TẬP TRUNG XÂY DỰNG CON NGƯỜI VỀ ĐẠO ĐỨC, NHÂN CÁCH, LỐI SỐNG, TRÍ TUỆ VÀ NĂNG LỰC LÀM VIỆC!
Từ khóa tìm kiếm Từ khóa tìm kiếm

VĂN XUÔI VĨNH PHÚC - Tuyển tập tác phẩm đoạt Giải thưởng Văn học Nghệ thuật 1997 – 2016, (phần 5)

(Ngày đăng: 19/01/2018, số lượt xem: 23)

 

 

 

 

 

NGUYỄN THỊ MINH ÁNH

  

Vũ khúc thiên đường

 

NHÀ XUẤT BẢN VĂN HỌC, 2013

 

---------------------------------------------------------   

 

Tập truyện ngắn đoạt Giải Khuyến khích,

 Giải thưởng VHNT tỉnh Vĩnh Phúc 5 năm lần thứ IV

(2011 - 2015)

 


 

 

 

CHUYỆN CỦA LIỄU 

Chẳng còn mấy tiếng đồng hồ nữa là hai người sẽ chia tay nhau. Bảy giờ tối mai máy bay sẽ cất cánh. Tính ra còn hai mươi tư giờ nữa. Bính bần thần đi ra lại đi vào. Từ chập tối nhà Bính đã đông chật người. Bà con, họ hàng, làng xóm đến chơi nói chuyện rôm rả mà Bính không nghe họ nói gì hết. Vợ Bính đang tươi cười ngồi tiếp chuyện họ, còn Bính chỉ ngồi một lúc rồi đứng dậy đi ra ngoài, vì càng ngồi ở đấy mà nghĩ đến ngày mai, mà nghe họ nói nọ nói kia, Bính càng chỉ rối ruột lên. Bính lẻn ra sau vườn chuối, men theo bờ cúc tần ra cầu ao. Bính đứng ở đó nhìn ra cánh đồng đằng trước. Trời đầy sao, mênh mông, mênh mang, xa vời vợi. Một chiếc máy bay ầm ì ngay trên đầu Bính, lầm lũi tiến về phía chân trời xa lắc. Ngày mai vợ Bính cũng sẽ ngồi trên một chiếc máy bay như thế để rời xa Bính. Theo dự tính thì thị sẽ đi khoảng ba năm. Tận những ba năm. Ba năm dài đằng đẵng. Tất cả mọi người đều cho rằng chuyến đi của vợ Bính là chuyện vui, là chuyến đi đổi đời. Bính cũng đã có lúc nghĩ thế. Nhưng bây giờ thí Bính vừa lo, vừa sợ. Gần chục năm qua Bính chưa từng xa vợ một ngày. Bính làm gì cũng có vợ làm cùng. Bính đi cày thì vợ Bính phát bờ, cuốc góc ở bên cạnh. Bính đi bừa thì vợ Bính gánh phân đổ vào ruộng. Vợ Bính đi cấy thì Bính bứng mạ và cấy luôn cùng vợ. Đến vụ đông, cả hai vợ chồng Bính cùng làm đất, trồng màu. Còn khi nhà nông rỗi việc, vợ chồng Bính cùng đi làm thuê, Bính làm thợ xây, vợ Bính phụ hồ.

Bao nhiêu năm qua như thế rồi. Bính thấy cuộc sống thật yên ổn, vui vẻ, cũng chẳng có gì là vất vả nặng nhọc. Mọi chuyện ngày lại ngày đang diễn ra thật êm đềm. Vậy mà bỗng chốc vợ Bính nghe ai cứ nằng nặc đòi đi xuất khẩu lao động. Bính không thể hiểu được sao vợ lại thay đổi nhanh như chong chóng thế. Vợ chồng trước đã nói với nhau rõ ràng, từ hồi đầu năm, từ khi mấy gia đình trẻ trong xóm thầm thì bàn tán về chuyện nhà Hoa đi xuất khẩu lao động sang bên Đài Loan. Tưởng chuyện giả hoá thật. Dạo ấy cả làng cả xóm dèm pha, đay nghiến dè bỉu nhà Hoa tham tiền bỏ ngãi, nỡ dứt hai đứa con nhỏ ở nhà để đi. Lại còn liều vay cả tiền chục triệu đồng để chạy chọt làm thủ tục. Người ta còn cười anh cu Hoàng chồng nhà Hoa là thộn, để vợ đi như thế khác nào đưa mỡ vào miệng mèo, còn đâu là vợ mình. Chuyện râm ran đến cả vài tháng trời. Nhưng sau đó có nửa năm, lời đàm tiếu còn chưa hết thì nhà Hoa gửi tiền về. Cứ đều đặn vài ba tháng anh cu Hoàng lại nhận được giấy lĩnh tiền. Chẳng mấy chốc anh cu Hoàng trả hết nợ, sắm xe máy, ti vi mới, lại mua đầu video, loa nghe nhạc, lại còn đang chuẩn bị làm nhà tầng. Xóm Canh lại được dịp nhoáng nhoàng lên. Vừa mới hôm trước, chính những người dè bỉu nhà Hoa, anh cu Hoàng ác liệt nhất thì hôm nay đã xuýt xoa thèm muốn, hết lời khen ngợi nhà Hoa thức thời. Một số người bắt đầu rậm rịch tìm mối theo chân nhà Hoa. Hai người, bốn người, sáu người… Xóm Canh xôn xao ồn ã. Ngồi đâu, đi đâu, gặp ai dường như cũng chỉ có mỗi đề tài xuất khẩu lao động. Có lẽ chỉ riêng vợ chồng Bính là không tham gia ý kiến gì, chỉ lẳng lặng nghe, nhưng tối về hai vợ chồng đã bàn với nhau. Chính là vợ Bính nói trước:

- Ối dào, tôi chẳng thấy đâu hơn quê hương đất nước mình. Chứ sang đó chẳng biết mô tê gì hết. Mình đâu có biết tiếng nói của họ, có quen biết ai. Mình nói họ không hiểu, họ nói mình không hiểu, thế thì còn ra cái gì, nhỡ có sao thì biết kêu ai.

Bính lẳng lặng nghe, vẫn là vợ Bính nói:

- Ở nhà cơm cà cơm muối gì cũng có vợ có chồng, rồi còn con cái. Mà bây giờ so với ngày xưa còn sướng chán, có ruộng đất trâu bò, được tự do làm ăn, cứ chăm chỉ căn cơ thì làm gì chẳng đủ ăn mà phải đi đâu.

Bính không nói được gì, vì thấy vợ nói câu nào cũng đúng. Vả lại Bính rất sợ vợ vắng nhà. Bính không thể hình dung vợ vắng nhà thì Bính sẽ xoay xở thế nào bởi từ trước đến nay vợ Bính vẫn quán xuyến mọi việc trong ngoài. Bính chỉ việc thực hiện theo sự phân công của vợ, chả phải lo nghĩ tính toán gì. Bính cũng chẳng cần màng đến nhà cao cửa rộng bởi Bính thấy cuộc sống hiện tại đã tốt chán. Vì thế nghe vợ nói, Bính rất yên tâm, đinh ninh rằng cái việc đi xuất khẩu lao động sẽ không bao giờ ảnh hưởng đến gia đình nhà Bính, rằng vợ Bính sẽ không bao giờ vắng nhà.

 

*

*       *

 

Vậy mà đùng một cái, cách đây hai tháng, vợ Bính bỗng nhiên thay đổi, nằng nặc đòi đi xuất khẩu lao động. Nói là nằng nặc, chứ thật ra vợ Bính cũng như bao bận khác, chỉ thủ thỉ với Bính trong bữa cơm tối:

- Tôi nghĩ kĩ rồi, bố cu Bin ạ - Vợ Bính tay đánh tơi nồi cơm mà không nhìn vào mặt Bính. - Có khi đợt này tôi cũng đi xuất khẩu.

Bính ngơ ngác:

 - Mẹ cu Bin bảo gì á?

Vợ Bính vẫn vừa xới cơm vừa nói mà không nhìn vào mặt Bính:

- Tôi bảo sẽ đi xuất khẩu.

 Bính ngạc nhiên như không tin vào tai mình, một lúc sau mới ấp úng:

- Mẹ nó bảo đi xuất khẩu lao động á?

Vợ Bính không trả lời thẳng vào câu hỏi của Bính:

- Tôi nghĩ kĩ rồi. Tôi phải đi một chuyến. Chỉ một vài năm thôi.

Bính không nói được gì. Bởi vì từ trước đến nay Bính đã quen rằng vợ nói cái gì cũng đúng. Lần này cũng vậy. Bất kể là trước kia vợ Bính đã nói thế nào nhưng bây giờ nghe vợ nói, dù là khác trước hoàn toàn, Bính vẫn thấy có lý. Cho nên Bính im. Mà Bính biết nói cái gì. Vả lại kể từ hôm đó, đêm nào vợ Bính cũng thủ thỉ với Bính về gia đình nhà nọ nhà kia, trước kia thì rách nát còn chẳng bằng nhà Bính, thế mà vợ đi xuất khẩu mới có một năm đã thay đổi hẳn; về viễn cảnh ba năm sau, khi vợ Bính hết hạn hợp đồng lao động trở về, Bính lại được đoàn tụ với vợ và còn với cả một cuộc sống sung sướng đầy đủ tiện nghi hiện đại. Nếu không thế thì tụt hậu mất. Vợ Bính bảo. Trước kia tất cả làng, cả xóm cùng nghèo thì đã đành. Nhưng bây giờ họ giàu cả mà mình nghèo thì không được, sẽ bị khinh ngay. Bính thấy vợ phân tích như thế là đúng. Điều đó làm cho Bính thấy quyết định của vợ càng là đúng. Bính cũng đã khấp khởi nghĩ đến ba năm sau… Nhưng dù thế nào, mấy hôm nay, nhất là lúc này đây, khi chỉ còn vài chục giờ đồng hồ nữa là vợ Bính sẽ đi, sẽ chỉ còn lại một mình Bính ở nhà, Bính cứ có cảm giác lo lắng làm sao.

 

*

*    *

 

Thực ra thì ở xóm này,vợ Bính là người cuối cùng đi xuất khẩu lao động. Cho đến giữa năm nay thì hầu như đàn bà cả xóm đã lên đường, chỉ còn mình vợ Bính. Bính thấy những người đàn ông ở nhà một mình cũng không xảy ra chuyện gì. Họ vẫn đi làm, nuôi con, làng xóm không vì thế mà thay đổi. Tự nhiên Bính thấy ngượng vì sự yếu đuối của mình. Tất cả những người khác làm được cớ gì mình làm không được. Bính quả quyết nghĩ, và chợt lo sợ nếu có ai ra bắt gặp Bính thẫn thờ ở đây, người ta lại chẳng cười cái bản lĩnh đàn ông của Bính. Không thể thế được. Dù gì Bính cũng phải thể hiện mình cũng cứng cỏi bằng anh bằng em để vợ yên tâm mà ra đi. Nghĩ thế, Bính quày quả đi vào. Vừa khéo có người nhắc đến tên Bính. Bính cố nở một nụ cười thật tươi bước qua cánh cửa trong tiếng trêu đùa của mọi người. Một người đàn ông ở ngay cạnh nhà Bính oang oang:

- Thôi, các ông các bà liệu mà về sớm cho cô chú ấy chia tay. Cố mà tranh thủ cho đỡ nhớ. Những ba năm nữa cơ đấy.

Căn nhà lập tức như vỡ ra, ầm ĩ:

 - Làm đến cho chán đi. Rồi ở nhà cấm có tòm tem.

Tưởng là đùa, ai dè mọi người lục tục đứng dậy kéo nhau về hết cả. Bính có cảm giác nóng lên hai bên cổ. Vợ Bính cười tươi như hoa tiễn chân khách. Phút chốc nhà vắng tanh, chỉ còn lại hai vợ chồng đứng ở giữa sân. Bính ngượng ngập:

- Thằng bé ngủ rồi hả?

- Ừ, ngủ rồi. Vợ Bính khẽ khàng ngước lên nhìn Bính.

- Mình cũng vào nghỉ sớm đi, để tối mai tôi còn lấy sức.

Nghe lời vợ, Bính lúi húi đi vào nhà. Căn nhà nhỏ vừa chật ních người giờ Bính thấy rộng hoác. Bính ngồi ở bàn uống nước, vợ Bính vào buồng buông màn và sửa soạn lại tư thế ngủ cho cu Bin. Xong xuôi mà vẫn chưa thấy Bính đi vào, thị gọi với ra:

 - Tắt điện để đi ngủ thôi, bố nó.

Bính đứng dậy như cái máy ra tắt điện. Vợ Bính đã nằm ngay ngắn ở trên giường. Đến bây giờ, Bính mới nhận ra rằng hôm nay trông thị tươm tất lạ, khác hẳn những ngày trước. Tóc thị đã cắt ngắn ngang lưng, chải mượt và cặp gọn gàng bằng một cái cặp hoa chứ không để dài đuôi bò và cuộn thành một búi sau gáy. Thị mặc bộ quần áo mới may, lại đi dép cả ngày. Ngay cả bộ quần áo thị đang mặc để đi ngủ cũng được may mới trông sáng sủa, sạch sẽ, thơm tho. Thị đang nằm trên giường kia, cái dáng nghiêng nghiêng cong cong mới e thẹn quyến rũ lạ lùng làm Bính thấy cồn lên. Bính vén màn đi vào, với tay tắt điện và đổ ập xuống cái cơ thể thơm tho vừa quen vừa lạ của vợ.

Bính “làm một bữa” no nê. Xong, Bính buông vợ, nằm duỗi hai chân ra. Rã rời, sung sướng. Trong một phút, Bính quên tất cả, quên hiện tại, quên ngày mai. Mắt Bính nhíp lại. Bính định làm một giấc đã đời như mọi bận nhưng vợ Bính đã xoay người, tay ôm ngang người Bính kéo sát Bính vào người thị. Vòng tay thị càng lúc càng thít chặt lấy cơ thể Bính, vuốt ve, mơn man tấm lưng trần nhễ nhại mồ hôi của Bính, rồi cứ mơn man mơn man mãi đến thắt lưng, đến bẹn, quờ quạng cả vào “cái của nợ” của Bính. Cái cằm thị đẩy qua đẩy lại, dũi dũi vào mớ tóc bờm xơm khét lẹt của Bính. Mới đầu Bính thấy lạ, dù hơi ngượng ngượng nhưng lại thinh thích, nhưng rồi Bính chợt hiểu ra. Bính tỉnh ngủ hẳn, hiện thực lại trở về rõ mồn một. Chỉ còn vài tiếng nữa. Bính hiểu rằng đêm nay Bính không nên ngủ. Vì chỉ sau đêm nay thì Bính có ngủ liền ba năm cũng chẳng sao. Vả lại nỗi buồn, nỗi lo hồi tối trở lại làm Bính không ngủ được nữa. Bính đáp trả lại sự mơn trớn của vợ. Bính cũng ôm riết lấy thị, bàn tay của vợ hắn càng lúc càng xoắn xuýt làm hắn rạo rực, nóng ran lên. Bính nhấc bổng thị đặt lên bụng mình, ghì riết thị trong cái hôn tham lam chưa từng có, rồi Bính đè nghiến thị xuống, vục đầu vào giữa đường rãnh sâu hút trên ngực thị…

Yên lặng. Ánh trăng chiếu qua cửa sổ đằng trước hắt vào căn buồng của vợ chồng Bính. Nhìn ánh trăng thì biết thời tiết đêm nay rất đẹp. Vợ Bính lồm cồm nhổm dậy, ngó về phía cu Bin, chỉnh lại dáng nằm cho nó, vén những sợi tóc loà xoà trên trán nó gọn lên. Thị nhìn nó trìu mến, dịu dàng sờ nắn chân tay, vỗ vỗ vào người nó như ru ngủ. Bính nhìn cảnh ấy, nhìn cái cơ thể trắng nhễ nhại của thị, tự nhiên hắn thấy nước mắt chực trào ra. Hắn quờ tay kéo vợ ngã xuống giường, sát vào lòng hắn. Vợ hắn ngoan ngoãn nằm im, hắn nghe rõ cả tiếng thở đều đều, tiếng tim đập như đồng hồ tích tắc và bộ ngực vợ hắn phập phồng, phập phồng, thấy cảm động và thích thú vì sự ngọt ngào của vợ hắn trong đêm hôm nay, khác hẳn với những lần trước kia. Và hắn ao ước giá như đêm nào cũng được như thế này.

- Tôi đi rồi, ở nhà bố nó nhớ chăm sóc cu Bin. Vợ hắn cựa quậy, thủ thỉ trong bộ ngực vạm vỡ của hắn.

- Biết rồi. Khó nhọc lắm ngôn ngữ mới thoát ra khỏi cuống họng Bính.

- Không cần đi xây nữa, nhưng phải cố mà chăm sóc mấy sào ruộng để còn thêm thắt vào.

- Biết rồi.

- Tôi sang đấy chưa biết tình hình thế nào. Nếu mà thuận lợi như nhà Hoa, thì cũng phải ngót năm mới giả hết nợ. Đấy là nếu thuận lợi, chứ cũng chưa biết thế nào. Cho nên bố nó vẫn phải chủ động chăm chỉ ruộng vườn.

- Khổ lắm, đã nói là biết rồi. Bính gắt, và ngay lập tức Bính thấy ngạc nhiên vì Bính cũng biết gắt vợ. Giọng gắt lại còn oai ra phết. Như là thật. Thế mà vợ Bính chẳng phản ứng gì, hình như thị còn cảm thấy hài lòng.

- Thì tôi cũng tin tưởng bố nó biết sẽ phải làm như thế nào, nhưng tôi cứ dặn cũng chẳng thừa.

- Thằng cu Bin ấy, bao giờ vào vụ gặt thì bảo nó đỡ đần những việc vặt, như trông thóc chẳng hạn.

- Ừ, Bính lí nhí, hai mắt díu cả lại

- Rồi thỉnh thoảng bố nó cũng phải đưa cu Bin sang nhà bà ngoại chơi.

Không có tiếng trả lời, vợ Bính ngước lên thấy chồng đã há miệng ra phì phò. Thị thở dài, gỡ tay hắn ra, quờ quạng tìm quần áo mặc vào người rồi quay sang ôm đứa con nhỏ.

 

 

*

*       *

 

Thấm thoát đã gần một tháng trôi qua, Bính đã dần quen với cảnh ở nhà một mình không có vợ. Ban ngày, hắn đi làm cỏ lúa, làm đồng, tát nước. Trưa về lục cục nấu cơm cho hai bố con ăn. Chợ ở ngay đầu làng, chỉ việc chạy ù ra mua mớ rau bìa đậu là xong. Buổi chiều lặp lại thời gian biểu ấy. Cũng có khi trong lúc đi thăm đồng hắn tranh thủ tát vét cũng được bữa cá rô ron về rán hoặc kho sung muối. Được cái cả xóm đều có hoàn cảnh giống như nhà Bính nên dù có thấy trống trải và hẫng hụt nhưng hắn cũng sớm thích nghi. Ngay cả thằng con của Bính, nó suốt ngày chơi với đám trẻ con trong xóm cũng đều có chung cảnh mẹ vắng nhà nên nó sớm hiểu, không quấy khóc đòi mẹ.

Buổi tối, loanh qua loanh quanh không có việc gì làm, không biết nói chuyện với ai, Bính thơ thẩn hết ra bờ ao lại vào trong nhà ngồi, hút thuốc lào đến khô họng. Chán, hắn dắt con sang nhà hàng xóm chơi.  

 

*

*       *

 

Không biết từ bao giờ, đàn ông cả xóm cứ tối đến lại thường tập trung nhau ở nhà Chiến. Bọn trẻ con cũng theo bố đến đó tụ tập rồi kéo nhau ra ngõ chơi. Ban đầu, những người đàn ông xa vợ chỉ uống nước chè, hút thuốc lào bàn chuyện đi xuất khẩu lao động thế nào, đoán già đoán non xem cuộc sống ở trời Tây ra sao, Nhưng ngày này qua ngày khác, nói mãi chỉ những đề tài ấy thì cũng đến lúc hết chuyện. Chán. Nếu có vợ của ai đó ở bên kia gửi được ít tiền về thì thêm được một nội dung hấp dẫn làm cho câu chuyện thêm sôi nổi, giúp cho những người đàn ông ở nhà thêm sức sống và niềm tin để vượt qua những đêm dài quạnh quẽ.

Một vài người có sáng kiến đánh tú lơ khơ để giết thời gian. Mỗi ván vài nghìn. Thế mà hiệu quả. Có hôm gần sáng vẫn thấy nhà Chiến sáng đèn. Từ có một cỗ bài lúc ban đầu giờ đã đẻ ra ba cỗ, mỗi cỗ một góc chúm chụm vào nhau. Còn thừa một vài người thì ngồi xem, hoặc thay lân nhau chơi. Chính vì lẽ ấy mà Bính không muốn đến nhà Chiến. Vì Bính mù tịt mấy cái thứ đó. Bảo Bính chơi gì thì được, như đánh khăng, đánh đáo thì Bính vẫn còn thạo, vì hồi nhỏ Bính là một tay cừ khôi, nhưng còn cái món bài bạc thì Bính chịu. Chẳng nhẽ đến nhà Chiến thấy đám đàn ông chơi bài thì Bính lại ngồi xem ti vi. Bọn nó lại chẳng cười cho. Nhưng mà không đến đó thì biết đi đâu. Bính đành liều một phen. Cu Bin tung ta tung tăng hoà vào ngay đám trẻ con ở đầu ngõ làm Bính phát thèm. Ngại ngần giây lát, Bính quả quyết bước qua cánh cửa sắt Chiến vừa tậu tháng trước bằng tiền của vợ gửi về. Cuối cùng hoá ra Bính lo thừa, không có ai cười Bính mà cũng chẳng ai hỏi Bính có biết chơi bài không bởi họ còn bận chúi mũi vào những quân bài, mắt ai cũng chăm chú, căng thẳng tính tính toán như thể đang đứng trước một chuyện hệ trọng. Bính ngồi ghé mông xuống chiếu, nhòm vào bài nhà Lai.

- Ù - một tiếng kêu to phấn khởi bật lên. Nhà Tiến xỉa từng ba quân bài một đập ten tét xuống chiếu, mặt rạng rỡ, hớn hở. Những người khác chưng hửng chẳng nói chẳng rằng đếm đếm đống tiền lẻ đưa cả sang chỗ Tiến ngồi. Mỗi người năm nghìn đồng. Vẫn với bộ mặt hớn hở, Tiến nhanh nhẹn vơ tiền nhét vào lòng. Một mớ hỗn độn đủ loại: Năm trăm đồng, một nghìn đồng, năm nghìn đồng, năm mươi nghìn đồng…

Lai chửi bậy: - Đ. mẹ! Sao thằng Tiến hôm nay đỏ thế.

Hai bàn bên cạnh nghe thấy ngẩng cả lên, một người cười to :

- Đỏ bạc đen tình. Khéo mà giờ này vợ thằng Tiến lại đang ngủ với trai bên trời Tây. Cả đám cười rộ lên:

- Biết đâu được đấy, ở nhà ai biết ma ăn cỗ.

- Mà toàn là đàn bà hết rồi, đánh dấu thế nào được.

Tạm nghỉ. Tất cả quay ra rít thuốc lào. Một vài người bây giờ mới để ý đến sự có mặt của Bính.

- A, anh cu Bính. Hôm nay mới thấy sang đây chơi. Chắc là trước khi đi vợ dặn không được la cà đàn đúm với mấy thằng này phải không. Thế mà hôm nay gan to bằng cậu ông trời, dám trái lời vợ cơ đấy.

- Vợ là vợ của ta. Ta sợ vợ ta chứ có sợ ai đâu mà thiệt.

Mỗi người một câu, kẻ đấm người xoa giễu cợt Bính làm mặt hắn đỏ lên. Thì ra hắn cứ lo sai hết. Chẳng ai cười hắn vì hắn không biết chơi bài mà bọn họ lại cười hắn vì hắn đã không đến nhập hội sớm.

 

 

*

*       *

 

 

Tháng Tám. Nắng rải vàng như mật ong. Cánh đồng lúa đã xuôi hạt đang ngả màu vàng ruộm. Bính đi thăm đồng về, ước chừng chỉ một tuần nữa là gặt rộ, Bính lo lo. Bình thường có vợ ở nhà, hai vợ chồng chỉ mất một tuần là gặt xong tất. Bính còn thừa sức để làm mấy sào rau và ngô vụ đông ngon ơ. Nhưng bây giờ còn có một mình, Bính lo không biết phải xoay xở ra sao. Chẳng lẽ lại đi thuê. Những nhà khác cũng thuê cả. Sáng nào cũng có mấy tốp đàn bà con gái ngồi chực ở ngã tư đường tàu từ sớm. Nhà Chiến sáng nay cũng thuê hai người. Lúc đi về đến cổng đình, Bính gặp Chiến hăm hở phóng xe máy đèo một ả chừng ba mươi tuổi ôm một quả dưa hấu, một bình nước phóng vụt qua. Cái xe máy ấy Chiến mới mua bằng tiền của vợ gửi về. Trước kia Chiến đâu có biết đi xe máy. Thế mà chỉ trong vòng có gần tháng từ ngày tậu xe, hắn đã chạy ầm ầm khắp làng trên xóm dưới. Bây giờ còn dùng cả xe máy đưa người làm thuê ra ruộng, chở lúa từ ruộng về.

Thật đúng là đổi đời.

Bính nghĩ vẩn vơ. Cả xóm đàn ông (bây giờ người làng toàn gọi xóm của Bính bằng cái tên ấy) chỉ còn nhà Bính là chưa có xe máy. Cũng bởi vợ Bính là người đi cuối cùng, nếu không có gì trục trặc thì theo như lời nhắn của vợ cuối tháng này thị sẽ gửi tiền đợt đầu tiên về nhà. Nhưng tiền ấy Bính phải trả nợ. Tổng số là ba mươi triệu đồng. Số tiền ấy ngoài của ngân hàng thì vợ Bính phải chạy vạy khắp làng trên xóm dưới, có chỗ nói gãy lưỡi họ mới cho vay. Cũng bởi họ biết vợ Bính vay tiền để đi xuất khâu lao động, và họ thấy những người đi xuất khâu lao động đều sớm có tiền gửi về thì mới dám cho nhà Bính vay, chứ nếu không thì cũng còn lâu. Chả biết đợt này vợ Bính gửi về được bao nhiêu, nhưng cứ phải ưu tiên trả nợ hàng đầu, không thì người ta lại chẳng đến tận nhà  mà gọi cửa.

- Đi thăm đồng à Bính? - Có tiếng chào mà như quát vào mang tai. Bính giật mình quay lại. Thì ra là Chiến đang rè rè xe máy đằng sau.

- Lên đây tôi chở.

Bính hơi bối rối vì lời đề nghị đột ngột. Quả thực Bính vẫn thấy cái sự ngồi xe máy nó xa lạ làm sao ấy. Nhưng Bính cứ liều trèo lên.

- Bao giờ bên ấy gặt? - Chiến nói oang oang như quát.

- Chắc là sang tuần.

- Có thuê người không? Tôi bảo luôn mấy em đang làm hộ tôi đây. Một mình thì làm thế nào được. Cứ bỏ ra vài trăm ngàn cho nó nhàn. Tội gì phải vất vả.

- Mấy trăm ngàn cơ à? - Bính buột miệng - Đắt thế. Bằng những mấy tạ thóc.

- Ối giời. Mấy trăm có đáng gì - Chiến bĩu môi. Không có tiền hả? Sang tôi cho vay, bao giờ cô ấy gửi tiền về thì trả cũng được, không đi đâu mà vội.

Bính như không tin vào tai mình. Sao Chiến rộng rãi thế không biết. Khác hẳn với Chiến trước kia. Chả phải là nói xấu, nhưng Bính lớn lên cùng lứa với Chiến, ở cùng một xóm, chơi với nhau từ hồi còn cởi truồng, Bính còn lạ gì Chiến. Hồi nhỏ, Chiến bé loắt choắt, đen như củ súng, mũi dãi thò lò xanh lét, quệt ngang quệt dọc ngoang nguếch. Chiến lấy vợ sau hồi đi làm thợ xây. Vợ Chiến táo tợn, ăn nói bạo dạn, bao nhiêu tiền công thợ xây Chiến bị vợ quản hết, quanh năm suốt tháng Chiến làm gì có đồng xu nào trong túi, đến muốn hút điếu thuốc lào, uống chén trà còn phải xin vợ tiền. Thế mà bây giờ…

Xe đi vào đoạn ổ gà nên nhảy chồm chồm như làm xiếc. Bính bám chặt cứng vào Chiến, người căng ra.

- Sao hả, có thuê không? - Chiến vẫn oang oang. Chiếc xe nhảy chồm qua cái ổ gà làm Bính nảy người lên.

- Ừ… nhưng… để tôi xem đã - Bính lúng túng như gà mắc tóc.

- Thế nhé, nếu mà thuê thì sang bảo tôi một câu. Thôi, ông xuống đây, tôi phải đi đằng này. Bái bai.

Chiến đỗ xịch xe trước ngã ba đường rẽ về nhà Bính. Bính lóp ngóp trèo xuống, chưa kịp định thần thì chiếc xe đã rồ ga phóng vút đi. Bính đứng ngẩn ra, nhìn theo ống khói từ đít xe của Chiến kéo một vệt dài trên con đường làng nhỏ hẹp.

 

 

*

*       *

  

 

Dạo này, thằng cu con đang ở chơi nhà ngoại mấy hôm, Bính chẳng vội gì chuyện cơm nước. Loanh qua loanh quanh ở nhà một mình cũng chán. Bính quyết định sang bên nhà Chiến chơi, cũng để hỏi cho kĩ cái chuyện thuê mướn. Nhà Chiến vắng lặng. Bính nhìn quanh chợt thấy một người con gái trông còn trẻ đang giặt giũ ở ngoài giếng. Chắc là người gặt mướn mà Chiến nói ban nãy. Bính bước vào sân, theo thói quen ngó vào gian bếp và… Bính trố mắt ra ngỡ ngàng: Chiến ngồi xổm, đang ôm nghiến lấy một ả đàn bà lạ hoắc ngồi trên chiếc ghế con trước bếp lửa mà hôn hít, sờ soạng ngấu nghiến. Lạ là ả đàn bà không hề chống cự, ngược lại thị còn rên lên, mười ngón tay dùi đục cáu bẩn bám chặt vào lưng Chiến. Họ mải mê quá, không cả nhận ra sự có mặt của Bính. Cũng thật may, Bính vội vã bước thụt lùi  rồi đi như chạy ra khỏi cổng nhà Chiến. Về đến nhà mà tim Bính vẫn đập thình thịch, mặt tái mét.

Bính vào giường ngồi ngẩn ra. Cứ như đó chỉ là một giấc mơ. Bính cấu vào tay mình. Rõ ràng không phải giấc mơ. Tối hôm ấy Bính không ra khỏi nhà. Bính lên giường từ sớm. Trong đầu lúc nào cũng lẩn quất hình ảnh ban chiều. Lúc ấy Bình còn nhìn rõ cả bàn tay của thằng Chiến ngọ nguậy trong áo của mụ đàn bà. Chắc hẳn nó phải bóp mạnh lắm làm cho ả phải nghiến răng rên lên. Bính nhắm mắt lại, thấy ả đàn bà ngã ra sàn bếp và… không còn thấy Chiến mà chính là Bính đang quằn quại trên bụng mụ. Cái của nợ của Bính cứng lên. Bính lăn lộn…

Bính bật dậy, toát mồ hôi đầm đìa. Thật là đốn mạt. Nhưng ở đây làm gì có ai mà sợ. Bính thấy tiếc rẻ, lại nằm xuống. Cái cơ thể trần trụi trắng nhễ nhại thơm tho của vợ Bính trước hôm “đi tây” hiện về. Bính nhắm mắt, hồi tưởng, và lại lăn lộn.  

 

*

*       *

 

Bính đã bình tĩnh trở lại. Nhưng vẫn không thể nào ngủ được. Bính chợt nhớ lại những câu chuyện tục tĩu mà cánh đàn ông ở xóm hay nói mỗi khi có dịp tụ tập nhau. Đó là những hôm mà buổi tối điểm mặt thấy thiếu một ai đó, hoặc là đến mà Chiến không có nhà, y như rằng họ lại nói bóng gió Chiến hoặc cái người vắng mặt đi tìm “cái chuyện ấy”. Dạo này càng ngày Chiến càng vắng nhà nhiều hơn, đám đàn ông cũng ít khi tụ tập đông đủ như trước, nhưng mỗi lần gặp nhau là lại lôi cái “chuyện ấy” ra mà cười cợt. Họ kể chuyện bắt gặp người này người nọ ở quán bia ôm, karaoke, đồng thời cũng là cái cách khoe khéo ta đây cũng đã chẳng lạ gì những chốn ấy.

Bây giờ thì Bính mới hiểu.

Hoá ra ở cái xóm đàn ông này, Bính luôn là kẻ đi sau thời đại.


*

*       *


Hôm mười bốn tháng mười, vợ Bính gửi tiền về lần đầu tiên. Tính ra là vừa tròn ba tháng kể từ khi thị đi. Số tiền là mười triệu đồng. Khỏi phải nói lần ấy nhà Bính đông vui thế nào. Như có phép lạ, thông tin lan truyền rất nhanh, cả xóm đàn ông kéo đến, người xóm trên xóm dưới cũng đến hỏi thăm vô cùng rộn rịp. Nhưng lần ấy chẳng dư được đồng nào. Vợ Bính viết thư về dặn dò kĩ lưỡng phải trả nợ những ai, bao nhiêu tiền, thứ tự trước sau như thế nào. Bính cứ việc theo thế mà làm. Mà chẳng làm thì chủ nợ - như là được báo trước đã đến chực sẵn ngay sau hôm Bính nhận tiền về. Nhưng Bính cũng chả vội gì, vợ Bính đã nói rõ là sau khi trả hết nợ, bao nhiêu tiền vợ Bính gửi về là của vợ chồng hắn tất, Bính tha hồ mà tiêu tuỳ thích.

 

*

*       *

 

 

Nhìn kĩ, quán karaoke Thanh Thảo chỉ là một căn phòng cấp bốn lợp blôximăng. Nhưng buổi tối, dưới ánh đèn điện nêông mờ tỏ, tấm cửa kính màu đen dán chi chít những hình trái tim và nốt nhạc đủ màu sắc làm cho quán Thanh Thảo có vẻ huyền bí, sang trọng khác hẳn với những ngôi nhà nhỏ nghèo nàn xung quanh. Chủ quán là một người đàn bà chừng bốn mươi tuổi, goá chồng, trước mở quán nước chè chén cũng ở tại nền nhà ấy. Nhưng mới đây thấy cánh đàn ông ở “xóm đàn ông” rủng rỉnh tiền bạc lượn lờ xe cộ qua nhà thị lên tỉnh, thị nhanh nhẹn thuê ngay thợ về lắp cửa kính màu đen, lát lại cái nền nhà, treo rèm hồng diêm dúa trong căn phòng đằng sau vốn là buồng ngủ của thị. Thị lại đặt mua hẳn bộ xa lông đệm mút, mua dàn máy hát. Thế là thành quán Karaoke. Dạo này, thị còn thuê ở đâu được hai cô gái làm nhân viên cho quán. Các cô gái nửa quê nửa tỉnh, móng tay dùi đục còn vương mùi bùn đất nhưng được sơn quết đỏ choét. Cặp môi dày cũng đỏ choét. Mặt trắng nhễ nhại phấn. Các cô ăn mặc kiểu phố xá, áo ba lỗ cổ trễ, quần lửng đến bọng chân, tất cả đều xanh đỏ vàng tím trông đến vui mắt. Và không biết có phải vì thế hay không mà từ ngày khai trương, quán karaoke Thanh Thảo hầu như hôm nào cũng có khách cả ngày. Từ sáng đến đêm khuya.

*

*       *


Dạo này nông nhàn nhưng đám đàn ông ở xóm đàn ông không ai còn đi phụ hồ như trước kia nữa. Dặt dẹo ở nhà nhau mãi cũng chán, họ rủ nhau đi chơi cho khuây khoả và cũng là để cho “biết mùi đời”. Chiến đã từng lớn tiếng cảnh báo: - Anh em mình mà không “học hành” cho biết, cho theo kịp với thời đại thì vài năm nữa các mụ về, mình thành ra lạc hậu, bị coi khinh cho.

- Chứ chả không à. Một vài gã lên tiếng đồng tình. Cả đám lại ồn lên đủ thứ chuyện về cuộc sống bên “trời tây”- những chuyện họ được nghe kể  hoặc là họ tưởng tượng ra từ những bộ phim trên truyền hình. Nói về nơi xa xôi chán, họ nói ngay về những thú ăn chơi đang thịnh hành trên tỉnh. Những anh nào nhạy bén và dạn dĩ đã từng trải qua các món ăn chơi tha hồ được dịp phô bày hiểu biết để tỏ vẻ thời thượng. Những kẻ khác ngồi nghe, mắt trố ra, có kẻ nuốt nước bọt một cách vô thức.

Bính là một trong những kẻ ngồi nghe như thế.

  

*

*     *


Nhưng đấy là chuyện xưa rồi. Bây giờ thì không còn có thằng đàn ông nào trong xóm đàn ông đã không có vài chục lần kinh nghiệm về những chốn ăn chơi thời thượng. Xoàng xĩnh và bét-den nhất là ở quán Thanh Thảo, còn thì phần đông đã biết hết các ngõ ngách trên thị trấn. Trường hợp của Bính là tại Chiến cứ lôi kéo. Chiến đi xe máy đến tận nhà, gần như là ép buộc bắt Bính phải ngồi lên xe của Chiến rồi cứ thế đưa Bính đến quán Thanh Thảo. Bính thấy nể quá nên đành theo, tự nhủ chỉ có lần ấy thôi. Nhưng chẳng hiểu vì sao từ sau cái lần đầu tiên ấy, không phải là Chiến đến nài nỉ mà là tự đôi chân Bính dẫn xác Bính đi. Có lẽ vì Bính hiền, thật thà, chất phác nên được chủ quán Thanh Thảo đặc biệt có thiện cảm. Đám con gái tiếp viên giời đánh, trong lúc rỗi việc vì bà chủ đang bận tiếp Bính ở trong, chúng bắc ghế ngồi chỏm chọc ở trước cửa quán, rúc rích với nhau rằng bà chủ thích nhất Bính là vì Bính có tấm lưng to như tấm phản, có bộ ngực bóng nhẫy nở múi như trái núi và vì… chúng phá ra cười sằng sặc… Một ả giơ nắm đấm ra dứ dứ rồi ôm bụng lăn lộn.

Rõ là đĩ thoã. Tiếng cười của mấy ả “cave” (bây giờ chả cần lịch sự gọi bọn họ là nhân viên nữa, vì cả xóm, cả làng đã biết đấy là cave) vang vào cả căn phòng rèm hồng diêm dúa. Nhưng nó chẳng có ý nghĩa gì với những người ở trong đó vì có thể họ còn không cả nghe thấy. Lúc này…  

 

*

*       *

  

 

Bính đã đang no nê, nằm duỗi chân thẳng cẳng, thở phì phò. Mụ chủ quán cũng dạng háng, ngửa cái bụng chềnh ềnh lên trần nhà, hai mắt lim dim mà mặt còn đỏ ửng. Mụ mơ màng. Đã bao nhiêu chục thằng đàn ông từng nằm trên cái bụng của mụ nhưng chưa thằng nào làm mụ “phê” như “anh ấy”. Đúng là của trời cho. Có lẽ là trời thương mụ, chẳng cho mụ hưởng cái tình ái ân chồng vợ được. Suốt bấy nhiêu năm chịu thân gái goá mụ phải đi mót tình của bất kì thằng đàn ông lang chạ nào, phần lớn lấm la lấm lét, vội vội vàng vàng như chuột nhắt ăn vụng làm cho mụ chỉ thấy ngứa thêm. Nhiều đêm nằm mụ trằn trọc nghĩ uổng phí cho cái số hồng nhan của mình, nào ngờ đến gần chót đời còn gặp được tri kỉ.

Mụ chủ quán lồm cồm bò dậy, chui đầu vào cái váy màu tím Huế. Mụ lê đôi dép gỗ lạch cạch ra nhà ngoài, pha một cốc sữa nóng mang vào, bưng bằng cả hai tay đưa cho Bính kèm cái nhìn lúng liếng. Bính trườn người ngồi dậy dựa lưng vào thành giường bình thản đỡ lấy cốc sữa như một ông chủ thực thụ. Vì Bính đã quen với cảnh  này lắm. Lần đầu tiên, Bính cứ thấy ngượng ngùng, tay bưng sữa còn run run như đứa trẻ, nhưng bây giờ thì Bính đã thạo lắm. Mụ chủ sà xuống bên cạnh Bính, mắt lúng liếng liếc Bính tình tứ, bàn tay gân guốc với bộ móng dài loằng ngoằng đỏ choét rờ rờ ngực Bính. Bính vẫn bình thản, mặt chẳng hề đổi sắc như thể đó là điều tự nhiên vô cùng.

Đồng hồ điểm lanh canh. Bính lơ đãng nhìn lên. Thôi chết, đã sáu giờ tối. Bính nhớ tới thằng con trai ở nhà. Dù gì cũng phải về  ăn cơm với nó, đợi cho nó ngủ rồi thì Bính mới lại lên đây được. Cách có vài cây số chứ nhiều nhặn gì. Bình thường Bính đi bộ cũng chỉ mất khoảng nửa tiếng. Bây giờ lại có xe máy thì càng tiện. Bính rẽ qua chợ mua nửa cân giò về rim mặn cho thằng Bin ăn dần.

Thằng con không có nhà. Cửa cổng, cửa nhà vẫn đóng im ỉm như chưa bao giờ được mở. Bính tức điên lên. Hoá ra Bính lo thừa, Bính cứ tưởng nó phải đang ở nhà bồn chồn mong ngóng đợi bố về, hoá ra Bính còn về trước nó. Chỉ có con chó vàng gầy còm nhom  thấy có tiếng động, ngửi biết hơi của chủ nên lọ dọ đi từ trong bếp ra. Nhưng nó cũng chẳng còn đủ sức quấn lấy chân Bính đòi ăn mà chỉ đứng ở cửa bếp, ngước đôi mắt đã mờ đi vì đói nhìn Bính tha thiết. Bính bắt gặp ánh mắt của nó, chợt nhớ ra rằng đã lâu lắm Bính không đổ cơm cho nó ăn, không biết thằng Bin có nhớ cho không mà để nó đến mức thế kia. Đúng là con cái ăn hại, có mỗi cái việc ấy. Mà cả cái con chó nhà Bính cũng ngu ngốc nốt. Bính nhớ dạo trước kia, nhà Bính ngày nào cũng có mấy con chó quẩn quanh chầu chực tranh cơm của con Ních, là đám chó của mấy nhà bên cạnh, vì những ông chủ mải chơi quên cho ăn, chúng đói, thế mà chúng không chịu đói, biết tìm sang nhà Bính. Dạo ấy Bính nhìn chúng thấy thương, hôm nào còn cơm nguội là Bính vét hết đổ cho chúng thoả sức tranh giành nhau, có con còn cắn nhau chí chết. Đằng này, chó nhà mình, đói mà không biết đi mà kiếm ăn. Rõ là đụt.

Thực ra Bính không biết rằng, trong vòng bán kính cái xóm này, đã từ lâu chẳng nhà nào còn cho chó ăn đúng bữa. Đã có vài con chó mất tích, không biết chúng chết đói ở xó xỉnh nào, hay là chúng bỏ xứ đi kiếm ăn ở nơi khác.

 

 

*

*       *

 

 

Bính định cọ nồi nấu cơm. Thì đã về đến nhà rỗi thì đành đợi thằng con về vậy. Cũng nên nấu cho nó bữa cơm. Nhưng khi mở vung nồi ra, mùi cơm thiu xộc lên mũi làm Bính tởm lợm. Trong nồi không phải là cơm mà là một thảm rêu đủ màu xanh đỏ tím vàng bẩn thỉu. Bính chun mũi, lấy chân đẩy cái nồi cơm điện vào góc nhà, lại tức điên lên. Thằng con trời đánh. Lần này nó về Bính phải dần cho nó một trận. Nhưng nó vẫn chưa về. Đã sáu giờ ba mươi. Bính loanh quanh, hậm hực, tí nữa thì giẫm bẹp con chó vẫn đang nằm một đống ở cửa bếp. Ngẫm nghĩ thế nào, chắc chẳng đành lòng nhìn nó như thế, Bính vác cái lõi nồi cơm điện mang ra sân, đổ tất cả cơm thiu thành một đống trước mõm con chó đang thiêm thiếp rồi tiện tay quẳng luôn cái lõi nồi vào góc bếp. Con Ních mở mắt, lờ đờ nhìn đống cơm, cái thân nó nhúc nhích lê sát lên một chút cho đủ gần để không cần đứng dậy cái lưỡi nó cũng quờ quạng được cơm. Nhưng mà nó không nuốt nổi. Dù là chó, dù đang đói gần chết nó cũng không thể nuốt vào bụng cái đống trước mặt. Nó vẫn nằm nguyên một chỗ, quay mặt đi để khỏi chạm vào cái đống cơm trước mặt. Bính nhìn mà ngứa cả mắt, không lẽ lại đá cho nó một cái để nó biến đi cho khuất mắt. Đồ chó má.

 

*

*       *


Cuối cùng thì thằng con Bính cũng về. Trời đã tối hẳn. Nó vội vã lếch thếch, quần áo xộc xệch, cái cặp sách to tướng trễ sau lưng xuống gần cạp quần. Đến cổng, thấy điện trong nhà sáng, nó đứng khựng lại, định thần rồi rón rén đi vào. Nhìn thấy Bính đang nằm ườn ra xem tivi, nó ngập ngừng, nhưng dù thế nào thì nó vẫn phải bước chân qua cửa và lí nhí chào Bính:

- Bố ạ.

Bính nhỏm ngay dậy, máu nóng dồn hết lên mặt:

- Mày đi đâu đến bây giờ mới về, hả?

Thằng Bin co ro, hai ngón chân cái di di vào nhau.

- Mày đi đâu bây giờ mới về, hả?

Thằng Bin co ro, hai ngón chân cái di di vào nhau.

- Mày đi đâu bây giờ mới về?. Bính gầm lên.

- Con… Thằng bé sợ hãi, run lập cập.

- Bốp. - Bính chồm tới, thẳng tay cho nó một cái tát trời giáng vào má làm nó quay lơ từ đằng trước ra đằng sau, ngã ngồi xuống. Nhưng nó không khóc. Có lẽ nó không dám khóc, hoặc là nó còn choáng váng nên chưa khóc được. Nó lấy hai tay ôm mặt, ngồi chết dí như đống rạ nát.

- Mày còn ngồi chết dí ở đấy hả? Có lẽ nỗi hậm hực được trút cả vào cái tát đã vơi đi, lương tâm người bố thoi thóp thở trong Bính, hắn thấy hơi ân hận, giọng chùng xuống: - Đi pha mì tôm mà ăn. Lần sau mày cứ thế…

Bính gầm gừ doạ nạt, mắt gườm gườm nhìn thằng con rồi quay về giường, nằm lăn ra xem tivi.

  

*

*       *

 

Thằng Bin lún cún gượng gậy, đưa tay quệt má lau những giọt nước mắt vừa rơi ra. Nó cũng chẳng thiết ăn, vào buồng nằm ngủ luôn. Nhưng nó không ngủ ngay được. Nước mắt bây giờ mới trào ra nhoè nhoẹt. Nó trở mình nằm sấp, vùi mặt vào dưới gối tránh những tiếng nức nở. Nhưng càng cố kìm nén thì nước mắt càng tuôn ra như suối. Người nó rung lên bần bật trong sự nghẹn ngào, tức tưởi. Nó muốn gào to lên. Nó nhớ mẹ. Nó thấy cô đơn quá thể. Đã từ mấy tuần nay nó vất va vất vưởng. Bố nó vắng nhà suốt, có khi đến bữa cũng chẳng về ăn cơm. Nó đã đủ lớn để biết cắm nồi cơm điện, nhưng chưa biết đi chợ. Bố nó thường mua cả cân thịt về, xắt khúc ra cho vào nồi kho để ăn dần, để có hôm nào bố nó về muộn thì cũng không phải lo cho nó. Nhưng có hôm hết thịt, nó cắm cơm để đấy, đợi bố mua thức ăn về. Đợi đến lúc nó ngủ quên mất, khi bừng tỉnh dậy đã muộn giờ học, nó cuống cuồng chạy mà chẳng kịp ăn. Ngồi trong lớp học, bụng nó sôi ùng ục, đến cuối giờ thì nó như người sắp đói lả, lê lết thất thểu mãi mới về đến nhà, thấy cửa vẫn đóng im ỉm… Nó lủi thà lủi thủi, loanh quanh nằm hết góc nọ đến góc kia đợi cho đến sáu, bảy giờ tối mới nghe thấy tiếng xe máy phành phạch của bố nó. Nhiều hôm như thế, nó không còn muốn về nhà nữa. Hết giờ học, nó theo bọn thằng Vui đi chơi điện tử. Mới đầu, nó không biết chơi, cũng chẳng có tiền, chỉ ngồi xem. Nhưng được thằng Vui nhiệt tình chỉ bảo, nó thạo, đâm ra mê. Thằng Vui là bạn tốt, nó trả tiền cho Bin chơi. Nó thương Bin vì Bin cũng giống nó. Mẹ Vui đi từ trước khi mẹ Bin đi 6 tháng. Bố nó ở nhà bán bò, bán ruộng rồi cũng bỏ bê tất, đến muà thì thuê người cày, bừa, cấy, xong cứ để đấy cho lúa tự lớn, sống chết không cần biết. Vui không còn phải đi chăn bò nữa, em gái nó còn nhỏ đã được ông bà nội đón về nuôi. Suốt ngày nó lang thang cùng bọn trẻ trong xóm, phần đông giống như nó và Bin. Nó thương Bin vì thấy Bin nhút nhát, cứ củ lần củ lần trong khi phần lớn những đứa khác đều ngỗ nghịch, còn thường xuyên bắt nạt Bin. Tự nó cảm thấy có trách nhiệm phải bảo vệ Bin, bao bọc Bin. Những lúc biết Bin đói, nó còn mua bánh mì hay bim bim cho Bin ăn. Nó chẳng bao giờ so đo gì khi trả tiền chơi điện tử hay mua đồ cho Bin ăn như thế.

Bin nghĩ về Vui, thấy lòng ấm lại. Nước mắt nó cạn khô từ lúc nào. Hôm nay Vui cũng hết tiền. Lớp học lại được nghỉ sớm vì cô giáo bận. Ra khỏi cổng trường, hai thằng buồn thiu không biết đi đâu. Bin lấm lét nhìn vẻ mặt cuả Vui, thấy thương bạn. Nó biết trong túi nó đang có năm mươi ngàn đồng tiền đóng học, vừa hôm qua nó xin bố nhưng hôm nay cô giáo vội chưa kịp thu. Nó muốn trả ơn bạn vì những ngày qua Vui đã cho nó ăn, cho chơi, còn dang tay che chở nó khỏi bị bọn xóm Ga bắt nạt. Hôm ấy Vui làm cho bọn xóm Ga phải kiềng, nhưng chính Vui cũng bị trúng một hòn đá vào trán chảy máu, mấy hôm sau còn sưng vù húp cả một bên mắt phải. Đắn đo mãi, đi đến đoạn gần quán điện tử, Bin ấp úng quay sang Vui: Anh Vui, em có tiền.

Vui không nghe thấy, nó kéo lê đôi dép, tay vung vẩy bước từng bước chán chường. Bin mạnh dạn hơn, nó cố gắng nói to hơn.

- Anh Vui, em có tiền.

- Cái gì á? Mày có tiền à? Vui dừng lại, mắt sáng lên nhìn Bin.

- Vâng, em có năm mươi nghìn.

- Ôi dào, Vui nhăn mặt. Tiền đóng học chứ gì.

- Không, tiền của em. - Tự nhiên Bin biết nói dối. -  Bố em cho em ăn quà.

- Thật không? Mày đừng có nói điêu. - Vui trợn mắt nhìn Bin doạ nạt.

- Thật. Anh không tin em à? - Bin càng lúc càng cứng cỏi. Nó vội vã mở cặp sách moi ra những đồng mười nghìn nhàu nhĩ đưa cho Vui.

- Đây, anh xem.

- Thế còn tiền đóng học đâu? - Vui ngờ vực.

- À… - Bin ấp úng. - Bố em đã đóng trực tiếp cho cô giáo từ hôm đi họp phụ huynh rồi.

Bin nói xong, ngạc nhiên với chính mình vì không ngờ lại nhanh trí đến thế. Cũng bởi từ đầu năm lớp nó có chuyện một số đứa tiêu hết cả tiền học phí không có tiền đóng cho cô giáo, đến khi nhà trường thông báo về nhà, nhiều ông bố bà mẹ không còn tin tưởng con cái, không đưa tiền cho chúng mà trực tiếp đem nộp cho cô giáo. Thật may điều đó đã giúp cho Bin một bàn thua. Vui vẫn nửa tin nửa ngờ:

- Sao tự nhiên bố mày lại cho mày tiền?

- Vì mẹ em vừa gửi tiền về. Lần nào mẹ em gửi tiền về bố em cũng cho em năm mươi nghìn.

Bin càng nói dối càng dẻo. Lần gần đây nhất mẹ Bin gửi tiền về cách đây một tháng nhưng bố có cho Bin đồng nào. Bin nhớ mãi lần đầu tiên, là vì mẹ đã ghi dặn bố trong thư nên bố biếu ông bà nội, bác bên ngoại mỗi người năm trăm ngàn đồng, cho Bin năm mươi nghìn đồng. Chỉ có duy nhất một lần ấy. Bin đã cất kỹ số tiền, nhưng thỉnh thoảng thèm kẹo cao su, thèm bim bim, không kìm lòng được đành phá ra mua kẹo, dần dần hết lúc nào không biết. Hôm cầm đồng một nghìn cuối cùng, Bin tiếc ngẩn ngơ, cảm giác như vừa bị mất cắp một tài sản to lớn, nhưng Bin hy vọng những lần sau mẹ gửi tiền về bố sẽ lại cho Bin, nhưng cuối cùng Bin đã thất vọng, bố không bao giờ cho Bin thêm đồng nào nữa.  

 

*

*       *

 

Nghe Bin nói qủa quyết, tin Bin là đứa thật thà không biết nói dối, Vui cầm tiền Bin đưa cho, lật qua lật lại xem, cũng chẳng biết là xem cái gì. Ngẫm nghĩ một lúc, Vui đưa trả tiền cho Bin:

- Này, mày cầm lấy. Vào chơi điện tử đi. Lúc nào về thì mày trả tiền.

Bin đã có một buổi chơi vô cùng say mê. Có lẽ cái cảm giác chơi bằng tiền của mình làm cho Bin thấy phấn khởi và tự tin. Bin quên cả thời gian, cho đến khi Vui phải nhắc về thì trời đã tối mịt.

Lúc bước ra khỏi quán Bin rất đói. Đến bây giờ vẫn đói. Thỉnh thoảng bụng lại sôi lên ùng ục. Lúc trưa đi học Bin ăn một gói mì tôm. Từ lâu rồi Bin ăn mì tôm thường xuyên, ăn nhiều thành chán, đến mức sợ. Trước kia Bin không thể tưởng tượng đến một ngày lại có thể chán mì tôm, vì lần đầu tiên ăn nó, Bin thấy đó là món ăn ngon nhất trên đời và Bin đã nghĩ có cho Bin ăn mì tôm cả đời cũng được. Vậy mà bây giờ, có hôm nhắm mắt cho đũa mì vào miệng, Bin tí nữa nôn. Ngồi trong lớp học vẫn còn thấy mùi mì nóng ợ lên tận cổ. Bây giờ, lúc này, Bin ước gì được ăn bữa cơm với canh cua mẹ vẫn nấu, hoặc là cơm canh rau muống với cà pháo. Nghĩ đến đó nước dãi Bin tứa ra, bụng lại réo sôi ùng ục. Bin trở mình nằm sấp, nhắm mắt, mặc kệ cho nước mắt trào ra ràn rụa. Cứ thế, Bin chìm vào giấc ngủ.  

 

*

*       *

  

Trong vòng bốn ngày đã có hai sự kiện xảy ra ở xóm đàn ông. Sự kiện thứ nhất, xảy ra hôm đầu tuần, đó là công an xã bắt quả tang vụ đánh bạc ở nhà Thêm. Từ lâu, chiếu bạc ở nhà Chiến đã tự tan rã. Vì lí do “tế nhị”. Chiến cứ vắng nhà suốt hoặc là đóng cổng từ sớm. Mà chả cần đóng cổng, anh nào đi vào thoáng thấy có bóng đàn bà ở trong nhà Chiến cũng biết thân tự mà đi về. Từ đó đám đàn ông vắng vợ chuyển sang tụ tập ở nhà Thêm - Tuy không được đông như trước nữa nhưng hôm nào cũng đủ ít nhất một chiếu. Hôm ấy may thế nào chỉ có sáu người, số tiền lại chẳng đáng là bao nên tất cả chỉ bị gọi lên trụ sở công an xã viết bản kiểm điểm, nộp phạt hành chính. Nhưng mà công an đe: nếu lần sau còn tái phạm và số tiền nhiều hơn thì sẽ bị truy tố trước pháp luật.

Chỉ thế thôi nhưng cũng là chuyện được bàn tán xôn xao mấy ngày sau đó.

Sự kiện thứ hai, người nhà của vợ Tứ từ bên kia sông kéo sang khủng bố tinh thần Tứ, cảnh cáo anh ta liệu mà còn bén mảng đến những “động quỷ” trên thị trấn thì sẽ xử lý.. Ngay từ sáng sớm, cả xóm đã bị đánh thức bởi tiếng động cơ xe gầm gào đầy phẫn nộ chạy vào xóm. Nhiều người còn chưa muốn trèo ra khỏi giường thì đã nghe những tiếng xoe xoé, choe choé ồn lên. Tất cả chạy đổ dồn ra đường về phía có tiếng la hét. Trong nhà Tứ, gần chục người cả đàn ông, đàn bà, trẻ con đang vây lấy Tứ mà xỉa xói, nhiếc móc, đe doạ. Đứa con gái của Tứ xộc xệch trong chiếc áo hoa nhem nhuốc ngồi xổm ở bậc cửa, mặt lem nhem nước mắt lẫn nước mũi. Chỉ qua lời đay nghiến ngoa ngoắt của bà chị vợ Tứ, ai cũng hiểu ngay ra đầu đuôi câu chuyện. Là người nhà vợ Tứ nghe biết chuyện đàn ông ở xóm đàn ông đổ đốn đã bí mật cho người theo dõi Tứ, thấy Tứ vài lần đi vào một quán karaoke trên thị trấn nên đã nổi tam bành lên.

- Cái loại người như mày, không báu bở gì mà chúng tao phải giữ, nhưng chúng tao không thể nhắm mắt làm ngơ để cho mày mang tiền mà em gái tao phải đổ mồ hôi sôi nước mắt mới kiếm được cho mấy con đĩ.

Chị gái vợ của Tứ nhảy lên, xỉa tay vào mặt Tứ căm hờn.

- Ngày mai tao sẽ gửi thư cho con Lan, kể hết mọi chuyện để nó không gửi tiền về nữa xem mày có còn đến đó được không. Xem mày cứ thử vác cái … không đến thì nó có đon đả với mày không.

Tứ ngồi ở ghế, im thin thít, mặt ngẩn ra. Không ai biết được lúc ấy anh ta đang nghĩ gì.

Đám người kia, sau một hồi chừng đã trút hết được cơn căm hờn và tự yên trí rằng Tứ đã “vãi linh hồn”, “có thách kẹo cũng chẳng dám nữa” thì lục tục trèo lên xe kéo nhau đi.

Đàn ông, trẻ con trong xóm cũng lục tục ai về nhà nấy. Xóm đàn ông trở về với vẻ yên tĩnh thường ngày.

Buổi tối hôm đó, cả xóm đàn ông nhà ai cũng sáng đèn. Nếu ai tọc mạch đi một vòng sẽ thấy nhà nào cũng đầm ấm quanh mâm cơm. Dù mâm cơm chỉ có hai người, hoặc là ba nhưng cũng có mâm có bát, được bày ra bàn hoặc trải chiếu đàng hoàng. Một ông bố với những đứa con, thỉnh thoảng mới nói với nhau một vài câu, còn thì cứ cắm cúi ăn. Cái cảnh hạnh phúc giản dị ấy, có đứa bé đã từ lâu lắm mới lại được hưởng.  

 

*

*       *

 

Cu Bin ngồi và cơm ngon lành. Bữa cơm có đậu rán, thịt luộc, dưa chua. Nó nhai phồng mang, thấy miếng dưa quện với thịt vừa mát, vừa ngọt vào tận trong dạ dày. Nhưng nó nuốt cơm mà vẫn lo canh cánh. Nó tiêu hết tiền đóng học rồi, cô giáo đã nhắc tên trước lớp, hạn cuối tuần này phải nộp không thì cô sẽ viết giấy về cho gia đình. Lúc nghe thế mặt Bin tái mét, cúi gằm xuống không dám liếc về phía Vui, lòng dạ hoang mang không biết sẽ xoay xở ra sao.

- Sao mày nói dối tao, hở?

Lúc về, Vui chạy đuổi kịp Bin, huých cặp sách vào người nó.

- Em… Bin ấp úng, mặt vẫn cúi gằm.

Vui độ lượng như người lớn:

- Bây giờ đã vậy rồi, mày định làm thế nào?

- …

Im lặng. Hai thằng bé đi bên nhau, bước chân vô định, lòng nặng trĩu.

 

 

*

*       *

  

 

- Bố… Sau một hồi đấu tranh tư tưởng, Bin cả gan lên tiếng.

- Cái gì, Bính cắm cúi và cơm, không để ý đến vẻ mặt rúm ró tội nghiệp của con.

- Con… con…

- Cái gì thì nói luôn ra xem nào, ấp a ấp úng như ngậm hạt thị. Bính cáu.

- Con… con đánh mất tiền học rồi ạ. Bin nín thở, người run lên.

- Hả?  Bính ngừng nhai, trợn mắt nhìn con.

- Con để trong cặp mà không biết đâu mất. Bin run run. Hôm con mang tiền đi nộp thì cô giáo bận, đến hôm sau mới thu, nhưng mà hôm sau con giở sách ra thì không thấy tiền đâu nữa.

- Con với cái, đồ ngu. Bính gầm lên. Nhưng vì đầu óc Bính đang lan man tận đâu đâu nên Bính không biết tiếp theo sẽ mắng con như thế nào nữa. Thế hoá ra lại may cho cu Bin.

 
 

*

*       *

  

 

Đêm hôm ấy Bính trằn trọc suốt. Không phải vì chuyện thằng Bin đánh mất tiền mà là câu chuyện ban sáng ở nhà Tứ làm Bính nghĩ ngợi. Cái chuyện Bính là khách quen của quán Thanh Thảo không hiểu bằng cách nào đã bị bố mẹ Bính biết. Hôm kia, ông bà đã gọi Bính đến mắng cho một trận. Mọi người không đe sẽ mách với vợ Bính, nhưng báo trước, chuyện tai vách mạch rừng, vợ Bính nó mà biết thì cứ liệu thần hồn.

Lâu lắm Bính mới lại nhớ đến vợ, người phụ nữ tần tảo chịu thương chịu khó. Khi Bính làm đám cưới với thị, đám thanh niên làng mắt tròn mắt dẹt, phục Bính giỏi. Thị Liễu người làng bên, nhà nghèo, cha mẹ già đã đi hết cả, có một ông anh trai đã lấy vợ sinh con nhưng lại đổ đốn, rượu chè cờ bạc làm tan cửa nát nhà. Ngày mùa, thị thường đến làng Bính gặt thuê, rồi mon men thế nào xin được ông cai xây dựng cho đi phụ hồ. Vậy nên thị như người làng Chiêm một nửa, thanh niên làng Chiêm ai cũng biết thị và cũng đã có kẻ định lăm le tán tỉnh vì thấy thị có vẻ ngoan ngoãn, trông lại sạch sẽ, khoẻ mạnh. Nhưng thị Liễu biết thân biết phận, cứ cúi đầu đi. Rồi đùng một cái có đám cưới của thị với Bính. Cả làng ngớ ra, đám thanh niên ngớ ra, ngoài miệng đùa cợt dè bỉu nhưng trong lòng không còn coi thường Bính như trước nữa. “Cái thằng, tẩm ngẩm tầm ngầm mà đấm chết voi”. Cũng không ít người thương cho thị, người như hoa thế mà vớ phải cái thằng củ lẩn cù lần, cục mà cục mịch, cả tuần cả tháng chẳng nói được một câu. Nhưng không ai biết cũng chính nhìn vào cái vẻ cục mịch hiền lành của Bính nên Liễu mới quyết định “chọn mặt gửi vàng”, bởi Liễu tin rằng, người như Bính sẽ không bao giờ biết cờ bạc, trai gái, rượu chè, không bao giờ phải làm cho Liễu khổ như chị dâu của Liễu.

Cuộc sống của vợ chồng Bính đã trôi qua êm đềm như mặt nước sông Cà Lồ mùa thu. Bính không phải nghĩ ngợi gì, hài lòng vô cùng với cảnh chồng cày vợ cấy con trâu đi bừa, với những bữa cơm đạm bạc có khi chỉ có rau muống với cà pháo. Bính ngỡ cuộc sống sẽ cứ như thế êm đềm trôi đi mãi. Nào ngờ lại có ngày hôm nay…

Cả ngày hôm sau Bính ở nhà nằm ôm lấy cái tivi. Bính muốn sửa đổi. Ngẫm cho kỹ, mụ chủ quán Thanh Thảo làm sao so được với vợ Bính. Mụ già hơn Bính cả chục tuổi, và cái mặt của mụ, nhìn thoang thoáng thì còn đỡ, chứ nhìn gần Bính muốn nôn vì cặp môi dày như con đỉa no, đỏ choen choét như máu, da mặt mụ bì bì như da lợn sề, lại lỗ chỗ lam nham mấy tầng phấn. Nhưng mà còn cái khoản ấy… mặt Bính đỏ lên, người rạo rực. Cái bàn tay ma quái của mụ… nó lại đang rờ rẫm làm Bính cong người lên, thở hổn hển. Bính vội vã nằm sấp, ép chặt người xuống cố nén cơn dục tình đang hừng hực.

 

*

*       *

 

Đã được đến ngày thứ ba, Bính quyết tâm không bước chân về phía đằng đầu làng. Ban ngày, hắn ra đồng xem nước nôi ở mấy ruộng lúa đã bị hắn bỏ bẵng từ ngày cấy. Nhìn mà xót xa. Những ruộng lúa không được bỏ phân nên còi cọc, vàng vọt, bông lúa ngắn ngủn loe hoe phất phơ trước gió. Thế này mà vợ Bính ở nhà thì… Trước kia dù cả làng có mất mùa thì ruộng nhà Bính vẫn cứ xanh tốt vì có bàn tay tảo tần của Liễu. Bính thấy ân hận, hùng hục tát nước như để chuộc lỗi. Vũng nước chẳng mấy chốc đã cạn khô, một vài con cá nhảy cuống cuồng. Như trước kia, thể nào Bính cũng phải bắt được bữa đẫy về kho với khế chua. Nhưng mà bây giờ, Bính chẳng còn hứng.

 

 

*

*       *


Buổi tối hôm thứ tư, bố con Bính đang ăn cơm thì có khách. Bính ngạc nhiên khi nhìn thấy một ả con gái mắt xanh môi đỏ đỗ xịch xe máy trước sân, õng ẹo bước xuống tự nhiên như không. Cô ả cười tươi quá cỡ khoe hàm răng bàn cuốc:

- Chào anh Hai, dạo này anh Hai bận gì mà chẳng thấy mặt mũi đâu làm bà chủ cứ nhắc suốt.

Bính lúng túng như gà mắc tóc:

- Bà chủ sai em đến xem anh thế nào, hay là bệnh tật gì để chị còn thuốc thang. Vừa nói ả vừa đặt một túi nilông to tướng lên bàn, lôi ra trong đó nào cam, nào lê, táo, sữa…

- Gớm, từ đây ra đấy đáng bao xa, có gì ông anh cũng phải nhắn cho bà chị em một câu chứ. Bả đang ốm tương tư vì ông anh đấy.

Ả nhìn thẳng vào mắt Bính, cặp mắt lúng liếng đĩ thoã làm Bính sởn cả da gà.

- Thôi, thấy ông anh khoẻ thế này là em mừng. Em về báo cáo để chị yên tâm. Nhưng anh phải qua sớm không bà chị mong. Em về đây.

Ả bước ra đến cửa còn dừng lại, đưa hai ngón tay về phía Bính vẫy vẫy tình tứ rồi mới ngúng nguẩy ra xe. Cả Bính, cả thằng Bin từ bấy đến giờ cứ trợn tròn mắt mà nhìn màn kịch lạ lùng vừa diễn ra, không hiểu đầu cua tai nheo thế nào.

Bính đứng dậy không ăn cơm nữa. Mụ chủ quán lại làm Bính phải nghĩ ngợi. Bính thấy áy náy khi nhìn đống hoa quả bừa bộn trên bàn. Bính nhớ những cốc sữa nóng ngọt ngào lần đầu tiên Bính được uống từ tay mụ, những món ăn đặc sản mụ chiêu đãi Bính mà nước miếng tự nhiên ứa ra. Bính vẫn nghe bọn đàn ông trong xóm úp úp mở mở đã phải tiêu tốn bao nhiêu tiền cho mỗi lần đến những chỗ mát mẻ ấy, không biết thực hư thế nào, nhưng còn Bính thì chẳng mất gì, còn được thêm. Bính thấy gợn gạo như thể đang mắc nợ mụ chủ quán. Nhưng mà Bính không muốn như thế mãi. Bính sợ. Nhỡ đâu chuyện đến tai vợ Bính. Tốt nhất là nên đến nói với mụ chủ quán một lần cho rõ ràng. Dù sao cũng phải cảm ơn mụ một câu cho phải phép. Bính nghĩ thế.

 

*

*       * 


Bính mặc quần áo lầm lũi đi ra khỏi nhà. Thằng Bin đã đi chơi với bọn trẻ trong xóm. Chắc là nó chỉ loanh quanh đâu đây. Vả lại Bính chỉ đi một lúc là về. Nghĩ thế, Bính không đi gọi thằng Bin, cũng không khoá cửa, chỉ cài then để đấy.

Mụ chủ quán Thanh Thảo nhìn thấy Bính, miệng há ra bối rối, mừng rỡ như bắt được vàng. Chẳng ý tứ ngượng ngập gì, mụ kéo tay lôi xềnh xệch Bính vào nhà trong mặc cho hai ả nhân viên bấm nhau cười rúc rích. Mụ đóng sầm cửa buồng, đẩy Bính ngã ngồi xuống giường rồi sà xuống bên cạnh, tay mơn trớn, mắt lúng liếng:

- Sao lâu thế mới đến. Quên rồi hả. Làm người ta nhớ phát điên.

Bính chẳng biết phản ứng thế nào, chân tay rủn ra vì bàn tay của mụ chủ quán đã kéo tụt quần dài của Bính, bấu vào hai bẹn Bính mà chà xát. Con thú bản năng trong Bính bị đánh thức, Bính quên tất cả.

 

 

*

*       *

  

 

Không biết là bao nhiêu lâu. Mụ chủ quán dữ dội như một con thú cái làm Bính bải hoải. Còn mụ được thoả mãn, hớn hở nằm dạng tênh hênh. Nhưng chưa hết, mụ tự cho mình cái quyền được cai quản, sở hữu Bính nên mụ quay sang chất vấn Bính bằng cái giọng mơn trớn, õng ẹo:

- Sao mấy ngày vừa rồi biệt tăm biệt tích thế, hả?

Dù đang mệt bã bượi, câu hỏi của thị cũng lọt vào tai Bính và làm hắn nhớ lại mục đích hôm nay hắn đến đây để làm gì. Hắn định nhân lúc này thì nói luôn với mụ cho xong, nhưng cái cảm giác đê mê vừa rồi làm Bính tiêng tiếc.

- Sao thế hả, trả lời em đi chứ. Hay là định bỏ em hả?

Những tiếng xưng em ngọt xớt của mụ chủ quán dù Bính đã nghe mãi nhưng lần nào cũng vẫn làm Bính ngượng, miệng Bính câm như hến, không thể mở mồm ra cho được.

- Cái con bé nhà quê vợ anh, còn lâu nó mới về, anh sợ gì chứ. Mụ ghé sát vào miệng Bính thủ thỉ. - Hay là anh định bỏ em để lên thị trấn, thế thì anh cứ liệu. Mụ nghiến răng lại, cấu Bính một cái đau điếng.

 

*

*       *


Bin nằm thao thức đợi bố về. Nó cố chống đỡ với cơn buồn ngủ nhưng hai mắt phản bội lại. Nó ngủ quên, đèn điện để sáng trưng, tivi vẫn nói ra rả.

Mãi trưa hôm sau bố nó vẫn chưa về. Nó chạy sang nhà nội nhưng cả nhà đi vắng hết cả. Nó buồn tiu nghỉu, hơi lo lắng nữa nhưng không biết làm sao. Mãi đến quá trưa nó đành ăn vội bát cơm với thức ăn thừa từ tối hôm trước rồi đi học.

Hôm nay thằng Vui cũng có chuyện gì buồn. Mặt nó lầm lì, đuôi mắt sưng húp. Chắc là nó bị bố đánh. Bin lấm lét nhìn nó, không dám hỏi. Nó cũng chẳng thèm nói với Bin một câu, mãi đến lúc đi học về mới chặn Bin ở cửa lớp bảo:

- Đi chơi với tao đi.

Bin sợ sợ, nó rất muốn nghe lời Vui nhưng lại nhớ đến bố:

- Nhưng mà em phải về qua nhà xem bố em về chưa đã. Bố em đi đâu từ tối hôm qua.

- Làm gì phải xem. Vui khinh khỉnh. Mày không biết ông ấy đi đâu à? Sao mà “ếch” thế. Ông ấy đi với mấy con “cave” chứ còn đi đâu.

- Cái gì cave hả anh? Bin ngơ ngác.

- Ôi dào, nói với mày thì được cái gì. Thôi, mày không theo tao thì về nhà đi cũng được.  Vui tỏ vẻ mệt mỏi, bước đi không thèm nhìn Bin.

 


*

*       *

 

Đã lâu, xóm đàn ông không còn ồn ã chuyện nhà nọ nhà kia nhận được tiền từ những bà vợ gửi về. Có lẽ chuyện ấy đã trở thành bình thường. Một số gia đình, sau khi số nợ được trả hết, số lần gửi tiền của các bà vợ cũng thưa dần. Có vài người, vì lâu vợ không gửi tiền về, bí bách quá phải viết thư sang giục, đến khi nhận được tiền rồi lại hớn hở lê la quán phở, quán bia, cờ bạc, lòng yên tâm vô cùng về cái máy in tiền bên đất khách xứ người mà chẳng mảy may nghĩ đến điều gì khác. Còn nhà Bính thì từ ba tháng nay không thấy động tĩnh gì, cả thư từ, tin tức cũng không có. Nhưng Bính không lấy thế làm sốt ruột vì Bính đã trả nợ xong. Còn Bính thì chẳng phải chi tiêu gì. Từ ngày nối lại quan hệ với chủ quán Thanh Thảo, Bính còn được thêm. Được ăn, được mặc, được mụ chủ quán đưa đi đổi gió ở các nơi ăn chơi trên tỉnh. Đặc biệt từ khi Bính biết đi xe máy, biết mặc quần bò, áo phông nửa đen nửa trắng in hình ngôi sao ca nhạc ngoại quốc có hàm răng trắng nhởn, Bính đã trở thành tài xế trung thành của mụ chủ quán. Bính cũng chẳng ngại ngần hoặc phải trốn chui nhủi giấu giếm thiên hạ như trước kia. Bính bạo dạn đến mức có lúc nghĩ lại chính bản thân Bính cũng phải ngạc nhiên. Vì Bính đã thông suốt là chẳng có gì phải lo. Ông anh vợ ở xa, lại rách nát, nghèo khó chẳng bao giờ bước chân đi đâu ra khỏi làng mà biết chuyện, còn bố mẹ đẻ thì Bính cứ cho nói chán khắc phải thôi. Còn vợ của Bính, mụ chủ quán đã hứa khi nào Liễu về sẽ trả lại Bính nguyên vẹn cho thị, trả ngay chẳng khó dễ gì. Mụ phân tích rành mạch cho Bính: Nếu có thằng nào con nào tọc mạch ăn không ngồi rồi rỗi hơi viết thư kể cho vợ anh thì liệu nó có bỏ việc mà bay ngay được từ bên ấy về bên này mà xem thực hư ra sao không? Còn lúc nó về nước à, mọi chuyện đã xong rồi. Thế nên anh làm gì phải lo.

Bính nghe xuôi tai. Lời của mụ chủ quán đã khai thông tư tưởng cho hắn, để hắn thấy thực ra hắn không có lỗi với vợ lớn lắm. Dù gì như hắn là còn ngoan. Vì hắn chẳng vì thế mà tiêu tốn đồng xu nào của thị.

 

*

*       *


  Dạo trước Bính còn thỉnh thoảng đảo qua nhà. Nhưng hầu như lần nào cũng không gặp được thằng con trời đánh. Bính đoán chắc là nó ở nhà một mình buồn nên đi chơi đâu đó với lũ trẻ con hàng xóm. Việc ấy chẳng có gì phải lo. Trẻ con ở nông thôn, phần nhiều cứ tự lớn như đám cỏ hoang dại, cứ vứt lăn vứt lóc mà lại khoẻ. Gạo nhà có sẵn, Bính sát một nồi thì mình nó ăn cả vài tháng. Bính chỉ việc mang về cho nó ít thức ăn sẵn, có thể để lâu như giò, chả rồi để đấy. Nó về thấy khắc biết là Bính đã về nhà. Con Ních thì chết rồi. Hôm Bính về buổi nhập nhoạng, mở cửa bếp đi vào cất thức ăn đá ngay phải nó nằm còng queo từ bao giờ, bên cạnh nó là một đống nôn mửa đã se mặt, nhìn kĩ thì toàn cỏ dại lẫn với dớt dãi.  

 

*

*       *

 

Bính không hề biết rằng những lúc Bính nghĩ Bin đang chơi với bọn trẻ con hàng xóm thì thực ra là Bin đang ngồi chúi mũi vào màn hình trò chơi điện tử. Bin chơi mải mê không biết chán, vì bây giờ với Bin đó là tất cả cuộc sống. Nếu không ngồi ở quán điện tử, Bin không biết làm gì, đi đâu. Bọn trẻ trong xóm giờ Bin chỉ chơi thân với Vui, nhưng Vui đã bỏ nhà đi từ cả tuần nay không thấy về. Vui bỏ đi sau hôm bị một trận đòn thừa sống thiếu chết vì ăn trộm tiền của bố nó trả nợ tiền chơi điện tử. Nó đi mà không nói với Bin câu nào làm Bin thấy chơ vơ, lạc lõng, hụt hẫng. Không có Vui ở nhà nữa, nhưng Bin theo thói quen vẫn bước chân đến quán điện tử sau khi tan học. Tiền để chơi thì nó nhặt nhạnh ở nhà những gì bán được nó bán. Cái chậu bằng đồng nặng dễ đến chục cân là đồ từ ngày xửa ngày xưa ông bà nội cho mẹ nó, hồi nhà nó ra ở riêng, nó bán từ ngày Vui còn ở nhà, được ba mươi nghìn đồng đã tiêu hết, nó bán đến cái nồi nhỡ nấu cám lợn và cái chậu giặt to, vì những thứ ấy từ lâu chẳng còn được dùng đến đã mốc xanh đỏ bị vứt chỏng chơ trong góc buồng và xó bếp. Nếu bố nó có chợt nhớ ra mà hỏi thì nó cứ việc nói bị mất trộm. Ở làng nó chuyện mất trộm những đồ vật lặt vặt như thế cũng đã không còn là lạ. Nhưng mà nó đã lo thừa, bố nó cứ như chẳng biết rằng nhà nó đã từng có những thứ đó. Nhưng cũng có hôm nó chán chơi, hoặc là nó chơi đến gần kiệt sức, nó lê lết đi về, bước vào căn nhà hoang lạnh, nằm vật ra giường. Bụng nó sôi réo thèm thuồng trong nỗi nhớ mẹ và những bữa cơm rau muống luộc với cà pháo.

 

 

*

*       *


Trong lúc Bin đang thất thểu ở đâu đó hoặc nằm ngủ còng queo trên chiếc giường mà bốn góc chiếu đã mốc thếch thì Liễu đang trần lưng ra lau nhà cho chủ. Trước khi đến đây, thị Liễu chưa bao giờ tưởng tượng được rằng lại cần phải nhiều thời gian đến thế để dọn dẹp nhà cửa. Nhà của thị, sáng sớm ra chỉ cần quơ vài nhát chổi là sạch ra đến tận cổng. Có lẽ chả cần đến năm phút. Đến trưa từ đồng về, thị cũng chỉ nhoáng nhoàng vo gạo, rửa rau, bắc cả nồi cơm nồi canh lên bếp, tống rơm rạ vào cháy nỏ đùng đùng, ba mươi phút sau thì xong tất tần tật. Còn chồng thị thì băm bèo, chăn lợn. Đơn giản nhẹ nhàng vô cùng. Vậy mà ở đây, người ta thuê một mình thị chỉ để làm mỗi việc dọn dẹp nhà cửa.

Mất cả tuần đầu tiên thị Liễu mất ngủ. Lạ nước lạ cái, lạ giường chiếu, thêm với nỗi nhớ con và lo lắng việc ở nhà làm thị dù mệt mỏi nhưng cứ thấp thỏm, chập chờn. Những nỗi lo lắng cứ miên man, lộn xộn, từ việc phải bắt đầu công việc ra sao với những đồ vật hiện đại đắt tiền, phải nấu những món ăn như thế nào cho hợp khẩu vị nhà chủ. Cho dù trước khi sang đây thị đã được học qua, nhưng thị vẫn không thể không hồi hộp. Thị đã được nghe nhiều câu chuyện người giúp việc làm hỏng, làm cháy đồ dùng gia đình bị trừ lương, thậm chí còn bị đuổi việc, hoặc là không biết nấu ăn bị nhà chủ phàn nàn với trung tâm yêu cầu thay người khác.

Loanh quanh thế nào, thị lo về thằng Bin, không biết ở nhà bố con xoay xở thế nào, có biết đi chợ mua thức ăn không, rồi mấy sào lúa đang thì con gái, nếu để cạn nước thì cỏ mọc thành rừng, khan quá không đẻ được, coi như hỏng… Hàng trăm mối tơ vò làm thị Liễu có lúc chỉ muốn tìm đường chạy ngay về nhà, nhưng mà làm sao thế đựơc - thị tỉnh ra ngay, đành chỉ tự nhủ cố mà làm lụng một vài năm, tích cóp ít tiền để mang về nhà cho bằng chị bằng em.

Nỗi lo lắng cho bố con cu Bin cũng dần nguôi đi theo năm tháng. Thị may mắn được làm việc cho một nhà chủ tử tế. Cặp vợ chồng trẻ làm ở hai công ty trong cùng thành phố nhưng cứ sáng đi tối về. Ở nhà còn một ông già ốm yếu, bệnh tật hầu như suốt ngày không đi ra khỏi phòng. Nhiệm vụ của Liễu là dọn dẹp nhà cửa, chăm sóc ông già, nấu bữa ăn tối. Chỉ có ngần ấy. Hôm nhận nhiệm vụ Liễu thầm nghĩ nhàn quá, đâm ra cứ có cảm giác ngượng ngập với số tiền lương hàng tháng, tính ra nhiều gấp mấy lần giá trị số thóc cả hai vụ mùa vợ chồng quần quật làm.

Thị hăm hở thực hiện bổn phận. Và ngay lập tức thị được mở mắt ra. Buổi sáng thị phải dậy sớm, chuẩn bị bữa ăn sáng cho cặp vợ chồng trẻ. Việc đó đơn giản, thị chỉ phải lúng túng vài ngày đầu là có thể làm tốt, kể cả việc pha cà phê mà thị tưởng là rất khó làm thị đã thấy rất run. Nhưng từ khi cặp vợ chồng trẻ ra khỏi nhà là thị bắt đầu xoay như chong chóng. Trước hết là thấp thỏm xem ông già đã dậy chưa, mang nước vào giường rửa mặt mũi mồm miệng cho ông cụ. Ông cụ không đánh răng được nữa, thị phải dùng khăn mặt đưa vào miệng mà lau răng, lau lợi cho ông. Rồi dìu ông cụ đi vệ sinh, rửa ráy sạch sẽ. Sau đó bón cháo cho ông. Chỉ có miệng bằng bát cháo con nhưng có hôm ông ta con cón ăn hết gọn ghẽ, có hôm ông ta lại lầy nhầy mãi cả tiếng. Làm xong phần việc quan trọng ấy, thị đi lau nhà. Ba tầng lầu. Tầng một phòng khách phòng bếp và phòng ở của thị, tầng hai phòng ngủ của vợ chồng chủ và phòng ông cụ, tầng ba một phòng đọc sách và sân thượng. Tất cả đều phải sạch như li như lau mỗi ngày. Việc ấy chiếm của thị nhiều thời gian nhất. Những hôm đầu tiên, khi lau dọn được từ tầng ba xuống đến tầng một, người thị bã ra, thở hổn hển còn hơn vừa gánh một gánh lúa nặng từ cách đồng Mèn về nhà. Lau dọn xong thì giặt quần áo, rồi chuẩn bị bữa trưa cho ông cụ, lại bón cho ông ăn. Rồi thị cũng tranh thủ ăn, tranh thủ chợp mắt một chút để buổi chiều đi chợ, tắm rửa thay quần áo cho ông cụ, thu dọn quần áo giặt ban sáng, là ủi, gấp gọn gàng, xong rồi chuẩn bị bữa tối, bón cho ông cụ ăn trước…

Ngần ấy việc, thị luôn tay luôn chân. Mất một tuần thị lúng túng với những vật dụng hiện đại làm cho thị cuống lên, may mà không bị hỏng hóc cái gì. Sau rồi thị cũng quen dần, và thị tính toán để giảm bớt việc nhà, ví dụ như khi lau nhà thì bỏ qua căn phòng của thị để đỡ được một ít thời gian và công sức, cả căn phòng của ông cụ cũng chỉ thỉnh thoảng tuần một hai lần. Thời gian rảnh ra, thị học hỏi cách chế biến các món ăn Đài Loan phức tạp để làm vừa lòng ông bà chủ trẻ.

 

 

*

*       *


Nỗi lo lắng cho bố con cu Bin cũng dần nguôi đi theo năm tháng. Nhưng khi đã quen việc, không còn phải cuống cuồng lên hoặc thấp tha thấp thỏm chạy đua với thời gian cho tươm tất bổn phận, khi đã có một chút thời gian rỗi, thị đâm ra thỉnh thoảng hay buồn. Thị bất chợt thấy cô đơn. Thị nhớ nhà, nhớ cái xóm làng vất vả lam lũ nhưng đầm ấm thân thiết của thị. Thị thèm được nói chuyện với một ai đó. Xung quanh nhà thị, có mỗi thị là người Việt, thị có muốn nói chuyện cũng không biết nói với ai, cả ngày chỉ bập bẹ một vài câu tiếng Đài Loan ngọng nghiụ.

- Xin chào. Đó là câu đầu tiên thị nói trong ngày khi gặp ông bà chủ từ trong phòng ngủ đi xuống phòng ăn chuẩn bị điểm tâm.

- Chào. Ông bà chủ của thị cười mỉm đáp lại, vội vàng sà vào bàn ăn. Xong, họ vừa uống cà phê, vừa líu lo chỉ cho thị yêu cầu về bữa ăn tối gồm có những món gì, nấu như thế nào. Họ vừa nói vừa ra hiệu bằng tay, bằng những hình ảnh cụ thể trong một cuốn sách nấu ăn cũng bằng tiếng Đài. Thị căng tai, căng mắt, căng hết các giác quan ra chăm chú nghe, nhìn, đoán, hiểu. Buổi chiều họ về, thị lại được nói một câu chào, sử dụng vốn tiếng Đài ít ỏi để trả lời họ về tình hình sức khoẻ của ông cụ, mỉm cười sung sướng nhận ở họ một lời khen ngợi… Thỉnh thoảng đi chợ, thị cũng gặp một vài người Việt - là thị đoán vậy qua vóc dáng, cách ăn mặc - nhưng vì không quen nên thị cũng không dám hỏi han gì. Mãi đến hôm đầu tháng vừa rồi, thị Liễu mới gặp một người cùng học với thị ở lớp bồi dưỡng kiến thức nội trợ trước khi sang Đài. Người này ở cùng tỉnh nhưng là huyện bên cạnh, khi đi học cũng chỉ biết  mặt nhau chứ ít khi nói chuyện, nhưng sang đến đây, vừa nhìn thấy nhau họ đã mừng rỡ, sung sướng:

- Chào chị!- Liễu vồn vã.

- Chào chị. Chị làm ở gần đây à? Chị ta cũng đon đả không kém.

- Vâng, nhà em ở trong khu chung cư trên đại lộ.

- Ô, nhà tôi cũng ở đấy. Thế mà hôm nay mới gặp.

- Vâng, chắc là tại không để ý.

- Nhưng mà tôi toàn đi chợ buổi sáng thôi. Hôm nay có việc đột xuất mới phải đi chợ chiều.

- Thế thì đúng rồi. Chị em mình chả gặp nhau là phải. Em thì toàn đi chợ vào buổi chiều. Ông bà chủ của em chỉ buổi tối mới ăn ở nhà nên đi chợ buổi chiều mua thức ăn cho tươi sống. Bữa sáng có mỗi mình em với ông cụ thì ăn thế nào cũng được.

- Nhà chủ cô chắc cũng dễ chịu?- Người phụ nữ đến lúc này mới nhìn Liễu chăm chú vẻ soi mói. Có lẽ cái vẻ tươi tắn của Liễu làm cô ta ghen tị.

- Vâng, được cái ông bà chủ trẻ, đi làm suốt ngày, tư tưởng lại thoáng nên em cũng thoải mái. Chỉ phải cái chăm ông cụ ốm hơi vất vả. Nhưng mãi cũng quen, chả đáng gì so với phải quần quật nắng mưa ngoài đồng như ở nhà. Mỗi tội nhiều lúc nhớ nhà vì chẳng biết nói chuyện với ai. Những lúc ấy lại thèm được về nhà, thèm được ra đồng. Nhưng mà nhớ thì cứ nhớ thế thôi, chứ về thế nào được.

Liễu nói một thôi một hồi cứ như thể gặp lại bạn cũ lâu ngày, không để ý những người xung quanh nhìn cô tò mò, lạ lẫm. Người phụ nữ kia nhanh ý nhận ra những điều đó, vội vã kéo Liễu ra chỗ vắng:

- Thôi, tôi có việc phải về bây giờ. Biết nhau làm ở gần đây rồi, thỉnh thoảng liên lạc cho có chị có em. À, số điện thoại nhà cô là bao nhiêu để lúc nào rỗi gọi điện nói chuyện cho vui.

Liễu ớ ra. Quả thực đã gần nửa năm nay nhưng cô không biết số điện thoại nhà chủ là như thế nào.

- Rõ thật là… Người phụ nữ có ý mai mỉa Liễu. Rồi cô ta nhanh nhẹn bước tới một quầy bán tập hoá ở gần đó mượn bút và xin một mẩu giấy ghi số điện thoại đưa cho Liễu:

- Đây là số điện thoại nhà tôi. Cô cầm lấy. Về đến nhà gọi cho tôi rồi đọc số điện thoại của nhà cô cho tôi để có gì còn tiện liên lạc. À, nhưng mà nhớ sáng hoặc chiều mai hãy gọi nhé. Bây giờ họ đang ở nhà. Gọi vào tầm 10 giờ sáng hoặc 3 giờ chiều ấy. Cô ta dúi mảnh giấy vào tay Liễu rồi tất tả:

- Thôi, tôi phải về đây. Nhớ điện thoại nhé.

 

 

*

*       *


Liễu về, Lòng vui mãi vì cuộc gặp bất ngờ với người đồng hương. Thị thấp tha thấp thỏm đợi cho đến ngày hôm sau để gọi điện thoại.

- Alô. Đầu dây bên kia đúng là tiếng một phụ nữ Việt. Liễu hồi hộp:

- Có phải chị Dung không?

- Cô Liễu à, đúng rồi - Người phụ nữ vui vẻ - Đúng hẹn gớm nhỉ. Không có ai ở nhà à?

- Không ạ, Lúc nào giờ này cũng chỉ có em ở nhà. Ông cụ thì ở tận trên gác hai.

- Này, hôm qua tôi định kể với cô nhưng mà đang vội quá. Cô biết chuyện gì chưa? Người phụ nữ đổi giọng quan trọng. Liễu thật thà:

- Chuyện gì hả chị?

- Cả đất Đài đang ầm lên mà cô không biết gì à? Rõ thật là. Thế cô không xem tivi à?

- Không, có lúc nào mà xem. Mà xem thì cũng có hiểu gì.

- Rõ thật là. Người phụ nữ cáu kỉnh như thể đó là lỗi của Liễu. Có mấy đứa ôsin người Việt mình bị một lão chủ môi giới hiếp dâm, hành hạ. Chuyện đang ầm ĩ lên, ai chả biết.

- Thế là thế nào hả chị? Liễu ngơ ngác.

- Nghe nói đám ấy sang bên Đài gặp phải lão chủ môi giới dâm đãng, lão bắt tất cả cởi trần truồng cho lão khám sức khoẻ, lão không chỉ nhìn, còn sờ soạng ấy chứ. Lão bảo là để kiểm tra xem có bị bệnh ghẻ lở gì không. Rồi mỗi đêm lão bắt một đứa vào ngủ với lão, có đêm còn tận hai, ba đứa nữa chứ. Đúng là đồ dê cụ. Đứa nào không nghe chống lại thì lão đánh đập, doạ nạt. Có một vài người sợ quá bỏ trốn nên mới đến tai chính quyền Đài, chuyện mới vỡ ra.

- Có như thế thật sao? Liễu bàng hoàng.

- Chứ lại không à? Nghe nói đang kiện tụng ghê lắm. Người mình cũng đã sang tận nơi xem thực hư thế nào. Hôm nọ tôi đi chợ còn gặp một cô nhà báo Việt Nam mình hỏi xem tôi làm việc ở bên Đài như thế nào, có gì uất ức không?

- Thế thì làm sao được hả chị. Những người mà bỏ trốn ấy.

- Họ được đại sứ quán mình cho ở nhờ. Ai muốn về nước thì cho về nước, ai ở lại thì sẽ được tìm việc làm cho.

- Về thế nào được. Liễu buột miệng. Về thì lấy đâu tiền mà trả nợ.

- Thì thế. Nhưng mà cô cứ thử nghĩ xem. Về nhà thì biết làm gì để trả số nợ chồng chất, mà chồng nó biết chuyện, nó lại còn chả đánh cho thêm chứ vợ chồng gì nữa. Chẳng thà cứ ở lại đây, có xấu cũng chả ai biết mình là ai… . Này, cô có nghe tôi nói không đấy.

- Có - Liễu hấp tấp - Em vẫn đang nghe.

Kết quả là hôm ấy, tí nữa Liễu làm cháy nồi cháo của ông cụ. Những thông tin mà người phụ nữ tên Dung kể cho làm thị bàng hoàng, cứ ngẫm ngợi mãi. Và thị thấy mình thực may mắn. Thị tự nhủ càng cần phải cố gắng để đền đáp sự may mắn mà mình đã có được.

 

*

*       *


Ở Việt Nam, thằng Bin không có được cái may mắn như mẹ nó. Hình như nó cũng đã quên mẹ. Quên cả bố. Bố nó từ lâu ở riết đằng nhà mụ chủ quán Thanh Thảo. Thỉnh thoảng bố nó về, nó nằm trong nhà nhưng không dậy, vờ như đang ngủ. Bố nó cũng chẳng gọi, để phịch túi thức ăn lên mặt bàn rồi lại nổ xe máy phành phạch đi. Bin chẳng cần nhỏm dậy cũng biết đó là một túi giò, hoặc chả, hoặc thịt quay, cũng có khi là ít thịt bê luộc. Những thức ăn ấy, Bin biết thừa có khi đó là thức ăn thừa của nhà mụ chủ quán. Cũng có khi đói quá hoặc thèm quá thì Bin ăn, nhưng cũng có khi Bin tủi thân, kiên quyết không thèm động đến, để túi thức ăn bốc mùi, mốc xanh đỏ.

Bin vẫn ngày một buổi đến lớp học, một buổi gắn bó với quán trò chơi điện tử. Dạo này bố nó thoáng, thỉnh thoảng về gặp lại cho nó vài chục. Số tiền ấy, Bin không biết là tiền của mẹ gửi về hay của mụ chủ quán Thanh Thảo cho bố Bin. Nhưng điều đó không quan trọng với Bin. Bây giờ không có gì quan trọng với Bin cả.

- Bin. Có tiếng ai đó gọi giật. Một chiếc xe máy vừa phóng vụt qua lượn vòng lại một cách điệu nghệ ngay đằng trước Bin:

- Đi đâu đấy, hả? Người ngồi đằng sau ló hẳn ra. Bin ngỡ ngàng:

- Anh Vui.

Chiếc xe dừng hẳn lại. Vui nhảy xuống, hất hàm:

- Tao đang định đi tìm mày. Thôi, lên luôn đây đi chơi cùng với tao.

Chẳng đợi Bin phản ứng, Vui lại trèo lên xe máy, ngồi xích xích lên phía trên để dành chỗ cho Bin. Bin vẫn chưa hết ngạc nhiên nhưng nó chẳng nghĩ ngợi gì, trèo lên phía sau Vui như cái máy.

Chiếc xe phóng vút đi.

Bin không biết Vui định đi đâu, cũng không cần hỏi, vì Bin tin Vui.

- Tao vừa ở trên Lạng về. Vui ngoái lại đằng sau nói với Bin.

- Anh nói cái gì á? Bin không hiểu.

- Tao vừa ở trên Lạng Sơn về.

- Anh làm gì ở trên đấy? Bin hỏi.

- Đủ thứ. Đây là thằng bạn làm cùng với tao. Hôm nay tao đưa nó đi Đại Lải chơi.

- Vào tận Đại Lải hả anh?

- Ừ, mày sợ à?

- Không.

 

*

*       *


Với tốc độ chóng mặt, chẳng mấy chốc chiếc xe Dream Trung Quốc đã đưa cả bọn tới đầu dốc Thằn Lằn. Khi đi qua một đôi thanh niên đang dạo bước dưới hàng bạch đàn mát dượi, bất chợt chiếc xe giảm tốc độ một cách đột ngột, tên thanh niên ngồi cầm lái quay lại bảo Vui:

- Quay lại xin ít tiền mua xăng.

Ngó đằng trước đằng sau không thấy bóng người, anh ta vòng tay lái quay trở lại. Cách đôi thanh niên chừng một đoạn ngắn, anh ta dựng xe, bảo Bin đứng đấy rồi cùng Vui tiến về phía đôi thanh niên:

- Cho xin ít tiền mua xăng. Anh ta nói trống không một cách xấc xược. Người thanh niên định phản ứng thì nhìn thấy lưỡi dao nhọn sáng loáng chĩa ra đe doạ. Cô gái run rẩy, vội vã lục tung trong túi xách được khoảng bảy chục ngàn đưa vội cho tên thanh niên cầm dao.

- Tên kia. Tên thanh niên hất mũi dao về phía người con trai. Không đợi cho anh ta kịp phản ứng, ngay lập tức hắn sấn lại, thọc tay vào túi quần người thanh niên rút ra một chiếc ví. Mở ra thấy có tiền, anh ta ra hiệu cho Vui bỏ đi. Cả ba leo lên xe nhưng thay vì chạy vào khu du lịch, chiếc xe quay ngược trở ra. Vui ghé vào tai thanh niên cầm lái hét to: - Lên Tam Đảo chơi.

Tên thanh niên cầm lái gật đầu.

 

*

*       *


Bin chứng kiến những cảnh ấy. Tất cả diễn ra nhanh như một vở kịch. Bin vừa ngạc nhiên quá đỗi, vừa cảm thấy hơi lo sợ, nhưng thấy vẻ bình thản của Vui và người kia, Bin lại vững dạ.

- Mày sợ không?- Vui ngoái lại hỏi Bin.

- Không. Bin đáp như một cái máy.

 

*

*       *


  Mãi tối hôm đó bọn Bin mới leo lên được đỉnh núi. Đây là lần đầu tiên Bin được lên Tam Đảo. Tất cả với Bin đều lạ lẫm, trong khi Vui và người bạn tỏ ra rất dạn dĩ. Tên người bạn của Vui là Hùng. Bin thấy Vui gọi anh ta là Hùng “bướu”. Họ dẫn Bin vào quán ăn cơm, hát karaôkê, uống cà phê, nước ngọt, mãi đến nửa đêm tất cả lại leo lên xe máy trở về nhà.

 

*

*       *


Bin ngủ một giấc mê mệt. Khi tỉnh dậy mặt trời đã đứng ở đỉnh đầu. Bin vẫn nằm trong giường, nhìn qua cửa sổ trông bóng nắng mà đoán thì lúc ấy khoảng 9 giờ sáng. Bin nhớ lại mọi chuyện ngày hôm qua, không hiểu tại sao Vui lại liều thế. Có tiếng xe máy đi vào sân, Bin tưởng bố nó về, vội nhắm mắt lại giả như đang ngủ.

- Cộc, cộc, cộc - Những tiếng gõ cửa cho biết đó không phải là bố, Bin mở mắt nhỏm dậy, và ngay lập tức mặt nó tái mét khi nhìn thấy những người khách trong trang phục công an. Cùng đi với họ có chú Bình công an xã và ông trưởng thôn.

- Bố cháu có nhà không?- Ông trưởng thôn hỏi Bin.

- Dạ, không ạ - Bin run run.

Chú Bình công an xã nhanh nhảu:

- Chắc là anh chàng lại ở chỗ Thanh Thảo, để tôi đi gọi.

Bin vẫn ngồi như đóng đinh ở giường, lòng hoang mang. Chỉ chưa đầy mười lăm phút bố Bin đã về. Ông ta cũng ngơ ngác, mặt tái đi khi nhìn thấy những người công an ngồi trong nhà.

- Chúng tôi là công an thị trấn Xuân Hoà, hồi mười bốn giờ hôm qua ở khu du lịch Đại Lải xảy ra một vụ cướp. Chúng tôi có bằng chứng nghi ngờ cháu Bin có liên quan nên đến yêu cầu cháu Bin về trụ sở CA để làm rõ. Vì Bin là trẻ vị thành niên nên yêu cầu ông là bố cháu cùng đi với chúng tôi.

Cả Bin và bố nó đều choáng váng.

 

*

*       *


Bin không bị tạm giam vì chưa đủ tuổi thành niên, nhưng ngay trong buổi tối đó nó phải “ăn” một trận đòn thừa sống thiếu chết của bố nó. Từ trụ sở công an về nhà đã chập choạng tối, bố nó dựng xe, mặt hầm hầm. Bin còn chưa kịp đứng vững xuống đất đã ngã quay đơ vì một cái tát như trời giáng.

- Ai bảo mày đi ăn cướp. Đồ mất dạy.

Bin lồm ngồm bò dậy, sợ hãi lùi vào trong tường. Bố nó lừ lừ tiến đến, đôi mắt vằn đỏ. Bất thình lình ông ta giơ chân đá Bin bay ra giữa cổng.

- Mày chết đi. Bính rít lên, tiếp tục lừ lừ tiến đến. Thật may cho Bin là những người hàng xóm kịp thời chạy đến. Những người đàn ông xô vào can Bính, ôm ngang người anh ta mà đẩy vào trong nhà. Một vài người khác đến đỡ Bin dậy, dìu nó đi về nhà họ. Bính vùng vẫy, đôi mắt vằn đỏ chỉ tay về phía Bin hậm hực:

- Để tôi cho nó chết. Ở đâu ra cái giống ăn cướp.

 

*

*      *

 

Đoán chừng Bính đã nguôi ngoai, những người hàng xóm đưa Bin về nhà nó. Bin lủi ngay vào trong buồng nằm. Những người hàng xóm ở nhà ngoài, ồn ào khuyên giải bố Bin, bàn luận về chuyện của Bin. Người ta nói thật là không ngờ. Bin vốn là đứa hiền lành thế. Người ta chẹp miệng xét cho cùng chuyện đó chẳng có gì lạ, vì Bin suốt ngày cặp kè với thằng Vui thì trước sau gì cũng hỏng. Bin nằm nghe, nước mắt chảy ra ướt đầm cả một bên gối.

Một lúc thì họ về hết. Có người vào buồng ngó vào mặt Bin. Bin giả vờ ngủ. Bố Bin đợi cho người khách cuối cùng ra khỏi thì tắt tivi, khép cửa. Bin nghe thấy tiếng xe máy chạy xa dần rồi mất hút.

Cảm giác đau đớn đã dịu đi, Bin thấy đói. Thỉnh thoảng bụng lại sôi lên. Tính ra từ sáng Bin vẫn chưa ăn gì. Bin biết trong nhà lúc này chắc chẳng có gì ăn được, vả lại Bin cũng không muốn nhấc mình dậy khỏi giường. Bin trở mình hết bên phải lại bên trái, nghĩ lại mọi chuyện vừa xảy ra. Người bạn của Vui hiện đã bị giam ở đồn công an. Còn Vui cũng giống Bin, vì chưa đủ tuổi thành niên nên được cho về nhà. Chắc tình hình của Vui cũng chẳng khá hơn Bin được. Bin không giận Vui vì những chuyện đã xảy ra. Dù sao bây giờ cũng chỉ có Vui là tốt với Bin nhất. Bin sợ rằng sau việc này, Vui lại bỏ đi đâu đó, lại chỉ còn mình Bin ở nhà thì đáng sợ biết bao. Bin không muốn đi học thêm nữa. Từ lâu lớp học đã trở thành nỗi ám ảnh đối với Bin vì Bin thường xuyên không thuộc bài, thường xuyên bị điểm kém. Hay là Bin bỏ luôn học đi theo Vui. Vui bảo Bin làm gì cũng được. Những gì Vui làm được thì chắc Bin cũng làm được, chỉ cần đi khỏi nơi đây, chỉ cần được ở cùng với Vui.

Bin thiếp đi trong cơn đói và những toan tính lộn xộn.

 

*

*      *


Thời gian thắm thoắt trôi. Đã một năm. Thị Liễu ngóng chờ ngày hết hạn hợp đồng đến đỏ con mắt. Cho dù là may mắn gặp được ông bà chủ tốt, cho dù thị có phải luôn chân luôn tay suốt ngày thì vẫn chả đáng gì so với những ngày quần quật mưa nắng như ở nhà. Nhưng đã hàng tháng nay, lòng thị lúc nào cũng như có lửa đốt. Từ cái ngày biết tin ở nhà. Tin Bính bỏ bê ruộng đồng, con cái để theo gái, tin Bin giờ lang thang vật vờ như đứa trẻ không nhà, lại còn chơi với đám bạn bè xấu. Thị đã choáng váng, đã ốm mất mấy ngày vì những tin ấy. Trời đất như đổ sụp dưới chân thị. Thị không tin. Thị không muốn tin. Bính của thị không thể như vậy. Còn ai hiểu chồng thị hơn thị chứ. Vì hiểu Bính mà thị đã lấy Bính, đã tin để có thể yên tâm để Bin ở nhà với Bính mà ra đi. Vậy mà mới có ngần ấy thời gian. Không thể như vậy được. Nhưng không có lửa thì làm sao lại có khói. Thị phải về thôi. Ông bà chủ nằn nì sẽ tăng lương cho thị để ký tiếp hợp đồng thêm một năm nữa; sẽ cho thị tiền vé máy bay khứ hồi để thị về thăm nhà nửa tháng rồi lại sang. Thị Liễu ngồi lặng trên ghế, cúi mặt, mắt rơm rớm nước. Thị muốn nói rằng thị cũng muốn làm thêm một, hai năm nữa để có thêm chút vốn làm ăn sau này. Nhưng một năm nữa, thị sợ rằng có đem cả núi tiền về thì cũng không có ý nghĩa gì nữa.

 

*

*      *


Ông bà chủ đích thân đánh xe tiễn thị Liễu ra tận sân bay.

- Chúng tôi vẫn sẽ chờ chị.

Họ nuối tiếc, lưu luyến nhìn theo cái dáng nhỏ bé của thị đang dần lẫn vào dòng người nhộn nhạo. Dù đã xa lắm, họ còn thấy thị đưa tay quệt ngang mặt. Thị khóc. /.

                                                                                                                    Vĩnh Yên, 2/2010

 

 

 

 

 


 

 

ÁM ẢNH CỦA CƠN GHEN

 

Tôi không thể nói rõ cảm xúc của mình khi biết câu chuyện này. Giận, thương, xót xa, cay đắng vì sự nông nổi của những người con gái cạn nghĩ?… Có lẽ là tất cả, hoặc có thể cũng không là gì… Nhưng cứ day dứt, và buồn, buồn đến tê tái, đến phải viết ra cho lòng nhẹ nhàng…

 

*

*      *

 

Khu nhà tạm giam nằm khuất ở một góc phía sau trụ sở Công an huyện. Nó gồm năm gian nhà cấp bốn, kiểu nhà kho với những cái cửa sắt sơn màu xanh. Qua thời gian, lớp sơn đã bị ôxi hoá nom nham nhở, cũ kĩ, rất tương xứng với mảng tường vàng vọt mốc thếch. Có lẽ âm thanh duy nhất ở nơi này là tiếng mấy con ễnh ương hiếm hoi còn sót của thời đại công nghiệp trú ngụ ở cái đầm cạn phía sau. Anh công an trực gác cầm tờ giấy ghi chỉ thị của Trưởng Công an huyện, lạnh lùng đưa mắt nhìn từng người trong đoàn nhà báo chúng tôi rồi lẳng lặng cầm chìa khoá đến mở cổng nơi giam giữ. Cái vẻ lạnh lẽo đến khắc khổ của anh ta cùng với khung cảnh nơi đây khiến cho không khí  làm việc trở nên rất nghiêm túc. Anh chàng quay phim tên Quyền ngày thường thích tếu táo nhưng hôm nay cũng không nói không rằng, kiên nhẫn chờ đợi người công an mở cửa từng buồng giam đưa đối tượng ra ngoài. Khi người công an mở cửa một buồng giam, tôi tò mò lại gần và nhìn thấy những khuôn mặt dán vào sau chấn song sắt, những đôi mắt mở to chờ đợi... Những đôi mắt không độc ác, không gian giảo, không điêu ngoa, mà đăm đăm qua cái ô cửa nhỏ, buồn bã, vô hồn. Khi nghe thấy những tiếng lao xao ở bên ngoài, lập tức những đôi mắt nhướng lên, nhìn nhau dò hỏi rồi lại dán vào ô cửa. Có tiếng thì thầm rất nhỏ: “Cái gì ấy nhỉ, ở ngoài ấy có chuyện gì ấy nhỉ?”... Không có tiếng trả lời. Chỉ có những đôi mắt mở to chờ đợi. Thật khó để diễn tả cho chính xác, hoặc nói rõ ràng được cảm xúc khi nhìn thấy cảnh ấy. Tôi cố tự nhắc đó là những kẻ phạm tội để khỏi xúc động song vẫn không ngăn nổi một nỗi xa xót dâng lên nghèn nghẹn khi liên tưởng bầu trời khoáng đạt rộng lớn ngoài này với cái nhìn khát thèm của những phạm nhân. Và cứ tự hỏi, lẽ nào những con người đó đã từng phạm tội, thậm chí những tội ác, những tội ghê tởm và đê hèn.

Bốn đứa trẻ lần lượt bị gọi ra đứng sắp thành hàng ngang để cho chúng tôi chụp ảnh và quay hình làm phóng sự cảnh báo về tội phạm lứa tuổi vị thành niên. Đứa nhỏ nhất mười bốn tuổi, đứa lớn mới mười sáu. Chúng đều đang còn là học sinh. Nhưng vì chúng phạm vào tội “ Phá huỷ công trình quan trọng về an ninh quốc gia” nên sẽ buộc phải khởi tố. Cái tội ấy nghe thì to thế, nhưng đầu đuôi của nó chỉ là những đứa trẻ đi chăn trâu trên đường sắt, rủ nhau tháo các phụ kiện đường sắt để đổi kem, mua bánh mì ăn. Việc tháo những phụ kiện này thật chẳng khó khăn gì, chỉ tay không hoặc một cái cờ lê là một đứa trẻ con có thể tháo được hàng chục bộ đinh nối đường ray hoặc những thiết bị tương tự. Thế là chúng cứ tháo mà không biết rằng hành vi của mình có thể gây những hậu quả khôn lường, có thể làm chết rất nhiều người, chúng cũng càng không ngờ những gì mà chúng tưởng là một trò chơi ấy lại bị pháp luật xếp vào tội đặc biệt nghiêm trọng. Cái tội ấy, theo Bộ luật hình sự hiện hành sẽ phải chịu hình phạt là án tù mười năm, hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình!

Chao ôi! Bất giác tôi thở dài, thấy thương nhiều hơn là giận khi nhìn vào đôi mắt buồn ngơ ngác trên khuôn mặt rất đỗi ngây thơ con trẻ của chúng.

 

*

*       *

 

Chỉ chưa đầy mười phút, tất cả việc quay hình và chụp ảnh đối tượng đã xong. Hầu như không ai nói gì nhiều. Quyền nói một vài câu trách móc bọn trẻ như kiểu người cha trách con hư. Một ai đó nhắc chúng phải thành khẩn để được giảm nhẹ tội. Rồi chúng tôi lục tục rút lui. Tôi đi sau cùng, cố nấn ná đứng lại nhìn theo bước chân của chúng đi vào buồng giam bé xíu. Bất chợt tôi nhìn thấy một đôi mắt. Vâng, đôi mắt đờ dại vô hồn của một người con gái. Đôi mắt mở to nhìn chăm chăm về phía trước nhưng dường như nó không cảm nhận được điều gì. Cô ta còn rất trẻ. Tôi vội đi lại nhìn cho rõ khuôn mặt cô. Đúng là rất trẻ, và có thể nói là xinh đẹp. Dù trong ánh sáng mờ mờ, tôi vẫn nhận thấy những đường nét rất đỗi thanh tú của cái mũi, cái trán, đôi môi… Có lẽ nhìn thấy vẻ ngạc nhiên của tôi, người công an trực gác đã làm xong nhiệm vụ khoá các cửa buồng giam đi đến nói bằng giọng bình thản:

- Cô chưa biết vụ đó à. Tội giết người đấy. Mới hai mươi hai tuổi, vừa tốt nghiệp Đại học.

- Giết người?- Tôi không tin vào tai mình: - Anh nói gì cơ? giết ai?

- Tình địch. Về cơ bản là như vậy.

Người công an vẫn hết sức dửng dưng, trong một lúc nào đó tôi cảm giác nghe thấy anh ta thở dài song lại nghĩ rằng mình nghe nhầm vì cái vẻ mặt kín bưng của anh ta. Nhưng điều đó không quan trọng. Những gì tôi vừa nghe thật hết sức rùng rợn làm tôi bấu lấy anh hỏi xối xả: “- Anh nói kĩ hơn đi. Cô ta giết ai, tại sao lại như vậy? Mà anh nói cô ta tốt nghiệp đại học à?”.

Người công an lùi lại, nhìn tôi chăm chăm rất khó hiểu. Bất chợt mặt tôi nóng ran ngượng ngập. Có lẽ người công an cho rằng tôi đang nghĩ đến một câu chuyện báo chí béo bở. Chả trách được anh ta. Dạo này nhiều phóng viên  xuống cơ sở chỉ rặt hỏi về chuyện vụ án và thường cứ cuống lên mừng rỡ mỗi khi gặp được vụ “hay”, nghĩa là càng nghiêm trọng càng tốt. Chả nghĩ thì thôi, nghĩ ngợi một chút lại thấy cứ làm sao ấy, và tự hỏi thực ra mục đích mỗi lần cầm bút là vì cái gì, có thật là chỉ vì sứ mạng của báo chí hay đơn giản chỉ là vì miếng cơm, hay là danh vọng... Lại lẩn thẩn rồi. Người công an sau một hồi nghĩ ngợi, vẫn nhìn tôi chăm chắm nhưng giọng nói không một chút biểu cảm:

- Tôi không rõ lắm. Cô hỏi đội điều tra thì tốt hơn.

 

 

 

*

*       *

 

 

Câu chuyện này có ba nhân vật. Nhưng tôi sẽ bắt đầu từ cô gái ở trong nhà giam. Cô tên Thu, Kiều Thu. Một cái tên rất hay gợi cho người ta liên tưởng đến vẻ quyến rũ bí ẩn của những buổi sáng mùa thu trong lành. Trong bức ảnh cô chụp hồi phổ thông, đôi mắt của cô trong veo, sáng long lanh như mặt hồ nước. Soi vào đôi mắt  ấy, người ta chỉ nhìn thấy một niềm vui trẻ thơ mà chẳng thể nghĩ rằng cuộc đời còn có những lắt léo buồn vui đến phũ phàng.

Năm ngoái, cô tốt nghiệp trường đại học Thuỷ lợi. Nhưng mãi mà không xin được việc làm. Nhà cô nghèo. Cả bố và mẹ đều là công nhân viên về hưu, dưới cô còn hai em đang là học sinh. Việc cô đi học đại học là một cố gắng rất lớn của gia đình với hy vọng sau này cô có công ăn việc làm sẽ dìu dắt hai đứa em nhỏ. Nhưng rồi những cơ hội việc làm trong thực tế thật xa vời vợi với cô, một người không có tiền bạc, không có các mối quan hệ, cũng không đủ giỏi để tự bươn chải. Đúng lúc buồn chán và thất vọng, cô gặp Quang.

Đó là nhân vật thứ hai của câu chuyện này, nhân vật trung tâm.

 

*

*       *

   

Nếu cùng đi trên đường, bạn sẽ không bao giờ để ý đến Quang. Nói về hình thức, anh ta không có gì nổi bật, không đẹp, cũng không đến nỗi xấu quá. Khuôn mặt bé choắt, cằm nhọn, da tái xám và má đầy tàn nhang. Đôi mắt của anh ta màu xám đục, cái nhìn thường xeo xéo và rất vội. Cách ăn mặc của Quang cũng không chải chuốt. Cách nói năng càng tẻ nhạt. Tóm lại, đó là một người con trai mà sẽ không ai có thể tin rằng vì anh ta mà hai cô gái đã có thể giết nhau.

 

Thế mà chuyện ấy đã xảy ra.

Của đáng tội, còn một chi tiết nữa về giá trị của Quang mà tôi quên chưa nói, đó là gia đình Quang rất giàu. Bố cậu ta là giám đốc một công ty lớn. Người ta đồn nhà Quang to nhất thị xã. Lời đồn  ấy có lẽ không xa sự thật là mấy. Vâng, nhưng người làm nên ngôi nhà là bố Quang chứ không phải Quang. Chính vì thế mà tôi băn khoăn có nên kể chi tiết ấy ra đây để nói về giá trị của Quang không!? Nhưng dù sao thì tôi vẫn nên nói, để bạn có thể hình dung tương đối đầy đủ về một nhân vật là nguyên nhân làm tan nát cuộc đời của hai người con gái, ít nhất là hai người.

Kiều Thu quen Quang trong buổi sinh nhật Kim Ngân.

Đó là nhân vật thứ ba của câu chuyện.

Ngân đẹp như mộng, như diễn viên điện ảnh. Mắt của cô sắc như dao cau, hàng mi dài cong vút làm cho đôi mắt vừa quyến rũ song vẫn gợi cho người đối diện một cảm giác rợn rợn không dám sỗ sàng. Tuy nhiên, cặp má của cô lại phinh phính như má con trẻ, lúc nào cũng đỏ hồng. Và cái miệng thì tươi roi rói, đôi môi mọng ươn ướt. Cô là người con gái mà bất kì người con trai nào đã thân thì khó mà dứt ra được, nhưng phụ huynh của các chàng thường không tin cô sẽ đem lại hạnh phúc cho con trai của họ.

Quang yêu Ngân đã một năm. Nhưng tình yêu ấy không được sự đồng ý của bố mẹ Quang. Mẹ Quang bảo con trai: “ Chuyện hôn nhân bố mẹ không ép con, nhưng mẹ chỉ khuyên con đừng lấy những cô gái đẹp quá. Còn nếu đã trót yêu một cô gái đẹp thì ít nhất, cô gái ấy phải không tự biết là mình đẹp”. Còn với bố Quang thì khác. Ông không thiếu tiền. Cái ông cần là sự học hành. Bởi đến bây giờ, khi sống gần hết hai phần ba đời người, ông đã nghiệm ra rằng tiền bạc cũng cần cho cuộc đời này lắm, nhưng chỉ có tiền không thì cuối cùng cũng chỉ là trọc phú không hơn, rồi cả cuộc đời phải làm nô lệ cho đồng tiền, trong khi đó còn bao nhiêu những trí tuệ, tinh hoa của nhân loại, những thú vui tao nhã mà những kẻ như ông không thể hiểu được. Chỉ có học để hiểu, mới hiểu hết ý nghĩa của cuộc sống này. Nhưng sự học hành ấy thằng con quí tử của ông đã không làm được. Vậy thì ông phải tính cách khác. Ông cần một cô con dâu có học, để bổ sung cho cuộc đời thằng con ông, nhưng quan trọng hơn là cho những thế hệ cháu, chắt ông. Ngân không đáp ứng được yêu cầu nào của cả bố và mẹ Quang cả. Ngân đã đẹp quá lại còn rất ý thức được sắc đẹp của mình. Cô đã dùng vốn tài sản trời cho ấy để đùa cợt đám thanh niên, và định rằng sẽ dùng nó để tìm kiếm một cuộc sống nhung lụa mà chẳng cần phải khó nhọc học hành.

Với mẹ thì Quang có thể bỏ qua. Nhưng bố Quang thì không phải là chuyện đùa. Nếu ông đã nói không thì có nghĩa là không. Vì thế mà dù trong lòng rất phân vân nhưng Quang phải hứa là sẽ làm theo lời bố.

Sinh nhật lần thứ hai mươi của Ngân. Giữa buổi tiệc, Quang vẫn còn danh nghĩa là người yêu của Ngân nhưng con mắt Quang đã để ý đến một cô gái khác: Kiều Thu.

Trong buổi tối, dưới ánh đèn màu của quán nhạc Hoa Hồng, Kiều Thu thật duyên dáng với bộ váy áo trắng giản dị. Quang đã gặp Thu một vài lần, nhưng đến hôm đó cậu ta mới nhận ra Thu thật hấp dẫn. Lần đầu tiên, cậu để ý đến cử chỉ và cách nói năng cuả Thu, và bất ngờ khi nhận ra Thu đối đáp thật học thức, tế nhị, cử chỉ cũng nhẹ nhàng, trái hẳn với cách ăn nói bỗ bã có phần sỗ sàng của Ngân. Cậu tự nhủ: “Ừ, người có học cũng có khác. Có lẽ bố nói đúng”.

Thế là chuyện gì phải xảy ra đã xảy ra. Từ sau buổi sinh nhật, Quang chuyển “mục tiêu tấn công” sang Thu. Có một điều mà chính cậu ta cũng bất ngờ là mọi chuyện có vẻ thật đơn giản, cậu không lưu luyến quá nhiều với Kim Ngân, không đau khổ hay buồn bực như cậu đã tưởng tượng khi nghe ông bố ra chỉ thị phải bỏ bằng được cô nàng. Cậu cười thầm, tự cho mình là một chàng trai đào hoa có trái tim rộng mở.

Cậu ta có quyền cho mình là một chàng trai đào hoa. Vì sự thực là cuối cùng Thu đã nhận lời yêu cậu ta. Những người biết chuỵện đã rất ngạc nhiên và đặt câu hỏi: “Tại sao Thu lại nhận lời yêu một người như Quang, một người không hấp dẫn gì, lại còn là người yêu của bạn gái mình?”. Thật khó để trả lời. Có thể vì chân lý đơn giản không định nghĩa được của tình yêu. Còn Thu thì không nói gì, cũng không giải thích. Từ khi bị bắt cô chỉ khóc, khóc rất nhiều, đến sưng mọng hai mắt. Tuy nhiên sau này, một người bạn gái của cả. Thu và Ngân, đã kể lại tâm sự của Thu khi quyết định yêu Quang mà tôi cho có thể đó là câu trả lời chính xác cho câu hỏi trên. Nhưng, cái lý do ấy, nghe nó buồn quá nên tôi không muốn kể ra đây.

Chỉ biết rằng từ đó Thu giữ chặt lấy Quang, như giữ một lá bùa hộ mệnh. Cũng từ đó, cô nảy ra tính ghen. Cô ghen với Ngân, với sắc đẹp của cô ta, với tình yêu đã qua của Ngân với Quang. Trong thời gian chờ bố Quang xin việc, Thu vẫn rỗi rãi và cô sử dụng thời gian ấy để nghĩ ngợi, suy luận. Cô nghĩ ra đủ thứ, tưởng tượng ra cảnh Quang và Ngân yêu nhau. Cô nghĩ tới sắc đẹp, sự đỏng đảnh, đáo để của Ngân để rồi nửa đêm choàng tỉnh dậy hốt hoảng vì mơ thấy Ngân ở trong vòng tay Quang.

Điều đó có thể xảy ra lắm. Còn Ngân, từ hôm Quang trở mặt, Ngân như con thú bị thương. Cô dùng mọi lời lẽ xấu xa cay độc nhất thoá mạ Thu, gửi cho Thu những bức ảnh tình tứ cô và Quang chụp với nhau. Mặt khác, Ngân vẫn tìm cách hẹn gặp Quang. Cô nói với anh ta: “ Anh là kẻ bỉ ổi. Con ấy hơn gì tôi mà  anh bỏ tôi để yêu nó. Nói cho anh biết, con này không ăn được sẽ đạp đổ”. Chì chiết đấy rồi cô ta lại mơn trớn đấy, lại vòng tay qua cổ Quang  mà vít sát xuống bộ ngực mơn mởn thơm ngậy mùi bơ sữa của mình.

Cơn ghen làm Kiều Thu tưởng sẽ điên mất. Tối nào, cô cũng bắt Quang đèo qua nhà Ngân ít nhất một lượt để cố ý cho Ngân thấy cô và Quang tình tứ thế nào. Cô quản lý Quang từng giờ, lúc nào không biết đích xác Quang ở đâu là lại nơm nớp tưởng tượng ra những câu chuyện huyễn hoặc giữa Quang và Ngân.

Và cuối cùng cô điên thật.

Đó là một ngày cuối tháng Tư.

Quang vừa gặp Ngân. Thu theo dõi và chứng kiến từ đầu cảnh họ hẹn hò nhau ở quán Hoa Hồng. Vẫn là cái bàn hôm sinh nhật Ngân. Quang vẫn ngồi ở chỗ cũ, còn Ngân ngồi ở góc khuất hôm Kiều Thu ngồi. Họ to nhỏ chuyện gì với nhau, một lúc, rồi Quang ngồi xích lại, ôm lấy bờ vai của Ngân. Lúc ấy quán đã có khách nhưng Ngân chẳng ngại ngần gì, cô ta ngả hẳn người vào lòng Quang…

Kiều Thu nghẹt thở. Cô uất ức và giận giữ  đứng bật dậy chạy ra khỏi quán, thề rằng sẽ chấm dứt tất cả với Quang, sẽ không cần gì cả, tiền bạc, công việc, sẽ để cho cuộc đời trôi đến đâu thì đến. Cô lang thang rất lâu trên phố. Thị xã về đêm thật tĩnh lặng, những con đường sáng buồn tẻ song Kiều Thu vẫn thấy một nỗi cay đắng hờn ghen tràn trong lòng. Cô có cảm giác tất cả mọi người đều biết đến hoàn cảnh trớ trêu của cô, đều đang cười nhạo cô. Cô nghĩ đến bố mẹ, hai đứa em, đến những chuỗi ngày dài đằng đẵng chờ xin việc làm. Bất giác, Kiều Thu nghiến răng ước ao đứa con gái trơ trẽn kia sẽ tự nhiên biến mất khỏi đời này. Như thế thì tất cả sẽ ổn thoả. Đúng vậy, giá như cô ta tự nhiên biến mất khỏi cuộc đời này… Thu nghĩ miên man. Dòng suy nghĩ của cô càng lúc càng căng thẳng đến mức nó trở nên một ước muốn mãnh liệt…

 

 

*

*       *

 

Anh đội trưởng đội điều tra Công an huyện kể đến đấy thì dừng lại, với tay lấy chiếc cặp hồ sơ và lôi ra cho tôi xem tập ảnh nạn nhân Kim Ngân. Tôi xem cái thứ nhất, thấy rùng mình và sởn hết gai ốc vì một bộ mặt nham nhở đỏ loét không còn rõ hình mặt người. “Cả một cốc a xít. Ác quá”. Anh công an lắc đầu: “Ngân đã chết ngay ngày hôm ấy. Vì vết bỏng nặng quá, lại phạm vào những chỗ quá hiểm… ”.

Lời anh công an loáng thoáng trượt qua tai tôi, bập bõm trong không gian nham nhở đỏ loét máu, một cái cửa sổ vuông bằng bàn tay tối thẫm, ẩn hiện một đôi mắt đờ dại vô hồn thấp thoáng giữa những đường nét thanh tú... Sao lại có thể như thế được?

- “Bây giờ cô ta (Kiều Thu) sao rồi?”

- “Đang trong tình trạng hoảng loạn - Hình như anh Công an cũng không nén đựơc tiếng thở dài, mặc dù ngay sau đó anh nhếch môi cười, không rõ là giễu cợt hay chua xót. – Sau khi đón đường bí mật tạt a xít Kim Ngân ở chỗ vắng, cô ta bỏ chạy luôn. Sau đó nghe biết hậu quả qua dư luận và báo chí, cô ta hoảng sợ và có dấu hiệu hoảng loạn. Đến khi bị Công an bắt thì… ”

“Cô ta có nói được điều gì rành mạch không?”

“Hầu như không nói gì, chỉ khóc. Nhưng đến hôm qua thì có vẻ đã bình tĩnh trở lại. Cô ta bảo chỉ định huỷ hoại sắc đẹp của Kim Ngân, nhưng không ngờ lại ra nông nỗi đấy, và, dầu sao đi nữa, đó là sự ngu dại không thể tha thứ được. Chỉ thế và lại khóc”

Khóc, khóc. Kiều Thu ơi là Kiều Thu. Khóc thì có làm lại được đâu.

 

 

 

 

 

 

 

ĐỖ HÀN

 

Nước mắt thánh nhân

 

NHÀ XUẤT BẢN HỘI NHÀ VĂN, 2013

 

---------------------------------------------------------

   

 

Tập truyện ngắn đoạt Giải Khuyến khích,

 Giải thưởng VHNT tỉnh Vĩnh Phúc 5 năm lần thứ IV

(2011 - 2015)

 


  

 

 

 

NƯỚC MẮT THÁNH NHÂN

 

Gióng ôm xác mẹ khóc rống lên.

Tiếng khóc ồ ồ, có lúc tắc nghẹn; vừa tức tưởi, vừa nghẹn ngào, vừa ngây ngô. Rừng xanh cũng như buồn lây. Im phắc! Chim rừng cũng như chia sẻ. Im phắc!

Gióng lóng ngóng lật mẹ từ bên này sang bên khác, lật đi, lật lại. Miệng gào to: Mẹ … Mẹ ơi... Tiếng gọi đập vào núi đá ầm ầm, âm âm rồi tắt ngấm.

Đã bao giờ Gióng gần xác chết thế này đâu. Trong chiến trận, ngồi trên lưng ngựa, Gióng chỉ thấy ngựa sắt phun lửa cháy tóc, cháy áo lũ giặc, khét lẹt. Gióng vung gậy sắt rồi vung cả bụi tre ngà, quơ sang hai bên mình ngựa, lũ giặc chết như ngả rạ. Gióng có biết chôn người chết như thế nào đâu. Việc ấy đã có các đoàn dân binh theo sau ngựa Gióng lo toan.

Giờ ôm xác mẹ giữa rừng sâu, Gióng sợ và Gióng lóng ngóng!

 

*

*       *

 

Hôm đó, trên đỉnh núi Sóc, Gióng ghìm cương ngựa, quay nhìn bốn phía. Lũ giặc Ân đã tan tác, chín phần chết, một phần sống sót chạy vào rừng hay nhảy xuống sông, run như cầy sấy. Quân triều đình đang lo bắt tù binh và thu gom vũ khí. Dân binh các ấp đang lo dập lửa ở các thôn xóm và chôn cất các xác giặc.

Làng xóm cháy miên man. Từ phía tả ngạn sông Hồng sang phía hữu ngạn sông Cầu, sông Đuống, các đám cháy vẫn bốc lên rực trời. Một phần đám cháy là do giặc đốt, một phần là do lửa phun ra từ miệng ngựa sắt của Gióng. Gióng gạt mồ hôi, cởi giáp sắt vắt lên lưng ngựa rồi vỗ vỗ tay vào mông ngựa sắt.

- Mày từ đâu đến thì về nơi đó đi. Giặc chết hết rồi.

Ngựa sắt co hai chân trước, tung bờm hý lên ba hồi thống thiết như chia tay.

Gióng bảo:

- Tao nhớ Mẹ, tao về làng đây!

Ngựa sắt chớp chớp mắt, gật đầu.

Gióng bảo:

- Mẹ tao nghèo lắm, tao thương mẹ!

Ngựa sắt rung bờm, gật gật.

Gióng bảo:

- Đi nhé! Nhớ đừng phun lửa nữa, cháy hết nhà, hết lúa rồi đấy!

Ngựa sắt liếm lên tay Gióng.

Người và ngựa bịn rịn chia tay.

Giữa lúc ấy, một cơn giông kéo đến, trời tối sầm. Gióng luống cuống tìm đường xuống núi. Một tiếng sét rung đất chuyển trời. Lòa sáng rồi tắt ngấm. Một đường sáng chói nối giữa tầng mây xám với đỉnh núi Sóc. Trong nháy mắt, ngựa sắt tan vào trong luồng sáng chói ngoằn ngoèo lên mây… .

Gióng về đến nhà thì đã quá nửa đêm. Trăng cuối tháng ròng ròng màu trắng sữa, tỏa khắp cánh đồng, cây đa, mái đình, phủ lên làng xóm huyền ảo. Mẹ vẫn ngồi ở bậu cửa ngóng ra ngõ. Thấy bóng của Gióng lừng lững ngoài ngõ, bà lật bật chạy ra đón.

Gióng hét lên: Mẹ… Mẹ… rồi định sà vào lòng mẹ. Nhưng rồi cậu đứng sững lại. Mẹ nhỏ thó, đen đúa đứng chỉ đến đầu gối cậu. Mẹ giang hai tay, lập bập rên lên: Gióng, Gióng đấy phải không?. Bà kiễng chân, tay quờ quờ cũng chỉ xoa được vào hai cái đùi chắc như hai cột lim của con.

Gióng đành đưa một tay xuống, ôm vào lưng mẹ, gần như là cắp mẹ vào nhà.

Nhưng Gióng cũng không thể vào nhà. Thân hình kềnh càng, to cao của cậu, cúi gập xuống cũng không thể lọt qua mái tranh. Gióng đành ngồi giữa sân, nhìn Mẹ.

Mẹ lăng xăng chạy quanh người Gióng. Bà lấy khăn ướt lau cẳng tay, lau ngón tay rồi lau lưng cho Gióng, miệng xuýt xoa: Con bẩn hết người rồi… . đen sạm nữa... khổ thân con… khổ thân con tôi quá!

Gióng trìu mến nhìn mẹ rồi bỗng xịu mặt:

- Mẹ ơi… Con đói!

 

 

*

*       *

 

Đúng là lúc này Gióng đói thật.

Đã ba ngày nay, Gióng chưa có một thứ gì vào bụng. Mấy hôm trước, mẹ bỗng sốt xình xịch trên lưng Gióng. Từ ngày cõng mẹ vào rừng, ngày nào mẹ cũng chỉ cho Gióng những quả trên cây có thể ăn được. Gióng nhón chân là với tới. Mẹ lại chỉ cho Gióng biết những củ mài, củ từ nằm sâu dưới đất. Gióng dùng con dao nhỏ, cạy một lúc là có ăn. Mẹ sốt, sốt li bì, mặt mẹ đỏ rần, tóc tai mẹ bơ phờ, người mẹ nóng hầm hập. Mẹ chỉ đòi uống nước. Gióng lóng ngóng chẳng biết chăm mẹ thế nào. Một mình Gióng, không biết tìm quả gì, củ gì để ăn. Gióng đói, đói lả người bên thân hình gầy gò đang hầm hập sốt của Mẹ. Giọng Gióng thì thào:

- Mẹ ơi… Mẹ dậy đi… Con đói!!!!

 

*

*       *

 

Sáng sớm hôm đó, Mẹ lôi tất cả khoai lang dưới gầm giường ra, khều tất cả ngô giống vắt trên dây xuống, đào tất cả sắn non trong vườn, luộc cho Gióng ăn. Mẹ nghẹn ngào:

- Con ơi, nhà mình nghèo, con ăn tạm thế nhé, lát nữa trời sáng, mẹ đi mò cua, bắt tép về nấu canh cho con ăn.

Gióng ăn một loáng hết sạch khoai, ngô, sắn mẹ vừa luộc ra dù chúng còn nóng hôi hổi.

Gióng vươn vai rồi ngó xuống mái nhà, mái nhà đã dột, lâu không ai dọi lại. Gióng  nhìn vào cái chõng tre mẹ vẫn thường nằm, cái chiếu rách lua tua, thủng ở giữa, nơi mà ngày trước Gióng đái dầm, mặt chiếu thâm lại. Gióng ngẩn ngơ, thương mẹ lắm nhưng chẳng biết làm gì. Tay Gióng lóng ngóng kéo mấy nụn rơm đậy lên mái nhà, như chơi đồ hàng. Mấy nụn rơm lả tả rơi xuống đầy mặt chiếu. Nản quá, Gióng ngồi tựa vào gốc cây sấu ngáp dài rồi ngủ gật. Quá trưa, Mẹ mang một rổ ổi về. Gióng bừng tỉnh, chưa kịp ăn thì nghe tiếng nhiều người xôn xao ngoài ngõ.

Dân làng nghe tin Gióng về nhà, đã ùa theo Mẹ …

Thế rồi, người gánh, người đội, người đẩy xe mang gạo, mang bí, bầu, khoai, sắn… ùn ùn kéo đến. Một loáng, gạo chất cao như đồi, ngô dồn vào thành mấy đống.

Nhưng không như lần Gióng sắp ra trận. Dân làng vẫn lúi cúi nấu nướng cho Gióng ăn, nhưng người nào người nấy cứ lấm lét, nem nép nhìn trộm Gióng. Gióng đi đến đâu, dân làng đều chạy dạt ra xa, nếu không kịp thì quỳ thụp xuống, vái lia vái lịa.

Gióng lấy làm lạ lắm!

Gần tối, một đoàn bô lão với áo the khăn đóng, rước một cái hương án và có một cỗ kiệu to đùng đi vào sân.

Đồng loạt các cụ bô lão quỳ sụp xuống trước mặt Gióng, lạy như tế sao. Gióng ngơ ngác rồi gọi Mẹ.

Mẹ Gióng lập bập chạy ra, chẳng biết làm gì, cũng rập đầu lạy các cụ bô lão.

Một cụ già nhất trong làng trịnh trọng thưa:

- Kính lạy đức Thánh! Chúng con người trần mắt thịt, không biết Người về. Nay chúng con thể theo lòng dân, kính xin đức Thánh vui lòng dùng bữa tối, rồi dời nhà đến ở đình làng để dân làng chúng con tiện bề cung kính!

Gióng đưa mắt cầu cứu Mẹ.

Mẹ vẫy tay ra hiệu Gióng cúi xuống. Gióng đang ngồi giữa sân, người phải gần như nằm nghiêng sang bên hè bếp. Mẹ với miệng gần tai Gióng thì thầm:

- Con ơi! Ngày xưa vì mẹ vào rừng gặp cha con, mẹ mang tiếng không chồng mà có chửa, bị dân làng đuổi ra ở chỗ vắng vẻ này. Nay, con phải nghe các cụ bô lão thôi. Nếu không, mẹ con mình không có đất mà dung thân con ạ!

Gióng cười hì hì rồi bảo:

- Mẹ đi với con!

- Ừ, con ra ở đó, rồi ngày nào mẹ cũng ra với con.

Gióng ngoan ngoãn:

- Vâng ạ!

Tối đó, cả dân làng bày tiệc ra đường, bày mâm cỗ ra vườn, cùng vui đánh chén cho tới khuya. Tiếng bát đũa khua vào nhau loeng queng, tiếng cười, tiếng nói rổn rảng như hội làng.

Rồi kèn trống nổi lên. Kiệu bát cống hạ xuống. Mười sáu thanh niên trai tráng của làng gồng những bắp thịt rắn như đồng hè nhau nâng kiệu, rước Gióng về đình.

 

*

*       *

 

 

Gióng cứ lay mẹ, giật áo mẹ mà gào. Hai tay Gióng lật mẹ bên phải, quay mẹ bên trái, lắc, rung. Giọng Gióng da diết:

 

- Mẹ ơi! Mẹ dậy đi, con đói!

Mẹ từ từ mở mắt:

- Đã tìm thấy cha con chưa?

- Chưa… ưa!!!

- Ừ, gắng lên con. Tìm thấy cha thì mẹ con mình sẽ không phải đói, cha con ở phía núi Tam Đảo kia con ơi…

- Ứ ừ… con không đi nữa – Gióng dằn dỗi.

Mẹ nhắm nghiền mắt, thều thào:

- Khổ thân con tôi. To lớn thế này mà không được ăn. Trời đất có thương, hãy cho con tôi sớm tìm được cha nó, để tôi có ra đi cũng mát lòng…

Người mẹ lả đi.

Gióng lại lắc, lại rung cái thân hình còm cõi… Cậu khóc tồ tồ: Mẹ ơi! Tìm thấy cha là no hả mẹ, mẹ ơi...

Những ngày đầu cõng mẹ vào rừng, Gióng đâu có biết đường rừng mịt mù như thế! Hai chân mẹ bị gãy, thõng thượt trên lưng, lắt lẻo theo bước đi của Gióng. Thân hình to lớn và bước chân huỳnh huỵch của Gióng làm lũ muông thú chạy dạt xa. Mẹ dạy Gióng làm bẫy nhưng Gióng cứ thập thò nhòm ngó, chẳng con thú nào sa bẫy cả. Hai mẹ con cứ ngày rẽ cây rừng mà đi. Tối đến ăn tạm nắm củ, quả hái vội, uống nước suối mà hy vọng tìm được cha…

 

*

*       *

 

Gióng ở đình làng được dân làng nuôi ăn no đủ. Hàng ngày Gióng ngồi trên chiếu điều ở giữa đình, vây xung quanh là các vị bô lão. Suốt ngày Gióng nghe những lời thưa:

- Lạy Thánh! Chúng con định xây lại ngôi chùa, Ngài chọn hướng giúp cho làng ạ!

- Kính lạy Thánh! Ngày kia dân làng định cho đào con mương ở đầu làng, kính Ngài chọn ngày giờ đẹp cho chúng con được nhờ ạ!

- Lạy Thánh chí tôn! Nhà con sắp sinh cháu, xin Người mở lòng thương, đặt tên cho cháu...

Gióng ngơ ngác nhìn quanh. Từ trước, Gióng có biết những chuyện này đâu? Mắt Gióng cứ hút vào mấy đứa trẻ đang tồng ngồng chơi khăng ngoài sân.

Các cụ bô lão trông coi Gióng cẩn mật lắm. Ăn uống, tắm rửa, đi tè, đi ị… các cụ đều phân công người chăm chút từng ly, cấm có để Gióng phải đụng tay chân vào việc gì. Mỗi lần buồn tè, Gióng nhõng nhẹo “Ông ơi, cháu tè”. Lập tức có bốn thanh niên khỏe mạnh được các bô lão phân công, chạy vội đến, khênh một cái ang thật to. Gióng tè tồ tồ vào ang. Nhiều nhà trong làng tranh nhau múc nước ấy, mang về nhà cất giữ như được báu vật. Ai cũng bảo: Nước Thánh đấy, đau chỗ nào, xoa bóp vào, khỏi ngay. Có người lại còn bảo: Ai uống được nước Thánh lúc còn ấm ấm, sẽ chữa được bách bệnh!!! Các cụ bô lão hò hét, tất bật… Trưa, tối, các cụ cắt cử người ngủ ở gian cạnh, nơm nớp lo Gióng giật mình tỉnh giấc.

Một trưa, mấy cụ ngủ say, Gióng len lén bước ra sân rồi ra cổng đình. Gióng vẫy gọi mấy đứa trẻ tóc để chỏm, không quần áo, đen trũi như cá trắm đang đứng nem nép ngoài bờ chuối.

Gióng thì thào:

- Cho tớ chơi trốn tìm với!

Mấy đứa trẻ sợ sệt rồi có đứa mạnh dạn thưa:

- Thưa… . - Nó nhìn lên chỏm tóc của Gióng, nhìn cái khố ngắn tũn của Gióng rồi tợn tạo nói:

 - Thưa… thưa mày…! - Một đứa giật tay nó:

- Thưa Thánh chứ!

- Ứ phải. Nó để chỏm giống tao.

Rồi nó nói cứng:

- Mày to cao thế, trốn vào đâu cho vừa!

- Thế cho tớ chơi trận giả với!

 Thấy Gióng không giận mà còn nài nỉ, lũ trẻ bỗng òa lên:

- Hì… cậu bước một bước bằng cánh tớ bước mười bước, chúng tớ thua là chắc!

- Thế cho tớ chơi khăng vậy!

Cả lũ bĩu môi rồi cười váng:

- Tay cậu thế kia, khăng nào vừa được?

Gióng tức:

- Không cho tớ chơi, tớ mách mẹ!

- Xì… mụ chửa hoang ý à… cóc sợ!

Gióng đành tiu nghỉu về ngồi trên chiếu giữa đình, mắt ngấn lệ.

Một sớm kia, có sứ giả của triều đình về làng. Sứ giả vung loa gọi:

- Loa loa loa loa…

Giặc giã đã tan

Xóm làng xanh lại

Vua cho vời gọi

Những kẻ có công

Sớm đến sân rồng

Để mà lĩnh thưởng

Loa loa loa loa…

Rồi sứ giả dừng ngựa giữa sân đình, ghếch chân lên bờm ngựa nói chõ vào:

- Làng này có cậu bé tên Gióng, biết cưỡi ngựa sắt, biết dùng roi sắt, lại xông xáo giữa trận tiền. Dân làng ghi công hắn, báo về kinh đô để Vua xem xét!

Các bô lão sụp lạy rối rít. Nhưng cũng có vị mạnh dạn hỏi:

- Thánh của làng tôi giỏi vậy, từ đứa trẻ lên 3 vươn vai lớn hơn 10 trượng, cưỡi ngựa, phun lửa dẹp hết giặc Ân, ai cũng biết, sao Vua lại phải xem xét ạ?

- Hừm, có người báo về kinh đô, hình như mẹ hắn là gái hư hỏng, chửa hoang thì phải!

- Dạ… dạ… điều đó thì… .

Tiếng vó ngựa của sứ giả xa dần, tiếng nói còn vọng lại:

- Thôi! Cứ thế mà làm!

Gióng bật dậy, lao ra khỏi sân đình.

Gióng về nhà gặp mẹ.

- Mẹ! Chửa hoang là gì hả mẹ?

Mẹ Gióng đang mơ màng ngồi nhớ con. Thằng bé Gióng của bà ngày nào không nói, không cười làm bà lo đứt ruột. Rồi nó ăn như trút, lớn như thổi. Rồi nó đòi có ngựa sắt, roi sắt. Rồi nó đi đánh giặc biền biệt mấy tháng trời. Giờ nó về, những tưởng bà được ôm ấp nó, bà được hôn hít nó. Nhưng nó đã thành người của làng. Làng giữ nó, làng nuôi nó, làng khấn vái nó… Khổ thân nó, mới ba tuổi đầu, đã biết và cơm đâu! Bốc cơm ăn, vẫn vốc cả hai tay. Đút cơm, nó vẫn vụng về đút cả năm đầu ngón tay vào mồm. Có hôm cắn miếng thịt lợn nó còn cắn cả vào tay, khóc thét lên… Thấy Gióng lộc cộc chạy về, bà như chợt tỉnh, quệt vội nước mắt rồi vẫy Gióng:

- Con nằm xuống đây… Mẹ xoa lưng rồi mẹ kể con nghe.

Gióng nghe lời mẹ, ngả mình nằm xuống. Chân cậu vẫn ở ngoài ngõ, thân hình cậu choán hết khoảng sân, đầu gối lên bậc hè bằng đất. Mẹ Gióng ngồi bên thềm, xoa đầu, xoa vai Gióng:

- Con ạ, bố và mẹ gặp nhau ở trong rừng rồi có con. Bố bận việc không về làng được, mẹ không lấy ai mà có chửa đẻ ra con, thì dân làng gọi đó là chửa hoang.

- Nhưng con vẫn có bố!

- Đúng vậy! Nhưng với dân làng thì mẹ không giải thích nổi nên dân làng đã đuổi mẹ con mình ra đây.

- Hừ! Thế thì con ứ thèm ra đình ở với làng nữa!

- Sao vậy con?

- Ở đấy chán lắm!

- Thế thì con về kinh đô lĩnh thưởng nhé!

- Con cũng ứ thèm!

- Thế con muốn gì?

- Đến đấy họ bảo mẹ chửa hoang. Con ghét lắm! Mà mẹ ơi, ngựa của con phun lửa, cháy bao nhiêu nhà, con sợ vua mắng! – Ngừng một lát, Gióng quả quyết – Con đi tìm bố.

 Bà mẹ hốt hoảng:

- Không được đâu con ơi! Bố ở xa và đường đi nguy hiểm lắm. Hai nữa con ở với làng còn có cái ăn, cái mặc… chứ con ở với mẹ thì... – Lời mẹ nghẹn ngào trong nước mắt – thì… con chết đói mất!

- Không cần mẹ ạ! Con sẽ đào củ, con sẽ săn thú nuôi mẹ, nuôi cả bố nữa!

- Ôi! Con ngoan của mẹ! Đợi con lớn lên chút nữa, mẹ sẽ dẫn con đi tìm bố.

- Không! Đi bây giờ cơ. Con lớn rồi mà!

Gióng co chân, gồng bắp tay khoe với mẹ.

Đúng lúc ấy có tiếng phèng la, tiếng đoàn nhạc rước kiệu rộn ràng nổi lên. Đoàn các cụ bô lão của làng lại đang rồng rắn đến đón Gióng về ở đình làng. Gióng vội vàng:

- Mẹ ơi! Con không thích ra ở đình làng nữa.

- Con ơi! Cả làng này có ai được như con?

- Không! Con không thích, con thích chơi trốn tìm, con thích chơi khăng với các bạn cơ…

Tiếng nhạc và đoàn người đã đến đầu ngõ. Gióng chồm dậy. Trong lúc vội vàng, tay cậu chống lên hai chân của mẹ đang duỗi thẳng. “Rắc… rắc… ” hai tiếng kêu khô ròn báo hiệu một cái gì đã gẫy.

Mẹ Gióng kêu thất thanh “Ối!” rồi ngất lịm. Gióng chưa hiểu mô tê gì thì đã thấy mẹ  lả đi, đau đớn. Nhìn đoàn người thì họ đang ầm ập vào ngõ. Gióng một tay bế xốc mẹ lên. Tay kia quơ vội mấy cái váy áo của mẹ vắt ở cây sào nứa. Chạy!

 

 

*

*       *

   

Nghe nói: Trong khi đó, ở kinh đô Phong Châu, Vua Hùng họp các quần thần để bình công, xét thưởng. Lạc hầu phụ trách quan lại và dân binh thì muốn tặng thưởng cho quan ở vùng đồng bằng, người đã có công tìm được Gióng. Quan coi việc quân lương thì muốn thưởng cho người đã đúc được ngựa sắt và roi sắt. Quan ở ngoài trận chiến thì xin Vua thưởng cho người đã dụ quân giặc tập trung đóng quân vào một dải đất để Gióng dễ tiêu diệt. Lại có Lạc tướng thưa rằng nên mời Gióng về kinh, cho làm chức quan to. Một Lạc hầu cự lại: Xong việc binh đao, để các tướng võ chăm việc rèn binh, luyện sỹ, không nên dính vào chuyện an dân vốn là việc của văn quan.

 

Quần thần bàn đi, bàn lại đến nát óc. Có người vừa tố việc mẹ Gióng chửa hoang, giờ lại tố rằng, ngựa của Gióng đã thiêu rụi mấy chục làng, bản. Dân làng ai oán lắm! Việc định công cho Gióng xét mấy buổi chưa xong…

 

 

*

*       *

  

 

Gióng bế mẹ trên tay, rồi cõng mẹ trên lưng nhằm phía núi Tam Đảo chạy miết. Mấy ngày đầu, khi tỉnh, mẹ chỉ cho Gióng hái lá thuốc đắp chân cho bà. Được gần tháng, chân mẹ đã khỏi. Được mẹ chỉ bảo, Gióng đặt bẫy bắt thú, Gióng đào củ nấu canh, Gióng trèo cây hái quả. Mẹ con bữa đói bữa no sống qua ngày. Nhưng bóng dáng người cha vẫn bặt vô âm tín.

Mẹ nựng Gióng:

- Gặp được Cha, con sẽ tha hồ được chơi như các bạn.

- Gặp được cha, cha sẽ săn thú, trồng tỉa cây bắp cho con ăn, con sẽ không phải đói nữa.

Mắt Gióng sáng bừng lên khi mẹ nói.

Thế rồi mẹ ốm.

Mẹ sốt run người mà mồ hôi vã ra như tắm.

Lá thuốc mẹ chỉ cho Gióng hái, mẹ uống vào không cắt cơn sốt. Gióng lóng ngóng, không biết chăm mẹ thế nào.

Rồi sức mẹ kiệt dần.

Đã ba hôm nay, Gióng đói lả, ngồi bên thân mẹ héo quắt, Gióng khóc rống lên thảm thiết. Nước mắt cậu trai lã chã rơi lộp bộp xuống thảm lá rừng. Gióng khóc thương mẹ ốm đau, khổ cực suốt đời hay Gióng khóc vì không tìm được cha? Tiếng nấc tủi nghẹn ngào! Gióng khóc vì thương cho bao người dân khốn khổ vì khói lửa chiến tranh hay thương phận mình mồ côi? Tiếng khóc rung lên đau đớn. Hay Gióng khóc vì không được cùng lũ trẻ chơi trò đánh khăng đánh đáo? Tiếng khóc dỗi hờn u uẩn. Khóc ròng rã như thế, nước mắt Gióng chảy hòa vào nước suối rừng đại ngàn, rào rào chảy. Gióng thiếp đi trong đói lả và mệt rã rời.

Trong mơ, Gióng gặp được cha ở cuối đường rừng. Nơi đó có suối chảy rì rào, có hoa thơm trăm sắc đua nhau nở. Cha là người cao lớn, trí dũng hơn người. Cha cai quản cả một vùng đất đẹp như tranh. Gióng gặp người nào cũng tươi cười, hăng say làm việc. Gióng gặp các con thú rừng mà ngoan như thú nhà. Những chú gấu rúc vào chuồng lợn nằm kềnh bên chú ỉn; những chú nai nhảy nhót đùa cùng bầy chó tíu tít. Chao ôi, lũ trẻ con mới thích làm sao. Đứa nào cũng to cao và mặc áo quần đẹp ơi là đẹp. Gióng òa vào vòng tay lũ trẻ lúc chơi trốn tìm, Gióng tìm thấy chúng. Gióng công kênh chúng trên vai khi Gióng chơi trận giả, bị thua. Ôi, còn cái ăn nữa, sao mà thích thế. Bữa nào cha cũng cho người nấu hàng trăm món thức ăn cho Gióng và lũ trẻ. Người lớn cũng ăn cùng nhau. Ăn xong, trai gái ôm nhau nhảy múa, vui không sao kể hết.

Một tiếng sấm rền vang. Gióng giật mình tỉnh lại…

Mẹ vẫn nằm co quắp, như không còn thở. Rừng đại ngàn vẫn âm âm u u trong hơi đá lạnh. Phía trời tây tím sậm một màu đau buốt.

Gióng nâng mẹ trên hai tay, giơ lên trời cao, gào:

- Cha ơi! Cha ở đâu… .

- Âu… âu… âu… âu… .

Tiếng rừng già vọng lại âm u đến não lòng.

Cậu trai làng Phù Đổng, tóc để chỏm, giang hai chân, vác mẹ trên vai, thở hộc lên:

- Cha!...

Tiếng hét làm cho tất cả lũ thú trong rừng, lũ chim trên cây đứng tim. Lặng phắc!

Từ trời cao một lằn chớp xanh vụt sáng, một tiếng sét vang động cả đại ngàn.

Hai mẹ con cùng hóa giữa rừng già.

Trong nắng chiều bảng lảng, có người nhìn thấy bóng chàng trai cao lớn ôm mẹ gọn trên tay như ôm bó lúa vàng rực, bay về trời.

 

*

*       *

 

Nghe nói: Mấy trăm năm sau, ở đời Vua Hùng thứ 18, công trạng của Gióng được ghi khắc trong văn bia triều đình và được Vua ban cho chữ “Phù Đổng Thiên Vương”.

Dân làng Phù Đổng được cắt đất để hương khói thờ phụng.

Sử ghi: Đến đời Vua Đinh Tiên Hoàng, tức hơn 1000 năm sau, Gióng được đưa lên thờ ở núi Nghĩa Lĩnh, tục gọi núi Hùng, cùng với 18 vị vua Hùng.

Ngày nay, ai lên đền Thượng đều thấu hiểu điều đó! Nhưng mấy ai hiểu được giọt nước mắt của Người đổ xuống những con đường – những ngày đi tìm cha?!!!

                              

 

 

 

 

 

 

 

NGƯỜI CHỈ BIẾT NGỒI XỔM 

 

Kể ra gọi ông Cổn là lão thì chưa đúng lắm!

Bởi tuy đã nghỉ hưu trên 5 năm, nhưng trông ông rất phong độ. Cái trán tuy hơi hói nhưng bù lại, mái tóc vẫn đen, bồng bềnh rất “nghệ”. Hai hàm răng tuy đã gãy 4 chiếc phía trong nhưng “bộ nhai” trước cửa còn chặt và trắng. Ấy, hàm răng mái tóc mà thế thì gọi “lão” có gì đó không ổn.

Nhưng mọi người gọi là “lão” - Lão Cổn - chính vì cái lễ lên lão ở tuổi 65 của ông ta.

Chuyện lên lão của ông Cổn là câu chuyện được kể dài dài ở cái thị trấn nhỏ bé vùng trung du này. Họ kể ra, thêm thắt vào, rồi lắc đầu, rồi lè lưỡi. Khi thì họ bảo “đổ đi 30 mâm chứ chẳng chơi!” lúc họ bảo “40 mâm là cái chắc!”. Miệng lưỡi thế gian, không biết đâu mà lần.

Số là, khi đương chức Giám đốc Sở Khoa học - Tài nguyên của tỉnh, lão làm một cái lễ thượng thọ cho bà mẹ 80 tuổi – Một cái lễ khao thọ to và oai nhất huyện. Ngày ấy, phong trào khao thọ cho các bậc sinh thành đang rầm rộ. Các cụ hưởng thọ 80, 90... được con cháu lồng áo đỏ, khăn đỏ vào! cho ngồi ngay ngắn trên bộ ghế giữa nhà. Con cháu, dân làng, họ mạc, thân bằng cố hữu gần xa lần lượt vào bắt tay cụ, chúc mừng. Có cụ ngồi cả ngày chỉ một động tác gật gật. Có cụ ngồi được nửa buổi đã lả đi, phải gọi người đến tiêm thuốc tăng lực. Quà mừng thì ê hề đường, sữa, rồi kẹo, bánh. Sau thấy bất tiện, họ chuyển sang mừng các cụ bằng phong bì. Có vị hài hước bảo “Đấy là mừng nụ cười hình chữ nhật”!!!. Phong bì vừa tiện dụng, vừa kín đáo. Lại được gia chủ dễ bề “xử lý” sau này. Qua vụ khao thọ mẹ, lão Cổn thu lãi mấy trăm triệu (!)

Về hưu rồi, lão nghĩ: Ngày mình làm Giám đốc Sở có bao tay nhờ vả, cầu cạnh. Khi thì đất cát, lúc thì khai thác cát, sỏi... Làm thọ mẹ mình có đứa còn chưa đến, có đứa còn bủn xỉn mừng nhỏ giọt. Nay ta làm thọ cho chính ta, làm sao không đến mừng???

Thế là về hưu được 4 năm, lễ lên lão 70 của ông Cổn được thông báo. Người thân tình thì bảo: “Tính ra ông mới nghỉ được sang năm thứ 5, lên lão 65 tuổi sao được?” - Lão bảo: “Ối giời! Bao năm cống hiến cho Đảng, cho Nhà nước, sức vóc tôi cũng yếu lắm rồi! chẳng biết có sống nổi dăm năm nữa không. Thôi thì làm dăm mâm dưa muối gọi là... kẻo sau này lại ân hận (!)

Mấy bạn bè từ thuở để chỏm thì khẳng định: “Ông Cổn vào tuổi 70 thật rồi! Chẳng qua khi đương chức, ông ấy sửa lý lịch thế nào ấy mà làm thêm được mấy năm trên ghế quan! Chứ bọn tôi thì ai cũng làm thọ hết rồi!”. Được ý ấy, lão Cổn càng phấn chấn. Lão cho gọi cả đội quân nấu nướng, bếp, bàn của nhà hàng Hoa Phố từ thị xã về làm cỗ. Cũng 9 đĩa 2 bát, cũng nem chua, chả nướng, cũng canh bóng hầm hạt sen, thuốc bắc... xôn xao cả thị trấn.

Lại nói về thị trấn lão đang ở. Ngày trước, khi còn làm phó chủ tịch huyện, lão đã chọn ô đất đẹp nhất huyện lỵ này. Ô đất vuông vức mỗi chiều 20 mét, nằm sát trục đường liên tỉnh.

Lão làm căn hộ hai tầng khiêm tốn nhưng cầu kỳ về vật liệu. Lão trực tiếp về tận Giếng Đáy ở Quảng Ninh để chọn ngói và gạch xây. Lão cho người vào tận Quảng Nam để mua gỗ về đóng cửa. Lão còn đón ông thầy địa lý từ Lao Cai về để chọn hướng nhà. Ông thầy chỉ tay đắp hòn núi giả - thợ đắp! Ông thầy khoát mắt sang phải chọn thế Thanh Long, lão Cổn vâng vâng dạ dạ. Vì thế mà lão kỳ cục đi tìm hai tháng trời mới mua được cây sakê (có lá to, đen thẫm, xoè như tay quạt – gốc gác từ nước ngoài – Theo lời thầy). Cây sakê gốc từ Nhật Bản, quả ăn bùi như khoai tây, ngọt như khoai lang tím, ngầy ngậy như lạc – được đứng trấn trạch nhà lão Cổn.

Cũng lạ! kể từ khi về ở căn hộ ấy, cả nhà lão Cổn “phát” trông thấy. Lão chuyển từ Phó Chủ tịch huyện lên quyền Giám đốc rồi Giám đốc Sở. Mấy năm sau, chức Phó Chủ tịch tỉnh phụ trách kinh tế đột nhiên vào tay lão khi có một ông Phó Chủ tịch đang sung sức bỗng đột tử. Lũ con bốn đứa nhà lão cũng cứ lên lây lẩy. Hai đứa con gái không đỗ trường đại học nào, lão cho vào các lớp tại chức của tỉnh, ra trường: đứa kế toán, đứa công đoàn. Rồi chồng con đề huề. Ổn cả!

Hai cậu con trai thì chưa học hết cấp 3. Lão vội nhét vào làm hợp đồng ở Bưu điện và Ngân hàng Công thương. Thế rồi cũng đều có bằng tốt nghiệp đại học tại chức!!!.

Khi cả đất nước đang phấn đấu phổ cập đại học, chuyện ấy không có gì lạ!

Về hưu, lão Cổn rút về ở căn hộ ở thị trấn với bà vợ già. Lão cho rằng căn nhà “phát lộc” ấy cần phải giữ gìn cho hậu thế. Lão nhường hai căn hộ ở thành phố tỉnh lỵ cho hai cậu quý tử.

Lại nói về bữa cỗ lên “lão” 65 của lão Cổn. Đến 9 giờ sáng lẹt đẹt có mấy ông hàng xóm sang mừng. Hơn 10 giờ được mấy ông bạn học từ thời phổ thông đến dự. Kim đồng hồ nhích dần đến con số 11, lòng lão nóng như lửa đốt. Lão hất mái tóc bồng bềnh đen (thực chất là đã nhuộm), đi đi lại lại từ sân vào nhà. Hai môi lão mím lại. Môi lão vốn mỏng nên khi hai bờ môi dính tịt vào nhau, trên khuôn mặt chỉ còn thấy một vệt hằn nằm ngang, với hai khoé miệng chặt đứng vuông góc xuống. Trông mồm lão như một chữ I nằm ngang, chữ I dán lên khuôn mặt đỏ au vì mấy chén chào xã giao vừa rồi!

Chẳng lẽ lại điện hỏi?

Mấy chục phút sau được mấy ông lãnh đạo các sở đã về hưu lục tục kéo đến. “Quân” văn phòng uỷ ban, “quân” của sở lão đã từng làm Giám đốc, tiệt chẳng thấy mống nào!

Cực chẳng đã, lão nhấc điện thoại, kìm giọng nhẹ nhàng hỏi tay Giám đốc sở. Đầu dây bên kia tiếng xuýt xoa vang lên: “Báo cáo anh, em đang có cuộc họp quan trọng, em xin lỗi, chiều nay em sẽ về với anh chị. Em quên làm sao được công lao vun đắp của anh với sở ta và đặc biệt lòng ưu ái của anh với thằng em?... ”

Lão dập mạnh ống nghe. Lão lạ gì mấy cái “cuộc họp” của các bố!!! Đọc mấy bài báo cáo rỗng tuếch rồi rủ nhau đi đánh chén. Lão lẩm bẩm “Đồ vô ơn!”. Đi được mấy bước, lão chựng lại “Ừ! Mà mình về hưu rồi, mắng chúng nó sao được!” Lão ngồi phịch xuống ghế, thở dốc. Nghĩ về những ngày tháng chạy đôn chạy đáo, hết thường vụ tỉnh đến các vụ ở Bộ để lo cho nó thay mình. Nghĩ mà ức. Lão chợt thấy ậc lên một cục nước bọt to tướng. Lão đứng dậy, nhổ phọt cục nước bọt xuống nền nhà, vội vã chạy ra đón mấy bà cô họ ở quê vừa đến (!)

Chuyện gia nhân đêm đó phải bí mật đổ đi ba hay bốn chục mâm cỗ xuống con kênh chạy qua đầu thị trấn cứ thế rì rầm, lan truyền mãi.

Từ hôm đó, cứ chiều chiều lão Cổn lại ngồi trên chiếc xích-đu để ở đầu hè, mắt nhìn ra con đường liên tỉnh hun hút chạy về thị xã. Nơi lão đã một thời vang bóng. Miệng lão cứ lẩm bẩm: “Thật là ăn cháo đá bát... ăn cháo đá bát... “. Lão ngồi đến khi bóng cây sakê với những chiếc lá to như chiếc quạt, đen sẫm lại. Bóng cây trùm dần lên người lão. Chiếc ghế cũng từ từ sẫm đen trong nền hoàng hôn loang lổ. Khi bà vợ loẹt quẹt đôi dép tổ ong đến gần, lão mới nhổm dậy, chống hai tay lên đầu gối, bặm miệng, nhăn nhó đứng lên, đi vào ăn tối.

Lại nói đến chuyện cái chân của lão với căn bệnh oái oăm lão mắc phải. Khi đương chức, lão đã chớm bị, càng về sau càng nặng. Khi về hưu, nó đã thành mãn tính hay cố tật, cũng chẳng biết nữa.

Ngày ấy, có một lần, trời cuối thu se se lạnh. Hơi đá từ các thung sâu đùn lên mờ mịt. Triền núi Tam Đảo như một ngăn đá tủ lạnh đang bốc khói. Lúc đó, lão Cổn đang còn đương chức, lão phải lên tiếp một đoàn khách từ miền Nam ra.

Khách đã được báo trước là trời sẽ lạnh. Nhưng mấy ông khách Nam Bộ lại khoái cái rét Bắc Kỳ, cứ nằng nặc lên núi khi mùa đông đã chớm.

Thị trấn Tam Đảo nằm ở độ cao trên nghìn mét, vốn là nơi nghỉ mát có từ thời Pháp. Khi quản lý thị trấn này, lãnh đạo tỉnh đã chỉ đạo ngành Du lịch tập trung cao độ để phát triển ngành. Nhưng khốn nỗi, động đến đâu, là động đến đền bù đất đai. Mà các ông chủ của các ô đất béo bở ấy mới nghe tên khối người toát mồ hôi (!) Vì thế, thị trấn chỉ còn là chỗ ngủ và một vài nhà hàng ăn uống với mấy món đặc sản thú rừng săn trộm hoặc thú rừng giả. Nó cũng là nơi để uỷ ban tỉnh hay các sở ngành tiếp khách xa đến thăm.

Đêm đó, rượu đã ngà ngà nhưng lão Cổn vẫn phải xuống núi vào quãng gần nửa đêm. Lão chẳng khoái gì ngủ trên các căn phòng lạnh cóng ấy! Nhưng sáng hôm sau, lão thấy hai đầu gối tê tê rồi mấy tháng sau nó nhức. Rồi nó cưng cứng bánh chè. Rồi nó khô khô, khó gập lại. Lão chạy khắp các bệnh viện chữa. Đông, Tây y đủ cả, nhưng bệnh không khỏi. Dần dà, lão chỉ có thể ngồi trên ghế cao hoặc ngồi xổm trong chốc lát.

Những khi về quê có giỗ, con cháu rải chiếu để ngồi ăn là lão chịu. Bởi khi ngồi xuống, hai chân lão không co lại được, nó cứ đuồn đuỗn ườn ra chiếu. Khổ nhất là khi đứng dậy. Phải có người đến gần, cúi xuống cho lão vịn vào lão mới nhổm lên được. Mỗi lần như thế, mặt lão nhăn lại, cau có. Cái miệng lại có dịp mím chặt. Cái chữ I nằm ngang mặt lại hằn lên, xẻ sang hai bên má đã xề xệ. Trán lão rịn mồ hôi …

Tuy chân tay như thế, nhưng lúc nào lão Cổn cũng thể hiện ra mặt cái sự mạnh mẽ và dẻo dai của mình. Khi có phong trào chơi cầu lông, lão hô hào anh em trong sở tập kín các ngày nghỉ. Khi phong trào chơi ten-nít rộ lên, lão bắt cả văn phòng uỷ ban sắm vợt, ra sân.

Được cái, khi đứng đôi để tập hay thi đấu thì mấy cái môn này được phép bao sân cho nhau. Vì thế các bạn trẻ trong cơ quan tha hồ thể hiện lòng trung thành với lão Cổn. Họ xung phong đứng đôi với lão, họ đôn đáo chạy cuối sân, giành cho lão đứng gần lưới, thi thoảng vụt vài quả gọi là. Chính vì thế mà lần nào lão ra sân và lão đứng ở bên nào thì bên đó chắc thắng đến chín mươi phần trăm (!)

Mỗi lần nhận giải (dù giải nội bộ), lão Cổn rạng ngời khuôn mặt. Lão đứng dạng hai chân, hai tay giơ thật cao, vẫy vẫy khán giả. (Tuy khán giả nhiều khi chỉ có mấy em nữ văn phòng lão bắt ra ngồi xem và vỗ tay). Có lần, chỉ có ba cặp chơi, lão cũng bắt cậu phó văn phòng ra trao giải. Cũng bục nhận huy chương, cũng hoa tặng và cũng tiếng vỗ tay bôm bốp. Thể thao có khác! Nó làm con người ta vô tư, hồn nhiên đến kỳ lạ!

Mấy năm trước khi về hưu, lão Cổn đi diễn thuyết rất nhiều. Lão nhận lời giảng bài cho các lớp tập huấn cán bộ chủ chốt cấp huyện. Lão đồng ý đến nói chuyện về tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh ở các lớp tại chức mở ở Trường Chính trị tỉnh. Khoản “nhuận mồm” lão không quan tâm lắm, tuy rằng bao giờ lão cũng được gấp mười, hai mươi lần giảng viên khác. Điều lão quan tâm là lão được thể hiện sức đọc, sức nói của lão. Lão thao thao nói về mọi lĩnh vực: Triết học, chính trị, kinh tế, văn hoá, khoa học kỹ thuật … tuốt tuồn tuột, lĩnh vực nào lão cũng nói được. Lão thường nhắc nhở anh em cấp dưới: “Người lãnh đạo là người phải am tường trên mọi lĩnh vực. Để khi làm lãnh đạo, không anh nào loè được mình!”

 Điều lão nói là cả một mớ kiến thức thu nạp từ báo chí, từ cuộc sống bao năm lão tích luỹ rồi từ những trang website mà các trợ lý coppy về. Mặt ngẩng cao hãnh diện, tay lão chém chém vào không khí quanh bục nói chuyện, giọng lão Cổn xủng xoẻng: “Tôi rất không đồng tình với những người làm quan chức, khi về hưu lại quay sang làm thơ, hoạt động văn học nghệ thuật. Họ ngụy biện rằng: “Thời trai trẻ bận công tác, không có thời gian. Họ cứ làm như là Đảng và Nhà nước đã làm lụi tàn tài năng của họ không bằng! Theo tôi, còn sức thì phục vụ Đảng, phục vụ nhân dân đến lúc tàn sức thì thôi. Nhưng phải trên lĩnh vực mà mình am hiểu, mình tâm huyết”. Lão riết róng: “Già rồi, sức kiệt rồi, minh mẫn gì nữa, tươi tắn gì nữa mà thơ với phú? Còn vốn sống ư? Cứ vốn sống nhiều mà viết được văn, làm được thơ thì Hội người cao tuổi sát nhập với Hội Văn học Nghệ thuật làm một… ”.

Lão có những kiến giả cũng ngồ ngộ. Lão đứng trên bục giảng, miệng bặm lại, vạch chữ I nằm ngang ra giữa mặt, rồi bật ra những dòng diễn giảng:

- Khi người ta thiếu cái gì, người ta thường bàn nhiều, nói nhiều về cái đó. Vì thế, chúng ta không lạ gì khi các nhà văn, nhà thơ ngồi đâu cũng nói chuyện chính trị, nói chuyện sắp xếp tổ chức này nọ. Ngược lại, ta cũng rất dễ hiểu khi các nhà lãnh đạo hễ rảnh rỗi là cao giọng bình thơ, say sưa bàn về phương pháp sáng tác, khuynh hướng sáng tạo… người ta thường khát khao những thứ mà mình không có!”

Hăng lên, lão còn phán: “Các nhà văn, các hoạ sỹ bây giờ cứ chạy theo lối sáng tạo đầy rối rắm, hết trường phái nọ đến trường phái kia. Trong khi nhân dân đang cần những gì? Họ cần những thứ thiết thực gần gũi như cơm ăn, áo mặc hàng ngày…!” Vô tình lão lại cao giọng lạm bàn về văn chương!!!

Cả hội trường lặng tanh, những điều lão nói cứ trơn tuột qua các dãy bàn mà học viên đang lúi húi đọc tin nhắn trên điện thoại?

Từ cái suy nghĩ rất cách mạng là phải phục vụ Đảng, phục vụ nhân dân dến hơi thở cuối cùng ấy mà vừa về nghỉ hưu hơn bốn tháng, lão Cổn đã ra ứng cử chức Bí thư Đảng uỷ thị trấn.

Chuyện là, Ban chấp hành Đảng uỷ thị trấn khoá đương nhiệm đang có nhiều bi bét. Chủ tịch Uỷ ban bị cách chức vì vụ đấu thầu đất đầy mờ ám. Phó Bí thư thường trực thì dính vào vụ tham ô khi còn làm Phó Chủ tịch phụ trách kinh tế. Bí thư Đảng uỷ thì bị dân kiện vì giành mua đất giá chỉ đạo cho con cháu nhiều quá. Có đứa cháu nội mới 8 tuổi cũng đứng tên ô đất trên hai trăm mét vuông ở giữa thị trấn. Tình hình địa phương đang nước sôi lửa bỏng thế, lão Cổn không thể yên tâm! Lão bảo vợ: “Tôi còn sức, còn trí tuệ, tôi phải ra giúp dân, giúp làng”.

Vợ lão vốn quen phục tùng. Im lặng.

Bạn bè thuở hàn vi thân tình góp ý: “Ông ở tỉnh lãnh đạo dễ lắm, về làng xã không khéo mất cả danh lẫn giá!”. Người bà con còn bảo thẳng: “Ông không làm, họ còn gọi là “ông”, là “bác”. ông làm không khéo họ gọi là “thằng” chứ chẳng chơi!”

Lão cười khẩy, giọng kẻ cả: “Đảng viên họ cần họ cứ đến yêu cầu… chứ tôi thì … ”

Lão đến gặp Bí thư Huyện uỷ, đề đạt các phương án ổn định tình hình địa phương. Ở một huyện có 25 xã, thị trấn; mà tới 20 xã có “vấn đề”, thế nên ổn định được xã nào hay xã nấy! Ban Thường vụ Huyện uỷ như vớ được vàng, lập tức đưa lão vào danh sách ứng cử trước Đại hội Đảng bộ thị trấn.

Hội trường Đại hội Đảng bộ như rung lên khi Bí thư Huyện uỷ lên phát biểu. Đồng chí hết lời ca ngợi những đóng góp của lão Cổn với tỉnh, với huyện. Đặc biệt, những giải pháp có tính khả thi rất cao trong việc đưa thị trấn phát triển, xứng tầm là “thủ đô” của huyện nhà.

Ngồi ở bàn chủ tịch đoàn, lão Cổn quay sang nói với “tay” Bí thư Đoàn đang dự kiến là thường trực Đảng uỷ khoá tới: “Các cậu cứ yên tâm! Bí thư Huyện uỷ là anh em chí cốt, là đệ tử ruột của tớ ngày trước. Giờ hắn về làm Bí thư huyện nhà, chẳng ủng hộ mình thì ủng hộ ai?

Mấy người trong Chủ tịch đoàn mắt cứ chớp long lanh, tràn trề hy vọng.

Lão Cổn làm Bí thư Đảng uỷ chưa được nửa khoá, đơn kiện đã tới tấp lên Huyện, lên Tỉnh. Giải phóng mặt bằng, kêu gọi đầu tư, phát triển công nghiệp không làm được. Đưa giống mới tăng năng suất cây trồng trong nông nghiệp thì đổ bể. Nội bộ cán bộ lục đục, kiện cáo lẫn nhau. Việc trả tiền đền bù cho dân bị cán bộ cắt xén. Làm trường, làm đường chưa bàn giao đã xuống cấp thậm tệ …

Đề án ổn định tình hình địa phương của lão Cổn tan nhanh như bọt xà phòng.

Chính lão Cổn cũng dính vào mấy vụ do đàn em lôi kéo.

Quen lối quản lý hành chính ở cơ quan cấp tỉnh, lão áp đặt vào công việc địa phương. Việc gì Bí thư cũng nhúng vào. Bí thư cho ý kiến cả việc đấu thầu xây dựng đến chế độ ăn của các lớp mẫu giáo… Lão lập luận: “Đảng lãnh đạo toàn diện, thống nhất là phải thế!!!”. Hệ thống cán bộ chỉ “vâng, vâng, dạ, dạ” lấy lòng trước mặt. Không ai mặn mà với lối quản lý “hét lấy được” của lão. Thậm chí có mấy tay trưởng thôn còn bảo “Thị trấn mình làm gì có uỷ ban mà xin dấu?”. Tệ hại hơn mấy tay văn phòng uỷ ban, khi quá chén, lại bô bô: “Sếp cả nhà mình ăn chơi vút tầm nhé, hôm đi hát ka-ra-ô-kê, sếp bắt các em tiếp viên cởi truồng hết! Hai em kè hai cặp vú lên vai sếp, hát say sưa. Tay sếp vê vê đến là điệu nghệ … ”

May mà mấy cái ảnh bị chụp trộm được Ban kiểm tra Huyện uỷ giấu nhẹm đi, không thì tan nhà nát huyện chứ chẳng đùa.

Lão Cổn vội vã từ chức Bí thư Đảng uỷ chứ không thì chính Bí thư Huyện uỷ – đệ tử của lão – sẽ phải có quyết định cách chức lão.

Thế mà lão còn trách Bí thư Huyện uỷ chơi không đẹp! Vì còn chân trong Đảng uỷ, lão Cổn nhận chức Chủ tịch Mặt trận tổ quốc thị trấn. Đi đâu lão cũng cười và nói với mọi người: “Mình còn ham hố gì đâu! Làm là do Đảng yêu cầu, do dân đề đạt mà mình gắng sức thôi… ”

Sáng nào lão cũng buộc cặp vào sau xe máy. Vợ hỏi, lão bảo phải đi họp ở Huyện. Lúc thì lão bảo họp ở xã bên. Bà vợ có lúc bực mình lẩm bẩm: “Buổi tối lên giường cũng bảo họp!”.

Lão cũng chỉ làm Chủ tịch Mặt trận tổ quốc được hai năm. Tức là vừa đúng một khoá cấp uỷ. Việc lão phải dời Chức chủ tịch Mặt trận tổ quốc thị trấn chính là vì cái vụ làm thọ 70 của lão (mà theo giấy tờ công tác lão mới vào tuổi 65).

Chủ tịch Mặt trận mà khao thọ rầm rộ như chiến dịch vận động quần chúng đi triệt sản, sinh đẻ có kế hoạch ấy! Phông, màn, kèn, loa, đài nhạc rậm rịch mấy ngày trời. Rồi cái vụ con trai lão lập công ty ma, lừa ngân hàng trên 4 tỷ đồng, phải vào nhà đá… đã chính thức đưa lão Cổn trở về “vạch xuất phát”.

Đầu gối của lão càng ngày càng đau. Đôi khi đứng dậy tiếp khách lão đã phải tập tễnh. Nghĩ cũng tội!

Gần đây, nghe đâu lão lại tham gia chân tuyên truyền trong Ban quản lý tu tạo ngôi đình làng.

Việc này, lão rất hồ hởi, khoe với bạn của con gái lão rằng: “Các cháu thấy chưa? Bác vẫn rất có ích cho xã hội, cho dân làng đấy chứ!”

Vợ lão có ý không bằng lòng, dằn hắt: “Ông không ở trong cái nhà này được một ngày yên ổn à? Hay nhà này có ma?” lão gạt đi, bảo: “Dân làng cần mình thì mình phải có tấm lòng chứ! Ngần này tuổi đầu, có cháu nội cháu ngoại rồi tôi còn thớ lợ gì đâu mà bà phải lo?”

Chỉ khổ cho lão, việc ở đình làng thì thường ngồi chiếu để bàn công việc. Những lúc như thế, lão cứ đứng lom khom. Sợ kéo ghế ngồi nhìn xuống thì e bất kính với các cụ thượng. Mà ngồi bệt xuống chiếu thì là cực hình. Vì thế, lão ngồi ne né trên một chiếc ghế thấp do lão tự làm rồi cắp theo ra đình làng. Ngồi, nhưng lão vẫn cố khép nép, thu cái bụng phệ lại. Ngồi, nhưng lão cứ nhấp nha nhấp nhổm, sợ các cụ cao niên quở trách. Nửa năm sửa đình, lão cứ nhấp nhổm ngồi xổm thế!

Sau tết vừa rồi, lão có vào thị xã thăm đứa cháu họ gọi bằng ông trẻ. Ông cháu này đang làm ở toà soạn báo tỉnh, phụ trách trang văn nghệ nên được ông trẻ Cổn điện hẹn gặp nhờ một chút việc về văn thơ.

Vừa gặp nhau, chưa kịp uống cạn chén trà, lão đã vồn vã:

- “Cu cháu” này! – Ông cháu nhăn mặt, nhìn quanh sợ có nhân viên nào nghe thấy. Vì dù sao hắn cũng là Phó Tổng biên tập tờ báo tỉnh – Cháu biết đấy, ngày ở huyện, ông đã nhờ vả rất nhiều vào tay bác sỹ Quy ở xã Tân Phúc. Tay này còn trẻ nhưng rất đức độ. Anh ta chữa bệnh cho bà trẻ, rồi các dì Trung, cậu Mai, bác Cấn, ông trẻ Nhẫn, đến các cháu chắt nhà ông, mà không lấy tiền, anh ta tốt đến mức…

- Vâng, vâng, cháu có biết anh ta ạ!

- Ừ, thế thì tốt! Anh ta chữa bệnh cứu người là chính. Nhưng nhà cũng rất giàu.

- Ý ông trẻ là… ?

- À, sắp đến ngày 27 tháng 2, ngày Thầy thuốc Việt Nam. Ông muốn có cái gì đó tặng anh ta. Anh ta là ân nhân của nhà ta. Cái đận cứu con Cúc bị chửa ngoài dạ con, không có anh ấy thì chết đứ đừ rồi. Ông chưa biết trả ơn thế nào. Tiền thì không được rồi, vật quý nhà anh ta cũng có nhiều. Nên ông đang nghĩ cách …

- Thế thì ông trẻ tặng một cái gì đó có giá trị về văn học nghệ thuật ý! Vừa ý nghĩa, vừa làm cho anh ta không coi thường mình được!

- Ấy, ấy … đúng thế! Ông có làm mấy câu thơ đây, nhờ anh sửa giúp!

Ông cháu cười vang:

- Ồ, tưởng gì chứ việc đó là nghề của cháu rồi! Đâu, ông đưa ra đây!

Thế là hai ông con vần vã hết cả buổi trưa để có 4 câu lục bát như thế này:

“Nửa đời cười với gian truân

 “Đến nay có được Phúc, Ân giữa trời”

 “Đẹp như viên ngọc sáng ngời”

 “Hào hoa vẫn giữ lẽ đời đơn sơ… ”

Đấy! Bốn câu thơ ra đời với những lời giải thích của lão Cổn kèm theo đầy thoả mãn.

Lão Cổn duỗi thẳng chân, gác lên cái bàn uống nước của thằng cháu Phó Tổng biên tập, đắc ý:

- Hay! Hay và ý nghĩa lắm “cu cháu” ạ!

Ông cháu quay vội nhìn ra cửa, nhăn mặt.

- Cháu đặt cho ông cái tên bài thơ được không?

Anh cháu ngẫm nghĩ một lát rồi buột miệng:

- “Trong sáng giữa đời” được không ông?

Lão Cồn bặm miệng, suy nghĩ. Cái chữ I nằm ngang lại được dịp trưng bày trên khuôn mặt đã có chiều phùng phụng, biểu hiện thận yếu. Lão gật gù:

- Phải đặt là: “Viên ngọc giữa đồng quê” cháu ạ!

- Như thế nghe có vẻ tâng bốc quá …

- Không! Phải thế mới xứng cháu ạ. Rồi lão vỗ đùi kêu “tét” một cái; co chân chống đầu gối đứng dậy. Lệnh khẽ:

- Cháu đưa vào vi tính, đánh máy ngay cho ông; để lát nữa, ông ra cửa hàng nhôm kính, cắt cái khung vàng thật oách lồng vào.

Lão tập tễnh đi quanh phòng trong khi ông cháu ngồi vào bàn vi tính:

- À, phía dưới tên bài thơ cháu đánh: “Quý tặng Bác sỹ Hà Đương Quy – nhân ngày thầy thuốc Việt Nam”.

Lão bỗng gác chân lên ghế của thằng cháu, nhòm vào màn hình vi tính:

- Cuối bài, cháu đánh mấy chữ đậm cho ông: “Tác giả Bùi Đình Cổn - Phó Chủ tịch UBND tỉnh”. Ông cháu buột miệng:

- Phải có chữ “Nguyên” ở đằng trước, “Nguyên Phó Chủ tịch” chứ ông?

- Không cần! Mình có ghi cụ thể tặng ngày tháng năm nào đâu. Cứ ghi thế, ai hiểu thế nào thì hiểu …

Ông cháu Phó Tổng biên tập chỉ biết cúi đầu, gõ chan chát vào bàn phím.

Vừa chờ máy in, ông cháu quay lại:

- Ai dè, ông trẻ cũng “tâm hồn” ra phết!

- Ấy, ấy, suýt quên. Tới đây ông sẽ cho ra mắt câu lạc bộ Thơ ở đình làng ta. Tập hợp tất cả các ông bà hưu trí rồi người già yêu thơ của làng Vân Trụ ta để sinh hoạt thơ văn cho vui. Lấy tên là câu lạc bộ thơ “Vân du” nghe được cháu nhỉ? Cháu nhớ về dự và phát biểu động viên các cụ! Cháu là nhà thơ cấp tỉnh về dự làm vinh hạnh cho Câu lạc bộ lắm đấy! Động viên các cụ già ở làng ấy, chứ ông trẻ thì… Lão bỏ lửng câu nói ở đó làm cho ông cháu chỉ biết “Vâng, vâng” mà không biết sẽ ứng xử ra sao…

Ông cháu tiễn ông trẻ ra cổng. Nắng cuối ngày đã chếch bóng, in hình những cây bàng khẳng khiu không lá, quét lằng nhằng lên bức tường cổng cơ quan.

Nhìn dáng ông Cổn tập tễnh, tay ôm khư khư cái cặp có bài thơ; bước lên taxi, ông cháu bỗng xót xa: Chân ông thế kia, không hiểu khi về nhà ngồi chiếu ăn cơm với bà trẻ, hay ngồi ăn cỗ với dân làng ông làm thế nào nhỉ?

 


 

 

 

 

BỨC HUYẾT THƯ

 

Trăng sáng!

Ánh trăng tãi trên ngọn dương. Bóng trăng ỡm ờ vuốt ve rặng liễu. Gió lạnh se se thổi. Cái lạnh không khiến người ta rùng mình nhưng cũng đủ làm cho làn da chờn chợn. Thúy Kiều ôm đàn ra ngồi dưới mái hiên, bên cạnh gốc mộc lan. Hương mộc xoa trên tóc, phớt nhẹ lên má Kiều. Nàng ngước mắt nhìn trời, chạnh nhớ mười lăm năm lưu lạc. Khi Vô Tích, lúc Lâm Truy… khi lầu Ngưng Bích… Có bao đêm trăng đã qua? Đã bao lần nàng ngồi ngắm? Mà trăng đêm nay sao sáng thế? Bất giác nàng thở dài. Tay nàng lướt trên phím đàn. Tiếng đàn rung lên. Tiếng thanh vẫn vút cao, ngần ngật, tiếng trầm vẫn rền rĩ. Nhưng tiếng đàn đêm nay sao cứ chơi vơi, cứ thổn thức? Nó không hừng hực da diết như ngày đầu ngồi bên Kim Trọng, không tủi hờn như ở nhà Hoạn Thư, không đớn đau như khi hầu quan Tổng đốc, không réo rắt ngập vui như ngày tái ngộ. Tiếng đàn như dỗi, như hờn, như âm ỉ cháy!... Tiếng đàn lan đến đâu, nước mắt nàng dường như cũng trào đến đó. Lòng nàng vời vợi, xót xa…

Đã hơn 5 năm về sống cùng Kim Trọng và gia quyến, nàng bỗng chợt nhận ra mình như người thừa giữa chính nhà mình. Thứ nàng cháy lòng cần có thì nay nàng đã có, nhưng lại không phải là có. Chàng Kim tất bật lo toan việc công đường, có khi đến hơn tháng chàng mới ghé qua thăm. Thuý Vân túi bụi với một đàn con lít nhít. Tiếng bẳn gắt đôi khi cắt ngang cả tâm trí nàng lúc thiền tọa. Ông bà Viên ngoại đã già, đôi lúc lẩn thẩn; sang chơi ngồi nói chuyện với nàng mà cứ gọi là Vân (!) Mỗi khi giáp mặt Kim Trọng, nàng hết sức bối rối. Nàng không còn cái e ấp của người tình, mà cũng chẳng có cái ngấm nguýt của người vợ. Xa không xa, gần cũng chẳng gần… trong khi nàng mới vào tuổi 40, lửa lòng đâu đã lụi?

Muốn thổ lộ với chàng - còn thể diện? Muốn xa lánh chàng - con tim không nói thế! Tiếng đàn chùng xuống, chờn vờn đến lắt lay…

Giữa lúc tiếng đàn đang quyện vào ánh trăng, xoắn vào hương mộc, hồn nàng đang thổn  thức… Bỗng ánh trăng như loãng ra, trời trắng bệch. Một làn hơi lạnh ào đến. Tiếng vó ngựa rầm rập. Kiều ngửa mặt nhìn lên vầng trăng, lơi tay đàn. Từ trong làn sóng trăng và biển hơi bảng lảng ấy hiện ra một hảo hán đang gò cương, ghìm chân ngựa. Rõ ràng một chiến binh hàm én, mày ngài, lẫm liệt. Kiều thảng thốt rên lên: “Trời ơi! Từ công… ”

Từ Hải vẫn ngồi trên yên ngựa, mắt xếch ngược, trừng trừng nhìn xuống. Cái nhìn như thấu qua bàn tay Kiều đang lập bập trên phím đàn.

- Nàng sao thế? Nàng có được khoẻ không? – Tiếng nói âm âm như trong hang núi dội ra. Kiều vội vàng thi lễ:

- Cám ơn chàng, thiếp có sao đâu! Thiếp khoẻ…

Tiếng âm âm dội lại:

- Không sao ư? Thế mà tiếng đàn đêm nay lại lạ lùng đến vậy? Nàng ước ao điều gì đó phải không?

- Dạ thưa… Nàng ngẩng đầu, ngập ngừng. Từ Hải cắt ngang lời nàng:

- Nàng có được hạnh phúc không? -  Kiều bối rối:

- Nếu hạnh phúc là no đủ, là yên ổn thì thiếp đang được hưởng hạnh phúc!

Giọng Từ công trầm xuống, cảm thông:

- Chồng nàng đối xử với nàng ra sao?

Kiều lặng đi, mặt cúi gằm rồi se sẽ cất lời:

- Chồng ư? Thiếp chỉ có duy nhất một người chồng. Thiếp chỉ có duy nhất một lần vu quy. Chàng có biết không? Chỉ một lần có băng nhân dạm hỏi, có lễ rước dâu. Chao ôi! Một lễ cưới uy nghi, rầm rộ có một không hai ở đất Hàng Châu. Đó là khi thiếp lên kiệu hoa, theo quân sỹ về quân doanh của người hảo hán. Đến giờ thiếp vẫn chỉ là vợ của người ấy mà thôi!...

Từ Hải ngây người:

- Thế là sao?

Rồi tiếng chàng đầy u uẩn:

- Nàng sống với người ta như thế được à? Sao không phải là vợ?... Thế là gì?... Tình nhân à?

 Kiều nghẹn ngào chấm chấm dòng nước mắt:

- Xin chàng đừng hỏi nữa, thiếp đau lòng lắm…

Từ Hải bỗng nhướn mày, mặt đỏ rựng:

- Nàng đau khổ ư? Có bằng ta đau khổ? Có bằng ta nhục nhã không?

- Trời ơi! - Kiều sụp xuống - Xin chàng, thiếp xin chàng, thiếp biết tội của mình lớn lắm… Thiếp đã từng đập đầu dưới chân chàng, thiếp đã nhảy xuống sông Tiền Đường để được theo chàng… Nhưng trời đâu có cho thiếp chết?

Từ Hải lắc đầu:

- Điều đó ta biết. Ta biết nàng muốn yên ổn về với gia quyến, ta đã nghe theo nàng. Nàng mong tìm lại được người tình xưa, ta cũng mặc nàng. Nhưng nàng làm vợ, nàng làm mất cơ đồ của chồng vì cái gì, nàng có biết không?

Giọng Từ bỗng uất hận:

 - Nhục lắm! Cha con Hồ Tôn Hiến thắng ta, ta cũng không thèm đau khổ nếu ta thấp mưu hơn hắn. Nhưng ta đau là ở chỗ: Dưới suối vàng, binh sỹ xì xầm. Trên dân gian người ta bàn tán… Đến muôn đời sau, người đời vẫn hiểu rằng: Ta đã để nàng tham dự vào việc quân cơ. Rồi ta – nàng đã nhận đồ đút lót của tên Hồ Tổng đốc đốn mạt ấy. Người đời cho rằng: Với món quà mang đến nhà riêng “Hai tên thể nữ, ngọc vàng nghìn cân” mà nàng đã nhận, hắn đã mua được ta, đã khiến ta phá tan cơ đồ lừng lẫy. Ở dưới suối vàng, quân sỹ cả hai bên, nhiều người đã khinh bỉ, nhổ nước bọt rồi ngoảnh mặt không nhìn mặt ta… Nàng có hiểu không? Có hiểu không?

Kiều chết lặng. Bây giờ nàng mới hiểu hết cái tâm, cái trí, cái nỗi đau vô bờ của Từ công khi chàng chết chôn chân, sừng sừng giữa trận tiền ngày ấy. Nàng ập đầu nấc lên:

- Tội thiếp đáng chết, ngàn lần đáng chết… Xin chàng cho thiếp đi theo… Xin chàng cho thiếp được chết!

Từ Hải cúi xuống:

- Nếu nàng đã muốn vậy, ta chờ!

Kiều rối rít:

- Tạ ơn chàng, tạ ơn chàng… Dù thiếp có làm tỳ thiếp, có làm…

Từ Hải cười vang:

- Ha… ha… Không! Nàng sẽ vẫn là vợ ta, mãi mãi là vợ ta… ha, ha… Tri kỷ trước sau mấy người?

Nói rồi, Từ nhảy khỏi yên ngựa, con ngựa hý lên, mõm ngoạm vào ánh trăng, Từ dắt ngựa, tản bộ, chân bước bồng bềnh trong làn sương mỏng. Bỗng Kiều lại cuống quýt:

- Xin chàng, xin chàng chờ thiếp… Chàng cho thiếp viết đôi dòng gửi lại.

Tiếng Từ âm vang, rền như sấm:

- Việc đó tuỳ nàng!

Kiều giở vội tấm lụa trắng dài hai thước mà Kim Trọng tặng nàng ngày tái ngộ. Nàng lao vào phòng, nhặt bút, chấm mực, hối hả viết. Nàng viết như không bao giờ còn được viết. Nàng đưa tay nhanh như sợ không kịp giãi bày ý mình. Con chữ trào ra trên ngòi bút như đã chực sẵn từ bao giờ. Nàng viết trong tiếng nấc thẳm sâu của ân hận. Nước mắt nàng dào lên, chảy vào khoé miệng, mằm mặn. Những giọt nước mắt lã chã rơi trên dòng chữ. Những giọt nước mắt thấm xuống bỗng đỏ hồng nền lụa trắng.

Nàng viết dưới cái bóng lừng lững của Từ công. Người anh hùng họ Từ đăm đăm nhìn nàng… Chờ đợi…

Khi tấm lụa đầy kín chữ - những con chữ đen nhánh nổi lên trên nền hồng của những dòng huyết lệ, Kiều cuộn bức thư, phong kín và ghi rõ bên ngoài: “Gửi em Vân”. Nàng buông bút, ngã vật ra. Ghế bàn lục cục đổ. Cây đàn rơi “choang” một tiếng, đập vào gốc mộc lan. Mấy gia nhân giật mình tỉnh giấc, chạy đến, vực nàng lên giường. Người thuốc, kẻ thang rầm rập. Từ phòng riêng, Kim Trọng vươn vai, uể oải hỏi: “Chuyện gì mà ồn ào thế?” Nghe bẩm lại, chàng Kim vội xốc xống áo, chạy sang. Mắt nàng đã thất thần, môi trắng lợt. Khi tay Kim Trọng luồn vào mái tóc, nâng đầu nàng thì môi nàng bỗng mấp máy… Trong tiếng va của hàm răng ngọc và làn hơi yếu, Kim Trọng nghe thoảng tiếng nàng “Kim lang… Kim lang… Thiếp… Thiếp lại... lại phụ chàng… từ đây!”. Nàng nhắm mắt, một dòng máu trào ra bên khoé miệng.

Xa xa có tiếng ngựa phi. Ánh trăng ngập trong đám mây đen, trời tối sầm. Một làn hơi lạnh ào qua, Kiều từ giã nhân gian.

Kim Trọng buồn bã hàng tháng, bỏ bê cả công việc. Sau, nhiều người cùng xúm vào khuyên giải: “Ngày xưa, biết nàng còn sống mà không tìm được, đau khổ đã đành. Nay, có thương nhớ, có sầu muộn đến đâu thì nàng cũng chẳng thể sống lại… ”. Dần dà, chàng Kim cũng nguôi ngoai.

Kim Trọng trị nhậm Nam Bình được mấy năm, lại được bổ nhiệm về Lâm Thành, Phúc Kiến. Sau đó lại được thăng chức cai quản một số châu phủ lớn. Đi đến đâu, Thúy Vân cũng mang theo bức huyết thư của chị. Đến phủ đệ mới, nàng lập ngay bàn thờ chị. Mỗi lần, trước khi chuyển theo chồng, nàng đều thắp hương trước bài vị Kiều mà khấn rằng:

- Thưa chị, lúc nào em cũng khắc cốt ghi tâm lời chị dạy trong thư. Em đã gắng làm đúng như chị mong muốn… Cũng có khi em phải hết sức khó khăn để dằn lòng mình. Mong chị hãy phù hộ, độ trì cho vợ chồng em và các cháu…

Không ai biết thư Kiều nói gì. Chỉ biết rằng Kim Trọng đi đến đâu cũng được dân mến. Khi chuyển đi nơi khác, dân đều tiếc. Mấy chục năm làm quan, được ca tụng là người liêm khiết.

Bây giờ ở vùng Chiết Giang, Trung Quốc người ta đã tìm thấy bức thư của Kiều để lại cho Vân. Họ cho in và phát hành rộng rãi. Nghe đâu có nhiều người tìm đọc lắm, nhất là các bà vợ của các vị chức sắc.

Tiếc rằng ở ta chưa có bản dịch nào…

 

 



 

 

 

 

 

LÊ TỐN (Lê Thuần Thảo)

 

Lai láng tình quê

 

NHÀ XUẤT BẢN VĂN HỌC, 2011

 

---------------------------------------------------------

 

Tập truyện ngắn đoạt Giải Khuyến khích,

 Giải thưởng VHNT tỉnh Vĩnh Phúc 5 năm lần thứ IV

(2011 - 2015)

 


   

 

 

 

MẤY CON QUÁI

Hắn có một cái tên khai sinh trùng tên một loài cây có hoa, thuộc dòng bí tử, thân mộc, dễ cọc. Cây bình thường, hoa không quá đẹp, không thơm nhiều, nhưng cũng đủ gợi về một mùa trong năm, cho ai đó từng có một thời cắp sách, lặng lẽ, giật mình, ngắm sắc hoa rơi. Độc giả có thể đoán tên hắn trùng tên loài cây nào đó nhưng trong truyện này ta cứ gọi là hắn.

Hắn từng sở hữu những nhỏ nhắn tròn xinh. Những búp tay trắng trẻo, tròn xinh, tóc mượt mà đen che hững hờ, ngấn cổ trắng tròn xinh và khuôn ngực thanh tân dẫu bị đậy điệm, chở che qua ba bốn tầng áp bức vẫn nây nẩy vươn như  muốn tự khẳng định tròn xinh.

Vào trung học phổ thông, bố tặng hắn một cuốn sách dày cộp, bố bảo: “Con hãy đọc quyển này đi, từng là sách gối đầu giường của bố đấy”. Đưa cả hai tay đón quyển sách nặng, hắn cười cười, xun xun mũi:

- Con hiểu rồi. Ngày trẻ bố gối sách này nên hình thành thói quen kê gối cao.

Hắn bày sách lên ngăn tủ, lẫn lộn giữa những sách giáo khoa, sách đọc thêm, sách học thêm lôm côm, lẩm cẩm. Hắn mỉm cười tinh quái khi thấy các tác phẩm mỏng - dày, cũ - mới của các tác giả tây - ta; già - trẻ; xưa - nay… đứng cạnh nhau trong một tập hợp cộng đồng các gáy sách thập thò trắng - đen, đỏ - vàng, lộn xộn. Hắn nghĩ, cứ bày ra cho “đẹp đội hình” chứ hơi đâu mà đọc.

Trong các môn học, hắn ghét nhất môn Hình học, nói đến đâu phải viện dẫn đến đó như luật sư tranh biện trong các vụ án. Lại còn quỹ tích nữa chứ, lúc thì qu tích là một đoạn thẳng, lúc lại là đường tròn… cứ rối tinh rối mù những chứng minh thuận, đảo, nhức cả đầu. Một hôm hứng chí, hắn thử giở quyển sách bố tặng xem lướt qua. Sách có tranh minh họa, trong đó có vẽ một cô gái trẻ, xinh, có cặp mắt to, sáng, có cái mũi hếch, tóc cắt ngắn, mũ nồi đỏ và đi đôi ủng cao gót.  Hắn ngạc nhiên vì cô gái trong tranh có trang phục gần giống mấy chị tiếp viên nhà hàng trên phố.

Hắn đọc lướt vài trang và phát hiện ra một câu nói của nhân vật: Đời làm vợ cần gì môn Đại số! Hắn nghĩ, chị này nói đúng. Môn Đại số - Giải tích cũng đáng buồn lắm thay. Và hắn nghĩ lan man: Hồi trẻ bố có thích chị này không nhỉ? Có thể bố thích lắm chứ. Một vài lần hắn nghe bạn của bố nói oang oang: “Uống xong mà đi hát thì mỏi tay lắm. Đi cắt tóc máy lạnh thư giãn khoái hơn.

Đến ngày cả lớp hắn chộn rộn làm hồ sơ thi đại học. Đứa làm nhiều nhất năm sáu hồ sơ từ đại học cho đến học nghề. Đứa ít nhất làm một hồ sơ. Cô giáo chủ nhiệm tư vấn “Các em cứ làm hồ sơ theo hướng dẫn “Những điều cần biết” và theo nguyện vọng của mình. Cô nghiệm ra đường học cũng như đường đời, có nhiều chặng gian nan và cũng rất nhiều đoạn may mắn”

Thấy hắn cứ cặm cụi làm hồ sơ, cứ viết rồi hỏng, rồi xóa, bản hồ sơ cứ trắng lóa từng mảng như bôi vôi, mẹ sốt ruột bảo: “Con cứ ghi đại đi một nguyện vọng mà con thích, nếu đỗ thì học, không đỗ thì thôi. Còn đường đời, khối người có học hành gì nhiều đâu mà cũng lên ông nọ, bà kia cả đấy thôi”

Lũ bạn hắn có đứa không biết tí nhạc nào mà ghi nguyện vọng vào “Đại học Thanh nhạc”. Lại có đứa ghi: “Đại học Sân khấu Điện ảnh”. Nó bảo diễn viên điện ảnh không cần đẹp. Người ta có thể hóa trang cú, quạ thành công, trĩ m miều; Chỉ cần có cái dáng là được. Đời đã tổng kết “Nhất dáng, nhì da”! Lại có đứa nói oang oang: “Dạy Toán, học Văn, ăn Thể dục”, rồi nó bình luận ngắn gọn: Dạy Toán nhàn, thích thì nói, không thích thì ra bài tập cho học trò làm. Học Văn cũng nhàn nhã. Thể dục “là môn ăn chơi” thì ai củng rõ  rồi, khỏi phải bàn!.

Hắn  nghĩ, hay là ghi nguyện vọng vào khoa Văn? Mấy năm đại học, mấy năm nhàn. Còn cuộc đời đã có số!

Hắn hỏi bố, bởi bố luôn luôn là “nhà tài trợ chính”. Bố bảo:

- Học Văn à? Cái môn đó tám sáu như nhau. Có mấy bài “con cò” tiểu học, trung học, đại học đều học. Học đi học lại, viết đi viết lại, phân tích ngược xuôi, tranh cãi ồn ào mà không ngã ngũ là cò đi ăn ban ngày hay đi ăn ban đêm? Con cò mà đi ăn đêm thì đây là con cò gì? Cò quăm, cò bợ, cò lả, cò vằn… Lại còn con cò nào bay từ cửa phủ? Anh ở nhà quê thì chê anh ở tỉnh là dốt thực tiễn, người học lớp bảy trường làng thì chê giáo sư, tiến sĩ chưa tường tận con cò. Ấy, mới một con cò đã thế, mà văn chương còn bao la chuyện, con học cái thứ đó làm gì?

- Vậy thì bố tư vấn hộ con nên học ngành nào?

- Bố biết! Bố bảo con cũng không nghe nhưng bố cứ nói. Con ăn vào cái gen mang tính trội của mẹ, được cái răng, cái tóc, cái da, cái dáng, đó là của quý. Tốt nghiệp phổ thông vừa mười tám tuổi, vào cơ quan bố làm hợp đồng văn thư tạp vụ gì đó, rồi kiếm lấy mảnh bằng trung học kinh tế tại chức ngành kế toán, học ngay đầu phố huyện, loanh quanh chuyện đó cũng mất vài ba năm. Có tấm bằng rồi, làm thủ quỹ, làm kế toán ngay trong cơ quan, quẩn quanh suốt ngày với bốn phép tính tiểu học, một mình một bàn, một tủ, một máy tính, sạch sẽ ngăn nắp, mưa không đến mặt, nắng không qua đầu. Ngồi một chỗ mà biết việc toàn cơ quan, trưởng phòng, phó phòng, chuyên viên đều phải lụy. Rồi chọn lấy một thằng nào tử tế mà con thích… thế là xong!.

Nghe bố nói, hắn chạnh buồn. Chẳng nhẽ đời người cứ được lập trình theo các bước như giải phương trình hay khảo sát hàm số vậy sao?

Lúc đã bình tâm, hắn đã nhẩm lại từng lời bố nói và ngộ ra câu chuyện “con cò”. Hóa ra văn chương còn nhiều chuyện lắm. Mảnh đất ấy dẫu cũng xưa như trái đất, vẫn ẩn chứa tầng tầng lớp lớp những tri thức, những ngôn từ, những khía cạnh, những góc nhìn, những phương pháp tiếp cận mà sự khai thác, khám phá chưa bao giờ vơi cạn, như nhà nông và mảnh ruộng đời đời mùa vụ nối tiếp sinh sôi…

Mấy ngày sau, hắn nói: “Con ghi nguyện vọng vào khoa Văn rồi, do chịu ảnh hưởng từ bài “con cò” của bố đấy. Bố đừng mắng con nhé”

Không những không mắng, bố còn bảo: “Đây là lần thứ hai bố thất bại khi đóng vai thuyết khách” rồi vui vẻ kể cho hắn nghe câu chuyện bố làm thuyết khách lần đầu:

“Độ ấy, bố, mẹ con và bác Hảo cùng chung nhóm học tập tại trường đại học. Bác Hảo là cán bộ đi học, được trên giao nhiệm vụ học cùng để giúp đỡ về mặt tư tưởng cho tụi sinh viên trẻ như bố mẹ lúc bấy giờ. Bốn năm học, ba người ngồi cùng bàn, ăn cùng mâm, giờ tự học cùng ngồi với nhau, cùng thảo luận, cùng tranh luận những bài khó, thân thiết như ruột thịt. Một hôm bác Hảo gọi riêng bố ra một chỗ vắng và nói thì thào với vẻ mặt rất nghiêm nghị: “Sắp thi tốt nghiệp rồi, thế là anh em mình sắp phải xa nhau… Nhưng mà tớ yêu con bé Loan quá cậu ạ, chẳng biết nên thổ lộ thế nào! Nhờ cậu nói với Loan là tớ yêu cô ấy nhé. Tối mai, khi học nhóm, tớ đi ra ngoài thì cậu nói với Loan hộ nhé”.

Đêm ấy trời se lạnh, lại có mưa xuân lất phất, chín giờ đêm, tiếng loa phát thanh vừa kêu tút… tút thì bác Hảo lẳng lặng ra ngoài, lập tức bố vào đề luôn - Bài “văn” của bố gồm mấy ý: Nhà anh Hảo ấy thành phần cơ bản, bố mẹ tử tế, anh em đàng hoàng. Anh ấy là người từng trải và khiêm tốn, đã hưởng mức lương “cán sự” ở cấp tỉnh, có bằng tốt nghiệp đại học chắc chắn sẽ vào ngạch “chuyên viên”. Anh ấy tháo vát, tử tế, lịch thiệp, đứng đắn và anh ấy rất yêu Loan. Anh ấy nhờ tôi… Bố nói rất tha thiết và chân thành… Bất chợt mẹ con hỏi:

- Ông không đùa đấy chứ? Ông đang nói nghiêm túc đấy chứ.

- Anh ấy nhờ tôi nói với Loan mà. Thật đấy. Tôi xin thề chuyện này hoàn toàn nghiêm túc. Thế là mẹ con khóc, khóc òa, khóc to, làm bố hoảng quá. Mẹ con vừa khóc vừa nói:

- Đồ tồi! Người ta yêu mình, mình lại giới thiệu người ta cho người khác. Anh cút đi!.

Bàng hoàng quá! Lúng túng quá! Không biết xử trí thế nào, bố đành bỏ chạy ra ngoài lại gặp ngay bác Hảo đang đứng cạnh cửa lớp. Bác ấy bảo:

- Tớ nghe hết rồi. Tớ biết hết rồi. Cậu còn chạy đi đâu, vào ngay với cô ấy, xin lỗi cô ấy, động viên cô ấy và ngỏ lời yêu với cô ấy ngay đi. Tớ xin rút. Loan là cô gái tốt, đừng để đứa khác nó lấy mất thì hoài lắm… Rồi bác nói nhỏ: “Mình đã hiểu lầm giữa hiện tượng và bản chất. Ôi! Con bé này quái thật!”

Bố đã bảo con có gen trội của của mẹ con mà, có bao giờ nghe theo bố đâu! Đó cũng là lần đầu tiên trong đời mẹ con gọi bố là “anh” đấy. Rồi bố cười, nụ cười rất trẻ: “Yêu văn chương thì con cứ thi văn và học văn. Khi nào đời không sống nổi với văn thì lại về học tại chức kế toán và lại đi theo hướng bố đã vạch ra”.

Hắn đỗ vào khoa Văn với mức vừa đạt điểm chuẩn. Vào học, hắn mới thấm thía cái tri thức hạn hẹp của hắn trong quá trình học lười biếng và đối phó ở trường quê được mài mòn từ mấy cuốn sách giáo khoa trong mấy ngàn giờ đọc chép. Sinh viên ở đây toàn loại tri thức làng nhàng như hắn cũng nhiều, nhưng những đứa giỏi thì thật là xuất sắc. Lên lớp, thầy cô đọc giáo trình, hắn cứ chép lia lịa như cả mười hai con giáp đi, đã học đi, đã nghe, đã chép quen rồi. Trong khi cái Hiền ngồi cạnh tay lăm lăm cây bút bi đỏ, chấm giáo trình của thầy và phê vào đó đoạn nào tốt, đoạn nào thiếu chính xác, đoạn nào giáo trình “copy” nguyên xi từ các sách đã in hoặc từ giáo trình khác mà không ghi xuất xứ thì cái Hiền ghi vào bên lề: “Thiếu tự trọng, không nghiêm túc”. Nhiều giáo sư biết điều đó nhưng các vị coi đó là trò trẻ, không thèm chấp và các bài kiểm tra, các bài thi của Hiền đều đạt điểm rất cao. Loại như cái Hiền mỗi lớp có gần chục đứa, có đứa siêu ngoại ngữ; siêu về tài lẻ: văn nghệ, thể thao. Nhiều đứa ngày đi học, tối dùng tài lẻ chạy sô, kiếm tiền. Trong tập thể đa tài, đa sắc ấy, vẻ đẹp mặn mà chân quê, sức học làng nhàng trường huyện của hắn bị lu mờ như giọt nước không màu, không mùi. Ngày ngày hắn luôn luôn lắng nghe, ngắm nhìn và thán phục.

Thời gian cứ lặng lẽ trôi. Lũ bạn đã lần lượt cặp đôi, nhiều đứa đã trải qua một hai cuộc tình không kém phần lãng mạn. Có đứa còn được các thầy yêu. Cái Hiền hình như cũng đã có “chốn” nhưng Hiền vẫn vô tư: Lên lớp chơi là chính, xuống lớp làm thêm là chính: viết báo, biên tập và chữa morat thuê cho một nhà xuất bản, thế mà bài làm nào Hiền cũng đạt chín mười, trong khi hắn chỉ đọc và học cũng chỉ được làng nhàng năm sáu điểm. Một hôm Hiền nói riêng với hắn:

- Này ông Tô - Bá - Tượng thích mày đấy! Ông ấy già một chút, ngọng một chút nhưng dẫu sao cũng là phó giáo sư, tiến sĩ, giảng viên chính. Đó sẽ là một ông chồng ngoan, dễ sai bảo và một ông bố chỉn chu. Mày ưng không?

- Mày chỉ xạo - Hắn phản ứng.

- Thật đấy, ông ấy nhờ tao mà

- Nhờ thế nào!

- Chiều qua, ông ấy xuống khu “La tinh” tìm đến phòng tao trọ. Tao chào “thầy” xưng “em” rất lễ phép, lại còn ra quán “thửa” hẳn một ấm trà “nóng giòn” mang về mời. Uống hết chén thứ nhất, ông ấy bảo: Hiền học giỏi nhất khoa ấy nhỉ, các giáo sư ai cũng khen. Sang năm em đăng ký làm luận văn tốt nghiệp chứ? Tao lấp lửng: “Tụi em nghĩ ngắn lắm thầy ạ, học năm nào biết năm đó thôi”.

Ông ấy lặng thinh. Tao cũng lặng im. Ông ấy uống nước và tao rót nước. Biết là có “giáo sư đến” mấy đứa đã nháy nhủ nhau sơ tán để lại một khu nhà trọ trống vắng, tĩnh mịch. Cái đồng hồ để bàn ở phòng bên cạnh cứ vô tư gõ nhịp nghe thật đơn điệu và não nề. Không nhớ là tao đã rót mời thầy bao nhiêu chén cho đến lúc cái ấm trà đã chổng tĩ lên trời, từ vòi ấm mấy bọt nước  to như hạt ngô lùa vào chén, “giáo sư” mới nói tiếp: “Cái cô em hay mặc áo trắng, thường xuyên ngồi cùng bàn với Hiền ấy đã có đám nào chưa nhỉ? Liệu cô ấy có chút cảm tình nào với tôi không?”

Thoáng nhìn vẻ tội nghiệp của “ông già”, tao biết ngay đây là lời tỏ tình bằng lối vào đề trực tiếp của “thần thật thà” tao bảo:

- Các thầy tinh thật đấy! Bạn ấy gái quê, con nhà lành, vừa đằm thắm lại nết na. Mấy năm nay sống ở chốn thị thành vẫn giữ được mộc mạc hương đồng gió nội. Ông ấy hỏi:

- Thế ra cô ấy đã có ai rồi sao mà Hiền bảo là “các thầy”? - Tao bảo:

- Bạn ấy kín đáo nên em cũng  không biết kỹ, nhưng hình như cũng có mấy thầy trong khoa, trong trường để ý và còn có anh bạn học từ thời  ở trường quê cũng hay đến thăm.

Nghe tao nói vậy, ông ấy lặng đi. Cái lưng cứ gù gù, cái má xề xệ, mái tóc lòa xòa vài sợi rủ xuống vầng trán hói trông tội nghiệp quá mày ơi. Ông ấy yêu mày thực lòng đó. Thời nay tìm được một trái tim  “chân yêu” cũng quan trọng không kém gì các nhà tự nhiên tìm ra nguyên tố mới. Tướng mày  làm “bà giáo sư” là hợp đấy.

- Mày phát hiện ra người “chân yêu” quý hiếm của thời đại thì tao nhường mày.- Hắn phản ứng.

- Mày lại nhầm rồi. Phát hiện là một nhẽ, khai thác sử dụng lại là một lĩnh vực khác. Tao luôn luôn “đọc” được ông ấy và chính ông ấy cũng biết điều đó, ngay từ khi lên giảng học trình đầu tiên tại lớp ta. “Gửi lời thì nói”, thế là tao đã nói, còn “xử lý thông tin” đến đâu là quyền của mày. Chấm hết. À quên, còn năm ngàn tiền ấm trà, nhớ hôm nào mua sấu dầm trả cho tao. Cả vốn và lãi nhé hi hi…!”

Lại một mùa xuân sắp qua. Năm nay hắn dọn đến ở chung cùng cái Hiền. Một hôm cái Hiền bảo: “Sắp sửa ra trường rồi. Đã hơn hai mươi cái xuân xanh mà cuộc đời vẫn buồn tẻ. Mày có muốn nghịch ngợm một chút cho vui không? Tao có cái sim điện thoại mới, ta hãy làm một phép thử xem các “đấng mày râu” trong khoa, trong trường “tán tỉnh” tụi con gái thế nào nhé. Mày không dám yêu giáo sư, tụi bạn cùng lớp mày cũng lành lạnh, bây giờ cho qua phép thử này, biết đâu lại gặp thần ái tình đích thực làm cho trải tim mày xốn xang”

Nói là làm, ngày hôm sau trong mục “quảng cáo và rao vặt” của tờ báo tường treo nơi góc lớp được dán lên một tờ giấy màu thanh thiên, với hàng chữ đánh máy vi tính rõ ràng: “Em thuộc “phái yếu”, là chủ nhân của số điện thoại 09776864… mong nhận được sự chia sẻ bằng tin nhắn với chủ đề “Anh nhớ em”. Thời gian bắt đầu từ hôm nay, ngày tám tháng ba và kết thúc vào ngày tám tháng tư năm nay. Tin nhắn đặc sắc nhất em xin gặp trực tiếp để hậu tạ. Năm tin nhắn hay em xin gửi quà biếu bằng số thẻ tương ứng có mệnh giá 100; 50; 30; 20 và 10 ngàn đồng. Em đợi tin”.

Điện thoại đặt chế độ rung cất vào hốc trong ngăn bàn, đến giờ “đọc chuyện đêm khuya” hai đứa mới mở ra xem. Mỗi ngày có chừng dăm bảy tin nhắn. Có cái dài, có cái ngắn; có cái nghịch nghợm, có cái chân phương… Tin nhắn bằng văn vần, bằng văn xuôi… đa dạng. Lác đác cũng có tin nhắn lời lẽ, ngôn từ không đẹp, nhưng chúng cũng chẳng bực mình bởi đã xác định từ đầu mục đích cuộc chơi “vui là chính” và cũng là dịp “trắc nghiệm” về “nhớ” của các đấng “mày râu”. Mỗi ngày tin nhắn được cập nhật và ghi riêng. Cuối đợt có tất cả hơn hai trăm “bài thi” đọc mất đứt buổi sáng ngày chủ nhật. Nhiều “bài” cả hai đều thích như:

“Tuổi hoa niên qua rồi

Niên hoa còn thắm mãi

Anh nhớ em. Nhớ em

Thời vô tư vụng dại… ”

Cũng có mẩu tin viết vui

Em là ai? Sao anh phải nhớ em

Hỡi cô gái ngày ngày anh vẫn gặp

Dòng tin xanh đã làm anh… . trằn trọc

Thôi chết rồi… Anh đã nhớ em.

Lấy chịch là “chánh chủ khao”, cái Hiền cho tin nhắn sau đây là độc đáo:

Anh nhớ em

Như con chim chích nhớ con sâu

Như con trâu nhớ đồng cỏ

Như con chó nhớ cục xương hầm

Khi ăn, khi ngủ, khi đứng, khi ngồi…

Nhớ em.

Nó bình: “Thằng” này vần điệu trúc trắc nhưng có vẻ biết gắn “học” với “hành”. Vả lại tao đoán nó còn “cài đặt” một cái gì đó  khá tinh quái! Thậm chí là quỷ quái để “thử” chúng mình. Chúng ta quyết gặp thằng này xem hắn là ai.

Giữa lúc hai đứa đang “chấm bài”, đang “bình văn” thì có tin nhắn mới, lại của chính cái thằng ấy. Là linh tính, là điểm báo may mắn hay rủi ro đây?

“Em ơi, Máy bỏ đâu rồi

Sao không “nhắn” lại một lời cho anh

Đợi chờ thao thức năm canh

Nhớ em. Nhớ bản tin xanh. Báo tường”

- Có nhắn tin lại cho thằng này không? - Hắn hỏi

- Có. Nhắn ngay

- Bằng văn vần hay văn xuôi

- Bằng văn xuôi, vài câu mộc mạc thôi. Mày viết đi: “Em gặp anh, 20h chủ nhật, tại bản số năm, café Thân Ái, ngõ Khuê Văn, gần cổng trường. Nhớ mang theo bản thảo để lĩnh nhuận bút. ”

Lập tức có tin nhắn trả lời: “Thanks!OK”

Kịch bản được vạch ra như sau: hắn đến trước, chiếm bàn số năm. Hiền đến sau ít phút  và chiếm bàn số bảy ngay kề bên, có khoảng cách đủ gần để có thể hỗ trợ cho hắn khi cần. Trang phục giản dị, có trang điểm tí chút nhưng nhẹ nhàng.

Hôm ấy Hiền tự tay trang điểm cho hắn rồi xoay hắn mấy vòng ngắm trước ngắm sau “quần bò mài xanh, áo phông thái hồng, ngoài khoác áo gió… ” rồi lẩm nhẩm: “Mày đẹp thật đấy, tao còn thấy mê thì thằng ấy hôm nay sẽ “chết”.

Còn Hiền khoác vào một bộ “kí giả” vừa mượn được của đứa bạn bên khoa “báo chí”, đi đôi “ghệt” da cao cổ trông khá ngang tàng, lại đào đâu ra cái “pan-tô” trông ra vẻ sành điệu lắm!

Chủ nhật, giờ ấy quán vắng. Bàn ngoài mấy cô cậu “lớp 13” đang vừa uống nước ngọt, vừa cười đùa ồn ã. Góc bên phải có một đôi đang ngồi sát bên nhau. Hắn ngồi vào bàn năm, với tập menu, bill of fare (thực đơn, đồ uống) thì cái Hiền cũng vào vị trí.

Trời se se rét lộc, cái lạnh ngọt ngào của sự nẩy nở sinh sôi. Hắn cảm thấy như đèn trong quán hôm nay mờ hơn mọi ngày. Tự nhiên hắn thấy trống trải. Sao mình lại phải nghe theo con Hiền lao vào trò chơi mạo hiểm và quái quỷ này nhỉ? Sao không cho cái Hiền vào bàn số năm này để đối phó với thằng cha ấy mà lại là mình. Nếu nó là một “thằng cáo già” lại mang theo cả một “tập đoàn đầu gấu” thì sao? Hay đây là một “chú chích chòe” mới vào năm thứ nhất? Và … … Trời ơi! Nhỡ ra đây là một “thầy!”. Hắn cảm thấy ớn lạnh chạy dọc sống lưng. Dại dột! Dại dột quá chừng! Mạo hiểm quá chừng! Quán hôm nay sao vắng thế, có chuyện gì không may thì ai cứu mình. Hắn nhìn sang, cái Hiền vẫn điềm nhiên lần giở tập menu, mắt lơ đãng như đang chờ ai đó. Cô lễ tân vận áo dài hồng, vẫn đứng trong quầy cũng lơ đãng nhìn ra ngoài, một cái nhìn vô cảm. Đôi nam nữ ở bàn bên, uống chung một ly cà fé phin, họ đang chờ những giọt café chầm chậm rơi vừa tranh thủ… Tay phải anh chàng khoác qua vai bạn gái của mình, tay trái bị giấu kín vào trong áo đối phương đang lồng phồng ngọ ngoạy vùng “núi đồi và thảo nguyên”. Cô gái trẻ nghiêng người về phía anh chàng, nét mặt khó đăm đăm ra chừng cam chịu. Hắn rùng mình, định chạy sang bàn cái Hiền để kéo nó ra ngoài thì một tiếng nói nhỏ, gần như dội từ trán hắn dội xuống:

- Em đợi anh đã lâu chưa?

Hắn giật thót mình ngước lên. Một thằng tầm thước vừa phải, quần đen, áo da đen cài khuy kín, đôi giày đen bóng loáng và cái mũ rộng vành kiểu “Mễ Tây Cơ” cũng màu đen. Toàn thân “hoắc toàn phong”, chỉ để lộ ra khuôn mặt trắng và vành môi tai tái. Thằng cha rất tự tin ngồi xuống ghế đối diện và chìa tay ra: - Anh tên là Hòa.

Hắn run run đặt bàn tay vào trong lòng bàn tay Hòa rồi rút lại ngay và nói rất khẽ.

- Chúng em cũng vừa đến!

- Chúng em? Nghĩa là còn ai nữa?

Hắn run quá. Trong “kịch bản” bàn định ở nhà, cái Hiền bảo là khi thằng ấy đến, ngồi vào bàn thì mày “điều tra” sơ sơ về bản “lý lịch trích ngang” của nó, sau đó gọi thức uống, kẹo bánh gì đó, rồi liều liệu mà khu xử. Tao chỉ hỗ trợ trong trường hợp cần thiết thôi! Còn “kinh phí” lấy trong ví này, lận sẵn vào quần cho chủ động”. Thế mà mình vừa nói hớ. Ôi! Chữa thế nào đây. Sao mình cứ bị ám ảnh bởi cái Hiền nhỉ. Tại sao lại “xướng” là “chúng em!”. Hắn cảm giác bức bối, nóng ran người.

Giữa lúc ấy cái Hiền bước sang, kéo ghế ngồi vào giữa hai đứa, mặt đanh đá như sắp cãi nhau, nổ một câu sắc lẽm:

- Đừng vờ nữa! Bỏ mũ ra cho tóc xuôi xuống! Giày mượn của thằng nào hơi bị rộng và cái áo nữa. Cài khuy kín thế nóng chết. Cởi nhanh ra cho “ngực” nó thở!

Thằng cha mặt đỏ hồng, ngoan ngoãn làm theo ngần ấy thao tác Hiền vừa yêu cầu thì hiện nguyên hình là một “thị”. Rồi sáu bàn tay của ba đứa cùng đặt lên bàn, chồng chéo lên nhau những bàn tay mềm mại, trắng hồng. Rồi cả ba ả cùng đứng dậy ôm nhau cười như chợ vỡ làm gã chủ quán béo ụt ịt ngơ ngác chạy ra đứng cạnh quầy lễ tân. Anh chàng ở bàn bên giật mình vội vàng rút bàn tay “đang chu du ở vùng nào đó” đặt lên bàn, rồi giả vờ mân mê ly café đã lưng lửng.

Nhìn xoáy vào cái Hòa như để “xem tướng”, cái Hiền “đề xuất”

- Tên yêu quái giả dạng khai mau: Họ tên khai sinh, bút danh nếu có, quê quán, đang học ở khoa, lớp nào?

- Mình tên là Hòa – Lê Thị Hòa, quê Phố Hiến, học năm thứ ba bên kinh tế đối ngoại. Chưa viết lách gì, nhưng thỉnh thoảng cũng có thể hiện tí chút văn chương nên lũ trong lớp gọi là “Hòa hâm”. Cũng vì “hâm” nên thỉnh thoảng sang bên này đọc trộm báo tường.

- Ta gọi cái gì chứ nhỉ. Hắn nhớ nhiệm vụ trong vai diễn của mình.

- Ba nâu nóng, bánh trứng xốp và mấy phong bánh đậu. Kỷ niệm ngày đầu ta ngồi lâu lâu một lúc - Cái Hiền nói. Cái Hòa chủ động vẫy tiếp viên.

Những tách café lặng lẽ nhỏ từng giọt đen nâu vào cốc, ba mái đầu chụm sát nhau nhâm nhi mấy chiếc bánh và những lời tâm tình trao đổi  khe khẽ rù rì của ba đứa, nghe xào xạc hòa lẫn trong đêm, khi quán đã dần đông.

Trước lúc chia tay Hiền nói:

- Tin nhắn của Hòa vào máy là thế, nhưng trong “bản thảo” sẽ có khác tí chút đúng không?

- Đệ bái phục, bái phục. Quả có thế. Tiểu đệ có mang bản thảo theo đây. Nó trao cho Hiền cái phong bì đã dán kín: “Chuyện tếu táo, pha chút “tiếu ngạo giang hồ”, hai “bác” đừng chấp, đừng giận nhé. Đã là “anh em kết ngãi” thì hãy coi đây là chút kỷ niệm để chơi với nhau cho bền.

Về phòng trọ, hắn đòi xé phong bì đọc ngay. Đọc xong, hắn buông người xuống giường trùm trăn khóc nức nở. Hiền vội vàng cầm lên:

Anh nhớ em

Như con chim chích nhớ con sâu

Như con trâu nhớ đồng cỏ

Như con chó nhớ… cục vàng trôi

Khi ăn, khi ngủ, khi đứng, khi ngồi…

Nhớ em.

Đọc xong Hiền ôm lấy hắn dỗ dành:

- Đây chỉ là một trò chơi thôi mà, vui vẻ, tếu táo, đừng chấp nhặt, cứ vô tư cho đời trẻ trung thêm ngày nào hay ngày đó.

- Tao khóc không phải chấp gì chúng mày mà tao khóc vì tức đời. Tại sao cái câu đó Hòa viết, mày “bắt được”, mà tao lại không nhận ra. Tại sao tao không có được cái thông minh, quái đản của chúng mày. Cùng lứa với nhau, chúng mày thì giỏi giang mà tao thì kém cỏi…

Cái Hiền ôm hắn chặt hơn và thủ thỉ những lời tha thiết như dỗ dành: “Ôi! Cô bé nết na ơi! Da cô trắng, tóc cô dài, dáng cô thanh, mắt cô đẹp, môi cô hồng, mặt cô xinh. Cô đẹp nhất khoa, chúng tôi có dám tị hiềm gì đâu. Còn việc học, việc đọc mình chịu khó chăm chỉ thêm một tí, chịu suy nghĩ thêm một tí rồi sẽ vỡ ra thôi. Đời quái lắm, mà văn chương luôn gắn với đời.

Hắn ngồi dậy, nắm lấy tay Hiền:

- Càng lâu, tao càng hiểu mày hơn. Mày giỏi quá, tốt quá và đáo để nữa. Tại sao chúng mày tên là Hòa, là Hiền mà tụi mày quái thế?

- Rồi đây, mày cũng sẽ quái. Cái Hiền nói như khẳng định.

 

*

*       *

 

Khi tôi đọc truyện này cho cả ba cô gái nghe, cả ba đứa cùng thống nhất đề nghị tôi thêm một câu như sau vào cuối truyện: “Chúng em là ba cô gái, đồng chủ sở hữu số điện thoại 09776864… xin được nhắn hỏi: Các anh có nhớ chúng em?

Nhà sáng tác Vũng Tàu, tháng 4 -2009

 

 

 

 

 

 

 

NGỌC CHÂU 

 

Tôi và Châu cùng đơn vị. Sau chiến tranh, tôi phục viên, lấy vợ quê, làm ruộng. Châu chuyển ngành và cưới cô Lan người cùng làng Huê Cầu với vợ tôi. Thấp thoáng Châu và Lan về thăm quê. Gặp nhau chúng tôi mừng tíu tít. Mỗi lần gặp càng mừng cho bạn khi thấy vợ chồng bạn ngày càng béo khoẻ hơn, vàng bạc trang sức giàu có hơn, phương tiện đi về sang trọng hơn. Cả làng khen Châu - Lan đẹp đôi và hạnh phúc. Nhiều nhà lấy đó làm gương sáng răn con cháu noi theo.

Gái Huê Cầu xưa nay nổi tiếng thạo việc trồng lúa và giỏi việc tằm tơ. Bà xã nhà tôi chăn tằm dệt đũi khéo nhất làng nên hay được đi dự hội nghị, hội thảo trên tỉnh, trên thành phố.

Vừa rồi bà cô mất, Lan về quê một mình, ghé vào thăm chúng tôi. Vợ tôi và Lan lại tíu tít chuyện trò. Nhà tôi khen Lan:

- Mày ngày càng trắng đẹp ra, nhưng hơi bị béo quá đấy. Còn ông Châu nhà mày thì phương phi, phong độ như thanh niên. Chả bù cho ông xã nhà tao gầy quắt queo, ít tuổi hơn lão Châu mà trông dáng đã già nua lụ khụ.

- Mày gặp lão nhà tao bao giờ? Sao lão ấy không kể nhỉ'?

- Hè vừa rồi. Lão đưa con gái út đi thi đại học cùng nghỉ với đoàn chúng tao ở khách sạn Hương Đồng. Con bé rõ xinh, lớn rồi mà vẫn nũng nịu bố như trẻ nhỏ.

- Thôi chết rồi! Con cháu gì, nó là gái bao của lão đấy. Tao có hai thằng con trai đã đứa nào chịu lấy vợ đâu.

Nói rồi, Lan đổ vào vai nhà tôi khóc nức nở.

                                                            Đêm se sắt gió mùa

 


 

 

 

 

 

CÁI TÁT

 

Năm học 1972 - 1973 trường Sư phạm 10+3 nơi tôi công tác nhận khá nhiều thương, bệnh binh vào học. Các anh ấy với chúng tôi - số giáo viên mới ra trường chỉ hơn kém nhau một vài tuổi. Anh nào cũng da tái xanh vì sốt rét; vì thương tật, nhưng ai cũng chăm học; học như đánh vật, như đi cày, ngày đêm miệt mài học để bù cho những tháng ngày bận đánh nhau mà gián đoạn, học để làm gương cho số sinh viên trẻ mới vào trường. Có hàng trăm lời tốt đẹp ngợi ca các anh nhưng tôi không bận tâm nhiều về những biểu hiện đó. Riêng số giáo viên trẻ chúng tôi có chút băn khoăn trong cách xưng hô. Tôi hai mốt tuổi, xuân xanh đang lồ lộ, thế mà trên lớp các anh ấy vẫn “thưa cô” xưng “em” như các sinh viên khác. Gần đây, các anh ấy như muốn thử thách chúng tôi. Tuần trước bạn tôi là Điệp. Điệp dạy toán giải tích, lên lớp bài “Giới hạn hàm số”, sau phần khái niệm, Điệp Điệp yêu cầu sinh viên cho ví dụ. Thế là Ngọc Điệp, một thương binh đang mang mảnh đạn trong đầu xin phát biểu. Anh ta nêu lên gần mười hàm số thuộc các dạng khác nhau và hỏi?

- Thưa cô, các hàm số này có giới hạn không?

Tất nhiên Điệp Điệp phải dùng kế hoãn binh.

- Cảm ơn anh Ngọc Điệp. Các ví dụ anh nêu rất tốt. Cả lớp ghi lại rồi ta sẽ giải quyết vấn đề  này trong các bài sau.

Lại có chuyện Diễm Hằng giảng sử. Hôm ấy Hằng giảng về các triều đại phong kiến Việt Nam. trong đó có phần giảng về các vua triều Nguyễn. Còn năm phút cuối bài, Hằng hỏi:

- Cả lớp còn ai có ý kiến gì không?

Cả lớp im lặng. Chừng một phút sau, anh Quốc Hùng xin phát biểu:

- Báo cáo cô giáo và các bạn, Thành nội Huế cũng hẹp thôi mà xây dựng cũng khiêm tốn. Lăng các vua cũng không to lớn quá đâu. Nhưng mà có ông thợ vẽ, ông gì tôi quên mất tên rồi, vẽ ở lăng vua những bức tranh tuyệt đẹp, mà lại vẽ bằng cả hai tay, hai chân. Tài thế.

Cả lớp nhao nhao.

- Sao anh biết?

Đơn vị tôi là đặc công chuyên hoạt động ở Huế mà. Có nhiều đêm phải ém quân ở các lăng vua.

Diễm Hằng chưa kịp nói gì thì trống hết giờ. Từ đó cả lớp coi Quốc Hùng như thần tượng bởi lẽ hồi ấy đất nước phân tranh, xứ Huế đối với nhiều người chúng tôi còn xa xôi cách trở lắm.

Không ai bảo ai, cánh giáo viên trẻ chúng tôi soạn bài kỹ hơn, các câu hỏi đặt ra chuẩn mực hơn, lời giảng cân nhắc thận trọng hơn.

Lớp học sơ tán ở vùng đồi gò. Mỗi lớp là một lán độc lập bố trí phân tán đề phòng máy bay địch đến bắn phá. Lớp lợp lá, tường nửa chìm nửa nổi, nhưng có cửa lắp bằng ván gỗ để phòng trẻ con vào lớp viết bậy lên bảng.

Cửa lớp do tôi cầm chìa khóa. Hôm ấy trời mưa lắc rắc, đường trơn lầy, tôi đến muộn, thấy cả lớp đã xúm đông trước cửa. Quý đang mắm môi mắm lợi cầm khóa xoay vặn các chiều, hòng làm bong ổ khóa lớp. Tôi chạy đến gần, đang định nhao vào trao cho Quý chìa khóa thì ai đó nói:

- Chết! Anh Quý phá khóa, không sợ cô giáo chủ nhiệm mắng cho à?

- Đ… sợ - Quý vừa nói vừa thở hổn hển.

Đang bực lại nghe câu nói ngang, tôi giang thẳng tay cho Quý một cái tát.

Quý buông khóa, quay lại nhìn tôi, mặt đang đỏ bỗng biến sang tái xanh, gân cổ bạnh ra tay nắm chặt. Quý nhìn tôi lần nữa rồi hai tay buông thõng.

Chuyện cái tát của tôi cũng đến tai thầy Mẫn bí thư Đảng ủy. Thầy gọi Quý lên hỏi chuyện. Anh nói :

- Lỗi ở em thầy ạ. Cả làng em nói tục thành ra em mất nết. Có hôm họp ớ huyện, trong bài phát biểu nói đến nếp sống văn hóa, ông phó Chủ tịch huyện nhắc: “Đồng chí Véc - ông Véc là Chủ tịch xã người làng em - phải bảo bà con, chứ ai đời cả làng, cả xã nói tục thế thì huyện xếp xã yếu về văn hoá đấy”.

Thầy biết ông Véc trả lời sao không? ông ấy nói:

- Báo cáo anh! Hội nghị nào tôi cũng nhắc nhở đấy, nói mãi, nhắc mãi nhưng bà con đ... nghe".

Nói rồi anh Quý xấu hổ, đỏ mặt, gãi đầu, gãi tai, nói thêm:

- Em cũng quen tật xấu này thầy ạ. Vả lại việc đó em và cô giáo đã giải quyết ổn thỏa rồi. Em với cô giáo là đồng hương cùng huyện mà thầy.

Cái tát ấy đã làm xáo trộn cuộc đời tôi. Gương mặt đang đỏ bỗng biến sắc tái xanh, đôi bàn tay nắm chặt rồi buông thõng của Quý cứ ám ảnh tôi. Tôi ân hận và e ngại mỗi lần giáp mặt Quý. Một hôm Quý gặp tôi nói cảm ơn cái tát, nhờ nó mà Quý quyết tâm sửa lỗi. Tôi cũng nói, sau cái tát ấy, tôi đã biết phải làm gì mỗi khi nóng giận. Từ đó chúng tôi trở thành bạn thân.

Ra trường Quý và tôi làm lễ cưới. Bây giờ chúng tôi đã có cháu nội cháu ngoại, nhưng tôi và Quý đối với nhau vẫn thương yêu như thủa ban đầu. Anh ấy là người chồng tốt mà ông giời và số phận đã ưu ái dành cho tôi.

                                         Vĩnh Yên chớm thu

 


 

 

Trần Hải