

Tỉnh thức

Những hàng cây bật khóc

Tác giả phải nhờ đến cây vốn thanh cao, vô tư, thẳng thắn để biểu lộ đau thương và xót xa cho những con người kiếp phong trần.

Với bài thơ này Hữu Thỉnh vừa quyết liệt, vừa xót xa trước sự xuống cấp của con người, trước những sự tha hóa và đốn mạt của con người.

Trong bài thơ Lời mẹ, người con mỗi lần lận đận trên đường đời lại quay về hỏi mẹ. Lời của bà mẹ:

Hãy yêu lấy con người

Dù trăm cay nghìn đắng

Đến với ai gặp nạn.

Bất cứ bà mẹ truyền thống nào cũng có thể đưa ra một lời khuyên như vậy.

Lời cuối cùng mới quan trọng:

Xong rồi, chơi với cây.

Đây là lời của một nhà hiền triết, một nghệ sĩ.

Xong rồi, chơi với cây là một tứ thơ quí trong thi phẩm của Hữu Thỉnh.

H.N.H

 

 

 


 

CHẤT DÂN GIAN THẤM ĐẪM TRONG “SỨC BỀN CỦA ĐẤT”

(Trường ca Biển của Hữu Thỉnh -

Nxb Quân đội nhân dân, 2004) 

Vĩnh Nguyên

 

Trước khi nói đến chất dân gian, dân ca thấm đẫm với những ưu điểm trong Sức bền của đất, ta hãy nghe nhà thơ Hữu Thỉnh có đôi lời phi lộ ở đầu sách. Lời tác giả: Trường ca này tôi viết từ sau phút đón giao thừa Tết Ất Mão 1975, tại một tiểu đoàn xe tăng, Lữ đoàn xe tăng 273 Anh hùng. Lúc đó, tiểu đoàn đang trong tư thế tấn công giải phóng thị xã Công Tum trong chiến dịch Tây Nguyên 1975.Tôi viết một mạch hết đêm giao thừa, cả ngày mồng một và đến quá nửa đêm hôm ấy thì xong. Tôi chép nó trong sổ tay và mãi đến khi kết thúc chiến tranh (30-4-1975) mới giở ra xem lại và gửi dự cuộc thi thơ 1975-1976 của Tuần báo Văn nghệ Hội Nhà văn Việt Nam. May mắn thay, Sức bền của đất Chuyến đò đêm giáp ranh đã vinh dự được trao giải A của cuộc thi này.

Qua lời giải thích trên, ta thấy Sức bền của đất được viết rất nhanh. Với 5 chương (không có tựa đề ở mỗi chương), tất cả có 530 câu thơ, chương 2 dài nhất (251 câu) mà chỉ viết một ngày, một đêm, thêm nửa đêm nữa là xong (Tất nhiên sau này, trước khi in sách ông có sửa chữa và viết thêm), nhưng như thế cũng có thể nói rằng, thơ đã chưng cất sẵn trong ông như đập nước đang trữ nước và chỉ chờ khơi một cái là tuôn trào.

Thực vậy:

Anh nhớ em như cơn mưa tích nước

Cứ chực òa chỉ một cớ không đâu

Đất. Ở đâu cũng đất. Lữ đoàn xe tăng 273 trong tư thế tấn công là đi trên đất. Nhưng sức bền của nó còn tiềm ẩn vững chãi oai hùng là ở hướng khác nữa.

Mở đầu trường ca, tác giả viết:

Đom đóm bay ra hoa gạo đỏ

Mẹ ở nhà đã cất áo bông?

Mẹ có ra bờ sông

Qua bến đò tiễn con dạo trước?

Đường xuống bến có mười sáu bậc

Mẹ nhớ thương đã bạc mái đầu…

Và, chỉ cách đó 19 câu, theo mạch vỉa cảm xúc này, tác giả đã khắc họa rất rõ:

Mẹ là người chúng con thương nhớ nhất

Đất nước ngày có giặc

Mẹ vẫn đỏ miếng trầu

Ấm một vùng tin cậy phía sau.

Vùng tin cậy phía sau ấy chính là hậu phương hùng hậu! Là mẹ, là em, là ruộng nương châu thổ. Bởi vậy, trong chương một (66 câu), đã có 11 câu thơ nói về mẹ.

Ở trại sáng tác Tam Đảo năm 2010, Hữu Thỉnh lên thăm và tổng kết trại, ông nói vui: đây là vùng đất rừng quê tôi, lúc nhỏ tôi đã từng là “lâm tặc”. Ở vùng quê, ai mà chẳng thương mẹ đun nấu rạ rơm sáng, trưa, chiều khói bụi mù mịt. Phải vào rừng kiếm củi thôi. Nhưng củi khô thì hiếm. Củi tươi thì nặng gánh vác không được nhiều. Vậy phải chờ ngày nắng to, vào rừng chọn cây dẻ, cây ngạnh tươi mà đốn hạ một vạt. Ba ngày sau vào tuốt lá, bó hai bó củi khôn gánh về cho mẹ. Thế đấy. Từ “lâm tặc” là nói lũ cướp ngày tàn phá bây giờ còn ngày trước làm gì có từ đó?

Từ mẹ, từ cây đa bến nước sân đình, từ cái nôi của hát xoan, hát ghẹo. Bao kỷ niệm từ thuở nhỏ của ông với đồng đất quê hương, những tối sân đình hát vui chơi cùng bạn. Lại được người mẹ giỏi hát đã gieo vào lòng cậu con trai thông minh hoạt bát những lớp lang bài bản. Hát xoan, bước một: Giáo trống, bước hai: Xuân cách - Thu cách, bước ba: Bỏ bộ - xin huê - đố chữ. Hát ghẹo thì: Ví đặt trầu, Giọng sổng, Sang giọng, Ví tiễn chân. Và nhiều ngạn ngữ, thành ngữ, tục ngữ, ca dao trữ tình đã nhập vào ông để bây giờ ông khéo léo huy động hết vào trường ca Sức bền của đất.

Nhưng cái giỏi của người sáng tác là không hề bê nguyên xi một câu xoan, câu xẩm, bỏ bộ, xin huê, đố chữ nào. Mà có thể chỉ là một nét hư ảo thoán qua, một giai điệu, một bóng hình tưởng tượng thuở nào cho ông phát triển những câu thơ, những đoạn thơ theo mạch cảm xúc những giọng của hát ghẹo hay Bỏ bộ của hát xoan? Vv…

Cây vối đứng bờ ao, cặp thừng treo gác bếp

Bồ muối để dành vần cạnh bếp tro

Cái cối cái chày đếm nhịp nhỏ to

Bao truyền thuyết được kể ra từ đấy…

 

Hai chữ thủy chung đính ở góc khăn

Bớt chông chênh những ngày chờ đợi

Kim chỉ có đầu hoa thơm có cội

Bèo trôi lôi bến tiễn đưa nhau

 

Tre làm nhà ngâm ba năm mới vớt

Ớt cựa gà ba vụ mới cay

Trời có mưa có nắng

Giếng có cạn có đầy

 

Con gái ở bền không chê tấm vá

Con trai ở bền như đá muối dưa…

Con trai ở bền như đá muối dưa? Chỉ nghĩ về câu thơ này ở đoạn thơ này đã thấm thía lắm. Muối dưa phải có nghề. Phải có tay muối dưa. Chỉ thao tác sai một công đoạn thì dưa sẽ khú. Dưa khú là lo đi đổ ngay không thì nó khắm lắm!

Thuở nhỏ, tôi đã thấy vú (mẹ) tôi muối dưa cải. Cải Bắc, trong tôi gọi là cải bẹ, cành dày, lá to. Vú mua ở chợ Đồng Hới, đường xa, gánh về đến nhà đã héo. Vú lột ra từng cánh, rửa sạch, cắt ngắn bằng hai đốt lóng tay, để trên xảo thưa cho ráo nước. Vú nấu nước sôi, pha muối vừa phải. Vớt bọt, lắng cặn bã. Nước vừa hẩm mới cho cải vào vại hình tròn. Tay vú nén cho cải chặt xuống. Đặt lên tấm vỉ tre thưa đan lóng mốt. Và động tác cuối cùng là đằn lên nó một hòn đá mồ côi. Nước dần dẫy lên ngập nửa hòn đá. Chừng hai ngày, vắt dưa ăn đã giòn, đã ngon. Để thêm vài ngày nữa thì dưa vàng, chua và bốc mùi thơm dưa. Dưa cải vàng và chua là đúng dưa chín. Từ nó, có thể chế biến cùng với thịt, cá, tương đậu mà thành nhiều món ăn (cả chay và mặn) dân dã rất ngon, rất Việt Nam! Tôi còn nhớ, dưa cũ chưa hết, vú đã nén vại khác. Một phần ít dưa chua, vú dành nấu riêng cho thầy tôi thời chay. Còn hầu hết là nấu mặn cho cả nhà và thợ cày, thợ gặt. Nhà tôi xưa nhiều ruộng. Nhưng trong nhà không ai biết gì đến việc cày bừa nên vú tôi phải thuê tất. Thợ cày, thợ gặt họ rất thích ăn cá mè kho dưa và canh dưa chua nấu cá tràu (cá quả). Dưa cải, rồi còn dưa hành, dùng vào dịp lễ Tết truyền thống. Dưa cải bắp có thêm rau răm (hai thứ đều thái chỉ). Ở Nghệ - Tĩnh có muối cà (cà nghệ), còn muối xơ mít (gọi nhút) vv…Tất cả các loại muối và mắm đều phải có tấm vỉ đan thưa và hòn đá đằn lên trên. Ồ, hóa ra hòn đá mồ côi lại bền, lại chung thủy lắm ru? Và qua hòn đá muối dưa cho ta thấy tác giả trường ca này mới thật “đáo để” và sắc sảo đến ngần nào!

Hai câu thơ:

Con gái ở bền không chê tấm vá

Con trai ở bền như đá muối dưa.

Nếu bạn đọc nào cần biết, thì theo tôi nên hỏi ông Hữu Thỉnh lấy từ câu ca, tục ngữ hay từ câu xoan, câu xẩm nào ở quê ông mà giỏi đến vậy?

Một trường ca dài thấm đẫm chất văn học dân gian, nhưng ông chỉ lấy bốn câu cần thiết (có đóng dấu ngoặc) “Nàng về nuôi cái cùng con”, “Mẹ tham khúc cá thu/ Gả con về biển mịt mù tăm tăm”, “Chim bay về núi túi rồi” và mười câu hát đồng dao trẻ em: “Thả đỉa ba ba/ Chớ bắt đàn bà/ Phải tội đàn ông/ Cơm trắng như bông/ Gạo tiền như suối/ Bỏ mắm bỏ muối/ Bỏ chuối hạt tiêu/ Bỏ niêu cứt gà/ Bỏ cho bà nào/ Bỏ cho bà này”. Còn từ đầu chí cuối trường ca là ông tự tung tự tác mà nên chương.

Theo năm tháng sáng tác ghi trong văn bản của ba trường ca, thì bản thảo đầu tiên Sức bền của đất, viết trước Đường tới thành phố hai năm, và viết trước Trường ca biển sáu năm. Và bây giờ bạn đọc được đọc một lúc cả tập (ba trường ca) thì dễ dàng nhận định, đánh giá sức vóc trường ca Hữu Thỉnh. Riêng tôi, giá như tôi mới chỉ đọc Sức bền của đất thôi, thì cũng đã thấy đã đời lắm, tin cậy lắm. Bởi không đầy bản lĩnh, vốn sống dồi dào và tinh thông để công phá vào lĩnh vực văn học khó mà vẫn thành công. Nói ngắn: Hữu Thỉnh có tài viết trường ca.

Quải lưới đương ngàn, trong hát xoan, hát ghẹo đều có trò chơi bắt cá, thường tổ chức ở sân đình. Nam làm lưới, nữ làm cá. Khi bắt được cá, theo nghĩa bóng bẩy là họ đã trao tình cho nhau. Nhưng bởi tổ chức vui chơi nên dầu đã bắt được cá mà vẫn như là chưa có gì.

Một ví dụ (chương hai), tác giả còn hồn hậu hơn, trẻ trung hơn và vui không kém gì trò chơi quải lưới (Sang giọng - Hát ghẹo):

Ta sang xóm Chùa

Giếng đông người tắm

Con gái con trai đàn ông đàn bà

Họ chỉ mặc buổi chiều cho đỡ vướng

Anh và em cùng nhau đến tắm

Đứng như khoai như sắn giữa đông người

Anh ngó em

Em cũng ngó anh

Như bức vách nhìn vào bức vách

Em chưa chúm cau

Anh chưa thóc mách

Em và anh bong bóng sinh đôi

Rồi em lớn lên

Biết thử yếm đào

Anh cũng lớn lên

Biết đo quần lá tọa…

 

Sợi chỉ bền từ cây tre cây trúc

Sợi chỉ bền từ cây sui cây gai…

Sông ta quăng lưới giặc đến đằng sông…

Trăng mười bảy lại vá lành bến gãy…

Tôi trích thơ nhiều bởi tôi cố ý, để bạn đọc xem ra cách vận dụng câu chữ dân gian của người xưa có chỗ nào kháp ý, kháp chữ với người viết bây giờ? Ở đoạn thơ trên, phía người lớn, Họ chỉ mặc buổi chiều cho đỡ vướng, còn trẻ nhỏ thì, Em chưa chúm cau/ Anh chưa thóc mách, thì vui quá là vui. Cả làng đêm tối kéo nhau tới tắm giếg làng (theo tập quán không quần áo) mà chẳng ai để ý đến chuyện sex (như bây giờ) và bắt bẻ gì được ở người viết. Họ chỉ mặc buổi chiều cho đỡ vướng, tài thơ diễn quá khéo! Em chưa chúm cau/ Anh chưa thóc mách/Đứng như khoai như sắn giữa đông người/ Như bức vách nhìn vào bức vách… thì, tác giả là ông nhộn trẻ, ông hóm trẻ nên không có ai chê khuyết chỗ nào!

Tuổi thơ quê nhà - Tình yêu -Chiến trận đan xen quay cuồng trong người lính:

Mưa đựng hết trê tàu lá cọ

Trên trời có ông đùng bà đoàng

Làm sấm làm chớp

Dưới đất có anh và em

Lập một thiên đường không biết sợ

Chỗ ta đứng ngày xưa

Thành chỗ ngắm của pháo bầy bom chụp

Chúng nó chia ô bản đồ Tổ quốc

Tính suất bom cho mỗi con người…

 

Kẻ thù điên lên pháo chụp bom giờ

Trăng mười bảy lại vá lành bến gãy

Con gái lại lên rừng con trai xuống biển

Nghe tiếng súng biết nhau đang ở đâu…

Kẻ thù suốt ngày mong cho ta chết

Còn ta thì nhớ em và thương mẹ mòn đêm…

 

Có miếng cao nai không sao gửi được

Mẹ ta đã ngoài sáu mươi!

Truyền thuyết Thánh Gióng được tác giả chuyển sang sự tích ông Khổng Lồ cũng rất hợp lý:

Hiện ra bước chân ông Khổng Lồ

Cơm gạo xềnh xoàng tình yêu quá cỡ

Bước chân ông Khổng Lồ thành giếng

thành ao

Con trai rửa mặt đánh trận xa nhà

Con gái gội đầu thành dâu hiếu thảo…

Rồi, dần hiện lên những vị anh hùng giữ nước chống giặc ngoại xâm làm nên những trang sử ngời chói của dân tộc:

Sông ta quăng lưới giặc đến đằng sông

Núi ta lấy nâu giặc tràn qua núi

Ngô Quyền nhìn người dân binh

cuối cùng trước giáo gươm giặc tới

Người lệnh cho thủy triều đầu quân

Sai rừng gỗ lim trùng trùng làm cọc.

 

Trần Quốc Tuấn đại bản doanh trên nước

Kế đầu tiên là kế nhân hòa

Lệnh đầu tiên: người hiền không bỏ sót

 

Đại yến của Quang Trung chỉ cơm nắm

muối vừng

Ăn trên mình ngựa

Yêu sĩ phu Bắc Hà không phải là một kế

Mà là luật tồn vong

Những danh tướng tra gươm vào vỏ

Huyền Trân công chúa ra đi một mình…

Tiếp đến:

Sau này người ta sẽ bới tro lật cỏ đi tìm

Giải thích nhiều từ cổ

Trọng điểm là gì?

Chốt là gì?

Hủy diệt là gì?

Khi ấy

Anh và em chẳng còn ai nhớ nữa

Bởi:

Ta đi từ đầu sông Lô tới cuối sông Thương

Từ thung lũng Sa Thầy ra sông Trường

trắngcát

Ta để lại Quán Hàu, Phà Hianh, Đường 20,

Đắc Tô, Ban Mê Thuột…

Nơi đói ăn mơ mộng sống quên đời!...

Thì ra, trong những cuộc chiến tranh vệ quốc ở tất cả mọi thời, những người con của dân tộc Việt Nam ra trận đều coi cái chết nhẹ như lông hồng!

Trường ca Sức bền của đất, dù tác giả không đặt đề từng chương, chỉ là chữ số La mã I, II, III, IV, V, người đọc cũng có thể biết. Ví dụ (Xin lỗi tác giả trước) chương I có thể là “Lên đường”, bởi cuộc đưa tiễn của người mẹ xa con, con xa mẹ mới da diết làm sao: 

Con không dám nhìn mẹ lâu

Mái chèo khua sóng đánh

Nước ngấn lưng đê sẫm lời mẹ dặn

Mùi trầu cay ấm hoài trên vai…

Để sang chương hai, Sức bền của đất là sự huy động Tổng lực của hậu phương với tiền tuyến, người đi xa với người ở lại, sự khốc liệt đạn bom ở chiến trường với lời xoan lời xẩm êm ả ở quê nhà. Tình mẹ con, tình bạn bè, tình yêu được tác giả dựng lên một thế trận đại cục của cuộc chiến tranh nhân dân (được trích nhiều thơ ở trên), thì đến chương ba là chương “Đối kháng và sự nham hiểm của kẻ thù”.

Kẻ thù không ưng ta gọi anh, em

Đừng chú bác ông bà gì ráo

Muốn phá vỡ quê hương bền dai trong máu

Chúng nhổ làng đi dồn vô ấp tân sinh.

 

Kẻ thù thật là “chu đáo” với ta

Bày trăm kế đầu hàng và phản bội

Duy có điều chúng không sao hiểu nổi

Người đến chiến hào mỗi sáng lại đông thêm

 

Con đường tấy lên như một lời thề

Đất gọi ta

Làng gọi ta

Nóng bỏng

Vịn vào cây ven đường nhẵn bóng

Ngỡ như đồng đội đỡ ta lên

 

Phục kích bất ngờ bắn giặc xóc xâu

Đánh bộc phá theo đội hình cuốn chiếu

Đột kích xe tăng đập rắn trúng đầu

Mọi cách đánh đều lấy lời chỉ vẽ

Từ công việc ăn làm mộc mạc ngày xưa…

Ở các chương, chương nào cũng khắc ghi vào tim người lính là dù ở đâu cũng phải sống đúng, sống tốt với bạn bè, có người trên kẻ dưới, mới hòa hợp mới làm nên công chuyện, để bước sang chương bốn là chương “Hồi tưởng”, và, những kỷ niệm của người lính về quê hương bản quán, về mẹ, về bạn bè trường lớp, về em lại càng thêm sâu nặng ân tình.

Còn bao sách chúng ta chưa đọc đến

Nhỡ hẹn liên miên với các giảng đường

Nhỡ hẹn với mưa phùn ải Bắc

Mai một cành thắt ruột kẻ tha hương

 

Nhỡ hẹn Chùa Thầy

Vặn nhỏ mặt trời để vào hang Cắc Cớ

Nhỡ hẹn Yên Tử, nhỡ hẹn Chùa Hương

Nhỡ hẹn Đền Hùng, chùa Tây Thiên,

chùa Độc Cước

Chưa đến Hội Lim

Thẫn thờ

Dải yếm

Chưa đi Hội Phủ Giầy, mê mẩn chầu văn…

Những ước mơ đẹp thế, mê ly thế nhưng quân thù trước mặt, cả ở sau lưng

Có những thằng còn núp trong bóng tối

Thằng sống sót rình bắn anh sau gáy

Thằng viện binh gào đại bác tầm xa

Báng súng gãy,

Lưỡi lê quăn

Trong trận giáp lá cà

Giặc chạy rồi

Anh dựa vào gốc cây ô môi mà thở

Khốc liệt quá, giữa sự sống và cái chết đang nằm trong gang tấc, nhưng khi tỉnh lại, người lính đã nhớ mẹ với ước mơ rất bình dị:

Sau cuộc chiến tranh này

Ta chỉ mang về một chiếc vỏ đạn

Làm cối giã trầu cho mẹ của ta.

Đến chương kết - tổng kết trận đánh. Thắng và bại, được và mất, tác giả không khai triển gì thêm, chỉ gói gọn trong 39 câu là vừa đủ ý và tứ cho một bản anh hùng ca của cuộc chiến tranh vệ quốc, lập lại non sông gấm vóc của đất nước Việt Nam thống nhất mà tác giả - nhà thơ Hữu Thỉnh là người lính trong cuộc. Bởi thế, kẻ viết bài này cũng chỉ cần trích vài câu thơ ở cuối bản trường ca là đủ ý và tứ cho một thứ …gọi là… “Cảm thức văn chương”, vậy:

Chừng như là đã cuối cuộc chiến tranh

Nghe lá đạp trên đầu xao xác quá

Anh không còn trẻ nữa

Những khẩu súng kia đã lớn tuổi rồi

Mộ bạn nhờ rừng thiêng giữ hộ

Bè bạn xanh rờn ngày nhập ngũ

Thành vô danh trên khắp địa bàn

Thành tướng lĩnh cầm quân trận cuối

Và:

Mùa xuân sẽ đến thay lời kết

Trong khói bụi tơi bời anh và em tong tả

tìm nhau

 

Ta chao chân trên những mảnh bờ

Lặng lẽ nhận sức bền của đất

Đạp cứ điểm lần theo từng dấu dép

Ta nhận ra màu bùn qua những cánh

đồng chiêm.

 

V.N

 

           


B - MỘT SỐ TÁC PHẨM TIÊU BIỂU

 

TRƯỜNG CA BIỂN

Giải thưởng Văn học xuất sắc của Bộ Quốc phòng
nhân dịp kỷ niệm 50 năm ngày thành lập QĐNDVN (22/12/1944-22/12/1994)
Giải thưởng Hồ Chí Minh năm 2012

 

 

 

CHƯƠNG MỘT: 

Dốc biển

Đi hết Trường Sơn ra với Đảo

Dốc lại dựng lên trong mỗi ngày thường

Mỗi ngọn sóng một đỉnh đèo thác trắng

Bóng mát thật hiền dưới vành mũ gian nan

 

          Đến một ngày kia những người lính đã tới

          biển của mình. Cuộc gặp gỡ của triệu năm với

          đứa con trận mạc. Không chỉ là người lính lạ

          lẫm, chính biển lạ lẫm đầu tiên. Biển thốt lên:

          “Người thắng trận sao mà hốc hác quá”.

          Những người lính cầm le te cành sú hoe vàng,

          cầm luôn cả một miền che chở mới. Người lính

          nói: “Tôi đi qua nhiều bóng mát để về đây”.

Bóng mát đã lùi xa. Mực tím đã trả lại cho

tuổi học trò. Tiếng gàu sòng đã trả về cho con

hạn hán. Trước mặt là biển, bốn bề là biển,

hình như phải nói một câu gì với biển. Và

người lính nói:

 

- Hôm nay tôi thấy biển lần đầu.

Biển nói:

- Mái gianh nhà anh không nói thế

Vại nước gốc cau nhà anh không nói thế

Người lính nói:

- Tôi phải làm gì.

Biển nói:

- Sống với nước hãy bắt đầu từ nước.

Đó là cử chỉ đầu tiên và nghi lễ cuối cùng.

 

Người lính nói:

- Mẹ dặn tôi: Ra sông lấy sóng mà yêu

Đường xa gặp núi lấy đèo mà tin

Tôi đã tin và chưa hề bị ngã

Biển nói:

- Không ngã chưa chắc đã khỏi chìm.

Người lính nói:

- Có bí quyết gì sau lớp sóng kia chăng?

Biển nói:

- Sống với nước hãy bắt đầu từ nước.

 

Người lính nói:

Tôi đã đi suốt hai đầu đất nước

Biển hiu hiu thán phục

- Những vết thương của tôi nhiều hơn cả tuổi đời

Biển hiu hiu thán phục

Và biển chỉ hỏi anh đơn giản điều này:

- Anh có biết bơi không?

Người lính nói:

- Không phải ai cũng biết bơi. Thế mà sao vẫn

rất nhiều cái huơ tay hãnh tiến.

Biển nói:

- Họ đang bơi trên số phận của mình.

Một nửa trí khôn của con người là tìm cách

chứng nhận mình và chứng nhận lẫn nhau.

Người lính nói:

- Cây không đi tìm gió, nhưng kẻ thù sẽ đến

tìm ta. Ta lấy gì để che mắt chúng? Màu cát

hay màu biển.

Biển nói:

- Còn lại một mình anh.

Người lính nói:

- Tôi phải làm gì?

Biển nói:

- Sống với nước hãy bắt đầu từ nước.

Người lính nói:

- Tôi có nhiều bạn

Tôi cầm tay nhiều người

Nhiều người cầm tay tôi

Tôi sẽ gọi tên ai đầu tiên trong cơn khát biển?

Biển nói:

- Kẻ thù nói ngoài khơi có vàng và tìm cách

cướp vàng

Bạn bè nói ngoài khơi có sóng dữ và chia sóng

cùng anh

Hãy gọi ai không biến sóng dữ của kẻ khác

thành quà tặng cho mình

Người lính nói:

- Bao năm rồi tôi nhìn mây biết gió nhìn cỏ

biết mưa, cả cánh chuồn cũng giúp tôi chạy

thóc vào nhà trước khi cơn giông đến. Gió ấy,

cỏ ấy và cánh chuồn mau mắn ấy có giúp gì tôi

ở biển?

Biển nói:

- Đó là những đồng tiền để tiêu trên mặt đất.

Người lính nói:

- Bao vốn liếng cả một đời cóp nhặt

Bước xuống tàu thành kẻ tay không?

Biển nói:

- Những chiếc huân chương còn soi sáng trên bờ

Sống với nước hãy bắt đầu từ nước

Người lính nói:

- Xin tạm biệt những dây hòm dây cóc day mai

Đến thay đôi thiếu đứt

Giúp ta xong buổi cày

Xin tạm biệt những củ nâu mê mệt ngủ

Chín dần bên dấu chân voi

Xin tạm biệt những buổi trưa bát vỡ

những buổi tối hết dầu những ban mai thổi lửa.

Tạm biệt em, nỗi éo le của anh, dang dở của

anh cay đắng của anh; tạm biệt cơn khát tình

vằng vặc.

Em đã đến thở than trên sáo trúc

Xua đêm đi thành mộng mị đời anh…

 

 

 

 

Lời sóng 1

Những người lính ra đảo

Có dòng sông đồng hành

 

Năm dài và đất rộng

Vui buồn sau chiến tranh

 

Có người lính xây thành

Lẫn vào lau biên ải

 

Có bao người con gái

Đến thăm nàng Vọng Phu…

 

Biển thành nắng thành mưa

Của đất liền vòi vọi

 

Biển thành đêm thành ngày

Nồng nàn trê gối cưới

 

Em muốn đem tóc xanh

Buộc trời cho đỡ bão

 

Em muốn gửi tròn tay

Gối mềm trên đảo cát…

 

 

CHƯƠNG HAI:

Cát

 

Biển có đảo biển đỡ lặp lại mình

Đảo có lính cát non thành Tổ quốc

 

Đảo nhỏ quá nói một câu là hết

Có gì đâu chỉ cát với chim thôi

Cát và chim và thêm nữa chúng tôi

Chúng tôi lên với áo quần ướt át

Với nắng nôi muối sát thân tàu

 

Đảo hiện ra thử thách bạc mầu

Bàn chân lính đánh vần trên đất đai Tổ quốc

 

Sau bao rợn ngợp

Hiện lên đời mình

Niềm vui nỗi khổ

 

Đo cùng trời xanh

Chưa kịp đặt ba lô

Chúng tôi cùng nhau bới cát

Dọn một chỗ nằm cho đồng đội hy sinh

 

Chúng tôi đặt anh cạnh mốc chủ quyền

Cát và cát

Ầm ào sóng biển

Gió và gió

Ngày ngày lại đến

Xóa đi phần mộ của anh nằm

Chúng tôi lại cùng nhau bới cát

Chôn anh thêm một lần

Cát và cát

Ngày ngày lại mới

Cát và cát

Ngày ngày lại trắng

Trắng như bàn tay trắng chúng tôi

Úp lên số phận của bạn mình

Chúng tôi vốc cát lên

 

Chúng tôi nghe cát nói

Chúng tôi bắt đầu như thế với Trường Sa

 

Cát ở đây là lối đi

Cát là chỗ ăn cơm, chiêu ngụm nước

Cát là giường nằm gối đầu lên cát

Cát theo lá thư đồng đội gửi về

 

Cát ở đây là tất cả

Cát là tiền duyên cát là điểm tựa

Nới chạm súng đầu tiên chốt chặn sau cùng

Sống cát là bệ tì

Chết cát là hoa tươi và nước mắt

Sống cát là màu che mắt địch

Chết cát là màu tang

Không có chỗ nào không có cát

Không có điều gì không có cát

Chúng tôi bắt đầu ngả bóng của mình lên

 

Bóng ngả về Đông về Tây về Nam về Bắc

Bóng chúng tôi nóng lên dưới cát

 

 

Bóng chúng tôi che lên Đất Nước

Giữ nguyên lời dặn của ông bà

 

Chúng tôi vốc cát lên

Chúng tôi nghe cát nói

Chúng tôi bắt đầu như thế với Trường Sa

 

- Cấm đi câu đi tắm một mình

Xuống nước phải mang theo dao găm

Lũ cá he hay bổ từ trên xuống

- Cấm bơi ra miệng vực

Ở đấy nhiều sóng ngầm nhiều cá mập

Và nếu chẳng may

Nhất thiết phải bơi đứng

Cá mập không quen săn mồi thẳng

 

- Không được lệnh quân y

Cấm ăn một thứ gì lạ

Những mệnh lệnh lạnh lùng

Chúng tôi học từ máu người đi trước

 

Chúng tôi học để làm quên và đứng vững

Để có thể nói rằng tôi đang ở Trường Sa.

 

Tôi đang ở Trường Sa

Trong đội hình Song Tử Đông, Song Tử Tây,

An Bang, Nam Yết

Kết bạn với vô cùng

Đảo rập rờn chìm nổi những quả cân

Cân người lính và hiểm nguy đời lính

Bạn tôi đang thổi sáo sau hầm

Bỗng ngừng bặt

Giữa chừng réo rắt

Chúng tôi chạy ra

Chấp chới cánh tay ngoài năm sải nước

 

Tiểu đội xếp hàng chuyển gạo

Sóng lườn quanh thân

Bỗng

Một tiếng thét

Một vũng máu

Một khoảng trống

 

Tôi gào lên

Im ắng rợn người

Tìm qua sóng

Gặp đàn cá mập

Rong rêu nhiều

Mà mất bạn

Bạn ơi!

 

Hôm đó đảo có thêm gạo mới

Chúng tôi đều bỏ cơm

Hôm đó đất liền ra thư

Chúng tôi bỏ thư ôm nhau khóc

 

Gạo chiều nay thành cơm cúng đưa tang

Thư chiều nay viết thêm vào lời điếu

Ngày mai lại có đoàn văn công

Em hãy đến

Ngổn ngang

Cùng im lặng!

 

Đời bao nhiêu trớ trêu mà đêm còn quá rộng

Đêm như là vắt kiệt các vì sao

 

Chúng tôi là lính đảo thời bình

Phải gồng mình cả khi yên tĩnh nhất

Để chống lại cái khoảng trống kia

Cái khoảng trống chực len vào đồng đội

Chực len vào giữa bạn và tôi

Cái khoảng trống lạnh tanh vô nghĩa

Có ngay trong chính bản thân mình

 

Chúng tôi vốc cát lên

Chúng tôi nghe cát nói

Chúng tôi bắt đầu như thế với Trường Sa

 

Tôi thức dậy với giấc mơ đầy cát

Cát đầy dấu chân chim

Chim đầy mùi trời

Trời đầy mùi thiên hạ

Công việc đầu tiên của một ngày là tiếp tục sống

 

Đôi khi phải gõ vào một cái gì đó

Để biết đảo có người

Đôi khi phải hát ê a vô nghĩa lý

Nhắc biển ta còn đây

 

Đôi khi nghe tiếng sét trong đài

Thấy trời đang gõ cửa

 

Đôi khi tối đèn tắt lửa

Ta bỗng dưng thành hàng xóm của ta

 

Gió Trường Sa

Biển Trường Sa

Nước thành vĩnh cửu có ta một thời

 

Trường Sa biển

Trường Sa trời

Có câu song sóng có lời tăm tăm.

 

 

 

Lời sóng 2

Ngày anh trống chỗ trong hàng

Mây đem một mảnh nhỡ nhàng về quê

Có chiều cỏ trắng trên đê

Vào ra có chị đi về lẻ loi

 

Ngày anh về

Lúa đồng cúi hạt

Nước mắt đi trước người

Mộ anh đặt nơi chăn trâu thuở nhỏ

Cỏ đeo sương

Đường kê vấp

 

Mãn tang anh chị vẫn chưa già

 

Có người lính ở Trường Sa

Đi cùng anh dạo ấy

Thơm nín hương cau

Bời bời hoa bưởi

 

Trời còn bao nhiêu thu

Tóc chị thắm làm thót lòng nội ngoại

 

Có người lính ở Trường Sa

Đi cùng anh dạo ấy

 

Hôm nay lúa lại nhen đòng

Chim bay ngược bão hoa trong thiếp mời

Hôm nay tái giá chị tôi

Liền anh cùng với bao người đứng trông

 

Chị tôi đi thửa hương vòng

Ngậm ngùi trên mộ cũ

Cháu ở lại cùng bà bống bống bang bang…

 

 

 

CHƯƠNG BA:

Tự thuật của người lính

 

Tôi sinh ra trước lúc lên đèn

 Bóng mẹ sáng lại mờ trong mắt cha hoảng hốt

Trong căn nhà đất

Tháng hai buồn tiếng thạch sùng kêu

 

Mẹ đã dắt tôi qua những miệng vực sâu của

mọi sự rủi ro

Qua nhịp cầu không có tay vịn

Tiếng kẹt cửa cũng trở nên quá lớn

Khi con sài mẹ ngồi thức qua đêm

Nhà khó con đàn gió lọt qua phên

Kèo cột cũng khô gầy nữa mẹ.

 

Châu chấu cào cào xanh tím rủ tôi đi

Những bờ cỏ may những bờ trống ếch

Cây bưởi ca dao cây cau cổ tích

Tôi âm thầm nuôi bông bống trong chai

 

Con mang về con bống của mẹ đây

Từ những ao chuôm nghìn xưa để lại

Họ quát mắng tôi ném bùn xua đuổi

Con đi hôi cắp giỏ đứng trên bờ

Con tới đâu cũng gặp toàn đồng cấm

Họ rải tung cả gánh cỏ tuổi thơ

 

Vỏ trấu rắc khắp cánh đồng rải áo

Lũ chuột đồng chép miệng trong hang

Con đi mót gặp toàn gốc rạ

Chiếc nón mê tha thủi giữa đồng

Đồng vắt kiệt nằm than trong gió bấc

Trâu húc nhau trạch rúc xuống bùn

Chồng bấm vợ nhảy qua rào trốn thuế

Tiếng trương tuần thét lác đầu thôn

 

Không không không mẹ dặn tôi không

Ngọt chả sợ đường đường không sợ lội

 

Cha đi vắng tôi trèo lên cây ổi

Cây ổi cho một búp sâu kèn

Và cứ thế với sâu kèn tôi hát

Cố tin rằng tôi không bị bỏ quên

 

 

Trứng ốc nhồi nở trắng dọc bờ ao

Con ếch sọc dưa đi tìm tức tưởi

Trời sùi sụt những cơn mưa tháng bảy

 Tôi ngấm đầy nước mắt những ngày ngâu

 

Đom đóm ơi đom đóm dẫn đi đâu

Đêm là tàu lá sen che nửa phần trái đất

Ấy là lúc những vì sao xa lắc

Nối với tôi qua một sợi dây diều

 

Hòn sỏi lăn qua đồi sống trâu

Con cun cút lách mình trong cỏ chỉ

Tôi biết đâu có ngày xa mẹ

Mùa đông rồi hoa chít vẫn ngây thơ

 

Mặt đất bằng bỗng nổi loạn tê tê

Tổ mối nhỏ cũng bao lần tan hợp

Chim ngói cả tin mắc lồng oan nghiệt

Ngọn tơ hồng chết nghẹn giữa bòng bong

 

Cơn lốc đen đánh úp lá bàng

Tôi cảm thấy mùa thu đang mất máu

Một chút lửa hoa dong riềng cuối dậu

Sợ một ngày sương muối đến đem đi

 

Không ai nói với tôi rằng hoa bưởi sắp tàn

Chiều chỉ có một mình chim gõ kiến

Hoa sim tím quả sim cũng tím

Đồi treo đầy những túi mật trung du

 

Chiếc đuôi chồn mất hút giữa lau thưa

Tôi ngồi nặn đôi bàn chân tiếc nuối

Nhưng tôi vẫn không thể nào quay lại

 Dù con đường chỉ có cỏ may thôi

 

Chong chóng quay đón mẹ dưới chân đồi

Tay mẹ héo ruộng bậc thang cấy rẽ

Tôi đỡ chiếc áo tơi của mẹ

Mụn cua càng bò trên mảng sân con

 

Tháng tám khói lên lúa xuống đòng đòng

Đồi phủ phục những đàn voi ngái ngủ

Chim tha rác ở đâu về vội vã

Cả khu vườn muốn bứt lá đem cho

 

Giếng nước đá ong soi hộ tóc đuôi gà

Đồng gặt vãn cô lấy chồng xóm dưới

Chuông khánh ngân nga gọi người vào hội

Có miếng trầu trong túi áo nâu non

 

Mẹ thắp hương khấn chín cửa đền

Ngửa tay cùng trời Phật

Hoa đại thấu lòng rơi khắp đất

Quay về cú vẫn kêu đêm

 

Mẹ đành gọi bán lúa non

Liềm hái buồn quang gánh cũng buồn

Con muỗm xanh đi ở

Rơm rạ sang làm khói bếp nhà người

Bao giờ cho tới mùa sau

Lại mong rễ lúa bén vào giêng hai

 

Giêng hai về

Năm lại mới khi bước qua tháng chạp

Giếng nước ngày xưa có người con gái hát

Ai ơi khêu lửa làm chi

Mẹ đang chạy bữa

Làm sao lấy lại thời son trẻ

Thời son trẻ hoa xoan

Nằm trong mồ những quả khô gió lắc

 

Nhưng mẹ biết có một màu giấy điệp

Bay tưng bừng làm ấm cả cây nêu

 

Tôi sinh ra quả trám đã bùi

Rễ si buông cước lá sồi rưng rưng

Tôi chưa với tới trái bòng

Kiễng chân chóng mặt cầu vồng lên năm

 

Cầu vồng xanh đỏ tím vàng

Chim cu toan đuổichuỗi cườm trời cho

Tôi chưa thấy thế bao giờ

Người ta mua bán chức hờ trong thôn

Người ta ra cúi vào luồn

Một manh chiếu cũng chia phần thấp cao

Cá rô rạch ngược mưa rào

Hám gì bỏ nước cầu ao vào lờ

 

Tôi lớn lên

Vó ngựa giật mình đôi sấu đá

Gươm giáo hai hàng quan võ quan văn

Ông nhịn mặc để ăn

Ông nhịn ăn để mặc

Người đói và người rét

Sơn son và thiếp vàng

Con sáo của mẹ tôi bay mất

Lượn một vòng qua mái tam quan

 

Tôi lớn lên

Có người thắt cổ sau chùa

Không ai kịp khóc

Chị sống đã mười chín năm

Người ta xóa đi trong nửa giờ đưa đám

Người ta coi cuộc tình là tội phạm

 

Cấy phướn sầu trên mặt đất hoang mang

Hồn chị tôi nhập vào hoành phi câu đối

Nhìn xuống bữa tiệc tàn

Từ nay chúng nó nói toàn vận rủi

Sập chân quỳ một chiếc huyệt đào ngang

 

Tôi được ăn bữa no đầu tiên

Cha phá kho thóc Nhật

Dòng khẩu hiệu trên nong nia thúng mẹt

Năm làng tôi đi cướp chính quyền

Tôi nhập tâm những chữ cái đầu tiên

Ngồi tránh đạn trong chiếc hầm thước thợ

Tôi còn dễ mất hơn

Hòn cuội trắng trong chiếc bao diêm nhỏ

Một đứa trẻ bị bỏ quên và dễ vỡ

Bị mắng hoài vì cài cúc so le

Tôi đã lớn để trở thành người lính

Thọc đôi tay vào chiếc túi của rừng

Chiến công đôi khi là tìm ra một thứ gì ăn được

Để có giấc ngủ yên mười lăm hai mươi phút

Chúng tôi đào hầm hì hục suốt đêm

 

 

Đã đem theo những căn nhà mái thấp

Đường vào Nam mưa mỗi lúa mỗi to

Đã dấu mình trong lá lau chi chít

Đã nấu nung để chớp giật không ngờ

 

Chúng tôi chưa bao giờ yên tĩnh

Đi như sông hiếu động như rừng

Đã để lại thảnh thơi cho cỏ

Và nhận về giông bão trên lưng

 

Đã khắc vào cây để nhớ một ngày

Để nhớ một người để thương đất nước

Đã để ít đời mình nơi ngã ba khốc liệt

Đã bông đùa xen kẽ với bom rơi

 

Tôi đã ăn những quả cà kho mặn

Hái trong vườn có nắng xiên quai

Có chú ve sầu làm tổ gốc cây

Kêu sốt ruột những ngày tôi đi vắng

 

Cố nhóm lửa lại vội vàng giấu khói

Cơm chín rồi cứ ngân ngấn thương nhau

 

Tiếng nai tác đi ăn than ngoài rẫy

Sao ta hoài thắc thỏm đâu đâu

 

Sao hay nhớ hay thương và hay vấp

Bước say mê trên sông núi hữu tình

Chiếc lá mở trước cửa hầm thân mật

Thư của trời súc tích chỉ màu xanh

Tôi đeo quanh cây của đất nước mình

Làm chùm quả dưới vòm trời nhiệt đới

Những chùm quả có nắng vào làm lõi

Cứ ngày ngày thơm thảo với quê hương

 

Tôi đã đi từ sự thất thường những dòng sông

phương Bắc

Đến muỗi mòng của gió chướng phương Nam

Chính khẩu súng cũng ra chiều nghĩ ngợi

Đứng ưu tư bên cạnh chỗ tôi nằm

 

Dưới bầu trời khắc nghiệt của chiến tranh

Tôi nói ít nhường cho lời súng nổ

Chính khẩu súng cũng giúp tôi gạt bỏ

Tính hiếu kỳ như một sự trớ trêu

 

Tôi kết bạn suốt chiến trường ngang dọc

Bạn nói rằng bạn cũng nhớ thương ta

Ngày giải phóng bàng hoàng nghe tin bạn…!

Tôi khó ăn khó nói đến thăm nhà

 

Con búp bê đi ngược đường ra trận

Đất nước những ngày sum họp đầu tiên

Cô gái yên lòng may một chiếc áo trắng

Người ta kể cho nhau cổ tích về rừng

 

Tôi chưa kịp về thăm căn nhà mái thấp

Trên đôi kèo có một tổ chim

Và tôi chưa kịp nói với em

Đường lắm cát làng mình thương nhớ quá

 

Trước mặt tôi bây giờ là biển cả

Lại gặp núi non trong những chóp sóng thần…

 

 

Lời sóng 3

Mầu ấu thơ của biển

Nhuộm bền trên áo xanh

Chỉ vài vuông cát nhỏ

Cũng có bao thác ghềnh

 

Lặn sóng mò đá

Vác biển lấp bờ

Trồng cây che chắn gió

Dựng nhà trên cát khô

 

Rồi thành xóm thành làng

Đường ngang và ngõ tắt

Mây đậu cuối ngày đông

Ngả sang chiều thân mật

 

Đời chẳng dễ dàng hơn

Sau bao nhiêu lời chúc

Ta chẳng dễ dàng đâu

Sao bao người đi trước

 

Cây thời gian nhích đốt

Âm thầm bao tâm tư

 

Nồng nã những cơn mưa

Mang hồn năm tháng cũ

Người trước bỗng hiện về

Qua mảnh sành mảnh sứ

 

Cầm thời gian lên soi

Đất đai màu nguyên thủy

Cầm hạt cát lên soi

Dấu chân bao thế hệ

 

Cổ nhân còn đâu đây

Như vừa ăn dở bữa

Giáo mác quắc đêm thần

Nhớ nhà ngồi khâu vá

 

Búi tóc dõi chân trời

Đùm nhau qua cơn khát

Be bờ và đắp đập

Nước Việt ngoài khơi xa

 

Tiếng Việt giữa phong ba

Ấm lòng người giữa biển

Bao lần quân cướp đến

Nhếch nhác bao màu cờ

 

Chúng nó châu như đỉa

Chỉ vì ta là người

Tiếng Việt gọi hồn Việt

Giữ đất Việt ngoài khơi

 

Tiếng Việt là ngọn cờ

Hộiquân trong đêm tối

Tiếng Việt để nhận nhau

Giữa bao nhiêu rắc rối

 

Cổ nhân vẫn còn đây

Máu chưa lành vết chém

Mồ hôi vẫn còn đây

Còn mặn hơn biển mặn

 

Nợ cũ còn đây

Biển nham nhở sẹo

 

Nổi chìm bao kiếp

Dìu đảo ngoi trên sóng

Chim có nơi nghỉ cánh

Ngày về trên cát tươi

 

Nồi chìm bao kiếp người

Qua tháng năm sứt mẻ

Cho Tổ quốc tròn lên

Việt Nam

Hai tiếng Mẹ.

 

 

 

CHƯƠNG BỐN:

Đất này

Tiếp đạn

Tiếp người

Hôm nay ta tiếp đất

Đất xẻ mình ra chắn sóng ngoài xa

 

Đất nặn thành gạch

Gạch sợ một mình

Tìm đến vữa

Đất ra khơi bắt gặp bức tường người

 

Đất dựng nên làng

Từ buổi cha ngâm mình trong nước

 

Vớt đất lên trong nước nóng luộc người

Cha bưng đất và bưng mồ hôi ngày khởi nghiệp

Không có đất không thể nào sống được

Cha nhễ nhại trước nỗi thèm khát đất

Đêm nằm mơ giun dế cũng thân tình

 

Cần có đất để làm quê hương

Cần có quê hương để vui buồn sướng khổ

Đuôi trâu phất nửa vòng ngõ nhỏ

Gọi chiều về qua những mảnh tường chai

 

Luống hành hoa gọi rạ đứng lay phay

Người tứ phương hội tụ về đây

Cắm cọc treo nồi

Đóng đinh móc rế

Trồng mùa thu bằng cây thị

 

Thả mùa hè bằng ngó sen

Cây lan có tên cho cô Lan có tên

Cây trúc có tên cho cô Trúc có tên

Lan và Trúc say lòng những chàng trai mới lớn

Lan và Trúc tiễn bao người ra trận

Và chiều nay cha gửi đất cho con

 

 

 

 

Đất chẳng bao giờ héo

Trời thăm thẳm không mòn

Khi vui chán vạn khi buồn một ta

 

Đất này

Đất này

Làng nước gửi ta

Cơm nắm cơm đùm

Đi từ buổi trăng nom còn ú ớ

 

Người đổi phiên chợ

Kẻ nhường công trâu

 

Đất đi qua biển thì mau

Người đi qua nỗi khổ đau thì dài.

 

Đất này

Đất này

Quê ta ngày hội đất

Đất đi đến đâu quê hương theo đến đấy

Quê hương đi đến đâu máu đi theo đến đấy

Máu chẳng bao giờ cũ

Cuốc cuốc cứ kêu hoài

 

Có nghe cuốc cuốc kêu hoài

Đèn khêu xóm vắng, bão ngoài biển xa

Người quê nhận đất quê ta

Đảo xin một mảnh sân nhà phơi trăng. 

 

Lời sóng 4

Trên bãi cát những người lính đảo

Ngồi ghép nhau bao nỗi nhớ nhà

Chiều áo rộng vài vạt mây hờ hững

Họ cứ ngồi như chum vại hứng mưa

 

Sóng lại đến theo lời hẹn cũ

Sóng mang về những đôi giày trẻ nhỏ

Những đô la ướt sũng, những phao bơi

Tang vật buồn đau của những kiếp người

 

Đảo tái cát

Khóc oan hồn trôi dạt

Tao loạn thời bình

Gió thắt ngang cây

 

Nếu họ ghé một lần thăm lính đảo

Rối ren kia chắc có cách trả lời

Ta xin biển mỗi ngày lặng sóng

Cho những linh hồn dưới đáy bớt đơn côi

 

Đất hãy nhận những đứa con về cội

Trong bao dung bóng mát của người

Cây hãy gọi bàn tay về hái quả

Võng gọi về nghe lại tiếng à ơi…

 

À ơi tình cũ nghẹn lời

Tham vàng bỏ ngãi kiếp người mong manh.

 

 

 

CHƯƠNG NĂM

 

Hóa thạch những dòng sông

Những dòng sông quờ quạng  tìm nhau

Dưới đáy biển

Những dòng sông chết

Biển âm u đáy huyệt

Hồn sông đi lang thang

 

Sông về trước thì được ung dung

Sông về sau thì làm phó nhỏ

Bóng cầu theo về được làm quan văn

Mái chèo theo về thì làm quan võ

Người kết bè kéo vó

Hết sông đi vớt bèo

Những dòng sông dưới đáy biển tìm nhau

Vừa thấy bóng lại thủy triều xô dạt

Mênh mông đến và mênh mông xóa mất

 

Sông lại lang thang

Tiếng hú gọi làm giật mình cá quẫy.

 

Sông Mã tất bật

Sông Hương dịu dàng

Sông Hồng bồi đắp

Sông Thương đa mang

Ai biết được những gì khi sông về gặp biển

Nơi cá quay đầu thì phù sa tìm đến

Phù sa còn bao nỗi nông sâu

Sinh ra biển để thử sức

Sinh ra trời để thuận hòa

Sinh ra sông để đem cho.

 

Cho những buổi trưa đàn trâu mộng dầm

mình trong nước sóng sánh. Cho bên lở bên bồi em

sang thành cô dâu,anh về thành chú rể. Cho

lóng một lóng đôi rổ rá giần sàng, che chắn gió

biến thành kẻ ăn người ở.

Cho bên ấy bên này diệu vợi, cả tiếng gọi đò

cũng là quà tặng của dòng sông.

Khi gặp biển đó là lúc sông đem cho lần cuối,

một cuộc đời cho trọn vẹn huy hoàng như thơ cho,

như mùa dâng quả, cô gái đi làm mẹ nơi xa để

lại sau lưng bao tiếng thở dài. Và khi không

còn gì để cho, sông như tráng sỹ không còn vũ

khí, giáo chủ không còn mật kinh, võ sư không

còn bí quyết; sông như nghệ sỹ đã sắm xong

vai, một kẻ trắng tay giàu có đo mình bằng

kích thước của biển.

 

Đức hạnh của sông là đa mang

Dung nhan của biển là bình thản

Vẻ đẹp của sông là không tỉnh táo

Nỗi khổ của biển là sở hữu không cùng

 

Sông - những cây nước khổng lồ

Bóng mát mệt mê mang mang bồi đắp

Sông góp củi cho nồi cơm lớn

Lòng vị tha là người khách sau cùng

Dưới đáy biển

Sông lang thang tìm lại các dòng sông

 

Trên mặt sóng

Đảo đang vào mùa nắng

 

Sông đi sông đi vờ vật sông đi

Tìm lại mình trong biển

Biển nói bằng muối chát

Sông không nghe được gì

Thỉnh thoảng lại tung lên vài trận bão

Vò mây chơi

Thỉnh thoảng lại cho vài chú cá ngáp

Tuột khỏi vòng luân hồi

Cá chớp mắt: Ta lên thăm lính đảo

Xem đời có gì vui.

 

Ta bới sóng đi tìm các dòng sông

Như người đào than tìm lại cánh rừng

Những dòng sông hóa thạch

Những dòng sông than thở

Sông tan vỡ trách dòng sông lỡ hẹn.

 

Ta bới sóng đi tìm các dòng sông

Gặp cái chao chân khi em mười tám tuổi

Ta đi vớt tiếng sáo diều đắm đuối

Thúc ba hồi trống quân

 

Thúc trống quân cho cá hóa rồng

Cho cô tiên về xóm

Cho nón hóa vầng trăng

Vầng trăng quệt vào anh

Tương tư từ dạo ấy

 

 

Ta bới sóng đi tìm các dòng sông

Thấy cau bỏ già

Trầu không để úa

Yêu nhau không lấy được nhau

 

Trả gương cho chợ

Trả ngói cho đình

Ngói còn nguyên ngói mà mình tay không

Trả lại tơ hồng

Ông tơ bà nguyệt

Trả lời cam kết

Cho người đa đoan

 

Ta bới sóng đi tìm các dòng sông

Gặp Trương Chi cắm sào đứng hát

Mỵ Nương vẫn đang ngồi khóc

Nước mắt thành ngọc trai

Tình là gì mà trái đào xà tích

Duyên là gì mà yếm thắm bao xanh

Phận là gì mà em phải xa anh

Gặp nhau vẫn gặp nhưng đành quay đi

Tóc em dài gội lá đài bi

Cuộc tình ngắn bỏ buồn cho bến vắng.

 

Ta bới sóng đi tìm các dòng sông

Gặp nàng Tiên Dung đội cát

Cát bàng hoàng

Thế gian mờ mịt

Vì nàng đem hết vầng trăng

Tiên Dung Tiên Dung

 

Thần ái tình bậc nhất

Khiến nàng Kiều xăm xăm nhường bước

Hồ Xuân Hương mời trầu

 

Ta bới sóng đã lâu

Tìm thấy sông hóa kén

 

Sông trao mình cho biển

Như cây trao bóng cho rừng

Về biển thì hết sông

Không về thì không được

Ta lặn xuống tầng sâu

Đời vẫn còn chảy xiết

Ta vớt sông Hương

Làm xanh lại tán lá bàng

Búp nhỏ hữu tình xanh biếc đảo

Sông Mã ta trả về cho bão

Ta vẩy sông Hồng làm hoàng hôn

Ta cất sông Mã vào chiếc hộp đàn

Đêm dài nghe chuyện thác. 

 

Lời sóng 5

Anh một mình với một chéo dù hoa

Gấp tư đêm làm gối

Bốn mươi năm mưa nắng xa nhà

Biết trong cơm có sạn

Biết gói bánh thêm lá

Biết ngồi như đêm

Anh lặn qua cái chết

Mãnh liệt một mầm cây

Anh đã húp bát cháo loãng cuối cùng của

chiến tranh

Rồi lặng lẽ đi rửa bát

Kẻ thù thường phục kích

Chập choạng tối chập choạng sáng

 

Lúc có nhiều đom đóm

Ngọn đèn thường cô đơn

Sau giải phóng Sài Gòn

Anh ra đảo.

 

Biển đã hút của anh bao mồ hôi

Với thói quen của chiếc giấy thấm khổng lồ

Và anh cũng hút biển

Với lời khuyên của những chiếc rễ cây

 

Mỗi ngày cây lại thêm lời

Lăn tăn nơi anh đứng

Nơi anh đứng chọn tầm cho pháo bắn

Bao năm rồi biển thổn thức gương soi…

 

Cát mỗi ngày mỗi nóng

Biển mỗi ngày mỗi xưa

Lúa chín bao năm ngả vào tay người vợ

Đồng tiền lẻ nhảy cò qua đốt mía

Những đứa con khôn dạiphía sau mình

Những đứa con sinh ra trong chiến tranh

Sống tản mát dưới những hầm trú ẩn

Chị để con mỗi đứa ở riêng hầm

Bom có trúng cũng không thành tay trắng

Những đứa con nhớ anh qua rừng giờ nhớ anh

qua biển

Cơm khô cơm khét

Vắng anh

Áo quần dây mực

Vắng anh

Xóm giềng ta thán

Vắng anh

Lá đa rơi ngoài ngõ

 

Lá đa vắng anh thành chú mèo tam thể

Chú mèo khôn từ thủa lên ba

Dạy con anh

Lúc lên đèn

Không nhìn sang hàng xóm

 

Anh nhớ con anh phất một lá diều

Ba tầng sáo chắc đất liền nghe thấy

Những ô cửa xin đừng khép vội

Đảo nói gì thao thiết giữa không trung

 

Tiếng sáo diều làm biển bớt mênh mông

Vầng trăng đứng

Tự nghe mình

Lặng lẽ…

 

CHƯƠNG SÁU:

 

Bão biển

 

- Hoàng ơi, ở đâu

- Vũ ơi, ở đâu

- Vân ơi, ở đâu

 

Tiếng gọi lính mịt mù bão cát

Tiếng gọi lính từng giây khẩn thiết

Đảo tìm nhau xếp lại đội hình

 

Bão vò cây gào rít điên cuồng

Tóc của bão là lá cây rách mướp

Tay của bão là sóng thần rợn ngợp

Cả đất trời say sóng ở Trường Sa

Trong bão gió chúng tôi đo Tổ quốc

Bằng đôi tay vượt biển lính xa nhà

 

Ngày thứ ba một mình bơi trên biển

Anh thành đám bọt mong manh

Ba ngày không ngủ

Ba ngày không ăn

Hy vọng bập bềnh ván thuyền gãy nát

 

Bão bứt anh khỏi đảo

Như chiếc đinh bật khỏi con tàu

Và bây giờ anh bơi

Biển ngấm vào anh thành một khối mặn chát

 

Sóng ngấm vào anh thành muôn nỗi lênh đênh

Bão ngấm vào anh thành niềm khao khát sống

Anh là biển trôi trên biển

Chống lại cái chết trong vùng chết

 

Biển chưa thu xong những mảnh vỡ của mình

Anh le lói bơi đi bằng sức mạnh bí mật của hy vọng

Rất nhiều lần anh chạm chân vào đáy quan tài

Lại cố sức ngoi lên

 

Như từ triệu năm quyết liệt quay về

Tìm lại đảo

Một chỗ đứng, một tên gọi

Cả vũ trụ so găng đấu với một mình anh

Nghìn cái chết kéo co với sinh linh bé nhỏ

Tất cả những gì chưa sống nói với anh không

thể chết

  Tất cả những gì đã chết nói với anh phải sống

Và anh bơi bơi mãi

Mịt mù biển mịt mù trời

 

- Hoàng ơi, ở đâu

- Vũ ơi, ở đâu

- Vân ơi, ở đâu

 

Tiếng gọi lính mịt mù bão cát

Tiếng gọi lính từng giây khẩn thiết

Đảo tìm nhau xếp lại đội hình

 

Anh chẳng nghe thấy gì ngoài toàn thân lạnh toát

Bão bịt hết lối về

Cửa nhà xác mênh mông

Mẹ ơi!

Mẹ không biết con đang một mình giữa biển

Biển có tất cả để xóa con bất cứ lúc nào

Còn con thì tay trắng

 

Mẹ đã nuôi con lớn

Đã dạy con khôn

Sống sướng vui và đau khổ với con người

Sống dễ dàng và khó khăn với con người

Sống cởi mở và phòng xa với con người

 

Biết đem cho mà không làm người được cho

cảm thấy mắc nợ

Biết nhận mà không sợ bị coi là tham lam

Và khó nhất là biết từ chối

 

Nhưng phải sống thế nào khi một mình giữa biển

Mẹ chưa kịp dạy con

Con phải dựa vào kinh nghiệm cũ

Không thể chết vì chán nản

 

Bơi sấp rồi bơi ngửa

Vẫy vùng rồi cầm hơi

Tung sức ra thì dễ

Thu sức về thì khó

Khó hơn nữa là biết thở cùng biển

Điều này giống như sống trên mũi giáo

 

Mẹ ơi, khi con đau đớn nhận ra bộ mặt

hung dữ của cái ác

Cũng là lúc con nhận ra sức ấm vô cùng của

lòng tốt

 

Mảnh ván con bơi là lòng tốt cuối cùng

Trên thế gian đầy bất trắc

 

Ngày thứ tư, con “đi” trên biển

Bằng đôi tay của mình

Số phận biến con thành một chú bọ gậy ngang tàng

Không chịu chết vì chán nản

Và khi cả người con dán chặt vào đất

Như một - con - tem - người

Dán vào dòng đời

Con bỗng nhận ra không phải lá cờ ta

Không phải mẹ

Không có cái chết nào nhục nhã hơn là sống

không phải mẹ

Bao hiểm nguy con xin lại bắt đầu

Con xin lại bắt đầu bằng lời ru trong suốt

Ra sông lấy sóng mà yêu

Đường xa gặp núi lấy đèo mà tin

Con lại lao ra biển

Một chiếc phao thoi thóp bơi đi…

 

- Song Tử đâu?

- Nam Yết đâu?

- Sinh Tồn đâu?

Tiếng lính gọi mịt mù bão cát

Tiếng gọi lính từng giây khẩn thiết

Đảo tìm nhau xếp lại đội hình…

                     Hà Nội 1981 - 1994

    

 

 

 

 

 


LÂM QUÝ

 

- Họ và tên khai sinh: Lâm Văn Quý

- Sinh năm 1947

- Mất năm 2007

- Quê quán: Xã Quang Yên, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc

- Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam (từ 1993)

- Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật Vĩnh Phúc

 

- Tác phẩm chính đã xuất bản:

* Hát về nguồn (Thơ in chung, 1980)

* Núi mọc trong mặt gương (Thơ in chung, 1981)

* Điều có thật từ câu dân ca (Thơ, 1990)

* Kó Lau Slam (Truyện tình thơ, 1991)

* Tình thơ Cao Lan (Thơ, 1997)

* Truyện cổ Cao Lan (Chung tác giả, 1982)

* Truyện cổ Sán Chay (Sưu tầm, 2001)

* Chàng út của ông mặt trời (Truyện ghơ, 1995)

* Cô gái nghèo và chàng Tiên Lợn (Sưu tầm, 2001)

* Truyện Sưu và Mốc (Truyện thiếu nhi, 2002)

* Xịnh ca Cao Lan (Dịch thơ dân gian cổ, song ngữ, 2003)

* Văn hóa Cao Lan (Nghiên cứu, sưu tầm, 2004)

* Văn hóa các dân tộc Vĩnh Phúc (Nghiên cứu sưu tầm, 2005)

* Cái lều nương (Tập truyện ngắn, 2006)

* Hoa đỏ lửa (Thơ, 2007)

- Giải thưởng văn học:          

* Giải Nhì thơ, Giải thưởng Văn học Hùng Vương – Vĩnh Phú, 1991

* Giải Nhất thơ tỉnh Yên Bái, 1997

* Giải B thơ Báo Văn nghệ - đề tài dân số kế hoạch hóa gia đình, 1995

* Giải B văn tỉnh Yên Bái, 2000

* Giải B văn tỉnh Vĩnh Phúc, 2006

- Suy nghĩ về nghề văn:

          Văn là sáng tạo ra con người chân chính, làm đẹp cho con người chân chính, đồng thời cũng là liều thuốc chữa cho con người chưa đẹp. Mẹ tôi – một bà lang mế dân tộc Cao Lan suốt đời đi thu hái những cây tầm gửi về nấu cao. Thứ cao lá màu xanh đậm gọi là cao Péc dịch nghĩa là chữa được bách bệnh. Mẹ tôi bảo: Con muốn làm được thơ hay, hãy học cách nấu cao của mẹ. Tôi đã đi đến nhiều miền quê đất nước, tiếp xúc với đồng bào các dân tộc… và “hái” được những lời nói đẹp về “nấu cao” sáng tác ra những tác phẩm văn thơ là thứ Cao ngôn ngữ. Ai muốn khỏe người chỉ việc cho chất “cao ấy” vào ngâm rượu nhâm nhi rồi sẽ thấy khỏe người và đẹp lên.

 

 

 

A - TRONG KÝ ỨC BẠN BÈ

 

LÂM QUÝ NGƯỜI VÀ THƠ

Ngô Văn Phú  

Tôi từng uống rượu với Lâm Quý từ những ngày gặp anh ở Vĩnh Yên. Quý uống rượu giỏi, vừa uống vừa đọc thơ và thường là thơ của mình. Thường các nhà thơ người dân tộc thiểu số, thơ có lối ví von khá ngộ nghĩnh và sinh động. Lâm Quý cũng có những câu thơ như thế.

Lối nói đầy hình ảnh cũng là sở trường trong

“Tình thơ Cao Lan”:

Tiếng hát em khéo vặn chạc thừng

Vặn xoắn tình anh vào đấy

Chạc để buột trâu dưới gậm

Để buộc bò dưới sân

Nỡ buộc tình anh vào cột

Cột nhà em bằng lim

Trâu ghếch sừng là đổ

Cột nhà em bằng táu

Bò hẩy chân là xiêu

Cột tình em yêu yêu

Anh xoay bên này hẩy

Vòng bên kia anh du

Mà sao vẫn đứng dậy

Tiếng hát em khéo vặn chạc mây

Vặn xoắn tình anh vào đấy…

(Tình em đêm hát ví)

Lâm Quý không những yêu vẻ đẹp của dân tộc mình mà còn yêu thiên nhiên, thi ca, con người của những dân tộc khác. Anh yêu tiếng khèn của người H’Mông.

Con chim sau hè nó hát

Nhớ tiếng sáo anh

Em lấy cài khèn

Thổi lên bên bờ suối

Con cá dưới

Con chim trên cành

Nhìn xuống

Cá si ta gửi lời nhé

Đem ra sông ra biển

Tìm đến chỗ người yêu

Chim si ta nhờ mi

Ngậm tiếng khèn bay đi

Đến chỗ người yêu ta hót.

(Tiếng khèn bên bờ suối)

Anh nhắn nhủ cô gái Mơ – Nông đi hái măng chớ hái nhiều, để buôn làng còn nuôi tre cứng cáp, biến tre thành những cây chông chống quân Pháp xâm lược, giữ làng cùng với dân làng:

Ơ cô gái Mơ – Nông

Hái măng chớ hái nhiều em nhé

Lồ – ô đang vào mua sinh đẻ

Giúp những việc gần xa

Cây Lồ – ô chín nắng mười mưa

Cũng au đen như lưng cha lưng mẹ

Cũng cần cù nuôi con từ thuở bé

Ngày ngày mong con lớn lên

Thành ngọn chông, con là người du kích

Giữ buôn làng, giữ rừng Lồ – ô

Thành ngọn đuốc con là người đi trước

Soi đường cho bộ đội dân công

Vào mùa chiến dịch.

(Rừng Lồ - ô)

Anh ca ngợi Hnét, để đọc được thư chồng đã vui vẻ tình nguyện học cái chữ của Bác Hồ:

Đến mùa hoa Krinh

Chồng Hnét sẽ về

Đem quà vui miền Bắc

Và cả chữ Bác Hồ

Đựng đầy bao ý Đảng

…Đêm nằm nựng hôn con

Đặt thư chồng lên ngực

Chẳng biết chồng nói gì

Cái đầu nghe nhưng nhức

(Cứ nhờ người ta đọc

họ biết hết chồng mình).

Hôm sau buôn làng gặp

Hnét đi chợ về

Tay cầm hai cây bút

Quyển vở giấy trong ngực…

(Chuyện riêng của Hnét)

Lâm Quý còn là dịch giả biết đem dịch từ nguyên tác bản trường ca tình yêu cầu dân tộc mình để giới thiệu với bạn đọc. Kó Lauslam kể lại thân thế và sự nghiệp của nữ thần thơ ca người Cao Lan Lauslam, là truyện thơ dân gian đã được lưu truyền từ tổ tiên bao đời trước. Tiếng ca là nguồn sống, làm đẹp cả núi sông, hoa lá:

Người đăng gặt áo ấy

Hỏi lại bằng câu ca:

- Ngọn lá trôi từ đâu

Chòng chành đầy câu hát

Bông hoa trôi về đâu

Làm cả dòng sông đẹp

Nếu không chê hoa xấu

Mời ghé bến làng nghèo

Chẳng có gà mời rượu

Chẳng có cơm mời ăn

Chỉ giầu lòng mến khách…

Truyện thơ được dịch rất nhanh thoát tưởng như là người dịch cũng chính là tác giả. Đoạn tả ngày hội như còn sinh động, đầy hứng thú:

Nàng xuống núi cùng con gái nèm còn

Cùng con trai hát ví

Những quả còn tua xanh lại lượn trên mây

Quả còn tua vàng rơi xuống đất

Như đàn cú chao mồi

Bay đi bay lại

Như con chim cu vỗ cánh bay vút

Lao qua gầm trời đậu trên ngọn cây mai…

Nhà thơ Nguyễn Cảnh Tuấn nhận xét về Lâm Quý rất
ưu ái:

“Tính tình ngay thẳng thật thà, cương trực. Am hiểu vốn văn hóa, ngôn ngữ, chữ viết của dân tộc mình; là một thấy (trí thức dân tộc) được cấp sắc, nhiều uy tín với dân tộc Cao Lan. Ngôn ngữ thơ văn độc đáo, mang đậm nét màu sắc dân tộc. Cha là một trí thức người CaoLan, mẹ là người giỏi hát dân ca.

… Thơ Lâm Quý xét về đê tài, thể loại dẫu khác nhau, nhưng âm hưởng vốn dân ca, truyện cổ, truyện thơ của dân tộc Cao Lan đã tạo nên đứa con tinh thần của anh được tắm mát trong môi trường văn hóa thuần khiết riêng biệt”. (Dân tộc Cao Lan có nhà thơ Lâm Quý) .

Tôi thì nhớ Lâm Quý với chiếc mũ nồi đội lệch, chiếc áo dân tộc, đôi khi miệng ngậm chiếc tẩu, khói thuốc bốc lên nghi ngút. Gặp tôi, lặng lẽ chào:

- Anh lại về quê đấy à?

N.V.P

 

 

 

 

 

LÂM QUÝ, NGƯỜI SAY MÊ TÌM VÀ HÁT TIẾNG HÁT CỦA DÂN TỘC MÌNH 

Trần Quang Quý

 

“Bản tôi có thần Ca Hát/ Nhập vào đâu cũng cất nên lời… / Chuện cổ tích bản tôi xưa trông / Hát suốt mua đông không hết”. Hồn nhiên hát, mê say hát, và hát mê say đến: “Khi vui hát ngả nghiêng cây núi / Khi buồn hát đuội cả dòng sông”; hát đến nỗi “Có cô gái bỏ chồng đi hội / Lội qua suối ướt đầm tất cả / vẫn địu trên lưng tiếng hát người tình…” (Cổ tích bản tôi).

Mở tập Tình thơ Cao Lan (NXB Hội Nhà văn, 1997) một cách ngẫu nhiên và gặp đúng bài thơ Cổ tích bản tôi của Lâm Quý (viết 1987), tôi bỗng thấy rõ hơn những gì tôi từng đọc Lâm Quý, nhớ về Lâm Quý. Chân dung thi sĩ của anh hiện lên một cách sáng rõ, như dòng mạch chính mà tôi muốn soi chiếu về anh, người thi sĩ mê say tìm và hát tiếng hát của dân tộc mình. Tìm từ cội nguồn dân ca, tình ca đã có từ xa xưa cổ tích, xa xưa truyền thuyết. Đó là sự thăng hoa, là “căn cước” văn hóa của một vùng đất, một dân tộc. Và vì thế, vùng đất ấy, dân tộc ấy có lý do tồn taại à trường sinh, một cách bình đẳng trong cộng đồng nhân sinh hiện hữu.

Câu chuyện thơ của Lâm Quý như đề cập, có thể vắt đầu từ ngoài trang sách. Năm 1980, lần đầu tiên tôi gặp Lâm Quý ở Trại sáng tác văn học nghệ thuật của Hội Văn nghệ Vĩnh Phúc ở Việt Trì. Khi đó, anh là phóng viên thường trú của TTXVN tại Vĩnh Phú. Trong vài lần hứng khởi của rượu nút lá chuối, lạc rang và “phê” thuốc lào, anh khoe có một chum thơ mới, mang hơi hướng văn hóa của dân tộc mình, đang được bạn bè cùng trại viết khen ngợi, cổ vũ. Những bài thơ sau đó được in trong tập thơ đầu tay Hát về nguồn. Đó là các bài Em là tiếng hát, Tâm sự với hoa văn, Đồng cổ biển xanh, Điều có thật từ câu dân ca… Không chỉ hào hứng với những sáng tác mới, Lâm Quý còn nói nhiều về Rasul Gamzatov, về cuốn Daghenstan của tôi đang rất nổi tiếng của Gamzatov và anh thích thú những nghiệm sinh, triết lý độc đáo, sâu sắc của nhà thơ Abutalip về con người, văn hóa của người Daghestan, như một ngầm ý, anh cũng muốn làm “Đại sứ” thi ca, đại sứ văn hóa của dân tộc Cao Lan (San Chay) của mình ở Việt Nam.

Hát về nguồn (In chung với Hà Phạm Phú, 1982) đã tự nó xưng danh cho duyên thi và nghiệp thi của Lâm Quý ngay từ những sáng tác đầu tiên. Nghĩa là anh hát, anh ngợi ca vẻ đẹp con người, hồn đất đai song núi, những biểu tượng văn hóa ngay ở những họa tiết hoa văn, lối xưng tụng, phóng đại thường thấy ở các dân tộc vùng cao… bằng thi pháp “Ca trữ tình, thể hiện ở nhịp điệu, tiết tấu của những câu thơ ngay ở trong sự vận động của nó, nhưng không mượn giọng, giả giọng ngô nghê để cố làm cho ngôn ngữ có “bản sắc”. Điệu ca ấy dường như thống nhất trong toàn bộ thi phẩm của Lâm Quý, dù sau này xu hướng thơ sau 1975 đã có một bước chuyển trong giọng điệu, cấu trúc, ngôn ngữ và thái độ tiếp cận đời sống.

Thái độ nhập cuộc thi ca ấy của Lâm Quý là thái độ dấn thân “Ta đã vứt bỏ tháng năm / đi cùng trời cuối đất / tìm em/ em là tiếng hát…” (Em là tiếng hát). Ta có cảm giác những câu thơ ấy như là ca từ. Tiếng hát gắn với Em, tức tình yêu, tiếng hát cũng là những giá trị tình thần cao đẹp, hấp thụ những tinh lực đời sống tự nhiên và xã hội, mà ở Lâm Quý, nó có sức mạnh truyền cảm, lay thức, làm thay đổi đời sống thật ghê gớm: “Anh bưng cánh đồng / Sàng tròn ngọn gió / Cho tiếng hát rơi vào hạt lúa / lúa mở choàng đồng xanh / Rơi vào bông ngô / Hạt ngô xếp hàng phồng bầu sữa / Rơi vào ngọn cỏ / Tỉnh bừng mắt con trâu / Rơi vào quả bầu / Tiếng đàn lượn dài con suối…”. Có thể trong khi tang truyện cổ tích phong phú của dân tộc, Lâm Quý bị “thôi miên” bởi bà chúa thơ ca Cao Lan, nàng Lau Slam, người được dân tộc Cao Lan cho rằng, tất cả những bài ca, lời ru, câu hò, điệu ví của Cao Lan đều do bà chúa thơ ca – Nữ thần nghệ thuật độc đáo này sáng tạo nên. Và Lâm Quý muốn làm “truyền nhân” tinh thần sáng tạo, những giá trị văn hóa nhân bản truyền tồn, thấm vào hồn đất đai sông núi của Lau Sla, trong Hát về nguồn (Hội VHNT Vĩnh Phú, 1981), trong Tình thơ Cao Lan (NXB Hội Nhà văn, 1997), trong Điều thật trong dân ca (NXB Văn hóa dân tộc, 1998)… Đặc biệt, anh đã bỏ nhiều công sức để dịch và phóng tác Truyện tình thơ Cao Lan Kó Lau Slam (Sở VHTT và TT Vĩnh Phúc, 1991), tức chuyện của nữ thần nghệ thuật Lau Slam mà anh tôn thờ và luôn khơi dậy trong cảm hứng sáng tạo của mình.

Ta không ngạc nhiên, vì sao những bài thơ gợi nhất, lung liếng nhất, lay thức nhất, được nhắc nhớ nhất chính là những bài trữ tình, gắn với tình yêu, chạm vào hồn vía của dân ca, tình xa, được thể hiện qua các biểu tượng tình yêu, từ đấng sinh thành, từ nguồn cội Cha trời – Me đất như một tín ngưỡng, đến Anh và Em… và mượn tiếng hát, mượn các khí cụ như tiếng khèn, tiếng đàn, mượn cánh chim, dòng suối… để chuyển tải những tâm tình và khát vọng tình yêu đôi lứa, khát vọng sống: “Trời xui anh thương em / Đất bảo em yêu anh / câu dân ca là vỏ / Bao quanh hạt giống tình / Mẹ đem gieo xuống đất / Mọc lên cây Yêu thương…” (Điều có thật từ câu dân ca). Lâm Quý mê hát, cụ thể hơn là mê dân ca tình yêu. Tiếng hát luôn là cái cớ để anh gửi gắm những tâm sự của mình: “Tiếng hát em khéo vặn chạc mây / Vặn xoắn tình anh vào đấy…” (Tình em đêm hát ví). Khi nghe một “Tiếng khèn em da diết / Con cá dưới suốt quên bơi…”, anh lại chạnh lòng nhớ đến người yêu, mà thảng thốt: “Chim ơi ta nhờ mi / Ngaamj tiếng khèn bay đi / Đến chỗ người yêu ta hót… Cá ơi ta gửi lời nhé / Đem sông ra biển / Tìm đến chỗ người yêu…” (Tiếng khèn bên bờ suối). Thực ra, cái Người yêu này không cụ thể, chỉ là cái cớ để Lâm Quý chuyển tiếng khèn, giai điệu tình ca, ngôn nữ giao duyên, nhắn gửi mà mình muốn truyền thụ mà thôi. Không chỉ trong những “giai điệu” của tình yêu, mà ở trong đời sống lao động khác, như khi gặp những cô gái nông trường, cũng là một tiếng hát đồng điệu “Cô gái nông trường / Gọi đàn bò bằng tiếng hát / Câu dân ca mát lịm đồng xanh / Tìm tôi rung phím đàn đệm nhịp… / Đồng cỏ lại về ôm tôi mênh mông / Gió thảo nguyên dập dìu cơn song đến…” (Đồng cỏ biển xanh).

Đó là một tâm hồn lãng mạn, ta ngỡ như trong một không gian bất kỳ nào, đứng trước môi trường nào, trái tim Lâm Quý lại bắt đầu hồi hộp, để vỗ lên những tiết tấu và giai điệu của tình ca. Tất nhiên, Lâm Quý không chỉ viết những gì mang dấu ấn bản sắc và những quan tâm thường trực về tiếng hát, về cội nguồn cổ tích của anh. Nhiều khoảng khắc thi ca rung lên là những miền đất mà với sức đi của người làm báo, Lâm Quý đã trải lòng mình qua những thi phẩm, Nhưng dù viết về vấn đề gì, miền đất nào, cái phông cấu trúc thơ của Lâm Quý vẫn mang nhịp điệu, âm hưởng của những ca từ, mà tự thân nó, hát lên những bài hát của anh, giọng hát của anh về cuộc sống muôn vẻ của đất nước, trong đó có tụ khí trung du Đất tổ, có những hoa văn và tiếng trống đồng truyền giục cộng sinh nguồn cội, bắt đầu từ cha trời mẹ đất, từ Lạc Long Quân và Mẫu quốc Âu Cơ.

Lâm Quý là người thật thủy chung với giọng điệu và những tư tưởng, tình cảm đã được xác định thành tiêu chí sáng tác của anh. Anh có sự mê đắm, lúng liếng của điệu thức và thi ảnh, nhưng cũng chân thành, mộc mạc và hồn nhiên trong thể hiện. Có lẽ vì thế mà còn câu, còn khổ, còn những bài chưa kỹ, chưa đều, chưa đẩy đến tận cùng ý và tứ thơ, nhằm tạo ra một dấu ấn rõ rệt và sự độc đáo của ngôn ngữ bản sắc, dù sớm định được mạch chủ của thơ mình và một thái độ dấn thân vì tiêu chí ấy, ấy là mong muốn của tôi, so với khát vọng mà tôi đọc được trong ánh mắt anh từ hơn 30 năm trước, khi anh nhắc tới một Rasul Gamzatov vĩ đại của Nga, bản sắc Daghestan và ngôn ngữ Avar Kavka. Nhưng với đóng góp của mình, Lâm Quý là một nhà thơ, trong không nhiều những nhà thơ dân tộc tạo được diện mạo và phong cách thơ mình, cùng các nhà thơ Y Phương, Lò Ngân Sủn, Pờ Sảo Mìn, Inrasara… làm phong phú nền văn hóa đa sắc tộc Việt Nam.

T.Q.Q

 

 

 

B - MỘT SỐ TÁC PHẨM TIÊU BIỂU

 

CỔ TÍCH  BẢN TÔI 

 

Bản tôi có thần ca hát

Nhập vào đâu cũng hát nên lời

Chuyện cổ tích bản tôi xưa trông

Hát suốt mùa đông không hết

 Khi vui hát ngả nghiêng cây núi

 Khi buồn hát đuội cả dòng sông

Có cô gái bỏ chồng đi xem hội

Lội qua suối ướt đầm tất cả

Lũ cuốn trôi theo ngàn tảng đá

Vẫn địu trên lưng tiếng hát người tình.

 

 

 

 

 

                                                             

CHỒNG VỀ 

 

Chồng về em chạy sau vườn

Luồn qua bờ suối tắm truồng cho thơm

Vuốt cho đôi mắt  tinh tươm

Để còn liếc giấu cái khuân ngực chồng

Chồng về em chạy ra giành

Hái mầm rau ngổ nấu canh cua dồng

Món này anh ấy phải mồm

Ngon hơn bữa tiệc cái hôm giữa thành.

 

 

 

 

 

TÌNH EM ĐÊM HÁT VÍ 

 

Tiếng  hát em khéo vặn chạc thừng

Vặn xoắn tình anh vào đấy

Chạc để buộc trâu dưới gậm

Để buộc bò dưới sân

Nỡ buộc tình anh vào cột

Cột nhà em bẳng lim

Trêu ghếch sừng là đổ

Cột nhà em bằng tấu

Bò hẩy chân là xiêu

Cột tình em yêu yêu

Anh xoay bên này hẩy

Vòng bên kia anh đu

Mà sao vẫn đứng dậy

Tiếng hát em khéo vặn chạc mây

Vặn xoắn tình anh vào đấy.

 

 

 

 

 

 

EM NHƯ LÀ….

 

Em như là con dúi

Lặn lội đào rễ lau

Anh làm thuổng mo cau

Đào tung trời tung đất

Đất có sâu đến mấy

Đá có ken đến mấy

Anh vẫn cứ say đào

Cho gặp lòng thương nhớ.

 

 

 

 

 

NHỮNG CHÀNG TRAI CỦA NÚI

  

Chúng tôi

Những chàng trai của núi

Ấp ủ trong đôi cánh mẹ tiên

Có một lần

Con cú kêu đêm

Sáng dậy mặt trời đi đâu mất

Nhận thanh gương truyền đời

 Những chàng trai ra đi

Đất nước vắng con trai ,gái làng dường như hóa đá

Núi rừng đễ bề nghiêng ,ngả

Rừng núi ơi chớ vội

Họ gọi lên đầu nguồn

Trèo lên núi cao

Lấy sào chọc thủng màn trời

Bắc thang lên vén mây

Cho mặt trời sáng bừng mặt đất

Họ lên rừng

Tìm dongsmai già vót tên

Chọn cây luồng ba đời làm cánh nỏ

Tên thường săn chim

Tên tuốc độc thường săn thú dữ

Nơi đỉnh núi biên cương

Gió táp , nắng đè

Chỗ đứng của chàng trai lồng lộng

Cánh nỏ in hình đám mây cong

Mũi ten hướng về phương giặc

Nơi lũng bằng con suối uốn tiếng khèn

Tắm mịn làn da lõi chuối

Tóc đen buông dài long thung

Ánh trăng nơi ngực người con gái

Tình yêu

Thương nhau cần tổ ấm

Họ dẫn nhau đi tìm

Nơi đất bằng dựng nhà lập bản

Khiêng đá bắc cầu qua con suối

Ruộng cái ruộng con

Bắc thang liền bờ hai câu hát ví

Cô gái lên nương ngắt về cum lúa

Vung chày ra hạt gạo trắng tròn

Hạt dẻo hạt thơm đúc ống cơm lam

Hạt chắc để dành làm giống

Khi xa nhờ cánh gió chuyển về nỗi nhớ

Luồn qua khe hở cửa buồng

Gần nhau nhớ cái vo tròn

Xa nhau nhớ vặn chạc thừng kéo chân chàng trai lại

Quanh quẩn ở nhà thành con cù lần nhặt tép

Con gái thương nửa gang thôi

Con cả vòng tay thương lấy lõi cứng

Cái lõi của rừng không chỉ để làm cột nhà

Không chỉ làm cày và báng sung…

 

 

 

 

 

 

NGƯỜI ĐÀN BÀ

  

Người đàn bà

Vui cũng khóc mà buồn cũng khóc

Đau khổ lại càng khóc to hơn

Giọt nước mắt

Rơi vào tôi

Tan cả cuộc đời

Rơi vào trái đất

Tan cả hành tinh

 

 

 

 

 

 

 

ĐÊM VÙNG CAO

 

Đêm vùng cao

Đèn sao mây núi

Lẫn vào nhau

Ta lẫn vào đêm

Đi vơ những vì sao

Ai đuổi

Chạy tung lên nóc núi

Vấp phải tiếng ngựa hí vang lưng trời

Đêm vùng cao

Liềm trăng móc vào đỉnh núi

Kéo lên

Gió và ngọn lau

Lao sao níu xuống

Gà gáy cuốc vào đêm

Vỡ ra

Trăng tan từng mảnh

Thác trắng ào qua thung…

 

 

 

 

 

 

 

NẾU EM BỎ ÔM CHỒNG 

 

Nếu em bỏ ôm chồng

Anh sẽ trả cả ngàn cái hôn

Cả ngàn ngọn núi

Cả ngàn con nai con công

Nâng em lên thành bà chúa của rừng

Nếu em bỏ ôm chồng

Anh sẽ bứt hết lá rừng

Về nấu cao màu xanh

Để nhuộm tóc cho người đời xanh mãi

Nếu em bỏ ôm chồng

Anh sẽ làm không công

Cho hoa nở và muôn đời quả ngọt

Nhưng… tôi được trả lời

- Anh mà nói câu nữa

Mời anh ra uống nước lã ngoài sàn…

 

 

 

 

 

 

 

           KHAU PHẠ MÙA NÀY

 

Khau phạ mùa này mây trắng bay

Mây đi núi đấy cứ vương dày

Sừng đất hất tung trời khắc nghiệt

Đến đây ở lại với muôn đời

Khua phạ mùa này hương lúa say

Ruộng bậc thang bắc lên cổng trời

Người khau phạ tìm đường đào núi

Cái lều nương đủ ấm hai người

Gió thổi đưa nước về với đất

Nặn thanh mèn mén rượu đầy vơi

Người khau phạ thần tình thật đấy

Vít sao trời rơi xuống giữa nhà

Người ở dưới nhìn lên thấy lạ

Nóc núi đậu đầy ngôi sao.

 

 

 

 

 

 

 

LỜI ANH

 

‘‘Nuôi chim bằng muối; Trả chim về trời’’

                          (Tục ngữ Cao Lan) 

Hạt muối có từ đâu?

Sinh ra từ biển mẹ!

Cái mặn trong lòng  đất

Mẹ chắt chiu nỗi lòng

Lời anh có từ đâu

Sao mặn mà đến thế

Tai em chẳng nghe đâu

Mà lời anh như thể

Qủa ngõa mật chín ngầu

Cứ lặn vào trong ngực…

 

 

 

 

 

 

 

NGÀN LAU TAM ĐẢO

 

Em hát trên ngàn lau Tam Đảo

Gió núi lơn mơn

Hoa đá chờn vờn

Áng  mây vòng về ôm cổ núi

Thầm ơn mệ núi

Sinh ra em

Có giọng hát như lá lem lả lướt

Chỉ lướt sang người khác

Sao không lướt sang anh

Anh lại trách thầm mẹ núi

Sao không dành cho anh

Bông hoa chuối rừng thắp lửa

Soi sáng khoảng tối lòng

Mỗi lần xòe cánh

Hiện nải chuối xanh xanh

Tiếng hát em thanh thanh

Trên ngàn lau tam đảo

Anh hứng tai thu về

Ướp vào tình thương nhớ…

 

 

 

 

 

 

 

 

TÂM SỰ VỚI HOA VĂN

 

Tôi nghĩ

Những họa tiết hoa văn

Có cánh có hồn và ý thức

Khi tổ tiên gõ lên mặt trống đồng

Hoa văn vẫy vùng bay theo tiếng trống

Biến thành muôn tiếng ngân xa

 Tiếng ngân lặn vào lòng đất

Đất giữ lấy nghìn năm vẫn trong

Lặn vào màu xanh

Cây giữ lại muôn đời vẫn sắc

Lặn vào trong bà Âu Cơ

Truyền con nối chắt…

Từ miền đất Cổ

Tôi đi

Đi khắp miềm phương bắc

Qua làng Việt làng Mường

Thấy hoa văn bám vào ngang vách

Ở bản Thái , bản Dao

Hoa văn thẹn thò nấp ngay trên ngực

Ai đánh trống đồng trong ngực tôi

Hoa văn biến thành cô gái

Tung sợi chỉ hồng làm lưới

Vặn tiếng đàn môi làm dây

Vây tròn tôi lại

Tôi yêu em rồi ư

Hay là em thương tôi chẳng nói?

Tình yêu bắt đầu là câu hỏi

Không đâu

Hẹn em ngày về

Tôi vẫn phải đi

Đi khắp trời phương Nam

Rừng Trường Sơn gió táp mưa ngàn

Hoa văn đậu vào lưng núi

Kêu lên thành tiếng chiêng đồng

Con chim Lạc chở tiếng chiêng đi

“Túc chinh ri,túc chinh ri…”

Cô gái Ê Đê hỏi chim kêu gì

- Chim kêu làm tiếng đàn của suối

Hoa văn vẫn nét cong dáng núi

Xoay tròn Thành cổ Loa

Vòng xoay của thành bao la bao la

Nâng cánh nỏ thần về phương giặc

Giặc hết

Hoa văn  nở xòe bông hoa

Trên những ngôi nhà

Buôn làng của người đã khuất

Ông cha

Vai gùi chân đất

Địu núi non về cho con thêu hoa

Mẹ dạy con thêu

Chuyên ông trời bà đất

Để ra một nữ thần

Chàng Đam San vượt ngàn lên bắt

Mũi kim đầu tiên em đặt

Vào ve áo tôi

Tình yêu cũng bắt đầu từ đấy

Dẫn tôi đi

Đến miền Cửu Long có chin con rồng

Lặn lụi muôn đời hút nước

Từ đỉnh núi Lạc Long

 Phun vào bụng biển

Hoa Văn Từ đấy có hình con sông

Có ngọn tầm vông và khẩu sung

Mẹ bồng con hóa đá chơ chồng

….và TÔI GẶP

Hoa văn đậm nét màu của đất.

 

 

 

 

                                                        

 

 

EM LÀ TIẾNG HÁT

 

Ơi rừng xanh

Nếu cứ ăn tiếng hát

Sẽ Không bao giờ già

Ta đã vứt bỏ tháng năm

Đi cùng trời cuối đất

Tìm em

Em là tiếng hát

Tiếng hát ở đâu ở đâu

Anh đi tìm đầu nguồn cuối biển

Nơi anh đến là em vừa đi

Để lại một vùng đồi tươi trẻ

Ở đáy có lời ru của mẹ

Anh tìm trong lời ru

 

Gặp lại tuổi thơ

Giấc ngủ bồng bềnh trên võng

Tỉnh dậy vươn vai

Tay hóa thành đôi cánh

Bay đi

Bay đi tìm tiếng hát

Mẹ bảo

-Gió gào mang tiếng hát đi

Anh làm mười cột mây dựng

Dựng  đằng Đông đằng Tây

Gió xô đẩy cánh đồng

Ang bưng cánh đồng

Sàng tròn ngọn gió

Cho tiếng hát rơi vào ngọn gió

Lúa mở choàng đồng xanh

Rơi vào bông ngô

Hạt ngô xếp hàng phồng bbaauf sữa

Rơi vào ngọn cỏ

Tỉnh bừng mắt con trâu

Rơi vào quả bầu

Tiếng đàn lượn dài con suối

Suối ơi

Hãy ăn đi

Ă cho no tiếng hát

Chảy tràn lưng nương

Tắm mát cây lúa đồng

Đồng rập rờn tiếng hát

 

 

 

 

 

 

 

RỪNG LỒ Ô

  

Rùng lồ ô cây thẳng tắp

Lá xòe bàn tay

Đón gió chảy về lung lay

 Lúc nào cũng ầm ì tiếng động

Tiếng trăn trở quặn đau từ lòng đất

Mẹ sắp sinh con

Mang thai chín tháng tày năm

Rừng lồ ô hôm nay trở dạ

Những đứa con giống cha

Ra đời từ lòng thương của mẹ

Những lá vàng bao giờ cũng thế

Rớt xuống rồi là sữa mớm cho con

Dù ở đâu ,ở đâu .Rừng bằng hay ngọn đồi chon von

Lồ ô không bao giờ mọc rễ

Gió quật ngã về một phía

Rồi lồ ô lại đứng nguyên.

Ơ… Cô gái Mnông

Hái măng chớ hái nhiều em nhé

Lồ ô đang vào mùa sinh đẻ

Giúp những việc gần, việc xa

Cây lồ ô chin nắng mười mưa

Cũng au đen như lưng cha lưng mẹ

Cũng cần cù nuôi con từ thuở bé

Ngày ngày mong con lớn lên

Thành ngọn chông con là người du kích

Giữ  buôn làng giữ rừng lồ ô

Thành ngọn đuốc con là người đi trước

Soi đường cho bộ đội dân công

Vào mùa chiến dịch.

Ngày hội mừng buôn làng giải phóng

Con là tiếng khèn lượn vòng nóc nhà rông

Cùng cô gái Mnông

Hát…

Cho người già uốn cong cần ché rượu

Người trẻ vòng đường gươm

Vuốt tiếng đàn T’rưng

Róc rách thành con suối

Lượn vòng một dòng sông…

Lời sâu xa là lời của ông

Lời đầy tình thương là lời của mẹ

Lời của cha bao giờ cũng thế

(Thương con cha để trong lòng).

Rừng lồ ô trên dông…

 

 

 

 

 

 

 

 

QUÊ CỌ

 

Ngần ấy năm rồi dù xa quê hương

Anh vẫn thấy cọ xòe trong nón lá

Cai màu cọ non em ơi khó tả

Sao nó nõn nà như đôi tay ai

Mùa hoa cọ trời đầy hương bay

Con chim én liệng về ủ tổ

Ngàn vạn răng cưa cắt ngang chiều gió

Nắng chảy tràn về phủ kín đồi sim

Ơi nhớ những chiều cắt cỏ chăn trâu

Hai đứa chúng mình tìm rình bắt bướm

Cơn mưa ập về ướt đôi mái đầu

Ríu rít chung che tàu cọ nhỏ

Tháng sáu mẹ đi bừa về cua đầy móm cọ

Em chạy sang anh hái mầm rau ngổ

Bát canh riêu váng đỏ dáng mùa

À ơi… đất đồi chưa nắng đã khô

Ai sang quê cọ nhớ mua quạt gồi…

Tiếng ru của mẹ lượn vòng quanh nôi

Lượn ra mái đồi  xòe tay che nắng

Lượn ra đồng vắng nhuộm trắng cánh cò

Câu thơ quê mình hay là giọng hát

Phường xoan quê ghẹo năm xưa

Gieo lên đồi chè non xanh bát ngát

Gieo vào lòng đất thúc hạt nảy mầm…

 

 

 

 

 

 

 

                                   

ĐIỀU CÓ THẬT TỪ CÂU DÂN CA

                          Tặng những người công nhân đập đá

 

Yêu em anh bổ hòn đá tảng

Lấy nước nguồn thơm mát nuôi em

Thương em anh hái vầng trăng bán

Lấy lửa mặt trời nướng chin nuoi em…

                                                 (Dân ca Cao Lan)

                                     

Anh sinh ra trong chòi rãy

Mẹ nuôi băng sữa cây ngô

Em lọt lòng vắng mẹ

Cha cày ruộng

Chắt hạt gạo vàng qua cây lúa

Tháng ngày gói giữ lời du

Nuôi anh nuôi em lớn dậy

Trời xui anh thương em

Đất bảo em yêu anh

Câu dân ca là vỏ

Bao quanh hạt giống tình

Mẹ đem gieo xuống đất

Mọc lên cây yêu thương

Ta chăm chút sinh ra quả nhớ

Nhớ lời du tuổi thơ

Thấy con cò lặn lội

Thui thủi một mình bước vào dân ca

Nay em và anh

Dắt tay nhau bước ra đời thực…

Ta lên núi đục hòn đá tảng

Đặt mìn nổ tung khối nặng bao đời

Đưa lên xà – lan xuôi dòng về xuôi

Phần qua lửa hóa thành trong trắng

Quét lên tường nhà nắng lóa tầng cao

Hóa thành bà mối dắt cau yêu trầu

Xui ta yêu nhau đập hòn đá tảng

Xếp chặn đầu nguồn nước tràn lên mương

Cho ruộng không hờn mà thương cây lúa

Lúa dành cho anh cái vầng trăng xưa

Rắc kín hạt vừng thơm ngày trạm ngõ…

 

 

 

 

 

 

 

Ở NƠI ẤY CÓ MỘT NGƯỜI

                                Tặng vợ

 

Ở nơi ấy có một người

Nuôi con tần tảo suốt đời thay tôi

Nửa đêm con ngủ say rồi

Nàng dành nửa gối mong tôi trở về

Ở nơi ấy có một người

Nụ cười tủm tỉm thay lời chào tôi

Mỗi lần về đến nhà ơi

Bếp nhen lửa ấm nước sôi pha trà

Vỗ về những đứa con hoa

Mắt cười liếc giấu chồng xa mới về.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

TRĂM PHẦN TÔI ĐOÁN

 

Ở nơi ấy có một nàng

Trăm phần tôi đoán rằng nàng yêu tôi

Tình trong đôi mắt kia thôi

Đừng vờ giả nữa làm tôi ngỡ ngàng

 

Ở nơi ấy có một nàng

Như bông hoa trắng mơ màng hương đưa

Hương ơi hãy thả hồn mơ

Cho tôi tròn một tứ thơ tâm tình

 

Ở nơi ấy có một người

Chiều sông có nghĩ đến tôi chút nào

Đôi bờ sóng nước lao xao

Hỏi sông vì cớ làm sao vắng thuyền?

 

Ở nơi ấy có một người

Tôi mong tím cả bầu trời ấy thôi

Chờ sông chảy mãi không vơi

Để cho thuyền hóa đơn côi đợi chờ.

 

Ở nơi ấy có một người

Hội đền hẹn chín hẹn mười chờ nhau

Hội rồi nào có thấy đâu

Người đông như lá tìm đâu thấy tình.

 

 

 

 

 

 

 

 

XUỐNG NÚI

 

Ở trên núi nhìn toàn thấy cây

Xuống đồng bằng nhìn toàn thấy người

Người và cây đều là tình đất

Nuôi nấng tôi khôn lớn thành người

Ở trên núi bao nhiêu là suối

Xuống đồng bằng thấy nhiều dòng sông

Sông suối dìm hồn tôi trong nước

Chảy dần về biển Đông mênh mông

Ở trên núi nhìn toàn thấy váy

Xuống đồng bằng nhìn toàn thấy quần

Quần và váy đều là hai thứ

Làm cho tôi mê mẩn suốt đời

Người ở núi yêu nhau bằng mắt

Người đồng bằng yêu nhau bằng môi

Môi và mắt đều là hai thứ

Làm cho tôi say đến ngất người…

 

 

 

 

 

 

 

 

 

NGƯỜI TẠC ĐÁ QUÊ TÔI

             Kính tặng quê hương Lập Thạch

 

Thuở đất còn vồng vềnh chưa cứng

Quê hương tôi có đá đứng đá ngồi

Đá đứng rũ mình hóa thành chàng trai

Đá ngồi vuối mái tóc thả lưng trời hóa ra cô gái

 

Đá…

Tạo nên cái rìu

Bổ toác gốc cây đa làm ổ

Lớp lớn con người sinh ra từ ấy

Tạo nên mũi lao

Hội săn về dấu lao còn trên đá

Những con dao và thanh gươm

Mài đá quê tôi sáng lóa

Những con ngựa khải hoàn sau chinh chiến

Rũ bụi đời để hóa đá ngựa ơi

 

Những con nghê nhở nhơ

Người thợ quê tôi bắt về hóa đá

Trước sân đình cười với thời gian

Cô gái hội mùa không bao giờ già nữa

Múa hay quá mà… tạc vào đá đi thôi

…À ơi, con cò trưa nắng bắt cua

Tối ngủ gò Chùa cò hỡi có ai…”

Tiếng ru nở hoa riêu cua óng ả

Kết nụ từ cối đá làng tôi

Ai nâng niu hạt gạo làng trong trắng

Là sinh ra từ cối giã đau lòng

Những con người tọp lưng khơi miếng sắn

Tạc đá xây lên Tháp Bình Sơn

Bao đời rồi vết tay người thợ

Rêu phong không nhòa nổi lên nét hoa văn.

Cảm ơn rùa suốt đời mang bia đá.

 

Nâng hồn thơ Nguyễn Trái bay lên

Nơi Ba Đình đá dựng quanh lăng

Hồn sông núi tụ về bên Bác

Người thợ quê tôi không thể tạc

Bởi lẽ tên Người đi suốt thời gian

Hiểu ý người tạc hình Đất nước hồi sinh

Con lũ sông Đà vồ lên bệ đá

Vỡ đầu rồi mới hiểu sức Sơn Tinh

Đàn voi trận ngỡ ngàng khi trở lại

Đất cội nguồn thiêng sừng sững những công trình.

Đá…

Người thợ quê tôi không tự tạc được mình.



 

 

 

 

 

 

 

 

LÊ KIM HẠT

- Họ và tên khai sinh: Lê Kim Hạt

- Sinh năm 1937

- Mất năm 2012

- Quê quán: Xã Trung Nguyên, huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc

- Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam

- Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật Vĩnh Phúc.

 

- Tác phẩm chính đã xuất bản:

* Hoàng hôn nhọc nhằn (Tập thơ, NXB Hội Nhà văn, 2006)

* Quả muộn mùa (Tập thơ, NXB Hội Nhà văn , 2007)

* Gửi về mai sau (Tập thơ, NXB Hội Nhà văn , 2009)

* Thao thức sông Phan (Tập thơ, NXB Hội Nhà văn, 2010)

* Năm nắng mười mưa (Tập thơ, NXB Hội Nhà văn, 2011)

* Bờ nhân gian (Tập thơ, NXB Hội Nhà văn, 2009)

* Cõi vắng (Tập thơ, NXB Hội Nhà văn, 2012)

* Thức mùa sông lắng dòng (Tập thơ, NXB Hội Nhà văn, 2014).

- Giải thưởng văn học:         

* Giải B, Giải thưởng VHNT Vĩnh Phúc 5 năm lần thứ IV (2011-2015).

* Giải Khuyến khích, Giải thưởng VHNT Vĩnh Phúc 5 năm lần III (2006-2000).


 

A - TRONG KÝ ỨC BẠN BÈ


 


ANH Y NGUYÊN CHÂM ĐUỐC TÌM ANH

(Đọc tập thơ Bờ nhân gian của Lê Kim Hạt,
NXB Hội Nhà văn, 2011)
 

Lê Huy Giang

 

Trước hết, tôi thử làm một pháp thống kê thuần túy theo lối nhặt từ trong Bờ nhân gian của Lê Kim Hạt, đặng tìm ra những câu thơ lục bát mang dấu ấn cá nhân và cá tính của một ngòi bút. Và tôi cảm thấy yên tâm vì có “việc” để thực hiện phép thống kê này. Đó là những câu: Xác đò nằm chết bên sông/ Gió khô không khốc thổi bong lời nguyền; Sông quê nửa chảy nửa chờ/ Dòng sông dát sáng đôi bờ nhân gian; Chiều say ngượng chín chân mây/ Lồng bồng gánh một quãng ngày lên non; Đêm làng đom đóm sáng xanh/ Bay loanh quanh mãi mà thành ca dao; Tri âm vắng ở đâu rồi/ Để tôi và bóng cứ ngồi uống nhau; Song thưa lọt mảnh trăng gầy/ Bao nhiêu thương nhớ đổ đầy cách ngăn; Con đò chữa cả dòng sông/ Đàn có chữa cả cánh đồng quê ơi/ Nụ cười chữa cả mặt người/ Câu thơ chữa cả những lời dửng dưng; Cầm hai câu hát trên tay/ Tung lên làm một ánh ngày nhuộm xuân; Trăng tà cài dưới mái hiên/ Trời cho ta mượn chiếc liềm gặt sao…

Đấy là những câu thơ như thể được trải lòng mình ra mà viết. Có thể tìm thấy được ở đây khả năng quan sát, phát hiện kiểu Lê Kim Hạt mà ở trong đó đã ngầm tải nhiều ý tứ khác nhau. Có câu đọc lên thấy xa xót. Có câu đọc lên thấy nao lòng. Có câu đọc lên thấy cái tưởng chừng đã cũ lại được làm mới. Có câu đọc lên thấy nhiều người như được sẻ chia bởi một người. Có câu đọc lên thấy trĩu nặng. Có câu đọc lên thấy nhẹ cả người… Nhưng ôm trùm lên tất cả vẫn cái đích xuất phát, tạm gọi là sự thành tâm của một người thơ.

Viết đến đây, tự dưng tôi lại nhớ đến một đoạn trong Luận ngữ (trích từ Tứ thư). Nguyên văn như sau: “Khổng Tử đọc lên bốn câu thơ: Cây đường đệ đơm hoa/ Nhởn nhơ đung đưa rối lại khép/ Anh đâu không nghĩ đến em/ Chỉ vì nhà em ở xa quá. Dứt lời, Khổng Tử liền bình luận: Vậy là chẳng nhớ gì đâu. Nếu như nhớ thật thì có gì là xa”. Trong lời bình (cũng lấy ở Luận ngữ trích từ Tứ thư) có đoạn: “Câu thơ trên là một câu tỏ tình những xảo ngôn và không thành thật. Trai gái yêu nhau thì làm gì có khoảng cách không gian và thời gian”.

Nêu dẫn chứng này để thấy: Đối với bất kỳ nhà thơ nào khi làm thơ, sự thành tâm quan trọng đến mức nào.

Cũng có người cho rằng Lê Kim Hạt chỉ có thơ lục bát và đề tài thường trực trong thơ ông chỉ vào ra ở mấy con sông. Nhưng khi đọc Bờ nhân gian, tôi không tin Lê Kim Hạt chỉ có vậy. Nói theo một cách khác: Ngoài Lê Kim Hạt của lục bát và những dòng sông còn có một Lê Kim Hạt của nhiều cái khác đáng nhớ nữa.

Đây là những câu thơ ấn tượng ở những thể thơ khác: Cái đã biết khóc điều chưa biết; Cho hy vọng phập phồng ở trọ; Trăm cuộc tiễn đưa đón một cuộc trở về; Chẳng biết khi nào ta đã quên tên quên tuổi; Địu câu thơ đói lả cuộc hành trình… Đó là những chữ lạ lóe lên, được đặt vào đúng chỗ, đúng lúc: Gió mai phục triền sông; Gió quả phụ dắt làn mây trắng; Trôi hoang mang khi chạm phải xác ngày… Những câu thơ mang tâm trạng u hoài, tiếc nuối một thời đã qua, cũng không thiếu: Ngày xưa ơi sao mà đau đáu thế/ Đêm trăng thề vằng vặc mãi bờ đê; Ta thèm có được ngày xưa/ Mời nhau một bát canh cua qua rào

Tôi dám chắc cái vệt “nuối tiếc quá khứ” được nhấn mạnh ít nhất ở 2 bài: Viết ở cổng làngNghịch lý hẹp. Tôi dám chắc cái nỗi lo văn minh tấn công văn hóa và cái tình cảm cố hữu không dễ đổi thay đã trở thành điểm xuất phát của 2 thi phẩm này.

Đây là nguyên văn bài Viết ở cổng làng: Đã có lần tôi chạy khỏi tôi/ Càng cố thoát lại càng mình đến thế/Cái cổng làng như một lời tuyên thệ/ Xa lắc xa lơ vẫn nhớ chốn mà về.

Đây là những câu trích từ Nghịch lý hẹp: Công nghiệp cho tuổi già, công nghiệp của trẻ hơn/ Công nghiệp ngủ, công nghiệp ăn, quyền uy công nghiệp…/ Chọn đứng ở đâu/ Giữa dòng nước xiết/ Không thể hợp lưu cho mỗi mong chờ… Rồi cũng trong văn cảnh ấy mà tác giả bật ra những câu khiến nhiều người phải ngẫm nghĩ: Ta như khói vật vờ/ Trong ẩm ướt/ Không còn chỗ ráo khô/ Để lòng nhóm lửa…

Thì ra cái tâm lý “Có đất nào như đất ấy không/ Phố phường tiếp giáp với bờ sống” của cụ Tú Xương thuở nào vẫn còn ám ảnh nhiều người. trong đó có Lê Kim Hạt, đến tận hôm nay. Và cũng xuất phát từ tâm lý này mà cái phần quá khứ đáng yêu, quá khứ trong suốt của Lê Kim Hạt, vẫn còn có đất sống.

Sau chót, đọc Bờ nhân gian tôi càng hiểu thêm thơ và con người thơ Lê Kim Hạt. Tất nhiên ông không chỉ có thế, mà còn Chợt náo nức bước chân ký ức/ Rửa mặt vào tinh sương cho mát mẻ tâm hồn. Và chỉ cần từ phép thống kê thuần túy thôi, đã thấy một Lê Kim Hạt vẫn Anh y nguyên châm đuốc tìm anh.

 

L.H.G

 

 

 

 

 

 

 

CÕI YÊU THƯƠNG ĐAN RỘNG NỐI DÀI

(Đọc tập thơ Cõi vắng của Lê Kim Hạt,

NXB Hội Nhà văn, 2012) 

Trần Quang Quý

 

Cõi vắng, gồm 41 bài thơ, của người thơ bước vào tuổi “Thất thập cổ lai hy”, nhà thơ Lê Kim Hạt (NXB Hội Nhà văn, 2012). Tôi đã đọc tập thơ trước của anh, Bờ nhân gian và bây giờ là một Cõi vắng. Thực ra vẫn là một “nhân gian” của Lê Kim Hạt, nhìn ở các góc cụ thể, trong những hoàn cảnh khác nhau mà thôi. Đó là cõi của người đã trải nghiệm cả đời người, giờ đây trước tuổi điền viên, cái góc quê điền viên, như gió cuối làn, như cây cuối vụ, nghe hoang lieu, hiu quạnh làm sao:

“Vườn vài cây cau

Vóng vót

Chỉ hoa không quả

Tủi nhành

 

Sân không trẻ rêu xanh ngơ ngắt

Hai nửa già xiêu vẹo mắc vào nhau”.

                                    (Cõi vắng)

Nếu ở Bờ nhân gian, thấy một Lê Kim Hạt đăm đắm niềm quê, cái niềm quê Trung Nguyên, Yên Lạc, Vĩnh Phúc bên dòng sông Phan nhiều kỷ niệm, nhiều giăng níu, nhiều câu thơ thảng thốt thi sĩ của anh về dòng sông, con đò, những người nông dân áo vải nắng gió, trên cánh đồng tần tảo thì ở Cõi vắng, vẫn trên nền cảm hứng về những nỗi người, là cái nhìn nhân văn giãi bày về những miền thân thuộc, nhiều trải nghiệm và thương nhớ của anh, nhưng biên độ cảm xúc và suy tư dường như đã chuyển nhịp, sang một cung bậc thi cảm, ít nhiều đã có sự vận động, thể hiện ở cá mối quan tâm khác so với những gì anh bộc bạch trong những tập thơ trước. Nó không chỉ còn là: “Chum tương vẫn đợi nón mê/ Dây hoa muống tím lê thê ao nhà” nữa, mà thời gian, cuộc sống xô bồ nhiều biến trải ở chốn quê làng đã khác lắm rồi: “Cỏ may mọc rất tinh ranh/ Giàu đâu chưa biết đành hanh thì nhiều/ Lời điêu cũng đến là điêu/ Xót câu bầu bí nhiễu điều giá gương” (Lục bát chuyển mùa). Đây là một lời cảnh tỉnh về những biễn đổi ở nông thôn, nhưng là cái biến đổi làm thay đổi nét đẹp truyền thống văn hóa làng, vốn được coi là những giá trị nhân văn thì mới đáng lo âu, bận lòng đến thế nào.

Dẫu vậy, cuộc đấu tranh, vật lộn để khẳng định những giá trị tinh thần, những giá trị người và những gì còn lại, làm nên tâm thế quê làng vững chãi bao đời, mà có lẽ sẽ còn trường tồn, đã được Lê Kim Hạt “phiên dịch” lại: “Muôn năm cỏ sao thành lúa nước/ Tổ tiên ta dựng lên hồn cốt làng/ làng có thật, chuyện làng không cổ tích/ ngôn ngữ ca dao nắng mưa phiên dịch/ lam lũ tháng năm vẫn rích rắc kéo đàn…/ có lẽ thế mà nên can đảm/ dìu ta qua mọi cám dỗ chắn đường” (Không thể khác).

Ở đó, mối băn khoăn về quê hương, ruộng đồng ngày càng co hẹp, thương cả cánh cò không còn bến đỗ; thực ra là mượn cánh cò mà nuối tiếc những mùa xua. Bây giờ, mùa như bức tranh vẽ nháp nham nhở, phố đã mò vào làng, tất nhiên làm sao cưỡng được, nhưng nó là duyên cớ để ông bày tỏ niềm cảm thong canh cánh của mình: “Đã lâu sông bặt bóng đò/ đồng co hẹp cánh cò đành phiêu bạt/ mùa màng như bức tranh vẽ nháp/ sắc phố phường duệch doạc mắt trẻ con (Mơ va thức). Những biến đổi đến chóng mặt, nó không chỉ là “đồng co hẹp cánh cò đành phiêu bạt” mà nó xáo trộn, “tốc hành” vào thẳng đời sống văn hóa, đời sống tinh thần của làng quê: “Nào diễn văn “tiếp thị” hát say sưa/ nào ngôn ngữ “a còng” ngọt tai thời mở cửa/ đem “quốc doanh” ca dạo tục ngữ/ chẳng ngạc nhiên khi “chứng khoán” hiền tài. (Ghi chép bên lề). Nhắc những sự kiện như khoét sâu nuối tiếc. Sao không nuối tiếc khi ngay cả người yêu thương của mình cũng không còn nhận ra, vì gương mặt em, hình hài em giờ cũng quá khác xưa nhờ mỹ viện đã mon men về: “Ta ôm em hay ôm mỹ viện/ ngước mắt lên rụng thuở cánh chuồn” (Mỹ viện). Cánh chuồn tuổi thơ, cánh chuồn yên ả của làng quê, có thế biến mất trước bão gió thời thế như thế chăng?

Nhưng dù sao, vẫn còn đây cái đẹp muôn thuở, và cũng là ký ức là khát vọng của nông thôn: “Chim rửa giọng tiếng trong trẻo quá/ Sương mỏng tang nép ở sau nhà/ Ngọn gió thức giật mình ngơ ngẩn lá/ nắng lên đồng mớm nụ giục hoa” (Viết lúc ban mai). Vẫn còn đây những: “Chiều vàng lưng lửng chân mây/ cánh chim vẽ nửa nét ngày vào đêm” (Lục bát xuống dòng), mà thời gian chưa thể cưỡng đoạt mang đi. Vẫn còn đây một trung du, với cái nhìn ngộ nghĩnh về những viên sỏi, hay chính là cái nhìn về tuổi thơ, kỷ niệm tuổi thơ bất biến, nhưng những đứa trẻ ngày ấy thì đã vơi dần trên thế gian, càng làm cho Cõi vắng của ông thêm trống vắng làm sao: “Ta quê đồi/ bạn bè cùng sỏi/ gái chơi ô ăn quan/ trai lấy sỏi làm đạn súng cao su…/ đêm hoang hoảng nồng khê/ lem luốc sỏi ngủ ngon trong túi áo túi quần”. Và bây giờ: “Những đứa trẻ xưa/ giờ đã thưa dần”. Chỉ “lũ sỏi đồi mồ côi bây giờ vẫn lông bông/ không nhà không cửa/ không già/ không lớn” (Với sỏi). Và những gốc quê làng luôn vẳng trong tâm hồn thi sĩ Lê Kim Hạt như một góc yên ả “nghỉ dưỡng” tâm hồn cảu người thơ ấy: “Dìu dịu hương vườn dâng vô cớ/ Lúa vào mây bổng cong gọng vớ/ điệu dân ca yên ả sang đò” (Thu cảm).

Cõi vắng của Lê Kim Hạt là cõi trầm tư, băn khoăn niềm riêng của những tâm sự về cội rễ quê làng, về con người sống với nhau ra sao trước một thực tế nông thôn nhiều xáo trộn, nhiều lo âu, bằng một tâm hồn đa cảm và cả nghĩ. Cả những vẻ đẹp luôn thức thỏm trong tâm hồn ông, nhắc ta không thể quên cái đẹp của nhân tình thế thái, cái đẹp bình dị, mộc mạc mà cũng mượt mà nhân nghĩa của quê hương. Ngoài cảm hứng tập trung là những mảng đời sống quê xuyên suốt trong thơ ông từ nhiều tập thơ trước, ở tập thơ này, ông còn viết về tình thầy trò, trong Bài giảng cuối cùng thật xúc động: “Mắt thầy sương khói dâng gầy/ bàn tay giơ nắm bàn tay từng trò/ Một đời sông một bóng đò/ Bao nhiêu nhân nghĩa qua bờ nhân gian!”. Hay ông viết về những hạt cát Trường Sa, dù nhỏ nhoi, cũng là máu, là hồn Tổ quốc, trụ vững nơi miền biên hải…

Đó là tâm thế của một hồn thơ luôn khao khát, trải lòng mình bằng: “Những yêu thương đan rộng nối dài/ cúc vàng vẫn ngóng mùa hoa cải”. Ta hy vọng Cõi vắng của ông vẫn đan rộng nối dài cho những mùa hoa nhân nghĩa còn nở về sau.

 

T.Q.Q


B - MỘT SỐ TÁC PHẨM TIÊU BIỂU

 

 

         NGÔI MỘ ĐÁ

 

Dưới tầng tầng đá kia tên các em là gì

Là Mận, là Mơ, là Thương, là Lý?

Chỉ biết nơi đây – Bốn người đồng chí

Tuổi xuân thì mãi mãi với Trường Sơn

 

Một thời đạn bom một thời bão dông

Hoa chạc chìu đơm bong vàng quanh mộ

Và biển Đông mang lên bao nhiêu gió

Cho đại ngàn hát khúc ru êm

 

Mỗi bận qua đây đồng đội lại xếp lên

Bao nhiêu đá – Ngôi mộ đầy thêm mãi

Mùa khô đi qua, mùa mưa lại

Đêm đại ngàn thao thức với sao Mai

 

Rồi những ngày chiến trường mở rộng dài

Chúng tôi hành quân không nghỉ

Ngôi một đá các em – Bốn người chiến sỹ

Sừng sững bên đường chỉ hướng chúng tôi đi.

                                                         Tháng 6/2005

 

 

 

 

 

 

     THAO THỨC SÔNG PHAN

 

Tôi sinh ra bên lũy tre làng

Lớn lên cùng những tháng năm bão lũ

Mái đình cũ

Cánh cò cũ

Câu ca dao cũ

Dầu dầu mái rạ mưa thu

 

Chìm nổi khúc ru

Sang sông

Cái cò cái vạc cái nông

Nước trong đồng trắng buồn không hỡi cò

 

Mưa Ngâu trời thấp ngang cửa sổ

Mưa bay sấp ngửa mặt ngày

Ngang đồng bóng người đổ gãy

Lại rồi hạn hán cháy lòng

Mùa màng rộp bỏng

Cả làng lũ lượt rủ nhau đi làm mướn ăn đong

Xác đò nằm chết bên sông

Gió không không khốc thổi bong lời nguyền

Gập ghềnh nhớ quên

Vòm trời mùa Đông lấm lem

Không mây nào rửa sạch

Nỗi buồn mang hình ngôi sao

Niềm vui mang hình mảnh vỡ

Những cơn bão không đo bằng sức nóng

Thổi vặn mình sông Phan

 

 

Lật một thời mới sang

Màu lúa xanh, xanh miền Yên Lạc

Cánh cò vỗ trắng mơ màng

Vướng vào chiều thả nắng vàng lơ thơ

Sông quê nửa chảy nửa chờ

Dòng sông dát sáng đôi bờ nhân gian.

 

 

 

 

 

 

TRƯỚC CỬA MÙA ĐÔNG

 

Khi chiếc lá vàng tự dứt khỏi cảnh

Ở vườn nhà tiếng chim thưa vắng

Gió bấc thổi mặt đồng ràn rạt

Sóng quật nhàu sông, trời đất héo mòn

 

Chúng mình bắt đầu lạc nhau ở đâu

Bước trước đã sai, bước sau còn có lạc

Em thay em – để thành người khác

Anh y nguyên châm đuốc tìm anh

 

Em chờn vờn giữa khói bụi vô tình

Tôi ướt sũng, dầm trong men rượu

Hai đầu nhớ - thương cồn cào cơn khát

Chợt thắt lòng khi thức trở về xa.

                               Đông Lỗ, 11-2002

 

 

 

 

 

THÁNG GIÊNG Ở TRUNG NGUYÊN 

 

Tháng giêng về tấp nập ở đền Tranh

Sông Phan thức trườn mình qua giá lạnh

Nơi truyền thuyết đượm màu thần thánh

Rước mùa xuân đến cõi an lành…

 

Nhớ ngày xưa còn bé lanh chanh

Mò ốc bắt cua trên cánh đồng Trổ Chảy

Gặp đàn cò đợi tháng Giêng ở đấy

Xơ xác đám bèo phờ phạc vạt cỏ may

Nước sông Phan chảy quên tháng quên ngày

Bồi đắp lên đồng Tân, đồng Má

Gia phả làng đã tạc vào bia đá

Mấy trăm năm Đông Lỗ đã lập đền

Những cuộc hành hương cứ nối dài thêm

Nước mắt mồ hôi môi người nếm trải

Bao cuộc đời Trung Nguyên ở lại

Gồng gánh tháng năm miết mải vững bền

 

Tôi đi vào giữa tháng Giêng

Bước xuân xanh đến Trung Nguyên trước rồi

Lấy lời “Bèo dạt mây trôi”

Buộc màu “hoa cải” bên trời đang bay

Cầm hai câu hát trên tay

Tung lên làm một ánh ngày nhuộm xuân.

                                  Trung Nguyên, Yên Lạc

 

 

 

 

 

 

THƯA CỤ NGUYỄN DU  

 

Lạy lời

cụ ngoảnh làm ngơ

cho tôi tấp tểnh làm thơ theo Người

lơ ngơ như hạt bụi đời

bay trong mù tít biết rơi chốn nào

nhân gian bao chuyện tầm phào

vô tâm cứ trút nháo nhào vào thơ

chẳng như các cụ ngày xưa

gượng câu vụng ý là chưa cất lời

 

Trong như tiếng hạc lưng trời

đục như nước suối nửa vời mới sa

tiếng khoan như gió thoảng qua

tiếng mau sầm sập như là đổ mưa(*)

 

Tháng năm mờ tỏ nhặt thưa

vẫn đây vằng vặc Nguyễn Du với Kiều

đèn khuya soi tỏ bao điều

mới hay thơ viết sáng chiều đã phai

 

Lời quê cụ chắp dông dài

ba trăm năm ngỡ một vài trống canh(**)

 

-------------------------

 (*) Bốn câu mượn ý thơ Nguyễn Du

(**) Hai câu mượn ý thơ Nguyễn Du

 

 

 

 

 

 

LỤC BÁT CHUYỂN MÙA

 

Chum tương vẫn đợi nón mê

dây hoa muống tím lê thê ao nhà

đêm làn trăng sáng qua loa

bói đâu ra một tiếng gà gọi canh

 

Cỏ may mọc rất tinh ranh

giàu đâu chưa biết đành hanh thì nhiều

lời điêu cũng đến là điêu

xót câu bầu bí nhiễu điều giá gương

giận càng giận thương càng thương (*)

mang câu lục bát ra đường mà treo.

 

-----------------

 (*) Dân ca Nghệ Tĩnh

 

 

 

 

 

 

CÕI VẮNG

 

Mái lá, tường vách, nền đất

nhà cất

ba gian hai trái

đón cổng một khóm tre gai

vườn vài cây cau

vóng vót

chỉ hoa không quả

tủi nhành

 

Sân không trẻ rêu xanh ngơ ngắt

hai nửa già xiêu vẹo mắc vào nhau.

                            Đông Lỗ, 1-2001

 

 

 

 

 

 

 

TÂY THIÊN VỌNG CẢNH

 

Tây Thiên tự cổ danh lam thắng

Nguồn mạch tâm linh chảy vĩnh hằng

Thạch Bàn vời vợi mây đề trắng

Trường Sinh thăm thẳm nước lưu xanh

Bát vị kim cương tiên vãng cảnh

Đá thần chín cội vọng thiên thanh

Thác Bạc đổ trời tràn lũng vắng

Ngàn tuổi thong còn thổn thức trăng.

 

 

 

 

 

 

TRÊN CÁNH ĐỒNG HOA CẢI 

 

Sẽ tẻ nhạt mùa đông nếu không hoa cải

Màu vàng nhuộm tôi vàng tận đáy chiều

 

Những bông hoa đánh thức nhịp thở đất

Những cánh bướm đến từ khi nào, hay đồng cải

                                        vừa thả ngàn đôi cánh

Những đôi cánh dịu dàng đi vá heo may

Vá nỗi buồn mùa đông trên lạnh lùng sương cỏ

 

Chảy vào tôi một màu vàng khác hồi hộp trên

                                             cánh đồng quê xa

Có một màu vàng nữa, và nhiều màu vàng nữa

                                            ùa ra từ mùa đông

Những màu vàng bỏng cháy khát vọng

Và ánh lửa dịu dàng trong mắt em kia

Đánh thức dòng sông ngái ngủ

Đánh thức những bước chân mồ côi và lưu lạc

                                                        cánh đồng!

 

Những con sóng vàng dâng lên như thể không

                                       còn màu hoa cải nữa

Màu nắng huy hoàng

Màu những dòng tâm thức cuộn chảy…

Tôi bay lên trên vàng rực cánh đồng hoa cải

Bay chính bằng đôi cánh đất đai.

 

 

 

 

 

 

CHỜ EM ĐÊM HÁT VÍ

 

Dùng dằng mãi dễ gì đi được

Ánh mắt dao cắt không đứt

Lời hát quấn hơn dây rừng

Ún à ún ơi…

Hoa trẩu trắng rắc nhòe đêm trắng

Gió vuốt câu hát trong dài như con suối đầu bản

Cần rượu hút cạn lời thương

Anh đứng chờ em nhẵn gốc đêm

Lời hay em để ở cầu thang

Rớt xuống lòng anh ướt át

Bao năm bươn trải sợ chi suối cầu, đèo dốc

Một lời ướm hỏi thế mà rất lâu

 

Hỏi mãi xa biết ai còn đợi

Chỉ sợ cái bếp vơi dần mong nhớ

Sợ quả trên cây một mình chín vội

Bắc thang lên Mường, Mường có cài then?

 

Kìa em, kìa trăng đã lịm núi xa

Con hoẵng gọi tình rung đầu suối

Ngọn gió một mình buồn rạc lá khô

Anh đứng một mình mà chân đắng cỏ

Chờ em chờ em

Câu ví cong sàn…

 

 

 

 

 

 

ĐỌC TRÊN ĐẦU MẨU THUỐC LÁ

 

Lăn lóc nơi hẻm phố, trong bụi cây, hay nền

                                               văn minh sọt rác

Cuộc giãy chết dưới gậm giày, tua du lịch dưới

                                                 cơn mưa mùa hạ

Tôi ngược những thú mê

Cuộc đối thoại của hai vùng tối sáng

Miền khoái cảm lên men hay tiếng nấc nỗi buồn.

 

Tôi cố đọc những tín ngữ trên đầu mẩu thuốc lá

                                           người ta vừa quăng ra

Đâu tiếng nấc của bè trầm thế sự

Cái đầu mẩu ngắt ra từng sợi sống vô hình

Từng hồi hộp quả tim sáng tạo

Hay bạc nhược

Tất cả sẽ cùng lên con tàu về văn minh bãi rác.

 

Có một thiên đường trắng, những ngày

                                             mong manh trắng

Chỉ tiếc những nụ hôn vừa cởi ra từ chiếc mồm

                                                         ngậm đầu mẩu

Những nụ hôn, tôi không tài nào đọc được

Sự sống hay sự chết

Khi bắt đầu lửa châm.

                               28/10/2006

 

 

 

 

 

 

VỚI SỎI 

 

Lũ sỏi

Không biết no, biết đói

Lăn lóc với đồi

Lũ sỏi mồ côi

 

Ta quê đồi

Bạn bè cùng sỏi

Gái chơi ô ăn quan

Trai lấy sỏi làm đạn súng cao su…

Đêm hoang hoải nồng khê

Lem luốc sỏi ngủ ngon trong túi áo túi quần

 

Những đứa trẻ xưa

Giờ đã thưa dần

Đứa chết trận, đứa thì ngã bệnh

Người con thành cụ thành ông

 

Lũ sỏi đồi mồ côi bây giờ vẫn lông bong

Không nhà không cửa

Không già

Không lớn.

 

 

 

 

 

 

 

LỤC BÁT XUỐNG DÒNG

 

Chiều vàng lưng lửng chân mây

Cánh chim vẽ nửa nét ngày vào đêm

 

Hình như sông muốn dòng êm

Mà sao cơn gió lại chêm sóng vào

 

Đã qua chìm nổi ba đào

Kể gì lời nọ tiếng nào sau lưng

 

Cây cao cứ phải cậy rừng

Dưới đồng cỏ vẫn tưng bừng mọc lên

 

Một lần gặp đã nên quen

Phiền ai bày vẽ đốt đèn tìm nhau?

 

Đã yêu nào ngại sông sâu

Lấy câu lục bát bắc cầu đón em.

                           Sông Phan, 6-2009

 

 

 

 

 

 

 

BÀI GIẢNG CUỐI CÙNG

 

Thầy nằm thiêm thiếp trên giường

Vóc mai mình hạc tóc sương da mồi

Cảm như lớp lớp sóng dồi

Cồn lên bao những nỗi đời sôi quanh

 

Một thời lửa đạn chiến tranh

Từng trang giáo án nở thành mùa hoa

Một thời mưa nắng nhạt nhòa

Bảng đen phấn trắng nối ra chân trời

Dạy trò tâm đức làm người

Bầu trời tri thức lẽ đời nông sâu

 

 

Thời gian vun vút vó câu

Lứa trò ngày ấy giờ đầu phủ sương

Hành trang từ một mái trường

Sĩ phu đã trải công thương đã từng

Gia tài kẻ gánh người bưng

Vẫn vằng vặc nỗi niềm chung đủ đẩy

 

Như đàn chim nhỏ gọi bầy

Bữa nay lại tụ về đây bên thầy

Mắt thầy sương khói dâng gầy

Bàn tay gió nắm bàn tay từng trò

Một đời sông một bóng đò

Bao nhiêu nhân nghĩa qua bờ nhân gian!

 

 

 

 

 

 

 

 

 

     

LÊ THUẦN THẢO

 

- Họ và tên khai sinh: Lê Tốn

- Bút danh: Lê Thuần Thảo

- Sinh năm 1942

- Quê quán: Xã Thạch Thanh, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh

- Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam

- Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật Vĩnh Phúc.

 

- Tác phẩm chính đã xuất bản:

* Viên Hồng Ngọc (Tập truyện ngắn, NXB Thanh niên, 2000)

* Hồn Cây (Tập truyện ngắn, NXB Thanh niên, 2002)

* Heo may xào xạc (Tập truyện ngắn, NXB Văn học, 2006)

* Giáo giới trường tôi (Tập truyện ngắn, NXB Văn học, 2007)

* Con gái Vĩnh Tường (Tập thơ, NXB Văn học, 2007)

* Lời quê (Tập thơ, NXB Văn học, 2008)

* Bừng thức ngàn mai (Tập truyện ngắn, NXB Văn học, 2009)

* Một thoáng thu (Tập thơ, NXB Văn học, 2010)

* Lai láng tình quê (Tập truyện ký, NXB Văn học, 2011)

* Ký ức xôn xao  (Tập truyện, NXB Kim Đồng, 2011)

* Khảm chữ trên non  (Tiểu thuyết, NXB Văn hóa Thông tin, 2012)

* Những giai thoại  (Tập truyện ngắn, NXB Văn học, 2012)

* Trăng quê  (Tập thơ, NXB Văn học, 2015).

- Giải thưởng văn học:         

* Giải thưởng Báo Văn nghệ năm 2000 và 2005

* Đồng giải Khuyến khích, Giải thưởng VHNT Vĩnh Phúc 5 năm lần  
   II (2000-2005), lần III (2006-2010).

- Suy nghĩ về nghề văn:

     Nghề văn thật công phu và thật khó.


 

 

A - MỘT SỐ TÁC PHẨM TIÊU BIỂU

 

BẤT NGỜ ĐÊM TRỪ TỊCH

 (Truyện ngắn)

Hắn sinh năm Giáp dần. Có phải vì cái tuổi đầu hổ này mà hắn sớm ngang ngạnh. Năm cuối bậc phổ thông, trong một bài báo tường hắn viết: “Quê hương tôi, một thị xã nghèo thường xuyên leo lét đèn dầu vì luôn luôn mất điện. Vào đầu đêm, thị xã như đã chết rồi, quán xá vắng teo, nhà nhà sập cửa, chỉ có gió xạc xào đuổi theo những chiếc lá khô tả tơi trên đường vắng và ai đó tỏng tai có thể nghe tí tách, tí tách tiếng bóc lạc âm thầm của đám thị dân lay lắt sống bằng nghề đón lạc củ sáng này, bán nhân lạc ngày hôm sau. Thi thoảng nghe lao xao ai đó vừa bị bắt vì buôn lậu và đâu đó vừa vỡ đường dây chơi hụi có đứa vào tù, khối nhà vỡ nợ, tức tưởi tiếng khóc của kẻ lừa người và người bị lừa…”. Một đoạn khác hắn viết: “...Tôi yêu các nghề làm ra sản phẩm cho xã hội nhưng biết tìm học nơi đâu?! Học xa thì nhà không có lực mà học gần thì người ta toàn mờ lớp đào tạo các nghề cạo giấy, nghề phát triển môi mép và bán buôn nước bọt…”.

Bài báo của hắn rõ ràng là tiếng kèn lạc điệu. Hắn bị phê bình, bị kiểm điểm. Đời học trò của hắn kết thúc như thế, tạo cho hắn có ít nhiều mặc cảm.

Bố mẹ cho hắn chiếc xe trâu để vào đời: Chở than, chở thuê … vất vả sớm tối. Lợi dụng phố không có biển cấm, có hôm hắn cho xe trâu đỗ nghênh ngang ngay trên sảnh toà thị chính. Lúc cuối chiều vãn việc, cầm hững hờ cái “vô lăng giây”, hắn nghêu ngao câu thơ cổ: “Đời liệt lạt nhiều nên kém bạn, người mòn mỏi hết phúc còn ta”. Có kẻ qua đường bảo “đọc sai rồi”. Hắn trợn mắt lườm, buông gọn một tiếng: “Hử”! rồi tiếp tục nghêu ngao.

Biết hắn sắp hoá rồ, mẹ hắn khóc, xin ông cậu dưới xuôi cứu hắn. Ông cậu có công ty làm ăn ở nước ngoài về mời hắn sang làm loong toong. Sang bên đó hắn học tiếng rồi xin đi học một lớp thợ cơ khí, và làm cho một hãng, có thu nhập ổn định. Chỉ tiếc khi hắn làm ra đồng tiền thì bố mẹ đã về cõi thiên thu, anh em nhà hắn cũng đã ra riêng ai đầy phận nấy. Qua thư, qua “chat” hắn cũng biết thị xã xưa giờ đã nên thành phố, làng ngoại thị quê hắn nay đã lên phường, cái vườn đồi ba sào của nhà hắn nay vào đất khu công nghiệp, anh em nhà hắn nhờ được đền bù đã tạm gọi là có một cơ ngơi. Mừng cho quê, mừng cho nhà, nhưng hắn vẫn ám ảnh bởi những bữa cơm đậu sắn triền miên, tiếng bóc lạc canh khuya, tiếng khóc tấm tức của nhà nhà vỡ hụi và sợi “vô lăng dây” vắt riệt lòng thòng trong cái thị xã bé nhỏ mà hắn đã thuộc như lòng bàn tay. Nghe vậy, hay vậy chứ ở xứ người hắn phỏng đoán, từ làng lên phố phải diện tiến cả trăm năm…

Trước cổng nhà hắn có cô bé kém hắn mười tuổi, hôm tựu trường tiểu học, bố cô bé sang nhà bảo hắn:

- Ngày ngày anh đi học cho em đi theo với, vì hai trường cũng ở gần nhau.

Thế là từ đấy, hắn ra cổng thì cô bé cũng ra theo. Những ngày đầu hắn trêu:

- Rửa mặt chưa mà đi học?

- Rửa rồi mà, còn lấm à, chờ em về lau lại.

Vài bữa sau hắn lại hỏi:

- Đã đánh răng chưa mà đi học.

- Đánh răng tối hôm qua rồi .

- Về đánh lại. Mồm hôi lắm!

- Anh ngửi thấy à! Vâng! Chờ em với nhớ.

Thế mà hai anh em theo nhau suốt mấy năm học. Thường ngày, em tan học sớm, cứ đến bên cửa sổ lớp đứng chờ. Nhớ cái hôm lớp kiểm điểm bài báo tường. Hắn đang nóng mặt thì thằng bạn ngồi cạnh lại leo lẻo.

- Kìa, nhận khuyết điểm đi để về, kẻo “người ta” chờ!

Cáu tiết, hắn túm cổ áo thằng bạn, vung tay … giữa lúc ấy thì ngay bên cửa sổ có tiếng thét.

- Ôi! Đừng.

Nhờ tiếng thét ấy mà tay hắn phanh kịp. Nếu hôm ấy có thêm quả đấm cho thằng bạn thì chắc chắn đời hắn xuống đáy!

Bây giờ cô bé lọ lem ấy đã tốt nghiệp đại học, đang làm tư vấn kỹ thuật cho một công ty kiến trúc. Chị hắn gọi điện sang:

“Con bé xinh, nết na, thuỳ mị, vẫn thân thiết với cả nhà, nó tỏ ra rất quý mến cậu. Cậu về ngay đi không thì đứa khác nó “tậu” mất đấy. Hoài của!”. Rồi chị cho địa chỉ, điện thoại. Chị còn nói thêm: Hôm nọ chị nói vui “Có ưng làm em dâu chị không?” Nó bảo: “Ở bên ấy thiếu gì. Anh ấy quên em rồi”.

Quả vậy, bên này nhiều người thấy hắn làm ăn tử tế, người ta cũng thương. Ở đây bất kể dân thầy, dân thợ, nếu sống đàng hoàng, thu nhập ổn định, hợp tình hợp lý là yêu nhau, lấy nhau, không quá nề hà về màu da, bằng cấp. Những lời chị nói nhắc hắn trở về những xao xuyến tuổi thơ và hắn hiểu rằng em là cái mỏ neo níu giữ lại cho hắn những kỷ niệm êm đềm về vùng quê nghèo lam lũ, cực nhọc và một thuở thiếu thời không hẳn vô tư. Hắn bắt liên lạc với em và hai người đã thư, chat cho nhau hơn một năm nay. Hắn hẹn em: Sắp tới anh sẽ về!

Dù ngoài ba mươi tuổi nhưng cái máu khùng trong hắn vẫn còn tiềm ẩn. Hắn sẽ mua vé chuyến bay đáp xuống lúc hai mươi hai giờ, mấy chục phút tắc xi là đến vùng quê nghèo của hắn. Hắn sẽ vào nhà đường đột như từ “trên trời rơi xuống” cho cả nhà anh hắn tròn xoe mắt ngạc nhiên, rồi hắn sẽ sang nhà chị hắn cho chị và các cháu “mừng rú lên” và … Em. Hắn cho em điều bất ngờ nhất “ Rủ em đi hái lộc giao thừa”!.

Suốt mười lăm giờ bay, hắn không ngủ. Lúc này hắn mới cảm nhận đầy đủ hai tiếng Quê Hương, mới ngộ ra được nỗi nhớ tình thương ruột rà, mới thấu hiểu nỗi day dứt của tứ thơ ai đó “Nơi ta ở chỉ là nơi đất ở, lúc ta xa đất bỗng hoá tâm hồn”.

Hành lý rất gọn nhẹ. Thủ tục nhập cảnh ở sân bay thật đơn giản, nhưng chiếc tắc xi dập dình lắc lư đưa hắn trên quãng đường từ phi trường về thành phố quê hương mất gần tiếng đồng hồ vì đang sửa đường. Trước mắt hắn hiển hiện một vùng sáng lung linh. Vùng đất xứ nào đây? Đường to, điện sáng, nhà cao ốc, nhà cao tầng nhấp nhô, ở đâu cũng rực rỡ đèn. Mùi hoa xuân, mùi hương tết quyện đầy không gian thành phố. Trai gái đi lại thong dong, những ô tô hòm sang trọng dập dìu. Nhà nhà mở cửa chuẩn bị chào xuân. Theo định hướng hắn bảo tắc xi đánh về làng cũ. Ôi! Quả đồi xưa! Nơi bao đời là làng quê, nơi chôn rau cắt rốn của hắn và cả họ nhà hắn, đã trăm năm quần tụ êm đềm thì nay mọc lên một khu công nghiệp kín cổng cao tường. Hắn hỏi người gác cổng:

- Cho tôi hỏi thăm nhà bà con làng Hà xưa ở đây.

Người gác cổng trả lời rất lịch sự: -Báo cáo anh, bà con làng Hà đã được nhà nước đền bù di dời đi nơi khác, tôi ở nơi khác đến nên cũng không nắm được.

Cho xe lộn ra bưu điện trung tâm, định qua số máy nhà anh chị hắn mà tìm ra địa chỉ, nhưng chị bưu điện bảo:

- Làng Hà bà con tản mát về các phố mới, có phố đã có tên, có phố đang ở thời kỳ hình thành nên chưa có tên…

Hắn lại hỏi mua một chiếc bản đồ thành phố. Chị bưu điện lịch sự lắc đầu mà thưa rằng:

- Thành phố mới lập, có lẽ chưa kịp in bản đồ. Tụi em chưa có!

Cậu lái tắc xi tuy tỏ ra rất lịch sự và năng nổ nhưng cũng không dấu nổi vẻ nóng lòng sốt ruột. Cậu ta nhắc khéo:

- Anh ơi, nhà em giờ này có mình mẹ em ở nhà. Chắc là cụ mong em lắm!

Lúng túng quá. Hắn xin lỗi chú lái xe và vội vàng dúi vào tay chú tờ giấy năm mươi ơ-rô. Thấy chú lái tần ngần móc túi như tìm tiền thối lại, hắn xua tay nói:

- Em về đi, cho tôi gửi lời chúc năm mới bà cụ. Tôi ở đây gọi người nhà ra đón.

Thế là phương án đột kích tạo bất ngờ cho đêm giao thừa tan vỡ. Hắn đành phải gọi điện báo về! Hắn sẽ gọi ai đây? Anh hắn? Có thể giờ nay đang thắp hương bàn thờ gia tiên. Anh rể hắn hay chị gái hắn? Chị ấy không biết đi xe máy, còn anh rể hắn là thương binh chỉ còn một tay! Các cháu còn bé. Hắn gọi em:

- Anh chúc mừng em nhân dịp xuân mới.

- Ôi! Em chào anh! Anh khoẻ không? Thế mà em linh cảm như tết này anh về. Em và chị Hoà vừa nói về anh.

Hắn nghe được cả hơi thở dồn dập, giọng nói gấp gấp, quen quen.

- Anh về rồi đây. Anh đang ở Bưu điện trung tâm.

Nhịp thở gấp hơn và tiếng nói hồ hởi của em.

- Chị Hoà! Anh Cát đang ở Bưu điện. Chị nói chuyện với anh ấy đi. Và tiếng chị gái tôi xen vào máy:

- Em Hiền đang chơi ở đây, chị em đang rủ nhau đi hái lộc đầu xuân. Lại có tiếng đứa cháu nói xen vào.

- Mẹ cho con theo cô Hiền đi đón cậu và tiếng chị tôi dỗ dành.

- Để mình cô Hiền đi đón cũng được, mẹ con mình sang nhà cậu Lâm bày cỗ đón cậu Cát về.

Em phi xe máy đến ngay. Hắn ngỡ ngàng vì không thể tưởng tượng ra cô bé ngày xưa bây giờ trẻ trung, xinh tươi dễ thương đến thế. Thấy em, cô Bưu điện mỉm cười, khuôn mặt đôn hậu rạng rỡ vui, vừa lúc chuông giao thừa đã điểm. Hắn giật mình vì tiếng nổ pháo hoa vang lên giữa đỉnh đầu. Hiền và hắn say sưa ngắm muôn màu hoa sáng rực, từng chùm, từng tia, lung linh tung bay. Bất giác hắn nắm tay em. Hai người tay trong tay nhìn trời hoa muôn hồng ngàn tía. Em thì thầm:

- Đẹp không anh?

- Đẹp lắm. Đã bao nhiêu giao thừa ở trời Tây anh đứng bên bờ sông Xen, cạnh chân tháp Ép Phen, nhìn pháo hoa rực rỡ lung linh thủ đô ánh sáng nhưng chưa có đêm pháo hoa nào hạnh phúc tựa đêm nay./.

 

 

 

 


 

CỤ VẼM VÀ TỔ DÂN PHỐ

 (Truyện ngắn)

Bây giờ có những khái niệm thông thường mà ngay cả những người tốt nghiệp Đại học cũng không biết. Ví như chòm, thôn, xóm ở xứ nhà quê hay khu phố, khối phố, tổ dân phố, tiểu khu dân cư, khu dân cư ... ở thành thị. Xin mời quý vị độc giả hãy nêu định nghĩa về các danh từ đó để rồi cãi nhau – tranh luận với nhau ấy mà – cho vui cửa, vui nhà, vui phòng làm việc. Ấy! Nói đến “phòng làm việc” lại chạm đến một khái niệm nữa. Phòng làm việc là gì? Có người bảo phải gọi là “phòng không làm việc” mới đúng. Hẳn độc giả phải sốt ruột bảo: “Ông định viết về cái gì thì “nói toạc móng ... voi” ra việc gì cứ phải vòng vo Tam Quốc mãi!”

Vậy! Thì đây. Tôi đang nói về lão Vẽm, sáu mươi tuổi, cán bộ hưu trí, nguyên trưởng phòng cấp Sở lâu năm. Làm trưởng phòng lâu năm nên về hưu lão nhớ cái đọc, nhớ cái viết, nhớ cái nói. Nhớ đọc, lão đặt tờ nhật báo vừa lá cà, vừa lá ngãi, hai chục trang báo, đọc đến phát chán. Bây giờ báo về lão chỉ đọc các tít, trước khi ngủ lão đưa báo ra xem rồi tiện xuôi tay úp báo lên mặt. Ngáy!

Lão có viết và được đăng thơ và văn xuôi. Lúc đầu được đăng đều đều, về sau đăng thưa dần và cuối cùng thì không đăng nữa. Việc này rất tế nhị. Lão phải dò hỏi mãi, mới có một lão biên tập ngoại ngũ tuần bảo lão: Bây giờ “đất” cho văn chương không nhiều, nên phải ưu tiên cho người viết trẻ, họ không cần tiền mà cần “tiếng”. Cái “tiếng” to hơn cái “miếng”, nên nhiều khi có bài được đăng họ mua hàng chục số báo biếu, còn nhuận bút họ không quan tâm – của đáng tội nhuận bút cũng bèo bọt lắm-nhưng tích tiểu thành đại, cuối năm cái khoản này tồn đọng cũng kha khá. Vả lại thơ của bác vần quá. Thơ mà vần quá là không hiện đại. Hiện đại cả ý lẫn lời kia: “Đôi ta như vợ chồng Ngâu. Ăn ở đâu – Ngủ ở đâu – Cũng tình”.

Như vậy đấy! Nghĩa là thơ bây giờ ông bà Ngâu không cần chim Ô Thước bắc cầu. Ông bà ấy ở bất kỳ đâu đều “hẩn hảo” cả. Còn bác thì không chấp nhận cái logic này. Ấy! Bác “hỏng” ở chỗ đó.

Nghe vậy lão hiểu ngay. Chuyện vợ chồng Ngâu vốn nó đã là hư ảo, bây giờ ngay cả cái “hư ảo” mong manh ấy người ta cũng không chấp nhận. Người ta cần cái hiện thực là họ ăn nằm với nhau thôi. Như đã hiểu ra vẫn đề lão Vẽm tự ghi vào trang văn chương trong trái tim mình một chữ “Rõ!” viết in hoa kèm theo một dấu chấm than xa xót.

Lão nhớ nói! Bao nhiêu hội nghị, hội thảo từ cấp xã, phường đến cấp huyện tỉnh và kể cả hội nghị cấp Bộ đã nhiều lần lão được nói. Bàn tay lão những ngày đầu còn rụt rè, về sau mạnh dạn hơn và gần lúc nghỉ hưu có lần lão dám cởi phăng cúc áo zi-lê vung tay chém gió rất hùng hồn. Lão thầm nghĩ rằng về hưu lão sẽ có điều kiện để nói. Lão sẽ hàn huyên tâm sự với vợ, bảo ban con cái làm ăn rồi kể chuyện ngày xửa ngày xưa cho các cháu. Ôi! Hạnh phúc làm ông, ôm cháu vào lòng, vừa rung đùi, vừa kể, những Thạch Sanh, Tấm Cám ... kể cả những câu chuyện hình sự, trinh thám mà ông nội lão đã kể cách nay gần tròn một Hội. Với phường phố lão sẽ chân tình góp ý, đề xuất ... Nhiều lắm những suy tư ấp ủ của lão. Có ý đẹp rồi, lão sẽ chọn lời hay, những lời có cánh êm ái dễ nghe nhất và biết đâu ý kiến đó chẳng mấy lúc được thấu từ phương lên phố và lan tỏa đến cấp cao hơn. Nghĩ đến đó lão thấy vui, niềm vui hệt như thời niên thiếu, lão từng vác cây súng gỗ, tập đều bước một hai và xếp hàng lên sân khấu ké vai nhau hát bài “Kết đoàn”.

Lão có bà vợ, ngày trẻ thì hon hón xinh.  Ngót sáu mươi mà da dẻ trông còn có vẻ màu mỡ lắm. Lão lân la tâm sự và muốn ngủ chung cho vui vẻ. Bà ấy phản đối:

- Nỡm! Cái ông này. Tôi vào “Hội bảo Thọ” với các bà ở tổ dân phố rồi. Ngủ với ông để nghe ông ngáy à? Chưa kể rằm – mồng một lên chùa làng không sạch sẽ thì phải tội! Nếu mình đã chót phải tội, thì phải xin nghỉ đi chùa. Các vãi biết lại chả cười cho thối mũi.

- Ấy – Lão cãi - Ở quê người ta mới quan niệm thế, bây giờ làng mình lên phố rồi! Phố phải khác chứ!

- Phố khác làng – bà vợ lão cãi – Nhưng xưa nay đã vào “Hội bảo thọ” thì phải kiêng. Với lại tôi còn chăm cháu. Hai ba hơi thì cháu nó kém thông minh, học giỏi làm sao được. Mà bây giờ con cháu nhà ai cũng toàn giỏi là giỏi. Năm ngoái nghe nói có cháu nào đó cuối năm không đạt giỏi khóc đến chết ngất ngay trong lớp, phải đưa đi cấp cứu ở bệnh viện Nhi Trung ương. Tiếng loang ra cả tỉnh, nhà trường phải họp khẩn, cho cháu lên loại giỏi. Cô giáo Hiệu trưởng về bệnh viện thăm cháu và phát giấy khen học sinh giỏi ngay tại giường bệnh. Phát thưởng hôm trước hôm sau cháu ra viện. Bây giờ nghe nói cô hiệu trưởng đã được phong là Nhà giáo Ưu tú, được cấp trên điều về Sở hình như làm trưởng phòng hay giám đốc gì đó. Thi thoảng vẫn thấy nói trên ti vi.

Nghe bực mình, lão nói to:

- Thế là sai! Thế là láo rồi bà ơi! Tôi đọc sách – sử thấy thời Bảo Đại, người ta khuyên học trò là “cố gắng học hành tấn tới”. Thời Bác Hồ thì người ta chúc các cháu tiến bộ mãi. Theo điều tra tâm lý học thì số người giỏi trên địa cầu này chỉ chiếm năm đến mười phần trăm thôi. Mỗi lớp chỉ có vài ba em học giỏi là vừa. Vì vậy nói “học hành tấn tới” hay “tiến bộ” là nói đúng. Việc phấn đấu học hành là một quá trình rèn luyện. Đằng này như bà nói giỏi cả lớp thế là siêu thực, là phi lý. Các cụ dạy “Mười ngón tay có ngón dài ngón ngắn”. Vậy thì bao giờ mười ngón tay bằng nhau chằn chẵn thì mới có cả lớp học giỏi...

Nghe ông nói gay gắt mà có lý, bà phải dùng võ của phái yếu:

- Ơ! Sao ông lại to tiếng thế. Ra ngoài thì ông nhẹ nhàng, với các bà các cô thì ông ngọt nhạt: anh anh - em em. Bao nhiêu năm ông bay nhảy tung tẩy tôi đã không nói gì, bây giờ về nghỉ, ông chẳng giúp gì cho vợ con lại còn cãi vã, hà hiếp. Rồi bà gục mặt vào đầu gối “hu...hu...”. Bà khóc!

Lão im, một cảm giác gai gai, lành lạnh, lan từ xương sống lên đỉnh đầu. Nén tiếng thở dài, lão đủng đỉnh rút lui trong im lặng. Từ đó lão hết đòi ngủ chung cho tình cảm nữa.

Lão có hai thằng cháu, một thằng học cấp hai, một thằng học tiểu học. Đều có giấy khen học sinh giỏi liên tục, Bằng khen treo kín vách nhà. Thằng bé tiểu học gần ông nhiều hơn, tính nết cũng trẻ con hồn nhiên lắm. Ông kể chuyện ngày bé ông đi học, phải đi bộ, buổi sáng nhịn suông, trưa đi học về đói mờ cả mắt. Thằng bé hỏi lại:

- Tại sao mẹ ông không dỗ ông ăn, mà ông phải nhịn.

- Tại ngày ấy nhà nghèo, phải nhịn ăn sáng cháu ạ. Thằng cháu bảo:

- Thế thì con mèo nhà cháu đến bây giờ mà vẫn nghèo. Bố cháu làm giám đốc, lương to thế mà không cho con mèo một ít.

Nghe lạ, ông hỏi nó:

- Sao cháu lại bảo con mèo nhà cháu nghèo?

- Tối hôm qua, trước khi đi ngủ, bố cháu bảo mẹ cháu cái gì đó, hai người cùng cười rồi bố cháu bảo: “Chả nhẽ thịt thì treo mà mèo phải nhịn!”. Mèo phải nhịn, chắc là nó cũng nghèo như nhà ông ngày xưa thôi. Ông nhỉ?

Lão không biết trả lời cháu thế nào, đành im. Nhưng thằng bé vẫn không chịu nó gặng hỏi: - Ông nhỉ! Nhà con mèo nghèo nên phải nhịn. Ông nhỉ.

Đến nước ấy lão đành phải ậm ừ:

- Phải! Con mèo nghèo! Chẳng thế mà nó cứ hay kêu nghèo ngheo đấy thôi.

Một tối khác, lão kể cho thằng cháu nghe chuyện “Tấm Cám”. Thằng bé con, mắt ngời sáng hóng chuyện, tay mân mê cái cằm lão mọc lún phún râu làm cho lão sung sướng hạnh phúc đê mê. Đến đoạn cuối, cô Tấm được làm vợ vua, lão kết luận: “Thế là từ đây đời cô Tấm không còn khổ nữa quả là ở hiền gặp lành”. Chợt thằng cháu lớn ngồi bên bàn học nói chõ vào:

- Sao thế. Cô Tấm ác thế sao ông bảo là hiền được! Thầy cháu bảo ...

Nghe câu nói xiên ngang làm lão vừa tức, vừa cụt hứng, vừa làm lão mất “uy tín” với thằng bé con. Lão hỏi lại, giọng hơi xẵng:

- Thầy nào bảo thế?

- Thầy giáo dạy môn Giáo dục Công dân trường con. Hôm giảng về Bộ Luật Tố tụng hình sự, thầy liên hệ: “Việc làm của cô Tấm ở phần cuối truyện Tấm Cám là hành vi giết người. Chiểu theo điều ... khoản ... của Luật Tố tụng Hình sự thì cô ấy phải chịu hình phạt tử hình. Hành vi giết người rồi muối làm mắm là một tình tiết giết người man rợ, cần phải tăng nặng hình phạt là tử hình. Không cho kháng án. Cộng lại cô Tấm phải chịu hình phạt tử hình. Thầy cháu dạy Giáo dục Công dân có nhiều bài giảng hay lắm, liên hệ sâu sắc lắm. Từ bữa đó lão không dám ho he kể chuyện ngày xửa ngày xưa cho các cháu nghe nữa. Ông thầy giáo gì đó đã liên hệ vậy thì đúng là cô Tấm cũng... Tự lão hồ nghi với chính mình!

Thằng cháu lớn có cái máy tính được nối mạng để học thêm. Nhiều hôm nó tìm các tri thức trong máy tính để làm bài, khiến lão vừa vui, vừa tự hào, hậu sinh khả úy. Tối hôm ấy có chén rượu, lão nằm lơ mơ, thấy thằng cháu bé hỏi thằng cháu lớn điều gì đó. Tiếng thằng cháu lớn bảo:

- Dễ, bài ấy có trong máy tính, để anh “lôi ra” cho mà xem.

Một lúc nghe thằng cháu bé nói thì thầm:

- Bài văn dài thế, anh đọc hộ để em chép cho nhanh.

Rồi ông nghe tiếng thằng cháu lớn đọc rõ ràng, chậm rãi:

“Nhà em có nuôi một ông nội ...” Lặng một lúc, tiếng thằng cháu bé hỏi: “Đầu bài cô giáo ra là viết về ông em cơ mà! Sao anh lại đọc là “Nuôi một ông nội!”. Tiếng thằng cháu lớn:

- Mày chậm hiểu thế. Ông nội chả là ông em thì là gì?

Thằng em cãi:

- Nhưng sao anh lại đọc là “có nuôi một ông...”

Thằng anh cáu

- Thì “Nét” nó viết thế đấy. Đây này. Chắc là sau khi xem, thằng em xác nhận:

- Ừ nhỉ. Anh đọc tiếp đi ...

Lão nằm yên lặng và xót xa. Văn mẫu như thế hay ai bịa ra câu mở đầu bài văn tai quái thế? Mai kia tả con lợn, con chim cũng tương tự khi thay danh từ “ông nội” bằng từ “con lợn” hay “con chim chích chòe” ...

Lão thở dài, thở ngắn, rồi thở đều đều ... Lão ngủ.

Sau mấy cái va chạm nho nhỏ ấy, Lão và hai đứa cháu như có phần xa nhau hơn. Dưới con mắt ông, thằng cháu nhớn không phải là đứa trẻ con như ông nghĩ, mặc dù nó vẫn rất lễ phép chào hỏi, thưa gửi, gọi dạ bảo vâng. Còn thằng bé có vẻ mến anh, gần anh, phục và thân thiện với thằng anh hơn với lão.

Con trai, con dâu lão làm việc trên thị xã. Nó cho hai đứa cháu ăn ở với ông bà còn chúng nó ở trên căn hộ gần cơ quan. Thứ bảy, chủ nhật chúng nó về, cha con, ông cháu lại có bữa ăn tươi. Lương hưu của lão, lão vẫn giữ, không ai hỏi đến, trong khi mức sinh hoạt ông cháu hàng ngày vẫn tươm tất, chứng tỏ con trai và con dâu lão khu xử rất khéo.

Bữa ăn tươi có món thịt bê nhúng dấm, do con dâu lão đạo diễn rất hợp khẩu vị. Con trai lão mang ra bộ ly pha lê Bôhêmin trong vắt, hình khum khum như trái đào tiên và chai vang xanh Italia có tuổi gần bằng tuổi lão. Lão nghĩ bụng đây là sự tình cờ mà gặp chai rượu ngon hay con lão, con dâu lão đã sành ăn chơi đến mức này. Khui chai rượu rất sành điệu bằng một con dao tây đa năng, có cái dùi xoắn ốc để mở nút li-e của chai rượu vang rồi rót đều ra sáu cốc. Vợ lão đẩy ra, từ chối:

- Mẹ không uống rượu này

Thằng cháu lão nói:

- Bà nội cứ uống đi. Rượu này làm từ quả nho trồng ở vùng cao nguyên Tu Rin và Mi Lăng phì nhiêu trong giải đất ven sông Pô chật hẹp và màu mỡ. Thầy giáo con bảo ông tướng nước Pháp tên là Na-Pô-Le-On sang chinh phạt nước Italia, cũng mải mê rượu ngon và gái đẹp. Về cuối đời ông tướng ấy bị giam ở đảo.

Tự nhiên lão thấy bữa cơm vui vui, lão cầm ly vang trao cho vợ lão và nâng ly của lão lên nói to:

- Uống đi bà! Rượu này nhẹ mà ngon đây! Cả nhà nâng ly: Chúc sức khỏe.

Lão và con trai uống cạn ly, hai thằng cháu tham gia chừng năm mươi – năm mươi. Vợ lão và con dâu chỉ nhấp môi. Vợ lão nhăn mặt:

- Nó thơm thơm chua chua như mùi quả dứa ủng ấy nhỉ. Thôi để mời cha con ông. Nói rồi bà trút cốc rượu vào cốc của ông và của con trai.

Thoáng chạy vào bếp, con dâu lão mang ra một đĩa đầy bốc hơi, thơm lừng. Đặt đĩa vào mâm, miệng cười cười:

- Món mới đấy bố. Lươn xào sả ớt. Mời bố ăn nếm ... Nói rồi nó lấy đũa sạch, thìa sạch múc lươn vào bát ông. Khi lão đang ngả người vào thành ghế để rộng chỗ cho con dâu thao tác món lươn thì con trai lão đã rót ba cốc rượu đầy, một cốc cho lão và hai cốc cho vợ chồng nó, rồi nó đứng lên, lôi vợ nó đứng dậy và nói:

- Vợ chồng con chúc sức khỏe bố.

Lão thấy vui, lão cũng đứng lên chạm cốc và cạn ly. Con dâu lão cũng cạn ly. Nó uống một hơi, mạnh dạn như mấy con đàn bà táo tợn trong cơ quan lão hồi nọ vậy.

Vợ lão đã đứng dậy, hai đứa cháu đã xong bữa, con dâu lão đã buông đũa nhưng vẫn ngồi cùng mâm, ý chừng để “hầu hạ” hai cha con lão. Chai vang đã cạn mất ba phần. Lão nói:

- Giống vang xanh này, thơm, ngon, nhưng mà uống nhiều cũng ngấm. Lão đeo  mục kỉnh, nâng chai vang lên xem rồi nói tiếp “Sản xuất 1950, sau thế chiến II năm năm. Ngày ấy ở Italia rượu vang đang được sản xuất bằng thủ công. Già nửa thế kỷ rồi. Anh tìm đâu được chai rượu quý thế?” Con trai lão im, đứa con dâu nói đỡ:

- Rượu kính biếu đấy. Bồ của nhà con kính biếu bố đấy. Nghe vậy lão ngừng nhai. Nhìn thằng con trai “Hứ!” một tiếng. Thằng con buông đũa ra lời:

- Nhà con cô ấy hay đùa. Rượu này là của cái Ngọc bạn con, biết tin bố vừa về nghỉ chế độ nó gửi biếu. Bố còn nhớ cái Ngọc ngày xưa hay đến nhà ta rủ con đi học, bị chó nhà ta cắn, bố phải lai nó lên trạm vệ sinh phòng dịch trên tỉnh tiêm không? Tiêm được mấy mũi, thấy chó nhà ta không rồ, nó không tiêm mũi nhắc lại nữa. Bố băn khoăn mãi. Bố nhớ ra chưa?

- Ta nhớ rồi. Cái con nhỏ gầy đen như củ súng, nhà ngoài bãi sông chứ gì?

Con dâu lão:

- Vâng ạ! Chị ấy xưa đen, nhưng bây giờ trắng nõn nà, đạt tiêu chí Hoa hậu cấp phường ba bốn năm liền đó. Bây giờ đang là tổ trưởng dân phố của khu phố ta.

Lão chột dạ. Thôi chết. Ra nó là cái đồng chí vẫn điều hành mấy buổi họp tổ dân phố vừa rồi đấy ư? Xinh. Tươi. Nền nã. Nói năng thưa gửi lễ phép lắm. Không trách gì nó biết tên lão. Nó gọi lão bằng cụ. Hôm họp đầu tiên nó còn giới thiệu: “Báo cáo với bà con, hôm nay có cụ Năng, nguyên là cán bộ cấp tỉnh vừa được nghỉ chế độ về họp và sinh hoạt với tổ dân phố ta, đề nghị bà con nhiệt liệt chào mừng”. Cả hội nghị chừng ba chục người mà cũng vỗ tay lốp đốp râm ran. Cuối buổi họp hôm ấy nó còn nài: “Con mời cụ Năng! Cụ mới về, cụ có quý kiến gì góp ý cho chúng con”. Hôm ấy lão thấy mình được tôn trọng quá. Lão trịnh trọng đứng dậy cảm ơn lãnh đạo Hội nghị và hứa lần sau sẽ phát biểu. Lại được cả hội nghị vỗ tay một lần nữa.

Đến phiên họp sau, vẫn cái chị ấy điều khiển hội nghị. Lần này thì lão góp ba ý kiến: “Một là cái nhà nghỉ Ngọc Ngọc đầu phố ta, tôi thấy có nhiều cháu choai choai chừng mười lăm, mười bảy, như học trò cấp hai cấp ba mà cũng từng đôi nam nữ dắt tay nhau vào. Tầng một là quầy thuốc tây. Tôi thấy có bán cả bao cao su, thuốc tránh thai. Đề nghị bà con xem thế nào kẻo mà có khi nối giáo cho giặc, có khi gây họa cũng nên”.

“Thứ hai là có đoàn xe ben khổng lồ. Xe to đùng, mười mấy bánh, chuyên chở đất đá qua phường. Tiếng phanh xì xì, kin kít và đặc biệt là tiếng còi hơi chát chúa không ai chịu nổi. Phố ta có nhiều người già, trẻ con, lại có cả trường học tôi đề nghị phải có công văn báo cáo lên trên yêu cầu nhà xe bố trí đoàn vận tải ben đi tuyến khác xa khu dân cư”.

“Thứ ba là nhà trường tiểu học đã học hai buổi ngày, tối còn cho học trò đến nhà cô giáo học thêm. Học suốt ngày đêm thì còn lúc nào cho trẻ chơi, trẻ lớn. Hay nhà trường định đào tạo các cháu thành siêu nhân?”

Lão nói, cả hội nghị nghe. Cô chủ trì hội nghị ghi chép tỉ mỉ. Cô bé xinh thật, tóc dài, da trắng, khi ghi chép má nó hồng lên, môi chúm chím như mỉm cười. Lão nói xong, cô ấy nhẹ nhàng bảo: “Cháu cảm ơn bác, để rồi cháu báo cáo lên cấp trên. Mời các ông bà, các cụ, các cháu cho ý kiên thêm ạ”.

Chẳng ai nói gì? Thế là hội nghị giải tán.

Thằng con nói cắt ngang dòng suy nghĩ của lão:

- Còn ít rượu, bố con mình uống nốt bố nhỉ? Nói rồi nó với chai, cầm cốc. Lão nói:

- Từ từ. Con dâu lão đế theo.

- Bố với nhà con uống nốt, để con vào múc cháo mời bố. Cháo lươn bố ạ. Thấy nhà con bảo bố thích cháo lươn.

- Thế nhà cái chị Ngọc ấy làm gì ra tiền mà xây được cái nhà to thế?

- Nhà nó có đám đất bãi làm rau. Khi mở mang thành phố thì đất ruộng thành đất phố, nhưng đất rau vẫn còn. Mùa nào rau ấy, rồi bí, bầu, su su, ớt, sả, hành, mùi. Ngày ấy lớp con có hai đứa tên  là Ngọc. Cô này nhà làm rau, tụi bạn đặt là Ngọc –Hành; Còn cậu Ngọc kia nhà cũng trồng rau, bị bạn gọi là Ngọc Tỏi. Tụi con vào Đại học thì hai đứa cưới nhau. Vừa trồng rau, vừa buôn rau. Mua rau ở bãi Sông Hồng, bán rau ở đầu nguồn sông Chảy, sông Thao. Lại mua về măng, mộc nhĩ ... Cứ đi hàng hai chiều như vậy mà phất lên. Xây nhà nghỉ Ngọc – Ngọc và hùn vốn và vay ngân hàng mua ô tô tải mở công ty vận tải vật liệu xây dựng... Mấy năm nay xây dựng nhiều, nhà nó cũng ngày càng khấm khá.

Lão hỏi giọng có vẻ gay gắt:

-T hế ra cái đoàn xe vận tải đất đá, chạy ầm ầm như xe tăng, đạp còi hơi kêu như còi tàu hỏa là của vợ chồng nhà nó đấy à?

- Của vợ chồng nó phần lớn, nhưng lại đội tên con một ông cốp to tướng mà ai nghe cũng phải nể.

Con dâu lão bưng cái khay sứ lên với hai bát cháo đang bốc hơi hôi hổi. Con trai lão cầm cốc rượu đưa cho lão:

- Con mời bố. Ông con mình uống cạn cốc này rồi ta ăn cháo.

Nhận cốc rượu, lão chỉ uống một ngụm rồi đặt cốc xuống nói:

- Vang này chát quá.

- Đúng đấy ạ. Đây là vang chát, từ Italia xuất sang Pháp. Ở nhãn nó cũng ghi rõ rượu vang chát bằng chữ Pháp đấy. Lật nghiêng chai rượu vang nó đọc to Vin rude au gout. Rồi nó nâng bát cháo nóng về phía ông: “Con mời bố ăn cháo ạ, vợ chồng nhà Ngọc nó biếu chai rượu là quý bố chứ không có ý gì đâu ạ. Tụi nó rành mạch lắm, làm ăn là làm ăn, tình cảm là tình cảm. Bây giờ tụi nó không cư xử nhập nhằng như sách vở vẫn bịa ra đâu. Xe chúng nó, hàng của chúng nó, đi đâu về đâu đã có người đưa đường vạch lối, ngăn không lại đâu bố ạ”.

Bữa cơm ăn tươi của gia đình với chai vang vừa quý vừa chát, cho lão ngộ ra nhiều điều. Quê lão từ làng lên phố, lão tưởng chỉ là cái hình thức bên ngoài bởi vẫn những con người ấy; Hôm qua đi cày hôm nay đi buôn; Hôm qua ở nhà vườn hôm nay ở nhà ống ... Không đâu! Họ không quê mùa như lão tưởng!

Nhà lão vẫn để điện thoại bàn. Con trai lão nối đấu các đầu dây thế nào đó mà nhà vệ sinh, nhà tắm, nhà bếp, nhà ăn, bàn uống nước, giường ngủ ... đều có điện thoại. Mỗi khi có ai gọi đến cả dàn điện thoại cái gõ, cái rung nghe cứ cọc cọc, xì xì như một dàn nhạc đặc biệt. Giờ ngủ đêm khuya, giờ hoc của cháu phải tắt điện thoại đi cho yên tĩnh. Con lão nó sắm điện thoại di đông cho bà lão nhưng bà ấy cứ hay bấm nhầm nên gọi về không nghe được. Có hôm thì quên sạc pin, có hôm lại bỏ cất trong tủ, khi gọi về chuông reo, bà lại không tìm được chìa khóa mở tủ ... Bực mình nó lắp hẳn một dàn điện thoại nối từ một cái máy chủ, bà có ở ngoài vườn, ngoài sân, trong buồng hay trong bếp ... đều nghe tiếng máy đổ chuông và tìm đến chiếc điện thoại gần nhất. Từ ngày ông về nghỉ hưu, ông có máy điện thoại di động, nhưng nó vẫn để dàn điện thoại cố định ấy. Nó bảo: Máy là máy cũ người ta bỏ mình lấy về, cốt chỉ để cho mẹ nghe là chính, mất mấy đồng thuê bao mà tiện lợi vô cùng. Có việc gì gọi về, nói hàng giờ “buôn” thoải mái.

Hôm ấy lão Vẽm đang đứng ngắm nụ cây sen cạn. Thực ra lão cũng chẳng sành điệu gì cái thứ “hoa nguyệt” này, nhưng lão thấy lạ, tại sao lũ hoa sen cạn mới nhú, nó cong cong như lưỡi câu, màu tim tím giống như một loại cỏ ngoài đồng nội mà thuở chăn trâu, lão và lũ bạn hay hái để “chọi gà”. Giữa lúc đó lão nghe vợ lão vâng dạ rối rít qua cái điện thoại:

- Dạ! Thưa! Cụ có được khỏe không ạ? Dạ! Chúng con vẫn bình an ạ! Vâng ạ, các cháu vừa về hôm chủ nhật ạ. Dạ! Vâng ạ! Nhà con cũng vẫn được khỏe ạ! Dạ! Nhà con có ở nhà đấy ạ! Vâng ạ! Để con ra gọi nhà con ạ. Dạ! Cụ cầm máy đợi nhà con vào ngay bây giờ đấy ạ.

Vợ lão vội vàng ra nói đủ nghe.

- Ông vào đi, nghe điện thoại của cụ

Lão hỏi lại, tiếng nhỏ nhưng giọng có vẻ xẵng:

- Cụ nào?

Vợ lão không nói. Lão cầm máy.

- A lô! Ôi! Thầy ạ! Em khỏe ạ! Dạ! Vâng ạ.

Lão buông máy nói với vợ:

- Bà dọn nhà qua quýt đi. Ông Hải sắp vào chơi.

- Gọi ông là thế nào? Thầy Hải dạy cả tôi và ông. Thầy ngang vai cha chú. Con mình gọi bằng ông, mình có cháu rồi phải gọi là cụ chứ. Bà vợ lão vặc lại.

- Ơ cái bà này –Tiếng lão Vẽm – Biết một mà không biết hai. Làm dâu nhà họ Vũ Đại, lên chức bà nội rồi mà vẫn còn dốt. Cái họ Vũ –Đại ở làng này có hai cành. Phát triển theo hai hướng. Một cành bên này, truyền đời chỉ đẻ con một. Thời trước Vua cho phép được đa thê, có ông lấy đến bốn vợ mà cũng chỉ được độc một thằng con trai. Bởi chỉ đẻ được một con, nên tiền dồn, của góp, cha truyền con nối, nên nhà nào cũng có lắm của ăn của để, lại toàn chọn được các nàng dâu đảm đang, nên của cứ sinh sôi. Thời xưa lắm của thì nhiều đất và có chút ít chữ nghĩa. Thiên hạ gọi cành này là: ‘Thiểu đinh – Đa điền”. Lắm đất nên nửa sau của thế kỷ trước, cả cành này dính hoạn nạn. Đất nó làm cho kẻ khóc người cười. Cả cái cành nhà tôi thở dài thườn thượt, oan khuất đầy trời, nhưng miệng chỉ mếu khe khẽ cho nước mắt chảy lặn vào trong. Kẻ khóc thì khóc thầm, người cười thì cười to ha há, hô hố, nhưng được một thời gian thôi rồi lại khóc. Cái khóc lần này đa dạng hơn: Khóc than! Khóc vụng! Khóc thầm! Khóc thút thít! Và lại cũng có người khóc rõ to ô hô a ha! Lại đến lượt người khóc thầm năm xưa quay về với hòn dất và khiêm tốn “cười nụ”. Ôi chỉ là cái hòn đất vô tri mà biết bao nhiêu thân phận khóc cười! Lại cũng vì hiếm con trai nên các cụ mới đặt tên tôi là Vẽm! Những lúc rỗi rãi cũng đã có đứa bình đến cái tên tôi: Vũ thì hàng chục nghĩa, Đại cũng có vài ba nghĩa nhưng Vẽm là cái đồ đốt gì nào? Nếu là dấu nặng, nó là một động vật ở biển, dòng nhà ngao – hến, nhưng mà dấu ngã Vờ-em-Vem-ngã-Vẽm! Cả một thế giới tù mù. Đếch đứa nào biết nghĩa của nó là cái gì cả. Thế mà cũng có đứa bình được một câu: “Cái tên của ông khó hiểu, nên lãnh đạo chưa dám tin ông hoàn toàn, nên phải “ngâm” ông mãi ở chức trưởng phòng để tiện khống chế!”

Chẳng hiểu làm sao hôm nay lão Vẽm lại ngứa họng, ba hoa thế?

Bà vợ giục:

- Ông ra cổng đi. Cụ đến rồi kìa!

Vẽm vội vàng chạy ra, đứng nghiêm, lễ phép:

- Chào thầy ạ!

Lão Vẽm chìa hai tay ra bắt. Ông khách cũng đưa hai tay ra cầm. Ông cụ nói:

- Tôi với anh, có chút tình thầy trò. Kể ra anh chào thầy cũng phải. Nhưng bây giờ về hưu rồi. Mình lại là anh em. Họ phải theo hàng ông Vẽm ạ.

Lão Vẽm hơi lúng túng. Chắc lão đang phân vân. Đi trước thầy, đưa thầy vào nhà có tiện không? Đi ngang hàng thì hẳn là không được, đi sau thì hóa ra không hay. May quá! Ông cụ thông minh thế. Nói rồi cụ khoác vai Vẽm như bè bạn đi vào. Vừa khoác ông vừa nói:

- Ông vẫn khỏe nhỉ, gần “cổ lai hi” mà còn săn lắm.

- Dạ! Em cũng phải giữ gìn. Dù sao mình đi công tác ở tỉnh ngoài, từ việc tập thể dục tập thể buổi sáng cho đến sinh hoạt, ăn ở cũng luôn phải ý tứ đấy ạ. Nhỡ ra sa chân lỡ miệng không có ai bênh.

Vợ Vẽm rất xởi lởi:

- Cụ ngồi! Con đón cụ an tọa ạ!

Cụ giáo Hải thong thả ngồi vào bộ xa lông mây, vật kỷ niệm của cơ quan tặng Vẽm trước lúc về hưu. Cụ Hải nói:

- Chị Vẽm này, ngày trước tôi với chị là thày trò, chị xây dựng gia đình với ông Vẽm thì chị là con dâu họ Vũ Đại nhà tôi. Theo hàng trong dòng tộc ông Vẽm là vai em. Nhưng mà tôi thì dạy học ở trường làng, ông Vẽm lại đi công tác ngoài kia, xa vời vợi, để gọi đúng theo hàng họ thì lại phải “anh anh”, “em em” có khi không hay. Làng trên xóm dưới, họ nọ họ kia, tuy không còn cảnh tranh nhau manh chiếu giữa đình, miếng tai hay miếng má nơi cái thủ lợn cúng thành hoàng như ngày trước, nhưng mà bao giờ nó cũng hay có “sóng ngầm”. Nay anh Vẽm nghỉ ở nhà, theo hàng họ thì anh ấy và tôi ngang nhau. Anh chị gọi tôi bằng anh xưng em, hay xưng tôi, hay là thay các cháu gọi tôi là “bác” cũng được. Tôi gọi anh chị bằng chú, thím cho thân tình. Đừng gọi thầy, gọi cụ nó xa cách ra vả lại tụi trẻ nhiều đứa không biết cha ông chúng có chung dòng máu mủ ruột rà, chúng nó lại cư xử với nhau như người dưng nước lã thì nguy hại! Chú thím không để ý chứ sơ đồ nghĩa trang dòng họ đã xếp tôi với cô chú vào cùng một dãy đấy. Họ xếp nhà tôi - đến tôi - đến chú- đến cô ... đấy. Hà hà. Sống chỉ mặt, chết chỉ mồ. Ít nữa, lũ con cháu lại nhìn vào bia mà réo tên cúng cơm của chúng mình giữa đồng không mông quạnh.

Vợ Vẽm nhanh nhảu:

- Dạ vâng ạ, từ mai thầy cho vợ chồng em được gọi thay cháu là bác ạ!

- Từ nay, từ ngay bây giờ, cô chú nghe chửa – Ông Hải vừa mỉm cười, vừa chấn chỉnh.

Ông Hải chỉ hơn ông Vẽm chừng mươi tuổi, dạy cấp hai trường làng. Ông ấy dạy Văn nhưng diễn đạt cục mịch như người dạy võ, được cái ông biết “cục bộ dòng họ”. Cứ con cháu nhà họ Vũ Đại, dù trong giờ dạy ông quát tháo, chì chiết thế nào thì mặc ông, nhưng khi cho điểm tổng kết bao giờ cũng lên sáu bảy phẩy. Nếu ông làm chủ nhiệm thì hạnh kiểm đứa nào cũng từ khá trở lên. Có lẽ nhờ thấm nhuần  bài học: “Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân” này mà suốt đời ông chỉ dạy một môn, ở một trường từ tuổi thanh niên cho tới khi thành ông lão. Về cuối đời công tác, cấp trên cũng đề bạt ông làm Phó Hiệu trưởng. Ông được phân công phụ trách hành chính, giờ giấc mà đồng nghiệp hay gọi vui là: “Nhà giáo loa đài trống mõ”.

Bà Vẽm là gái làng nên cũng là học trò ông. Nhờ ông “nhẹ vía” nên học trò làng đều thoát cấp hai, có đứa học lên cấp cao hơn, có đứa rẽ ngang tìm việc. Nhưng khi về làng, các thầy cô giáo cũ, người thì chuyển đi, người thì chuyển việc, riêng ông vẫn ở lại trường thành cái cọc bấu víu tình cảm cụ thể. Dòng họ Vũ Đại cũng thầm biết ơn ông. Bởi trong họ có một cành đã một thời gian nan vì đất, nhưng nhờ có chút chữ nghĩa nên thoát ra ngoài được. Rồi đất đổi, người đi, khối anh trở nên mở mày mở mặt. Kể ra đối với dòng họ ông cũng là người có công.

Bà vợ Vẽm cứ xoắn xuýt lúc thì kể lại chuyện thầy dạy ngày xưa, nhắc tên mấy bạn học cùng thời cùng lớp, rồi đề xuất:

- Thầy nói chuyện với nhà em nhé. Thưa thầy, cũng thích thì rồi, cho em xuống bếp chuẩn bị tí chút để đón thầy xơi chén rượu nhạt.

Ông Hải mắng:

Ô! Thím Vẽm này, chậm hiểu nhỉ. Đã bảo tôi là bác Hải, là anh em mà thím cứ thầy mãi. Còn rượu thì cứ gì thích thì! Anh em tôi uống lúc nào cũng được, nhưng hôm nay thì không! Hôm nay đến thăm chú thím và cũng là để làm việc, để bàn giao cho chú Vẽm việc quan trọng của dòng họ. Còn thím muốn nghe thì ngồi đấy. Không thích nghe thì vào bếp làm cơm cho các cháu đi học về ăn. Đấy gần trưa rồi.

Ông nói nhỏ hơn, như nói riêng với Vẽm.

- Tranh thủ báo cáo với chú thế này. Tôi về hưu thì họ giao cho làm “Chủ tịch Hội khuyến học” họ Vũ Đại nhà ta hơn chục năm nay. Năm nay tôi vào tuổi bảy ba rồi, cũng mệt mỏi chú ạ, tôi đề xuất với họ chuyển cái việc ấy sang cho chú. Nói thế chứ chú học nhiều hơn tôi, lại được thử thách ở tỉnh bạn lớn hơn tỉnh ta, lại được hạ cánh an toàn mà làng quê không nghe tiếng xì xào điều tiếng gì xấu xa về chú. Thế là trọn vẹn! Thế là xứng đáng làm “gương sáng cho đàn em noi theo” rồi. Đến rằm này họp họ, cụ Trùm Nậy – đó là tên ở làng quê – chứ tên trong gia phả là Vũ Đại Phong –trưởng họ sẽ công bố quyết định bằng văn bản, gửi chú một cách minh khai và trang trọng.

- Ấy chết! Báo cáo ... Lão Vẽm định nói “báo cáo thầy!” nhưng kìm lại kịp. Báo cáo bác là em có làm cái hội, cái đoàn này bao giờ đâu, cứ để bác làm là phải. Bây giờ bác không làm nữa thì bác bảo ai đó là nhà giáo, giáo viên, giáo chức gì đó họ làm cho thuận hơn.

Tiếng ông giáo Hải nghe nhỏ nhẹ nhưng vẫn rành rọt.

- Thế này chú ạ! Ông trưởng họ đã cho họp với các chi, các cành. Lại đã xin ý kiến của cả các bậc “lão thành” trong dòng tộc nữa. Ai, ai cũng thấy chú làm việc này là hợp lý! Về học hành, về tuổi tác, về gia cảnh, về... mọi mặt chỉ có chú là xứng đáng. Tôi là vai anh bởi vì họ ta có hai cành. Chú là cành bổng, tôi là cành la. Cành la đã làm cái việc này hơn mươi năm rồi, bây giờ lãnh đạo họ nghị quyết giao cho cành bổng vì về thực lực học, lâu nay cành bổng siêu hơn cành la. Ngày trước cành này đã có người được vào sân rồng thi đình, thời nay lại có người đỗ hai bằng Tiến sỹ sắp được phong phó giáo sư. Các cụ trong họ bảo thời kỳ này hội nhập, lại đến chu kỳ cành bổng phát, các cụ đã quyết cử chú làm.

Lão Vẽm cảm thấy ức ức như bị chèn. Quả thực lâu nay lão có nhiều quan điểm không bằng lòng với cách giảng dạy, giáo dục của cả phần vĩ mô ở cấp bộ, cấp tỉnh cho đến việc đánh giá, cho điểm, quản lý việc học, việc chơi của con em trong họ, trong phường. Lão định phát biểu, định xây dựng, nhưng nhận làm cái gọi là “khuyến học” này thì có tiện nói nữa hay không. Lão hỏi lại:

- Báo cáo ... Nếu tôi từ chối không nhận quyết định?

- Ấy! Ông Hải cười nhẹ, cười chỉ hở răng, nhếch môi mà không thành tiếng. Chỉ ai nhìn vào miệng mới biết ông cười. Thời còn công tác, cũng có lần không thích dạy lớp A, tôi xin sang dạy lớp B. Chú công tác cấp tỉnh có thể không thích làm ở sở này, đề xuất với cấp trên cho được làm ở sở khác, thậm chí vùng khác, miền khác. Còn  bây giờ, chú về địa phương nói là phố, nhưng thực chất năm xửa năm xưa nó là làng. Làng Vạc xã Tiên Châu. Dân phố phần lớn là người mang họ Vũ Đại và họ Mai Đình. Cô ấy nhà chú là con gái họ Mai Đình, tôi còn căng phông cắt chim hòa bình bay đôi trang trí đám cưới cô chú: “Vui duyên mới không quên nhiệm vụ”. Chú nhớ chửa? Bây giờ chú còn lựa chọn gì? Tôi và chú, ai trước ai sau chưa biết nhưng sẽ được đưa qua dãy phố này, đi qua hàng dương liễu xanh xanh kia để về nghĩa trang dòng họ. Đi cùng vợ con ta là tổ dân phố, là bà con ở số nhà bên chẵn, bên lẻ của con đường này, thực chất là anh em không là bên nội thì bên ngoại của dòng họ Vũ Đại và dòng họ Mai Đình. Hết hàng dương rẽ trái mấy chục mét là nghĩa trang họ ta ... Anh em mình về quê nghỉ hưu là lùi đến chân tường rồi, rơi tới điểm dừng rồi. Người khôn ngoan là biết chọn điểm dừng đúng độ!

Nghe vậy! Vẽm im.

Như chớp lấy thời cơ ông Hải nói tiếp:

- Báo cáo chú, mấy năm tôi làm, nhờ phúc ấm tổ tiên, nhờ chủ trương nhà nước hội nhập mở mang dân trí, nhờ cha mẹ các cháu giác ngộ chăm lo, nhờ học trò có phần cố gắng nên con cháu họ Vũ Đại nhà ta học hành giỏi giang. Ở tiểu học hầu như một trăm phần trăm học giỏi. Ở cấp hai cấp ba số giỏi ngày càng nhiều. Gần như hầu hết tốt nghiệp phổ thông đều được vào Đại học. Có cháu thi đỗ, có cháu được trường Đại học mời vào. Có đứa không đi thi mà nhận được hơn ba chục bức thư có giấy báo mời tựu trường Đại học... Tôi làm khuyến học hơn mười năm dòng họ ta được gần chục bằng khen, giấy khen từ huyện trở lên về Khuyến học. Toàn bộ hồ sơ tôi ghi chép gần hai mươi cuốn vừa vở vừa sổ tay. Quý nhất là cuốn Sổ Vàng khuyến học dòng họ Vũ Đại hơn một ngàn trang khổ A4. Để hôm này tôi bàn giao cho chú. Thế chú nhẩy!

Vẽm chưa kịp nói gì thì vợ lão đã chạy lên, xoa tay đon đả:

- Ấy! Thầy! À bác lui lại tí ti nữa, em đang ủ lạc rang.

- Cho tôi kiếu! Chả là hôm nay bà nhà tôi cùng các bà trong phường về hội tạ ở Dâu, con vợ thằng Dương lại về họp ở dưới huyện. Tôi phải về để cho các cháu nó ăn trưa, chiều còn đi học thêm để nâng cấp. Còn rượu thím cứ để đấy, chờ anh em tôi khi khác thong thả hơn.

Nói rồi ông Hải đứng dậy bắt tay Vẽm:

- Thế chú nhỉ. Cái khuyến học, hay cái gì cũng thế, ta sống đến cuối đời rồi, làm cái gì, nói cái gì cũng phải chu đáo và thận trọng. Phải lựa chú à! Người ta còn răn: “Thẳng mực tàu thì đau lòng gỗ”. Ở quê mà bộc trực quá có khi gỗ không đau mà lại đau chính mình. Tiễn ông giáo Hải về rồi lão Vẽm hỏi vợ:

- Thế con dâu ông Hải làm gì mà hôm nay đi họp huyện? Hay ngại uống rượu mà ông ấy từ chối khéo vậy?

- Tôi tưởng ông biết rồi. Con dâu ông Hải là con bé Hà vợ thằng Vũ Đại Dương đó. Cô ấy là Hiệu trưởng trường tiểu học phường ta. Nhà giáo ưu tú, Hiệu trưởng trường đạt chuẩn quốc gia nên học trò phải giỏi mà cô thì đi họp suốt ngày.

Nghe vậy, Vẽm trở nên trầm ngâm. Lão đi chầm chậm vào nhà, đầu gật gù như một nhà hiền triết vừa ngộ ra cơ sự./.

 

 

 

 

 

 

LAI LÁNG TÌNH QUÊ

(Truyện ngắn)

 

Hết giờ dạy học, thầy Mùi lại tưới hoa, những khóm hoa trồng trong khuôn viên vườn lớp vỡ lòng do thầy phụ trách. Mấy khóm nhài, khóm huệ, khóm cúc, dã quỳ, khóm cúc đại đóa, chậu sen cạn, vạt hoa mười giờ … Hoa đơn sơ, nhưng thầy vẫn chăm bẵm, đó là niềm vui, sự đam mê hay còn điều gì nữa thầy muốn gửi gắm vào hoa?

Thầy quay mặt ra đường, tai dóng vào hoa và đặt gáo nước tưới vào mỗi cây một cách chuẩn xác. Thầy làm say sưa tới mức cô Xoan phụ trách trại chăn nuôi và ông Mùi thọt chủ nhiệm hợp tác xã đứng ở ngoài hàng rào lớp nói chuyện, cười khúc khích mà thầy không hay biết. Cô Xoan nói:

- Mặt ông ấy ngoảnh ra mà sao không thấy chúng ta nhỉ?

- Ông ấy lác, ngoảnh mặt Sơn Tây, ngắm cây Hà Nội đấy. Ông Mùi chủ nhiệm nháy mắt với cô Xoan: Bố này chỉ lệch mỗi cái mắt thôi chứ các bộ phận khác đều khỏe vào loại A cả đấy. Đằng ấy có thích đây là mối cho:

- Ứ … ừ. Cô Xoan vừa nói vừa ưỡn cái ngực thây lẩy ra, vừa đặt vào lưng ông chủ nhiệm Mùi hai quả đấm thì thụp. Ông Mùi nhanh như cắt nắm tay cô Xoan:

- Muốn chết à?

- Chết thì chết, sợ gì? Ông Mùi bóp mạnh vào cổ tay, cô Xoan kêu:

- Ái! Đau em. Thầy giáo Mùi ngừng tay tưới cây, quay nửa vòng tròn cho mặt hướng vào cây hoa nghe ông Mùi nói:

- Mời thầy ra đồi Ba Búa nhận đất. Thực hiện nghị quyết của xã, ban chủ nhiệm Hợp tác xã Tự Lập quyết định cắt cho thầy một sào vườn.

Thầy Mùi “vâng” khẽ, xếp xô, gáo, lững thững đi theo hai người.

Đồi Ba Búa, nguyên là đồi đất sỏi gan gà, chỉ mọc lơ thơ tế, guột. Mấy năm trước, Hợp tác xã cấp thôn, đã trồng vào đấy một đồi cây loại lá nhỏ, thớ xoắn và phàm ăn. Cây lớn, người ta tỉa dần và bấy giờ mới vỡ ra rằng nó là loại cây chỉ thích ứng cho hai việc: Làm củi nung lò gạch và làm chất đốt cho trại chăn nuôi. Khi cây được đốn trụi, mỗi kỳ giông tố, sét cứ nhằm vào đồi mà đánh lửa. Mỗi cơn giông, mấy lần sét đánh vào đồi không ai đếm, nhưng người ta cứ thích số ba đặt tên nó là đồi Ba Búa.

Mùi lác – cứ gọi thế, vì cả làng vẫn gọi thế - là con trai nhà địa chủ Ngạn. Nhà địa chủ Ngạn phải phiêu dạt, ly tán. Mùi lác đang học trường phổ thông cấp ba của tỉnh bị gọi về, đội phân cho ở  chái chuồng trâu của địa chủ Ngạn. Ngày ngày Mùi lác gánh sọt ra đồng gắp phân rơi bán lấy tiền mua khoai sắn sống qua ngày. Thấy Mùi lác có chữ, lại an phận lao động, một thời gian sau xóm Gẩu họp bàn và bố trí cho dạy vỡ lòng như một nghĩa cử làm phúc. Ấy thế mà chỉ ba tháng, lũ trẻ con xóm Gẩu biết tự lau mặt, rửa tay; biết thưa, biết vâng, biết dạ; biết ghép các con chữ, dấu thanh thành câu lục bát “Trong đầm gì đẹp bằng sen. Lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng …”

Ôi! Cái tiếng bi bô vần, chữ của lũ trẻ nhà quê như làm cho bờ tre thêm ấm bới. Những bà mẹ trẻ lam lũ sau một ngày lao động quần quật, xoa xoa đập đập bàn chân bùn đất, nghiêng mình trên võng tre mãn nguyện và hạnh phúc nghe miệng trẻ bi bô: “Công cha như núi Thái sơn. Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra”. Và những ông bố hiền lành, cần mẫn, chiều chiều cùng con trẻ thả lên trời cao những cánh diều lá tre được phết dán từ nhựa quả hồng tơ với tiếng sáo nỉ non, vi vu hi vọng.

Vài ba năm, từ trường cấp một của xã loang ra tiếng thơm:

- Trẻ con xóm Gẩu vào lớp một chững chạc và ngoan hơn trẻ con các xóm khác.

- Trẻ con xóm Gẩu không nói ngọng l, n như trẻ con các xóm khác.

- Tại hội nghị cán bộ xã, thầy hiệu trưởng đề nghị biểu dương lớp vỡ lòng xóm Gẩu…

Dăm năm sau thì cả xóm Gẩu gọi Mùi lác bằng thầy vì hầu như nhà nào cũng có con cháu được thầy rèn cặp, có đứa nay đã vào được trường cấp hai trên huyện. Làng xóm nhìn lại, đưa ra bàn ở hội nghị:

- Cho ông Mùi ăn “năm mươi cân thóc” một vụ là hơi bị đói đấy!

- Ai lại để ông Mùi nằm chái chuồng trâu ngần ấy năm nay! Thật là bất tiện.

- Ngày nghỉ dạy, ông ấy gánh sọt đi gắp phân bán được bao nhiêu tiền chỉ mua dầu, mua muối và mua sách. Khen cho người này thân phận như thế mà đọc sách để làm gì?

- Thì ngày xưa Đội xếp thế. Anh này ngày dạy học, đêm về chong đèn dầu hỏa làm đồ chơi cho trẻ và đọc sách, có biết đói rét là chi!

- Thôi thì thế này vậy. Cho lão dời từ chái chuồng trâu ra chái lớp học! “Vưỡn” thế thôi mà! “Vưỡn” là vô gia cư … Ác cái bây giờ lũ trẻ cả xóm, cả thôn gọi lão bằng thầy và anh em mình cũng gọi theo lũ trẻ …

- Hay là cho lão thôi dạy vỡ lòng.

- Không được. Mấy năm trước đã thử rồi! Hết cô Hoa rồi cô Nụ … cứ lăng xăng múa hát, còn lũ trẻ thì bẩn thỉu, nhếch nhác và dốt như nai.

- Ngày ấy dạy được ba tháng, cái cô Nụ tự dưng ễnh bụng ra, may mà gán được cho anh Seo mù hát xẩm ngoài bến Đoan. Bây giờ càng lớn thằng cu cỏn giống ông ba bị như lột.

- Ông ba bị là ai?

- Ai biết được, nói thế vào ai thì vào.

Lại có tiếng cười khúc khích, tiếng sột soạt cấu véo chỗ bóng tối cuối hàng hiên. Chủ tọa hội nghị vỗ tay bốp… bốp…

- Trật tự nào! Trật tự nào! Việc này kết luận thế này nhá: nghị quyết cho anh giáo Mùi dời chỗ ở từ chái chuồng trâu nhà địa chủ Ngạn ra chái lớp học vỡ lòng của xóm Gẩu. Anh Mùi có trách nhiệm dạy học, bảo vệ lớp, được dùng giếng nước trong vườn lớp, và mỗi vụ được hưởng sáu chục kilogam lúa hoặc lượng lương thực được quy ra lúa. Nào! Ai phản đối thì nói đi. Không ai nói cả. Thế là đồng ý. Thư ký ghi vào sổ Nghị quyết nhé.

Chuyển về chái lớp, thầy giáo Mùi quảy đi ba chuyến, sáu cái sọt đầy. Hai chuyến bốn sọt lồng phồng những đồ dùng, đồ chơi dạy trẻ và một chuyến hai sọt lặc lè đầy sách vở. Người ta đồn lão nhịn ăn để đọc sách, để viết lách quả không sai.

Ra ở chái lớp sáng hơn, thoáng hơn, thầy Mùi say mê công việc hơn. Thầy giã phấn trắng ngào trộn với nước hoa hiên, bột quả dành dành, nước ép quả mua, quả mồng tơi cùng nước gio và than củi tạo ra những viên phấn màu để vẽ tranh dạy trẻ. Từ tranh, lũ trẻ biết được con sư tử, con hổ, con báo; phân biệt được con gà, con ngan, con vịt, con ngỗng; vòng đời của con tằm qua luân hồi bốn kiếp: sâu – nhộng – bướm – trứng … Cứ đơn sơ như truyện kể mà lũ trẻ hiểu thêm đời.

Thầy Hiệu trưởng tiểu học khen học trò xóm Gẩu không chỉ không ngọng, viết chữ đủ nét, ăn mặc gọn gàng mà còn “biết” hơn, “khôn” hơn trẻ con nơi khác là vậy.

Nhìn quả đồi Ba Búa trọc lốc, chủ nhiệm Mùi bảo:

- Thầy thích hướng nào? Lấy hướng phía quả gò thoai thoải thầy nhé. Nó thoai thoải thì sau này cái vườn dễ cải tạo hơn.

Rồi lão trao cho cô Xoan một thanh tre đã được chuẩn bị sẵn.

- Đây, tính từ đây, em đo chiều dài đi.

Cầm thanh tre, cô Xoan đo như trẻ con chơi đánh khẳng. Cô cúi xuống, cái quần vải phíp xắn cao, lồ lộ bắp chân tròn lẳn trắng lốp, lồ lộ cái mông nây nẩy, lão Mùi thọt lom lom nhìn rồi nuốt nước bọt. Đo được một quãng, cô Xoan nhìn lão Mùi thọt cười tít mắt rồi nói buông xõng:

- Được chửa? Lão Mùi đế theo ngay: - Chửa!

Cô Xoan lại tiếp tục đo. Ba bốn lần “Được chửa!”. “Chửa!” như thế thì xong chiều dài. Mùi thọt tự đo chiều rộng bằng các bước nhãng chân của ông. Chân thọt, bước thấp bước cao, ông cứ nhảy đại. Cô Xoan nhìn ông Mùi nhảy rồi cười hơ hớ, không hiểu cô cười cái chân thọt tạo nên những bước nhảy tập tễnh dị dạng hay cô cười cái sức vóc lực điền no đủ, chân ếch, đùi dế chắc lẳn đang huỳnh huỵch nện những bước nhảy mạnh mẽ? Nhảy một lúc như thấy thấm mỏi, ông dừng lại và bảo: “Đủ chiều rộng rồi đó. Có chiều dài, chiều rộng, thầy giáo tự tay bắt cho bốn cái góc vuông để nó thành cái vườn hình chữ nhật thầy nhé!”. Ông liếc sang cô Xoan, rồi chống nạnh ngắm quả đồi nói đầy quyền uy.

- Nhiều chữ nghĩa, chắc là thầy bắt cái góc thước thợ không khó gì, nhưng phải làm cho nghiêm cẩn. Đo xong, thầy cắm cho bốn góc bốn gốc tre bánh tẻ, lấy đó làm mốc thầy tự rào cho thành cái vườn. Hôm nay tôi và cô Xoan cắm vườn cho thầy là thực hiện quyết định của xã nhưng cũng là tình, là nghĩa. Ai hỏi thầy cứ bảo “Lão Mùi thọt cắm cho tôi đấy! Nói thế, kẻo thiên hạ cũng lắm nhời”.

Như không nghe lời cảm ơn nhỏ nhẹ điềm đạm của thầy Mùi, lão quay sang cô Xoan:

- Tối nay ai trực ngoài trại nhỉ. Cô Xoan nói khẽ.

- Em. Rồi hai người sát bên nhau thủ thỉ đi về phía trại chăn nuôi.

Lão Mùi lấy vợ năm trước thì năm sau sinh được thằng bé Ngọc. Thằng bé tròn trịa, xinh xắn ai cũng mừng, nhưng liền sau khi sinh, vợ lão ốm. Cứ sốt nóng, mê sảng, phát điên phát cuồng, rồi một đêm ả trốn xuống ngòi tự tử.

Vợ chết, lão Mùi lao vào công việc thôn xóm. Lão làm đội trưởng thủy lợi đào đắp mương phai, rồi lại lao vào kiến thiết đồng ruộng, bờ vùng, bờ thửa. Lão làm được việc, dân quý, dân tin lão lắm. Thằng Ngọc được dì nuôi cho đi bú chực khắp làng, sau lại được cô nuôi cho đến khi biết đi, biết chạy. Thằng bé trắng trẻo, khỏe mạnh mà không biết nói. Bốn năm tuổi vẫn chỉ biết ồ ề … Đã có tiếng xì xầm:

- Nhà vô phúc: mẹ điên, cha thọt, con câm…

- Nhà nó có quả báo! Quả báo! …

Có người đã đưa ra hội nghị:

«Ai nói nhà đồng chí Mùi có “quả báo” là nói bậy. Hay là âm mưu kẻ địch ngóc đầu dậy! Đề nghị cho xác minh xuất xứ từ đâu? » Chưa ai nói gì, lão Mùi đã đứng lên gạt phắt: “Nhà tôi quả thực gặp nhiều điều không may, “quả nhân, quả báo” dân ta xưa nay vẫn nói. Có ai nói vậy cứ để cho họ nói, nói mãi rồi họ sẽ thôi”. Cái điều lão tự nói ra ấy làm cho lão trở nên đàng hoàng và tiếng xì xào “quả báo” cũng dần phai nhạt. Uy tín của lão trong dân như càng lớn thêm và đến đại hội thành lập Hợp tác xã toàn xã lão được bầu làm chủ nhiệm.

Tại hội nghị lãnh đạo mở rộng, lão Mùi thọt nêu ý kiến: Có ông giáo Mùi, không phải là xã viên vì dính thành phần, coi như làm thuê cho hợp tác xã hơn chục năm nay, mỗi vụ hưởng sáu chục cân thóc nhưng dạy học có kết quả tốt, cả xóm, cả thôn ai cũng gọi bằng thầy thế mà hết ở chái chuồng trâu rồi ra chái lớp. Tôi đề nghị xã cấp cho ông ấy mấy thước đất làm vườn.

Hội nghị im phắc. Hẳn là mọi người đang lưỡng lự, thì lão Tỏm thư ký vụ ủy ban đã tỏn tẻn cười rồi nói: Tôi xin có ý kiến và không chờ chủ tọa cho phép lão nói luôn:

- Việc này tôi biết. Đồng chí Mùi đã suy nghĩ cân nhắc nhiều lắm mới đưa ra bàn ở Hội nghị này. Tôi thấy xóm Gẩu có quả đồi Ba Búa sau khi chặt bạch đàn còn trơ trọi đó. Ta nghị quyết cắt cho thầy Mùi một góc đồi coi như tạ công thầy bằng một búa. Việc này tôi biết!

Tỏm nói đến đó rồi ngừng, nhếch mép mà không cười. Tỏm nhìn lão Mùi rồi đưa tay vớ chén nước trên khay uống chèm chẹp như nhấp rượu. Hội nghị bàn tán nho nhỏ. Có tiếng cười khe khẽ khi lão Tỏm nói “Tạ công thầy bằng một búa” nhưng không ai nói gì thêm. Chủ tọa hội nghị:

- Việc đồng chí Tỏm đề xuất có thể chấp nhận được. Ý đồng chí Mùi thế nào?

- Tôi chờ kết luận của Hội nghị. Tiếng Mùi thọt có vẻ xẵng. Chủ tọa hội nghị coi như không biết điều đó, đứng dậy nói:

- Vâng! Không ai có ý kiến khác thì hội nghị đồng ý đề xuất của đồng chí Tỏm. Cắt cho thầy giáo Mùi một sào ở đồi Ba Búa để làm vườn. Các thủ tục cụ thể giao cho đồng chí Mùi và Hợp tác xã Tự Lập thực hiện.

Hội nghị hôm ấy, lão Mùi được việc nhưng hơi nóng tai bởi lão Tỏm đay đi đay lại hai lần: ‘Việc này tôi biết”. Trong lãnh đạo xã, Tỏm vào loại “nhiều chữ” hơn anh em nhưng nói năng hay chọc ngoáy. “Việc này tôi biết” là Tỏm có ý nói móc cái công lớn của thầy Mùi trong việc chữa câm cho thằng Ngọc con trai lão Mùi.

Thằng Ngọc câm đã sáu bảy tuổi theo lũ trẻ ra lớp vỡ lòng, được thầy âu yếm vuốt ve như tình mẹ. Thầy dạy cho biết tự rửa tay, rửa mặt, rồi thầy cho chải tóc, soi gương, thằng Ngọc sà vào lòng thầy, tan lớp chẳng muốn về. Một hôm thầy săm soi cặp mắt lác, vất vả và thận trọng lấy ra trong tai nó mỗi bên một con đằng đằng (ráy tai) to như con ốc vặn. Thầy lấy bông tẩm cồn nút vào tai nó ba ngày. Sau khi tháo bông, thằng bé nhìn vào mồm thầy, mồm bạn tập nói bi bô ngọng nghịu. Thầy dày công, kiên trì, vừa dạy, vừa dỗ cho đến khi nó nói sõi, nói chuẩn như bao trẻ khác. Thì ra thằng bé bị điếc hóa thành câm. Bây giờ thằng Ngọc đã vào cấp hai học vào hàng giỏi nhất nhì trường huyện.

Lão Tỏm có ý “chọc ngoáy” chuyện đó. Biết! Nhưng lão Mùi không nói gì thêm vì đề xuất của lão cắm vườn cho thầy Mùi đã đạt.

Được đất, rào vườn, nhưng thầy Mùi vẫn ở chái lớp. Những ngày nghỉ dạy học, thầy gánh đất nạc đổ lên vườn. Cái đòn gánh, cái mai và hai sọt đất kiên trì, dẻo dai như “Ngu Công dời núi” chẳng bao lâu mảnh vườn đã bằng phẳng, màu đồi gan gà xưa kia đã thay bằng màu xanh của cà, của cải, của rau, dưa… Chủ nhật ấy, thầy Mùi đang mê mải bắt giàn cho dây gấc tía thì cơn giông vần vũ. Thầy vội vã về đã thấy cô Ngoan đứng ở cửa lớp chào lễ phép:

- Chào thầy giáo. Cháu nhỡ độ đường, xin thầy cho phép cháu đứng nhờ lúc mưa.

- Không giám, cô cứ tự nhiên.

Nói rồi, như không nhìn thấy khách, thầy Mùi vào chái khuân những “thùng”,những “chậu” to, “chậu” bé bày ra  giọt gianh hứng nước mưa, rồi ra giếng tắm… “Thùng”  đựng nước là cái bồ cật, được xảm phía ngoài bằng nhựa trám, nhựa quả hồng cho kín các lỗ đan, còn “chậu” là những chiếc rá to, nhỏ, cũng được tráng nhựa như thế, lại được gắn ở đáy ba mảnh gỗ để đặt xuống không bị nghiêng. Lần đầu được nhìn những “vật dụng lạ” Ngoan không khỏi ngạc nhiên, và từ ngạc nhiên pha chút ngậm ngùi! 

Ngoan vóc người nhỏ nhắn, xinh dòn, là cháu nội địa chủ Thịnh. Bảy tuổi cô đã theo mẹ ra chợ buôn bán trầu không, vỏ quạch. Vài năm nay cô gánh hàng xén bán chợ huyện, chợ quê. Hai cái bồ nhỏ, hai hộp bày hàng có một mặt kính. Sáng bán hàng ở chợ, chiều gánh hàng về các làng quê: Tập giấy, quyển vở, cây bút, kim chỉ … Các vật dụng tầm thường mà thiết yếu. Người mua có tiền thì trả tiền, không có tiền thì đổi bằng sắn khô, khoai lang, nải chuối … Ai không có tiền, hiện vật, thì cứ lấy hàng rồi trả sau. Người ta đồn cô mát tay buôn bán, lại biết tin người như tin chính đức hạnh của mình. Họ mua chịu hàng rồi trả chứ không quỵt nợ, bao giờ! Đã đi khắp phố thị, xóm thôn trong cái huyện nửa đồi nửa ruộng này nhưng lần đầu cô thấy một người sống tùng tiệm, giản dị, và mộc mạc đến thế.

Cô tò mò nhìn vào chái lớp. Một kệ sách cao, vách treo la liệt những bức tranh hoa lá cỏ cây và những con vật: hổ, báo, gà vịt, bướm, ong cùng những con chữ to nhỏ … Một chiếc chõng tre đã cũ, một cái gối gỗ đã sờn và cái chăn nâu trấn thủ đã bạc phếch như là cổ vật từ đời xưa để lại…

Thầy giáo Mùi tắm xong, mặc bộ quần áo sang nhất mà thầy hiện có: cái áo vải phin nâu, cái quần kaki đã bạc, đôi dép cao su còn đủ các quai. Thầy lấy cái ghế đẩu duy nhất của lớp mời cô ngồi và thầy ngồi vào cái ghế băng của trẻ. Ngoan nói trước:

- Cháu là Ngoan, con ông Vượng xóm Chuôm. Hôm nay cháu đổi được thúng sắn khô và buồng chuối mật ngon lắm.

- Tưởng đâu xa lạ, chứ nghe thế thì hóa ra khác xóm mà cùng làng. Tôi cũng có được biết ông bà bên nhà, mà lâu ngày rồi, không biết ông bà bên ấy còn nhớ hay quên.

- Bố mẹ cháu ít nói ra, dưng mà không quên cái gì sất. Thầy có mấy thứ đồ đựng nước làm cháu ngạc nhiên quá.

- Không có tiền mua sắm thì phải tự tạo ra mà dùng thôi. Thế mà cũng đủ cái để rửa mặt, rửa rau, giặt quần áo, cái để tích trữ nước mưa cơ đấy.

- Thầy không có tiền mà mua được nhiều sách thế? Lại tranh ảnh nữa.

- Mua sách, đọc sách với tôi là công việc và cũng là niềm vui. Còn tranh thì mình tự tạo lấy để dạy học trò. Thế cô Ngoan có hay đọc sách không?

- Bố mẹ không cho đi học, nên cháu chỉ biết đọc với tính nhẩm thôi. Cháu đọc Phạm Tải Ngọc Hoa, Tống Trân Cúc Hoa, Nhị độ mai … Cháu thấy đàn ông có tài thì gian truân, đàn bà nhan sắc thì vất vả. Lại còn hai ông Lưu Bình, Dương Lễ thương quý nhau thế  nào mà lại ngầm cho vợ mình giúp bạn? Chắc đó là chuyện bịa thầy nhỉ. Ở ngoài đời ai lại làm thế.

Mưa tạnh, cô Ngoan ra về không quên biếu thầy nải chuối mật. Thầy cho Ngoan mượn quyển Lục Vân Tiên. Vài tuần sau  không mưa Ngoan cũng tạt vào trước là để trả sách, sau là để biếu thầy chiếc gương con …

Qua lại đôi ba lần rồi cô Ngoan gọi thầy Mùi bằng “anh” lúc nào không rõ nữa. Chọn ngày lành, ông chú của thầy Mùi cùng bác trưởng họ sang nhà ông Vượng xóm Chuôm xin chạm ngõ … Rồi ông chú cho bới tre, bà chị họ cho bới hóp, ông bác họ cho trăm tàu cọ, anh em đôi bên xúm vào làm giúp thầy Mùi dựng được căn nhà. Có nhà rồi là cưới vợ. Khối trai làng lúc ấy mới tiếc.

- Cái Ngoan được cả người lẫn nết, phải cái nhà nó dính thành phần, trai làng lâu nay cứ bỏ lơ bỏ lửng.

- Lão Mùi lác thế mà may. Mèo mù vớ cá rán.

- Ôi dào, ông giáo Mùi lấy cô Ngoan thì thiên hạ để yên, nhưng trai làng đụng vào lại khối chuyện rách việc …

Một hôm đã khuya, nhà thầy Mùi sắp sửa đi nằm thì ông Mùi chủ nhiệm đột ngột đến. Ông Mùi đối với thầy Mùi là chỗ thân tình, ân nghĩa nhưng cũng chỉ âm thầm giúp nhau thôi chứ đến chơi nhà nhau đã hiếm mà lại đến giữa lúc đêm hôm thế này hẳn là hệ trọng. Thầy Mùi tỏ ra vồn vã, cô Ngoan chào rất lễ phép rồi lui vào buồng. Lão Mùi không vào nhà mà đứng ngay bực cửa, nói nhỏ với thầy Mùi.

- Tôi có chuyện riêng muốn nhờ thầy, anh em mình ra ngoài cho dễ nói.

Thầy Mùi lác và ông Mùi thọt bước chùng bước thẳng dò dẫm đi. Trời se lạnh. Đêm yên tĩnh. Những viên sỏi gan gà trượt dưới chân nghe lạo xạo. Đến giữa đỉnh đồi, ông Mùi chủ động ngồi xuống, kéo thầy Mùi ngồi theo. Đêm thôn quê thanh bình. Lặng một lúc, lão Mùi vào đề:

- Tôi muốn nhờ thầy giáo. Chả là cô Xoan ở trại chăn nuôi và tôi lâu nay đã quý mến nhau. Hoàn cảnh của tôi như thầy biết đó, cũng thật éo le mà cô Xoan lại đang độ xuân thì hơ hớ. Trong công việc tôi và cô ấy cứ ra chạm vào đụng hết ngày lại đêm. Thế là chúng tôi chót dại thầy ạ. Nay hậu quả đã nghiêm trọng lắm rồi!

- Đã chót thì cưới. Chị Xoan chưa có chồng, nhà bác vợ mất, ai mà chẳng biết.

- Dưng mà thầy ơi! Cái sự đời nó không suôn sẻ thế. Mấy năm trước, khi anh Bình nhà bà Bầu nhận lệnh nhập ngũ, bà Bầu có đặt cơi trầu vào nhà bà Đào mẹ cô Xoan, xin cô Xoan làm con dâu, đợi đến kỳ anh Bình về phép thì làm lễ cưới. Anh Bình vào chiến trường mấy năm nay, tin tức thưa vắng. Bức thư cuối nhận từ giáp tết năm xưa anh ấy khuyên cô Xoan đừng chờ nữa vì kháng chiến còn lâu dài, chiến trường thì ác liệt mà xuân nữ chỉ có thì … Nhận thư cô Xoan khóc mãi, nhưng vẫn đi lại thăm nom bà Bầu như con cái trong nhà. Cái sự cô ấy và tôi xảy ra cũng là bức xúc tuổi trẻ, cũng có yêu thương và cũng do đụng chạm gần gũi mà không kiềm chế được. Nay việc đã lỡ … Đã ba tháng rồi! Sự việc đã đến lúc không còn che đậy được. Nếu không vướng thằng Ngọc thì tôi và Xoan sẽ bỏ làng cho đỡ tai tiếng thầy ạ … Nhưng nếu ở lại thì phải đàng hoàng. Tôi chủ động đề nghị cho tôi được kiểm thảo với tổ chức và bà con. Các anh chị chủ chốt cũng tán thành phương án ấy, thậm chí lão Tỏm còn nhận viết hộ cho chúng tôi bản kiểm thảo. Nhưng tôi không ưa tính lão ấy. Chúng tôi định nhờ thầy…

- Tôi cứ thấy vô lý. Tại sao anh chị phải kiểm thảo cơ chứ. Về luật pháp… Không để cho thầy Mùi nói hết, lão Mùi đã ngang lời:

- Luật là của cả nước. Còn đây là làng, là lệ làng … Với làng quê tôi dính hai tội: Thứ nhất là dụ “vợ bộ đội” mặc dù hai anh chị chưa đăng ký kết hôn. Thứ hai là chúng tôi đã chót … ăn cơm trước kẻng như người đời vẫn nói. Hơn nữa chúng tôi nghĩ muốn sống với làng quê thì phải đàng hoàng. Với cô Xoan tôi lại là người hơn tuổi, người lãnh đạo …

Thầy Mùi chưa học hết phổ thông, nhưng lâu nay thầy vẫn tự học, tự đọc để hiểu biết thêm, để dạy học trò. Sách mua, sách mượn, thầy đọc không phải ít, thế mà hôm nay ông Mùi thọt chân quê tầm văn hóa chỉ là lớp bình dân học vụ lại nói được cái lý sự bấy lâu nay giữa “Phép Vua và Lệ Làng” rành rẽ làm cho thầy vô cùng cảm động. Thầy nhớ như đã đọc ở đâu đó, câu nói rất hay mà thầy đã có lần ghi vào sổ nhỏ: “Những công dân lam lũ trong cộng đồng cần lao, họ có thể bị mù chữ nhưng không mù nghĩa, họ biết sống nhân văn và cao thượng với đời!”. Câu nói giản dị mà có sức cuốn hút lạ kỳ làm thầy Mùi vô cùng cảm kích: “Muốn sống với làng quê thì phải đàng hoàng”! Thầy Mùi như thấy ấm người lên, ấm áp kỳ lạ lan toả từ bờ tre trầm tích những cuộn khói lam chiều cùng hơi ấm từ những đụn rạ, cây rơm hòa hơi ấm của đất quê trắng phau, bở tơi qua bao mùa đổ ải … Hơi ấm ấy đang ngấm, đang tỏa, đang dâng ngập tình cảm và tâm hồn, xua tan những mặc cảm lâu nay thầy vẫn u hoài. Phải chăng đây là làng quê muôn thuở  đã trải hàng ngàn năm với biết bao thăng trầm biến cải, có thể xuyến xao thế này thế khác nhưng so với ngàn vạn năm lịch sử nó chỉ như cái chớp mắt qua mau lại trả về vẹn nguyên xưa cũ làng quê.

Thầy Mùi nói rất khẽ:

- Như bây giờ tôi giúp bác thì giúp thế nào được. Ông Mùi nói ngay:

- Thế này thầy giáo ạ. Quá trình sai lầm của tôi và cô Xoan âm thầm và dai dẳng qua nhiều ngày, tôi đã ghi chép cả vào đây. Thầy lấy làm tư liệu rồi viết hộ cho bản tự kiểm thảo. Trách nhiệm thầy cứ quy cho tôi. Viết như thế còn giữ sĩ diện cho cô Xoan. Phần kỷ luật thầy cứ ghi là tôi xin chịu mức kỷ luật cao nhất. Nói đến đó lão Mùi trao cho thầy Mùi một tập giấy và quyển vở. Lão Mùi không nói “cảm ơn”, cũng không có bắt tay tạm biệt. Họ lặng lẽ đứng lên rồi lặng lẽ đi về hai hướng.

Thầy Mùi về nhà, Ngoan vẫn chưa ngủ. Nàng hỏi:

- Có việc gì mà nói lâu vậy anh. Em cứ nghe lào thào. Thầy Mùi nói qua quýt.

- Ông ấy nhờ làm bản báo cáo thành tích.

- Thành tích về cái gì? Em nghe ngoài chợ họ xì xào cô Xoan trưởng trại chăn nuôi dạo này lông mày dựng ngược lên như bàn chông, da xanh tái, mạch cổ dật dật như là sắp có em bé! Nhiều người nói khéo cô ấy chửa hoang với lão Mùi. Thầy Mùi nói lấp lửng:

- Ôi dào! Thế nào kệ người ta. Mình có tí chữ họ nhờ viết thì viết hộ. Từ chối cũng không hay.

- Ấy là em nói thế. Thôi! Em đi ngủ, còn anh ngủ thì ngủ, thức thì thức nhưng hôm nay không được “làm nũng” đâu nhé để mai em còn dậy sớm lên chợ huyện và còn tạt vào lễ chùa.

Ngoan rất thương yêu chồng nhưng sống khá “nguyên tắc” và giàu đức tin. Ngày nào nàng đi lễ chùa thì hôm trước thầy Mùi bị “cấm vận”. Thầy chiều cô, “nhịn” mãi rồi cũng quen vả lại tính thầy cũng hay thức khuya đọc, viết. Đêm yên tĩnh, thầy Mùi đọc hết quyển vở học trò mà trong đó lão Mùi ghi lại tỉ mỉ mối tình của lão và cô Xoan. Bằng những con chữ đậm nét do bàn tay quen lao động đồng áng cày bừa cầm chắc cán bút nhấn xuống từng dòng kẻ. Lão viết những đụng chạm vô tình giữa cô trưởng trại chăn nuôi và lão trong ngày thường, những biểu hiện của cô Xoan thông cảm với hoàn cảnh côi cút của cha con lão. Cô Xoan đã dành tình cảm  yêu thương bù trì cho thằng Ngọc, cô đã vào ra xếp nép cho căn nhà cha con lão bớt tuyềnh toàng. Rồi … một đêm mưa, con lợn Đại Bạch thuần chủng đẻ lứa đầu nhờ thụ tinh nhân tạo. Con lơn to dài như chiếc thuyền con, ì ạch thở khó nhọc khi nó chuyển dạ, rồi nó hôộc lên … Xoan và ông Mùi phải gãi, phải vỗ về, dỗ dành và nó lần lượt đẻ ra mười tám chú lợn con trắng phau đỏ hồng, con nào con ấy tròn dài mũm mĩm, trông mà no con mắt. Nhưng đẻ xong thì con mẹ lả đi, Xoan phải hòa nước đường, Vitamin B1 cho nó uống, rồi nấu cháo nếp đỗ dỗ cho nó ăn. Khi con Đại Bạch đã tỉnh táo, đàn lợn con đã lết đến tìm vú mẹ thì trời đổ mưa. Lúc bấy giờ hai người mới thấm mệt và đói. Gà trong thôn đã eo óc gáy, dễ đến hai ba giờ sáng. Cô Xoan nấu vội bát canh đỗ, hai người ngồi ăn ngay trên tấm phản mộc kê ở văn phòng trại chăn nuôi, cũng là chỗ ở, chỗ nghỉ ngơi của cô trại trưởng. Mưa rả rích. Đêm yên tĩnh. Cái phản hẹp. Mùi đàn bà ngai ngái, nồng nàn làm cho lão Mùi rạo rực. Lão ôm lấy Xoan. Cô đã chủ động quàng tay vào cổ lão và chủ động ngả nghiêng xuống phản. Lão Mùi dật tung hàng cúc bấm của chiếc áo cánh nâu non, áp mặt lão vào khuôn ngực tròn trịa nây nẩy, nồng nỗng ấm , nồng nàn thơm cùng lúc ấy như phản ứng tự nhiên cô Xoan co rúm người. Miệng cô cắn chặt vào  bả vai lão mà nghiến… Một lúc lâu sau cô duỗi chân tay, rên khe khẽ, lão Mùi như bay trong làn sương bạc, bảng lảng, bồng bềnh … Ba hồi kẻng từ sân kho hợp tác xã gắt gỏng ngân vang, Mùi và Xoan mới bừng tỉnh… Sau đó còn nhiều lần, khi ở nhà lão Mùi, khi ở trại chăn nuôi … Ông Mùi viết lên những điều ăn năn, hối hận, xin lỗi tổ chức, xin lỗi bà con dân làng. Ông và Xoan đã đến nhà xin lỗi mẹ Bầu và đã được mẹ thông cảm. Ông tự nhận hết khuyết điểm về mình và xin nhận mọi hình thức kỷ luật. Phần cuối ông có mấy dòng viết cho thầy Mùi: “Tôi muốn thành khẩn kiểm điểm với tổ chức, với bà con để tôi và cô Xoan được bà con tha thứ, để chúng tôi được sống thanh thản, đàng hoàng giữa chòm xóm làng quê. Tôi gửi kèm tập giấy, thầy viết giúp cho bản tự kiểm thảo để tôi chép lại gửi cho tổ chức.”

Chợt thầy Mùi nhớ lại lời bà nội của thầy. Bà bảo: “Ông nội cháu trước kia cũng theo đòi đèn sách, đã từng thi hương vài kỳ, được cái tú tài rồi về quê dạy học. Ông kê đơn bốc thuốc cứu độ bao người, còn đặt hướng nhà, chỉ huyệt mộ, can dán việc xích mích trong xã, trong làng. Xuân thu nhị kỳ ông nội và các ông Cống, ông Tú, cụ Cử gặp nhau đốt trầm hương đọc thơ phú, rồi ngâm vịnh, bình, chú, lúc cười, lúc khóc với chữ nghĩa văn chương. Những lúc ấy bà thấy vừa thương, vừa trọng người có chữ. Ông con mất đi còn để lại tập “Đông Ngàn Sơn thủy Vịnh” trong đó có bài “Thiên Nhẫn Phù Vân” được cụ cử Nghiệp khen là “tuyệt bút”.

Thầy Mùi ngẫm ra cái sự bác Mùi nhờ thầy bây giờ cũng giống như ngày xưa vậy. Bà nội kể “ông nội từng “chỉ huyệt cho nhà Bủ Mai. Bố chết đói, phải bó chiếu rách, nhưng trước khi chôn vẫn xé mấy quả cau, lá giầu đến gặp ông nội kể rõ tuổi người quá cố, chết vào lúc nào để xin hướng huyệt, giờ chôn”. Việc lão Mùi tin ông, nhờ ông cũng là “nghĩa xóm, tình làng”. Riêng ông Mùi thọt với ông còn chuyện nọ nối chuyện kia cả một chuỗi. “ân nghĩa tình đời”  sâu nặng.

Thầy giáo Mùi viết giúp và ông Mùi thọt đã viết lại. Nhờ văn thầy Mùi lưu loát hay là việc ông Mùi thọt trình bày thành thực mà khi đọc lên bà con “thương” nhiều hơn “giận”. Bà Bầu cũng đã tìm gặp từng người trong tổ chức để giãi bày. Bà bảo:

- Lúc đi bộ đội anh Bình đang học trường cấp ba trên tỉnh còn cô Xoan ở quê. Cơ sự là do tôi, thấy cô Xoan được người, được nết cũng tính bỏ cơi trầu cho hai trẻ nên duyên. Quả thực khi tôi nói chuyện như thế thì anh Bình và cô Xoan cũng ra chiều thuận. Nhưng anh Bình đi đã hơn sáu năm. Mấy năm nay không thư từ, tin tức. Đã có lần anh Bình viết trong thư khuyên cô Xoan đi lấy chồng. Anh Mùi vợ mất mà nhiệt tâm lo cho làng, cho xã. Nay anh Mùi, chị Xoan nên duyên cũng là phải. Tôi đề nghị tổ chức và bà con không nên vì cơi trầu của tôi mà làm khổ người ta…

*

*     *

Tôi về xóm Gẩu theo gợi ý của Ngọc trước lúc anh bay ra nước ngoài trong chương trình Quốc tế hợp tác khoa học bảo vệ môi trường sinh thái biển. Ngọc tâm sự: Đời mình được đi nhiều châu lục, viết hàng chục cuốn sách, toàn chuyện trên trời dưới biển, thế mà cái miền quê nhỏ bé, bao la ân nghĩa tình đời xóm Gẩu lại chưa tả được một dòng. Về đó cậu gặp thầy giáo Mùi rồi sẽ viết ra khối chuyện.

Thầy Mùi ở trong căn nhà một tầng, được thiết kế hợp lý, tọa lạc trong một khuôn viên làm cho tôi nhìn ngắm say sưa. Như đoán được ý tôi, thầy bảo: “Cả khuôn viên này ngót bảy sào, tôi thiết kế theo hình mẫu V.A.C hiện đại. Có nước, phân đầy đủ, cây cối cho hoa trái quanh năm vui lắm. Khởi thủy vườn này do ông Mùi bố cậu Ngọc cắm, ghi trong sổ sách là một sào vườn đồi. Sau này theo quy hoạch phải đo đạc lại, tính chi ly đâu gần bảy sào, thế mà cậu Thênh trưởng ban địa chính xã bảo với mấy người cùng đi: “Chúng mình ghi vườn thầy là năm sào thôi nhé. Ghi thế hàng năm thầy đóng thuế cho chẵn tiền”. Ái ngại quá, tôi bảo: “Làm thế rồi mang tiếng cho cả tôi và các cậu”. Anh ấy bảo: “Thầy tính ở xã này từ nhân vật to đầu nhất đến các ngành, đoàn thể và lũ choai choai như chúng em có ai không là học trò của thầy. Lớp các ông ấy nghỉ hưu thì đến lớp chúng em lên thay. Thầy yên tâm, ba bốn mươi năm nữa học trò của thầy vẫn làm chủ cái xã này ”. Phải vật nài mãi các anh ấy mới ghi cho là sáu sào mười thước đấy. Bìa đỏ rồi sổ hồng các anh đều làm cho, lại còn ép nhựa mang đến tận nhà”.

Thấy thầy Mùi vui chuyện tôi gợi: “Cái lớp vỡ lòng xóm Gẩu ngày ấy bây giờ còn không ạ?” “Còn đâu, khuôn viên ấy được mở rộng và xây trường mầm non ngay sau khi tôi được điều động lên dạy trên trường tiểu học. Chả là sau này nhà nước có chính sách tuyển giáo viên vỡ lòng vào dạy cấp một (bậc tiểu học bây giờ). Lên đó tôi cũng chỉ chuyên dạy lớp một, nhưng cứ đến hè thì thầy hiệu trưởng lại yêu cầu tôi luân phiên rèn chữ cho số trẻ sáu tuổi ở tất cả các thôn trước khi vào lớp một. Có chút kinh nghiệm và trách nhiệm, học trò càng tiến bộ thì phụ huynh càng quý thầy. Tôi may mắn được trẻ con toàn xã gọi bằng thầy là nhờ vậy”. Thầy chuyên nước vào chén cho tôi và nói rất chân tình:

- Này! Hôm nay ông ở lại ăn cơm với tôi nhá. Bà nhà tôi về chơi với cháu ngoài Hà Nội nhưng thức ăn hai ba ngày đã chuẩn bị sẵn. Tôi cắm nồi cơm điện chỉ vài chục phút là được.

- Cho cháu xin kiếu. Chả là trước lúc vào đây, bác Mùi bố anh Ngọc có dặn cháu trưa nay về ăn cơm với bác, cháu đã nhận lời.

- Nếu đã hẹn ăn cơm nhà ông Mùi thì tôi không giám giữ.

Tôi gọi cho Ngọc báo tin tôi đã về xóm Gẩu gặp thầy Mùi. Anh ấy hỏi tôi: “Cậu thấy mắt thầy thế nào?” Tôi bảo: “Mắt thầy nhìn được bình thường rồi”. Ngọc reo lên: “Thế thì tốt lành quá. Chính con dâu của thầy mổ mắt cho thầy đấy. Con dâu thầy là bác sỹ, tiến sỹ nhãn khoa vào loại giỏi nhưng trực tiếp mổ mắt cho bố chồng thì cô ấy ngại. Cánh tớ phải xúm vào động viên mãi cô ấy mới dám làm. Thế là ca mổ đã thành công”.

Riêng tôi thấy yêu quý xóm Gẩu quá. Đường sá phong quang, nhà cửa đàng hoàng mà vẫn giữ được bờ tre bến nước. Tôi sẽ trở về xóm Gẩu nhiều lần nữa, để nghe, để hiểu, để viết và để xin thầy Mùi cho xem những điều thầy đã ghi lại trong mấy chục năm qua…

 

Viết trong chuyến đi điền giã

vào dịp rét Nàng Bân trước ngày Giỗ Tổ.

 

 

 

 

 


 

NĂM PHÚT

(Truyện ngắn) 

Trước kia đây là thị trấn nghèo. Ga xép này lèo tèo dăm ba quán vắng, nhà thưa. Giờ đây là thành phố, nhà ga được mở rộng, tấp nập người, hàng. Mỗi ngày có sáu chuyến tàu khách qua lại: Ba chuyến vào đêm, ba chuyến về ngày, mỗi chuyến đỗ năm phút.

Năm phút ấy có hàng trăm khách lên, xuống tàu, hàng chục tấn hàng vào ga, ra chợ: huỳnh huỵch, hùng hục, lam lũ, vất vả, khóc cười, gọi mời, giục giã, ồn ào… Tàu đến rồi đi chỉ trong năm phút, với bao hạng người lịch lãm, lôi thôi, đàn ông, đàn bà, người già, con trẻ.

Cứ mỗi chuyến tàu về ban ngày, bà giáo Mão lại ra ga, lên tàu, mang trong cái làn mây đã cũ, ba xâu nem chua bán cho khách đi tàu. Đây là nem chua đặc sản của làng Vạc xa xưa mà ngày nay sắp sửa bị thất truyền. Mỗi xâu một chục quả nem được buộc bởi những chiếc lạt giang nhuộm phẩm xanh, được xâu thành một chuỗi bởi lạt nhuộm phẩm hồng. Màu nâu nhạt của lá chuối khô bọc ngoài quả nem, cùng với màu xanh, màu hồng của lạt, trông đơn sơ, dân giã mà không kém phần trân trọng.

Nhiều khách mua đã quen hàng, thuộc giá, cứ thấy bà lên tàu là nhào đến đưa tiền lấy nem. Có người đeo ngay chục nem vào cổ như đeo chuỗi hạt, có người cất kỹ vào túi, vào đẫy mang về làm quà, có người tháo chuỗi nem ra mời, chia vui với bạn đồng hành: “Mời ông, mời bà, mời cháu. Các cụ dạy “Chuyên đò nên nghĩa”, nay ta cùng chung một chuyến tàu, xin mời nếm cùng tôi quả nem đặc sản quà quê này mà nhớ”. Như ra vẻ ta đây thành thạo, bà khách nói thao thao trong tiếng xình xịch, ken két của bánh tàu đang vỗ nhịp với đường ray: “Đây là nem của bà giáo Mão. Gọi bà giáo vì chồng bà dạy học, còn bà nguyên là thanh niên xung phong, về mất sức, không có lương. Mỗi ngày bà làm chừng trăm quả nem, chỉ bán trong ba chuyến tàu ban ngày, để thêm tiền rau, muối. Bà làm nem này theo quy cách làm nem của làng Vạc từ đời xưa truyền lại. Ngoài việc chọn thịt ngon, giã nhuyễn, ướp tẩm công phu theo quy trình công thức gia truyền, ngay đến cái lá lót, lá gói bà cũng làm kỳ công lắm: Lá đinh lăng nõn nà được ngắt tỉa từ chiều hôm trước, trong vườn nhà nguyên là đất phù sa ngòi Vạc, nó có mùi thơm dìu dịu như hương quế thượng ngàn. Những chiếc lá ổi non, nguyên lông tơ mịn, ngắt từ Trại Ổi tự ngàn xưa um tùm trên gò Vạc. Lá ổi, lá đinh lăng được rửa sạch bằng nước Giếng Ngọc của làng xưa. Một cái giếng truyền đời nước trong veo, những ngày nắng nhìn xuống giếng thấy mây bay lơ lửng giữa bầu trời. Lá chuối ngự non được chọn kỹ, rọc thành tấm, hơ qua trên lửa rơm vàng rồi lau sạch làm lá gói lót và những chiếc lá chuối già, lau sạch, rọc thành tấm, phơi giữa nắng trở nên màu nâu nhạt, làm lá bọc ngoài cùng” .

“Người xưa không gọi là “cái nem”; “chiếc nem”; “miếng nem” như bây giờ. Các cụ gọi là “quả nem” một thứ quà quê mà hương thơm, mùi quả. Nó cũng có giờ chín tới, chín muỗn và hỏng như quả na, quả ổi trong vườn.

Quả nem chín, tỏa hương thơm dịu nhẹ của hương đất, hương cây, một thứ hương thơm ngon ngọt. Bóc hết lớp lá chuối già ta cảm như có chút thoảng thơm mặn mòi của thứ nước mắm cốt, đặc sánh được chắt ra từ lu sành, ướp giống tép dầu béo ngậy của đầm quê. Và lõi nem màu hồng tươi được bao ngoài một cánh nhỏ lá đinh lăng và chiếc lá ổi non đã được xén cho vừa phải…

“Ấy! Mời ông, mời bà, mời cháu, bóc nem mà thưởng thức xem bà già này nói đúng hay sai. Quả nem vừa chín tới, khô, cầm tay mà cắn dè, ngẫm từ từ cho biết hương vị thơm thảo của quà quê”.

Hôm ấy, bà giáo Mão vừa bước lên tàu, ngay góc toa đã có người gọi lớn: “Cô giáo”! Miệng nói, tay hắn đón lấy cái làn mây, thành thạo móc ra ba xâu nem. Hai xâu hắn lồng qua đầu đeo vào cổ: Một cái đầu trọc, sẹo gồ ghề, tóc mọc lởm chởm và một cái cổ vằn vèo bao nhiêu là sẹo. Hắn cầm chục nem còn lại, tháo lạt và bảo: “Cô giáo bóc nem hộ cho con với”. Hắn bóc nhanh và bà Mão bóc đỡ, cứ hết phần lá chuối nõn là hắn ném tọt cả quả nem vào mồn, nhồm nhoàm nhai, ngấu nghiến nuốt. Có khi hắn nhai vài ba quả nem một lúc.

Ăn xong chục quả nem, mắt hắn sáng quắc, khuôn mặt hình lưỡi cày dãn ra. Mãn nguyện. Hắn nói:

- Con là học trò của thầy. Một đứa học trò không cha, không mẹ, ăn trộm, ăn cắp, ai cũng khinh ghét, chỉ riêng thầy luôn gần gũi, dạy bảo con. Những ngày con trốn học, bỏ giờ, thầy cho gọi con đến nhà dạy bù, phụ đạo. Dạy xong thầy cho xâu nem, ăn rồi nhớ mãi…

Con không còn tiền trả cho cô đâu, nhưng con có cái áo này gửi biếu thầy. Tấm áo vợ con đưa, ngày con nhập trại. Nó bảo: “Anh cầm lấy tấm áo này, nếu chết thì chôn theo, nếu sống thì khoác nó về với em”. Cô cầm cái áo cho con vui. Mấy năm con mặc áo tù, áo này còn nguyên như mới. Cô đừng ngại. Con vừa được đặc xá. Vợ con đang đợi đón con ở ga sau”.

Nói đoạn, hắn cởi áo, dúi vào làn mây, rồi đứng dậy lững thững bước sang toa bên. Trên cổ hắn toòng teeng hai vòng nem như đôi vòng xích, trông vừa ngộ nghĩnh vừa ngang tàng.

Đầu máy đã rúc một hồi còi dài, tiếng loa vang vang dục giã: “… Đã đến giờ tàu chuyển bánh…”.

Cô giáo Mão bật khóc. Cô nói như phân bua với mọi người: “Khổ tôi quá! Anh gì ơi! Nhà tôi đã mất rồi!” Không một lời đáp lại. Anh chàng kia đã nhòa giữa bao người.

Cô giáo Mão lập cập xuống sân ga vừa lúc tàu chuyển bánh. Đoàn tàu xình xịch đi về ga tiếp theo.

 

 

 

 

 

 

 

 

SÍNH LỄ

(Truyện ngắn)

 

Thượng  Lâu Đình tĩnh lặng.

Đêm xuân này trăng lu.

Đức ngài Hùng Vương Thứ Mười Tám nằm trên võng gai. Võng khoan thai đưa nhè nhẹ. Lão Bộc biết rằng Ngài đang thức. Võng gai, có dây tơ nối với cột hiên đình, Đức Ngài chỉ việc vuốt khẽ khẽ sợi dây là võng nhè nhẹ đưa. Tiếp thêm dầu trám vào bọng đăng, khêu nhẹ bấc cho đèn sáng hơn, lão Bộc lại lùi ra, khoanh tay, đứng bên tấm lịa, nhìn ra cửa lầu. Nhựa trám cháy tỏa hương thơm dìu dịu, ngọn đèn vừa khêu tỏa ánh sáng bập bùng làm bóng lão in lên vách lầu lay động. Tiếng con tắc kè bông làm tổ trên bọng cây chò già đã cất ba tiếng gọi bạn. Lão Bộc nghĩ: Đêm đã vào khuya! Con tắc kè thấm cái lạnh của đêm xuân làm nó hứng tình? Hay nó đã ngủ thiếp đi trong cô đơn để đến thức giấc giật mình gọi bạn? Ngoài xa nữa có cây phong lan móng rồng nào vừa trổ hoa tỏa vào đêm xuân một làn hương ngọt ngào hòa cùng hương cây mộc bên hiên âm thầm thơm lặng lẽ. Lão Bộc thở dài khẽ như một giây xao xuyến, lão nói với lòng mình: Mùa xuân đã đến, mùa xuân đang chín, xôn xao, rạo rực, đem theo niềm khát khao, hi vọng của muôn loài.

Lão Bộc có cha làm Bồ Chính, thuộc Bộ Cửu Đức(1) xa ngái kia. Từ tấm bé Bộc đã được cha dạy cho những bài học vỡ lòng về các thế võ gia truyền và làm quen với những miếng đánh, miếng đỡ cơ bản của các thế côn, quyền, cung, nỏ. Bẩm sinh trời phú, mới mười tuổi khiếu thao lược của Bộc đã nổi tiếng như sóng cồn: Bộ Cửu Đức mới xuất hiện thần đồng võ. Trong một lần kinh lý, đức Tiên Vương nhìn thấy Bộc thoăn thoắt múa gậy dưới đêm trăng rồi đem lòng thương mến. Bộc được theo Tiên Vương về kinh đô Phong Châu, được các Lạc Tướng kèm cặp, chỉ bảo. Mỗi một tuần trăng có ba ngày Mộc lại được các Lạc hầu đến giảng về kinh sách. Chẳng bao lâu, Bộc đã trở nên một trang thiếu sinh tài ba nổi trội. Về võ, Bộc tinh thông cả thập bát ban. Năng khiếu bẩm sinh hòa quyện cùng các thế võ được dạy bài bản, nhiều lần các Lạc Tướng đã xin đức Vua cho Bộc theo kèm bên ngựa đi trấn an dẹp loạn một vài nơi. Khi lên Bộ Vũ Định, một mình Bộc xuyên rừng vào hang lèn thẳm sâu bắt tướng phỉ... Bộc là người nổi trội, đứng hàng đầu trong lớp thiếu sinh. Vóc người chắc khỏe, gương mặt khôi ngô, tính tính điềm đạm, nói năng kiệm lời, đặc biệt là đức trung thực thẳng thắn. Nhiều lần Bộc được Tiên Vương ban thưởng, mười sáu tuổi Bộc đã được bàn việc cùng các Lạc Tướng. Mười tám tuổi Tiên Vương cho làm cận vệ, được theo bên ngựa hầu cận bất kể ngày đêm. Tiên Vương băng hà, Lang Cả lên nối ngôi, xưng là Hùng Vương Thứ Mười Tám vẫn chọn Bộc làm cận vệ và từ bấy vua tôi luôn gần gũi bên nhau.

Lo việc nước trăm bề, nhiều đêm đức vua không ngủ, chỉ có nhà vua và Bộc như hình với bóng. Những lúc ấy vua kê cao gối gỗ mộc hương, nằm trên võng gai lắc nhẹ, cho tâm hồn chìm trong tĩnh mịch đêm thâu mà luận suy, tính toán, hoạch định việc nước việc đời. Còn nhớ năm xưa, khi giặc buồm đen vào quậy phá, cướp của, giết người già, hãm hại đàn bà con trẻ, cả một bộ Ninh Hải dân khóc như ri, tiếng kêu than thấu trời dậy đất. Lạc Tướng, Lạc Hầu trấn giữ Bộ ấy đã nhiều phen dùng sức, dùng mưu nghênh địch, nhưng lũ giặc thiện chiến, biết lợi gió để căng buồm, biết chừng con nước ròng nước rặc mà vào ra, biết dựa vào đảo nhỏ đảo to mà ẩn nấp, lại có tướng giặc thạo phép độn giáp xuất quỷ nhập thần cho phép lũ quân như sói lang tha hồ man rợ làm cho quan quân Ninh Hải nhiều phen thất điên bát đảo. Đức vua Hùng Vương Thứ Mười Tám cùng Bộc, bí mật về Ninh Hải đóng vai người đi đổi cá lấy rượu để điều nghiên thực tế suốt cả một tuần trăng. Đức vua cứ lân la gặp các già làng, các Bồ chính mời rượu và hỏi chuyện:

- Rượu của ta có nhiều và ngon lắm! Ai có cá to mang ra ta đổi cho.

Hỏi trăm người, trăm miệng đều nói:

- Giặc chiếm mất biển rồi, dân chỉ còn biết ngày ngày lắc thúng, nhặt con tép, con moi. Không dám vào lộng ra khơi, không bắt cá to được.

- Sao không đánh đuổi quân giặc mà giữ biển?- Đức vua hỏi.

Thần dân đều nói:

- Đã đánh! Đánh nhiều trận rồi! Nhưng đành trong bờ thì ta thắng, đánh ngoài biển thì ta chưa thắng được vì nó có thuyền to, buồn đen căng như đám mây báo bão. Thằng tướng giặc, mặt đỏ như vỏ tôm he, thân to như ông đùng ông đoàng, cầm ngang ngọn giáo, đứng đầu mũi thuyền, phất cờ đốc chiến, trông nó vừa dữ tợn vừa hung hăng, bao nhiêu cung nỏ bắn tên vào, tên không xuyên thủng người nó được.

Đức vua lại hỏi:

- Tên tướng ấy có đi lại, chạy nhảy bình thường như người ta không?

- Nó chỉ ở trên tuyền. Chân đi khệnh khạng, tay vung kềnh càng - Thần dân thưa.

Đức vua vừa nghe vừa gật gật đầu, vừa vuốt chòm râu lòa xòa phơ phất chau mày ngẫm nghĩ.

Đêm ấy, Bộc lại dựng lều, mắc võng gai, kê gối mộc cho đức vua nằm nghỉ. Đêm nồm biển, trong gió hòa hơi biển, mằn mặn, se se. Chừng gà gáy sang canh chợt đức ngài gọi Bộc, giọng nhà vua sang sảng, chứng tỏ đức Ngài chưa chợp mắt:

- Này Bộc! Bộc chợt tỉnh ngay. Vội thưa.

- Dạ!

- Tên tướng giặc to béo, oai phong, đi khệnh khạng, mũi tên không xuyên qua được người nó, nghe vậy nhà ngươi có suy đoán gì không?

Lão Bộc lặng im chốc lát, như để lựa lời thưa, ngắn gọn nhất. Bộc nói:

- Thưa đức vua, vậy có thể là tên tướng giặc ấy có mang theo vật che thân làm cho người nó to thêm, bộ hành chậm chạp, mũi tên khó xuyên qua.

Nghe tới đây, đức vua vùng dậy, vỗ đùi nói với Bộc giọng rất nhẹ nhàng:

- Lời nhà ngươi nói, trúng với ý ta rồi!

Bất chợt nhà vua hỏi Bộc, câu hỏi như không liên quan gì đến việc đánh giặc:

- Ta nghe nói thủơ thiếu thời, nhà ngươi từng có lần thi lặn qua rào Mỹ Chậu - Hộ Độ ở quê nhà. Năm trước người ta lại đồn rằng nhà ngươi lặn một hơi qua Ngã Ba sông Bạch Hạc, lại còn mò vào các hang động dưới đáy cửa Lô Giang để bắt cá Anh Vũ cho dân làm gỏi tế thần Hạc Trắng, có đúng vậy không?

- Tâu bệ hạ? Đúng vậy đấy ạ.

- Vậy ra nhà ngươi có biệt tài hay có phép thuật gì mà ở dưới nước được lâu vậy?

- Thần chỉ bắt chước các bậc ngư phủ hàng cha chú ở quê nhà trong Bộ Cửu Đức mà thôi. Người ta cắt những ống trúc nhỏ cỡ ngón tay rồi nối lại với nhau. Khớp nối được làm bằng cây ruột gà, một loại giây leo mềm, dẻo, có nhựa keo mà hầu như trong vương quốc ta rừng, rậm nào cũng có, tạo thành cây trúc bách phân có hàng trăm đốt thông nhau làm ống thở. Lúc lặn sâu thuốn cá hoặc mò ngọc trai, ngư phủ ngậm vào miệng ống để thở còn đầu kia gắn vào phao câu cho nổi lên mặt nước. Cần lặn sâu thì nối ống thở dài cho đến lúc nào ngư phủ cảm thấy tức ngực, khó thở thì không lặn tiếp nữa.

- Vậy nhà ngươi có thể bày cho các ngư phủ của Bộ Ninh Hải cách lặn như thế để đục thủng đáy thuyền giặc được không?

- Bẩm được ạ.

Nhờ chước ấy mà dẹp tan hàng dãy thuyền to nhỏ của lũ giặc cướp buồm đen.

Sau chiến công ấy, Bộc được vua ban thưởng một vuông khố điều đỏ thắm như hừng đông, được dệt nên bởi những sợi tơ rút ra từ kén những con tằm chuyên ăn lá cây dâu tía, nhả ra kén hồng, lại được các mỹ nữ vùng Tiên Cát với đôi tay ngọc ngà kỳ công trau chuốt dệt nên. Loại lụa ấy đức vua dùng may áo ngự bào và để ban thưởng cho những ai có công lớn với nước nhà.

Bộc được theo đức Hùng Vương Thứ Mười Tám đi kinh lý khắp mười lăm bộ trong cõi bờ Lạc Việt. Đến đâu đức Vua cũng về với dân, hòa với các bô lão, già làng, Bồ Chính trong bữa tiệc vui, trong chén rượu buồn để nghe ngóng thời sự dân tình. Người phủ dụ dân hãy hiền thảo làm ăn, chăm lo nghèo khó, lá lành đùm lá rách đầm ấm thương yêu. Người gặp các Lạc hầu, Lạc tướng, tri nhậm cát cứ ở các Bộ để bảo ban, thăm hỏi. Đặc biệt, đến đâu Người cũng tìm gặp các Quan Lang, con cháu dòng tộc Hùng Vương được bổ nhiệm, phân về cát cứ các bộ, các vùng, Người nói:

“Vua Tổ sinh ra chúng ta, giao cho cai quản giang sơn Lạc Việt. Các quan lang được phân về cát cứ các vùng là nghĩa vụ và bổn phận thiêng liêng trước giang sơn và dòng tộc. Hãy thương dân như thương con; Hãy quý dân như quý mạng sống của mình. Gần đây ta nghe có người muốn ức hiếp dân để lấy ngà voi, gỗ quý. Thậm chí có kẻ còn rắp tâm cướp vợ, hiếp gái nhà lành. Đó là việc làm của lũ hôn quân vô đạo mà các bậc Tiên Vương đã từng nghiêm trị. Các ngươi phải nhớ: Hãy giữ lấy sự trong sáng của dòng tộc Hùng Vương như giữ sự sáng trong mắt mình vậy.

Trong kinh đô Văn Lang và các Bộ, khắp các thần dân, ai cũng ghi tạc lời phủ dụ quý như châu báu của các đấng tiên vương dòng dõi các Vua Hùng. Điều răn với các Hoàng Tử và công chúa như sau: “Ta sinh ra các con để cùng toàn dân làm cho Lạc Việt ta thêm giàu mạnh. Ta nuôi các con là nuôi hi vọng về sau, các con làm rạng danh Lạc Việt muôn thuở thịnh cường. Các Quan Lang hãy tích đức, luyện tài, rèn trí dũng, các Mỵ Nương hãy đảm đương, trung hậu, nết đoan trang. Với anh em trong dòng tộc, Hùng Vương cũng truyền đời lời ủy thác: “Chúng ta là anh em một nhà, trong cùng dòng tộc chi trên cành dưới phải đùm bọc nhường nhịn nhau đã đành, nhưng với muôn dân càng phải nhường nhịn thương yêu hết mực bởi tất thảy con dân Lạc Việt đều chung nguồn cội…”.

Được hầu hạ đấng Minh Quân như đức vua Hùng Vương Thứ Mười Tám, lão Bộc cũng thấy thỏa lòng. Đức Vua trị nước nghiêm minh, thần dân bái phục, trăm họ đồng lòng, triều chính chỉnh tề, các cận thần, các quan văn, võ theo thứ bậc phục tùng răm rắp. Muôn dân trăm họ chịu khó làm ăn. Hòa bình là dân nông trồng trọt cấy cày chăm chỉ; Có giặc là dân binh tầm vông, cung nỏ dựng lũy đắp thành, kẻ trước người sau xông lên liều thân giết giặc, giữ yên bờ cõi Lạc Việt ngàn năm.

Vài năm nay, công chúa Mỵ Nương cập kề đôi tám, có sắc đẹp tuyệt trần cá lặn chim sa. Đã đẹp người, nàng còn đẹp nết, đã khéo tay canh cửi vá may, lại được giọng hát ca, múa lượn, thường dạy các cung nữ và con gái các quan trong kinh đô Văn Lang những điệu Xoan, điệu ví. Những lần được theo cha kinh lý các bộ, các vùng, bao giờ nàng cũng nhập tâm bắt chước và mang về kinh đô những làn điệu mới. Tính nàng khẳng khái nhưng cũng giàu đức thương người. Có lần về Bộ Vũ Ninh, khi thuyền Ngự của đức vua neo trên sông Cầu Giang trong một đêm trăng thanh gió nhẹ chợt nghe trong bờ bãi ven sông ai đó cất lời ca:

“Thân em như khóm lúa tám xoan/ Đã bị ngâm nước mặn lại bị chan nước phèn” mắt Mị Nương ngân ngấn lệ, nàng xót xa cho thân phận của cây lúa đồng Lạc Việt và nỗi truân chuyên của thân phận con người.

Hay tin My Nương đến tuổi cập kê, hàng trăm chàng trai tuấn tú trong vương quốc rắp ranh xin làm phò mã: Người thì văn tài, người thì giỏi võ, người thì giàu có, người thì hào hoa... Nhưng khi biết tin Sơn Tinh, vị chúa miền non cao và Thủy Tinh, vị chúa miền nước thẳm đều đánh tiếng xin đức vua được đón Mỵ Nương về làm vợ thì tất thảy tự rút lui vì thấy mình chưa xứng tầm so tài đọ sức. Sơn Tinh và Thủy Tinh đều tự thấy mình tương xứng với tài sắc chim sa cá lặn của công chúa Mị Nương. Hai chàng trai tài ba nổi tiếng, tuy chưa được làm phò mã nhưng Thủy Tinh đã tuyên ngôn hùng hồn rằng: “Ta có tài hô gió gọi mưa, vẫy biển nước dâng, đe sông sông cạn. Ta có đội thủy binh hùng hậu hằng hà sa số quân. Ta có tướng Bạch Tuộc trăm vòi vào chiến trận có thể xuất chưởng làm mờ biển cả, làm tối tăm một vùng nước đặc sánh như đêm đen, đối phương có mạnh như kình ngư, như cua kềnh, như ông Ngừ biển cả... lập tức bị bắt, bị ăn tươi nuốt sống. Ta có tướng thuồng luồng sức mạnh vô song, vây như mái chèo quạt nước đùng đùng, đuôi như tầm sét đánh đâu chết đây, bụng ăn không biết no, mỗi lần há miệng đớp có thể nuốt sống hàng trăm sinh mạng: Ta có... Ta có...” Nghe tiếng Thủy Tinh oang oang khoe sức, khoe tài chúng dân Lạc Việt vô cùng hoảng sợ khi nhớ đến những cơn mưa dầm dề hàng tháng ròng làm thối đất chết cỏ, đồng điền ngập úng, núi sạt đất lở cơ cực lầm than. Bất kể đêm ngày lời Thủy Tinh oang oang vang khắp mương rãnh khe ngòi sông suối, vừa khoe tài, vừa thách thức. Đó là lời thách thức đối với Sơn Tinh hay là lời hăm dọa với cả mọi thần dân? Trong khi đó trên đại ngàn xanh thẳm Tản Viên, Sơn Tinh cùng quân gia ngày ngày cần mẫn luyện phép nâng đất, làm cho dòng Đà Giang hẹp lại, cho Ba Vì gần với Hoàng Liên ở Phương Bắc, cho Ba Vì gắn với Trường Sơn ở Phương Nam tạo nên biên lũy bảo vệ kinh đô Phong Châu, làm phên dậu chở che phía Bắc, phía Tây, phía Nam giang sơn cẩm tú. Nâng đất đến đâu, chàng cho trồng cây đến đó, cây mọc nên rừng. Đất ngăn nước, cây giữ nước tạo ra nhiều làng vui, bản ấm no lành.

Mãi không thấy Sơn Tinh đáp lời, Thủy Tinh càng đắc chí, chàng như đã cầm chắc phần thắng về mình, lại huênh hoang vẽ ra những tương lai huyễn hoặc: “Khi cưới được My Nương kiều diễm ta là phò mã tài ba dũng lược của nhà nước Lạc Việt, quyền thế uy danh lừng vang bốn cõi, ta sẽ vơ vét hết vàng lụa trong cõi nhân gian và châu báu trong bốn bề, xây cho nàng Biệt Điện Tướng Phủ nguy nga, tráng lệ, sang trọng đệ nhất thế gian. Ta sẽ mang ngọc trai châu báu chốn thủy cung làm vật cầu thân nhờ cậy Nam Tào ban cho nàng trường sinh bất lão. Ta phong nàng làm hoàng hậu miền biển thẳm. Ta sai nàng Tiên Cá luyện cho nàng giọng hát của biển khơi hòa trong dàn hợp xướng mê ly của những thần tiên cánh sóng có những đôi môi hồng như san hô, làm cho bao nhiêu thủy thủ tài ba đắm đuối chốn trùng khơi chẳng nỡ rời xa...

Tựa đầu vào chiếc gối mộc gỗ thơm tì, tỏa hương dìu dịu, nhà vua suy tư lặng yên. Thấy chiếc võng chao nhẹ, tưởng nhà vua đã ngủ, lão Bộc rón rén lại gần khẽ khàng tém tấm đắp bằng da báo gấm. Chợt tiếng đức vua sang sảng cất lên, ngài chưa ngủ, tiếng nói rõ ràng, trong sáng, sang trọng: “Này lão Bộc! Ngày mai ta cho thiết triều công bố trước cung đình, trước Lạc Hầu, Lạc Tướng và đông đảo thần dân kinh đô Văn Lang lời thách cưới nàng Mỵ Nương với Sơn Tinh, Thủy Tinh. Nhà ngươi có cao kiến gì muốn nói với ta chăng?”

Lão Bộc chắp tay cung kính: “Bẩm đức vua, thần tưởng rằng việc đó đức ngài đã nghị đàm với các bậc trưởng lão, các quan lang, Lạc Hầu, Lạc Tướng ở kinh đô và khắp cõi Lạc Việt ta rồi!”

Tiếng đức Vua sang sảng: “Có, ta có nghị đàm, có nghe nhiều đề xuất tư vấn, nhưng chưa thuận tai, có người bảo hãy thách cưới nhiều rượu thịt cho toàn Lạc Việt túy lúy no say trong ba bốn ngày vui vẻ. Nhưng ta nghĩ no say rồi nước nhà Lạc Việt có cường thịnh hơn không? Có người khuyên nên thách cưới thật nhiều trâu bò, lợn gà, xiêm y, đàn địch, ngọc ngà, lụa là, châu báu, cho Lạc Việt nên giàu, muôn dân trưng diện, ăn chơi vui vẻ thỏa sức quên đời, lạc thú say sưa... Vậy thì bỏ bê đồng điền, ai cày bừa cấy hái, ai chăn tằm dệt vải, ai trấn giữ biên cương...

Có người khuyên ta thách cưới trái Đào Trường Thọ, ăn được trái đó, nhà vua trẻ mãi thiên thu, giữ ngôi báu mãi mãi của mình. Ôi! Thế ra bằng khuyên ta tham quyền cố vị ư.

Có người bảo, hãy thách cưới viên ngọc gia bảo của Vua Thủy Tề để khi ngậm vào miệng có thể rẽ nước mà đi như trên cạn, thu vào tầm mắt biết bao nhiêu sản vật, phong cảnh kỳ thú chốn thủy cung. Nếu vậy ta say ngắm cảnh lạ mà quên vương quốc này ư? Có người bảo ta hãy thách cưới “Duy nhất giác mã”. Đó là cái sừng độc nhất của con ngựa mọc sừng. Ngày ngày mài sừng đó trong nước uống có thể dư sức mỗi đêm tận hưởng lạc thú hàng trăm mĩ nữ cung tần. Hùng Vương Thứ Mười Tám trở thành ông vua đệ nhất phong độ dưới gầm trời Văn Lang, vượt trội ấy xưa nay không ai sánh kịp. Để rồi hậu thế chê cười ta là ông vua đệ nhất trụy lạc ư?

Chao ôi! My Nương công chúa là con ta, nhưng nàng cũng là thần dân Lạc Việt. Gả nàng cho ai phải được mẹ đất cha trời chứng giám, phải chọn được phò mã có tài ba giúp nước, giúp triều đình an dân, giúp cho bách tính muôn nơi an hưởng thái bình, tiếng hoan ca ấm no của khắp mười lăm  Bộ toàn cõi Lạc Việt, từ Nam ra Bắc, từ Đông lên Đoài. Ta suy tư mãi chọn ai một trong hai chàng Sơn Tinh và Thủy Tinh làm phò mã để giúp ta làm cho nước thịnh dân giàu? Giờ thìn hôm nay tại dinh Hy Cương, dưới chân núi thiêng Nghĩa Linh và lăng tẩm của Tiên tổ dòng dõi Hùng Vương ta sẽ trịnh trọng ra lời thách cưới với hai chàng một cách công khai và rõ ràng trước toàn thể văn võ bá quan trong triều đình và đông đảo thần dân chứng giám. Lễ dẫn cưới gồm cả linh vật và báu vật. Linh vật là vật truyền thống thờ cha trời mẹ đất.

Ta chọn “Một trăm ván cơm nếp, hai trăm đệp bánh chưng”. Giang sơn ta có biển rộng, sông sâu, rừng rậm chứa hằng hà sa số báu vật trầm tích ngàn năm. Báu vật thách cưới phải thể hiện được sự quý hiếm còn phải biểu tượng cho tinh thần quật cường, thượng võ, bất khuất cao sang của tiên tổ và thần dân. Ta chọn “Voi chín ngà, gà chín cựa, ngựa chín hồng mao”. Voi và ngựa là những con vật kiêu dũng, thiện chiến đã nhiều phen xung trận, giương ngà giết giặc, tung bờm liều thân; Gà là linh vật, được cúng thờ tổ tiên và cũng là con vật cần phải có nhiều cựa cứng cựa dám nghênh địch với kẻ thù.

Đức vua nói như giãi bày với lão Bộc điều tâm sự. Chợt nhà vua hỏi:

- Ta thách sính lễ như vậy, nhà ngươi nghĩ sao?

Lão Bộc cúi đầu yên lặng. Đêm mùa xuân tiết trời về sáng như ấm hơn. Đó là tiết ấm áp cho xuân về thêm rực rỡ chồi dâng hoa nở, Lão Bộc đắn đo, rụt rè thưa:

- Bẩm đức Vua, thách cưới: “Một trăm ván cơm nếp, hai trăm đệp bánh chưng” là rất thuận lẽ đời, luật trời xưa nay đã định cho muôn dân. Còn “Voi chín ngà, gà chín cựa, ngựa chín hồng mao” là báu vật của rừng. Liệu có gây khó cho Thủy Tinh chăng?

Bất chợt nhà vua ngồi dậy làm cánh võng chao nghiêng, Bộc vội vàng đến đỡ, nhưng trong nháy mắt nhà vua đã ngồi lại ngay ngắn vững chãi, ngài vỗ đùi, vuốt chòm râu cước mà cười! Nhà vua cười to, giọng cười vang vang, sang sảng đầy cảm khoái. Tiếng cười làm rung rinh cả mái đình Thượng Lâu, làm xào xạc cả những cây cao tán rộng quanh vùng. Nghe tiếng cười sảng khoái và kiêu dũng của Đức Vua, lão Bộc run bần bật, sợ nhà Vua quở phạt. Nhưng không! Người ngồi lại ngay ngắn, ánh mắt sáng thông minh, vầng trán cao nhân nghĩa, chòm râu cước hiền từ, tất cả như hòa đồng, cùng bừng tỏa sáng, ngời lên dưới ánh lửa dầu trám bập bùng.

- Nhà ngươi nói phải! Đó chính là điều ta suy tư cân nhắc không biết mấy canh thâu. Sơn Tinh và Thủy Tinh đều là những người tài. Nhưng ta chọn con rể không phải cho bản thân ta, cũng không chỉ tìm chồng cho con gái Mị Nương yêu dấu của ta mà là kén người hiền tài cho đất nước. Ta thấy Thủy Tinh cậy tài hô phong hoán vũ nhưng, ta e tài ấy dễ biến chứng thành độc tài nguy hại. Còn Sơn Tinh, chàng có thể giúp cho đồng điền thêm xanh, cho núi thêm cao, cho rừng thêm thâm u nhiều cây cao bóng cả, che chở dân lành. Sơn Tinh là một Hiền Tài! Ta thấy cuộc sống của Sơn Tinh tường minh chân thiện hơn. Ta mong muốn được chàng làm phò mã, với tài nâng đất, ta sẽ giao cho chàng trị thuỷ giúp muôn dân.

Ngộ ra ý tứ cao sâu của đức Vua, lão Bộc phấn khởi, lão ngắm đức Vua một cách cảm phục và sùng kính. Chợt lão Bộc thảng thốt kêu lên điều ngạc nhiên vừa xuất hiện không ăn nhập gì vào câu chuyện đang bàn:

- Bẩm đức Vua! Qua một đêm thâu mà tóc ngài đã bạc hết cả đầu, trắng như bạch tuyết.

Đức Vua lại vuốt râu, nở nụ cười hiền như bậc lão nông vẫn cười vui cùng con cháu:

- Vua cha ta thường dạy: Làm đức Minh quân không chỉ biết ngồi trên ngôi báu cho trăm họ tung hô vạn tuế mà cốt yếu là hơn người trí tuệ, hơn đời ở sự chịu khó nghĩ suy. Hãy nghĩ về muôn dân, hãy lo cho xã tắc, thì bao giờ tấm lòng cũng trong sáng, mà khi tâm đã sáng thì trí tuệ luận ra điều minh triết có lợi cho nước, có ích cho dân để lại tiếng thơm muôn thuở cho nhiều đời sau con cháu tự hào ...

Xa xa đã văng vẳng tiếng loa, tiếng trống cổ vũ muôn dân trẩy về Nghĩa Lĩnh dự hội. Đức Vua bước ra sảnh Thượng Lâu, sai lão Bộc chuẩn bị ngựa ngự. Cả một vườn Thượng Uyển nơi Thượng Lâu rực rỡ sắc hoa đào. Cùng lúc ấy ở dinh Tiên Cát, Hoàng Hậu, Mỵ nương và các cung tần cũng đã xúng xính cưỡi đàn bạch tượng, che lọng vàng nhịp nhàng cùng tiếng loa dẹp đường, tiếng trống dồn giục bước.

Dọc Lô Giang, Đà Giang, Thao Giang trên bộ dưới thuyền quan quân, dân chúng rực rỡ, tinh khôi con Lạc cháu Hồng trẩy về Nghĩa Lĩnh linh sơn như nước xiết. Đức Vua Hùng Vương Thứ Mười Tám vận áo Long Bào, đội mũ Bình Thiên cưỡi con tuấn mã màu nắng hạ dẫn đầu đoàn quan gia từ Thượng Lâu đi ra, hợp với đoàn Bạch Tượng của Hoàng Hậu và công chúa tại trang viên Gia Cẩm rồi đoàn voi ngựa ngược qua Minh Nông - Thậm Thình. Dân chúng đứng kín hai bên đường hồ hởi tung hô vạn tuế. Bạt ngàn hoa đào rực thắm khắp đường thôn đồi dọc suốt đường đi. Ngày Hội kén rể hiền của đức Vua Lạc Việt năm ấy rực rỡ trong muôn cánh hoa xuân tươi thắm.

 

Trở về Đất Tổ sau bao năm tha phương

 

 (1) Theo cuốn “Các triều đại Việt Nam” của hai tác giả Quỳnh Cư và Đỗ Đức Hùng do Nxb Thanh niên in năm 2001 thì nước Văn Lang thời Hùng Vương chia làm mười lăm (15) bộ là: Văn Lang, Châu Diên, Phúc Lộc, Tân Hưng, Vũ Định, Vũ Ninh, Lục Hải, Dương Tuyến, Giao Chỉ, Cửu Chân, Cửu Đức, Việt Thường, Bình Văn, Hoài Hoan, Ninh Hải.

 


 

 

 

 

 

 

 

NGÂN VỊNH


- Họ và tên khai sinh: Phùng Ngân Vịnh


- Sinh năm: 1942

- Quê quán: Xã Thạch Đà, huyện Mê Linh, Hà Nội

- Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam (từ 1986)

 

- Tác phẩm chính đã xuất bản:

* Tình yêu nhận từ đất (Tập thơ)

* Bóng rừng trong mưa (Tập thơ)

* Ếch con và hoa sen (Tập thơ)

* Hoàng hôn mây bay (Tập thơ)

* Ngày thường đam mê (Tập thơ)

* Tiếng đàn của dế (Tập thơ)

* Phía hoàng hôn yên tĩnh (Tập thơ)

* Cõi lục bát (Tập thơ)

* Lặng lẽ tường đá ong (Tập thơ)

* Con chuồn chuồn nghệ (Tập thơ)

* Sương đẫm lá khộp khô (Tập thơ)

- Giải thưởng văn học:

* Giải văn học 10 năm thành phố Đà Nẵng lân thứ nhất 1975 - 1985

* Giải văn học 10 năm thành phố Đà Năng lần thứ hai   1985 - 1995

* Giải nhì của cuôc thi thơ của Tạp chi VNQĐ năm 1984

* Giai nhì không có giải nhất của cuộc thi thơ báo Phụ Nữ Viêt Nam năm 1994

* Giải Sông Mê Kông lần thứ 5 năm 2014

* Giai A về văn học nghệ thuật , báo chí của  Bộ quốc   phòng 5 năm một lần 2009 – 2014. 

- Suy nghĩ về nghề văn:

Với tôi thơ như duyên nghiệp . Thơ là nơi gửi gấm khát khao cuộc đời, chia xẻ những buồn vui , đau khổ, ngoài ra đó là người bạn      tri âm đồng hành mọi lúc, mọi nơi. Thơ viết trước tiên là để cho mình rồi mới cho bạn đọc. Có được cái hay cái đẹp với  những tầm  suy nghĩ sâu sắc, chân tình đi thẳng vào trái tim.  Không thách đố sẽ không sợ mình cũ hay mới . Đừng bao giờ dẫm lên dấu chân người khác. Cần tìm về mình trong mội góc độ, mọi sắc thái đa chiều. Số phận con người cần được tôn trọng và yêu thương . 

 

 

 

A - TRONG KÝ ỨC BẠN BÈ

 

NHỮNG KÝ ỨC TUƠI NGUYÊN

Nguyễn Thị Anh Đào

 

Ngân Vịnh vẫn xuất hiện đều với những vần thơ lục bát mang đầy mầu sắc. Nhưng đến tập thơ. LẶNG LẼ TƯỜNG ĐÁ ONG trình làng chúng ta mới nhận diện ra một NgânVịnh mới mẻ và đôn hậu. Thơ anh không dàn trải, không mang triết lý cao siêu mà rất chân chất nói  như nghĩ và viết với một tấm lòng đam mê, say đắm.  Qua 69 bài thơ là 69 tâm sự, 69 nỗi niềm và cũng là 69 cung bậc đa thanh của người thi sĩ trước cuộc đời. Tôi ấn tượng với  tâp thơ LẶNG LẼ TƯỜNG ĐÁ ONG không phải vì đã đọc và biết nhiều về Ngân Vịnh. Tôi đã đọc tập thơ với tâm thế rất trong của người thưởng thức thơ qua những âm thanh của ngôn ngữ thơ, qua phong cách thơ và cả những  điều anh gửi lại sau từng con chữ. Sau những năm tháng gắn bó với nghiệp viết, anh đã cho xuất bản 9 tập thơ, một “hành trình” dài của người cầm bút. Đôi khi  miệt mài viết anh đã quên đi những hứng thú hàng ngày, những va chạm cuộc sống  cho anh nguồn cảm hứng vô bờ và anh đã nhận ra chính mình một cách mộc mạc: Chừng như gương mặt tôi vêu vao /chừng như mùa đông quay trở lại / chừng như ngôi sao lòng tôi khấn vái / chừng như  yêu  thương rế rách, chổi cùn (giông gió thổi qua làng). Rất  hiếm khi cuộc đời người ta nhận diện ra chính mình qua những gì mình viết , cũng thoáng đôi khi nhờ những gì mình viết mà những người đam mê thơ lại hình dung ra chân dung tác giả. Nếu gặp anh ngoài đời vẫn nụ cười niềm nở, vẫn cái bắt tay chân tình và những lời tâm sự nặng lòng sâu lắng. Anh thường nói về thơ với những đam mê, tinh túy và cả những khát khao mãnh liệt với cuộc đời. Cũng như khi có một cơn gió thổi qua cánh đồng, có thể rơm rạ xác xơ bay còn những hạt thóc nặng mồ hôi nước mắt sẽ ở lại trên tay người nông dân …

Thơ anh cũng thế, đôi khi anh đối diện với lòng mình để mách bảo“ngã ba lòng không sóng cả/ nấp vào giọt ấm rơi rơi/ rạ rơm xửa xưa nhóm lửa/ thả xuôi sông Mã bóng người” (nhớ về sông Mã). Là nhà thơ đa cảm, nhưng nỗi nhớ quê được anh vẽ lên với một nét phác họa giản đơn mà thâm thúy, nét vẽ ấy là tâm sự được bứt phá từ tận đáy lòng   của một người con xa quê.

Thơ Ngân Vịnh có thanh âm rất riêng, được bồi đắp bởi phù sa Hà Nội – Đà Nẵng và phù sa ấy được chưng cất từ những cực nhọc đã mang nặng với cuộc đời LẶNG LẼ TƯỜNG ĐÁ ONG của Ngân Vịnh  xoáy sâu vào nội tâm, tràn ào vào những  ký ức, về những trăn trở trước  thời cuộc về những đa mang luôn luôn túc trực trong lòng người viết . Chính vì thế anh đã thôt lên “Giời ạ nỗi buồn dây dưa / tâng bốc mà khôngthành câu hát / tôi ngồi với tiếng khóc / tưởng tượng những hình dong lần lượt bỏ mình” ( cất lên một tiếng). Tôi cảm nhận được những bước chân, những nụ cười và những suy tư trong thơ Ngân Vịnh . Đàn ông như một làn gió, đàn bà như đống rơm. Đây là một phát hiện không mới nhưng mà đắt ở chỗ: nhà thơ nhận ra mình còn ý nghĩa, để làm ai đó phát tán, bùng cháy. Nghĩa là anh nhận diện được sự giao thoa lan tỏa trong mình: “Gió đến mặt biển / mặt biển không còn cô đơn …trái tim người đàn bà im ỉm đống rơm/ gió đến rần rần lửa cháy ”( gió đàn ông ). Tình yêu lứa đôi trong thơ Ngân Vịnh cũng mang đậm tính cách con người. Anh điềm nhiên và tự tại. Có lúc anh nói với chính mình “Em cư ngụ trong mùa đông / bỏ quên nỗi hoang mang trong từng cơn gió bấc … Tôi hối hả đi về phía em / và nhìn lại dấu chân / để rớt ánh sao trên bậc đá  / đêm xuống như một lời chọn lựa / tình yêu lót ổ đầu thai ” (Mùa đông giục giã). Có khi anh thầm thì  “em nỗi buồn vô chủ / thắp sáng giấc mơ anh nắng nhạt, lá vàng ” (Vườn cũ). Tất cả chỉ để người thơ níu lại những gì mình yêu thương , trân  trọng và cả những đa mang vây bủa. Khi đó nỗi cô độc trong anh đã biến thành sức mạnh để anh viết về tình yêu, về hạnh phúc, về cả những bon chen  đời thực.

  LẶNG LẼ TƯỜNG ĐÁ ONG đầy đặn những ký ức tươi nguyên của cuộc sống . Tôi nhận ra rằng trong những niềm hạnh phúc với Ngân Vịnh, đôi khi nỗi buồn lại là chất xúc tác để anh nâng mình lên, để anh viết, để anh tồn tại. Tôi nhớ một câu nói nổi tiếng của P.Reverdy “Nhà thơ bị thúc đẩy sáng tác vì một nhu cầu bất dịch và day dứt ám ảnh: Đó là bí mật của nội tâm mình và biết những năng lực mình ra sao” . Hy  vọng ở Ngân Vịnh một cách bứt phá mới, vì dường như thơ không chỉ dừng lại ở sản phẩm tinh thần.

 N.T.A.Đ

 

 

 

 

 


         

ĐỌC “SƯƠNG ĐẪM LÁ KHỘP KHÔ”

Mộc Miên 

Đây là tập thơ được trao giải A, giải thưởng Bộ quốc phòng về văn học nghệ thuật 5 năm một lần (2009 – 2014 ) một giải  thưởng  mà uy tín vẫn vững vàng trong chao đảo thị trường. “Sương đẫm lá khộp khô” với gần 80 bài thơ về những người lính Quân tình nguyện Việt Nam chiến đấu tại chiến trường Campuchia thoát khỏi chế độ diệt chủng của bè lũ Pôn pốt.

Thơ Ngân Vịnh chín dần qua thời gian, thoát khỏi sự trình bày, sự dàn trải để tiếng lòng người lính đươc chắt lọc,  trọn vẹn nguyên khối trong tứ thơ rắn chắc. Tôi cứ hình  dung trong căn phòng đấu đó bên sông Hàn, người lính già Phùng Ngân Vịnh vẫn đắm mình cùng ký ức bom đạn. Ông sống với nó chỉ thỉnh thoảng mới lẩm nhẩm những câu chữ rời,  gọi tên các sự vật, trở thành nơi níu bám của tồn tại, hằng ngày. Có lẽ vì vậy mà thơ Ngân Vịnh hiện lên như một cuốn nhật ký trữ tình đầy cảm xúc.

Dày vò biết bao khi chứng kiến đồng đội ra đi đầy thương tâm nơi chiến hào nghiệt ngã. Hẳn khi viết bài thơ “Tôi đi tìm anh” NgânVịnh đã gọi tên đồng đội như một lời khấn: “nước cõng trên lưng tôi đi tìm anh / Tố ơi – Tố ơi có nghe tôi gọi /  tiếng tôi gọi vang trên rừng núi/  anh giờ mang cơn khát nằm đâu / tôi đã gọi anh trong sớm…trong chiều/ nơi những chỏm rừng còn đôi bóng lá / …/ anh nằm đâu với cơn khát dày vò / miệng cạp vào những  cây cỏ nát / xương thịt mỏi rời, mặt mày sưng húp / đôi bàn tay cào đất tóe máu tươi ….”. Những ám ảnh chiến tranh thương tích và cái chết, lặp lại nhiều lần trong thơ Ngân Vịnh, ở đó những hy sinh lớn lao và ở đó những ân tình sâu nặng của người lính. Ông có những câu thơ thật xúc động, thật da diết trong một hình ảnh quen thuộc,  hình ảnh hai người lính cõng nhau :“Bạn tôi – tôi cõng trên lưng / vết thương máu chảy cũng từng giọt rơi / chiếc ny lông nhỏ của tôi / tôi choàng cho bạn lúc trời đổ mưa /  / bạn tôi vẫn thở lặng yên / mỗi lần vang một tiếng rên khẽ nào / nỗi đau xé thịt nỗi đau / chỉ người lính hiểu với nhau chốn này” (Qua cơn mưa rừng). Có những cái chết bất ngờ đến bàng hoàng; “Đôi mắt khép lại sau bàn tay tôi vuốt / ngày Chiến đi đang mùa khô /nỗi buồn âm thầm trong cánh rừng Săm Lốp / nỗi buồn nghe xào xạc lá khô / tôi biết đồng đội tôi ra đi không một lời trăn trối / trong đôi mắt anh chỉ có nắng với chân trời ( Đôi mắt ) và đây nữa “nằm trên cánh tay tôi / bạn tôi dần lạnh ngắt / trái tim không còn đập / máu đã bầm tím khô” ( tôi làm sao không buồn :“Chiến tranh hiển hiện nỗi kinh hoàng, khốc liệt “buổi sáng tháng 2 buối sáng Bat Đom Boong / thật bất ngờ cái chết / cả đoàn quân thẫn thờ dẫu biết / cuộc chiến tranh này không chừa một ai ”.  Khóc đồng đội, giọt nước mắt của Ngân Vịnh chứa đựng  nỗi đau xót tụt cùng và cũng mang theo cả lòng biết ơn sâu sắc: “Giọt sương tan dưới ánh mặt trời / vài bông hoa cỏ trắng / từ giọt máu nơi anh nằm xuống / để đồng đội anh có chỗ đặt bàn chân” (sáng tháng 2 năm 79).

Những hy sinh mất mát, không vùi dập được tinh thần cao cả, không làm mệt mỏi được nhịp đập của trái tim người lính. Với trải nghiệm tình nguyện quân, đến một thời điểm nào đó Ngân Vịnh cảm được nỗi đau sâu sắc của người dân Campuchia trước nạn diệt chủng và cảm nhận ấy đã lồng trong cảm nhận về thương đau đồng đội. Ấy cũng là lẽ sống còn là lý do để người lính cầm súng. Hình ảnh những người dân vô tội Campuchia     chết thảm khốc, để thỏa mãn cơn cuồng hoan của cái gọi  là “chế độ mới” bệnh hoạn do bọn Pôn Pot thể nghiệm. Bây giờ đọc lại vẫn nhức nhối. Trong bài (Bò Van chiều) Ngân Vịnh ghi chép lại sự thực đau đớn của cô gái Bò Van “chiều sậm nắng sau một tiếng nổ đanh  /rừng lồ ô ngã rạp / trái mìn bọn PônPot / Đã giết một người con gai Bò Van”. Những lời thơ ròng ròng máu chảy và da diết đau buồn, chứa đựng sự cảm thông sâu sắc trong bài (Bọn Pôn Pot giết trẻ con) “Buổi mai trước cuộc tàn sát / chúng lùa các em ra đồng / các em  nằm trong vũng bùn / rồi bị đập đầu bằng cuốc / tiếng các em  kêu thét /cứu lấy con - mẹ ơi ”. Sự dã man của bọn Pôn Pốt không chỉ gây nỗi đau thể xác các em nhỏ Cam puchia mà còn chà xát lòng những người mẹ nỗi đau không bao giờ lành “tiếng thét bao nhiêu năm trời / vẫn nằm nguyên trong lòng người mẹ/ / cứu lấy con mẹ ơi / bọn Pôn Pốt đứng cười /   toàn thân các em máu đỏ ”. và nó vẫn chà xát người đọc. Và đó chính là mục đích của Pôn Pốt, y gieo nỗi đau và niềm sợ hãi cho hết thảy người còn sống, để họ sẽ  phải khuất phục mãi mãi như là lý do duy nhất để được tồn tại . “Người đàn bà ngồi khóc âm thầm / khóc cho sự cô đơn /khóc cho người chồng bị bọn PônPôt giết / khóc cho ngọn gió thổi qua  hàng thốt nốt / khóc cho nỗi buồn chiều xưa” (Người đàn bà ngồi khóc). Bên cạnh sự cảm thông sâu sắc  cho nỗi đau của dân tộc Campuchia qua những dòng thơ da diết, cảnh sắc xứ sở chùa Tháp mang vẻ đẹp điêu tàn cũng xuyên suốt tập (Sương đẫm lá Khộp Khô). Thiên nhiên Campuchia trên những chặng đường hành quân từ Tà Sanh tới PaiLin, từ Bátđamboong  tới Siêm Riệp, Kông Pông Chư Năng … hiện lên vừa lạ lẫm vừa  gần gũi thân thương. Nền văn hóa Campuchia lạ lẫm qua những ngọn tháp “Bayon một số phận /  thần thánh không kéo đổ được trời xanh / vươn lên khỏi mặt rừng / chiều Siêm Riệp mưa không ngớt / tôi nhìn Bay On nhấp nhô ngọn tháp / mưa trên mặt chảy ròng ròng ” (chiều mưa  ở đền Bayon) hay “Ngàn năm đã trôi qua / và tiếp đến còn ngàn năm nữa / vẻ đẹp AngKo / vẻ đẹp đá / còn làm choáng váng con người” (đá cười). Campuchia hiền hòa qua hình ảnh gần gũi “Phơka lờ hông đêm nở trắng khu vườn” (con đường nối con đường) phoka không là tên gọi của hoa đu đủ, loài cây thân thuộc với người nông dân Việt Nam. Dù với một tên gọi khác, nhưng hình ảnh phoka lohong cũng làm ấm lòng người chiến sĩ xa quê và làm ấm lòng thơ Ngân Vịnh.  Một vẻ đẹp hiền hòa, giản dị mộc mạc mọc lên trong ám ảnh chết chóc bom đạn trở nên đặc sắc hiếm hoi !Đâu đó dấu chân người lính Việt in đậm trong nét thiên nhiên Campuchia “lặng lẽ rừng thẫm vàng /lặng lẽ sương buông / lặng lẽ lá khộp khô ướt đẫm / đêm đêm / ta nhặt đươc chút nắng / khi bước chân qua hoàng hôn /   / dưới những lá khộp khô đẫm sương / lặng lẽ / dấu chân người lính”. (Sương đẫm lá Khộp Khô). Campuchia có khi lại  ngọt ngào trong điệu múa . “Em  kéo tôi vào trong điệu múa Rom Vông / vào tiếng trống , vào tiếng  đàn rôniết /khuôn mặt tôi đỏ hồng đêm Siêm Riệp / bên nụ cười, bên ánh mắt em / tôi nhận ra đuôi những cánh chim vàng / những bờ suối phơi từng hòn đá trắng/ tôi nhìn nhận ra từng ngôi tháp nhọn / trên ngón tay em uốn lượn dẻo mềm” (Đêm Rom vông ở Siêm Riệp ). Cũng không ít hình ảnh Campuchia hiện lên chấp chới như một niềm hy vọng trong đống điêu tàn đổ nát “nước mắt ngấn rưng rưng / ba ngàn sáu trăm ngày im lặng / vạch rừng tìm hướng / vạch sương bóng núi cheo leo / nơi ta uống ráng chiều / nơi ta nằm trên gai cỏ / những mùa mưa ngập ngụa / lá phủ vàng dấu chấn ( chùa Pai Lin sau cơn mưa ) hay trong bài ( lá rụng) “gió rít ngoài hầm tiếng lá rụng đêm dài  / rừng thinh lặng ánh trăng đỏ ối / tiếng lá  rùng rơn vào chới với / đằng sau là kinh thành ĂngKo. Dù cảnh sắc tươi đẹp hay thương tàn, thân quen hay lạ lẫm thì Campuchia vẫn ở trong thơ Ngân Vịnh với niềm tin mãnh liệt vào ngày mai tươi sáng . Dẫu đau đớn trước nhưng hy sinh của đồng đội, đau đớn thương cảm cho những số phận bất hạnh của người dân xứ sở chùa Tháp dưới bàn tay khát máu của bon Pôn pot  những gánh nặng chiến tranh đặt xuống, thơ Ngân Vịnh bỗng chốc nhẹ bỗng “Ngày mai hết chiến tranh / dọc những cánh rừng chỉ còn / Bat Đam boong và gió / cánh chim cùng mây trắng lang thang (Dọc cánh rừng người đi) và thơ anh chứa chan niềm tin, chứa chan tình yêu con người, chứa chan nhiệt huyết sống . Trong bài (nhà sư đi khất thực ) anh viết “những giây phút hòa bình mong mỏi / Campuchia sẽ đến một ngày /bóng áo nghệ vàng nhá sư đi khất thực/ lặng lẽ con đường /  lặng lẽ sớm mai”. Là người lính may mắn sống sót trở về, chiến trường CamPuchia một thời sẽ còn đọng lại trong lòng Ngân Vịnh. Anh chia sẻ lòng mình: người lính trước sau người lính / mảnh đất này có thể quên tôi / và tôi chẳng có gì đáng nói / Bát Đam boong sống chết một thời”. ( tôi chẳng có gì đáng nói ). Tặng xương máu cho bạn để người dân đất nước chùa Tháp có được hòa bình, sự êm ấm  hạnh phúc. Thế  nhưng người lính Việt Nam không đòi hỏi gì ở   bạn dù chỉ là bạn nhớ công sức của mình. Xúc động biết bao hình ảnh bộ đội cụ Hồ  nhiệt huyết và chân thành, hy sinh và độ lượng.  Thời gian trôi đi, có thể một ngày kia người dân Campuchia sẽ nguôi ngoai nỗi buồn diệt chủng năm xưa, nhưng không ai quên những giọt mồ hôi, thịt da xương máu của người lính Việt còn trộn  trong cát bụi  xứ sở này . Và thơ Ngân Vịnh sẽ sống cùng máu xương trộn cát bụi xứ sở này. Như bây giờ “Sương đẫm lá khộp khô” đang thổn thức trong trái tim đọc giả khắc khoải và thiêng liêng!

M.M

 

 


B - MỘT SỐ TÁC PHẨM TIÊU BIỂU

 

TỰ KHÚC 

  1 .

 

  Bên cạnh những miền đất tốt tươi rộng dài

  còn có những vùng đất ở trong tôi

  đấy là những quả đồi đầy những đá ong

  chỉ có thứ cây dương xỉ mọc

  một vùng trung du khắc nghiệt

 

  Đấy là những cánh đầm lầy ,mênh mông bùn nước

  quanh năm đỏ vắng phèn chua

  nơi cây lúa nuôi người chưa mọc được

 

  Đấy là những đụn cát gối đầu vào đụn cát

  mùa hè nóng bỏng bước nảy chân

  một miền mặt trời chóng mặt

 

  Nếu tâm hồn tôi không có những vùng đất ấy

  chỉ một thoáng giây thôi

  cũng đủ để cho tôi cảm thấy

  mình bị cách biệt

  với biển lớn , với sông dài

  với những thành phố đẹp

 

  Nếu tâm hồn tôi không có những vùng đất ấy

  chỉ một thoáng giây thôi

  cũng đủ để gạt tôi ra ngoài Tổ quốc .

  2

 

  Một chuyến đi xa

  với tôi không có gì là khó

  song  -  đừng nói rằng tôi không lo nghĩ

 

 

  đừng nói rằng tôi không vất vả

  đừng nói rằng - tôi người lính vốn quen

 

  Có bao nhiêu khó khăn

  từ nơi bình yên đi tới miền súng nổ

  dù hành trang chuẩn bị đủ đầy

  và đôi chân sẵn sàng đi bộ

 

  Vậy mà lòng tôi

  không dấu nổi xúc động trước bao giọt lệ

  khi chia tay với nhưnữg người thân

  chia tay với bờ biển cả sóng xanh

  và nhà ga sáng đèn

  máu ở trong tim tôi như dồn thêm nhịp đập

 

  Một chuyến đi xa

  với tôi không có gì  khó thật

  song đừng nói rằng – tôi người lính vốn quen .

 

  3

 

  Dù số phận ở xa điều may mắn

  tôi vẫn yêu công việc tôi làm

  tôi có giọt mồ hôi trong gió biển

  có hơi thở trong những chiếc lả rừng

  Những người lính bạn bè giao tiếp

  nơi mở ra thu hút lòng tôi

  hai mươi năm với ba lô súng đạn

  ngoảnh mặt về đâu tôi cũng thấy cuộc đời

 

  Ngoảnh mặt về đâu cũng nghe khúc hát

  những con đường dài

  những trận bão giông

  những mảnh đất sinh ra nụ cười cùng nước mắt

  những trang báo thơ tôi tìm đến muộn màng

 

Ngày tháng đi qua niềm vui ,sầu muộn

những khó khăn phức tạp mãi nhiều thêm

tôi đã đổi bao lòng kiên nhẫn

để không mất đi những cái có trong mình .

 

4

 

Traí tim tôi đập trong nhịp di

trong lúc ngủ , lúc đào công sự

tháng ngày chẳng mấy khi lặng lẽ

nhưng chưa bao giờ tôi phải than phiền

 

Đời tôi đã qua bao nỗi vui buồn

bao đoạn đường dài tim đập như nhịp trống

bao thổn thức phút giây chờ nổ súng

chẳng có gì đe doạ được tim tôi

 

Một trái tim từng ở giữa bom rơi

ừng qua núi cao ngàn thước

trong công việc chưa bao giờ đòi yêu sách

cần một thời gian ngắn để nghỉ ngơi

Cứ đi , cứ làm , cứ yêu cuộc đời

đừng có kể cái ngày đầy gánh nặng

đừng làm kẻ đứng ngoài lo phấp phỏng

thắng bại ở trên nơi trận chiến này

 

Trái tim tôi – tôi yêu nó mọi nơi

đứng trước biển xanh mênh mông sâu thẳm

lồng ngực tôi ồn ào như sóng

vỗ lên mép bờ đầy bước trẻ con .

 

4

 

Trận địa lặng im một cánh hoa rơi

cái sắc tím xoay mềm trong gió

cái  sắc tím nằm im trên cỏ

biên giới rừng

biên giới giữa bao la

 

tôi là người nhìn nhận cánh hoa

cánh hoa không có tên trong nắng

chỉ có hương gió đã gửi cho trời

 

Trong những ngày chiến đấu ở đây

trái đạn nổ làm con người tắt thở

vẫn có người lính hát , lính vui

vẫn có tôi nhìn tới mặt trời

và cúi xuống cánh hoa nằm trên cỏ

 

Tổ quốc nơi bình yên , nơi khói lửa

người lính biết mình

biết cả sự hy sinh

trước sau cuộc đời người lính vẫn gian truân

 

Giữ Tổ quốc bình yên

đất thấm máu cho lòng tôi gắn bó

phút giây này bên cánh hoa rơi.

 

 

 

 

 

 

 

 

TÔI ĐI TÌM ANH

 

  Nước cõng trên lưng tôi đi tìm anh

  Tố ơi - Tố ơi có nghe tôi gọi

  tiếng tôi gọi vang trên rùng núi

  anh giờ mang cơn khát nằm đâu

 

  Tôi đã gọi anh trong sớm  , trong chiều

  nơi những chỏm rừng còn đôi bóng lá

  nơi những thung đồi mọc đầy cây rễ

  nơi lòng suối khe cá chết cong khô

 

  Anh nằm ở đâu với cơn khát dày vò

  miệng cạp vào những cây cỏ nát

  xương thịt mỏi rời , mặt mày sưng húp

  đôi bàn tay cào đất toé máu tươi

 

  Anh nằm ở đâu tôi làm sao yên

  khi cơn khát đang làm anh héo hắt

  đang đấy anh đến gần cái chết

  trái tim anh đau co thắt bao lần

 

  Hãy trả lời tôi một lời đi anh 

  dù chỉ là tiếng rên rỉ khẽ

  một bàn chân đạp rung cây lá

  một bàn tay giây phút vẫy vùng

 

  Mùa khô Ô-Đa còn dài khắc nghiệt ngày đêm

  anh nằm ở đâu có nghe tôi gọi

  mùa khô Ô-Đa còn dài khắc nghiệt ngày đêm .