TẬP TRUNG XÂY DỰNG CON NGƯỜI VỀ ĐẠO ĐỨC, NHÂN CÁCH, LỐI SỐNG, TRÍ TUỆ VÀ NĂNG LỰC LÀM VIỆC!
Từ khóa tìm kiếm Từ khóa tìm kiếm

NHÀ VĂN VĨNH PHÚC HIỆN ĐẠI (Phần 3; Quyển 1)

(Ngày đăng: 19/01/2018, số lượt xem: 41)

 


HOÀNG HỮU

- Họ và tên khai sinh: Nguyễn Hữu Dũng

- Sinh năm 1943

- Bút danh: Hoàng Hữu, Trang Minh Chi

- Quê quán: Đan Hà, Hạ Hòa, Phú Thọ

- Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam

- Hội viên Hội Mỹ thuật Việt Nam, Hội viên Hội Nhà báo Việt Nam.

 

- Tác phẩm chính đã xuất bản:

* Màu cây miền châu thổ (In chung với Nguyễn Tấn Việt)

* Khói ấm sau cây, Hai nửa vầng trăng, Hoàng Hữu – Tác phẩm cùng nhiều tác phẩm đồ họa, bìa sách được giải thưởng trong nước và quốc tế.

- Giải thưởng văn học:

* Giải B cuộc thi thơ của Báo Văn nghệ - Hội Nhà văn Việt Nam 1981-1982.

* Giải thưởng Hùng Vương 1985.

- Suy nghĩ về nghề văn:

“Vầng trăng rất thật kia cũng mới chỉ vầng trăng

Cá quẫy sóng cho tan rồi lắng lại

Để hiện giữa rong rêu chói lói

Một vầng trăng cho cá suốt đời tìm”

                         (Thơ đề tranh cá, 1980)

 

 

 

A - TRONG KÝ ỨC BẠN BÈ

 

HOÀNG HỮU VÀ THƠ HOÀNG HỮU 

Hữu Thỉnh

Hồi ấy, ở Hội Văn học Nghệ thuật Vĩnh Phú tất cả đều nhẹ xốp. Cả đám vừa mới bước sang tuổi tam thập nhi lập. Lớp lớn như Cao Khắc Thuỳ, Nguyễn Hữu Nhàn, Trần Khoát vẫn còn dưới tuổi 40. Cho nên, mọi thứ gánh trên vai cứ nhẹ bỗng. Nghèo cũng nhẹ. Mà khổ cũng nhẹ. Là bởi vì từ cái bếp nhà mình mà nhìn ra xung quanh thì cũng đều ngô khoai sắn như nhau cả. Thời bao cấp tạo cho người ta một sức ì, mọi việc đã có một đấng nào đó lo cho tất cả. Mọi người chỉ còn lo xoay xở trong một cái khung nhỏ của mình thôi. Vâng, ngẫm lại mình đã từng có một thời công bằng vàng son đấy chứ, công bằng của sự nghèo khổ. Cho nên chúng tôi gặp nhau là vui lắm. Và chỉ mong tụ bạ mà đàm xướng trên trời dưới bể, hít thở không khí văn chương, tại cái thành phố nghi ngút khói sương từ ngã ba sông tạt về. À, mà quên, cả khói của các nhà máy nữa chứ. Và, thấm thía hơn là được nếm, được chén thứ tình bạn trong suốt, ngất ngây phải lòng nhau như trai gái vậy.

Kìa, xem Hoàng Hữu đang bày tranh la liệt trong phòng họp. Chả có giá có bục gì cả. Thu dọn bàn ghế vào một góc, rồi kê tranh vào chân tường, đứng xem, ngồi xem, bò xem, khoái thì nằm xếp, chống cằm lên mà ngắm nghía, thưởng ngoạn. Hoàng Hữu khoe mới đi Hương Canh về, vẽ đình chùa, làng quán, có bức vẽ cái ngõ nhỏ với cái đuôi trâu vắt vỏng lên rất dễ thương. Tay này thạo về thuốc nước. Ký hoạ chì than cũng khá, nhưng đẹp nhất vẫn là thuốc nước, lại có cả cắt giấy nữa. Rồi, nảy sang làm bìa. Bao nhiêu bìa sách đẹp của Hoàng Hữu tặng bạn bè. Riêng tôi được một cái, đó là bìa tập trường ca "Đường tới thành phố", chấm phá tài tình dòng thác thần tốc của đại binh ta năm 1975 tiến vào giải phóng Sài Gòn. Đang xem tranh, Nguyễn Cảnh Tuấn với Nguyễn Hà kháo với nhau: Tao mới kiếm cho Hoàng Hữu một món rồi. Anh em xúm lại hỏi, đám nào đấy, ở đâu? Yên tâm, Tuấn với Hà này chọn mặt không phải vừa.

Đang xem tranh, nghĩa là đang đu đưa trên đỉnh trời, bỗng ngồi bệt xuống đất, bàn cái chuyện đời thường lấy vợ cho Hoàng Hữu. Trong chúng tôi, không đứa nào không biết Hoàng Hữu bị đau tim từ lâu. Miệng cười thật bay bổng, sởi lởi, đầy thư sinh tính, nhưng hai làn môi thì lúc nào cũng tím tái. Không ai bảo ai, tất cả đều biết phải lo nhanh những việc đáng lo nhất, cho Hoàng Hữu.

Thế là, một quyết định được đưa ra dứt khoát: Đi xem mặt cô dâu tương lai. Nguyễn Hà đèo Hoàng Hữu về trường cấp III Lê Xoay Vĩnh Tường từ hôm trước. Tôi, Nguyễn Hữu Nhàn, Nguyễn Đài, Nguyễn Đình Ảnh, Kim Dũng về sau. Phải nói cô Minh thu xếp rất khéo, một buổi tiệc ngọt tao nhã mà ấm cúng. Mấy chàng quây quanh chiếc bàn trà nhỏ, gật gù ưng ý. Người thẹn thùng hoá ra lại là Hoàng Hữu. Với một người đảm đang như cô Minh, Hoàng Hữu không còn có việc gì làm, đành ngồi một chỗ, cười trừ. Với tài thao lược của Nguyễn Hà, đám cưới được tổ chức sau đó không lâu, rất chu đáo, và đặc biệt cảm động. Ngoài đám bạn bè văn nghệ, là rất đông các thầy các cô và học trò của cô Minh. Và đặc biệt là có ba vị "thần hộ mệnh" của Hoàng Hữu: Bác sĩ Huy Mai, Phó Ban bảo vệ sức khoẻ của tỉnh và vợ chồng bác sĩ Thắng - Phượng.

Đại sự xong rồi, bây giờ có thể tập trung vào lập nghiệp. Hoàng Hữu từ hoạ, ai chả biết, nay lại bắt đầu mở một cửa hàng mới: Thơ. Thơ in trên Tạp chí của Hội Vĩnh Phú, trong các tập sáng tác và trên các báo chí Trung ương. Mỗi lần gặp, Hoàng Hữu thật thà rất dễ thương, hỏi tôi: "Bác thấy bài ấy của tôi thế nào?". Tôi không phải nghĩ lâu: "Nó trong veo như tâm hồn cậu". Hoàng Hữu khoái, "Thế thì mình cứ thử xem thế nào nhé". "Thử là thử thế nào, cậu sẽ là một thi sĩ". Tôi nói câu ấy không phải là sự bốc đồng mà là sự đánh giá chân thành qua đám chữ nghĩa rụt rè và thành thật kia, tôi mang máng nhận ra một thổn thức rất cần cho một hồn thơ.

Nhưng có điều cũng cần phải công bằng: Thơ Hoàng Hữu buổi đầu còn mang nhược điểm chung của thế hệ chúng tôi, đó là ham kể, ham đưa thật nhiều các chi tiết đời sống, mà ít khái quát; người làm thơ còn nặng về cái thân xác mà coi nhẹ cái thần thái. Và nói theo Chế Lan Viên "Nhiều tiếng súng nổ nhưng ít trận thắng". Trong tâm trạng đó Hoàng Hữu thường ghen tị với tôi "Ước gì tôi cũng được làm lính như bác". Nhưng đàn ông đàn ang mà hai chân cứ lạnh ngắt thế này thì lính tráng thế nào được. Đó là lời tâm sự rầm rì trong một đêm đông rét buốt cuối năm 1980, Hoàng Hữu về ngủ chung với tôi trong căn phòng ngăn đôi ở Trại sáng tác Vân Hồ. Lúc đó tôi còn đang học năm cuối khoá I Trường Viết văn Nguyễn Du, còn Hoàng Hữu vẽ bìa đang ăn khách. Ngày ăn chung niêu cơm trộn mì sợi, tối đắp chung một chiếc chăn mỏng, nhưng chuyện cứ râm ran và tình trai thì bát ngát. Tôi nghe rất rõ trái tim trẻ thơ rộn ràng đập trong một cơ thể cân nặng dưới trung bình của Hoàng Hữu. Một cái gì đó náo nức, cựa quậy, khát khao thay đổi trong anh. Tôi hiểu rất rõ điều đó. Và tôi đã không phải chờ đợi lâu.

Sau hôm Hoàng Hữu đến thăm tôi độ một tuần, một buổi chiều, cũng tại Vân Hồ, Phạm Tiến Duật đạp xe tìm tôi. Bóp phanh dừng xe, Duật nói ngay.

- Cuộc thi thơ của báo Văn nghệ sắp kết thúc. Mình tìm Thỉnh mời vào Ban chung khảo.

- Mình còn đang đi học. Hơn nữa...

- Không "hơn nữa" gì cả. Đây là lời mời của đích thân Tổng biên tập Nguyễn Văn Bổng.

Thế là tôi vào Ban Chung khảo, được làm việc cùng với các anh Xuân Diệu (chánh chủ khảo), Tế Hanh, Phạm Tiến Duật và một số người khác. Hồi ấy, giải thưởng báo Văn nghệ còn rất danh giá. Ban chung khảo làm việc tới hơn 3 tháng, vì phải đọc một khối lượng khá lớn bài từ Ban Sơ khảo đưa lên. Lúc bấy giờ, chiến tranh biên giới phía Bắc đang diễn ra rất ác liệt. Tất cả tiềm lực của đất nước phải dồn lên đấy, để, như lời thề của những người lính "giữ trọn từng tấc đất của Tổ quốc". Không khí xã hội và văn chương lúc đó là như thế. Nhưng, cái hay, cái đẹp thật sự thì bất luận thế nào nó vẫn hiện ra và cuốn hút tất cả. Cứ qua mỗi lần họp, trao đổi, tranh luận, lại đãi ra được những bài khá, những câu hay, ý đẹp. Ôi! Khó khăn sao và thú vị sao là cân nhắc các giá trị. Nhưng cổ lai đã dạy, ở đâu cũng và lúc nào cũng không tránh nổi một chữ THỜI. Trong mấy cuộc họp liền, tôi lưu ý Ban Chung khảo trường hợp Trần Đăng Khoa với chùm thơ khá sớm về Trường Sa, về Hoàng Hữu với Hai nửa vầng trăng và Đinh Nam Khương với bài Từ những dấu chân người. Anh Xuân Diệu cứ nắc nỏm khen mãi câu của Đinh Nam Khương.

Lúa đi để lại tháng mười

Và cơn gió thổi rỗng trời ở trên

Trần Đăng Khoa viết về Trường Sa mới mẻ và đầy khẩu khí. Sau này có lần tôi nói rằng, Trường Sơn thiên vị Phạm Tiến Duật và Trường Sa ưu đãi Trần Đăng Khoa. Khoa có cả một vốn quá khứ thơ lộng lẫy, nên được lưu ý ngay. Nguyễn Đình Chiến vừa từ biên giới về, xúc động về sự hy sinh của các cô tự vệ nông trường. Riêng Hoàng Hữu thì khó khăn hơn. Phải tính đi tính lại mãi, cuối cùng tiếng nói của lớp trẻ trong Ban Chung khảo đã được chấp nhận. Vấn đề là ở chỗ, người ta đang đổ máu thế kia, nay tôn vinh một bài thơ tình dang dở, có nên chăng? Cuối cùng nhà vô địch thơ tình Xuân Diệu kết luận "Biết đâu, một trong những cái còn lại của cuộc thi này lại là Hai nửa vầng trăng của Hoàng Hữu". Với Hoàng Hữu, Hai nửa vâng trăng là một sự đột phá. Là bứt lên. Là tự thắng. Là bởi vì trước đó, thơ anh còn ở dạng bị động. Nghĩa là thường bắt đầu từ sự, từ cảnh rồi mới đến tình. Lấy bài Đưa con về chúc Tết là một bài thơ khá cảm động của anh trước đó, thì rõ. Bài thơ nói cảnh sum họp, nào là vui mừng, trách yêu, âu yếm, nhớ người nơi biên giới. Có những chi tiết khá cảm động: Cả nhà ngồi một xe/ Lưng cha che gió rét.

Những hình ảnh rất đắt:

Bây giờ bà đi xa

Cả nhà không được gặp

Dàn trầu xanh héo hắt

Bám hờ trên tường vôi

Nhưng bài thơ bị doãng ra bởi "chiếc phanh của dồn nén" còn cảm tình nể nang thả cảm xúc rong ruổi nhiều quá. Ánh sáng của bài thơ bị tản ra nhiều phía, thiếu tập trung. Đến Hai nửa vầng trăng thì khác, anh thay đổi trật tự: Sự, cảnh, tình, sang tình, sự , cảnh. Sự chủ động của cái tôi thật đáng quý, mở đầu là đi vào trung tâm của bài thơ:

Tình cờ anh gặp lại vầng trăng

Một nửa vầng trăng thôi, một nửa

Trăng vẫn đấy mà em xa quá

Nơi cuối trời em có ngóng trăng lên

Và cứ thế, cái tứ "Một nửa vầng trăng thôi, một nửa" cứ được đẩy lên mãi, theo từng nấc từng bậc của tâm trạng. Xót xa, nuối tiếc, biết bao thương nhớ trôi dạt về vùng của chia xa:

Nắng tắt đã lâu rồi, trăng thức dậy dịu êm

Trăng đầu tháng có lần em ví

Chữ D hoa như vầng trăng sẻ nửa

Tên anh như nửa trăng mờ tỏ

Ai bỏ quên lặng lẽ sáng bên trời.

 

Ơi vầng trăng theo con nước đầy vơi

Trăng say đắm dào trên cỏ ướt

Trăng đầu tháng như tên anh chẳng thể nào khác được

Trăng cuối tháng như đời anh hao khuyết

Em đã khóc

Trăng từng giọt tan vào anh mặn chát

Em đã khóc

Nhưng làm sao tới được

Bến bờ anh tim dội sóng không cùng.

 

Đến bây giờ trăng vẫn cứ còn xanh

Cứ một nửa như đời anh, một nửa

Nhưng trăng sẽ tròn đầy, trăng sẽ...

 

Trăng viên mãn cuối trời đêm đêm em có nhớ

Mặt trăng từng khuất nửa ở trong nhau

Chừng như cảm thấy xa xót quá, nên trước khi kết thúc, tác giả cố ý chen vào hai câu:

Nhưng trăng sẽ tròn đầy, trăng sẽ...

Trăng viên mãn...

nhưng vẫn không thể chút nào làm mờ nhoà được cái ấn tượng "Một nửa vầng trăng thôi, một nửa" nó đay đi đay lại, nó như bào, như xát vào gan ruột người ta. Và đấy là thành công, là hiệu quả nghệ thuật của bài thơ. "Một nửa vầng trăng thôi, một nửa", cái dở dang vĩnh viễn của Hoàng Hữu đánh thức cái dở dang của mọi kiếp người, khiến tôi nhớ đến câu ca dao vô cùng tài tình của xứ Nghệ: "Đôi ta xa nhau cả thiên hạ đều buồn". Hai nửa vầng trăng làm nên Hoàng Hữu, một Hoàng Hữu của biết bao nhiêu cảm tình, cảm thương, cảm phục của người đọc. Sau bao nhiêu năm tháng , giờ đây mỗi lần đọc đến câu "Trăng cuối tháng như đời anh hao khuyết", lòng tôi lại nức nở xót xa một thân phận, một kiếp người, trong suốt và mỏng manh đã đến với ta trong cuộc đời này. Một câu thơ định mệnh. Tháng 8 năm 1981, Hoàng Hữu viết bài thơ ấy gửi thi và lĩnh giải, ít lâu sau thì anh mãi mãi ra đi. Than ôi, vừa tròn 37 tuổi!

Nhớ lại cái đêm rét buốt nằm đắp chung chăn ở Vân Hồ ấy, Hoàng Hữu kể với tôi xuất xứ bài thơ Hai nửa vầng trăng. Có nguyên mẫu đấy. Anh vừa kể vừa quay mặt vào tường, gạt thầm nước mắt, đôi chân gác một nửa cái lạnh buốt sang tôi.

Mới đó mà đã 35 năm, cái ngày định mệnh tai ác ấy. Chúng tôi một lũ bạn nức nở đi sau linh cữu của anh Hoàng Hữu. Một con người tài hoa mà khi sống, trong như gương, dịu như trăng, hiền như cây, run rẩy, gượng nhẹ từng cử chỉ nhỏ. Một con người yêu quý tất cả, và cũng được đền bù tất cả. Tôi tin rằng Hai nửa vầng trăng sẽ là bài thơ bất tử. Bài thơ của Hoàng Hữu, bạn tôi. 

H.T

Hà Nội, ngày rét sót 4 tháng 3 năm 2016

 

 

 

 

 

 

KHI HỌA SĨ DÙNG CỌ LÀM THƠ

 Thái Doãn Hiểu

 

Hoàng Hữu là một nghệ sĩ đa tài: thơ hay, vẽ giỏi.

Hãy xem họa sĩ Hoàng Hữu vừa vẽ vừa làm thơ về các nàng thôn nữ xuống tắm hồ sen đêm trăng khi anh làm nhiệm vụ sao chép lại các bức phù điêu ở đình làng, chuẩn bị cho cuộc tái thiết sau chiến tranh:

Suốt một ngày tay cuốc tay liềm

Giờ khỏa nước ngón xòe nõn búp

Trăng loáng chảy ướt ròng khuôn  ngực

Chút ngập ngừng cong lẳn sáng bờ vai

Tay vin cành, hoa đấy áo người đâu

Cổ ba ngấn ngẩn ngơ chiều hương lúa

Màu đen thẳm tóc mây lại tỏa

Hương thầm thì mờ tỏ đêm sen

Sóng dào lên sáng ánh tay em.

(Mỉm cười trên giấy điệp)

Cũng sexy đấy mà trời, sao nhã quá. Thật là thanh thoát, lung linh, buông thả mà kín thầm, đẹp và thơ, cần lao với mộng mị… Nhà thơ đang vẽ mà! Thân thể trần truồng của người đàn bà là vẻ đẹp vĩnh hằng, xác tín của tạo hóa ban cho con người. Các thiên tài văn hóa đã viết vẽ, về nó. Tôi bỗng nhớ đến Nguyễn Du qua cặp mắt trăm trô của kẻ si tình Thúc sinh ngắm nàng Kiều tắm (1), nhớ tới cái dùng dằng thao láo thèm lẻm của mấy gã chính nhân quân tử trước vẻ khêu gợi toàn cảnh… thiếu nữ ngủ ngày trong thơ Hồ Xuân Hương (2), nhớ đến vẻ đẹp thần bí, vương giả trong Tranh lõa thể của Bích Khê (3). Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương tả trực diện, Bích Khê tả trong tranh mà tĩnh, Hoàng Hữu tả qua tranh khắc gỗ dân gian mà động. Nguyễn Du tự nhiên chủ nghĩa nhưng hào hoa, Hồ Xuân Hương táo bạo, tinh quái và kích dục. Hoàng Hữu dân dã mà thánh thiện. Tất cả đều đẹp, đẹp mỗi người một vẻ dưới ngòi bút ước lệ tượng trưng (Nguyễn Du, Bích Khê), hay tả chân hiện thực (Hồ Xụân Hương, Hoàng Hữu). Trong những vẻ đẹp quyến rũ lành mạnh như một tín ngưỡng đó, theo tôi, bức của Hoàng Hữu thần bút hơn cả, bởi anh hơn hẳn các cụ, anh là nhà-thơ-họa-sĩ. Anh “nhìn” được đối tượng mô tả từ hai phía.

Trong thơ Hoàng Hữu có họa, trong họa Hoàng Hữu có thơ. Hai loại hình nghệ thuật này luôn luôn hài hòa bổ túc cho nhau tạo nên mặt mạnh nhất trong thi phẩm và họa phẩm của anh. Thơ Hoàng Hữu tinh tế, thâm thúy. Những vật vô tri qua tay anh đều sống dậy có linh hồn:

Vầng trăng rất thật kia cũng mới chỉ vầng trăng

Cá quẫy sóng cho tan rồi lắng lại

Để hiện giữa rong rêu chói lói

Một vầng trăng cho cá suốt đời tìm.

(Thơ đề tranh cá)

Đó phải chăng đó là tuyên ngôn nghệ thuật của Hoàng Hữu?

Hồn pha mây pha sương

Bút màu không kịp vẽ

Chú bò lưng đốm lửa

Khép chiều trong ngõ quê.

(Quê đồi trong ký họa)

Bức tâm cảnh quả là một bài ca không lời. Người viết giỏi là người viết được cái không viết. Phần đẹp nhất của cái đẹp là cái mà không một tác phẩm nghệ thuật nào có thể diễn tả nổi.

Sao thả neo vàng chật bến đêm

Gió lùa trong vắt, nhịp nhàng êm

Lim dim lửa đỏ nhòe khoang lái

Ngỡ mặt trời quên ngủ dưới thuyền.

                           (Bến đêm)

Lá non chưa vội mở

Gấp gáp nhựa lên cành

Cháy bùng lên đuốc lửa

Sáng kịp mùa xuân xanh

            (Hoa gạo)

Là nhà thơ kiêm họa sĩ, Hoàng Hữu đã không hướng vào việc là thế nào phơi bày trước mắt bạn đọc những hình ảnh bề nổi tầm thường về cuộc sống, mà cố gắng làm sao để đưa lại cho bạn đọc một sự tái hiện đầy đủ, bao quát, có sức thuyết phục hơn về cuộc sống so với bản thân hiện thực.

Người trần tục thể hiện thế giới như mắt họ nhìn thấy. Nghệ sĩ nhạy cảm thể hiện thế giới như họ suy nghiệm. Người thợ ảnh chớp con người bề ngoài trong máy ảnh, còn người nghệ sĩ phô bày những nét phức tạp bên trong con người, kể cả những bí ẩn của con người đó nữa.

Hội họa chẳng qua là bí quyết dùng cái hữu hình để diễn đạt cái vô hình. Còn thơ dùng cái vô hình để diễn đạt cái hữu hình. Họa sĩ hay nhà thơ không trình bày những gì trông thấy mà biểu hiện những gì sẽ được thấy. “Nghệ thuật hay ở chỗ vừa giống vừa không giống. Không giống thì dối đời, giống quá thì mị đời” (Tề Bạch Thạch).

Nếu hội họa là bức tranh để xem hơn là để cảm, và thơ là bức họa để cảm hơn là để xem thì Hoàng Hữu đã nhuần nhuyễn kết hợp hài hòa được cả hai. Nắm lấy triết học mà sáng tác, Hoàng Hữu đã lèn được thơ ca vào các giới hạn chật hẹp của hội họa và đem hội họa lấp đầy cả lĩnh vực thơ ca.

Danh họa Nguyễn Gia Trí bảo rằng, ông đã qua gần cả đời hiện thực mới dám mon men đến trừu tượng. Thơ Hoàng Hữu sương khói, mong manh ảo huyền ít bám vào hiện thực “hồn pha mây pha sương” là đang “mon men” đi theo xu hướng này? Lãng đãng sương khói là nét riêng định hình của Hoàng Hữu.

Khi anh  lắng nghe:

Chiều chìm tím ngọn bàng thưa

Lặng lờ lá rụng ngẩn ngơ cành gầy

Là khi hạt nắng chót ngày

Dồn cho sao biếc cháy đầy mình hoa.

                 (Là khi)

Khi anh nhìn ngắm:

Má bừng chín giữa khăn choàng gió

Tựa trái mùa đông ấm mắt nhìn.

(Ký họa sông Đà)

Lắc thắc mưa rơi mướt bí bầu

Cái màu hoa ấy nhớ về nhau.

(Mưa đôi bờ tháng Chạp)

Là người biết phải kết thúc sự nghiệp quá sớm, cảm thấy chung cục sắp đến gần, Hoàng Hữu cố níu kéo một cái gì đó của sự sống thật lưu luyến, hướng nó vào vĩnh cửu để dành lại cho mình.

Đôi bờ tháng chạp màu hoa nhắc

Mưa để lòng cau thắm với trầu.

(Mưa đôi bờ tháng Chạp)

Mây núi xòa chông chênh hơi rượu tan

Hoa thắm lại, chiều dễ gì tắt được.

(Năm ấy hoa bìm)

Tôi cùng sóng bước heo may gió

Cỏ mén hơi sương mướt lối vào

…Trái tim đập suốt mùa mưa bão

Trời nối vào thu tự lúc nào.

(Một mình cuối vườn thu)

Thơ Hoàng Hữu chuẩn xác, sâu lắng, đẹp và ý nhị. Anh tả mưa “Mưa cứ thả vào đêm từng hạt nhớ” (Đêm nay nhớ bạn một vùng than). Anh viết về gió “Ngọn gió lật chiều sang hướng khác – Vòi vọi trên đầu đám mây khô khốc” (Không đề III). Anh viết về nắng “Nắng thơm mùi quả chín lúc đang trưa”. Anh ghi nhận về thời gian “Chiều xanh xanh đến thẫn thờ - Không em. Liễu cứ bên hồ đợi anh” (Thị xã không em). Anh diễn tả cái lạnh không mùa “Rét ngọt chừng chưa qua - Tần ngần trong ruộng mía – Còn băn khoăn chi nữa – Cây đã đầy mật thơm” (Tháng Giêng, chiều đất bãi). Anh viết về cái khắc khoải của nỗi nhớ “Mặt trăng từng khuất nửa ở trong nhau” (Hai nửa vầng trăng). Anh giãi bày tâm trạng của mình trong “Chạm vào lá biết tay mình se giá” (Không đề IV). Anh gửi tấm lòng trong “Cánh buồm nhuận sắc đất đai - Gửi người đi nối chân trời khát khao” (Hát tặng chân trời). Anh trân trọng nâng niu “Chẳng ai nỡ hái chung nhau ngắm - Một chút làng xanh giữa đảo mờ” (Làng đảo). Anh gửi tình yêu nồng nàn trong “Màu khói ấm qua mưa dầm tháng Bảy - Tỏa mơ mòng như ánh mắt anh đây” (Khói ấm)…

Hoàng Hữu viết như người trong mơ. Nó là thứ thơ mộng mị, có bóng mà không có hình, tạo chất ảo tác động vào cảm giác chứ không phải vào trực giác. Thơ anh có ma lực thôi miên cuốn hút người đọc mạnh đến mê người. Hai nửa vầng trăng được Hoàng Hữu viết giữa hai cơn đau của cơn bệnh phù phổi cấp nên giọng thơ mới da diết hối thúc đến thế:

Nắng tắt đã lâu rồi, trăng thức dậy dịu êm

trăng đầu tháng có lần em ví

chữ D hoa như vầng trăng sẻ nửa

tên anh như nửa trăng mờ tỏ

ai bỏ quên lặng lẽ sáng bên trời.

Ơi vầng trăng theo con nước đầy vơi

trăng say đắm dào trên cỏ ướt

trăng đầu tháng như đời anh chẳng thể nào khác được

trăng cuối tháng như đời anh hao khuyết

em đã khóc

trăng từng giọt tan vào anh mặn chát

em đã khóc

nhưng làm sao tới được

bến bờ anh tim dội sóng không cùng.

(Hai nửa vầng trăng)

Trong nghệ thuật, điều kỳ diệu là đến một vầng trăng Hoàng Hữu tả thì nó vừa là trăng tròn khuyết mà cũng là chìm nổi đời anh. Khi đã vào nghệ thuật, cái đẹp không còn là cái đẹp riêng lẻ nữa, vì tự cái đẹp đã nằm trong cái đẹp. Sáng tạo là con đường giải thoát thênh thang khỏi mọi khổ đau trần thế, là sự bay bổng cuộc đời người nghệ sĩ. Trong sáng tạo nghệ thuật, tính quy luật được bộc lộ như một cái gì rất ngẫu nhiên. Điều còn lại mãi mãi là tình người trong thơ. Chính tình người, tình đời đã giúp nhà thơ vượt qua những sóng gió của cuộc đời.

Thơ khó thứ nhất là thần. Dường như Hoàng Hữu đã vượt qua được cửa ải đó. Tôi không có dịp được tiếp cận với tranh Hoàng Hữu nhiều nên không thể hình dung được các họa tiết ra sao nhưng tranh của anh hẳn có thần. Các bức Hoa bèo, Ngõ quê, Hái chè… trong cuộc triển lãm tranh tại 16 Ngô Quyền, Hà Nội tháng 7-1976 đến giờ vẫn còn gây ấn tượng tốt đối với giới hội họa. Chả thế  mà anh được hàng loạt giải cao về đồ họa trong và ngoài nước. Hoàng Hữu lại gây ấn tượng, có biệt tài sáng tạo bìa sách. Trong lĩnh vực thơ ca, Hoàng Hữu đã thành tựu vượt trội hơn cả hội họa. Hoàng Hữu cũng không ngờ khi anh nằm xuống, năm sau (1982) giải Nhì cuộc thi thơ Quốc gia của báo Văn nghệ lại trao cho Hai nửa vầng trăng – bài thơ tình của anh vào loại hay nhất thơ tình Việt Nam – bài thơ mà Xuân Diệu trong Ban Chung khảo cứ đòi tặng cho được giải Nhất! 

Hoàng Hữu bị đau tim bẩm sinh và hơn một lần đại phẫu. Mang trái tim thương tích đã mổ xẻ luôn linh cảm về sự hạn hẹp của thời gian, biết mình mệnh yểu, Hoàng Hữu tranh thủ sống, cấp tập viết, vẽ bằng một nghị lực lớn. Nằm xuống ở tuổi 37 (1945-1981)  - tuổi húy - tuổi tam thập nhi lập, định mệnh khắc nghiệt thật là ngắn ngủi, vội vã, đầy nuối tiếc!

Người xa phơ phất hồn lau gió

Thổi trắng chân đồi như khói pha.

(Hoa lau trường cũ)

Nazim Hikmet cũng bị đau tim - lại phải sống lưu vong nữa - thường than “Ôi những người cực tốt – Trái tim thường hay đau”.

Nhà thơ - họa sĩ  Hoàng Hữu đã khuất. Một sự nghiệp đầy hứa hẹn đột ngột kết thúc ngay giữa lúc ban đầu! Thương lắm đầu xanh tuổi trẻ với dang dở một tài hoa. Trái tim nghệ sĩ của anh vẫn còn đập nhói buốt trên những trang giấy đã ố màu thời gian.

 

T.D.H

 

--------------------------

(1) Nguyễn Du:

Rõ ràng trong ngọc trắng ngà

Dày dày sẵn đúc một tòa thiên nhiên

 

(2) Hồ Xuân Hương:

Yếm trúc chải cài trên mái tóc

Yếm đào trễ xuống dưới nương long

Đôi gò bồng đảo sương còn ngậm

Một lạch đào nguyên suối chửa thông.

 

(3) Bích Khê:

Nàng ở mô! Xiêm áo bỏ đâu đây

Đến triển lãm cả tấm thân kiều diễm

Nàng là tuyết hay da nàng tuyết điểm?

Nàng là hương hay  nhan sắc lên hương?

Lệ tích ngọc tích sắp hai hàng đũa ngọc

Đêm u huyền ngủ mơ trên mái tóc 

Vài chút trăng lay động ở làn môi.

 

                                              Chợ Lớn, 1991

 

 

 

 

 

 

B - MỘT SỐ TÁC PHẨM TIÊU BIỂU

1. Thơ

 

ĐÊM VEN SÔNG 

 

Đêm yên lành, đêm như bao đêm

Bếp nhà ai cay cay mùi khói

Ngọn lửa có điều chi như muốn nói

Với người nào xa lắm phải không em?

 

Ếch kêu hoài rộn rã một mùa chiêm

Lúa trăn trở ngoài xa đồng năm tấn

Con tu hú đang gọi mùa vào nắng

Nghe thóc vàng rực rỡ sân phơi.

 

Sóng ngoài xa cần mẫn đầy vơi

Lớp sóng đỏ nói những lời giản dị

Cả một đời phù sa không ngơi nghỉ

Vất vả yêu thương bên lở bên bồi.

 

Sau gian nan vẫn đều đặn tiếng còi

Tàu ngược xuôi đâu quên chào xóm nhỏ

Đêm ven sông bỗng sao mà thương nhớ

Nửa nước mình súng nổ sáng đêm thâu.

 

Đêm yên lành và đêm rất sâu

Thương đất nước mấy ngàn năm chưa nghỉ

Vẫn thao thức bình minh trong mắt ngủ

Hoa gạo bồi hồi cháy mãi một ven sông...

                                     Chí Chủ tháng 4-1970

 

 

 

 

 

TIẾNG GÀ 

 

Bom siêu âm giặc ném xuống Việt Trì

Thành phố đỏ trong tầm pháo bắn

Tôi chợt nghe đều đặn

Tiếng gà,

Như thường lệ, thắp một trời ánh sáng.

                                                  1972

 

 

 

 

 

 

HOA GẠO 

 

Lá non chưa vội mở

Gấp gáp nhựa lên cành

Cháy bùng lên đuốc lửa

Sáng kịp mùa xuân xanh.

       1974

 

 

 

 

 

 

 

NGỌN GIÓ QUA LÀNG 

 

Có thể nào vùng đất bãi vắng em

Vắng ngọn gió qua làng không nhìn thấy

Thì anh biết làm sao hương thức dậy

Tự trong lòng hoa đi.

 

Nụ hoa xòe lấm tấm giêng hai

Hương chanh thức vườn nhà đêm trở rét

Bóng mẹ gầy, gió vào lay lửa bếp

Hương thầm len từng mũi kim khâu.

 

Gió qua làng, gió chẳng dừng lâu

Cũng phảng phất cái duyên đất ải

Nghe tiếng em, anh biết gió vòng qua mé bãi

Ngan ngát đường xoan hoa.

 

Tháng Năm, ngày dằng dặc lưng đê

Dây điện dăng dăng nở từng bông sứ trắng

Ngọn gió thổi những ngày hoang vắng

Về dạo đàn vui xóm đê ta.

 

Đến với làng gió lại đi xa

Đồng đất nhớ cái heo may, nhớ thế!

Sắp tết rồi lại xạc xào tiếng mía

Khói mật lò gió đến cũng thành hương.

                               Yên Lãng, 9-1973

 

 

 

 

 

 

 

 

GỬI MINH

 

I

Mình anh thức với đêm sâu

Với lưa thưa gió hàng cau cuối vườn

Đêm chừng như cũng sâu hơn

Cùng anh trở lại cô đơn những ngày…

Xa rồi. Gió trở đầu cây

Anh nghe búp mở hương bay khắp vườn

Phải em? Bên ấy Vĩnh Tường

Nhớ về anh, để một vườn gió lay?

 

II

Vì hương mà ngọn gió bay

Vì xanh lá mở mà ngày nắng lên

Thương em dằng dặc là đêm

Ba thu dồn lại nhớ em là ngày

Anh đi sông rộng núi dài

Là cùng em để ngày mai đến gần.

 

III

Vườn mình chưa sáng đài hoa

Lá chưa xanh đã bão xa đổ về

Một chiều chống mấy chiều che

Có cùng anh chắn bão về không em?

 

IV

Bão qua mùa, bão sẽ tan

Vườn ta nắng mãi xanh tràn, em ơi!

                     Vĩnh Tường – Việt Trì

              

 

 

 

 

 

 

 

THÁNG GIÊNG, CHIỀU ĐẤT BÃI

 

Tháng Giêng, chiều đất bãi

Lượn thầm ven bờ đê

Đất màu đang vào ải

Đã lay phay mưa về.

 

Giờ này ngoài chân tre

Măng thầm thì mở đất

Sóng à ơi bãi mật

Đấy lời ngô bồng con (*)

 

Đất hồng hào bến sông

Em ra lò gạch chín

Cánh buồm vừa đến hẹn

Vẫn nâu sồng sắc quê

 

Rét ngọt chừng chưa qua

Tần ngần trong ruộng mía

Còn băn khoăn chi nữa?

Cây đã đầy mật thơm.

 

Cành gạo cao đầu thôn

Vẫy người đi trả phép

Nhấp nhô như lộc biếc

Xanh xanh chiều tháng Giêng

 

Lặng thầm trải bao đông

Xoan gầy như dáng mẹ

Rễ tảo tần chắt nhựa

Thương dồn lên búp non.

 

Khói trầm trên mái rơm

Phải lời cha dặn dẽ?

Đất ông bà cội rễ

Suốt đời thương cháu con. 

                   Bích Chu, 1975 

(*) Mượn chữ của Vũ Đình Minh

 

 

 

 

 

 

 

 

GỬI CHO CON     

Nhớ Thủy Trang và Yên Chi

 

Đêm về, trăng cũng vừa lên

Cho con quả thị chín mềm, cho con

Trăng là chiếc bánh đa thơm

Còn cha? Biển vắng hai con trăng là…                  

                    Trung tâm cấp cứu BV Việt Trì, cuối 1981

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

ĐƯA CON VỀ CHÚC TẾT 

 

Sáng mồng Hai đưa con

Về Lý Nhân chúc Tết

Cả nhà ngồi một xe

Lưng cha che gió rét.

 

Mới đến đầu ngõ sâu

Đã nhận ra khói bếp

Nắng hửng trên lá trầu

Đàn sẻ bay lách chách

Cây đào chưa nở hết.

 

Bác dang tay đón con

“Ồ bé Trang chút chít”

Con sà vào ngực bác

Dũi đầu trên áo nâu.

 

Ôi những năm đạn bom

Bầu trời xanh se thắt

Mái lán nép vào cây

Hầm chữ A kề bếp

Mấy trận bom cấp tập

Phía Việt Trì dội sang

Đất hầm rơi lấm tóc

Con tôi nào biết được

Những chiều bà đợi cơm.

 

Bây giờ bà đi xa

Cả nhà không được gặp

Dây trầu xanh heo hắt

Bám hờ trên tường vôi.

           

 

 

 

 

 

MẸ TÔI

 

Xe con qua làng cũ

Chẳng thể dừng mẹ ơi !

Vẫn con đường đất đỏ

Khói lên xanh chân đồi.

 

Đã sang năm thứ mười

Con chưa về gặp lại

Mẹ ơi! Vườn chè tươi

Lòng tay con thơm mãi.

 

Nhớ ngày con ốm dậy

Cơm chẳng có gì hơn

Mẹ kho niêu tép mại

Còn giã thêm cối vừng.

 

Con đã qua bao rừng

Mùa khô lòng suối khát

Lại thương giếng đồi mình

Nước sâu hơn chục thước

Chiếc cần chưa kịp buộc

Mẹ lưng còng, mẹ ơi!

 

Vị khói thơm chè đồi

Mãi đến giờ vẫn chát.

 

Từng có mùa đông rét

Đơn vị dời vào hang

Hơi đá lùa như cắt

Con dồn phân dơi đốt

Nồng cay mùi đạn khét

Khói lên không gặp trời.

 

Con cuộn tròn võng nhớ

Bếp trấu chiều mẹ ủ

Có còn thơm khói lên?

 

Qua rất nhiều đạn bom

Suốt dọc dài đất nước

Ở đâu con cũng gặp

Mẹ lặng nhìn đôi mắt

Ngời ngợi màu lửa quê.

 

Bền bỉ màu lửa quê

Thức bao đời giữ đất

Chiều nay làu bóng giặc

Như mọi chiều lửa thắp

Khói lên xanh chân đồi.

 

Khói lên, kìa mẹ tôi !...

                     10 - 1975

 

 

 

 

 

 

 

 

CẢNG SÔNG 

Tôi biết nói gì thêm trước cửa sông này?

 

Con tàu xanh trưa nắng lim dim

Tiếng chân vịt chìm trong xoáy nước

Búa dội lảnh đanh trên trụ thép

Cầu băng chuyền cắt ngang nền mây

Gỗ nứa bồng bềnh, than, xi măng và phốt phát

Xe ben bay trong lốc bụi cồn

Cánh buồm đợi, gió lồng như khát

Cửa sông dăng sương khói chân trời.

 

Vẫn còn đây dấu tích của một thời

Hố bom chìm cỏ lấp

Vết đạn toác trụ cầu, hầm bê tông sập nát

Con phà kia lửa táp một bên sườn

Và máu đổ

         Tôi chỉ còn thấy được

Trên khắp cột buồm đỏ thắm cờ bay.

Tôi biết nói gì thêm trước cửa sông này?

Tôi gặp lại bạn bè trong hơi ấm lòng tay

Vẫn nụ cười xưa, áo màu rêu cũ

Trên gương mặt nhẻm than, tôi tin ngọn lửa

Sẽ bắt đầu từ đôi mắt kia

Cùng tiếng hát của một thời gian khó

Xanh nguyên đến tận khoảng trời nay.

Mỗi người sẽ hình dung theo cách riêng

Về bến cảng mai sau và xa nữa

Đài kỷ niệm tạc vào ráng đỏ

Nhà cao tầng, cần cẩu quay trong gió

Con tàu trắng, con tàu xanh… bao con tàu đi, ở

Mỏ neo thắm phù sa thềm đất cổ

Nối chân trời say trong cánh buồm bay.

 

Tôi biết nói gì thêm trước cửa sông này?

                               Ngã ba Hạc, 9-1976

 

 

 

 

 

 

THÁNG NĂM 

 

Tháng Năm chật tiếng ve sôi

Tháng Năm thương đến rộng dài hương sen

Cữ này ong óng nắng chiêm

Lúa uốn câu chạm tay liềm chưa em?

Hạt vừng chắc đã bùi thêm

Quả chanh chua vỏ mọng mềm lòng tay

Ớt vườn chín đỏ ngọn cây

Nồng oi lắm để ngọt đầy lòng dưa

Dây gầu em nối thêm chưa?

Đầm sâu trăng cạn đương mùa nắng khan

Sấm non chẳng thể chớp nguồn

Mưa ngoài biển để nắng dồn lên quê

Tháng Năm thơm ngọt cho kề

Lại cho xa của mùa hè khát khao

Trăng quầng đợi nhịp gầu chao

Em ơi, nào tưới mưa vào tháng Năm…

                                  Thổ Tang, 1976

 

 

 

 

 

 

 

 

NĂM ẤY HOA BÌM BỊP 

             Xin bạn đọc quên điều đã đọc

 

Năm ấy hoa bìm tím thế này không?

Tôi chợt hỏi, hoa ơi đừng lạ nhé

Chiều xuống chạm ngọn cây thong thả

Lòng rưng rưng trước sắc thắm hoa bìm.

 

Trên đỉnh ngàn thước này tôi đâu ngỡ gặp em

Rừng thảng thốt hơi mưa hơi nắng

Hoa mỏng mảnh như xưa buông trên tầng đá xám

Ẩn chút buồn sâu kín mới phôi pha.

 

Ngỡ cánh hoa trong nhật ký đã khô

Dòng chữ khắc trên tường rêu phủ

Trời đăm đắm mười năm nguyên khung cửa

Sao còn lay động mãi cánh hoa bìm

 

Mây núi xòa chông chênh hơi rượu tan

Hoa thắm lại, chiều dễ gì tắt được

Câu thơ cũ đầy nguyên lại rót

Năm ấy hoa bìm tím thế này không?

                                  Tam Đảo, 1976

 

 

 

 

 

 

 

 

MỘT VÙNG MÍA BÃI

 

Sau bao ngày nhớ mong

Anh lại về đất bãi

Se se trời gió thổi

Thênh thang triền mía xanh.

 

Vắt ngang mùa heo hanh

Mía chật đường đá trắng

Nắng sau mưa chín ửng

Mát thơm mùi rượu cay.

 

Gặp gió đùa trong cây

Mách anh người hay hát

Ngọt lừ dao em chặt

Hương dâng đầy đôi tay.

 

Mùi men, mùi men say

Mía thơm ra tận vỏ

Theo em về cuối ngõ

Nón trắng chìm sau cây.

 

Ơn mật vàng lòng tay

Uống từng trưa nắng rát

Đất, em bồi ấm gốc

Lặng từng cơn bão tan.

 

Heo may chừng đằm hơn

Nối thêm từng đốt mía

Tối ngày em bóc lá

Tay bồi thêm lớp chai.

Nắng cuối chiều vàng khay

Lại xa miền đất bãi

Cầm tay, thương, chẳng nói

Ngọt ngào dăng bốn bên.

                     Vĩnh Thịnh, tháng 9 - 1976

 

 

 

 

 

 

 

TRỐNG ĐỒNG TRÊN ĐẤT ĐAI TRUYỀN THUYẾT

 

Trống đồng sau lớp đất vùi

Vẫn ban mai một mặt trời đang lên

Nét cổ sơ vẫn tươi nguyên

Khi bay vút lại thanh mềm nét buông.

 

Vua tôi cày cấy ven sông

Con cò lặn lội bạn cùng hôm mai

Chày khuya thậm thịch đêm dài

Hội mùa trăng đã xế ngoài mái hiên.

 

Một thời trai gái trao duyên

Chiếc vòng tay với chiếc khèn làm tin

Đêm dựng nước sáng tiếng chim

Bay trên chớp lửa hót trên núi Hùng.

 

Một thời giặc giã khôn cùng

Trống đồng giục mũi tên đồng vút lên

Sóng tung lấp lóa chiến thuyền

Sông sâu từng đã nhấn chìm giặc tan

Chiêm mùa lúa cháy thành than

Đá thương người đá bồng con ngắm chồng.

 

Lưỡi gươm khắc tấm gương chung

Con voi phản phúc tìm dòng máu loang

Cho liền mạch đất cha ông

Mái tranh kề mái cây chung đất dầy.

 

Ơn người thợ khéo bàn tay

Ngày đêm tâm huyết dồn đầy nét hoa

Trải bao hưng phế chẳng nhòa

Nét ăn ở với cửa nhà riêng chung

Ngỡ trên mặt trống còn rung

Tiếng xưa xa vọng đền Hùng hôm nay.

 

Ngoài thung lúa chín như say

Kìa con chim lạc trắng bay trên đồng.

 

                    

 

 

 

 

 

 

CHÚ GÀ TRÊN ĐẠI LỘ

 

Lượn giữa cọ xanh chín mươi chín quả đồi

Những ngôi nhà cao tầng mọc lên cùng mây ấm

Đèn cao áp xanh non màu trăng muộn

Tỏa mơn man trên đại lộ êm đềm.

 

Thành phố mãi mơ màng

Nếu chú gà không dạo trên đại lộ

Chiếc mào đỏ chập chờn dọc phố

Làm màu hoa hiếm hoi, làm đuốc lửa

Chú mang theo kiêu hãnh dưới mặt trời

Như hoa, như lửa cháy tuổi hai mươi

Thành phố trung du ngược đồi dốc đỏ

Muộn mằn thế mới bắt đầu đại lộ

Mới cửa gương lên tầng năm láng gió

Gạch vỉa hè đón chân người đến gõ

Khúc tình ca sau năm tháng chiến tranh.

 

Tới đỉnh dốc dài chú gà bỗng ngó nghiêng

Xỏa cánh vỗ và thốt nhiên cất tiếng

Tiếng gà đỏ cất lên màu nhiệm

Phố xá chập chừng hơi lửa hơi than.

 

Giữa chín mươi chín quả đồi bao lầu gác mọc lên

Mầu huyền thoại sau tiếng gà chói lói

Bước qua tuổi hai mươi, thành phố vào ngày mới

Đại lộ thênh thang đếm nhịp bước chân người.

 

Không dừng được trước ban mai hối hả

Chiếc mào đỏ chú gà nở như hoa, như đuốc lửa

Cứ khoan thai đi về phía mặt trời.

 

 

 

 

 

 

 

 

CHIỀU TRÊN BẾN HẠC 

 

Gỗ nứa xuôi về chật bến sông

Tàu lên đen nhánh bóng than lồng

Bãi non ngô trổ cờ bay phấn

Hương núi hương đồng thơm mát trong.

 

Đất mở bao đời, sông gặp nhau

Vẫn nguyên dòng biếc với dòng đào

Ngày nao du kích nằm trong bãi

Khói máy giờ lên ngọn thấp cao

 

Thoáng đãng chiều dâng khúc nhạc êm

Hồn xuôi theo nước gửi bao miền

Chợt con tàu trắng còi loang nắng

Ngỡ rợp sông đầy cánh hạc lên.

                         Ngã ba Hạc, 1981

 

 

 

 

 

 

MỈM CƯỜI TRÊN GIẤY ĐIỆP

 

Dường như từ trăng kia các em xuống tắm hồ

Màu ngà ngọc tròn đầy da thịt

Dường như các em nở ra từ nước

Mát tươi tơ ngó ùa lên.

 

Suốt một ngày tay cuốc tay liềm

Giờ khỏa nước ngón xòe nõn búp

Trăng loáng chảy ướt ròng khuôn ngực

Chút ngập ngừng cong lẳn sáng bờ vai

 

Tay vin cành, hoa đấy, áo người đâu?

Cổ ba ngấn ngẩn ngơ chiều hương lúa

Màu đen thẳm tóc mây lại tỏa

Hương thầm thì mờ tỏ đêm sen.

 

Sóng dào lên sáng ánh tay em

Là vũ điệu dân gian của tảo tần bận mọn

Được buông thả hết mình cùng cỏ cây ngợi sáng

Được thật với chính mình nào dễ đâu em.

 

Họa sĩ dường nhập cuộc với thiên nhiên

Màu thuần phác đồng quê tươi mới mãi

Hồn dân dã tổ tiên trao gửi

Qua nét khắc mộc thô trên vân gỗ lượn bày.

 

Anh trân trọng truyền lên mặt giấy

Nét mỉm cười sau những giọt mồ hôi.

   

 

 

 

                                          

                                  

HAI NỬA VẦNG TRĂNG

 

Tình cờ anh gặp lại vầng trăng

Một nửa vầng trăng thôi, một nửa

Trăng vẫn đấy mà em xa quá

Nơi cuối trời em có ngóng trăng lên.

 

Nắng tắt đã lâu rồi, trăng thức dậy dịu êm

Trăng đầu tháng có lần em ví

Chữ D hoa như vầng trăng sẻ nửa (*)

Tên anh như nửa trăng mờ tỏ

Ai bỏ quên lặng lẽ sáng bên trời.

 

Ơi vầng trăng theo con nước đầy vơi

Trăng say đắm dào trên cỏ ướt

Trăng đầu tháng như đời anh chẳng thể nào khác được

Trăng cuối tháng như đời anh hao khuyết

Em đã khóc

Trăng từng giọt tan vào anh mặn chát

Em đã khóc

Nhưng làm sao tới được

Bến bờ anh tim dội sóng không cùng.

 

Đến bây giờ trăng vẫn cứ còn xanh

Cứ một nửa như đời anh, một nửa

Nhưng trăng sẽ tròn đầy, trăng sẽ…

 

Trăng viên mãn cuối trời đêm đêm em có nhớ

Mặt trăng từng khuất nửa ở trong nhau.

                                                                                                  

 (*) Hoàng Hữu tên thật là Nguyễn Hữu Dũng

 

 

 

 

 

 

 

 

 

CUỘC TẬP TRẬN LỊCH SỬ 

 

Bộ tổng vừa triệu tập

Tướng lĩnh họp bất thường

Các binh chủng sẵn sàng

Diễn tập vào mai sáng!

 

Tướng mặt trời im lặng

Liếc mắt xuống “đồng hồ”

Tích tắc nữa đến giờ

Trận hiệp đồng lịch sử.

 

Chú lính kèn nín thở

Đại tướng khẽ phất cờ

Chú ráng sức “két ke”

Kèn cất lên rộn rã…

 

Đoàn phi cơ gầm rú

Cánh bạc loáng trời cao

Khi lượn, khi bổ nhào

Ôi ! Chim câu tuyệt quá !

 

Kìa - lính thủy đánh bộ

Vuợt biển xanh lên bờ

Súng vãi đạn như mưa

Cạc cạc cạc! Cạc cạc…

 

Hạm đội sư tử bạc

Lừng lững phóng ngư lôi

Tín hiệu đánh liên hồi

Qua ăng-ten cổ ngỗng.

 

Lũ cá tôm hốt hoảng

Sóng dạt vào cầu ao

Tưởng trời đất lộn nhào

Trong tơi bời lửa khói.

 

Thốt nhiên tiếng vang gọi

“Cúc cúc cúc” đầu sân

Lũ tôm cá nhô lên

Thấy bà vung nắm thóc…

 

Chẳng đợi kèn lệnh rút

Các binh chủng thu quân

Chật vòng ngoài vòng trong

Đứng quanh bà nhặt thóc.

 

Loa truyền tạm kết thúc

Buổi tập trận tuyệt vời

Đại tướng cũng “lặn” rồi

Mời các bạn tạm ngơi

Mai, thơ tôi kể tiếp.       

9 - 1981

 

 

 

 

 

 

 

 

KHÓI ẤM           

         Gửi Thắng

 

Mai rồi em đi xa

Để lại một chiều quê xóm nhà đồi anh vẽ

Núi Mỏ Quạ bỗng hừng lên, lạ thế

Nắng thơm mùi quả chín đang trưa.

 

Chỉ còn mỗi mình anh với gió bấc đang lùa

Anh trở lại nhóm lên mùi khói lá

Khói tuổi thơ cay cay tròng mắt trẻ

Chiếc ống cóng em mang, thu cả chiều đông giá

Chấm màu đỏ qua mưa qua gió

Cứ âm thầm lửa bén vào trong.

 

Mai em xa anh thức với màu xanh

Hàng ca-du khuất mờ gió loàng trên ngọn khói

Ước gì nơi cuối trời

Em giữ được trên tay, anh sẽ gửi

Màu khói ấm qua mưa dầm tháng Bảy

Tỏa mơ mòng như ánh mắt anh đây.

 

Bao xúc động trẻ trung anh đã gửi nơi này

Nhịp tim dạo giữa phập phồng lau cỏ

Trái tim đập tận tình phút tay em đến ủ

Giữa tay anh như búp thở đầu cành

Anh tìm lại tuổi mình nơi dông dài ngọn gió

Để sắc màu điềm tĩnh trước nhà em.

 

Mai em đi ngợp nắng gió đôi miền

Thoảng có phút nhớ quê đồi anh vẽ

Trong đời rộng bao nỗi niềm, em nhỉ!

 

Em hãy đến nơi phập phồng lau cỏ

Em hãy đến nơi chấm màu than lửa

Tim ta đập ngày nào giữa vô bờ ngọn gió

Còn đượm màu khói ấm nắng đang trưa.

                    Đại Lải, 11-1981

 

 

 

 

 

 

 

 

 

2. Truyện ngắn:

 

DƯỚI CHÂN NÚI CŨ

 Lần này ra Bắc, tôi cho cả con gái đi cùng. Đó là đứa con gái duy nhất của tôi, cháu đã lên sáu tuổi.

Chuyến nghỉ phép trước, tôi không thể mang cháu đi, đành gửi nội cháu trông nom giúp. Giờ thì Mai Chi đã lớn. Tôi hi vọng chuyến về quê này, bà ngoại sẽ bù đắp được cho nó phần nào nỗi mất mát lớn lao, mà ở tuổi lên 6, trẻ thơ chưa thể nào biết hết.

Phần nữa, may chăng khi ra Bắc, tôi tìm lại được anh, người họa sỹ, từ ngày gặp, chẳng lúc nào tôi nguôi quên. Có thể, anh Chi sẽ chỉ bảo cho tôi được nhiều điều. Không hiểu vì sao tôi mãi tin: anh chẳng bao giờ quên tôi! Như ngày nào mỗi lần gặp, mắt anh thường nheo cười “này Hà, có khi nào em không thấy núi Mỏ Quạ đẹp không? Riêng anh, dãy Mỏ Quạ lúc nào cũng mờ sương, thật thú vị.”

Không trả lời anh, tôi ngước nhìn bức tranh phong cảnh “Nhà đồi”, anh vẽ ở quê tôi. Tôi hiểu anh định nói gì. Nhưng cho đến giờ tôi mới thấm thía điều anh nói cùng tôi trong căn phòng nhỏ bảy năm về trước…

Mai Chi đã sang tuổi thứ sáu. Với gương mặt nhỏ, đường sống mũi thanh tú gập xuống nhẹ nhàng gặp nét môi khẽ mím, trông cháu thật đoan trang. Thoảng mới thấy mắt nó cười. Đôi mắt tựa hai giọt nước hồ thu xanh, thẫm đậm tận đáy, ánh lên mỗi khi gặp gió.

Ai cũng bảo hai mẹ con tôi giống nhau như hai giọt nước, mỗi lần nghĩ đến lời bàn ấy, tôi không khỏi ngậm ngùi. Chả lẽ đứa con gái – cái gạch nối của chúng tôi – lại không hề mang dáng nét gì của người bố trên gương mặt, trong cử chỉ, tính cách nó hay sao?

Bất giác tôi cảm thấy thương cảm anh, người chồng tôi sớm gặp nhưng cũng sớm chia tay.

Học xong chương trình ba năm, tôi ra trường với tấm bằng trung học thư viện. Nhờ có người quen thu xếp giùm, tôi nhận quyết định về công tác ở một thư viện tỉnh phía Nam. Xa xôi, phải; nhưng với tôi, tuổi trẻ, thì những miền đất lạ trong trí tưởng, trong những trang sách có sức hấp dẫn lạ lùng.

Quả thật nắng gió phương Nam, hoa trái cây vườn, kênh rạch và lối sống phóng túng của người Nam bộ đã không làm tôi thất vọng.

Ngôi nhà dành riêng cho thư viện tỉnh nép dưới vườn dừa trông ra dòng kênh đầy gió. Ngày làm việc đầu tiên trong đời tôi thật khó quên. Khi mở cửa phòng đọc, tôi mất đà, tay víu vào cánh cửa lạng ra thềm. Trước mặt tôi, một người trai tầm thước, mái tóc đậm in trên nền trời mùa hạ ngút xanh. Tôi sững sờ giây lát trước người lạ.

Cho đến giờ, mỗi khi nhớ lại, tôi không thể cắt nghĩa được cảm giác về màu xanh lạ lùng của bầu trời thủa ấy.

- Chào chị!

- Vâng xin lỗi, mời anh vào.

- Có lẽ chị mới nhận công tác? Xin tự giới thiệu: Tôi là Chánh, bạn đọc quen thuộc của thư viện – anh lướt nhìn tôi, tay phác một cử chỉ. - Nay muốn mượn chị ít cuốn sách.

Tôi nhìn anh thay cho lời đáp. Một người đàn ông, gương mặt hơi đanh, da ngăm ngăm màu nắng gió bưng biền. Tôi mẫn cảm nhận ra cách ngắt câu rành rọt trong ngữ điệu cùng cử chỉ kia, sự đàng hoàng của một người có bản lĩnh. Lần ấy anh mượn tôi cuốn “Mạch tích hợp và ứng dụng”.

Sau đó anh đến thư viện đổi sách luôn, lâu dần nên quen.

Thế rồi những lúc còn lại một mình, tôi hay nghĩ đến khoảng trời trưa bưng biền ngút xanh với mái tóc rậm. Mỗi khi nghĩ đến thật dễ chịu. Đến nỗi, lâu lâu anh không đến thư viện, tôi thấy nhớ. Tôi không lý giải được trạng thái tình cảm ấy. Chỉ biết, những ngày mưa, nhìn nền trời sũng nước, tôi thấy mình trống trải và hình như vắng thiếu một cái gì trong tâm hồn.

Không hiểu bao đôi lứa họ yêu nhau như thế nào, riêng tôi, tôi đã thầm yêu anh bắt đầu từ những khoảng khắc bất chợt, lạ lùng ấy.

Ít lâu sau chúng tôi yêu nhau thực sự và báo cáo cơ quan tổ chức lễ cưới. Xa xôi quá, thầy mẹ và các anh chị tôi không vào được, chỉ gửi điện mừng.

Hôm cưới, tôi không đòi anh trang hoàng gì ngoài chiếc phông xa-tanh màu da trời, treo ngang tường. Bạn bè anh, ai cũng mừng cho chúng tôi. Tôi mới vào, ít bạn. Nói thế, nhưng các bạn gái trong cơ quan, ai cũng thầm mừng cho tôi may mắn gặp được người chồng xứng đáng.

Chúng tôi ở tại căn phòng xép cạnh thư viện. Phải nói rằng, hồi đầu chúng tôi sống bên nhau thật êm ả.

Chồng tôi là kỹ sư vô tuyến, có nghề nghiệp vững vàng. Sau này, có dịp tìm hiểu kỹ tôi mới biết gia đình anh di cư vào Nam trước hiệp định Gơ-ne-vơ. Thỉnh thoảng anh nhắc về quê cũ Sơn Tây. Có một lần nghe anh kể chuyện làng, tôi lây niềm vinh dự, mình cũng là người con của vùng đất từng in dấu thơm trong sách cổ. Không khỏi cao hứng, tôi ngân lên khe khẽ:

Nước biếc sông Đà, con cá nhảy

Mây trùm non Tản cánh diều bay”…

Nhưng kìa, anh chẳng hề có phản xạ gì trước sự xúc động của tôi. Gương mặt anh như tạc bằng đá, kín bưng.

Tôi thầm nhủ, những người làm khoa học thường ít có thì giờ quan tâm tới văn học. Suốt ngày, chồng tôi vùi đầu vào các bản sơ đồ chằng chịt mạch điện. Được ngày nghỉ hay chủ nhật, anh khuân về đủ thứ: máy nghe băng, đài điện, vô tuyến. Tôi  biết, anh lo chữa chạy cái đống máy móc này để gia đình có thêm một khoản tiền chi phí. Nhất là, sang xuân, tôi sinh cháu đầu lòng. Tôi tự an ủi để quen với cách sống của anh. Chẳng qua, cũng bởi thương vợ và quá lo lắng cho cuộc sống sắp tới nên anh chẳng có thì giờ để quan tâm tới việc vặt trong nhà.

Tôi rất muốn cùng anh đi xem phim vào tối thứ bảy, mỗi khi có phim hay. Nhưng hễ nhìn thấy anh vừa buông bát đũa đã cầm tuốc-nơ-vít chọc chọc vào máy, tôi đành thôi.

Tôi sinh cháu. Mọi sự đều vuông tròn. Hôm đón mẹ con tôi từ bệnh viện về, anh có vẻ không vui. Mãi sau này tôi mới hiểu: giá Mai Chi là một cậu con trai và giống anh thì hơn! Còn tên con, tôi tự ðặt, có lẽ chẳng bao giờ anh hiểu…

Cuộc sống cứ thế trôi qua. Giữa tôi và anh ðã ngầm có một khoảng cách. Cả hai không ai nói với nhau, nhưng đều mơ hồ cảm thấy điều ấy tuy vô hình nhưng có thực.

Nếu như chỉ có thế, tôi sẵn lòng chấp nhận tất cả để bù lấp vào đó bằng tình thương lặng lẽ vốn có của người vợ. Tôi tự an ủi mình rằng, người yêu lý tưởng và cuộc sống thực của một gia đình là hai vấn đề khác nhau, dễ mấy ai đã hòa nhập và may mắn đạt được.

Đôi lần, anh đèo sau xe máy về nhà, khi dăm thanh gỗ li-tô, khi thì vài chục thước dây điện đã cũ. Lại khi, gần hết chương trình “tiếng thơ” anh lôi về một cánh cửa rộng đã long sơn nhưng còn tốt.

Lần ấy, từ bếp ùa lên, tôi thấy anh vừa lôi trong ca-táp ra một bọc giấy báo nhỏ. Ở chỗ báo rách, tôi nhìn thấy mươi chiếc bóng bán dẫn màu xanh mới nguyên. Anh giật mình, nhưng nhìn thấy tôi, anh yên tâm ngay.

- Mình ạ, có gì đâu. Vài thứ phụ tùng để thay thế cho khách hàng đấy mà.

Tôi lẳng lặng nhìn vào mắt anh, nhưng anh đã nhìn đi chỗ khác. Từ hôm ấy, ở bên anh, tôi chẳng còn thấy mái tóc xõa trên vầng trán sáng nữa. Hình như trên vầng trán anh cứ chập chờn một khoảng mờ tối, rồi đột nhiên tan đi sau phút giật mình. Cái khoảng mờ tối cứ ám ảnh, bám chặt vào ý nghĩ thường nhật của tôi

Có thật thế không? Câu hỏi tựa mũi khoan xoáy vào óc tôi. Chẳng lẽ, anh – người mà lần đầu với nhậy cảm của phụ nữ, tôi nhận ra tư cách đàng hoàng, thoáng đạt – lại thế ư? Không, có thể anh đã biết nén mình, chỉ vì tôi và con mà phải cắm cúi, xoay xở để giữ lấy sự êm đềm của tổ ấm. Chao! Chẳng lẽ chồng tôi lại có thể dễ đàng đổi cả tư chất tốt đẹp nhất của tâm hồn để lấy lại vài thứ vặt vãnh mau hỏng sao? Thêm một cánh cửa này, gia đình tôi ấm êm thêm, nhưng biết đâu căn phòng bị khuyết cửa kia đã chẳng lạnh gió mưa sau đêm bão?

Tôi bị ám ảnh bởi ngôi nhà khuyết cửa cứ sâu hoáy một khoảng tối, xiêu vẹo, trong tiếng rít của gió. Từ khoảng tối đen ngòm, run rẩy ánh nhìn hốt hoảng của lũ trẻ và người mẹ. Ngôi nhà đổ ụp xuống rồi lại đứng dậy, lại ụp xuống. Có người nào đó thoắt tới giữ ngôi nhà đứng yên. Không phải. Người ấy gỡ cánh cửa ra khỏi nhà! Tôi nhắm mắt lại. Không, người ấy không phải là anh, không phải anh Chánh! Cổ tôi nghẹn đắng, dường như có một cục gì nằng nặng chèn lấp. Tôi không nghĩ được nữa, nước mắt ứa ra…

Tôi nấc lên mỗi lúc một to, khiến anh phải bỏ dở đống máy, bước vào buồng, ngỡ ngàng. Sau rốt, anh đặt tay lên vai tôi:

- Em có điểu gì phiền muộn?

- Không! – Tôi gạt tay anh tuột khỏi vai tôi ướt nước mắt. – Em may mắn, em nhàn nhã vì có anh ở trong nhà!...

Tôi nấc lên vì cay đắng. Vị ngọt của hạnh phúc là thế ư? Điều mà tôi mơ mộng suốt một thời học sinh tươi trẻ đã đến với tôi thế này đây! Bao trang sách, bao dặm đất cùng những tâm hồn cao cả, tôi nuôi dưỡng trong tâm tưởng, tôi kiếm tìm và bây giờ tôi gặp…!

Sau lần ấy, chúng tôi sống với nhau thêm một thời gian nữa. Cả hai chúng tôi cùng lặng lẽ, chỉ nói với nhau những lúc thật cần thiết. Tôi dồn hết tình cảm cho Mai Chi.

 Anh vẫn thế, vẫn yêu mê mải những linh kiện, sơ đồ. Có điều anh xử sự với tôi thận trọng hơn. Còn tôi, tôi nhận thấy trên gương mặt đanh kín của anh sự cứng rắn và giận dỗi ngấm ngầm.

Nhưng rồi, cái gì đến ắt phải đến. Làm sao khác được, vợ chồng tôi không thể sống trong không khí căng thẳng và gượng gạo này mãi. Tôi thành tâm nói với anh:

- Anh Chánh! Thật căng thẳng, nếu chúng ta cứ kéo dài cảnh sống này. Sẽ chẳng có lợi gì cho mỗi người và Mai Chi. Em biết rằng sự cố gắng của mỗi người cũng không thể làm cho chúng ta xích lại gần nhau được nữa. Bởi lẽ, anh và em chẳng cùng hướng về một phía.

Nói xong, người tôi run lên, ớn lạnh. Tôi phải vịn tay vào cánh cửa cho khỏi khuỵu xuống. Im lặng. Mãi sau tôi mới đủ can đảm nhìn anh.

 Anh ngồi yên bất động rồi nặng nề đứng dậy:

– Thôi, tùy em!

Không dễ dàng gì, cuối cùng chúng tôi cũng thỏa thuận được với nhau rằng, Mai Chi sẽ ở với mẹ. Tôi và anh trao nhau một tờ giấy nhỏ (thay cho giấy ly hôn) cam kết về sự chia tay đáng tiếc này.

Tôi vẫn ở lại thư viện. Hôm anh đi, tôi bồng con đứng ở thềm nhìn theo.

Mới sáng, trời đã xanh ong óng. Vâng, trời lại xanh như trưa nào, mái tóc anh in đẫm trên nền mây nhòe trong nước mắt, thoáng vỡ ra một khoảng mờ tối, chập chờn.

Ra Hà Nội, tôi ở lại nhà chị gái tôi ít ngày cho lại sức, sau đó, hai mẹ con mới thu xếp về thăm bà.

Tôi tìm cách hỏi tin anh Chi qua một vài người quen. Thật khó. Anh làm việc ở một tỉnh nhỏ, thảng hoặc mới về Hà Nội, nên ít người biết. Chỉ còn một người có thể hỏi được tin anh, nhưng tôi lần lữa chưa đến.

Hồi mới quen, có lần tiện đường, anh Chi rủ tôi đến chơi nhà người thân, người mà anh thường nhắc tới với lòng trìu mến và kính trọng. Tôi đã không chiều ý anh. Tôi ngại, vì biết anh Vũ Thư, một nhà thơ trẻ đã nổi tiếng, tôi biết ăn nói ra sao khi gặp người ta lần đầu. Phần nữa, chính là sự tránh né bản năng vốn có của bất kỳ người con gái nào trước những người đàn ông có “ý định” với mình mà mình không để tâm đến.

Giờ thì tôi đang ngồi đối diện anh Vũ Thư. Bao nhiêu sự lúng túng, tôi dồn cả vào đứa con nhỏ để được bình tĩnh trước anh. Khó khăn lắm, tôi mới tự giới thiệu được về mình. Ngỡ như, đấy là giọng của người lạ được phát qua băng cassette.

- Thưa anh! Em muốn được biết tin anh Chi, em biết chỉ có anh mới thông cảm và có thể giúp được chăng?

Tôi mạnh dạn nhìn thẳng vào anh và cảm thấy nhẹ nhõm như vừa đặt được gánh nặng xuống chặng nghỉ đường dài.

- Vâng, khi cô đến, tôi thoáng nghĩ, đây là người mà Chi thường nhắc tới – anh Thư nhìn tôi cởi mở kể tiếp. – Tôi coi Chi như em ruột. Đó là một chàng trai đôn hậu, tinh tế và rất có bản lĩnh. Thuộc loại người ít nói, nhưng cậu ấy dễ cởi mở với những ai đã tin cậy. Thỉnh thoảng Chi về Hà Nội làm việc với các nhà xuất bản, anh em chúng tôi lại gặp nhau. Có một dạo, Chi buồn nhiều. Nhìn gương mặt vốn dĩ tư lự của cậu ấy, tôi đọc được nỗi buồn thảng thốt tựa khói mỏng chờn vờn trên mái rạ sau mưa. Tôi không hỏi, nhưng thừa biết, tuổi trẻ thường có những mối tình như thế. Yêu một mình, đau khổ một mình rồi chờ đợi vô căn cứ.

Cậu ấy đợi mãi thư của cô. Nhưng cuộc đời đâu suôn sẻ thế. Khi con người đến tuổi trưởng thành, có biết bao mối tình ràng buộc, biết bao công việc vây quanh mình, mà với khả năng có hạn, người ta chỉ đủ sức để giải quyết được những việc thật cần thiết cho bản thân mình.

Hai năm sau, Chi cưới một cô giáo dạy ngoại ngữ ở trường huyện. Gần ngày cưới, Chi băn khoăn lắm, muốn gửi thư cho cô mà không được vì không có địa chỉ. Bây giờ cô chú ấy đã có con, cháu gái vừa ba tuổi. Mới đây thôi, thư gửi cho tôi từ Đồng Văn, đề ngày bốn tháng tám, cậu ta kể chuyện đi vẽ “chốt”. Cuối tháng chín này Chi mới về, chắc gì cô đã gặp được Chi?

Vâng, tôi chẳng đủ thời gian để gặp anh. Khi anh về tôi đã phải có mặt ở An Giang để làm việc.

Mẹ con tôi xin phép anh Vũ Thư ra về. Anh Thư bế Mai Chi ra cửa, vuốt tóc cháu rồi đặt vào tay nó một quả cam, lặng lẽ gật đầu chào mẹ con tôi.

Thế là hết. Tôi không còn hi vọng gặp lại anh. Tôi đã để tuột khỏi tay mình một thứ vô cùng quý giá. Tôi phải gánh chịu lấy mọi đau khổ một mình, không người san sẻ. Khi anh cần tới thì tôi im lặng, khi tôi đau buồn, tôi lại muốn được anh sẻ chia!

Vẫn biết, tôi quý trọng anh. Lẽ ra, tôi phải cư xử với anh ưu ái hơn, phải có thư về thăm anh dù chỉ đôi dòng thông báo khô khan. Tôi giận mình quá ích kỷ và đã xử tệ với anh. Tôi xấu hổ với chính mình, máu nóng dồn lên mặt, ngỡ bất cứ người qua đường nào cũng nhận ra tôi.

Tôi ôm chặt Mai Chi vào ngực, mặt nép sau vai nó, tránh vào bóng tối vỉa hè.

Gió từ lòng đường lướt lên quẩn vào tôi lạnh giá. Đêm Hà Nội chẳng yên tĩnh chút nào. Bầu trời lẫn vào ánh sáng vàng ệch của dãy đèn đường, nhưng tôi vẫn nhận ra, từ tận cùng cao thẳm, ánh sáng một ngôi sao chiếu ra lóng lánh như vô vàn mảnh kính vỡ.

Tôi sẽ về quê trước một ngày. Ở lại Hà Nội nữa mà chi.

Trong đầu tôi, ý nghĩ không đầu, không cuối miên man, chằng chịt, chồng chéo lên nhau. Chiều hôm sau, có việc, tôi qua bưu điện Bờ Hồ, vui chân rẽ vào cửa hàng sách ngoại văn Tràng Tiền rồi tạt qua Ngô Quyền sang vườn hoa Diên Hồng. Khi bước chân lên vỉa hè, một tấm quảng cáo rực rỡ dập vào mắt tôi: “Triển lãm tranh của các họa sỹ trẻ”. Tôi do dự rồi tiếp tục đi, nào tôi có am hiểu gì về hội họa. Ngẫm nghĩ thế nào tôi quay lại. Biết ðâu trong ðấy có tranh của anh?

Tôi býớc vào phòng triển lãm với tâm trạng bồi hồi. Chẳng còn lòng dạ nào để thưởng thức. Tôi chỉ đọc và đọc khá kỹ các phụ đề. Đúng hơn tôi tìm tên anh.

Qua hàng cột vào góc phòng trong, tự nhiên tôi có linh cảm rằng, nơi khoảng sáng kia sẽ có điều tôi mong đợi. Tim tôi đập mạnh mẽ, tôi nghe rõ tiếng nhịp tim đổ hồi như một quả chuông con. Phải, tôi không lầm. Ở trên cao, bức tranh được lồng trong khung kính giản dị. Điều bất ngờ hơn lại là bức tranh anh vẽ phong cảnh quê tôi. Bức tranh duy nhất được anh treo trong phòng làm việc bảy năm về trước.

Buổi chiều thu núi giăng khói sương. Con dốc mảnh dẻ như sợi chỉ, men mén lên đồi. Đôi ba ngôi nhà đất díu vào nhau bên lùm cây xanh thẫm. Hoàng hôn buông thả chút nắng sót, cong hờ trên lườn núi xa rồi nhập vào nền mây tím… Chỉ có thế!

Tôi chập chờn trong sương khói vùng đồi. Dãy núi như bọc lấy tôi, rồi lại mở ra. Bức tranh không vẽ người, nhưng kìa, sao tôi thấy mình đang dắt Mai Chi ngược lối mòn lên đồi, phía những ngôi nhà đất rồi ngập vào trong bóng cây ca du…

…Mùa thu đến sớm với vùng đồi hơn bất kỳ nơi đâu. Dưới chân núi Mỏ Quạ, heo may đã thả đầy đồng. Gió len lỏi trong những vệt lau thưa rồi bất chợt thổi tung lên màu hoa lau trắng xốp. Nếu không có đất giữ lại, hẳn màu hoa kia sẽ bay lên lẫn vào mây núi.

Quê tôi toàn đồi trọc, cây cối cằn nên hiếm củi. Sim, mua, dành dành, cỏ tế bị chặt sát tận gốc. Cho dù có đang là mùa mưa, chúng cũng không thể nào nảy lên được. Lũ trẻ xóm tôi bòn mót mãi. Những hôm nào núi xa, về tới nhà đã tối đặc. Cuối cùng chúng tôi bàn nhau đi quét lá ca du. Hàng cây ca du đầu xóm đang mùa đổi lá. Lá ca du nỏ khô, phào phồng phủ kín đất. Chúng tôi chia nhau mỗi đứa vài gốc quét lá gom lại, lèn đầy bao tải. Riêng tôi thường cầm cái que nhọn xiên từng chiếc lá thành một xiên như xiên chả dài rồi tuốt lá ấn vào bao. Những chiều kiếm lá, chẳng đứa nào trong bọn chúng tôi lại không có một chiếc ống bơ đầy than lửa. Lúc lúc vung tay quay tít chiếc ống sắt, khiến than uống gió đỏ hực, khói lên nghi ngút, ấm lạ lùng.

Thường khi, lê được bao tải lá về tới nhà, trời đã xâm xẩm tối. Từ trong bếp, bà tôi đã nhảng ra đỡ tải lá trên vai tôi: “Khổ thân cháu gái bà”! Vốn dĩ mảnh người, hay ốm vặt, tôi được bà thương nhất nhà. Biết thế tôi cố kiếm thật nhiều lá để bà khỏi phải còm cọi quét lá tre sau vườn.

Tuy còn bé, tôi cũng kiếm được đủ lá cho bà đun. Mỗi lần về đến đầu ngõ, thấy khói bếp lên xanh là tôi mừng. Hôm nào vắng khói lên, y rằng bà lại ốm hoặc đau mình vì trời trở gió.

Những sợi khói bếp ấm áp suốt tuổi thơ tôi giờ đang tỏa trong tranh của anh chăng?

Không biết người ta định nghĩa nghệ thuật là gì, tôi chỉ nghĩ đơn giản rằng, chính anh bằng khả năng sáng tạo của mình đã giúp tôi nhớ lại được những gì đã qua và thấm thía với những gì mình đã có.

Tôi như mơ, như tỉnh, ngỡ anh đang lặng nhìn tôi. Đôi mắt sáng ánh lên, thoáng u trầm:

- Hà ạ. Em biết không, anh vẽ bức tranh này hồi mới ra trường. Mười ba năm qua đi. Nghĩa là, khi anh vẽ núi Mỏ Quạ quê Hà, em mới là một cô bé lên mười. Giờ thì…

Tôi thầm đoán được tình cảm kín đáo của anh. Thường Chủ nhật, tôi ra thăm anh. Vẫn chỉ có anh với bức tranh phong cảnh treo trên tường. Dăm ống thuốc vẽ bẹp dí, lăn lóc bên những chiếc panh-xô cạnh giá vẽ. Mùi dầu lanh quyện với mùi dầu sơn vẽ quánh trên mặt vải tỏa ra hương vị đặc biệt lạ lùng, ngất ngây dễ chịu. Anh vẫn điềm tĩnh ngồi vẽ nhìn tôi với đôi mắt buồn nhưng sáng. Tự nhiên, tôi thấy thương anh thực sự và vô cùng cảm mến.

Tôi chăm sóc anh như một người em gái. Còn tại sao không yêu anh, cho đến giờ tôi chẳng hiểu nổi mình. Có điều chắc chắn, chẳng bao giờ tôi quên và luôn biết ơn anh với ý nghĩ thành thật.

Tôi đã bước vào ngưỡng cửa cuộc đời đầy mơ ước của tuổi trẻ hực sáng. Bức tranh anh có ý dành riêng cho tôi như một thứ quà tặng đặc biệt. Từ ấy, tâm hồn tôi giàu có hơn. Sự trầm tĩnh, từng trải của anh sớm cho tôi ý thức được phía trước cuộc đời mình phải đâu chỉ là những điều tốt đẹp. Cái chính là con người tự biết vượt mình.

Thế rồi tôi ra trường. Trước hôm đi xa, tôi đến chào anh, nhưng anh đã theo đoàn sà lan vượt sông Đà…

Tôi mang theo bao kỷ niệm về anh như mang theo hành trang quý giá nhất của mình vào đời. Sau này, khi đã có con, khi tôi chia tay với người chồng nơi đất lạ, mỗi lần nghĩ tới anh, tôi lại thấy yên lòng và yên tâm sống.

Phải, tôi sẽ làm lại tất cả. Tôi sẽ trở về cội nguồn của tình thương yêu, để từ đó lại ra đi…

Những gì cần phải có cho con người, vẫn ở phía trước chờ đợi tôi.

Tôi ngập vào chuỗi ký ức khi cùng anh ngồi bên giá vẽ, khi ríu rít cùng bầy trẻ xóm, dưới bóng cây ca du thơm hăng mùi khói lá…

Nếu không có chuông báo triển lãm sắp đến giờ đóng cửa, tôi sẽ còn được sống lại những phút giây cảm động của đời thực mà anh trao gửi qua nét màu giản dị, giàu chân cảm trong tranh phong cảnh “Nhà đồi”

Chuyến tàu nhanh dừng lại ga Phúc Yên, mẹ con tôi xuống tàu, đáp xe ngựa về Đại Lải.

Tôi và Mai Chi ở quê được vừa đúng mười ngày. Thầy tôi có việc phải về Hà Nội với anh chị tôi, thành thử ở nhà chỉ có ba bà cháu với nhau. (Bà ngoại tôi đã mất cách đây mười năm).

Tôi rào lại mảnh vườn cho mẹ. Tôi chần lại chiếc áo bông đã sờn của bà để lại cho mẹ. Tôi giặt giũ, phơi phóng chăn màn… Tôi làm đủ việc. Làm để bù lại những gì tôi chưa làm được như ý mẹ mong mỏi.

Tôi biết mẹ tôi không vui. Bà dành hết tình thương yêu cho cháu gái Mai Chi bất hạnh của bà, như ngày xưa bà ngoại dành cho tôi tất cả tình thương mến. Mai Chi hỏi bà luôn mồm: “Bà! Đây là cây gì hở bà? Sao người ta lại gọi nó là cây ca du? Bà ơi! Tại sao buổi sáng núi Mỏ Quạ màu xanh, buổi chiều núi màu tím, ư bà? »… Mẹ tôi phải trả lời hàng loạt câu hỏi của nó. Có lúc không trả lời cháu được, mẹ tôi bảo: «Thôi, cháu ngoan đừng hỏi nữa, bà mệt. Nào cầm chổi ra ngõ quét lá với bà để chiều đun cám».

Tôi nhìn theo hai bà cháu lúi húi quét lá ca du đầu ngõ.

Đã chớm thu. Như bao mùa trước, thu về đây sớm hơn bất kỳ đâu. Núi Mỏ Quạ tím mờ hơi sương. Heo may đã thổi bùng lên những bông lau trắng xốp dọc triền đồi.

Anh ở đâu?...

Có khi nào anh không thấy núi Mỏ Quạ đẹp không? Núi vẫn tím như ngày nào anh vẽ. Nhưng chiều nay, dưới chân núi cũ, bé Mai Chi sáu tuổi của em cũng đang gom lá ca du khô cho bà nấu cám.

Đừng quên em, anh Chi nhé !

Bao giờ em cũng biết ơn anh đã dành cho em vào thủa tươi trẻ nhất, quà tặng của nghệ thuật. Mà, đến giờ, em mới thấm hiểu: có những điều chỉ lờ mờ khói sương, có những điều tưởng vô cớ không đâu lại có thể làm dịu đi vết xước đau, dìu ta qua được những tháng năm trồi sụt của đời người.

                                Trung tâm cấp cứu Việt Trì, 5-1981.










HOÀNG LỘC



- Họ và tên khai sinh: Hoàng Lộc

- Sinh năm 1920 mất năm 1949

- Quê quán: Châu Khê, Ninh Giang, Hải Dương

- Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam.

 

- Tác phẩm chính đã xuất bản:

* Viếng bạn (Thơ, 1947)

* Chặt gọng kìm đường số 4 (Phóng sự, 1948)

 

 MỘT SỐ TÁC PHẨM TIÊU BIỂU

 

 

VIẾNG BẠN

 

 

Hôm qua còn theo anh 
Đi ra đường quốc lộ 
Hôm nay đã chặt cành 
Đắp cho người dưới mộ 

Đứa nào bắn anh đó 
Súng nào nhằm trúng anh 
Khôn thiêng xin chỉ mặt 
Gọi tên nó ra anh! 

Tên nó là đế quốc? 
Tên nó là thực dân? 
Nó là thằng thổ phỉ? 
Hay là đứa Việt gian? 

Khóc anh không nước mắt 
Mà lòng đau như thắt 
Gọi anh chửa thành lời 
Mà hàm răng dính chặt 

 
Ở đây không gỗ ván 
Vùi anh trong tấm chăn 
Của đồng bào Cửa Ngăn 
Tặng tôi ngày phân tán 

Mai mốt bên cửa rừng 
Anh có nghe súng nổ 
Là chúng tôi đang cố 

 

 

 

 

 

 

 

 


HOÀNG TÁ

- Họ và tên khai sinh: Hoàng Ngọc Tá

- Sinh năm 1945

- Mất năm 2000

- Quê quán: Xã Tuân Chính, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc

- Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam (từ 1996)

 

- Tác phẩm chính đã xuất bản:

* Mặt trời của mẹ (Thơ, NXB Hội Nhà văn, 1977)

* Chiều nhọ cánh cò (Thơ, NXB Hội Nhà văn, 1987)

* Hoa học thầm (Thơ, NXB Hội Nhà văn, 1988)

* Lời bé (Thơ, NXB Hội Nhà văn, 1991)

* Cái sân chơi biết đi (Thơ, NXB Hội Nhà văn, 1993)

- Giải thưởng văn học:

* Giải thưởng văn học thiếu nhi của Hội Nhà văn Việt Nam và nhà xuất bản Kim Đồng cho tập thơ: "Chiều nhọ cánh cò".

* Giải A, Hội Nhà văn Việt Nam năm 1994 cho tập thơ: "Cái sân chơi biết đi".

* Giải thưởng văn học thiếu nhi của Hội Nhà văn Việt Nam và Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh cho tập thơ "Lời bé".

* Giải thưởng thơ hay năm 1988, viết cho thiếu nhi - Tuần báo Văn nghệ Hội Nhà văn Việt Nam.

* Giải thưởng Văn học Nghệ thuật Hùng Vương năm 1990 cho tập: "Hoa học thầm”.

- Suy nghĩ về nghề văn:

Các em thiếu nhi vốn rất mê đọc thơ và dường như em nào cũng thuộc một đôi bài ngay từ tuổi mẫu giáo. Những bài thơ đó sẽ chắp cánh tâm hồn các em, sẽ là hành trang theo các em vào đời. Đó chính là nguồn khích lệ đối với những nhà thơ chuyên viết cho các em.

Một bài thơ hay cho các em, theo tôi là: Bài thơ các em đọc các em cảm nhận và thích thú với tầng thơ dành cho các em; người lớn đọc, người lớn thấy say mê hưởng thụ tầng thơ cho người lớn. Tôi kính trọng những nhà thơ viết được những bài thơ như thế. Tôi phấn đấu suốt đời để có thể viết được một bài thơ hay.

 


 A - TRONG KÝ ỨC BẠN BÈ

 

NHỮNG GIẤC MƠ BƯỚM VÀNG CỦA HOÀNG TÁ

                                                                 Đặng Huy Giang 

Mácsắc (1887 - 1964) là nhà thơ Nga Xô viết nổi tiếng, chuyên viết cho thiếu nhi. Sinh thời, ông có một bài thơ thật đặc sắc có tên: Con dơi (tất nhiên, ông không chỉ có Hai con cú mà còn nhiều bài khác nữa). Bài thơ chỉ có mấy câu ngắn ngủi nhưng thật cô đọng như thế này:

Tôi là anh em nhà cú

Tôi đứng bằng hai chân

Khi ăn, tôi  không ngủ

Khi ngủ, tôi không ăn.

Trước hết, việc nói về con cú như thế, quá đúng và là một hiện tượng hết sức tự nhiên, bình thường, tưởng như không có gì đáng nói cả: Đứng bằng hai chân, đã đang ngủ thì làm sao có thể ăn được và đã đang ăn thì làm sao có thể ngủ được. Đấy là tầng nổi, còn tầng chìm của nó, mới đáng để người đọc suy ngẫm. Một thông điệp được rút ra ở đây là thường thì một con vật (hay một người) phải đứng bằng hai chân, khó có thể làm được hai việc cùng lúc, nhất là ở hai trạng thái khác nhau, trái ngược nhau (ngủ và ăn, ngủ và thức). Và nếu đi sâu vào việc "giải mã" giữa ăn và ngủ, giữa ngủ và thức theo nghĩ bóng (hoặc nghĩa mở) thì chắc chắn còn rất nhiều điều để nói.

Nêu Hai con cú để thấy tài quan sát của Mácsắc: Từ một việc (hoặc một hiện tượng) ai cũng thấy, ai cũng biết, nhưng không phải ai cũng đưa được nó vào thơ và làm cho nó hay (hoặc chí lý) thật tự nhiên trong thơ. Chưa kể bài thơ còn đem đến cho người độc cảm giác ngồ ngồ, là lạ.

Không phải ngẫu nhiên mà nhà thơ Vũ Duy Thông lại đánh giá rất cao bài thơ này.

Trước nữa, Anđécxen (1805 - 1875) - nhà văn Đan Mạch đã làm thơ và viết văn cho thiếu nhi. Sinh thời, ông đã cho xuất bản tập thơ Đứa trẻ hấp hối và nhiều tập văn xuôi. Ở ta, nhiều người đã biết cuốn Truyện cổ Anđécxen được tái bản nhiều lần bằng tiếng Việt qua nhiều nhà xuất bản. Những truyện Nàng tiên cá, Hoàng đế cởi truồng, Chú lính chì dũng cảm, Em bé bán diêm...đặc sắc, hẳn còn để lại nhiều ấn tượng mạnh trong lòng độc giả là trẻ em lẫn người lớn. Rõ ràng, nếu là một nàng tiên cá muốn biến thành nàng tiên người thì phải mỗi bước đi, mỗi rớm máu tức là phải chịu sự trả giá (Nàng tiên cá); nếu muốn nghe lời nói thật, lời nói trung thực thì ắt không thể không nghe trẻ con nói (Hoàng đế cởi truồng); nếu muốn có hy vọng thì hãy thắp sáng bằng những đốm lửa, nhưng tiếc thay những que diêm của một đời người không phải là vô hạn (Cô gái bán diêm). Tôi biết ở ta, Cô gái bán diêm là trở thành một gợi ý để một nhà thơ viết: Mỗi đốm sáng một tia hy vọng/ Cháy lập lòe  đêm lạnh giá mùa đông/ Nhưng gia tài tôi chỉ có một bao diêm...

Cũng có những trường hợp, người làm thơ thường tập trung vào những chi tiết thật ấn tượng làm điểm chốt, làm chỗ dựa cho tứ thơ. Nếu tôi nhớ không nhầm thì trong sách tập đọc cấp 1 (tiểu học) từng có vài bài thơ như vậy. Hồi con gái tôi chưa biết chữ, tôi thường đọc cho cháu nghe 2 bài thơ trong sách tập đọc của 2 tác giả nước ngoài mà tiếc tôi không còn nhớ tên. Và đến khi trưởng thành, cháu vẫn còn nhớ. Bài thứ nhất nói về việc một gà, vì chưa được đi học (hoặc lười học) nên chỉ biết mỗi chữ o. Chính vì thế mà mỗi sáng nó cũng chỉ biết...ò...ó...o...mà thôi. Bài thứ 2 nói về một con mèo lười học, không muốn đi học, luôn vin vào lý do: Cái đuôi tôi ốm. Khi người lớn bảo: Nếu tại cái đuôi bị ốm thì phải cắt cái đuôi đi. Lập tức, chú mèo choàng dậy và đi học ngay, chỉ vì sợ bị...đau.

Qua hai tác giả trên, tôi muốn nêu một ý kiến: Thơ của Mácsắc và văn của Anđécxen không chỉ viết cho trẻ em mà còn viết cho người lớn nữa. Hay nói một cách khác: Viết văn, làm thơ cho thiếu nhi là những việc khó làm; mỗi tác phẩm ở địa hạt này không chỉ để trẻ em thấy hay, mà cả người lớn cũng thấy hay. Bên cạnh đó, một đòi hỏi đối với những người chuyên viết cho thiếu nhi là phải làm sao thật gây ấn tượng một cách rất trẻ thơ cho những độc giả nhỏ tuổi.

Ở một chừng mực nào đó, trong làng thơ Việt Nam từ nhiều năm nay, đã và đang xuất hiện nhiều cây bút ít nhiều đáp ứng được một vài đòi hỏi khắt khe trên. Đó là Phạm Hổ, Võ Quảng, Xuân Quỳnh, Nguyễn Châu, Nguyễn Hoàng Sơn, Trương Hữu Lợi, Cao Xuân Sơn... Và trong đó, không thể không nhắc đến Hoàng Tá.

Tôi không biết cả đời thơ của mình, Hoàng Tá có cả thảy bao nhiêu thi phẩm. Nhưng chỉ cần đọc quãng trên dưới 20 bài thơ của Hoàng Tá in trong tập Cái sân chơi biết đi (Nhà xuất bản Kim Đồng 1994), cũng đủ cho tôi yêu mến tài thơ của ông. Và tôi cảm nhận được: Đằng sau những bài thơ ấy là cả một tấm lòng nhân hậu, yêu mến con trẻ nói riêng và con người nói chung. Rất nhiều bài thơ trong tập thơ này làm tôi chú ý: Con bướm không nhà; Thỏ thẻ; Lời bé; Con bướm vàng; Cái sân chơi biết đi; Tại…cái bút; Bà ơi, mỗi độ hoa cau; Những bức trnh xinh xinh tặng bé; Chiều nhọ cánh cò; Hoa học thầm; Trăng rằm - quả trứng tiên; Sợi dây phơi; Cây hoa lựu; Đôi bạn…

Đây là những chi tiết ảo trong thơ: Ngồi ăn hết những giấc mơ bướm vàng (trích câu Cái hoa ngỡ kẹo ai cho/ Ngồi ăn hết những giấc mơ bướm vàng trong bài Con bướm không nhà); Vừa phi vừa ngoạm màn sương bên trời (trích từ câu Chú ngựa đi giữ biên cương/ Vừa phi vừa ngoạm màn sương bên trời trong bài Những bức tranh xinh xinh tặng bé). Đây là câu thơ tài hoa: Hoa sen ăn sữa cành sen/ Vừa ăn vừa cấy ngọn đèn xuống đêm (Những bức tranh xinh xinh tặng bé) và đây là câu thơ sử dụng từ (từ “nhọ”) rất đúng chỗ: Chiều nhọ cánh cò (Chiều nhọ cánh cò). Đây là những câu thơ độc đáo thông qua một cách nói rất hình tượng và rất thơ: Nước xanh là bát mực đầy/ Cuống hoa là bút, nụ này – ngòi xinh/ Khoảng trời sao nở lung linh/ Là trang sách của chúng mình tháng năm (Hoa học thầm). Đây là những câu thơ khai thác thuộc tính của tự nhiên, trước hết là rất đúng: Mưa về như khách lạ/ Ngập ngừng đứng ngoài sân/ Gió về tựa người thân/ Thoăn thoắt đến gõ cửa và sau nữa là rất đẹp: Còn mưa thì từng bước/ Đủng đỉnh dạo quanh nhà/ Hết đeo nhẫn cho hoa/ Lại xâu cườm cho lá…

Ở nhiều bài thơ, Hoàng Tá bộc lộ tài quan sát, tài phát hiện, tài khai thác tâm lý, tài liên tưởng trong tự nhiên và xã hội. Rồi từ những chất liệu của hiện thực, ông xâu chuỗi và kết thành ý, thành tứ thơ.

Qua Cái sân chơi biết đi, thơ viết cho thiếu nhi của Hoàng Tá dường như được phát tiết và bứt phá mạnh mẽ nhất qua các bài thơ: Thỏ thẻ; Bà ơi, mỗi độ hoa cau; Cái sân chơi biết đi; Sợi dây phơi và cây hoa Lựu. Qua 5 bài thơ này, chúng ta cũng thấy được sự khác biệt của từng bài thơ và trên cái nền khác biệt ấy mà tạo ra sự phong phú, đa dạng mang cái riêng của Hoàng Tá.

Đây là toàn bài Thỏ thẻ:

Hôm nào ông có khách

Để cháu đun nước cho!

Nhưng cái siêu nó to

Cháu nhờ ông xách nhé!

Cháu ra sân rút rạ

Ông phải ôm vào cơ!

Ngọn lửa nó bùng to

Cháu nhờ ông dập bớt!

Khói nó chui ra bếp

Ông thổi hết khói đi!...

Ông cười xòa: Thế thì

Lấy ai ngồi tiếp khách?!

Hoàng Tá đã khéo dựng lên cái tứ của bài thơ chính là sự hồn nhiên (nói chính xác và đầy đủ hơn là sự nhiệt tình hồn nhiên) trẻ con rất đáng yêu theo kiểu “lực bất tòng tâm” (tâm thì muốn thế nhưng lực không đáp ứng được). Và khi người lớn can thiệp vào: “Thế thì…lấy ai ngồi tiếp khách”, chất kịch tính và lạ lẫm của bài thơ mới được bộc lộ hết cỡ.

Đây là toàn bài: Bà ơi, mỗi độ hoa cau:

Bà ơi! Đã mấy mùa đông

Bà mang đi cả vị nồng trầu cau

Từ nay mãi mãi về sau

Cháu không còn được hái trầu, bà ăn

Không còn được bà khen ngoan

Như khi cháu thức nắn chân cho bà…

Bà ơi! Mỗi độ cau hoa

Nhìn cây, cháu lại nhớ bà biết bao!

Đây là một bài thơ thiên về tình cảm, đọc lên muốn ứa nước mắt. Hai câu: Bà ơi! Đã mấy mùa đông/ Bà mang đi cả vị nồng trầu cay dễ gây xúc động lòng người. Tình cảm của đứa cháu đối với bà thật sâu nặng, da diết.

Đây là toàn bài Cái sân chơi biết đi:

Chiều bên kênh nước xanh rờn

Lưng bê mát rượi từng cơn gió hè

Hai anh em sáo bay về

Nhảy chơi trên cái lưng bê hiền lành

Sáo em: Hí…hí…kìa anh

Cái sân chơi của chúng mình biết đi…

Bài thơ là một phát hiện độc đáo qua một cách nhìn, một cách liên hệ, một trí tưởng tượng trong sự di chuyển, vận động ở một tình huống, một điều kiện cụ thể. 4 câu đầu có tác dụng tả cảnh, kể chuyện. Từ câu thứ 5 đến câu thứ 6, tứ thơ mới bật ra hết sức bất ngờ: Sáo em: Hí..hí…kìa anh/ Cái sân chơi của chúng mình biết đi…

Đây là toàn bài Sợi dây phơi:

Sợi dây thép trên sân

Áo quần phơi hơi nặng

Là nó lại dọa dẫm

Tôi sắp đứt đây này!

 

Nhưng kìa mấy ngày nay

Nó thừa ra giữa gió

Báo áo, khăn, lót, tã…

Đều phơi dây trong hè.

 

Sợi dây phơi chợt nghe

Nó không là nó nữa

Nó âm thầm tiếc nhớ

Những ngày vui bạn bè…

 

Giữa mưa nó nằm dài

Sợ dây nghe ớn lạnh

Chốc chốc lại rùng mình

Lại rên lên khe khẽ…

Ý của cả bài thơ toát ra trong câu: Sợi dây phơi chợt nghe/ Nó không còn là nó. Và bài học nhân sinh được rút ra ở bài thơ này là: Thật đáng buồn, khi sống ở đời, mình không được là mình, tựa như sinh ra làm mây mà không được bay, sinh ra làm  lửa mà không được cháy, sinh ra làm nước mà không được chảy…vậy.

Đây là toàn bài Cây Hoa Lựu:

Đứng trong vườn rộng của bà

Cái cây ấy chẳng ra hoa mùa này

Mây về nghiêng ngắm bao ngày

Mà không biết nó là cây hoa gì

 

Ngày xuân như lá rơi đi

Cái cây ấy vẫn đứng lì ở đây

Trăm con mắt lá thơ ngây

Âm thầm như thể bóng mây âm thầm

 

Nếu không có một bóng râm

Nếu không có một chiếc mầm vươn xanh

Thì cây kia đã hóa thành

Cái cây chết giữa biếc xanh bốn bề

 

Nhưng rồi một sớm chợt nghe

Tiếng con chim cuốc gọi hè vang xa

Bật tung lớp vỏ khô già

Với mây, hoa nói: Tớ là lựu đây!

Bài thơ giàu chất tự sự, nói về sự chịu đựng của cây lựu qua những ngày sống âm thầm để không thể “chết giữa biếc xanh bốn bề”. Chính vì thế mà trong cây lựu vẫn có “những chiếc mầm vươn xanh” và cây lựu vẫn đợi cái khoảnh khắc “bật tung lớp vỏ khô già” để rồi tự tin nói với mây, với hoa: “Tớ là lựu đây!” bài học nhân sinh được rút ra là: Mọi vật đều có mùa của nó, nhưng tất cả đều phải được chuẩn bị từ trước. Một sự khác thường (Bật tung lớp vỏ khô già) đều được hình thành và được thăng hoa từ sự bình thường (Cái cây ấy vẫn đứng lì ở đây…Âm thầm như thể bóng mây âm thầm).

Cả hai bài: Sợi dây phơiCây hoa lựu đều được về tổng thể. Hay nói một cách khác : Đã thượng ý chứ không thượng từ.

Đọc những bài thơ này, tôi càng tin nhận xét về thơ Hoàng Tá của nhà thơ Phạm Hổ: "Thơ Hoàng Tá, ý dung dị mà hiếm có, tình cảm nhẹ nhàng mà sâu lắng, hóm hỉnh một cách kín đáo, đáng yêu”.

 

Đ.H.G

 

 

 

 

 

“QUẢ THỊ KHÔNG BÔI NƯỚC HOA”

Đăng Bảy 

Khoảng thời gian ngắn chờ nhận công tác, tôi ở quê, thỉnh thoảng đến chơi nhà anh Bùi Đăng Sinh – một nhà giáo, nhà thơ quen biết - và nhân đó gặp người bạn thơ đã không còn chân đi nữa. Người đó chính là Hoàng Tá: anh thường nhờ một bạn thơ cùng xã – Nguyễn Văn Cường thì phải – đèo xe đạp đến giao lưu văn chương với bạn bè ở Vĩnh Tường, Vĩnh Yên và Việt Trì. Đến giờ, tôi vẫn băn khoăn: người tài xế đó của nhà thơ Hoàng Tá có kịp biết, có kịp dự cuộc hội ngộ hôm nay không?

Vậy nên, lần này, tôi muốn đề cập trước hết đến hoàn cảnh khách quan góp phần làm cho một cán bộ Ty Văn hóa Sơn La bị bệnh tật làm lỡ độ đường trở nên nhà thơ yêu dấu của nhiều thế hệ người đọc.

Khi Hoàng Tá tìm cách giải thoát cho mình bằng thơ, Hội VHNT Vĩnh Phú vừa được thành lập và rất sốt sắng tập hợp các cây bút quê nhà, đồng thời thu hút nhiều bạn văn chương từ cả nước. Tôi vừa về nước (1978), gặp ở quê mình một bầu không khí sáng tác hăm hở: cả anh chị em ở văn phòng Hội, cả những cây bút đến từ cơ sở đều sẵn lòng đưa những sáng tác mới toanh ra cùng đọc, và cùng nhuận sắc cho nhau, không ai giữ “bí mật sáng tạo” cho mình. Sự đồng hành của bạn đồng nghiệp, theo tôi, góp phần đáng kể vào củng cố sự tự tin trong cây bút trẻ Hoàng Tá hồi ấy.

Những người đồng hành cùng Hoàng Tá trong làng văn rất nhiều, và tôi nghĩ: giả sử thiếu vắng họ, thì Hoàng Tá, trong cuộc đời tương đối ngắn của anh, cái phần kém may mắn còn ghê gớm hơn nữa. Nhưng điều đó đã không xảy ra, và tôi có được chứng kiến.

Ngoài Bùi Đăng Sinh ở Thổ Tang cận kề, như đã kể trên, phải kể đến Hoàng Hữu. Tác giả Hai nửa vầng trăng bất hủ mang trong mình trái tim khiếm khuyết bẩm sinh nên đặc biệt cảm thông với bạn mình tàn tật, và chính anh là người hễ có dịp là nhắc nhở bạn bè năng đến động viên Hoàng Tá. Cả khi về với vợ con ở trường cấp III Vĩnh Tường (về sau mới mang tên Lê Xoay) còn gần nhà Hoàng Tá, cả khi ở Việt Trì, Hoàng Hữu đều tìm cách để lái lộ trình và đưa khách văn chương về với bạn.

Mà hồi đó, khách văn chương của Hội VHNT Vĩnh Phú rất nhiều: Trần Ninh Hồ, Tạ Vũ, Đào Vĩnh, Lý Biên Cương, Trần Nhuận Minh, Trần Đăng Khoa, Nguyễn Đình Chính… làm sao kể hết được. Đó là cơ hội để Hoàng Tá được ngồi, ngay tại ngôi nhà của mình ở thôn Thượng Tuân Chính, giao tiếp, đàm đạo và học hỏi các nhà thơ nổi tiếng Vũ Quần Phương, Bằng Việt… Bên cạnh đó luôn luôn có Vũ Đình Minh, Nguyễn Đình Ảnh, Vũ Duy Thông, Hữu Thỉnh… Những nhà văn, nhà thơ đã gắn bó với quê hương thì hầu hết đều thường trực một mối quan tâm về người bạn viết của mình - Hoàng Tá. Nhờ họ, Hoàng Tá mới rộng mở tầm nhìn và thẩm mỹ để tuy bị bó chân một chỗ vẫn sáng tác được những bài thơ mở về không gian, sâu về liên tưởng. Như Những bức tranh xinh xinh tặng bé – dí dỏm kể về những sinh vật vừa làm việc vừa ăn uống lại vừa chơi đùa hồn nhiên:

    Chú ngựa đi giữ biên cương

    Vừa phi vừa ngoạm màn sương bên trời.

Như Trăng rằm – quả trứng tiên: trên chóp đảo đầy gió, vầng trăng được anh bộ đội nhặt vào tổ ấm, nở ra cánh buồm chở về cho bé những tôm những cá ở dạng đèn trung thu với nhiều thứ nữa và nở ra nghìn đám rước tưng bừng.

Nói đến khách văn chương của quê ta, có thể nào quên Phạm Hổ! Ông Chủ tịch Hội đồng Văn học Thiếu nhi kiêm Phó Tổng biên tập báo Văn nghệ hồi ấy đã không ngại diệu vợi, đưa Hoàng Tá về Hà Nội dự Trại sáng tác của Hội Nhà văn Việt Nam và Nhà xuất bản Kim Đồng để từ đó – bản thảo tập Cái sân chơi biết đi được hoàn thiện, mở đường cho Hoàng Tá nhiều lần về Hà Nội, về Hội Nhà văn Việt Nam để nhận giải thưởng văn chương hạng A và nhận thẻ Hội viên. Còn nữa – nhà văn Đào Vũ. Trong một chuyến lên Phú Thọ công tác trở về Hà Nội, trên xe, nhà thơ Trần Thị Thắng đề nghị ghé qua Tuân Chính thăm và động viên Hoàng Tá, Quyền Tổng biên tập báo Văn nghệ khi đó đồng ý ngay. Chuyến đi ấy kể ra cũng đáng để nhớ đời, vì khi vào ngõ nhà Hoàng Tá, đường hơi bị chật, bánh xe ô tô sa xuống mép bờ ao, anh em thanh niên “dô ta” chán chê mới vực được chiếc ô tô lên mức khởi hành. Và, trong khoảng thời gian “câu giờ” đó, Hoàng Tá được thỏa thuê trút bầu tâm sự với lãnh đạo báo Văn nghệ.

Do đã quen biết Hoàng Tá, lại có cơ duyên làm việc trực tiếp ở báo Văn nghệ nhiều năm, tôi có thể cam chắc rằng: Hoàng Tá sau này vô hình trung đã trở thành người nhà của địa chỉ 17 Trần Quốc Toản Hà Nội. Mỗi lần Hoàng Tá có việc về Hà Nội, lãnh đạo Báo Văn nghệ thường bố trí để anh ở tạm ngay trong Tòa soạn, mỗi lúc cần phải đi đâu loanh quanh, anh đã có sẵn “tài xế” là đồng nghiệp đồng hương. Ở thời buổi chuyện vận động tài trợ còn lạ nước lạ cái đối với những cán bộ, công nhân viên chức vẫn quen xếp hàng mua nhu yếu phẩm theo tem phiếu, nhà thơ Trần Thị Thắng đã gợi ý Ban biên tập báo Văn nghệ phát động cuộc quyên góp đỡ đần nhà thơ Hoàng Tá. Cuộc vận động này mang lại một kết quả khiêm tốn nhưng đầy tính biểu tượng, chủ yếu là một chiếc xe lăn theo tiêu chuẩn thương binh.

Và đến một hôm, tôi đang cắm cúi ở Tòa soạn, thấy đột nhiên nặng phịch một tập bản thảo trên mặt bàn mình. Ngẩng đầu lên, là Tổng biên tập Hữu Thỉnh. “Mày lo trang Hoàng Tá ngay đi, in ngay!”. “Để làm gì?”… “Nó về quê rồi. Tao vừa tiễn nó ở đài hoàn vũ Văn Điển”…

Quả thực, chuyến về Hà Nội cuối cùng của Hoàng Tá, tôi không được biết gì. Trường hợp này cũng giống như khi về Hà Nội nhận giải thưởng, Hoàng Tá nằng nặc đòi đến thăm gia đình tôi, tận nhà. Nhưng than ôi, căn hộ nhỏ đó ở tít tận tầng năm, không thang máy, làm sao anh lên được… Tôi chỉ an ủi mình bằng cái triết lý vu vơ “đời người, ai biết hết được” và cũng lại an ủi mình một nhẽ “những chỗ thâm giao với Hoàng Tá, hầu hết mình có biết”.

Kể về những người anh em, bạn bè trong mối quan hệ với Hoàng Tá cũng là một cách phản ánh nhân vật chủ thể – nhiều dân tộc trên thế giới chẳng đã tâm đắc câu châm ngôn “qua bạn anh, tôi khắc biết anh là người như thế nào”… Ngẫm nghĩ chuyện này, tôi thấy trước hết, Hoàng Tá là người viết có tâm và có tài, “hữu xạ tự nhiên hương”, nên dẫu phải ngồi bó chân một chỗ vẫn luôn luôn có bạn bầu quây tụ. Hình như ý thức được điều đó nên anh viết tặng Hoàng Tâm Sáng - con trai của mình với chị Thước – Những bức tranh xinh xinh tặng bé, trong đó có câu cực kỳ chân quê:

Quả thị không bôi nước hoa

Mà thơm nức cả vườn nhà bố ơi!

 

Đ.B

 

 

 


B - MỘT SỐ TÁC PHẨM TIÊU BIỂU

 

 

CÁI SÂN CHƠI BIẾT ĐI

 

Chiều bên kênh nước xanh rờn

Lưng bê mát rượi từng cơn gió hè

Hai anh em sáo bay về

Nhảy chơi trên cái lưng bê hiền lành

Sáo em: Hí…hí…kìa anh

Cái sân chơi của chúng mình biết đi…

                                          Mùa hè 1982

 

 

 

 

 

 

 

TẠI CÁI BÚT

 

Mèo con lười tập viết

Nên chữ xấu… xấu ghê!

Nhưng mèo thường vuốt ria

Khen rằng: Rất… rất… đẹp!

 

Một buổi lớp thi viết

Thỏ con được điểm mười!

Mèo ta ngượng nghịu cười:

Tại… bút tôi mới quá!

                                  1978

 

 

 

 

 

 

 

 

QUẢ TRĂNG

 

Khi cam cho hết trái rồi

Bỗng cây chới với như người hẫng tay

Thức chờ vườn mẹ đêm nay

Cây chuyền nhau bế tròn đầy quả trăng.

                                   Mùa đông 1984

 

 

 

 

 

 

 

VÒM TRỜI RIÊNG

 

Vòm trời riêng của cá

Lá những khóm bèo trôi

Vừa trôi vừa thả rễ

Cho cá làm tóc chơi

 

Vòm trời riêng của chim

Là những vầng quả đỏ

Chim líu lo hát ru

Và tha hồ bóc vỏ

 

Trắng trong bầu sữa mẹ

Bé hít thở từng giờ

Là vòm trời của bé

Nuôi lớn ngàn ước mơ…

                   Mùa thu 1996

 

 

 

 

 

 

 

DƯỚI GỐC CÚC HOA VÀNG

 

Ở dưới gốc Cúc hoa vàng

Đôi râu – ngọ ngoạy – cái hang – dế mèn

Lung linh cây Cúc như đèn

Đêm đêm khêu tiếng dế lên sáng bừng.

                                       Mùa thu 1996

 

 

 

 

 

 

 

HAI BÀ CHÁU

 

Sà vào lòng bà, bé hỏi:

- Bà ơi: Bà móm lâu chưa?

Bao giờ răng bà mọc lại

Để bà ăn trầu cho ngon?...

 

Nhẹ xoa lê mái tóc mềm

Giọng bà rưng rưng xúc động

- Cháu ơi, bà đã già lắm

Răng chẳng thể mọc nữa đâu;

Nhưng khi cháu biếu cơi trầu

Bà ăn vẫn thấy ngon lắm.

                   Mùa thu 1989

 

 

 

 

 

 

 

QUẢ TRỨNG CÓ GÁNH

                  Tặng bé Hiền Chi

 

Nắng rạch tán bưởi xanh

Khẽ thả xuống quả trứng

Thả trúng cái xoong con

Cho bé chơi luộc trứng

 

Chú mèo đang sưởi nắng

Cũng rón rén lại xem

Chắc bà ở trong bếp

Cũng nghe mùi trứng thơm

 

- Chín rồi: Bé thì thầm

Giật mình quả trứng nám

Bay vù lên lá mầm

Cười rung chùm hoa trắng

 

Mèo con cứ tròn mắt

Ngó mãi vào chiếc xoong

- Ồ, quả trứng có cánh

Nó bay rồi tiếc không!

             Việt Trì 1986

 

 

 

 

 

 

NHỮNG ĐƯỜNG THẲNG SONG SONG GẶP NHAU

 

Song song hai bức tường xây

Như cõng hai tốp thọ bay lên trời

Là hai đường thẳng tuyệt vời

Gặp nhau qua ánh mắt cười song song

Song song hai vệt phố đông

Gặp nhau líu ríu trong thùng thư xinh…

Hai đường dây điện kiễng chân

Quả vườn hoa bưởi trắng ngần tìm nhau…

Hai đường bàng hút về đâu

Để cho bố, mẹ gặp nhau một chiều…

Để rồi hạnh phúc bao nhiêu

Một ngày được dắt bé yêu đến trường…

Song song bước với yêu thương

Bố và mẹ - cũng là đường song song.

                                                 1992

 

 

 

 

 

 

 

 

PHƠI GIỌNG HÁT

 

Con Dế có giọng hát vàng

Nó đem cất dưới cái hang sau nhà

Sợ rè sợ mốc giọng ca

Loay hoay nó cứ bò ra bò vào

Rồi bò ra mé bờ ao

Dế nằm phơi nắng ngọt ngào giọng ca…

 

 

 

 

 

 

NHỮNG BỨC TRANH XINH XINH TẶNG BÉ

 

Con ong ăn sữa bông hoa

Vừa ăn vừa đứng lấy đà bay lên

 

Hoa sen ăn sữa cành sen

Vừa ăn vừa cấy ngọn đèn xuống đêm

 

Con tằm trốn gió nồm nam

Vừa ăn vừa kéo tơ làm chỉ khâu

 

Con vịt mày vội đi đâu

Vừa ăn vừa rửa mỏ vào máng ngô

 

Kiếm được hạt tấm thơm tho

Vừa ăn con kiến vừa bò tìm con

 

Chú bò chở cát về thôn

Vừa đi vừa bứt cỏ non dọc đường

 

Chú ngựa đi giữ biên cương

Vừa phi vừa ngoạm màn sương bên trời.

                                        Mùa xuân 1988

 

 

 

 

LỜI BÉ

             Tặng bé Hoàng Tâm Sáng

 

Quả thị không bôi nước hoa

Mà thơm nức cả vườn nhà, bố ơi

Gió ru quả thị đi chơi

Lắc đầu nó bào: Sợ rơi méo đầu.

 

 

 

 

 

 

 

LẠC VÀO VƯỜN HOA BƯƠM BƯỚM

 

Yêu hoa, bướm biến thành hoa

Làm hương, làm sắc nõn nà cho cây

 

Hoa yêu cánh bướm thơ ngây

Hoa làm cánh bướm suốt ngày múa ca

Thơm sao thơm thế vườn bà

Thơm từ cánh bướm thơm ra khung trời…

 

Chiều xuân dắt bé đi chơi

Lạc vườn bươm bướm – đánh rơi mất chiều.

 

 

 

 

 

 

 

CON SỐ MỘT

 

Gặt song, cánh đồng làng em

Lại rộn rang mùa vỡ đất

Chiếc cuốc hình con số một

Lặng thầm giúp mẹ sớm trưa

 

Theo từng lối đất mở xa

Ròng ròng mồ hôi mẹ rắc

Đất ươm hạt mồ hôi mặn

Thành muôn ngàn biếc hạt mầm

 

Em yêu tháng mười, tháng năm

Mênh mông lúa đồng vàng rực

Bắt đầu từ con số một

Mẹ nhân lên mãi không cùng…

 

 

 

 

 

 

 

 

NGỰA VÀ NGÔ RĂNG NGỰA

 

Có chú ngựa

Rất háu ăn

Ngựa một lần

Qua nương bắp

 

Nó ngoạm trộm

Bắp ngô vàng

Ngoạm rất hăng

Răng rụng hết!

 

Răng cắm tiệt

Vào bắp ngô!

Ngựa quay về

Thành ngựa móm…

 

Bé hàng xóm

Nghĩ thương tình

Tặng ngựa xinh

Rằng răng sữa…

 

Và từ đó

Họ nhà ngô

Có thêm cô:

Ngô răng ngựa.

 

Và vì thế

Ngựa trưởng thành

Hay bỗng dưng

Cười hí… hí…

 

 

 

 

 

 

 

TREO BÀN CHÂN CAU 

 

Cây trầu ở cạnh cây cau

Hình như cánh nửa luống rau muống già…

Mà như cách biển bao la

Bao năm chẳng thấy đến nhà thăm nhau

 

Cút côi gặm héo lá trầu

Cô đơn quắt ruột quả cau hiền lành

Gió sườn sượt thở năm canh

Vu vơ cau ném xuống quanh gốc trầu…

 

Bà nằm ngẫm hết đêm đau

Sáng lên vườn nhặt trái cau thơm vào…

Thì ra ruột nó hồng đào

Đúng là bạn của lá trầu đấy thôi!

 

Bà đem trầu đến… thêm vôi

Quả cau bẽn lẽn thơm môi lá trầu

Ngắm nhìn hai đứa hồi lâu

Bà cười móm mém, gật đầu khen: ngoan!

 

Thế là từ đó leo giàn

Cây trầu còn thích trèo bàn chân cau…

 

 

 

 

 

 

CON BƯỚM KHÔNG NHÀ

         Thương mến tặng các em bé lang thang cơ nhỡ

 

Đêm xui con bướm không nhà

Ngủ nhờ trên cái miệng hoa, tối mò

Cái hoa ngỡ kẹo ai cho

Ngồi ăn hết những giấc mơ bướm vàng…

                                     Mùa xuân 1993

 

 

 

 

 

 

 

CON BƯỚM VÀNG

 

Con bướm vàng

Bay dăng dăng

Trong vườn nắng

Như giọt nắng

Đi chơi xuân

Bỗng vướng chân

Vào lưới nhện…

Em bước đến

Khẽ gỡ ra

Bướm thành hoa

Vàng như nắng

Lại vỗ vánh

Đi chơi xuân.

             Mùa xuân 1990

 

 

 

 

 

 

 

 

BÀ ƠI MỖI ĐỘ HOA CAU

 

Bà ơi! Đã mấy mùa đông

Bà mang đi cả vị nồng trầu cau

Từ nay mãi mãi về sau

Cháu không còn được hái trầu bà ăn!

Không còn được bà khen ngoan

Như khi cháu thức nắn chân cho bà…

Bà ơi! Cau mỗi độ hoa

Nhìn cây, cháu lại nhớ bà biết bao!

                               Mùa đông 1990

 

 

 

 

 

 

 

CHIỀU NHỌ CÁNH CÒ 

 

Mặt trời xuống núi

Bóng tối loang ra

Chiều nhọ cánh cò

Mẹ còn đứng cấy

 

Mẹ ơi, có thấy

Từ vườn chuối nhà

Con đứng ngóng qua

Cánh đồng của mẹ?...

 

Gió ơi, gió khẽ

Thổi xa bóng đêm

Cho mẹ cấy xong

Vài hàng mạ nữa…

 

Sao Hôm sắp sửa

Chong đèn học rồi

Nghỉ thôi, mẹ ơi

Con ra đón mẹ… 

             1988-1992

 

 

 

 

 

 

 

KHÓI CHIỀU

 

Chiều chiều từ mái rạ vàng

Xanh rờn ngọn khói nhẹ nhàng bay lên

Chăn trâu ngoài bãi bé nhìn

Biết là bếp lửa bà nhen chiều chiều

Nghe thơm ngậy bát canh riêu

Với nồi cơm ủ cạnh niêu tép đầy…

 

Khói ơi, vươn nhẹ lên mây

Khói đừng bay quẩn làm cay mắt bà!...

 

 

 

 

 

 

 

 

NẮNG  

 

Mặt trời vừa thức

Nắng đã xuống vườn

Công việc đầu tiên

Nhặt sương lá cải

Rồi nắng lại tới

Lau vũng nước sân

Soi tia ấm nồng

Vào trong nhà ngủ

 

Nắng vẫy mèo nhỏ

Lên chổi rơm nằm

Dắt bóng cau xanh

Xuống hè tập múa

 

Còn bao rơm, rạ

Nắng dồn giữa sân

Mẹt cau bà hong

Nắng sấy thật nỏ!

 

Đến lúc xế chiều

Nắng cũng mệt rồi

Nắng ngủ ngay thôi

                   Tiêu diệt kẻ thù chung.

 

 









HOÀNG TRUNG KIÊN

 

- Họ và tên khai sinh: Hoàng Trung Kiên

- Sinh năm 1954

- Quê quán: Xã Thanh Hà, Thanh Ba, Phú Thọ

- Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam (từ 2011)

 

- Tác phẩm chính đã xuất bản:

* Tình xuân người lính (NXB Hội Nhà văn)

* Giọt nắng (NXB Hội Nhà văn)

* Ánh mắt mẹ (NXB Hội Nhà văn)

* Thơ và tình (NXB Hội Nhà văn)

 

 


 

MỘT SỐ TÁC PHẨM TIÊU BIỂU 

 

 

ƯỚC MƠ ĐỎ

                  Kính tặng Thầy cô

                  Trường PTTH Trần Phú  - TP. Vĩnh Yên

                                                      

Học chưa hết phổ thông tôi lên đường chiến đấu,

Tạm dấu ước mơ dưới tán phượng đợi chờ.

Tôi tự nhủ: khi núi sông một dải,

Tôi sẽ đến trường lấy lại ước mơ!

 

Ước mơ đỏ sau những lần ra trận,

Cứ đầy lên trong trái tim tôi.

Những ước mơ đầu đời, trong trắng, thơ ngây.

Sau chiến thắng vô tình có trong tôi tất cả.

 

Tôi quay lại trường khi mùa phượng nở,

Những ước mơ xưa nay đã đỏ tươi.

Qua tôi luyện đã thành rực lửa,

Mái trường ơi! ước mơ tôi xin tặng lại người.

Lửa người chiến sĩ xe tăng

 

Trước khi anh vào trận

Tôi gặp ở vùng ven

Tay nâng niu bông lúa

Mặt anh tắm đầy trăng.

 

Anh bảo: đi trinh sát,

Ngày mai mình vào trận

Mắt anh cười mãn nguyện

Hai ngọn lửa thẳm sâu.

 

Bao hờn căm dồn nén

Lửa thiêu cháy đồn thù

Hiến mình cho đất mẹ

Anh ở lại Tuy Hoà.

 

Anh mất tôi ngơ ngác

Mặt đất chao chao nghiêng

Ôi đất mẹ linh thiêng

sinh ra và đón lại.

 

Chiếc xe tăng vắng anh

Nằm im như voi phục

Ngôi sao trên tháp pháo

Sương đêm ứa lệ dài

 

Anh thương từng hạt lúa

Anh bịn rịn với trăng

Anh yêu hơi của đất

Anh muốn mình hiến dâng.

 

Mấy chục năm đi đã qua

Tôi ngược xuôi Nam Bắc

Mắt anh cười nhìn tôi

Giữa đêm trăng là lửa.

 

 

 

 

 

 

 

GÁC ĐÊM

 

Anh đứng gác dưới cây cổ thụ,

Không gian trôi, nghe rõ tiếng lá rơi.

Trăng toả sáng, nhớ em nhìn trời cao vời vợi,

Khuân mặt em, anh xếp bằng sao giữa dải ngân hà.

 

Khẩu súng tựa vai nóng lên trong đêm lạnh,

Mắt sáng như sao, nhìn rõ chiếc lá chao

Không bước chân ai, sương đêm gọi càng nhớ em da diết,

Mây trắng bay, ngắm dáng hình em, anh vẽ dưới trăng.

 

 

 

 

 

 

ĐẠI ĐỘI TÔI

 

Mấy chiếc xe tăng cùng nóc nhà đại đội

Do thân thương chúng tôi gọi "xê ta"

Hôm vào lính nhìn nhau là lạ

Đến hôm nay thân thiện gọi "tao" "mày".

 

Từ Bắc vào Nam hàng nghìn ki-lô-mét,

Khi khởi nguồn thấy vời vợi phía tiền phương

Những chiếc xe tăng đè đỉnh Trường Sơn đi tới,

Từng mắt xích quay vương dải mây mờ.

 

Nơi tập kết là cánh rừng không tên gọi

Thừa gió đại ngàn, ước một tiếng trẻ thơ

Bom đạn đấy nhưng trông về hậu phương đau đáu,

Tập thư tình giao cho người tài xế vu vơ.

 

Ngày truyền thống bắp chuối rừng cải thiện

Ai cũng vui như trẻ nhỏ ăn cỗ giỗ ông

Con ba ba, xương hầm, chúng tôi nhường nhau không nỡ,

Thịt nấu riêng, thương bạn mình sốt rét liên miên.

 

Mặc cho O - V - Mười chao nghiêng tuyệt vọng

Dây phong lan leo lên tháp pháo mừng xuân

Thương con gà mái đến kỳ nhảy ổ

Đón giao thừa, rau dướn với cá khô.

 

Trận mở đầu sau bao ngày chờ mong khao khát

Đại đội tôi ào lên trút hết lửa hờn căm

Sau trận đánh mặt người nào cũng dầu loang, bụi đỏ

Ôm lấy nhau, ngôi sao tháp pháo rạng ngời.

                                                                                                         

Theo chiến dịch liên miên, đến khi kết thúc

Nhìn lại phía sau vắng một nửa "ngôi nhà"

Vui giải phóng, nhưng đâu rồi những người cùng đại đội?

Nòng pháo thức đêm, sương đọng, nước lã chã rơi.

 

Ngày chiến thắng hàng năm "xê ta" gặp mặt

Vẫn chuyện xưa nhưng ồn ào như mới hôm qua

Thương đồng đội tóc có phần thêm bạc

Mắt long lanh, ngôi sao tháp pháo đại đội tôi.

 

 

 

 

 

 

 

 

CÂY BỒ KẾT 

 

Nơi ngã ba Đồng Lộc

Trong bão đạn mưa bom

Em cùng cây bồ kết

Bất khuất đứng giữa trời

 

Cuộc đời cây bồ kết

Sẽ không có hương thơm

Nếu như em không đến

Và em không gội đầu

 

Hương thơm của bồ kết

Làm hết mùi đạn bom

Hương bay của bồ kết

Khói bom phải tan dần

 

Em chải tóc gội đầu

Để bầu trời hương bay

Tóc em thay tình mẹ

Chắn bom giữ mạch đời

 

Em nằm đây trẻ mãi

Hương bồ kết vương vương

Thương em cây già cỗi

Nấc lên những sù sì.

 

 

 

 

 

 

ÁNH MẮT MẸ 

 

Khi còn ở trong nôi

Mẹ nhìn tôi mơ ước

Tôi chập chững tập bước

Mắt mẹ tôi trong xanh.

 

Dù tôi đã khôn nhanh

Mắt mẹ tôi âu yếm

Và không cần dấu diếm

Ánh mắt mẹ tự hào.

 

Chiến tranh đến ào ào

Tôi lên đường ra trận

Mắt mẹ tôi ân hận

Sinh tôi không gặp thời

 

Kể từ đó suốt đời

Tôi xông pha trận chiến

Tôi nguyện mình dâng hiến

Cho ánh mắt mẹ tôi.

 

Cuộc Chiến Tranh xoáy trôi

Mắt mẹ tôi lo lắng

Nhiều đêm người thức trắng

Mắt khô héo nhòa mờ.

 

Và cũng thật bất ngờ

Cứ mỗi lần nổ súng

Mắt mẹ tôi ngắm trúng

Buộc kẻ thù lui quân.

 

Trong ác liệt gian chuân

Tôi không sợ mình chết

Mà luôn lo trước hết

Giữ mắt mẹ không nhòa.

 

 

 

 

 

 

 

 

CON ỐC SÁU CHÂN 

 

Ra thăm Trường Sa gặp người lính Đảo

Vốn năm xưa là trò cũ của tôi

Lúc chia tay mắt dưng dưng cảm động

Người lính tặng tôi con ốc sáu chân.

 

Ở đất liền tôi gặp nhiều loài ốc

Nhưng ốc sáu chân tôi thấy lần đầu

Dãi nắng dầm mưa và mặn mòi của biển

Vỏ ốc ánh lên sáng quắc sần sùi.

 

Giữa khắc nghiệt muốn mình tồn tại

Không thể bình thường ốc hóa sáu chân

Là loài ốc nhưng có chân di chuyển

Ốc sống hiên ngang giữa các bầy đàn.

 

Cầm ốc trên tay tôi nhìn người lính Đảo

Tôi chợt nhận ra cái khác bình thường

Không còn là lính học trò tôi nữa

Chắc chắn vững vàng như con ốc sáu chân.

 

 

 

 

 

 

 

CHỊ TÔI

 

Đột ngột anh qua nhà

Vội vàng làm đám cưới

Từ thôn trên xóm dưới

Mừng chị tôi lấy chồng

 

Anh đi - xa hương đồng

Chiến chinh cùng đồng đội

Còn chị tôi tội tội

Suốt bốn mùa cô đơn

 

Anh cùng cả tiểu đội

Ở lại đồi không tên

Còn chị tôi đêm đêm

Cùng đom đóm dật dờ

 

Chị lang thang mơ hồ

Như anh còn tồn tại

Hương bay chị ngây dại

Đêm mồng một hôm rằm

 

Anh mất anh nằm đó

Gió ngàn thu du anh

Nhưng chiến tranh ở lại

Theo chị tôi suốt đời.

 

 

 

 

 

 

 

NGƯỜI LÍNH ĐẢO

       Kính tặng các chiến sĩ đảo Trường Sa

 

Tôi không biết nên tưởng là đơn giản

Trầy trật, bung biêng, chẳng lên được “Nhà Giàn”

Xuồng đập cột, ngỡ vỡ làm đôi mảnh

Sóng vờn trêu, xuồng dập xuống vút lên.

 

Người Lính Đảo chỉ quần không áo

Mặt tỉnh bơ, đánh vật với đại dương

Nhìn anh đứng đầu xuồng đè sóng

Biển lắc lư ánh mắt gờm xanh.

 

Anh bảo: “Tôi gặp ông bao giờ cũng chập

Nóng đỏ dây làm thủng vài chai”.

“Tôi gặp ông như xuồng đu ngọn sóng

Cảm giác lâng lâng như xuồng vụt rơi nghiêng”.

 

Anh đứng đó mắt dịu xanh biển biếc

Thô giáp, hiên ngang như cây “Bão Táp” đảo xinh

Người Lính đã quên ngay lúc giận hờn của Biển

Còn lại trong mình những khao khát đại dương.

 

 

 

 

 

 

 

VỀ VỚI TUỔI THƠ

 

Giờ hai thứ tóc về đến đầu làng

Xốn xang con trẻ mơ màng tuổi thơ

Phất phơ tà áo, đánh đáo, chơi khăng

Lăng xăng bãi cát, gió hát thả diều

 

Nhớ chiều bắt cua đau lòng bờ ruộng

Đuổi bắt chuồn chuồn nát cả dậu dưa

Võng rách đung đưa, dối mẹ ngủ vờ

Chỉ chờ ve gọi đi tìm nắng trưa

 

Mưa rét thiếu chăn lấy rơm lót ổ

Con rĩn, mắt muông đốt đỏ cả người

Mẹ mắng vẫn cười và tôi càng lớn

Đến giờ nhớn quá bỗng thành trẻ thơ.

 

 

 

 

 

 

 

SAY TENNIS 

 

Không biết có gì say hơn thế

Chúng tôi say tennis đến lạ lùng

Say mê quá, vợ ghen chì chiết

Lo chúng tôi: “Quên lãng việc nhà”

 

Suốt cả ngày chồng chất việc công

Chờ giờ nghỉ để ra xì choét

Nếu không chơi, thiếu hẳn cái gì?

Gọi không ra! Ta buồn lẩn thẩn.

 

Khi vào sân không theo tuổi tác

Và cũng không tính đến thấp cao

Khi vào sân ta quên tất cả

Còn tình ta với bạn trên sân

 

Những chung riêng ở nhà bề bộn

Sẽ tan ngay sau đường bóng tập trung

Bao sức ép những điều khó giải

Sẽ biến ngay sau trận đánh tuyệt vời.

 

Nếu thắng trận, mặt mày rạng rỡ

Cười hả hê, họp báo tràn lan

Ngày hôm sau, làm việc cơ quan

Nhớ trận thắng mà vui như tết

 

Nếu thua trận, bé dần âm lượng

Vớt vát vài câu, lặng lẽ ra về

Khi ăn cơm, bao điều nuối tiếc

Trong ngủ say, mơ trận ngày mai.

 

Thua hay thắng chúng tôi đều hăm hở

Quên hết mưu sinh, tính toán đời thường

Những ưu phiền chôn vùi trên sân tennis

Còn lại tiếng cười - trẻ lại - đam mê.

 

 

 

 

 

 

 

 

NĂM MƯƠI NĂM – VẾT XÍCH TỰ HÀO

 

Vết xích tự hào của năm mươi năm truyền thống

Vang vọng trống đồng trên đất tổ Hùng Vương

Vết xích đầu tiên hồn thiêng thủa trước

In đậm cờ đào hào khí Bà Trưng

 

Vết xích kiên cường của bài ca giữ nước

Nung nấu vun trồng ước vọng chiến công

Vết xích trận đầu Làng Vây – Ra quân đánh thắng

Đè bẹp quân thù trên đất đỏ Tây Nguyên

 

Vết xích lướt qua để lại phía sau rực màu hoa đỏ

Vang vọng đời sau chiến dịch Hồ Chí Minh

Vết xích vinh quang phá toang cửa Dinh Độc Lập

Phơi phới cờ bay – Tượng đài Người chiến sĩ

                                                             xe tăng

 

Vết xích thân yêu của thời kì đổi mới

Ta nâng niu từng mắt xích cơ đồ

Những giọt mồ hôi thấm vào từng mắt xích

Ngời sáng lên ánh thép kiên trung

 

Ta thấm hiểu để vết xích dài vô tận

Bao người con đã trở thành bất tử

Ta cũng hiểu để vết xích đạt tầm cao thời đại

Có cả nụ cười và nước mắt rơi

Năm mươi năm ta chất chứa khát khao

Để hôm nay ngỡ ngàng trên đỉnh cao thời đại

Năm mươi năm ta dệt ước mơ theo từng mắt xích

Để hôm nay vết xích lung linh như hai dải

                                                           Ngân Hà.

 

 

 

  

 

  

CHẠNH LÒNG BƯỞI CHÍN

 

Khi còn xanh mong cho bưởi chín

Khi chín rồi mẹ nỡ không ăn

Băn khoăn quang buộc treo từng quả

Mẹ níu chín vàng ở với cây

 

Em còn trăng khuyết chưa thơm chín

Nín lặng nghĩ xa thấy chạnh lòng

Lòng vòng chẳng mấy trăng mười sáu

Đau đáu chín vàng mẹ giữ không ?

 

 

 

 

 

 

 

 

BÀI THƠ KHÔNG NGỦ  

 

Anh khắc khoải bởi những ngày chờ đợi

Máu trong tim cạn kiệt bởi chờ mong

Thế rồi em đến trời ấm lại

Hình dáng thiên thần của ước mơ

 

Ngần này tuổi yêu em là dũng cảm

Em đến với anh còn dũng cảm hơn nhiều

Nghĩ đến cùng không phải do ta liều lĩnh

Bởi chỉ hiểu nhau mới có được nhau

 

Em khéo trách: Cớ sao anh lại làm thơ

Để em yêu thơ cùng người không dứt

Yêu thơ anh có nhiều “Fan” hâm mộ

Nhưng yêu anh chỉ có một mình em

 

Khi trái đào tiên vẫn mới tươi nguyên

Anh hạnh phúc nước mắt dấp mi ướt góc

Anh đã hiểu của khôi nguyên thuần khiết

Của tình yêu em giữ cho anh

 

Yêu say đắm và chết trong hạnh phúc

Hơn sống một đời mà lại không yêu

Yêu cuồng si và cháy lên tất cả

Hơn mấy kiếp người sống chỉ mình thôi

 

Người xưa bảo đấu tranh là hạnh phúc

Nhưng thực ra dâng hiến là hạnh phúc em ơi

Không dâng hiến thì lấy đâu hạnh phúc

Sẽ lụi tàn đặc tính của tình yêu

 

Nếu chưa hiểu thế nào là hạnh phúc

Thì đừng nên nghĩ tới tình yêu

Lấy tình yêu để dùng trang trí

Thì em ơi hạnh phúc mãi mãi đâu còn

Anh cũng hiểu em yêu anh là tất cả

Nhưng ngại đường dài phía trước ra sao?

Anh lãng mạn cuồng si nhưng là kẻ sĩ

Sẽ tôn thờ mãi mãi với tình yêu

                          

Tình yêu đến nhưng cũng rất mỏng manh

Hạnh phúc bao nhiêu mới là cho đủ

Anh chỉ biết đã yêu nhau là cho nhau tất cả

Gìn giữ trường tồn với khắc nghiệt thời gian

 

Em bảo anh là người ghê gớm

Nếu hiền lành, liệu em có yêu anh?

Em bảo anh là người khó tính

Nếu dễ tính anh đã mất từ lâu

 

Em bảo: Em là thiên thần, anh là đôi cánh

Đôi cánh anh đưa em đến cõi tiên

Nhưng em ơi - cõi tiên không phải là nơi xa lạ

Nó ở trong vòng tay của đôi lứa yêu nhau

 

Em bảo anh ngủ cho ngon nhé

Nhưng ngủ làm sao khi hạnh phúc tươi nguyên

Anh thức miên man suy nghĩ về mình

Và thương những kẻ lo làm giàu nhưng chưa bao

                                                 giờ hạnh phúc.

 

Anh không ngủ viết bài thơ không ngủ

Giành cả một đêm để nghĩ về em

Trong hạnh phúc biết bao điều lộn xộn

Nhưng quẩn quanh một triết lý yêu em.

 

 

 

 

 

 

 

EM ƯỚC MÌNH MƠ

 

 

Nhớ anh em chẳng làm khác được

Nhắm mắt vào chỉ ước mình mơ

Lơ thơ nước chảy anh chèo hái

Hai trái đào tiên ngã sững sờ

Lờ mờ chẳng thấy khi tỉnh mộng

Rộng giường - chăn thiếu - chiếu lọt trăng.

 

 

 

 

 

 

CON TÀU TÌNH YÊU

 

Anh đến sân ga cùng em chiều hạ

Nắng đổ đường, má em đỏ đôi mươi

Dẫu chưa biết có đi cùng hướng

Linh cảm trong anh hạnh phúc con tàu.

 

Dù chưa một lần đặt chân ước nguyện

Mơ về con tàu xa lắc xa lơ

Sau một tuần đắn đo có cả ngại ngần

Em ngộp thở cùng anh lên tàu đi tới.

 

Tuy không mới nhưng động cơ sung sức

Cảm xúc chinh phục con đường vẫn vẹn nguyên

Những cung đường chuân chuyên tàu đã đến

Vẫn hoang sơ như miền đất xa xưa.

 

Hai tay lái, hai con người tài sắc

Hai trái tim đã thuộc hẳn về nhau

Rất mạnh mẽ với bên kia uyển chuyển

Điều khiển con tàu của những ước mơ.

 

Anh bên em cùng lái con tàu

Phía xa xa trăng sao chênh chếch

Buồng lái con tàu gió lùa mát ngọt

Mang đậm mùi hương của các loài hoa.

 

Đã có lúc con tàu nghiêng ngả

Bởi cả hai còn chưa cảm nhận về nhau

Đầu máy nóng nhưng có vần thơ làm mát

Lại dịu êm trên xa lộ tình yêu.

 

Anh thương em khi cầm lái con tàu

Đâu chỉ có hương hoa, trăng sao gió mát

Để con tàu đạt đỉnh cao tốc độ

Em bỏ qua những trăn trở đời thường

 

Chặng đường ta đi là chặng đường vô tận

Con tàu ta lái trái tim mình

Nơi ta đến, không có ga kết thúc

Xúc cảm hành trình là cuộc tình cháy bỏng.

 

Mới khởi nguồn nhưng đã qua vạn dặm

Hai dải ngân hà tàu để lại phía sau

Khát vọng tình yêu, tàu còn đi tiếp

Nơi cuối cùng khi đầu máy phía bên kia.

 

 

 

 

 

 

 

 

ƯỚC NGUYỆN  

 

Khi mất nhau ta sót thương nàng "Tô Thị",

Và cảm thông hòn  "Trống Mái" giữa biển đông.

Khi xa nhau ta thương Ngưu Lang - Chức Nữ,

Và nước mắt rơi cho sao sớm, sao chiều.                  

 

Nếu tạo hoá cho phép ta lựa chọn,

Ta nguyện làm "sao" không có "sớm chiều,"

Nếu đất trời có sức mạnh vô biên,

"Trống Mái" ơi, dịch chuyển lại để cùng nhau ôm ấp.

 

Nếu tạo hoá cho phép ta làm lại,

Ta nguyện làm cầu để đón "Chức Ngưu".

Nếu đất trời có phép màu thần diệu,

Thì Tô Thị ơi, ta hoá đá cùng Người!

 

Nếu cho phép anh được quyền nguyện ước,

Nước non này chỉ có mùa xuân,,

Không "ngang trái" chỉ có lửa tình cháy bỏng,

Cho anh và em mãi mãi được yêu nhau.

 

 

 

 

 

 

 

GẶP EM ANH THAY ĐỔI

               Tặng Phụ nữ nhân ngày 8/3

 

Anh đã hứa sẽ chẳng làm thơ

Nhưng vui quá nên anh lại viết

Anh đoán biết thế nào em cũng đọc

Bởi hôm nay là ngày tết của em.

                                         

Đời em như chiếc lá

Theo vòng xoáy nước trôi

Bao năm tháng cút côi     

Như vầng trăng đơn lẻ.

 

Em hồng lên tươi trẻ

Khi em đã gặp anh

Như cô tiên trong tranh

Bước ra tìm lẽ sống.

 

Chẳng còn lúc nào trống

Không có lúc nào buồn

Giờ em như mạch nguồn

Mãi mãi tuôn trong xanh.

 

 

 

 

 

 

 

SUỐI CẠN

 

Anh đã đến nhưng chưa lần nào như thế!

Nước đổ đi đâu ? mà vơi đến buồn lòng

Dòng suối cạn giữa hai bờ quắt quéo

Khô héo phơi, nuối tiếc dòng xanh

 

Tôi muốn làm phong ba vân vũ

Mưa thượng nguồn để nước cuộn trôi

Lòng mê mải theo dòng suối lớn

Chảy vô cùng đến chốn khôn nguôi.

 

 

 

 

 

 

 

THƠ VÀ TÌNH

 

Anh đã hứa sẽ chẳng làm thơ

Nhưng buồn quá mơ mơ tủi hận

Dẫu vấp ngã nhưng muốn mình đứng dậy

Vịn vào câu thơ để lấy lại mình

 

Thơ đã làm anh say bay bổng

Anh và em đã sống như mơ

Nhưng thơ ơi? sao lại thắt tim mình

Ngột ngạt quá làm em rơi không trọng lượng

Tâm hồn chết bước đi vô định

Chếnh choáng đau, hoa Chằm may

                                             cài cả vào quần

Bước chân khuyết hoa cắm bừa nhặm quá

Ước gì em gỡ đỡ cho anh

 

Chân khụy xuống mây bay ngang mặt

Bầu trời nghiêng mưa hắt xiên ngang

Ngước nhìn lên trái xoài non trơ trọi

Lá non đâu? Thiếu e ấp lẻ loi.

 

Ngày đầu tiên gặp em, nhìn góc bàn tâm sự

Trái tim anh, máu đỏ phập phồng

Khi anh ngã, không dám nhìn em nữa

Sàn nhà đen, đen cả ánh mắt nhìn.

 

Em bảo rằng: Anh thì cao lớn

Nhưng so với em anh bé nhỏ hơn nhiều

Em bảo anh: Thông minh sắc sảo

So với em anh ấu trĩ ngây ngô.

 

Anh cũng biết không ai yêu anh như thế

Và anh chưa yêu thế bao giờ

Từng ấy năm, ngần ấy ngày ta có

Bùng ngọn lửa tình, đốt cháy Nhân Gian.

 

Anh ghê gớm nhưng em là tất cả

Nhắc tới em, lòng anh trải rộng êm đềm

Em xinh đẹp, không phải để anh lợi dụng

Một chút thôi, thút thít anh đã chạnh lòng.

 

Mỗi việc vui anh lại nghĩ đến em

Để ta hân hoan đắm mình trong hạnh phúc

Có việc buồn, bên em trao lời chia sẻ

Ta tựa vai nhau vươn tới ngày mai.

 

Trước khi biết em, anh vẫn sống nhởn nhơ

Nay đã biết, thiếu một ngày tựa như xiềng xích

Trước khi có em, anh vẫn là người hoàn chỉnh

Nay nếu vắng em, anh què quặt cả tâm hồn.

 

Quên làm sao khi rượu đã cạn ly

Hơi men ấy đã ngấm vào máu đỏ

Quên làm sao của những ngày quên sống

Nếu thiếu khí trời, đời còn ý nghĩa hơn.

 

Anh về thăm nhà, con chạy ra vồ vập

Xót lòng anh, thương em quá đi thôi

Khi xuống trường Mi lu chạy ra mừng rỡ

Buồn tái tê, nhớ em đến tột cùng.

 

Em vẫn bảo: Ma nhà mình thiêng lắm

Hỡi ma thiêng hãy cứu giúp chúng con

Đốt câu thơ, làm nén hương nhờ tiên tổ

Để cả đời này mình mãi mãi yêu nhau.

 

Bài thơ đến có thể em không đọc

Nhưng thơ ơi hãy cháy đỏ khói hương

Nếu linh ứng hãy đến tận cùng lý giải

 

Để anh và em lại được sống như mơ.

Trần Hải