NHIỆT LIỆT CHÀO MỪNG NGÀY NHÀ GIÁO VIỆT NAM 20/11!
Từ khóa tìm kiếm Từ khóa tìm kiếm

TIỂU THUYẾT VĨNH PHÚC - Tuyển tập tác phẩm đoạt Giải thưởng Văn học Nghệ thuật 1997 – 2016, (phần 1)

(Ngày đăng: 19/01/2018, số lượt xem: 86)

 

  

 

LỜI ĐẦU SÁCH

           20 năm qua, kể từ sau tái lập tỉnh (1997) đến nay, đồng hành cùng với Đảng bộ và nhân dân các dân tộc trong tỉnh, Văn học Nghệ thuật (VHNT) Vĩnh Phúc đã không ngừng lớn mạnh cả về số lượng và chất lượng. Những sáng tạo của văn nghệ sĩ Vĩnh Phúc hướng con người tới các giá trị Chân - Thiện - Mỹ, đã đóng góp đáng kể cho sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, góp phần quan trọng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam.

Khẳng định và ghi nhận bước phát triển mới của VHNT Vĩnh Phúc, nhân kỷ niệm 20 năm tái lập tỉnh, được sự quan tâm chỉ đạo của Tỉnh ủy, UBND tỉnh, Hội VHNT Vĩnh Phúc xuất bản bộ Tuyển tập tác phẩm đoạt Giải thưởng VHNT giai đoạn 1997 - 2016 và một số cuộc thi khác, bao gồm các thể loại: Tiểu thuyết, Truyện ngắn - Ký, Thơ - Trường ca, Âm nhạc, Mỹ thuật, Nhiếp ảnh, Văn nghệ dân gian... Đây có thể coi là hệ thống tư liệu về tác giả, tác phẩm của một chặng đường VHNT, tiếp thêm hành trang bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.

Đảng ta đã xác định: “Văn học, nghệ thuật là lĩnh vực rất quan trọng, đặc biệt tinh túy của văn hóa; là một trong những động lực to lớn trực tiếp góp phần xây dựng nền tảng tinh thần của xã hội và sự phát triển toàn diện của con người Việt Nam” (Nghị quyết 23-NQ/TW, ngày 16/6/2008 của Bộ Chính trị). Đây chính là động lực, là cơ hội tốt để văn nghệ sĩ Vĩnh Phúc tiếp nhận nguồn sinh khí mới, tiếp tục phát huy tính tích cực và trách nhiệm xã hội, nỗ lực sáng tạo ra những tác phẩm có giá trị mang đậm dấu ấn Vĩnh Phúc, cho hôm nay và mai sau...

Ra mắt trong dịp kỷ niệm 20 năm tái lập tỉnh (01/01/1997 - 01/01/2017), bộ sách là món quà tinh thần của VHNT Vĩnh Phúc dâng tặng bạn đọc với tất cả sự trân trọng.

Vượt qua những khó khăn về nguồn tư liệu, các thành viên trong ban tuyển chọn đã có nhiều cố gắng biên soạn, sắp xếp, diễn đạt, để tuyển tập đạt được mục tiêu cao nhất, song chắc chắn vẫn không tránh khỏi những thiếu sót.

Chúng tôi rất mong nhận được sự chia sẻ, góp ý, bổ sung của bạn đọc để kỳ vọng một sự hoàn chỉnh hơn trong những lần tái bản bộ sách sau này.  

 

HỘI VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VĨNH PHÚC

 

 

 

 

 

 

 

 

NGUYỄN NHUẬN HỒNG PHƯƠNG

 

Đồng vọng ngược chiều 

 

NHÀ XUẤT BẢN LAO ĐỘNG, 2005 

 

----------------------------------------------------- 

 

Tiểu thuyết đoạt Giải B,

 Giải thưởng VHNT tỉnh Vĩnh Phúc 5 năm lần thứ II

(2000 - 2005)

 

Tất cả sẽ trôi đi, còn dòng sông ở lại

                                           Tác giả

 

 

 

 

CHƯƠNG I

 

1

Cứ mỗi lần tắm cho tôi xong, dì lại lấy ngón tay búng nhẹ vào đôi má phính sữa:

- Trông cái mặt thế mà gan lì tướng quân.

Rồi dì áp đôi môi hồng như cánh sen thơm lên chỗ vừa búng hà hít làm tôi cười khanh khách. Trong mấy chị em, tôi là người được dì thương nhất, chắc bởi lúc mẹ đẻ tôi ra vất vả, hoặc có lẽ như bố nói:

- Thằng bé này hợp với tuổi dì.

Chuyện mẹ đẻ tôi ra khó khăn, vận hạn thế nào dì nhớ vanh vách, kể nhiều đến nỗi tôi nghe và thuộc lòng từ lúc nào không biết:

“Lúc ra đời mi ngược ngạo nanh nọc lắm! - Bao giờ kể chuyện dì cũng bắt đầu như vậy - Không biết xoay xở thế nào mà khi chui ra khỏi bụng mẹ, mi lại thò tay ra trước, làm bố và mọi người cuống quít sợ hãi. Còn mi cứ tỉnh bơ, lấy bàn tay tí xíu ngọ ngoạy vẫy vẫy như trêu ngươi. Nhìn mọi người lo lắng mụ đỡ bảo bố:

- Anh chạy chín vòng xung quanh nhà cho chị ấy lấy sức rặn...

Bố hỏi: - Con gái hả bà?

Mụ đỡ gắt: - Đã sờ thấy gì mà gái hay trai? Bảo chạy cứ chạy!

Bố vặn lại mụ đỡ:

- Thế sao bà bảo chạy chín vòng?

- À... ừ... - Mụ đỡ lấy tay móc móc vào cửa mình mẹ, thọc sâu ngón giữa thăm dò, miệng quát: - Con trai bảy vòng! Con gái chín vòng. Chưa biết con nào, chạy càng nhiều càng tốt! Trèo qua nóc nhà, lội qua ao, vượt qua chuôm...

Tiếng bố thở phì phà phì phò mỗi lần chạy qua cửa. Còn mẹ nhăn nhó ôm bụng. Mẹ thấy trong người khó ở từ chiều. Nhưng vốn là người ham công tiếc việc, trong khi chờ dì đi gọi mụ đỡ, mẹ tranh thủ giúp bố bắt mấy con rắn trong chuồng cho vào túi để sáng sớm mai kịp xuôi xe lửa Hải Phòng. Mẹ nói:

- Chẳng biết lần này thế nào? Chứ mấy đứa trước, tôi rặn ào cái xong.

Đang khi, bỗng mẹ hét to:

- Ối giời ơi là giời...

Sau tiếng kêu, mẹ buông đuôi con rắn, đưa vội tay ôm bụng dưới. Nhanh như chớp, con rắn ngoằn ba ngoằn trên không rồi rơi xuống nền biến mất tăm, mất dạng sau cánh cửa ra vào. Hai tay bố đang cầm túi, chỉ kịp xoắn vòng dây thắt miệng túi lại để cho những con khác khỏi xổng ra, quăng vội túi xuống đất, giơ tay đỡ mẹ dìu lên giường.

Chưa kịp lên được giường, nước từ trong người mẹ chảy ra xối xả. Bố vần vã, loay hoay, xoay xỏa với cái bụng to kềnh của mẹ như người đánh vật. Bỗng có tiếng nói rõ to:

- Vỡ ối rồi... sắp ra rồi... Chuẩn bị cho tôi chậu nước.

Đó là tiếng của bà lang vườn kiêm đỡ đẻ ở chùa làng Nhuế. May mắn sao, dì mời bà vừa về kịp.

Bà không có tên. Hoặc giả có tên người ta cũng không gọi. Đến khám bệnh, xin thuốc, người ta gọi bà Lang. Mời đi thăm thai, đỡ đẻ người ta gọi mụ đỡ. - Bà Lang kiêm mụ đỡ nguyên là lang vườn, chuyên chữa bệnh bằng các loại lá, chủ yếu bằng lá ngải cứu. Đỡ đẻ dùng tay trần, cắt rốn bằng một mẩu liềm gãy, mài sắc lẹm. Thế mà cả tỉnh Phúc An này, bao nhiêu trẻ con nhà nghèo đều được mụ đỡ ra.

Cách đây ít ngày, khi thấy hiện tượng chuyển dạ, mẹ khệ nệ vác bụng đến nhà bà Lang. Bà Lang vén áo sờ sờ, nắn nắn, ấn đúng vào cái đầu của mi đang xoay: - Thai thuận! Dì mang nắm lá ngải cứu về, cho vào ấm đất mà đun, cho chị ấy uống đến nhạt thì thôi! Con dạ, dễ đẻ, không lo lắm! Khi nào đau dồn đau dập hãy gọi tôi! - Dặn dò xong, bà Lang nhìn mẹ chép miệng: - Chửa đẻ giữa lúc thời loạn, giặc giã thì vất đới.

Lúc ấy dì vừa dưới quê lên, mới gặp mụ đỡ đôi lần, cứ nghe mụ đỡ nói thì việc mi ra đời là dễ như bỡn. Nhưng cứ ngẫm chuyện ngày trước bà ngoại đẻ dì ra dì biết. Mụ đỡ làng Chi Đông cũng chẳng nói vậy sao? Nên khi nghe mụ đỡ nói thao thao dì vẫn nghi nghi hoặc hoặc. Chuyện giặc giã, loạn lạc thế nào không cần biết! Nhưng việc đẻ dễ hay khó thì phải xem đã! Được, để khi đẻ xem có dễ như nói không? Cái thứ cây ngải cứu dễ mọc như cỏ đồng không biết tốt đến thế nào mà bà lang vườn tuyên truyền không biết mệt, làm như cây ngải cứu là thứ dược liệu thần tiên chữa được bách bệnh không bằng! Có lần dì nếm thử, đắng ơi là đắng! Hắc xì hắc xịt! Lưỡi cứng ngắc, khó nuốt ơi là khó nuốt!

Mẹ mi nằm bụng phưỡn to như cái trống làng. Mạch máu, gân cốt nổi từng đụn từng đụn. Mụ đỡ bảo bố ra ngoài. Rồi cởi quần, sửa lại tư thế nằm cho mẹ, lấy bao vải chuyên đựng rắn lót thêm dưới mông mẹ cho êm rồi nói:

- Đứa bé này nếu sinh ra được trót lọt mà là con gái ắt ngày sau sẽ được vào làm dâu nhà quyền quí. Còn như con trai... Mụ đỡ không nói hết câu.

Dì chúa ghét nhũng kẻ ăn nói lấp lửng, nhưng bởi lúc bấy giờ mi sống chết trong tay người ta nên dì mặc kệ. Mà hình như lúc ấy mi còn chưa muốn ra? Cái chân mi đạp làm bụng mẹ nổi cộn từng vòng từng vòng, gân cốt xanh lét lằn ngang lằn dọc. Ai đời, đứa trẻ khi lọt lòng thường chui đầu ra truớc. Đằng này mi thật oái oăm, xoay ngang, lật chéo, y hệt ngày xưa bà ngoại đẻ dì. Quả thực lúc ấy dì nhìn mi lo lắm, nhỡ khi đẻ ra mi không bị chết nhưng lại giống ta thì cơ cực.

Vậy mà mi còn không biết sợ. Năm ngón tay xòe ra ngọ nguậy như năm cánh hoa mới nở bay bay vẫy gió đùa cợt. Mụ đỡ mặt tỉnh bơ, lấy tay kia vạch cửa mình mẹ cho thêm rộng, còn ngón tay bên này cong lại như cái móc của những người thợ bắt rắn làng Lệ Mật lựa, nhích dần lên phía trên đầu mi. Loay hoay một lát bỗng mụ reo to:

- Cha đẻ mày! Bà tóm được mày rồi! - Mụ đỡ reo lên mừng rỡ.

 

2

 

Nguyễn Thừa quen Hải Linh trong trường hợp khá thú vị. Cách đây một năm, anh nhận viết bài cho một doanh nghiệp. Thấy cần có ảnh đăng kèm để bài viết có sức thuyết phục hơn, anh phàn nàn với đồng nghiệp: - Ở cái thị trấn cà là tèng này chẳng có một tên săn ảnh nào để nhờ.

Anh bạn đồng nghiệp bảo: - Ông hơi nhầm đấy!

Nguyễn Thừa hỏi: - Ở đâu?

Người bạn: - Tôi sẽ hoa tiêu cho ông một thợ săn ảnh nghiệp dư. Nhưng với một yêu cầu!

Nguyễn Thừa cao giọng: - Xong! Kể cả hai!

Người bạn: - Không được chết!

Nguyễn Thừa chột dạ: - Đàn bà à?

Người bạn đáp: - Nửa đàn bà, nửa con gái! Sao? Sợ hả?

Nguyễn Thừa ngập ngừng: - Không sợ, nhưng dính vào mệt lắm!

- Chưa chi ông đã vơ vào - Người bạn đồng nghiệp cười - Già như cái chổi sể cùn còn ra dáng. Thôi, thế này: Trước hết, do nhu cầu công việc ta yêu cầu bạn giúp. Sau đấy tùy.

Nguyễn Thừa gật đầu: - Đồng ý!

Hải Linh đang ngồi, cô nghe ngoài cửa có tiếng đàn ông hỏi thăm nhà mình. Ai nhỉ? Đứng dậy, cô đẩy cánh cửa sắt hé ra... Anh bạn đồng nghiệp reo:

- Đây rồi! Thế này mà không hỏi thăm thì chịu! Gớm! Nhà nào cũng giống nhà nào. Có việc cho em đây.

Hải Linh mở rộng cửa, mời: - Anh vào nhà - Cô ngập ngừng, vì chưa biết nên xưng hô với Nguyễn Thừa thế nào thì người bạn đồng nghiệp đã liến láu:

- Định gọi bằng bác, chú, hay bố hả? Này, không có đoán ấy đâu nhé! Thi sĩ xịn - môn đệ chính cống của cụ Xuân Diệu đấy! Ăn nói cẩn trọng không lại giận bỏ về bây giờ.

- Vâng, thì chào các anh... mời các anh vào chơi. - Hải Linh kéo dài giọng.

- Có vậy chứ! Xin giới thiệu với em: Đây là Nguyễn Thừa! Thừa ván, thừa thơ, thừa thời gian, thừa... tất cả... trừ hai thứ không thừa. - Nói rồi người bạn quay sang Nguyễn Thừa - Con xin giới thiệu với ông. Đây là nông dân cày đường nhựa kiêm nhiếp ảnh gia Hải Linh thợ nhòm chính hiệu!

Hải Linh tủm tỉm: - Sao anh không giới thiệu nốt hai thứ không thừa nữa?

Người bạn trả lời: - Em tự tìm hiểu rồi khắc biết!

Hải Linh đáo để: - Chúng em nông dân chi điền làm sao dám tìm hiểu các nhà văn nhà thơ? Anh không nói em cũng chả tìm. - Vừa nói cô vừa liếc nhìn khuôn mặt lơ ngơ, đỏ rần của Nguyễn Thừa.

- Nhưng sao lại là nông dân? - Nguyễn Thừa hỏi.

- À - Hải Linh thấy thái độ anh tồi tội liền đỡ lời - Chẳng là vì em đang công tác ở phòng Nông nghiệp huyện nên anh ấy trêu vậy.

- Tôi hiểu, tôi hiểu - Nguyễn Thừa gật đầu rồi hỏi - Nhưng sao cháu... à à à... à em lại biết chụp ảnh?

- Hỏi tẩm thế ông bạn? - Người bạn nói chen vào - Thế sao ông đã làm thơ lại còn viết cả báo?

Nguyễn Thừa ngượng nghịu gãi đầu:

- Mình cứ tưởng nông dân...

Hải Linh cướp lời:

- Tưởng chúng em chỉ biết Nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống thôi chứ gì? Rồi cô hỏi - Thế các anh cần gì?

- Thế này Linh ạ! Người bạn đỡ lời cho Nguyễn Thừa - Anh bạn Thừa đây muốn nhờ em chụp hộ kiểu ảnh minh hoạ cho bài viết.

- Em có biết chụp ảnh đăng báo đâu?

- Thi thoảng trên bản tin chả có ảnh của em là gì?

- Em làm tin cho ngành thì cứ chụp nhì nhằng vậy thôi.

- Thì bọn anh cũng chỉ cần cái nhì nhằng ấy thôi.

Sau khi bài được đăng, Nguyễn Thừa lấy cớ mang báo tặng để gặp lại cô. Lần ấy, không có anh bạn đồng nghiệp cùng đi. Nguyễn Thừa lúng ta lúng túng. Hải Linh đọc ngay ra vị. Chủ động ứng xứ để xoá bớt cho anh ngượng ngùng, cô nói:

- Nếu bài nào cần đăng ảnh, anh cứ tới gặp Hải Linh. Được Hải Linh bật đèn xanh”, Nguyễn Thừa lao vào tìm đề tài để viết. Hầu như không bài nào anh không nhờ Hải Linh chụp ảnh. Anh nói: - Nhìn bài có đăng ảnh sướng cả mắt! - Nghe, Hải Linh biết anh rất vui. Cô có cảm giác Nguyễn Thừa thích mình. Anh là mẫu người không biết che giấu tình cảm. Khuôn mặt thô nháp ít khi dám nhìn thẳng vào mắt đàn bà, nhưng những biển hiện thường phản lại làm cho đôi lúc anh trở nên ngu ngơ, ngồ ngộ. Hải Linh quý lòng say mê, nhiệt tình thái quá đối với nghề nghiệp và rất khó chối từ khi Nguyễn Thừa đưa cô duyệt bài của anh. Anh nói:

- Anh không có thói quen cho người khác đọc bản thảo.

Hải Linh hiểu theo nghĩa: Anh dành cho em là người đầu tiên!

Người bạn đồng nghiệp có lần gặp Nguyễn Thừa cười, đe: - Này, thỏa thuận rồi nhé! Đừng có chết!

 

3

 

Mặc dù mụ đỡ đã tóm được vai, mi vẫn lì lợm, tay chân lúc duỗi ngang, lúc duỗi dọc, quyết không chịu ra. Mụ đỡ loay hoay đảo người như đánh vật; xoay, lựa, kéo, vần vã, mồ hôi trán túa ra như tắm. Cái yếm sồi nhuộm nâu trễ trãi, cái bao lưng vải nhiễu tụt xuống ngang hông. Mi mệt nhoài, mới thoát thai nên không dai sức bằng mụ. Cho tới khi bị ngạt, ngất lịm mi mới chịu duỗi dài chào thua. Chọn đúng thời cơ, mụ đỡ tóm lấy gáy, rút đánh “tụt” một cái y như tuốt lươn. Mặc cho mẹ nằm lả vì kiệt sức, mụ đỡ ngoắc mẩu liềm “xoẹt” một nhát! - Quãng dây liên hệ chín tháng mười ngày giữa mẹ và mi đứt phựt! Rất nhanh, mụ ngoằng hai ngoằng chỉ, thắt xéo cái đầu ruột vừa bị cắt thòi ra, buộc thành một nụ hoa nửa tươi, nửa héo. Xong! Mụ cầm chân, dốc ngược đầu mi quay ba vòng. Mặc! Mi không thèm tỉnh! Mụ giơ tay phát mạnh vào mông đít mi:

- Tỉnh! Tỉnh dậy mà chào đời!

- Tỉnh! Tỉnh dậy mà chào đời!

- Tỉnh! Tỉnh dậy mà chào đời!

Mỗi một câu hô là một cái phát! Lúc đầu mi lì lắm, đau thế mà cũng không khóc. Nhưng đến cái phát thứ ba thì mi không chịu được nữa. Chắc mi thấy mụ đỡ nhẫn tâm quá hay tại mi thương xót mọi người? Thể xác bị hành hạ đã đành, nhưng còn nhục thì chắc mi không chịu được? Còn mẹ nữa chứ! Mẹ thương mi nhưng không biết làm thế nào. Bố mặt buồn thiu, đứng lấp ló ngoài cửa. Cả mấy anh, mấy chị của mi, dáng vẻ rất căng thẳng. Họ sợ mi chết? Nhìn mi, dì biết mi không chết được, nhưng mi muốn thi gan với mụ đỡ. Nhưng vì bao khuôn mặt buồn bã, lo âu của những người ruột thịt đang chờ đợi, nên mi động lòng trắc ẩn. Mi ré lên: “Oa... oa oa oa...” Âm lượng cao vút; mi tru tru: “ẹc... ẹc ẹc ẹc ẹc...” tiết tấu trầm khàn. Hai âm thanh rõ ràng, riêng biệt. Tiếng khóc “Oa... oa... oa” để chào cái gia đình nhỏ bé, nghèo khổ, khốn khó. Tiếng tru: “ẹc... ẹc...” như lợn kêu để báo với thế gian này là mi đã có mặt. Cộng hưởng hai âm thanh với nhau thành giọt nước mắt vui mừng của người mẹ đáng thương đang nằm lả trên giường, và tiếng thở phào nhẹ nhõm của bố; bật lên tiếng reo hò mừng rỡ của người chị gái:

- Là con trai! Cả nhà ơi… Cả nhà ơi! Là con trai!

Thấy mi đã chấp nhận “chào đời”, mụ đỡ vật ngửa mi ra, lấy khăn lau nhúng vào chậu nước dì để sẵn. Mụ lau rửa cho mi bằng mảnh vải, không ra giẻ cũng chẳng ra khăn. Đấy là lần tắm đầu tiên trong đời của mi nếu không kể cơn lũ nước ối do mi gây ra lúc còn nằm trong bụng mẹ. Mặc dù dì đã pha cho mi chậu nước cho đỡ lạnh và còn thả vào chậu chùm lá hương nhu mùi thơm nức để cho mi tắm. Nhung mụ đỡ không cho mi tận hưởng. Mụ vớt mảnh giẻ sũng sượi nước quét lên mặt mũi còn sền sệt nhớt làm mi sặc sụa lắc lắc cái đầu tí xíu ra chiều không đồng ý. Kỳ cọ qua loa, mụ hét:

- Lấy cái áo của thằng anh mặc cho nó! Cái nào cũ rách nhất ấy!

Không mặc quần áo mới cho trẻ mới đẻ, đó là tục kiêng. Thời ấy, người ta cho rằng mặc quần áo mới cho trẻ lọt lòng về sau sẽ bị hại. Thấy dì cầm áo đem tới, mụ lại hét:

- Không chọn người đón tay à? - Hỏi, nhưng rồi mụ trả lời luôn - Không hử? Thôi, dì đón cũng được! Đã què rồi thì không què nữa! Quàng kín nó vào. - Mụ vừa trao mi cho dì vừa nói như bắn súng. Như vậy, mi được dì đón tay. Vẫn là một tục kiêng. Người ta quan niệm người đón tay có ảnh hưởng nhất định tới nhân cách và cuộc sống sau này của đứa trẻ. Dì là người không biết chữ lại quê mùa tộc tệch. Nhưng lúc ấy ngoài bố ra còn có ai là người lớn đâu mà chọn?

Tùm hum trong tấm áo rộng, toàn thân mi xoăn như vỏ đỗ, da mặt nhăn nheo như ông lão tám mươi, đỏ lựng như một kẻ dị ứng rượu. Mũi mi “hắt xì” ba cái liền vì mùi hôi bốc ra từ vải áo. Dì nâng niu mi như của quý, kéo cổ áo che mắt cho mi khỏi chói ánh đèn, dứt mảnh lá trầu nhấm nhấm nước bọt dán lên trán. Dì làm chẳng qua bắt chước mụ đỡ làng Chi Đông thôi, chứ thực ra dì cũng không biết tại sao phải làm thế? Hay đấy cũng là một tục kiêng? Nhưng dì đồ rằng: Cứ việc nào các cụ truyền lại cho con cháu làm theo là tốt. Chẳng thế mà khi dì dán lá trầu cho mi xong, dì thấy mi im lặng nép vào lòng dì tin tưởng.

Trong khi ấy mụ đỡ giúp mẹ rửa ráy, thay quần áo. Vừa làm mụ vừa lầu bầu: - Sướng cho lắm rồi khổ nhiều. Khổ rồi lại kêu. - Chợt nhớ, mụ hét - Bố thằng cu đâu? Đã sẵn đồng chinh chưa? Có thì đóng ở ngưỡng cửa bảy đồng! Bảo đứa nào đi lấy ít gai tầm soọng, cắt mấy tàu dứa dại treo trên cánh cửa. Đứa nào đem vào đây cái nồi. Đã dặn mua chả biết có chưa?

Mụ nói làm cho bố cuống quýt. Lẽ ra dì không phải bế mi thì mọi việc xong xuôi trôi chảy cả. Bố hỏi: - Cái nồi đất hôm nọ tôi mua dì để ở đâu?

Dì đáp: - Em để dưới gầm chạn bát ấy!

Bố quay mặt về phía cửa, nơi có mấy cái đầu thập thò:
- Đứa nào xuống bếp lấy cho bố cái nồi.

Có tiếng trả lời: - Tối lắm! Con sợ...

Bố hỏi: - Sợ cái gì?

Tiếng rụt rè: - Ma

Mụ đỡ gắt: - Nhanh lên! Để núm nhau thối ra ở đây à?

Bố bỏ đối đáp, chạy vội xuống nhà dưới. Dì nghe đánh “oạch” một tiếng. Dì chép miệng: - Đàn ông với đàn ang, chẳng biết việc gì ra việc gì.

Bố cầm lên cái nồi đất vàng ruộm như gạch cua đồng, nhưng đầu gối quần rách toạc, khuỷu tay rướm máu. Dì xót xa: - Có đau không anh?

Mẹ nghiêng mặt, đưa đôi mắt mệt mỏi nhìn chồng vừa giận, vừa thương đượm một chút ân hận vì mình và con nên chồng khổ.

Mụ đỡ cầm chiếc nồi, cong ngón tay búng búng vào cạnh như khách hàng quen thử chất lượng ngoài chợ. Tiếng nồi đất vang như tiếng chuông ngân, mụ chậc chậc: - Tốt! Dễ đến hai xu?

Cho núm nhau vào nồi mụ dặn: - Đem chôn dưới giọt gianh cho thằng bé sau này lớn lên được mát tính.

Bố hỏi: - Chôn đồng chinh trước hay chôn núm nhau trước?

Mụ đỡ càu nhàu: - Mấy mặt con rồi còn hỏi! Chôn núm nhau trước! Tiền chinh với gai tầm soọng để mai làm cũng được. Bây giờ khuya rồi ai đến chơi mà sợ!

Bố vặn lại: - Sao lúc nãy bà nói phải chôn ngay?

Mụ đỡ đỡ trả lời: - Nhắc cho khỏi quên. Quên mà gặp người bị đau cảy vào thăm thì mẹ nó lại khổ vì đau - Mụ đỡ dọa - Đã bị đau cảy nhiều thì ba tháng, ít cũng phải ba bẩy hai mươi mốt ngày mới đỡ.

Dì thêm vào: - Anh đem nồi nhau chôn đi, nhớ chôn chính giữa giọt gianh ấy! Còn các việc để chốc nữa chị đỡ mệt ôm cháu, em sẽ làm cho.

Mụ đỡ lại như chợt nhớ: - Con nhớn đi đâu mà không thấy mặt?

Dì đáp: - Cháu sang bên bà Cả. Hôm nay ông ấy ở Tây về.

Mụ đỡ kể lể: - Ở Tây về khối! Trong làng con cụ Tổng về oách lắm! Đem cả vợ đầm theo. Cao hơn lão ta một tầm đầu, tóc quăn tít, váy xòe xoẹt, hút thuốc lá như vẹm... - Chợt nghe tiếng rên, mụ quay lại đi đến bên giường cầm lấy tay mẹ: - Đau hả? Chịu khó uống lấy mấy ngụm ngải cứu, nghỉ đôi hôm là lại sức ngay đấy mà... Thôi, đứa nào soi cho cô cái đèn ra cổng.

Mẹ gắng sức cầm lấy tay mụ nhét vào mấy đồng bạc. Mụ giãy nảy:

- Đã bảo ai tôi cũng lấy! Nhưng riêng nhà chị tôi không lấy! Đẻ năm đỡ năm, đẻ mười đỡ mười... Khi nào thằng “cún” con nhớn, có vào lễ chùa Nhuế thì công đức vào chùa đồng bạc lấy khước cho thằng bé. Còn giờ mà chị bắt tôi cầm tiền, lần sau đẻ gọi mụ đỡ làng Chi Đông đến mà đỡ! - Nói rồi mụ vơ cái túi đựng mẩu liềm cắt rốn nhổm dậy, đến chỗ dì bế mi đặt mấy đồng bạc vào cạnh có ý bảo: Cho thằng cu con! Rồi bước vội ra cửa như sợ bị giữ lại bắt phải cầm tiền.

Khí lạnh thoảng qua cửa lùa vào nhà. Dì nghe tiếng mi “ọ ẹ” liền nhè nhẹ vỗ về. Chắc khí lạnh lọt vào khe rách tấm áo, cứa lên da thịt nên mi nhớ chỗ nằm trong lòng mẹ phải không? Dì biết ở ngoài này làm sao bằng trong ấy! Hơi ấm nồng nàn, chẳng phải làm gì cả! Thức thì chơi với mấy đoạn nhau, vài khúc ruột; đói, khát đã có thức ăn, nước uống truyền ngay vào cuống rốn; buồn ngủ lúc nào là lăn ra làm một giấc. Bây giờ ra ngoài mới thấy khổ, áo hôi mù, lạnh buốt da, muốn ngủ thì hết tiếng mụ đỡ lại đến tiếng bố; thi thoảng, ầm ì tiếng máy bay trên trời; ùng oàng tiếng súng nổ từ mạn xuôi vọng tới. Thể nào mi chẳng ước ao: giá bây giờ được quay lại nằm trong bụng mẹ thì tốt biết bao... Mi ngọ nguậy hờn dỗi ý muốn tỏ điều gì đấy cho dì biết. Cảm thông với nỗi niềm của đứa bé phải xa lòng mẹ. Nhưng ngoài tình yêu thương ra, dì chỉ còn những câu thơ, lời ca học được của những đôi trai gái thi hát đối nhau vào ngày hội làng Chi Đông mở:

Trên thị Gia Cát cầu phong

Dưới thì lập trận hỏa công đánh Tào

Hai bên tả hữu đánh vào

Tào thua Tào chạy Tào nhào xuống sông”.

Tôi không hiểu vì sao lời ru hời đầu tiên dì ru cho tôi nghe lại là một câu đố viết bằng thơ? Lúc đó tôi chỉ thấy lời dì ngọt ngào, êm ái. Khi lớn lên, tôi mới được nghe dì giải nghĩa, tôi hỏi: - Câu đố ấy của ai? Dì đáp: - Dì không biết! - Về sau này tuy đọc và hỏi nhiều, tôi chưa thấy sách nào in hoặc có người biết tác giả bài thơ. Tôi đành phải nghĩ bài thơ đố ấy do dì nghĩ ra. Còn đến bây giờ, nếu có ai đã tìm ra tác giả, xin cho tôi được cáo lỗi và cầu mong:

- Không vì tôi! Hãy vì hương hồn người dì kính yêu của tôi mà im lặng.  

 

4

 

Ai chết ai thì chưa biết! Nhưng chỉ biết sau một thời gian hai người rất thân nhau. Nguyễn Thừa dừng lại ở ngưỡng cửa sự nhớ và mong được gặp Hải Linh để nói chuyện văn chương. Còn Hải Linh dừng ở ngưỡng tôn sùng sự hiểu biết và lòng chân thành với Nguyễn Thừa. Người nào cũng thầm mong người này chủ động bước thêm một bước. Nhưng hình như rất hhó. Cái khó của những số phận đã trải qua những mối tình dở dang, trắc trở.

Nguyễn Thừa nói với Hải Linh:

- Nếu khi nào thấy cần anh phải xa để em có một gia đình theo ý muốn thì nói với anh.

Hải Linh trả lời: - Hiện tại em chưa có ý định đi bước nữa nên anh đừng ngại. Bây giờ nhiệm vụ của em là nuôi dạy con cái em khôn lớn.

- Và chụp ảnh nữa chứ? - Nguyễn Thừa nói chen vào:

- Hải Linh đáp: - Vâng! Vừa nuôi con vừa làm nghệ thuật.

- Hay! Anh chắc phải tôn em làm sư phụ để chuyển sang nghề ảnh, chứ viết văn tiền nhuận bút còi thế này có ngày chết đói.

- So sánh như thế em e hơi khập khiễng. Theo em, chấp nhận làm nghệ thuật phải vậy. Anh có biết bức ảnh Được mùa em nhận giải thưởng ở báo Phụ nữ được bao nhiêu tiền không? Tính ra trị giá ba trăm nghìn. Ba trăm nghìn chia cho hàng tháng trời lang thang, chờ đợi, chọn, tìm cảm hứng; chụp hết chục cuốn phim. So sánh như anh thì lỗ chỏng gọng. Nói rồi cô cười, nụ cười pha một chút bùi ngùi chua xót.

- Nếu tính giá vật chất không ai dám làm em ạ! - Nguyễn Thừa an ủi - Em còn có thu nhập khi người ta thuê làm chân dung hay đám cưới, đám ma. Chứ bọn anh ai đặt viết? Đến tin Người tốt - Việc tốt muốn viết họ không cho viết cũng phải chịu. Có người còn nói: Hôm nay tốt ngày mai không tốt thì sao? Anh không thấy vài hôm trước báo Nhân dân đăng tin ca ngợi Công ty này giỏi, kinh doanh mỗi năm nộp lãi cho Nhà nước vài tỉ! Mấy hôm sau báo Công an nhân dân lại đăng tin vị Giám đốc công ty ấy bị bắt vì trốn thế, tham ô, hối lộ hàng chục tỉ đồng à?

- Thế anh trả lời sao?

- Ậm ừ cho qua, hoặc nói: Không thế sao gọi là xã hội!

Đến lượt Hải Linh an ủi: - Mình thích mình làm, chẳng tội gì mà nghĩ. Nghĩ nhiều già người anh ạ!

Nguyễn Thừa nói như cho riêng mình: - Ừ, nhiều khi giận muốn bỏ nhưng rồi không bỏ được. Hình như cái nghiệp nó vận vào người rồi? Gác bút một tuần là nhớ không chịu nổi. Chẳng hy vọng để lại cái gì cho đời mà sao đắm đuối thế? Mỗi lần về Hà Nội, nhìn tác phẩm các văn sĩ có tầm cỡ nằm ven đường bụi phủ dầy từng lớp mà nản. Như họ còn vậy huống chi mình! Biết thế nhưng vẫn không dứt ra được.

- Cụ Tiên Điền chả nói rồi à: Trót mang cái nghiệp vào thân - Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa... Thôi, ông tướng ơi, mơ mộng vậy được rồi. Bây giờ đưa em về làng - Hải Linh chủ động kéo Nguyễn Thừa đứng dậy.

Ra tới đường, Hải Linh nói. - Em được Phòng Nông nghiệp thưởng ba ngày vì có thành tích giới thiệu giống lúa mới cho bà con trong huyện. Chương trình thế này: Bây giờ em sẽ đưa anh đến một gia đình diện chính sách. Anh viết bài, em chụp ảnh. Xong ta đi chơi, ăn cơm quán. Ngày mai đi Châu Lam, vào hồ Đại Ngọc, sang đảo Khỉ; thuê thuyền ra đảo Hai Người thăm miếu Vợ Chồng.

Nguyễn Thừa hỏi: - Thế bọn trẻ, em gửi đâu?

Hải Linh trả lời: - Hôm qua em cho chúng nó về với ông bà ngoại rồi! Tranh thủ trốn con vài buổi.

- Hải Linh chỉ đường cho Nguyễn Thừa rẽ vào một ngõ nhỏ hai bên giậu trồng dâm bụt. Những bông hoa đỏ thắm chìa ra chạm vào mặt. Nguyễn Thừa nhanh tay ngắt bông hoa đưa cho Hải Linh: - Tặng Thạc sĩ Nông nghiệp tương lai!

Hải Linh khẽ cấu vào lưng anh: - Em hỏi anh: đã dâm sao còn bụt?

Nguyễn Thừa bật cười: - Em bẻ ngoéo ngôn từ thành từng vế để hỏi, ai trả lời được!

Hai người xuống xe chờ mở cổng. Một con chó mẹ vú thỗn thện gần chạm đất xồ ra sủa... đằng sau chừng bốn, năm con chó con nhanh nhách sủa theo. Một cô bé chừng mười ba, mười bốn tuổi từ trong nhà chạy ra quát quầy quậy: - Vào, Lu! Lu, vào..!

Nguyễn Thừa sững người khi nhận ra cô bé không có tay. Hai chiếc ống tay áo thõng thẹo thả từ khuỷu vai rủ xuống, đung đưa phất phơ vô hồn. Cô bé dùng chân mở chiếc then khóa cổng.

Như đọc được ý nghĩ của anh, Hải Linh nói khi hai người đã vào trong sân: - Đây là cô bé em nhận đỡ đầu, nhà có hai bố con. Còn đây - cô quay sang nói với cô bé - Giới thiệu với cháu: Chú Nguyễn Thừa, bạn cô.

Cô bé ngượng, ấp úng, Nguyễn Thừa chủ động: - Trước hết em phải để cho hai chú cháu làm quen với nhau đã! Bố cháu đi đâu?

Cô bé trả lời: - Bố cháu ra đồng làm cỏ lúa.

- Cô Hải Linh không cho chú biết trước nên chú không chuẩn bị. Hôm nay chú cháu mình chỉ làm quen với nhau thôi nhỉ.

Cô bé lí nhí: - Vâng!

Kỳ diệu! Thật kỳ diệu. Những ngón chân của cô bé không có tay như múa trên bàn máy vi tính. Nguyễn Thừa đọc hàng chữ hiện trên màn hình: Cháu chào chú nhà báo. Trời ơi là trời... Mắt anh như bị thôi miên trước những động tác thuần thục, chính xác tới không ngờ. Cô bé rất tự tin: đầu và người hơi ngả về phía sau, lưng tựa vào chiếc ghế được đóng khá đặc biệt: Đôi bàn chân đang thực hiện những phép toán trên chương trình Excel. Anh quay lại Hải Linh trách: - Sao bây giờ em mới nói cho anh biết?

Hải Linh đáp: - Em muốn cho anh một thú vị bất ngờ.

- Bất ngờ thật! Nguyễn Thừa quay lại nói với cô bé - Cháu là điều kỳ điệu nhất từ xưa tới nay mà chú gặp.

Cô bé còn thực hiện những động tác chải đầu, rửa mặt, đan rổ, rá, thái rau, vo gạo, sàng, sẩy gạo. Động tác nào cũng đẹp và khéo léo như người làm bằng tay vậy. Vừa làm nó vừa nhoẻn cười thân thiết với Nguyễn Thừa.

Chia tay cô bé anh nói, - Cố gắng lên, cô bé kỳ diệu của tôi.

Cô bé tiễn hai người ra tận đầu ngõ. Thân người nghiêng, xô lệch, bồng bềnh như người di chuyển ở nơi không trọng lượng. Đôi mắt màu tro lưu luyến nhìn mãi theo hai người.

Hải Linh nói: - Anh giỏi đấy! Bao nhiêu người đến không khai thác nổi một từ. Anh tới không biết nói gì mà nó biểu diễn hết?

Nguyễn Thừa hỏi: - Nó bị từ nhỏ hả em?

Hải Linh đáp: - Bố nó bị nhiễm chất độc màu da cam trong chiến trường miền Nam.

Nguyễn Thừa ngớt ga giảm bớt tốc độ: - Nhà nghèo thế lấy đâu ra tiền mua máy vi tính?

Hải Linh trả lời: - Một cán bộ công tác ở sân bay Nội Bài gửi tặng qua lời kêu gọi của ĐàiTtiếng nói Việt Nam.

- Thế còn tiền học và phương tiện đi lại? Đây cách thị trấn hàng chục cây số!

Hải Linh không trả lời. Nguyễn Thừa như sực nhớ, tay vỗ vỗ trán - Sao mình ngốc thế nhỉ! Người đỡ đầu! Người đỡ đầu. Thế mà mình quên khuấy đi mất! Được, tiền nhuận bút bài báo này xin ủng hộ, gọi là tấm lòng.

Ngồi đằng sau, Hải Linh ngả đầu áp má vào lưng anh mỉm cười.

Nguyễn Thừa cho xe rẽ xuống quán cơm cạnh bờ sông. Anh nói với gã chủ quán:

- Có còn cá chép vây đỏ không?

Gã chủ quán có cái đầu mái bằng như thể đặt bát nước lên không đổ, xun xoe, nháy nháy mắt với Nguyễn Thừa như có ý nói: - Ông mang theo con cá chép người ngon đấy...

Nguyễn Thừa quắc mắt: - Tôi đến ăn cơm chứ không đến để ông tọc mạch.

Gã chủ quán dúm lưng lại như đỉa phải vôi: - Dạ... dạ em còn con cá anh vũ nhập từ ngã ba Việt Trì về ạ.

Một thanh niên mặt non choẹt, áo trắng sơ- vin, cổ thắt nơ, miệng toe toét, hai bàn tay chắp trước ngực như bị cùm; nghiêng người khúm núm mời hai người xuống phòng ăn được xây nửa trên cạn nửa dưới mặt sông.

Nắng chiều nhạt, gió nhẹ, nước chảy lững lờ, rác bẩn từng đám trôi lềnh bềnh... Phía bên kia sông là bãi vải. Mấy chùm quả chín muộn sót trên cây đỏ ối rung rinh như những chùm lửa. Dưới gốc cây sát bờ, một chú bé con cởi trần ra sức nhấc sào vó. Chiếc sào dài và bốn thanh gọng trĩu cong như cố níu cái thân hình bé choắt của chú xuống sông.

Hải Linh hỏi: - Anh đã sang bãi vải bao giờ chưa?

Giọng Nguyễn Thừa tư lự: - Đó là hồi chiến tranh đánh Mỹ, cơ quan đi sơ tán. Thế mà cũng đã hơn ba mươi năm rồi.

Hải Linh thảng thốt: - Eo ơi, lâu thế á? - Nói rồi cô tháo chiếc máy ảnh nâng lên chĩa ống kính về phía chú bé kéo vó - Em chụp ảnh còn anh đặt tiêu đề.

Nguyễn Thừa nheo mắt: - Anh đặt tên bức ảnh này là Kiếm tìm

Hải Linh xoay máy bấm liền mấy kiểu: - Kiếm tìm! Vâng, cái tên thật gợi cảm. Em cảm ơn anh vì cái tên.

Nguyễn Thừa rót đầy hai cốc bia: - Hôm nay chúng ta uống vì cô bé sử dụng máy tính bằng chân; uống cho cả người đỡ đầu nữa! Uống cho một văn sĩ nửa mùa với một Thạc sĩ Nông nghiệp tương lai kiêm nhiếp ảnh gia tay trái.

- Và cho bức ảnh mang tên Kiếm tìm của tương lai phải không anh? - Hải Linh nâng cốc chạm rồi ngửa cổ uống cạn.

 Bên kia sông, chú bé khệ nệ vác vó đi chỗ khác. Nguyễn Thừa nhìn theo, mặt anh đỏ lựng trong ráng chiều. Hải Linh đăm đăm nhìn hình mình trên thành cốc:

- Hình như chưa bao giờ anh hỏi vì sao em công tác ở ngành nông nghiệp mà lại biết chụp ảnh phải không?

Nguyễn Thừa quay lại:

 - Anh sẽ không hỏi những điều gì mà em chưa muốn nói.

- Hôm nay em sẽ kể cho anh nghe chuyện về đời mình, và vì sao em biết chụp ảnh. Chuyện không vui nhưng em muốn anh nghe.

Nguyễn Thừa gắp vào bát Hải Linh chiếc vây cá:

 - Hôm nay cá chép vượt vũ môn.

 

5

 

Dì có khuôn mặt tròn như trăng đêm mười sáu. Da trắng, đôi mắt hiền vẻ nhẫn nhịn, chiếc mũi thanh tú hài hòa với khóe miệng xinh xắn, hàm răng nhuộm đen, bóng như hạt na, cái cằm thon nhỏ hất hất ra phía trước mỗi lần dì nói.

Tôi chưa biết thế nào là đẹp. Nhưng cứ theo tôi, nếu dì chân không bị thọt thì mấy bà ở cái phố Đệ Nhị này làm sao đẹp bằng dì! Từ vợ ông Thuận Lợi đến vợ ông Đức Lợi hay bà Quản Thìn, người này ục ịch, mặt béo xệ, người kia gầy nhom, mặt quắt queo. Suốt ngày ngồi nhai trầu nói chuyện vặt. Hơn dì hai chân bằng nhau và mặc được quần. Nhưng cần gì? Dẫu hai chân không đều nhau dì vẫn bước tốt, thậm chí vẫn chạy được, rất nhanh là đằng khác! Dì luôn tay, luôn chân, làm việc gì cũng khéo. Mặc váy thì đã sao! Mặc váy càng tiện. Vừa ra khỏi bụng mẹ, tôi đã được nằm vào vạt váy của dì đấy thôi! Bồng bềnh như nôi, đu đưa như võng, êm ái như giát giường tre ông ngoại ken gửi lên cho bố mẹ nằm.

Tôi nhớ câu: “Què rồi thì không què nữa!” của mụ đỡ nói. Chắc có ý nói về cái tật cà nhắc của dì đây? Nếu bình thường không ai nỡ mang tật của dì ra đùa. Duy nhất có lần này mụ đỡ dám nói. Hay đó là lòng đố kỵ, ganh ghét nghề nghiệp? Chả là có lần mẹ kể cho mụ nghe chuyện hồi trước bà ngoại đẻ dì cũng ra ngược. Dì được cứu sống nhưng hai chân của dì không bằng nhau, còn bà ngoại chết vì băng huyết. Thế là chưa đầy ngày tuổi dì đã mồ côi mẹ. Sau tang, ông ngoại bế dì đi khắp làng xin bú. Mọi người vẫn bảo dì là con của cả làng Chi Đông.

Mụ đỡ làng Nhuế nghe xong dứt khoát đổ tại bà đỡ làng Chi Đông không biết cách xoay thai. Mẹ lắc đầu ra ý không phải rồi chép miệng: - Tại cái số. - Mụ đỡ làng Nhuế không tin đó là số phận. Mụ nói:

- Thế mà cũng đòi đỡ đẻ! Ở trên tỉnh có mà ăn cám.

 Dì đi từ dưới nhà ngang lên. Thấy bố ngồi trên phản bó gối tư lự. Dì hỏi:

- Anh chưa đi nghỉ ạ?

Bố hỏi lại:

- Mấy đứa trẻ ngủ chưa dì?

- Dạ, ngủ cả rồi ạ! Anh đi ngủ cho đỡ mệt, chị và cháu cứ để em trông. Mai anh còn phải trông thợ “cháy vành”.

Cháy vành” là cách gọi của thợ làm xe kéo tay. Đây là công đoạn hoàn thành phần bánh của chiếc xe. Người ta dùng than đốt, nung đỏ đai sắt đã khoan lỗ ép vào bánh xe bằng gỗ. Khi ép, kim loại bị nung làm cháy gỗ, sau đó nhúng xuống nước rồi tán đinh. Công việc này rất vất vả; vài tháng mới làm một lần. Mỗi lần như vậy không khí xưởng cơ khí nhộn nhịp, tất bật, khẩn trương. Cửa hiệu nào có nhiều ngày “cháy vành” như vậy chứng tỏ công việc làm ăn phát đạt.

Bố mồi điếu thuốc rít một hơi, mùi thuốc tỏa lan mấy gian nhà. Tôi chun mũi, mùi thuốc sao mà hôi thế! Hơn cả mùi lá ngải cứu. Mẹ nói với ra ngoài:

- Dì bảo đứa nào đái cho tôi một bãi.

 Dì chạy đến bên giường mẹ:

- Chị nằm nghỉ! Gần sáng em xi cháu lấy cho. Bà đỡ bảo uống nước đái sáng sớm tốt hơn!.

Lại bà đỡ! Sao cái gì cũng bà đỡ nhỉ? Ngải cứu cũng bà đỡ! Đến bây giờ uống nước đái cũng bà đỡ. Mà sao mẹ phải uống nước đái nhỉ? Không hiểu bà đỡ còn bảo những gì nữa đây? Tôi thu lu nằm trong lòng mẹ nghĩ vậy.

Dì lấy que cời mấy hòn than đang cháy trong chậu rồi đẩy sâu vào gầm giường nơi mẹ và tôi nằm. Hơi ấm làm tôi dễ chịu, có cảm giác như còn đang nằm trong bụng mẹ. Chợt mẹ hỏi:

 - Con nhớn có biết tôi đẻ không?

Dì đáp:

 - Cháu nó chưa biết! Nó mà biết chị đẻ nó đã về! Ban trưa, trước khi đi cháu dặn em: Sáng mai dì nắm cho cháu thêm cơm, dạo này cháu ăn khỏe lắm!

Mẹ chép miệng:

- Con nhà đến lạ! Đã bảo đem hàng đi tầu vất vả, có tiền mà không bao giờ dám tiêu. Người hàng tỉnh không hiểu lại bảo dì ghẻ con chồng.

Bố chưa ngủ, nghe mẹ nói, góp chuyện:

 - Mẹ nó cứ lo xa. Ăn ở thế nào cả tỉnh Phúc An biết chứ ngại gì? Chắc nhìn cảnh người chết đói, chết rét năm bốn nhăm, nó sợ nên không dám tiêu... Dì thổi thêm ca gạo, nắm cho cháu hai nắm to hơn mọi khi. Thêm cơm, thêm cả muối vừng.

Tôi biết mọi người đang nói tới người chị lớn - con riêng của bố. Mẹ đẻ chị chết lúc chị mới được ba tuổi và  khi chị được sáu tuổi thì bố lấy vợ khác - tức là mẹ tôi bây giờ. Năm nay chị đã mười bảy tuổi. Chị không gọi mẹ là dì như các gia đình khác. Mười ba tuổi chị theo mẹ gánh hàng đến bán ở chợ trong vùng; mười sáu tuổi đã đảm nhận việc giao dịch với mấy chủ hiệu có tiếng ở Hải Phòng. Buôn bán giỏi nhưng chị rất tằn tiện. Mẹ bảo chị:

- Tiền buôn bán được con thích gì cứ mua, không các ông, bà bên ấy lại bảo mẹ đối xử ác với con chồng.

Nghe, chị không nói mà chỉ cười. Khuôn mặt trái xoan, đôi mắt giống bố, lanh lợi quả quyết; môi ăn trầu cắn chỉ, răng nhuộm đen, nước da bánh mật. Chị hay mặc quần vải láng đen, áo cánh tay búp măng màu gụ. Ban đầu gặp, ai cũng nghĩ chị là người nhà quê, nhưng khi tiếp xúc mới thấy chị nhanh nhẹn, hoạt bát, sành sỏi.

Đang thiu thiu ngủ bỗng tôi nghe tiếng chị:

 - Con trai hả dì?

Thì ra chị về từ lúc nào không biết. Tôi nghe dì đáp:

- Ừ, se sẽ cho mẹ ngủ! Thế tình hình bên ấy thế nào?

Chị đáp:

 - Bác ấy kể chuyện đánh nhau ở bên Tây rồi nói: Nhờ Chính phủ Cụ Hồ can thiệp nên những người Việt theo Tây mới được về nước.  Bác còn nói: Nước Việt Nam độc lập, dân Việt Nam tự do rồi! Có Cụ Hồ lãnh đạo đánh đuổi hết bọn Tây, bọn Nhật, bọn Tàu Tưởng là dân mình ấm no, không bị chết đói như đận bốn nhăm nữa!

- Thế thì phúc đức quá! - Dì khẽ reo rồi hỏi chị - Dì thấy bà đỡ kể con dâu ông Tổng làng Nhuế theo chồng về là đầm Tây hả? Tây sao lại lấy người mình?

- Đầm gì mà đầm! Là me Tây thì có! Mụ ta đẻ ở bên Tây, nhuộm tóc, hút thuốc lá, nói tiếng vừa ta, vừa Tây. Bác cháu bảo: Người mình ở bên Tây cũng khổ lắm! Con dâu ông Tổng ở bên Tây làm nhà thổ chứ danh giá gì?

Dì trợn tròn mắt nghe chị kể, chép miệng: - Thế mà bà đỡ...

Nằm trong lòng mẹ nghe dì ca cẩm, tôi cười thầm: Dì cứ tin bà ấy đi.

Tiếng chuông đồng hồ thong thả điểm nhịp ba tiếng.

Chị cả hỏi dì:

 - Mẹ cháu có dặn gì không?

- Mẹ dặn cháu giao hàng thanh toán thu hết tiền về không cho nợ nữa! - Dì nói thêm - Thời buổi loạn đảng này biết thế nào mà cho nợ. Nhỡ có cơ sự gì lấy tiền đâu trả cho thợ?

- Vâng - chị đáp - Anh em nhà Quảng Đức Lợi ở đầu cầu Ca-rông làm ăn có tiếng là đứng đắn. Cả ba người đều có cửa hiệu, cửa hàng to cứ gọi là nhất Hải Phòng. Hàng ngày nhập rắn, lươn, ba ba, tắc kè, rùa, tê tê... từ các tỉnh đổ về đến vài nghìn con - Bỗng giọng chị thì thào - Mỗi lần cháu xuống buồn cười lắm dì ạ! - Chị cười khúc khích - Cậu hai con trai ông Quảng Đức Lợi cứ xoắn lấy cháu. Có lần cậu bảo: - Em đồng ý lấy tôi, tôi nói với mợ đem trầu cau lên Phúc An thưa chuyện với bố mẹ.

- Thế ý cháu thế nào?

- Cháu chả biết thế nào? Lấy ai do bố mẹ cháu quyết chứ cháu biết gì.

- Ừ, cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy! Xưa nay vẫn vậy. Còn do duyên số đấy cháu ạ!

- Chuyến trước cháu mang hàng xuống thấy ông Quảng tư giấy cho bố cháu hẹn sẽ lên nhà ta chơi.

- Thế thì sang năm nhà mình có đám cưới rồi chị cả nhỉ! - Dì hóm hỉnh nói.

Không thấy chị trả lời. Dì cũng im lặng. Tôi nghe rõ tiếng nhai trầu tóp tép của hai người vọng qua màn. Mẹ trở mình... Mẹ chưa ngủ hay vừa mới thức? Bỗng mẹ lên tiếng:

 - Ba rưỡi chưa con? Gọi bố dậy chuẩn bị ra tầu.

Chị đi tới bên giường:

 - Mẹ cho con xem nó một tý! Nào ngẩu con ra chị xem nào.

Chị vạch áo, lấy tay sờ sờ vào cái chim cũn cỡn của tôi: - Cu con thích quà gì về Phòng chị mua cho nào! Mẹ ơi, chuyến này xuống Phòng con mua cho mẹ củ sâm Hàn nhé! Thấy bảo sâm Hàn tốt lắm!

Bố đã dậy, nghe chị nói bố gàn:

 - Sâm lạnh! Người đẻ không dùng được. Con nhờ bà Quảng mua cho mẹ lạng tam thất.

- Đắt lắm! Không phải mua gì cả! Tôi uống mấy ấm ngải cứu là khỏe ngay thôi mà. - Mẹ nói tỏ vẻ không bằng lòng.

Bố nói với mẹ:

 - Thằng này đẻ giờ Hợi, chữ Tân, ngày Dần, chữ Nhâm, sao Giốc trực; tháng Dậu, chữ Kỷ, sao Tinh chiếu: năm Hợi, chữ Đinh, sao Cang phục vị, da con lợn bọc xương con gà. Kín! Nhưng bởi lúc ra đời gặp sao xấu nên hậu vận khôn lường. Đường học hành, công danh dễ bề ngang trái; lỡ dở vì hoàn cảnh, đứt đoạn vì thời cuộc. Được cái sao chiếu mệnh nằm chính cung an nên không bị đói rách, hồ đầy hồ lại vơi: hết rồi lại có, nhưng không có của để dành.

Mẹ hỏi:

 - Thế còn đường vợ con?

- Chưa nứt mắt ra đã... - Bố lườm mẹ, nhưng trong bụng lại sướng vì mấy khi được đem sự hiểu biết giảng giải cho vợ - Căn cứ vào cung này: Ngày sau nếu vô sư, vô sách lấy phải người không hợp tuổi một là chồng “đi” trước hai là vợ “đi” trước.

Mẹ cười:

 - Ông bói toán dớ dẩn thật. Chẳng lẽ hợp tuổi thì cả hai vợ chồng cùng chết à?

- Mình chẳng hiểu gì sất! - Bố cự lại - Tôi nói là nếu không xem tuổi sẽ xảy ra chết trẻ chứ không phải hai người cùng chết!

- Thế ngày xưa bố nó cưới bà cả có xem tuổi hay không?

Bố thanh minh: - Tôi lên đây bắt rắn, bắt ếch. Các cụ thấy thật thà, chất phác thương gả con gái cho chứ có mối lái xem xét gì đâu. - Bố kết luận. Không xem bà ấy mới “đi” trước đấy thôi.

Mẹ vặn hỏi: - Thế còn người vợ ở quê xem xét hẳn hoi sao lại bỏ nhau?

Bố ậm ừ: - Ời... ời... không hợp! Mà có ai xem đâu! Bố mẹ chết sớm, nhà có ba anh em, bác trưởng sợ tôi bỏ làng lấy vợ xa lừa tôi về ép gả chứ ai lấy!

Mẹ cười: - Không phải chối! Thế còn tôi? Ai xem tuổi cho ông?

Thầy tướng kiêm bói dịch nửa mùa bí không trả lời. Thấy vậy, mẹ nói rỡn: - Tại... tại cái đêm hội làng Chi Đông xem tuổi cho phải không?

Bố đỏ mặt, tảng lờ ý chừng không để ý tới câu nói của mẹ. Bố vờ cúi xuống ra vẻ như chăm chú bận xem sách.

Tôi đang ngoắc miệng ngậm vú chờ đợt bố đặt tên, nghe bố giở chuyện ngày xưa ra nói, tôi cáu, ưỡn người chu choa. Mẹ vỗ vỗ vào sườn tôi nựng: - Thằng cún ngoan của mẹ, chờ bố đặt tên cho con nhé!

Bố gập lưng dán mắt vào quyển lịch vạn niên: - Năm nay năm nhuận. Lấy chữ nhuận đặt thành tên nó cũng hay. - Bỗng bố ngập ngừng - nhưng nếu đặt tên là Nhuận e không ổn. Sở Lục lộ Phúc An có lão cai tên Nhuận. Nếu đặt tên thằng bé như vậy nó tưởng mình xỏ xiên, đểu với nó. Nhà mình lại có hiệu cho thuê xe kéo, khi có việc phải trình Sở xin giấy tờ sợ nó làm khó dễ, tăng thuế thì khốn. Thôi, đặt tên con mình là Thừa. Nguyễn Văn Thừa. Thừa hay Nhuận vẫn cùng một ý! Về sau này thừa ăn, thừa mặc, thừa mọi thứ. Đời chúng nó mai kia sướng hơn mình. Mẹ nó đồng ý không?

Mẹ không trả lời bố mà nâng tôi lên thơm đánh “chụt” vào má nựng: - Thế là con có tên rồi nhé! Thằng Thừa yêu của mẹ.

Thừa! Nguyễn Văn Thừa! Cái tên nghe ngồ ngộ thế nào ấy. Tôi chưa quen với “nó” - “nó” là tôi hay tôi là “nó” thì chưa rõ. Như bộ quần áo vừa may, mặc vào thấy nham nháp, lành lạnh, nhột nhột, gượng gạo.

Tôi nói với thằng “tên”: - Thế là từ nay tớ phải cõng cậu suốt đời!

Thằng “tên” cãi: - Lêu... lêu... tớ phải cõng cậu suốt đời mới đúng!

Không ngờ, mãi mãi về sau này, “tên” và tôi mặc dù cùng ăn, cùng ở với nhau nhưng chưa bao giờ hòa hợp đoàn kết cả. Lúc “nó” vượt lên trước bỏ lại tôi đằng sau; lúc “nó” tụt lại phía sau tôi vượt lên phía trước. Tôi có lý khi nói: Tôi do mẹ đẻ ra! Thằng “tên” có lý khi bảo: Tên do bố sắp đặt! Lý sự của đứa nào cũng đúng. Nhưng có một điều hai đứa không tranh cãi mà đều thống nhất: Có bố, có mẹ mới có tôi và “nó”. Tuy hai là một.

Nhưng tất cả đó là chuyện hồi tôi mới sinh ra. Còn bây giờ tôi đã là thằng Thừa gần bốn tháng tuổi. Hàng ngày bố bận trông nom việc sửa chữa ở xưởng và viết biên lai cho thuê xe kéo. Thi thoảng có người mang ếch, rắn hay các loại động vật rừng đến bán thì mua. Việc mua, bán lẽ ra là của mẹ, nhưng mấy hôm nay dì về quê, không có ai nấu cơm cho thợ. Chị cả bận thu mua gom nhặt rắn ở các làng. Các anh chị trên tôi đi học, còn một người anh sát tôi gần ba tuổi động tý là lõn tõn đi chơi.

Gần trưa, cho tôi bú no, mẹ đặt tôi vào tấm mền chăn cuốn tôi lại như tổ tò vò, lấy gối kê hai bên để khỏi lật người lẫy ngã xuống đất. Tôi trằn người uốn éo không đồng ý. Mẹ vỗ vỗ vào vai tôi rủ rỉ: - Cu Thừa ngoan hỉ, nằm đây trông nhà cho mẹ hỉ, mẹ gọi anh về chơi với con hỉ.

Mẹ đi rồi, trong nhà vắng lặng, chỉ còn nghe tiếng “cục cịch... cục cịch...” từ trên xưởng vọng xuống. Ở trên ấy người ta suốt ngày cục cịch, chan chát chói cả tai. Mặc dù mẹ đã đội cho tôi cái mũ trùm kín cả tai mà tiếng động vẫn lọt vào. Tôi rất muốn ra xem mọi người làm nhưng lại nhớ lời mẹ dặn: Nằm đây trông nhà cho mẹ. Vả lại, tôi mới được mấy tháng tuổi làm sao đã đi được! Tôi đành “trông nhà” đúng ý mẹ tôi vậy.

 Với con mắt của tôi thì nhà tôi rộng thênh thênh, vút hết tầm mắt mới nhìn thấy chiếc tủ đứng sát tường. Trên nóc tủ treo cái đồng hồ quả lắc. Từ hôm ra đời tôi chỉ nghe nó gõ chuông chứ chưa biết nó có thể đung đưa như thế kia. Ngắm chán, tôi quay nhìn phía dưới: một chiếc bàn học kê ở góc nhà, mực tím dây nhoe nhoét; mặt bàn có một ống cắm bút và lọ mực cổ loe bằng sứ trắng, miệng cũng loang lổ mực. Cạnh đấy là chồng sách, tôi định ngó đọc nhưng chợt nhớ mình đã biết chữ đâu! Tôi ngước trông lên ban thờ: Một bức hoành phi treo ngang to như cánh phản sơn son thếp vàng có ba chữ nét ngoằn nghoèo rối mù. Hai bên, mỗi bên treo áp tường một câu đối nhỏ, nền đen chữ vàng. Chính giữa kê chiếc hòm gian chân cao kiểu nông thôn chứa thóc. Nửa phía trong mặt hòm đóng ván liền đặt ngai thờ và đôi chân nến sơn son. Dưới chân ngai đặt ba bát bình hương, cạnh đấy xếp bộ chén thủy tinh và một chồng chục bát sứ Giang Tây. Nửa mặt hòm ngoài là nắp; mở lên là nắp, sập xuống là nơi đặt mâm ngũ quả hoặc bày cơm cúng. Tôi thì có cho kẹo tôi cũng ứ mở nắp cái hòm ấy! Độc giả có muốn biết tại sao không? Xin trả lời ngay: Nông thôn lấy hòm làm kho chứa thóc, nhà giàu lấy làm kho chứa của, nhưng nhà tôi dùng hòm: Trên làm bàn thờ, trong hòm làm kho nhốt rắn.

Vâng! Đấy là nơi chứa, nuôi dưỡng loài rắn độc nhất hạng. Những con rắn hổ mang chúa - Loại rắn quí nhất trong các loài rắn, bố nhốt vào đấy để chờ xuất buôn sang Hồng Kông.

Nhiều lần lựa rắn, phân loại, mẹ phải đứng áp sát vào thành hòm mới thò tay xuống được. Eo ơi, cái đầu con rắn hổ mang bình thường nhỏ như đầu quả chuối ngự, nhưng khi thấy động nó phản ứng, cong mình phè mang ra rộng hơn bàn tay người lớn, hai lỗ mũi đỏ nọc, lưỡi đen xịt phóng ra, thụt vào nhanh như chớp, miệng phun nghe rõ tiếng “phì... phì...”. Trông nó, tôi phát khiếp! Nó luôn luôn di chuyển, đuôi liên tục cử động ngoằn đi ngoằn lại; cái đầu nhô ra thụt vào sẵn sàng mổ bất cứ lúc nào, vào bất cứ chỗ nào... Nhưng mẹ coi chúng chẳng là gì cả! Muốn bắt con nào mẹ túm trúng con đó. Nhưng thôi, chuyện về rắn xin bạn đọc kiên trì theo dõi, tôi sẽ kể vào những chương sau. Bây giờ, xin được trở về với nhiệm vụ “trông nhà” mẹ tôi giao.

Kê trước cái “kho” rắn là chiếc phản hai mảnh bằng gỗ sung bố vớt được từ nạn lụt năm Ất Dậu (1945). Bộ phản được đóng ghép hình khuôn tranh, quét sơn ta thay bàn uống nước, hút thuốc. Đây là chỗ tiếp khách hoặc lúc rỗi bố cùng mấy người bạn chơi tổ tôm, chơi chắn.

Trong những đồ vật trong nhà, cái giường nơi tôi đang nằm quý hơn cả. Nó được gọi là giường Tây, màu cánh gián, chân tiện cầu kỳ, hai đầu giường lắp con song gỗ tiện thắt cổ bồng và những vòng tròn nối tiếp chồng nhau. Có lần mẹ kể cái giường được mua tận Hải Phòng nhân một chuyến mẹ được lái buôn người Khách đặt mua ba nghìn rắn các loại, hơn vạn ếch, gần nghìn con ba ba, chưa kể bao nhiêu tắc kè và tê tê.

Nhưng đấy là chuyện của hơn chục năm về trước rồi. Bây giờ cái giường đã cũ, mộng rơ rão, bộ giát gỗ đã mọt được thay bằng bộ giát tre do ông ngoại ken ở dưới quê gửi lên. Nhưng dẫu sao, cái giường vẫn là đồ kỷ niệm tự hào của mẹ. Bởi tất cả anh chị em cùng mẹ với tôi đều ra đời trên cái giường ấy.

Tôi bỗng muốn tè... Sao mẹ đi lâu thế nhỉ? Tôi đã “trông” nhà chán rồi mà chẳng thấy ai về. Không lẽ mọi không biết còn có tôi hay sao mà đi vắng cả? Tủi thân, tôi chực khóc... Chợt có tiếng chân “bịch... bịch...” chạy vào và một tiếng “òa” rõ to. Tôi giật mình, cái “ngẩu” đang ngổng vọt cả nước ra trước khi tôi nhận ra đấy là anh trai sát tôi. Anh ùa vào xoăn xoe đưa tay vuốt vuốt má tôi miệng xuýt xoa: Ăn tơi tới tu té, ăn tơi tới tu té. Có mấy câu: Anh chơi với cu nhé, anh chơi với cu nhé. Mà ngọng líu ngọng lô. Tôi lại càng khó chịu vì anh gọi tôi là cu. Hơn nhau có ba tuổi mà ra dáng! Tôi là thằng Thừa! Nguyễn Văn Thừa nghe chưa?

Nhưng hình như anh không để ý tới thái độ của tôi: - Ăn tể tuyện té, anh tể tuyện té - Tôi phải luận mãi mói hiểu anh muốn nói: - Anh kể chuyện nhé, anh kể chuyện nhé. Nghe anh gạ kể chuyện, tôi quên ngay việc anh gọi tôi là cu, quên cả việc anh nói ngọng. Cho dù anh nói ngọng tôi cũng nghe. Tôi vốn mê chuyện ngay từ lúc lọt lòng rồi. Ngoài những lời hát ru, tôi được kể cho nghe bao nhiêu chuyện cổ tích. Mấy hôm nay dì về quê ngoại không có ai kể tôi nhớ lắm, nhưng không biết vòi ai, may bây giờ có anh.

Tôi nằm im chờ đợi... Chờ mãi không thấy gì, quay lại, tôi thấy anh đang chăm chú mê mải nhìn ra ngoài sân: nơi có chuồng chim thi hội của bố. Ngoài cửa chuồng, một đôi chim đang gù nhau. Tôi sực nhớ anh trai rất mê chim và các loại thú. Tôi động động chân có ý nhắc anh về lời hứa. Anh quay lại đưa bàn tay nhỏ xíu ôm lấy mặt tôi, ghé sát vào tai thì thầm:

- Ăn tể tuyện té, ăn tể tuyện té.

 

 

6

 

- Mùa xuân năm Mậu Thân, khi bố em đang chiến đấu ở phía đông thành cổ Quảng Trị thì em cất tiếng chào đời.

Mẹ kể: - Trước khi nào chiến trường bố được về thăm nhà một ngày. Mọi người trong nhà cảm thông tình cảnh bộ đội lén đi chơi để dành thời gian cho mẹ và bố. Chín tháng sau khi bố vào chiến trường con ra đời.

Như vậy, em sinh ra cũng do chiến tranh. Nhưng chiến tranh là gì, hình thù nó ra sao em không biết! Được bảy tuổi em cùng các bạn học lớp hai trường làng cầm hoa, vẫy cờ đỏ sao vàng tưng bừng hát bài hát: Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng.

Về đến nhà mẹ ôm ghì chặt em vào lòng reo: - Chiến thắng rồi con ơi! Hết chiến tranh rồi con ơi! Mẹ con mình hết khổ rồi... nay mai bố sẽ về...

Mẹ mừng như điên dại, nước mắt đầm đìa, mí mắt sưng mọng.

Biết bao người khóc như mẹ.

Em là đứa ít nghĩ từ nhỏ. Em vui với niềm vui của mọi người; hát cho mọi người biết mình biết hát; hô theo lời hô của người lớn bảo hô; mẹ khóc em khóc theo mà chẳng hiểu vì sao mình khóc.

Ừ, em nghĩ: Hết chiến tranh bố sẽ mang chiến thắng trở về, có gì mà phải khóc?

 Anh ạ! Nào em có biết chiến tranh hay chiến thắng là thế nào đâu? Em mường tượng chiến tranh chắc giống như hồi làng Quyết Chiến vác cuốc, xẻng, gậy gộc ra đánh nhau với làng Quyết Thắng để tranh chấp thẻo đất gần đồi Thanh Tước. Còn chiến thắng? Em nghĩ nó giống như làng Quyết Chiến thắng kiện giành được thẻo đất ấy! Tuy vậy, dân làng Quyết Thắng không phục, trong lòng căm lắm! Họ chửi đổng:

Làng chúng bay cậy có người nhà làm trên huyện quân sư chứ phải trái cái nỗi gì.

Em lơ mơ vậy đấy. Nói anh đừng cười, trong mắt em không tồn tại sự đau khổ, mất mát. Em được sinh ra giữa một vùng quê nghèo nàn lạc hậu thâm căn cố đế do hủ tục phong kiến bao đời để lại. Lũy tre làng ru khúc hát êm ả, buồn thương cam chịu.

Thế rồi đến ngày bố em trở về. Đó là hồi cuối năm 1976, em đang ngồi học ở lớp. Người anh con bác em hớt ha hớt hải chạy ra xin phép cho em nghỉ học về trước.

Một ông mặt xám ngoét, tay chân lòng khòng, da vàng như xát nghệ; mặc quần áo bộ đội rộng thùng thình, chân mốc thếch đi dép cao su đen; mắt nhìn em không chớp.

Mẹ nhắc: - Chào bố đi con.

Em không chào. Đây là người nào lạ hoắc chứ không phải bố! Chắc mọi người đánh lừa, nói dối? Trong tâm trí em: Bố là người cao to, dáng vẻ hùng dũng, mặc quân phục trắng phau, phẳng lỳ, đeo tua rua mầu vàng lấp la lấp lánh. Một tay bồng súng, một tay vung lên như trong tranh duyệt binh chứ sao lại thế này?

Ông người lạ dỡ ba lô, lấy con búp bê tóc vàng, mặc váy xòe đưa cho em. Em hất tay làm con búp bê rơi bộp xuống nền sân gạch. Con búp bê kêu nhoe nhóe lăn hai vòng rồi ngửa mặt lên trời, mi mắt xanh lòe chớp lấy chớp để.

Mẹ đánh vào tay em mắng: - Linh! Sao con hư thế nhỉ!

Em bướng bỉnh: - Không phải bố của con!

Mọi người đến chơi cười ồ, còn mẹ lại mắng: - Con này hư tệ.

Ông người lạ độ lượng: - Thôi em, con nó chưa quen. Từ ngày anh đi đây là lần đâu tiên bố con gặp nhau mà.

Nói rồi ông nháy mắt với người anh họ. Người anh họ hiểu ý ra nhặt con búp bê rủ em ra đầu chuồng trâu ngồi xuống chân đống rơm. Anh đưa cho em con búp bê:

- Bố của em đấy! Bố chiến đấu ở miền Nam bị bệnh sốt rét vàng da, bị ngã nước nên da mới vàng và ủng thế! Nhiều người bị lắm, không phải chỉ có một mình bố em đâu!

Em nguôi ngoai dần. Trẻ con mà anh! Dễ giận, mau quên. Nhưng lúc ấy, quả thực em thích con búp bê nhiều hơn là thích bố. Lúc đầu, nhìn nó em ghê ghê, nhưng nhìn mãi thành quen, quen lại thích. Thích vì nó biết chớp mắt, biết kêu tiếng người. Phần thích nữa là vì trẻ con trong làng cùng lứa với em không đứa nào có. Tụi nó xúm đến nịnh để được em cho bế ru hời. Con búp bê thành đứa con chung của lũ trẻ con trong làng mà em là chủ nhân. Em có quyền cho đứa này bế, không cho đứa kia động vào.

Cũng chính vì con búp bê mà khoảng cách xa lạ giữa bố và em được xóa bỏ. Chiều, lúc ăn cơm, em dạn dĩ ngồi giữa mẹ và bố. Bố gắp thức ăn, lấy tay xoa mớ tóc bù xù cứng queo của em khen: - Nay mai lớn lên Linh của bố xinh lắm.

Tối, bố ngồi ở tấm phản kê giữa nhà bế em trên lòng. Con búp bê nằm trên ngực em thi thoảng kêu nhe nhé. Mọi người sang chơi ngồi xung quanh, chật quá phải ngồi cả ở bậu cửa, trải chiếu ngoài hè.

Em bỗng thấy tự hào vì mỗi mình mình được nằm trong lòng bố. Em đưa tay xoa xoa cái cằm gầy tóp, sạm xì, đen đúa và lởm chởm râu ria của bố. Bố vừa nói chuyện với mọi người vừa lấy tay vỗ về cho em ngủ.

...Em chợt thức giấc vì có ai thúc vào người và tiếng nói lào thào bên tai. Mở mắt: nhà tối om! Em cố nhớ xem mình đang ở đâu... Mọi người đến chơi ra về từ lúc nào không biết. Em đang nằm trong giường - vẫn chỗ mọi khi! Nhưng sao hôm nay giường chật chội thế này? Em định càu nhàu thì nghe thấy những tiếng thở đan xen hổn hển rồi giọng bố rên rỉ: - Anh... anh không thể... anh không thể...

Tiếng mẹ van vỉ: - Trời ơi sao lại thế này... anh ơi em chết mất... bao năm em chờ... trời ơi là trời...

Tiếng bố trăn trở rền rẫm: - Không thể... không thể... không được đâu em ơi... anh không thể... anh không thể....

Trộn lẫn trong tiếng thổn thức thầm thì tuyệt vọng là hành động cào cấu của mẹ; sự vật vã đau đớn của bố... em nghe tiếng mẹ bật khóc...

Em chưa hiểu vì sao bố mẹ lại vậy. Nhưng em lơ mơ biết đây là điều hệ trọng xảy ra của những người đã lớn. Em chợt nhớ những lần đi thả trâu nghe tụi trẻ chăn trâu nói những điều bậy bạ: gán đứa nọ với đứa kia. Tụi lớn đưa nhau vao bãi tha ma giữa cánh đồng bày trò chơi vợ vợ chồng chồng. Em còn bé nên chỉ được đóng vai làm con, tò mò nhìn thì bị mắng:

- “Con”! Nằm im! Đừng phá rối giấc ngủ của “vợ chồng” tao.

Sợ chúng nó không cho chơi, em ngả người xuống bờ cỏ giá vờ ngủ nhưng lúc lúc hé mắt ra nhìn... Những đứa sắm vai uợ chồng nằm ôm nhau, nói với nhau những lời âu yếm, nũng nịu, hái hoa đồng nội cài lên đầu làm cô dâu. Đứa con gái gối đầu lên tay đứa con trai; đứa con trai lấy tay rờ rờ vào ngực đứa con gái; đứa con gái vắt tay che mặt giả tảng như che ánh mặt trời, cả hai cười khúc kha khúc khích.

Em nhìn tụi nó bỗng dưng thấy ngượng, nửa muốn nhìn, nửa muốn quay đi. Tuy vậy, trong lòng tự nhiên xuất hiện một tình cảm khó tả. Háo hức, ước mau lớn để được chơi trò vợ vợ chồng chồng như thế.

Bỗng mẹ vùng dậy vén màn rời khỏi giường. Tiếng bước chân thình thịch lẫn tiếng tức tưởi. Bố nhỏm dậy. Em vờ ngáy khe khẽ như người đang ngủ say. Bố ra khỏi giường, gài lại màn, lặng lẽ đi đến chỗ mẹ ngồi.

Dưới ánh trăng, mẹ ngồi như bất động trên bậc thềm. Lưng dựa cột, đầu gục xưống, mái tóc xõa xượi. Bố nửa ngồi nửa quỳ ôm lấy mẹ, bàn tay ve vuốt nơi bờ vai, cằm dụi dụi vào cổ, vào tai mẹ. Y như tụi trẻ chăn trâu chơi trò vợ chồng ngoài bãi tha mẹ.

Chợt có tiếng khóc. Tiếng nức nở, nghe đầy oan ức, dằn vặt. Bố đập đầu cộp cộp xuống thềm hè. Mẹ quay lại cuống quýt:

- Thôi anh... thôi anh... em xin anh... em qua rồi... em chịu được... vài bữa nữa em ra phố cắt thuốc chữa cho anh... rồi anh lại như xưa... anh sẽ cho em một đứa con trai...

Bố rên rỉ, nghẹn ngào: - Không... không... không bao giờ được nữa đâu em... không bao giờ... anh đã là người đàn ông bất lực suốt đời rồi em ơi...

Bố mẹ ôm lấy nhau, tiếng khóc ôm lấy nhau, ánh trăng bạc và màn sương trắng đêm mùa thu hòa quyện phủ lên hai người.

Tiếng khóc và nỗi đau khổ trong đêm gặp gỡ đầu tiên sau bao năm xa cách, chờ đợi của bố mẹ hằn sâu, đeo đẳng mãi trong lòng em. Nhưng lúc ấy em chưa hiểu và thậm chí còn ngây ngô tự hỏi:

- Bố mang chiến thắng trở về mà sao hai người vẫn khóc? 

 

7

 

Sau mấy câu: Ăn tể tuyện té, ăn tể tuyện té, ngọng líu lô, anh trai trèo lên ngồi cạnh tôi liến láu kể: Sau này, anh còn kể nhiều lần câu chuyện đó, đến mức tôi gần như thuộc những chuyện anh kể.

“Anh nhớ dạo ấy vừa tết xong. Không hiểu vì sao các trường học đều bị đóng cửa. Các anh, chị đang đi học phải nghỉ ở nhà. Ngoài đường rặt dân tứ xứ lang thang từ đâu đến xin ăn. Hàng ngày bố đóng cửa hiệu không dám mở.

- Không phải bố mẹ ác đâu! Làm phúc mãi rồi nhưng đông người ăn xin quá! Cho hết thì nhà mình lấy gì mà ăn? Chết đói lây à? Mặc dù có cửa hiệu cho thuê xe, có cửa hàng buôn bán các loại động vật đấy, nhưng mấy năm nay xe kéo tay đóng ra để chất đống chẳng có ai thuê, trong chuồng hàng mấy trăm con rắn không bán được; ếch, lươn, ba ba, kỳ đà nhốt lâu trong chuồng chết dần.

Mẹ bảo: - Dưới Hải Phòng tư giấy lên không nhập hàng.

Bố nói: - Đường biển sang Hồng Kông đang đánh nhau, tàu buôn không dám ra khơi.

Sáng hôm ấy, mẹ mặc thêm cho anh cái áo, cho ti một bụng no rồi đặt anh lên lưng chị hai. Mẹ dặn:

- Trông em cho mẹ làm. Nhưng chỉ được chơi quanh quẩn ở nhà mình thôi. Mấy hôm nay người đói mạn xuôi lên đây xin chết đường chết chợ nhiều lắm, không được cho em ra phố đâu.

Mới đầu nghe mẹ nói ba chị em đều sợ. Nhưng lời dọa của người lớn thường kích thích trí tò mò của trẻ con. Chị hai dỗ dành chị ba: - Em ở nhà, chị cõng cu con đi một lúc rồi về ngay.

Chị ba giãy nảy: - Em ứ vào! Chị không cho em theo, em mách mẹ.

Biết có nói gì chị ba cũng không chịu, chị hai liền bảo:
- Được rồi, có im ngay không? Không im chị nhốt vào buồng không cho theo bây giờ.

Khuôn mặt chị ba hớn hở vì biết lời dọa của mình đã làm cho chị hai đổi ý.

Chị hai xốc anh lên nhìn chị ba đe: - Chị cho hai đứa theo, nhưng cấm đứa nào mách lẻo. Đứa nào hở ra lần sau đừng có trách!

Chị ba và anh im thít! Chị hai nói là làm! Đừng có lơ mơ.

Chị hai cõng anh đi trước, chị ba lõn cõn chạy theo. Cả bọn tuồn theo lối đằng sau. Mở cổng vườn tụt xuống chân đồi, men theo con đường nhỏ sát cánh đồng. Đây là con đường riêng của lũ trẻ con phố Đệ Nhị. Mùa mưa, nước trong các phố dồn xuống chảy cuồn cuộn. Tụi anh lấy giấy gấp thuyền thả xuống nuớc, nhìn thuyền trôi reo hò ầm ĩ. Mùa đông lúa gặt hết, những thửa ruộng trơ lại gốc rạ, mặt đất nứt chân chim. Tụi con trai lớn lấy giẻ cuốn lá chuối khô làm bóng đá hoặc chơi khăng, đánh đáo; bọn con gái chơi nhảy dây hay túm tụm đọc sách, kể chuyện; những đứa bé hơn tha thẩn tuốt mầm lúa nhử bắt cồng cộng.

Phía sau phố, vườn các nhà rào bằng cây sậy hoặc nứa tép. Nhưng rào làm sao được lũ trẻ con? Tụi anh muốn vào nhà nào chẳng được! Đi đến đâu cũng chỉ cần nhìn hay ngửi mùi là đã biết chỗ ấy là nhà ai. Này nhé: Đằng sau nhà mình thối khẳm vì xác các loại súc vật chết ngâm trong hố. Sau nhà hàng xay, hàng xáo mùi chua loét vì vỏ trấu với bao tải mục. Mấy nhà làm nghề thợ mộc vỏ bào, mùn cưa đổ tràn đến nỗi hàng rào đổ nghiêng ngả. Nhưng thôi! - Anh chợt bảo:

- Bao giờ lớn đi chơi em sẽ biết! Còn bây giờ anh chỉ kể cho em nghe những chuyện em chưa biết mà thôi.

Rồi anh tiếp tục kể:

- Bọn anh phải leo một đoạn dốc mới lên được chỗ ngã tư: Một đường rẽ trái sang dinh Tuần phủ; Một đường rẽ phải vào xóm Bái; phía trước mặt là phố Đệ Nhất; phía sau lưng là phố Đệ nhị nhà mình - Cả tỉnh Phúc An có ba phố chính. Những phố này là do bọn Pháp đặt tên. Mãi khi cướp được Chính quyền, quân mình mới đổi tên phố như bây giờ em hiểu chưa?

Giảng giải cho tôi xong anh tiếp tục:

- Chị hai nhìn xuôi, nhìn ngược, nhìn phải, nhìn trái... ngần ngừ một chút, chị quyết định dẫn bọn anh đi về phía phố Đệ Nhất để ra chợ. Chắc chị muốn đưa bọn anh vào chợ tìm người chết đói để xem đây! Anh nghĩ vậy.

Phố Đệ Nhất vắng tanh vắng ngắt. Nhà nào nhà nấy đóng chặt cửa. Ven hai bên hè đường, xen giữa những hàng cây cao du um tùm lá xanh, vài cây bàng gốc xù xì, vỏ mốc trắng loang lổ, khô khốc; từng quầng cành khẳng khiu chìa ra, đầu ngọn những chồi non mơn mởn đang nhú... vài chùm lá từ năm ngoái còn sót lại chạt nốt rỗ tím thẫm trên mặt phiến lá đỏ, to như cái quạt. Mỗi lần gặp gió cái quạt vẫy phần phật như muốn bứt khỏi thân cành.

Anh nhớ có lần được chị hai cõng đi chơi, gặp những tốp lính đội mũ chào mào, chân đi giày nện xuống đường ầm ầm, miệng hô: “Ốt, ay... ốt, ay...” chộn rộn cả đường phố. Nhưng sao hôm nay tịnh không thấy một toán lính nào? Cảnh binh canh đường cũng chẳng có! Tụi anh sợ mấy ông cảnh binh này lắm! Đầu đội mũ rộng vành, quần soóc, áo cộc tay màu vàng; phanh áo ngực đầy lông xoăn tít, rậm rì rậm rịt, có người râu quai nón vàng ruộm; mặt đỏ tía như da gà chọi, tay lăm lăm dùi cui, mồm xà xà, xồ xồ loạn xì ngậu, lúc lúc đưa còi lên miệng thổi “toét, toét”.

Chợt chị hai hỏi: - Mẹ bảo ở đâu có người chết nhỉ?

Nghe thấy tiếng “chết” chị ba rụt rè: - Hay đi về đi chị ơi.

Chị hai cáu: - Mày về thì về một mình! Tao không về! Bám theo bằng được bây giờ lại còn... - Bỗng chị quay lại giật giọng: - Bây giờ em đi hay về?

Chị Ba mím miệng lí nhí trả lời: - Em... em đi.

Chị hai nói: - Được! Đi thì đi nhưng cấm được đòi về.

Chị ba xịu mặt: - Vâng - Rồi chị sậm sùi lùi lũi bước.

Đi gần tới nhà thờ Thiên chúa giáo chị hai bảo chị ba: - Đi sát gần chị. Đi với chị không đứa nào phải sợ cả! - Chị buông một tay đang đỡ đít anh nắm lấy tay chị ba.

Tít trên cao, bầu trời xám xịt, mây đùn mây thành từng đụn trôi về phía dãy núi Tam Đảo. Gió se lạnh. Đường phố vẫn không một bóng người qua lại. Chị ba đi sát vào chị hai, hai chị nắm lấy tay nhau. Còn anh, ung dung ngồi trên lưng; vừa nghĩ tới con ngựa mầu hồng và lão người Tàu có hiệu bán thuốc ở phố Đệ Tam. Thi thoảng lão ta cuỡi ngựa đi qua cửa nhà mình. Chân gã Tàu ô xỏ giày cổ dập dập theo nhịp. Vó ngựa gõ lên mặt đường lộp cộp, lục lạc đeo ở cổ ngựa kêu leng keng.

Ngồi trên lưng chị hai, miệng anh “Aaaaa...” hai chân nhong nhong có cảm giác mình đang cưỡi ngựa nghe nhạc như lão Tầu ô vậy.

Khi đi ngang qua hè nhà thờ, cả ba chị em ngước nhìn: Hai cánh cửa sơn màu xanh hình khum đóng im ỉm. Nóc nhà thờ cao vút. Trên đỉnh, một cây thập tự gắn tượng Chúa Giêssu cởi trần, cả thân người Chúa ưỡn về phía trước, cánh tay dang ra treo trên thanh ngang; đầu Chúa rũ ngoẹo, chân Chúa một thẳng, một co; mặt Chúa nhăn nhúm, đau khổ, nhẫn nhục... Năm vết thương trên thân Chúa máu tím bầm; to và đỏ nhất là vết ở ngực. Nếu không có cây thập tự giữ lại, anh chắc ông ấy sẽ bị rơi xuống đất. Ngay phía dưới, trên nóc vòm, một cuốn sách to đùng, đứng nghễu nghện, có viết chữ nhưng anh không biết đọc.

Chị ba vừa đi vừa ngóc cổ lên nhìn, hai chân lập cập vấp phải chân chị hai. Chị hai càu nhàu: - Đi đi, nhìn gì?

Chị ba hỏi: - Ông ấy còn sống không hả chị?

Chị hai hỏi: - Ai?

Chị ba chỉ tay lên cao: - Ông kia kìa.

Chị hai bật cười: - Tượng sống thế nào được!

Chị ba lại hỏi: - Thế quyển sách viết gì?

Chị hai đọc liến láu: - “Hãy tin Chúa Giêsu thì được cứu rỗi”. Có thế mà cũng không biết! - Chị bĩu dài môi chê lũ em chưa đi học không biết chữ.

Đi qua nhà thờ một đoạn, bọn anh gặp một ngã ba: Một đi thẳng, một rẽ phải. Chị hai dùng lại ngần ngừ chưa biết nên đi thẳng hay rẽ. Đường nào cũng dẫn đến chợ, nhưng đi thẳng sợ gặp cảnh binh, rẽ sang đường vòng sợ phải đi qua chùa Thập Phương. Chợt nghe tiếng chị ba kêu:

- Đằng trước có người chị ơi!

Trước mặt, cuối phố Đệ Nhất, một toán chừng ba, bốn người đang đi lại về phía bọn anh. Anh nghển cổ để nhìn cho rõ nhưng chỉ thấy loáng thoáng vì vướng vai chị hai. Không nói không rằng, rất nhanh, chị xốc anh, dắt chị ba rẽ xuống mé đường bên phải. Đi được một quãng, gần tới lối vào chùa, cả bọn quay lại nhìn: Không ngờ tốp người ấy rẽ xuống cùng đường với bọn anh. Chị hai giật tay chị ba: - Trốn vào chùa Thập Phương.

Có lần mẹ nói: - Chùa Thập Phương của một gia đình giàu có xây dựng để tu nhân tích đức cho kiếp sau.

Chị nhớn kể: - Trong chùa có hai ông tượng - Một ông tượng Thiện, một ông tượng Ác. Ông Thiện người gầy, mặt hiền lành hay chia oản cho trẻ con. Ông Ác to béo, mặt dữ dằn hay bắt những kẻ đến quậy phá, lấy cắp đồ vật của chùa. Ngoài ra còn có một ông người thật trông coi vườn chùa. Ông người thật này còn dữ hơn ông tượng Ác trong chùa. Ông rất thích mổ bụng trẻ con.

Cổng chùa không đóng, sân chùa vắng tanh. Bọn anh đứng thập thò ở cổng chờ bọn người đi qua sẽ ra. Không ngờ bọn người lại rẽ theo lối vào chùa. Cứ như là họ biết và đuổi theo bọn anh thì phải? Thấy vậy, chị hai lập tức ra lệnh:

- Núp vào đằng sau chùa!

Bọn anh lách rất nhanh qua các bụi chuối ở vườn sau. Sau chùa, có một cái bể hứng nước mưa, cạnh đấy có cây ổi rõ to, tán lá xòe xoẹt che cả một khoảng vườn và nửa khoảng sân, cành nào cành nấy trĩu trịt quả là quả. Giá như không có người thì thể nào bọn anh cũng phải trèo lên hái. Nhưng bây giờ thì không được! Chị hai kéo chị ba ngồi thụp xuống. Thành bể giáp với đầu hồi chùa tạo nên một góc rất kín; đầu phía bể bên kia sát nhà ngang dành cho khách thập phương ở lại qua đêm.

Bọn người đi phía đằng trước ngôi chùa nhưng không vào chùa chính đặt lễ thắp hương mà đi thẳng xuống nhà ngang. Qua khe giữa thành bể và tường, bọn anh nhìn thấy bọn họ, nhưng bọn họ không nhìn thấy bọn anh. Đi đầu là một người nhỏ thó, mặc quần áo ka ki như ông ký ga thi thoảng ghé vào cửa hiệu nhà mình tán chuyện gẫu với bố ấy! - Anh ví cho em hiểu thế, chứ không phải là ông ký quen với bố đâu!

Giảng giải thêm cho tôi hiểu rồi anh kể tiếp:

- Đầu ông ta đội mũ rộng vành, phía đằng trước kéo cụp xuống nên anh không nhìn rõ mặt. Tay ông ta cầm cái bao mầu gụ. Người đi sau cao hơn, tóc chải rẽ ngôi, khuôn mặt bảnh chọe như cậu Phán con cụ Lý làm ở tòa Sứ hay đến ve vãn cô Đào con ông Đồng Lợi phố ta! Tiếp nữa là một người đàn bà trạc tuổi mẹ. Mặt người đàn bà đẹp như tranh Đức Mẹ treo trong nhà thờ hôm lễ Nô-en chị nhớn bế anh vào xem - Người đàn bà mặc quần áo theo lối mới chứ không mặc quần áo như mẹ hay dì đâu! Cái cổ áo có hai miếng chìa ra như tai con chó vàng nhà lão bếp nấu cơm trên dinh cụ Tuần. Hàng cúc màu đen to bằng đồng xu con trẻ làm cái đáo. Còn phía dưới thế nào thì anh không kịp nhìn vì bà ấy và đám người đã khuất sau cánh cửa. Nhưng còn người nữa đâu nhỉ? Lúc nãy có bốn người cũng đi cơ mà? Hay người ta vào thắp hương? Chắc không phải! Nếu thắp hương thì cả mấy người cùng vào chứ sao lại đi một mình? Anh đang không hiểu thế nào thì chị hai nói nhỏ:

- Đi ra đi!

Lúc vào bọn anh đi rất nhanh vì sợ bị phát hiện. Nhưng đến khi ra mới biết đường khó đi - Một bên sát với hàng rào trồng dứa dại; những chiếc lá đầy gai móc áo níu người, một bên sát tường hậu chùa rêu nhẽo nhợt, nền đất dưới chân mấp ma mấp mô... Chị hai nhắc: - Cẩn thận không giẫm phải gai.

Vừa thò mặt ra khỏi bức tường hậu, chị hai giật thót người lùi lại. Cái giật lùi làm chị ba ngã bổ ngửa ra đằng sau. Chị hai quay lại buông một tay đang ôm đít anh ra bịt lấy mồm chị ba, quát khẽ: - Im! Có người!

Chị ba ú ớ chưa hiểu ra làm sao thì chị hai trỏ tay về phía cổng chùa ra hiệu...

Thì ra cái người đi cùng bọn họ đứng canh gác ở ngoài cổng chùa. Ông ta quay lưng vào chùa, mắt dán vào hai cánh cổng khép hờ nhìn ra đường.

Thế là bọn anh không có đường thoát ra ngoài.

 

8

 

Tiếng queng... queng... từ quả bom câm treo trên cây mít trước cổng làng dóng dả thả từng nhát. Âm thanh kết nối thành từng chuỗi ngân nga lan tỏa khắp làng. Ngày nào như ngày nào - Sáng: Bốn giờ ba mươi; trưa: Mười một giờ rưỡi; Chiều: Mười ba giờ; tối: Mười tám giờ - Quả bom câm theo lệnh chiếc búa ba cân trong tay ông chủ nhiệm hợp tác xã Quyết Chiến lên tiếng. Ông Chủ nhiệm như chiếc đồng hồ sống, đó là lời cửa miệng của người dân trong làng thường kháo nhau. Suốt từ ngày ông làm chủ nhiệm, chưa một buổi nào ông điểm sai giờ. Nhịp điệu rõ ràng, minh bạch, giờ giấc ruýt chằn chặn.

Chỉ có thời kỳ chiến tranh giặc Mỹ đánh phá miền Bắc quả bom làm thêm nhiệm vụ báo động máy bay đến, báo an may bay đi.

Mặc dù nằm trong vùng trọng điểm bắn phá của không quân Mỹ nhưng làng Quyết Chiến chưa bao giờ bị máy bay đánh trúng. Bom rơi đạn nổ mới chạm tới đầu làng thì Mỹ phải ký hiệp định ngừng ném bom miền Bắc. Chuyện đáng nhớ nhất là cái đận cả làng tìm bắt phi công bị bắn rơi. Đó là hồi cuối năm bảy hai (1972) trong đợt 12 ngày đêm “ Điện Biên Phủ trên không”. Nửa đêm, một chiếc B52 bị không quân ta bắn cháy, văng thành hai mảnh. Phần đầu cắm xuống sông Cà Lồ, phần đuôi rơi giữa cánh đồng. Trên trời một cái dù đeo người lơ lửng bị gió tạt về phía đầm Vực nằm giữa hai làng Quyết Thắng và Quyết Chiến.

Ông Chủ nhiệm kiêm Xã đội trưởng dân quân Quyết Chiến nện búa vào quả bom câm không thương tiếc. Vừa nện ông vừa hối thúc:

- Khẩn trương tìm bắt giặc lái Mỹ... khẩn trương không làng khác bắt mất... không được để xổng... phải lấy công cho làng mình... bắt được cấp trên sẽ tặng bằng khen... những người có công được thưởng Huân chương... khẩn trương... khẩn trương...

Cả làng nháo nhào ùa ra. Già, trẻ, trai, gái, người lớn, trẻ con, tuốt tuồn tuột có mặt. Có tiếng hỏi:

- Giặc lái Mỹ ở đâu?

Ông chỉ huy chỉ lên trời rồi hạ tay chỉ ngang:

- Ở kia chứ ở đâu.

Mọi người xô nhau chạy ra đầu làng. Hàng trăm khuôn mặt ngửa nhìn lên: Tiếng máy bay gầm rú, pháo sáng từ trên trời soi rõ mồn một từng thước ruộng, từng con người. Ai cũng háo hức chờ phi công rơi để bắt.

Bỗng có tiếng hô:

- Thằng giặc lái rơi xuống Bãi Giữa ở đầm Vực rồi, bơi ra bắt đi các đồng chí ơi... Không nhanh lên làng Quyết Thắng bắt mất.

Nghe vậy, tống chỉ huy làng Quyết Chiến quăng vội cái búa xuống đất, xốc khẩu K44 lên vai, Âm thanh kẻng còn đang ngân nga ông đã nhảy vọt lên trước đoàn người, phóng qua cánh đồng, đến bãi tha ma, chọn cái mả cao nhất nhảy phắt lên. Bóng ông lừng lững oai nghiêm in trên nền trời. Ông như võ tướng!

Đúng ông là võ tướng! Võ tướng của đội quân làng Quyết Chiến! Quần túm khoeo, áo bông Bát lộ quân Trung Quốc, mũ tai bèo quân Giải phóng miền Nam, tay trái cầm ngang khẩu súng, tay phải giơ lên trán xoay người quan sát.

Ông nhìn sang phía làng Quyết Thắng, thấy có bao nhiêu người đang chạy về phía đầm Vực - Cái đầm ngăn cách và là biên giới giữa hai làng từ bao đời. Là bãi chiến trường để kẻ chăn trâu và dân chúng hai làng xăm xe rình nhau từng miếng một.

Ông lập tức ra lệnh:

- Tất cả dân làng theo lệnh tôi! Các đồng chí dân quân tiến lên! Phát huy truyền thống chống giặc ngoại xâm, vì danh dự của cả làng, chúng ta quyết chiến đấu để giành lấy thắng lợi.

Đáp lại lời ông là cơn sóng người tràn tới. Vị tổng chỉ huy từ đỉnh mả nhẩy xuống, bàn tay ông hướng về phía đầm Vực.

Ông trở thành vị chủ soái thực sự của dân làng Quyết Chiến.

Trận giao tranh bắt đầu.

Tiếng máy bay trên trời vần vũ, ánh sáng từ những chiếc đèn dù tỏa rộng. Bên kia bờ, dân làng Quyết Thắng reo hò. Bờ bên này, dân làng Quyết Chiến hò reo. Cá đầm Vực lấp loáng, sương bay là là trải bạc trên mặt nước; từng bầy chim cư trú trong những bụi cỏ lác mọc trên bãi sình lầy nháo nhác bay lên.

Có tiếng gào lớn:

- Thằng giặc lái đang ở Bãi Giữa bà con ơi...

Tất cả, không ai bảo ai ầm ầm lao xuống đầm. Đàn ông, đàn bà, trẻ con, miễn là biết bơi. Dân sống cạnh đầm Vực ai chẳng biết bơi! Họa chăng trẻ lên ba lên bốn mới không biết! Mà lên ba, lên bốn chưa biết thì năm, sáu tuổi phải biết. Biết bơi để khỏi bị chết đuối. Nhưng trước hết là để mò cua, bắt ốc, riu tôm, câu cá, quăng chài kiếm sống.

Đầm Vực như người thầy hướng dẫn môn bơi lội, lặn ngụp cho cả hai làng. Sự hữu ích giờ đây được phát huy tối đa cho công cuộc chống giặc ngoại xâm.

Tất cả chưa biết mô tê ra sao nhưng cứ nhayy đại xuống. Họ tin bơi ra được đến Bãi Giữa là bắt được giặc lái! Mục đích đã rõ! Cấp trên đã quán triệt, niềm phấn khích trong lòng người nhân lên gấp bội.

Chủ soái làng Quyết Chiến như con cá măng rẽ nước lao oan oát. Tất cả dân làng bơi theo ông. Dòng người tạo thành hình cánh cung nhằm Bãi Giữa lao tới.

Mé bên kia đầm, dân làng Quyết Thắng cũng vậy! Một đợt sóng hình mũi tên đối chiều vọt lên.

Bãi Giữa như lưng con rùa nằm nổi giữa đầm Vực. Như đầm mẹ: Có một cái tên cả hai làng cùng gọi. Nhưng chung tên mà không chung ý. Từ lâu, hai làng đã tranh giành nhau. Ra trước công đường làng nào cũng mang gia phả ra để chứng minh rằng đầm Vực và Bãi Giữa do Thành hoàng làng mình có công khai khẩn. Không bên nào chịu nhường bên nào. Vì vậy, đầm Vực như con thú hoang, những gì tự nhiên phát triển là tài sản chung của cả hai làng: Củ ấu, củ súng, cỏ lác, rong, rêu; tát vét, quăng chài bắt cá, đặt vó, nhửi tôm không ai cấm! Nhưng nếu có ý định chiếm hữu độc quyền là không được! Không bị phá ngày thì bị phá đêm. Làng này làm làng kia triệt.

Lúc này vị chỉ huy làng Quyết Chiến đã sang tới bờ Bãi Giữa, cả đoàn người theo sau dàn hàng ngang. Mé bờ đối diện dân làng Quyết Thắng cũng vậy. Không khí chùng xuống, không ai bảo ai tất cả đều im lặng khi phát hiện ra trên đỉnh Bãi Giữa có một chiếc dù. Không thận trọng sao được? Trước mặt là dấu vết quân thù để lại! Đã là quân thù hắn sẽ có vũ khí! Quân này ngoan cố lắm! Trên bàn đàm phán ở Pari chúng nó bí bức không trả lời được phái đoàn ta nên liều lĩnh cho máy bay B52 rải bom miền Bắc. Chúng ngạo nghễ tuyên bố: ... Đưa Bắc Việt Nam trở về thời kỳ đồ đá.... Vì vậy cần phải cảnh giác.

Sự căng thẳng hun nóng người, không ai để ý tới từng đợt gió mùa đông bắc ù ù thổi. Trên bầu trời những ngọn đèn dù tắt dần, cả đầm Vực chìm trong bóng đêm. Chợt vị chỉ huy làng Quyết Chiến dừng lại. Mọi người theo phản ứng dây chuyền cũng dừng lại. Vị chỉ huy căng mắt nhìn vào màn đêm đen, cái đầu của ông đang tính toán... Quay sang nói nhỏ với người bên trái, quay lại nói nhỏ với người bên phải, lập tức mệnh lệnh được truyền tới tận người cuối cùng.

Chừng như biết mệnh lệnh đã thông suốt, vị tổng chỉ huy hét lớn:

- Xung phong, tất cả dân làng Quyết Chiến tiến lên!

Đáp lại lời ông, đoàn người ào ào xông tới. Bên dân làng Quyết Thắng nghe tiếng thét chững lại... Rồi chợt hiểu ra ý định của đối thủ, tất cả vùng dậy lao lên phía trước không đợi lệnh của chỉ huy bên mình.

Tiếng reo hò vang dội. Cuộc tranh giành thực sự diễn ra khi hai đội quân tràn tới chiếc dù. Hàng trăm bàn tay tóm vào cố giật về phía mình. Chiếc dù bị căng ra bốn phía, có người cuộn vào người mấy vòng, có người xoắn vào tay ghì chặt xuống đất. Toạc... toạc..., không chịu được sức co kéo, chiếc dù bị đứt từng mảnh, nhiều thân hình lỡ đà ngã bổ ngửa.

Tách ra khỏi sự hỗn độn, vị chỉ huy làng Quyết Chiến dẫn theo hai dân quân lao về phía vùng sình lầy toàn cỏ lác. Bài tập huấn quân sự học được bây giờ mới có điều kiện thực hành.

Ba người thận trọng đi vào vùng cỏ mọc lút đầu. Nơi đây thiên nhiên giăng bẫy, bước chệch là bị hút xuống hố lầy. Chẳng thế mà đi ra ngoài Bãi Giữa dẫu là ban ngày phải có hai người cùng đi.

Trên đỉnh Bãi Giữa, dân hai làng vẫn say sưa với việc giành giật chiến lợi phẩm. Đám đông tạm quên mất nhiệm vụ tìm bắt giặc lái. Chỉ còn có ba người không quên. Họ lầm lũi dò dẫm, căng mắt quan sát. Đèn dù trên đầu họ tắt hẳn, mặt đầm Vực đen ngòm nhưng phía đằng đông vừng dương đã hé rạng báo hiệu một ngày mới bắt đầu.

Vị chỉ huy làng Quyết Chiến chợt dừng lại. Dường như ông đã phát hiện ra điều gì giữa cái bãi lầy lội ngút ngát lau sậy và cỏ lác. Hai chiến sĩ của ông quỳ thấp xuống giơ tay lên che trán.

Một cái bóng trông như người lấp giữa hai bụi cỏ. Nó đang có tư thế nhằm bắn. Ông khoát tay ra hiệu. Lập tức hai chiến sỹ theo hướng tay ông mở rộng vòng vây theo thế gọng kìm. Còn ông, ông nhận nhiệm vụ thu hút hỏa lực địch. Đây là lúc thể hiện bản lĩnh người chỉ huy. Vả, trong tay ông có súng! Vũ khí duy nhất của dân quân được trao cho ông. Gọi theo cách hoán dụ thì đây là vợcon của ông. Trong thực tế, từ lúc ông được giao nhiệm vụ chỉ huy dân quân và được trọng trách giữ vũ khí, ông coi khẩu súng K44 và mười viên đạn hơn cả bà vợ chân lấm tay bùn và năm đứa con lít nhít của ông. Đêm ngủ ông ôm ấp, ngày thức ông quàng vai. Vợ con có lúc ông quên nhưng súng đạn bất ly thân.

Ông cho đạn lên nòng, tiếng quy lát rập đánh roạt làm ông vững tâm hơn. Ông trườn nghiêng, bùn nước bết vào da thịt làm toàn thân tấy lạnh, cánh tay phải rã rời vì phải nâng súng để cho súng khỏi dính bùn. Trong lúc đó, đầu óc ông cố nhớ lại những khoa mục đã học để ứng dụng. Ông ngoảnh sang nhìn hai chiến sĩ: Trong tay họ không một tấc sắt, nhưng lòng hừng hực lửa chiến đấu. Ông chỉ huy dành một phút để tự hào về những chiến sĩ của mình.

Còn cách chừng mươi mét, không ai bảo ai, ba mũi tiến công đứng lại, họ chỉ còn cách kẻ thù trong gang tấc. Vị chỉ huy khoát tay chồm lên hô lớn:

- Hen- sấp... Giơ tay lên! Hàng thì sống chống thì chết!

Câu đầu ông hô bằng tiếng Anh, sau ông hô bằng tiếng Việt, nhưng thái độ dứt khoát.

Khẩu súng lăm lăm chĩa vào cái bóng, hai chiến sĩ vận nội công xuống thế chảo mã tấn chờ đợi đối thủ phản ứng.

Đúng là tên phi công Mỹ. Nhưng trái với dự đoán của ông và hai chiến sĩ, tên giặc lái không giương súng, không một chút chống cự, mà nó đang trong tư thế quỳ, hai bàn tay chắp trước ngực như con chiên đang cầu kinh. Nó giật mình khi nghe tiếng mẹ đẻ. Và, dù âm vực của vị chỉ huy làng Quyết Chiến ngọng líu ngọng lô nhưng nó vẫn nhận ra đầy đủ ý nghĩa. Ngay lập tức, người hùng của không lực Hoa Kỳ vội vã đưa hai tay lên trời.

 

9

 

Chị Hai thì thào: - Đừng sợ! Đã có chị!

Chị Ba lổm ngổm bò dậy, một tay vẫn túm chặt vạt áo chị hai. Anh sợ, hai tay bíu ghì làm cổ áo trước ngực chị hai bị kéo, co lên xiết chặt đến nỗi chị phải kêu: - Tóm chặt thế chị thở làm sao được!

Ba chị em nhìn nhau. Đi theo lối cổng thì dứt khoát không được rồi. Cái lão kia mà nó tóm được ấy à, có mà đi đứt! Còn vào trong liệu có lối nào ra không?

Chị hai nói khẽ: - Lui vào phía trong!

Nói là làm, chị cõng anh cúi thấp người lần theo đường hậu chùa bươn về phía sau. Chị ba lõn tõn theo. Bọn anh dừng lại ở đầu bể quan sát: Trước mặt là khoảng trống sân chia rồi tới đầu hồi nhà ngang. Dưới sân, lổng chổng mấy chiếc chậu sành, một chiếc chứa đầy nước vo gạo ngầu ngã trắng. Nhìn màu nước gạo anh chợt nhớ tới bầu sữa sáng nay mẹ cho anh ti... Miệng bỗng thèm thuồng vì khát, bụng bỗng cồn cào vì đói.

Chị hai nói nhỏ: - Bò qua cạnh bể ra phía sau tìm chỗ hàng rào có lỗ chó chui mà ra.

Chị cõng anh nằm rạp bụng sát trườn như rắn cạp nong, Chị ba không trườn mà nhảy như con ếch bị nhốt lâu ngày được thả. Còn anh rất khó chịu vì những tàu lá mọc trong vườn quết vào mặt, anh không dám buông tay ở vai chị hai ra, vì bỏ ra là ngã. Nói thật với em, nếu được đi bình thường thì chỉ ba bước nhảy là chị hai đã sang được bên kia, hoặc như chị ba dăm cú phốc lò cò kiểu ô ăn quan là cùng. Nhưng đây là chạy trốn nên bọn anh không thể đi bình thường được! Nhổm cao một tý, động to một cái là bọn người biết ngay! Họ bắt được chỉ có chết! Cái lão người thật trông coi chùa thể nào cũng xé xác đem cho ông Ác ăn thịt chứ chả chơi.

Anh chưa kịp nghĩ xong cả hai chị đã sang được đầu hồi nhà ngang rồi. Chị ba mệt quá ngồi thụp xuống đất thở lấy thở để, mồ hôi chảy thành dòng trên mặt. Chị hai đưa tay lau cho chị ba, không ngờ đất bẩn từ tay chị lại làm cho mặt chị ba thêm nhem nhuốc. Chị hai nhìn chị ba suýt bật cười, nếu không có tiếng nói từ trong nhà vọng tới, rồi có người từ trong nhà lẹp kẹp đi ra.

Không ai bảo ai, chị hai trườn nhanh như con mèo, chị ba trườn trơn như con lươn, cả hai thót một cái đã ở phía sau ngôi nhà.

Bọn anh ló đầu theo dõi người vừa ở trong nhà ra. Đấy là người lúc vào đi thứ hai, có khuôn mặt bảnh chọe như cậu Phán. Ông ta ra thẳng bể, lấy cái gáo dừa cán dài gác trên mui thò xuống múc lên một gáo nước mưa ngửa cổ tu một hơi.

Ra thế! Ông ta khát nước.

Chờ cho ông ta vào nhà, chị hai giơ tay ra hiệu cho bọn anh đi về phía sau. Cách bức tường hậu sau nhà là khoảng vườn trồng toàn na rồi đến hàng rào dứa dại. Mới chớm thu mà lá cây trong vườn đã úa vàng rụng đầy mặt đất, vài ba quả na trên cành khô khốc, đen thui như cứt chó phơi nắng. Bọn anh tới bờ rào, gốc cây dứa xếp hàng trệt đất, bẹ trắng nhởn, phiến lá dài cong vút, chìa ba cạnh gai tím đen sắc nhọn.

Đi đến bờ ao cuối vườn vẫn không thấy một cái lỗ chó chui nào. Tới góc ao, chị hai nhặt một cành rong tre chọc xuống ao. Mặt ao toàn bèo tây kết bè. Chị lấy hết sức cố xiên thủng đám bèo, cành rong tre cong vút như muốn gẫy. Bỗng, hẫng một cái, đám bèo nghiêng lệch, đầu ngọn tre tút lụt, cả thân người chị chúi về đằng trước. Ngồi trên lưng, anh bị hất chồm lên đỉnh đầu chị, cằm vập đánh “cục”, hai hàm răng sữa bập ngay phải mớ tóc, lạo xạo như nhai phải sạn. Thấy chị hai chới với chực ngã, chị ba rất nhanh tóm chân anh kéo lại, nhờ vậy chị hai khuỵu người xuống lấy thăng bằng đứng thẳng dậy, cả người anh trôi tụt về chỗ cũ. Chị hai dồn dập thở, lẫn trong tiếng thở anh nghe rõ tiếng đập “thình thịch... thình thịch...” dưới lần áo của chị.

Bớt thở chị nói: - Ao sâu lắm! Không lội qua được.

Bọn anh quay lại ngôi nhà. Gần đến nơi đột nhiên chị hai bước chậm lại, lấy tay ra ý bảo bọn anh đi nhẹ, không được nói.

Từ trong nhà ngang vẳng ra tiếng người. Chị hai áp tai vào bờ tường, anh bắt chước áp tai vào, nhưng chỉ nghe tiếng lao xao vọng ra chứ không nghe rõ tiếng gì ra tiếng gì.

Chị ba đến gần đưa tay bấm vào tay chị hai. Chị hai quay lại ra ý hỏi? Chị ba chỉ lên cánh cửa sổ cuối nhà. Lúc nãy, vì vội đi ra đằng sau nên không ai phát hiện ra ngôi nhà có cửa sổ gỗ hai cánh khép. Chị hai nhìn chị ba gật gật đầu tỏ vẻ khen ngợi rồi rón rén đi tới cạnh cửa ghé sát tai để nghe. Thấy vậy, anh cũng bắt chước chị nghiêng người áp đầu vào cánh cửa sổ.

Từ trong nhà có tiếng đàn ông nói rất mạnh mẽ:

- “... Các đồng chí nên nhớ, Thượng cấp đã nhận định: Lợi dụng tình thế “đục nước béo cò” quân đội Nhật tiến vào giải giáp vũ khí quân đội Pháp, chúng sẽ không từ một thủ đoạn đê hèn nào để đàn áp. Kẻ thù của chúng chính là những người yêu nước và Cách mạng Việt Nam chứ không phải là đế quốc Pháp. Dẫu lính Nhật có đánh nhau với lính Pháp thì vẫn là hành động của hai con chó tranh một miếng mồi. Thượng cấp vạch rõ: Quân thù lợi dụng nạn đói đang hoành hành làm chết bao nhiêu sinh mạng đồng bào ta ở Nam Định, Thái Bình, Hưng Yên và các tỉnh lân cận. Không những thế, nếu đê ngăn sông Hồng bị vỡ, sẽ gây ra những hậu quả khôn lường... Căn cứ vào chỉ thị của Mặt trận Việt Minh, tôi đề nghị các đồng chí vận động mọi tầng lớp nhân dân, trên tinh thần hữu ái giai cấp, lấy phương châm “Bầu ơi thương lấy bí cùng”, tương thân, tương ái, cứu giúp đồng bào vượt qua trận đói này...”

Người đàn ông nói được một lúc lại tới người đàn bà có khuôn mặt đẹp như Đức Mẹ nói:

- “... Hơn lúc nào hết! Các đồng chí phải luôn bám sát, bám chắc, nắm vững tình hình các cơ sở ở trong nội tỉnh Phúc An và các vùng lân cận để chuẩn bị đợi lệnh Tổng khởi nghĩa, tiến lên giải phóng quê hương. Dù có phải hy sinh tính mạng chúng ta quyết chiến đấu đến giọt máu cuối cùng. Đây là thời cơ ngàn năm có một. Phần giành lấy chính quyền về tay nhân dân...”

Những lời người đàn bà nói anh không hiểu, nhưng giọng của bà êm ái, nhẹ nhàng thánh thót, như ru, như hát, lúc trầm, lúc bổng. Nằm trên lưng chị hai anh ngủ thiếp đi lúc nào không biết. Anh mơ thấy mình ấm tròn trong lòng mẹ, một tay mân mê núm vú có những nốt sần sụi, mồm tóm tém hà hít mút lấy mút để những giọt sữa trắng phau thơm phức, vị ngòn ngọt thấm đẫm đầu lưỡi, những cánh cò, vánh vạc, bờ tre, ngọn gió trong lời ru của mẹ hiện ra.

Bỗng anh giật thót người choàng tỉnh vì có tiếng người quát to:

- A... lũ bán nước! A... lũ Việt gian! Quân phản động... ai cho chúng mày vào đây?

Anh dụi mắt ngơ ngác. Chị hai run rẩy mặt xám ngoét; chị ba lập cập mặt tái dại, cả hai miệng méo vẹo chực òa khóc, anh hãi quá són cả nước đái ra lưng áo chị.

Trước mắt ba chị em: Một ông đầu trọc, áo quần nâu nhà chùa, tay nhăm nhăm gậy, mắt trợn trừng trợn trạo gào:

- Các đồng chí ơi! Có một lũ Việt gian bán nước, một lũ chỉ điểm rình nghe trộm, tôi bắt được quả tang bọn chúng.  

 

10

 

Tin bên phía làng Quyết Chiến bắt được giặc lái lan khắp Bãi Giữa. Không ai bảo ai đều đổ xô về cuối bãi. Trời hửng, người đã rõ mặt người. Tình trạng nhộn nhạo được xếp đặt lại. Người Quyết Chiến quây vào nhau, vênh vang khoe chiến công của làng mình; người Quyết Thắng túm năm, tụm ba bàn bạc. Không có lý nào cùng đi bắt kẻ thù người có công, kẻ tay trắng? Bãi Giữa và đầm Vực là địa phận chung của hai làng. Thằng giặc lái rơi xuống đấy ắt phải chia đôi, không có lý bên Quyết Chiến hưởng tất! Nghĩ thế nào nói thế ấy, nói thế nào làm theo vậy, dân làng Quyết Thắng hò nhau đuổi theo những người dẫn giải tên giặc lái.

Lúc này vị chỉ huy làng Quyết Chiến cùng hai chiến sĩ áp tải tên tù binh. Khác hẳn với lúc lái máy bay gầm rú, nghiêng cánh ấn nút điện thả bom đạn vung vãi xuống phá hoại, giết hại dân lành, giờ đây, trước ba chiến sĩ, thằng giặc lái thảm hại như cỏ lác trong đầm bị rạp. Thân hình nó lênh khênh như gã khổng lồ nhưng chân tay run rẩy, mặt cúi gằm tránh những ánh mặt rực lửa căm hờn. Vị chỉ huy làng Quyết Chiến như chú lính chì dũng cảm trong truyện cổ tích của Anđecxen, súng lăm lăm, mặt ngẩng cao, ngực ưỡn lẫm liệt - dáng tự hào của người lập chiến công.

Bỗng từ xa vẳng đến tiếng reo hò khác lạ. Chững lại quan sát, thoáng chút, ông đánh giá tình hình sẽ trở nên phức tạp. Lập tức ông lệnh:

- Các đồng chí Quyết Chiến quay lại làm rào, cản tụi Quyết Thắng. Không để tên giặc lái rơi vào tay bọn họ, còn hai đồng chí theo tôi.

Đáp lệnh, dân làng Quyết Chiến dàn cánh cung. Bên phía Quyết Thắng thấy vậy chững lại thúc thủ.

Cả hai bên như mãnh thú rình miếng, lừa thế, không khí căng thẳng đến nghẹt thở, mắt gườm gườm, chân xuống tấn, người giỏi võ tiến lên, kẻ yếu hơn lùi lại.

Tranh thủ thời cơ, vị chỉ huy làng Quyết Chiến lấy mũi súng vừa đẩy vừa ra hiệu. Mặt thằng tù binh đuỗn như ngỗng ỉa. Vị chỉ huy tức giận. Ông tức tên tù binh không hiểu tiếng Việt; ông tức ông không biết tiếng Mỹ. Ngôn ngữ bất đồng gây ra sự không hiểu. Ông cáu chửi tên Mỹ:

- Đồ ngu như con lợn! Mày không chạy nhanh tụi Quyết Thắng nó xé xác ra từng mảnh.

Tên giặc lái chập choạng, đôi giầy trệt bùn đất làm nó bước rất vất vả. Vị chỉ huy ra hiệu cho nó tháo giày. Nó lắc: No... no...

A! Câu này thì ông hiểu. Ông quát:

- No cái mả mẹ mày! Mày mà no tao nã cho mày một phát bay giờ!

Ông giơ khẩu súng chĩa vào đầu nó. Thằng giặc lái cuống quýt quỳ lạy như tế sao, thấy vậy ông bảo hai chiến sĩ:
       - Thằng Mỹ này ngu lắm. Thôi, khẩn trương! Mỗi đồng chí một bên dìu nó xuống nước cho nó bơi vào bờ, nhanh lên không tụi Quyết Thắng đuổi kịp cướp mất.

Quân lệnh như sơn. Tên Mỹ bị hai chiến sĩ xốc nách, nhờ vậy nó bước đi dễ dàng hơn. Đến bờ, tên Mỹ sững lại vì trước mặt là đầm nước mênh mông. Nó tưởng người ta quẳng nó xuống, liền quay phắt lại gạt hai chiến sĩ văng sang hai bên. Nhưng nó không nghĩ họng súng của vị chỉ huy đã ghìm nó lại:

- Mày định trốn sang với tụi Quyết Thắng hả? Quay lại!

Ông hất hất mũi súng ra hiệu. Tên giặc lái nghe không hiểu, nhưng động tác của mũi súng thì nó hiểu. Nó ngoan ngoãn chấp hành.

Lúc này, trên Bãi Giữa, trận chiến đấu của hai làng bước vào đỉnh điểm. Một bên quyết ngăn đối thủ lại không cho tiến lên cướp mất chiến lợi phẩm; một bên quyết đòi phải chia đôi thành tích. Cả một vùng náo loạn tiếng gào thét. Từng cặp người xoắn vào nhau như đô vật ngày hội, bùn đất văng tung tóe, bám vào người trơn trượt. Bao nhiêu bức bối từ thuở nào nhân đà này họ trút giận lên đầu đối thủ. Mải quần đảo, đám đông quên cả người dẫn giải và tên giặc lái.

Phúc tổ bảy mươi đời nhà mày - Vị chỉ huy nghĩ - May dù rơi giữa bãi, nếu không thì tong đời rồi con ơi! Ông bật cười nhìn thằng Mỹ chắp tay vái lia lịa khi bị dồn xuống nước, nó chới với, thụp lủm, giã gạo liên hồi, miệng phun nước phì phì. Đang lúc bí, cái áo của tên Mỹ căng phồng không khí gợi cho ông nghĩ đến kiểu tập bơi của trẻ chăn trâu. Ông bảo hai chiến sĩ kéo nó vào sát bờ.

Ông ra hiệu nó cởi quần áo, người nó rúm ró như con sâu đo. Thấy vậy, ông nói với một trong hai chiến sĩ: Nó ngu lắm! Cậu cởi quần áo làm mẫu cho nó bắt chước, nhanh lên!. Thằng Mỹ khá thông minh, người chiến sĩ làm gì, nó bắt chước làm theo, anh cởi áo, nó cởi áo, anh cởi quần, nó cởi quần. Anh du kích không mặc quần lót nên thành ra tồng ngồng, của trời cho thỗn thện. Thằng Mỹ cúi xuống định lột xi líp ra để cho giống anh thì vị chỉ hay quát: No... no. Trong lúc khốn cấp không ngờ ông phát ngôn tiếng Anh cực chuẩn. Tên Mỹ dừng tay ngơ ngác, da trắng nhễ nhại, lông vàng như lông bò, cái đùm Chúa ban phưỡn ra. - Mẹ cha đồ xâm lược, cái gì cũng khác. Vị chỉ huy liếc xéo qua háng tên phi công, mồm nhổ nước bọt đánh toẹt.

Ông lấy chiếc quần của thằng Mỹ buộc túm từng ống. Quần gì rặt túi là túi, được cái vải tốt, không dễ rách như quần vải ta. Buộc xong, ông lộn trái úp thật manh xuống mặt nước. Hai ống quần hơi căng như phao cứu hộ, trông như chân thương binh bị cụt chổng ngược trên mặt nước. Ông ra hiệu, tên tù binh hiểu ngay và nhanh chóng thực hiện. Nó bám rất chặt, chồm người, cằm gác giữa háng phao, chân đạp nước làm cái mông to bự, trắng lốp nhấp nhổm, nhấp nhổm. Hai chiến sĩ mỗi người một bên bơi sát nó vừa kéo, vừa dìu. Vị chỉ huy hộ tống đằng sau, một tay giơ khẩu súng lên cao, một tay bới nước hiểu chó bơi, hai chân đẩy, đạp, thi thoảng dùng tay ủn vào chân thằng Mỹ một cái rõ mạnh.

Trên Bãi Giữa, trận chiến xung đột dữ dội hơn. Tương quan lực lượng hai làng bằng nhau, nhưng khí thế bên Quyết Thắng có vẻ mạnh hơn. Hình như họ phát hiện được ý đồ của những kẻ có chiến lợi phẩm định sử dụng kế Mạnh Lệ Quân thoát hài để đưa tên phi công Mỹ vào bờ.

Một tiếng hét dội vang cả khu đầm Vực:

- Nhảy xuống nước đuổi theo thằng giặc lái đi bà con ơi! Quyết Chiến sắp đưa nó đến bờ rồi.

Một chút ngừng, rồi không ai bảo ai họ buông địch thủ ào ào nhảy tùm xuống đầm. Kẻ phi thân, người lao vun vút như nhái, nước tung bọt dựng cột, xòe bung nở như hoa. Đánh nhau chán trên cạn bây giờ đến thủy chiến. Họ xoắn lấy nhau, giằng giật, bụm tay nhằm mặt đối phương té nước, có người chồm lên dùng tay vít đầu địch thủ.

Nhưng sức người có hạn, không kẻ nào chịu kẻ nào, không có ai bị thua. Dìm nhau gần ngạt lại buông nhau ra. Nhiều người bỏ cuộc khoát tay bơi vào bờ, có kẻ mệt quá nằm ngửa mặt lên trời... thở.

Lại nói tới ba người làm nhiệm vụ dìu tên tù binh Mỹ: Họ bơi rất chậm vì thằng Mỹ quá nặng. Và, nói như danh nhân nói Gần đến thắng lợi càng nhiều gian nan.... Chỉ còn cách bờ mấy sải tay mà tưởng như xa hàng cây số.

Trên bờ, ngay gần bến, những kẻ không biết bơi đứng háo hức chờ. Khi phát hiện ra tên Mỹ bị du kích làng mình áp giải, dân Quyết Chiến nhảy cỡn lên reo hò.

Nhưng người dân Quyết Thắng đứng gần đấy tỏ vẻ ganh ghét, khó chịu. Họ quay ra khà khịa. Hòn bấc ném đi, hòn chì ném lại. Không ai chịu ai thành ra xô xát, sự việc xảy ra ngoài dự kiến của vị chỉ huy. Lúc này, phía trước đấu khẩu, đằng sau xung đột, rượt đuổi. Ba người và tên tù binh đã vào sát bờ, chân dẵm bùn, tay gạt bèo và bè rau muống rẽ lấy đường lên. Khi tên Mỹ nhô người lên khỏi mặt mặt nước, lừng lững xuất hiện cũng là lúc mọi người ngừng khiêu chiến nhìn nó.

Tên Mỹ như vật thể lạ, đây là lần đầu tiên dân trong vùng mục kích tận mắt một thằng giặc trời. Nó không giống các đồng chí chuyên gia Liên Xô hay cố vấn người Đông Đức chiếu trong phim tài liệu. Trên người nó, mỗi cái xi líp bó sát bẹn, phơi mình trong nắng sớm, chỗ trắng bợt, chỗ đỏ nhờ, lông lá vàng quạch, nham nhở, đám bệt, đám dựng tua tủa, lỗ chân lông như da lợn cạo sống. Ngực đeo thánh giá như cha đạo nhà thờ, chân xỏ giày như Táo quân trong tuồng diễn, mắt xanh lét như mắt mèo ngơ ngác nhìn mọi người.

Tất cả quây vòng, dồn thằng Mỹ vào giữa. Mắt nó tránh những cái nhìn căm thù. Đây là đại diện cho bè lũ xâm lược, với những câu tuyên bố ngạo nghễ, láo xược của Tổng thống Hoa Kỳ - Một nước cách xa nước ta hàng ngàn dặm dám tự vỗ ngực thay Chúa trời hành đạo dạy cho Việt Nam một bài học... và định ... đưa Bắc Việt Nam trở về thời kỳ đồ đá...

Bay nhân danh ai vác bom đạn ném xuống đầu dân lành? Bay nhân danh điều khoản, hiệp ước nào can thiệp chủ quyển của Tổ Quốc Việt Nam? Cách đây hàng bao nhiêu thế kỷ trong Tuyên ngôn đầu tiên của nước Đại Việt chả từng đã khẳng định:

Nam quốc sơn hà Nam đế cư

Tuyệt nhiên định phận tại thiên thư

Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm

Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.

Tổ tiên, ông cha ta đã vậy, há gì bây giờ con cháu không giữ được! Quân này hỗn! Đã ăn cướp còn già họng. Phải đánh cho chúng chết, cho chừa thói hung hăng, làm càn, làm bậy.

Tự nhiên, cả những người bắt được tên Mỹ lẫn những người đuổi theo đòi chia phần dồn hết thành một khối. Họ quên bẵng sự hiềm khích bao lâu giữa hai làng, quên đi những lá đơn kiện tụng, tranh chấp đầm Vực và Bãi Giữa. Tất cả dồn lòng căm thù vào ánh mắt, nét mặt, trút căm hờn lên cái nhìn thằng Mỹ, sẵn sàng dùng bất cứ cái gì có trong tay để băm vằm nó cho hả giận. Cảm tưởng vạc đầu đang sôi sùng sục, chỉ cần một tia lửa là bùng cháy, bùng cháy dữ dội.

Vị chỉ huy làng Quyết Chiến biết nếu không ngăn được lòng căm thù ắt sẽ xảy ra sự trả thù. Khi đi tập huấn có bài học giảng giải kinh nghiệm này. Nếu để tù binh chết là vi phạm điều lệ quốc tế chứ chả chơi. Để nó chết, chỉ huy còn phải chịu án kỷ luật. Nhanh như cắt, ông nhảy lên mô đất cao, bụm tay làm loa:

- Thưa tất cả bà con hai làng, chúng ta đã bắt được tên giặc lái. Nhưng chúng ta phải bảo vệ cho nó sống để cấp trên lấy khẩu cung. Đề nghị mọi người dãn ra để chúng tôi thi hành phận sự.

- Được! Nhưng công lao phải chia đều cho hai làng. Đồng ý thế thì được?

Vị chỉ huy nhìn xem kẻ nào đưa ra điều vô lý ấy. Thì ra đó là gã chỉ huy bên Quyết Thắng, vừa từ dưới đầm lên, người hắn lướt thướt như chuột lột, cái sủ to quá khổ, mái tóc ướt xõa xuống trán, đôi mắt trắng như mắt lợn luộc, cởi trần, phì nộn như một miếng mỡ tách khỏi phần nạc; trong tay gã cầm một cây gậy gỗ. Cha này trước học cùng lớp ở trường cấp hai. Hay gạ đánh nhau khi còn là trẻ chăn trâu ở đầm Vực và là kẻ đối đơn kiện cáo với ông khi tranh chấp đất đai giữa hai làng trên bàn Tư pháp Ủy ban huyện.

- Không vô lý thế được! - Một công dân làng Quyết Chiến phản đối: - Làm gì có chuyện chia đôi? Làng nào bắt được thì công của làng nấy. Không chia bôi gì cả!

Không ngờ nhưng câu nói không có lửa mà như châm, tưởng vô tình mà gây cố ý. Mối bất hòa tạm quên nay thành ngòi nổ. Mỗi người một câu, mỗi người một ý, chẳng bên nào chịu bên nào. Có kẻ còn vác chuyện đời xửa đời xưa nhắc lại. Con gà còn tức nhau tiếng gáy nữa là chuyện thành tích bắt giặc lái. Tiếng đối đáp ăn miếng trả miếng đã tới hồi quyết liệt.

Hai bên co cụm chia thành hai phe rõ rệt. Trong khi đó tên tù binh nép vào hai chiến binh dẫn giải. Có vẻ như nó tin vào sự bảo hộ của những người đã dìu nó ở dưới nước. Nhưng nó đâu hiểu chính hành động dựa dẫm ấy gây ra sự phẫn nộ của đám người bên Quyết Thắng. Họ bất bình vì thằng tù binh dám về hùa với phe bên kia. Thình lình cả đám người chồm đến, một hai người lao vào túm, co kéo, giằng giật tên tù binh về phía họ.

Vị chỉ huy thấy vậy nhảy vội xuống đẩy đối phương. Lấy khẩu súng làm lá chắn... Bất nhờ một nhát gậy phang thẳng vào đầu ông, mắt vị chỉ huy xuất hiện muôn ngàn bông hoa lửa, vừa kịp nhận ra kẻ phang ông chính là địch thủ đánh nhau với ông từ bé. Và, trước khi ngất lịm, ông còn nghe ba tiếng nổ chói tai, đinh óc, kèm một tiếng thét:

- Yêu cầu tất cả giải tán!

 

11

 

Nghe tiếng gào, từ trong nhà mọi người chạy ra, anh không ngờ có nhiều người thế. Dễ có đến mấy chục người. Bọn họ lố nhố quây xung quanh ba chị em. Anh chực khóc mà không khóc nổi, tay bấu chặt vai áo chị. Trong khi đó lão người thật tóm xếch cổ hai chị, mắt trừng trạo, mồm bẩm báo:

- Thưa các đồng chí, tôi bắt quả tang bọn gián điệp đang nghe trộm. Quân này phải bắn!

Mặt hai chị cắt không còn giọt máu. Cứ như tội mà lão gán có lẽ bọn anh chỉ có chết! Bỗng có tiếng nói:

- Bác bỏ các cháu ra, còn các đồng chí, vào nhận chỉ thị rồi phân tán, ta cần đề phòng.

Đó là tiếng nói của bà có khuôn mặt đẹp như Đức Mẹ.

Mọi người lặng lẽ nhìn bọn anh rồi nhanh chóng đi vào nhà, lão người thật bỏ tay giữ bọn anh nhưng vẫn quanh quẩn cạnh đấy. Người đàn bà mặt đẹp ngồi xuống cầm lấy tay chị hai hỏi:

- Sao các cháu vào được đây?

Chị hai lấm lét nhìn lão người thật, người đàn bà nói:

- Cháu đừng sợ! Đã có bác! Ai bảo các cháu vào đây?

Chị hai lí nhí trả lời:

- Tại các bác đuổi bắt chúng cháu...

- Ai đuổi bọn bay? - Lão người thật nói chen vào - Tụi phản động ngoan cố!

Chị hai ôm choàng lấy bà, bà ôm lấy chị, ôn tồn bảo lão người thật:

- Bác lên điện thờ xin sư cụ cho tôi ít xôi, oản đem xuống dưới nhà việc!

Ông người thật vừa đi vừa ngoảnh lại trông chừng. Người đàn bà mặt đẹp dẫn bọn anh vào nhà. Trong nhà không còn ai. Bà cho bọn anh ngồi ở chõng tre rồi chìa tay đón anh. Lúc đầu anh sợ, nhưng rồi không hiểu vì sao anh lại đồng ý cho bà ta bế. Bà ôm gọn anh vào lòng vạch vú lên.

Anh tóp tép miệng... hết nhìn bà rồi lại nhìn cái ti hồng hồng có những nốt sần sụi y như của mẹ. Người đàn bà mặt đẹp nựng:

- Bú đi con! Chắc khát sữa lắm rồi? Bú đi con.

Anh ngước nhìn chị hai, chị gật gật đầu ra ý: “Em bú đi!”. Anh quay lại vục đầu rúc mặt vào bầu sữa nóng hổi. Sữa của bà y hệt sữa mẹ. Thơm phức, ngọt lịm, anh bú lấy bú để, bú như chưa bao giờ được bú. Thấy vậy người đàn bà nói: - Bú từ từ thôi con, không lại bị sặc.

Tay bà nâng bầu vú để sữa tuôn chảy vào mồm anh, bà nhẹ nhàng hỏi chuyện hai chị. Nghe câu được câu chăng, nhưng anh đoán chắc bà muốn biết vì sao ba chị em lại vào chùa.

Lúc sau, ông người thật bê một đĩa oản, xôi và chuối xuống. Bà bảo:

- Bác múc giúp tôi chậu nước để rửa mặt cho các cháu!

Ông người thật nhíu đôi lông mày lưỡi mác ra ý không hiểu sao người đàn bà lại tốt với bọn anh như vậy? Nhưng ông ta vẫn đi ra sân lấy chậu múc nước bể mang vào.

Người đàn bà mặt đẹp vừa cho anh bú vừa lấy khăn lau mặt cho hai chị. Rửa xong, bà lấy xôi, chuối đưa cho hai chị ăn, anh liếc thấy hai chị mồm phùng phạo nhai, nuốt.

Bà đảo anh sang bầu vú bên kia cho ti thêm. Anh rúc một hồi no nê rồi đẩy vú ưỡn người vươn vai. Người đàn bà nắn chân nắn tay khen:

- Thằng bé kháu quá! Mai này cách mạng thành công các cháu sẽ được sống trong hòa bình - Mắt bà đăm đăm nhìn ra ngoài sân.

Ông người thật hỏi:

- Con chị chắc cũng bằng này? Đi công tác thế này chị gửi nó cho ai?

- Cháu mới được ba tháng - Người đàn bà mặt đẹp trả lời - Tôi gửi cháu trong một gia đình cốt cán ở ngoài Bãi Sậy. Vài hôm mới được gặp một lần, nhiều khi nhớ ơi là nhớ!

Thảo nào bà ấy có sữa cho anh ti. Ông người thật bưng mời bà bát nước vối, bà uống xong dặn ông:

Các cháu bé vô tình vào chứ không có ý gì. Lát nữa, sau khi tôi rời khỏi đây, bác dẫn các cháu ra cổng. Nhớ đừng dọa các cháu làm chúng sợ. - Nói đoạn bà bảo chị hai - Cháu đưa hai em về, và nhớ không được nói những điều đã nghe thấy ở đây! Nếu gặp cô ở ngoài đường nhớ đừng gọi, coi như chưa quen cô bao giờ hiểu chưa?

Chị hai “vâng” rồi chìa tay đón anh. Ông người thật đưa cho bà chiếc túi, người đàn bà quàng qua vai, sửa lại quần áo đưa mắt ra hiệu cho ông. Ông người thật quay lại bảo bọn anh:

- Ở yên đấy! Không được chạy lung tung!

Nói đoạn ông bước xuống sân chạy ra phía cổng chùa. Người đàn bà mặt đẹp cúi xuống thơm vào má anh đánh “chụt”, lấy tay xoa đầu hai chị.

- Bác coi chùa trông thế nhưng tốt bụng lắm! Cả nhà bác ấy bị Tây bắn chết, quẫn chí đi lang thang, sư cụ thương tình nhận vào giúp việc trông coi nhà chùa. Các cháu nhớ nghe lời bác ấy!

Nghe bà dặn, bọn anh thấy vững tâm hơn. Một lát sau, ông người thật quay lại nói:

- Thưa thượng cấp, không có gì đáng nghi cả. Xin mời thượng cấp lên đường!

Người đàn bà hiền từ nhìn bọn anh, giọng âu yếm:

- Cô đi các cháu nhé! Nói rồi bà rảo bước đi sau ông người thật.

Bọn anh lưu luyến nhìn theo, hình như lúc ấy anh thấy chị hai chực khóc. Còn anh chỉ tiếc những giọt sữa trắng tinh, ngọt ngào và thơm phức trong bầu vú tròn trịa của bà... Được một lúc ông người thật quay lại. Khác hẳn lúc bắt được bọn anh, ông nói nhẹ nhàng: - Xôi và chuối hết mất rồi, bác gói cho các cháu mấy cái oản và mấy quả ổi gọi là lộc chùa. Chị em nhớ đưa nhau về nhà, không được đi lung tung nhỡ gặp Tây thì khổ.

Ông lấy mảnh vải nâu bọc oản và mấy quả ổi, thắt lại như tay đẫy khoác vào vai chị ba rồi rảo bước đi trước. Chị hai cõng anh, dắt chị ba chạy gằn mới theo kịp. Khi ngang qua cửa chùa, bọn anh nhìn thấy ông tượng Ác tay cầm đao, mặt đỏ tía, mắt lồi, trừng trạo nhìn theo như muốn nuốt sống, ăn tươi... còn ông tượng Thiện gầy nhom, khuôn mặt điềm đạm, đôi mắt hiền từ như muốn nói: “Các cháu yên tâm đi đi... Ta sẽ phù hộ cho các cháu”.

Ra khỏi cổng chùa, trước khi quay vào, ông người thật dặn: “Nhớ không được nói với ai về chuyện gặp thượng cấp nghe chưa? Lộ ra, lần sau bắt được bác không tha”.

Lên tới ngã ba, chị hai dừng lại lưỡng lự... Trên đường vẫn tịnh không một bóng nguròi. Chị hai hỏi:

- Bây giờ đi hay về hả hai đứa?

Chị ba lí nhí: “Chị đi đâu em theo đấy!”. Nghe vậy chị hai bảo: “Chuyện hôm nay không đứa nào được mách với mẹ. Còn bây giờ, chị dẫn hai đứa ra chợ xem thế nào rồi về”. - Nghe chị hai nói, anh đoán chừng chị vẫn muốn thực hiện bằng được mục đích “xem người chết đói” lắm.

 

 

12

 

- Về sau thế nào? - Bố hỏi.

- Bộ đội tỉnh nổ súng chỉ thiên giải tán đám đông, cho thằng Mỹ lên xe chở đi. Thế là hai làng mất tranh nhau. - Mẹ trả lời.

Bố hỏi:

- Làng mình có được thưởng gì không?

- Chờ đấy mà thưởng! Mẹ nguýt môi- Khổ mỗi ông Chủ nhiệm, bị một gậy nện chí chết! Cấp cứu mãi mới tỉnh, giập sống mũi phải cắt lá mía, trán khâu hàng chục mũi trông như con rết bò trên mặt. Tội nợ nhất là đến bây giờ thỉnh thoảng còn ngớ ngẩn. Có lần đi mua thóc giống cho hợp tác xã để quên cả xe đạp ở cửa hàng.

- Thế sao vẫn để ông ấy làm Chủ nhiệm?

Mẹ cười:

- Làng còn người đâu. Đàn ông đi bộ đội hết lấy ai thay?

- Ông ấy có được xếp hạng thương binh không? - Bố hỏi.

- Nghe nói làm đơn trình bày, hết ra huyện, lên tỉnh cũng chẳng ăn thua gì. Mãi chán, bỏ - Mẹ nhìn bố chép miệng - Lăn lộn hàng chục năm ở chiến trường đến thân tàn ma dại còn chẳng nước gì nói chi đến chuyện ta đánh ta?

Em đang sắc thuốc bắc ở bếp ngồi dịch ra cửa, ló đầu nghe bố mẹ nói chuyện. Thấy vậy mẹ nói:

- Sắc đừng để trào, con gái con lứa làm ăn cho đến nơi đến chốn, nay mai mới hòng lấy được chồng con ạ.

- Con ứ thèm lấy chồng

Ở cái làng Quyết Chiến này nhà nào có con gái cũng chỉ sợ ế. Có đứa mới mười ba, mười bốn tuổi đã có nơi có chốn đặt cau trầu dạm ngõ, đánh tiếng; mười lăm, mười sáu khai tăng lên mười tám để cưới. Không đăng ký thì cưới chui cưới lủi. Em mới chục tuổi đầu mà các cụ, các ông trong họ đã nhăm nhe chọn cho mấy đám. Các cụ sợ chiến tranh kéo dài cướp mất người, không cho lấy sớm, đàn ông đi bộ đội hết lấy ai nối dõi tông đường?

Anh tính, mới nứt mắt ra lúc nào cũng bị nhét tư tưởng lấy chồng, thì học hành làm sao được? Dân quê em lạ lắm, rất ít người thi Đại học. Nhất là con gái. Loanh quanh hết cấp hai là quay đầu. Tụi con trai có dăm đứa theo đến cấp ba, còn lại bỏ ngang về lấy vợ rồi chờ đi bộ đội. Đứa nào sứt môi lồi rốn không đủ tiêu chuẩn nhập ngũ, mới chịu ở nhà lấy đít trâu làm thước ngắm cuộc đời. Cả làng bói mới ra đôi người thoát ly. Nhìn vào làng thời chiến rặt đàn bà, người già, trẻ nhỏ. Con gái mười tám đôi mươi con bế con bồng, có đứa còn phây phây đã nhận giấy báo tử thành vợ góa liệt sĩ.

- Đấy! Đã bảo mà, trào hết cả thuốc của bố kia kìa. - Mẹ đứng đằng sau nói giật giọng.

Em giật mình, dụi bớt lửa càu nhàu:

- Sao mẹ không mua lấy đon củi đun cho dễ?

- Con lười! Mày thế này thì ế con ạ!

- Đắt lo ế mừng con chả thèm lấy chồng. - Em đứng dậy nhảy lò cò ra sân, mặc cho mẹ với ấm thuốc đang sắc trên bếp.

- Ở nhà ăn cơm còn đi học. - Mẹ nói theo.

Em ra vườn sau nhà leo tót vót lên chạc ba cây ổi với tay ngắt một quả. Ổi lòng đào, thơm phức, cùi dày, ít hột, ruột nhẫy như mỡ, ngọt lịm như đường.

Mẹ nói:

 - Cây ổi này ngày xưa bà ngoại trồng.

Cụ già cùng thời với bà ngoại kể:

 - Bà lấy giống ổi chùa Thập Phương trên tỉnh.

Bố bảo:

 - Mẹ được năm tuổi thì bà ngoại bị giặc Pháp xử tử. Ông ngoại là người quê dưới xuôi lên hoạt động về sau bị mất tích. Có người độc miệng nói ông đi theo Tây.

Em quý cây ổi này lắm. Từ ngày biết, đến giỗ bà, em mang hương ra thắp. Bà không có mộ. Vật duy nhất còn sót lại là bức truyền thần đặt trên bàn thờ. Mẹ bảo bức truyền thần của người coi chùa Thập Phương vẽ lại.

Sau bữa cơm, mẹ nói với bố:

- Tháng sau đến giỗ bà rồi.

- Hồi tôi chưa về nhà có làm giỗ không? - Bố hỏi.

- Có! Nhưng chỉ hương hoa thắp hương để nhớ ngày chứ tiền đâu mà làm cỗ - Mẹ trả lời.

Bố đắn đo;

- May phúc ông bà phù hộ. Bao năm vào chiến trường không vướng hòn tên mũi đạn nào. Mẹ con Linh xem kỳ này làm lấy vài mâm mời họ hàng, coi như vừa cúng vừa mừng họp mặt.

- Nhưng bố nó còn đang ăn kiêng cơ mà? - Mẹ nói.

- Thì tôi kiêng chứ mọi người có kiêng đâu mà lo? - Bố nói - cái chính là nhân tiện chứ tự nhiên bày vẽ ra lấy tiền đâu.

Khoác túi đựng mìn mo bố đem từ chiến trường về cho làm túi đựng sách, em chào:

- Con đi học đây bố mẹ ạ. Mẹ nhớ nhắc bố uống thuốc.

Ra tới sân em nghe mẹ hỏi bố:

- Mình thấy bệnh có chuyển không?

- Chẳng thấy gì, chỉ tức bụng hay đi đái thôi. - Bố trả lời.

- Uống hết đợt này tôi lên ngược tìm thầy lang khác!

Ra cổng, em nhớ lại chuyện đêm đầu tiên bố về, sau đêm ấy em không ngủ chung giường với bố mẹ nữa. Em biết mẹ thèm một đứa con trai lắm. Tập tục ở quê vẫn vậy. Nhà nào chưa có con trai coi như chưa có phúc.

Ông bà nội mất hồi năm năm hai (1952). Tây càn, bọn chúng bắt dân làng xếp hàng cho chỉ điểm nhận mặt. Chúng đẩy ông, bà cùng mấy chục người xuống giếng nước ăn của làng rồi lấp đất. Bây giờ hàng năm tới ngày giỗ, cả làng giỗ chung.

Sau ngày ông bà nội mất, bố ở với vợ chồng bác cả. Hòa bình, đợt khám nghĩa vụ đầu, bố trúng tuyển. Sau ba năm hết hạn về. Nhà nghèo lấy vợ không cưới cheo gì, sẵn đất bên ngoại, bố về coi như ở rể. Chiến tranh đến, bố tái ngũ. Em là sản phẩm trong ngày phép tranh thủ của bố mà em đã kể ở trên ấy!

Hải Linh dừng kể, đăm đăm nhìn ra khoảng tối ngoài sân như muốn vạch tìm trong màn đêm những gì đã qua. Nguyễn Thừa lặng im, mặc cho cô hoài niệm. Anh trân trọng người phụ nữ này qua những từng trải khổ đau... Cuộc đời thực vô lý khi hạnh phúc không mỉm cười với số phận của em. Hơn ba mươi tuổi, lẽ ra đó là thời kỳ rực rỡ nhất của đời người phụ nữ có chồng, có con. Không mấy ai muốn rẽ ngang con đò tình yêu ở lứa tuổi ba mươi; không ai muốn nghe câu hỏi: Bố không ở với mẹ con mình nữa hả mẹ?”. Lời nói như trăm ngàn mũi kim đâm vào trái tim mẫn cảm; gieo vào lòng muôn vàn trăn trở khi nhìn thấy ánh mắt dại khờ ngơ ngác trẻ thơ.

Đêm thật sâu, gió vờn trên nóc nhà, luồn qua sóng ngói tạo thành những tiếng huýt dài rờn rợn. Âm thanh lạnh lẽo như tiếng cô hồn rên khóc. Chợt có tiếng mèo gào thảm thiết phụ họa ghê rợn, Hải Linh so vai rùng mình, cô lắc đầu xua đi những trĩu nặng trong tâm hồn:

- Trên trần nhà mèo nhiều lắm. Đuổi thế nào chúng vẫn đến. Buổi sáng ở đây còn có cả tiếng chim lợn. Em thấy người ta nói chim lợn thường báo trước cái chết.

Nguyễn Thừa đứng dậy bước đến gần cô. Khoảnh khắc ấy, trong anh xuất hiện một tình cảm vượt qua cảm xúc khác giới, tựa như tình yêu của người cha đối với đứa con, sự bao dung lớn hơn cả nhưng gì anh thèm khát. Anh biết mình không làm được gì cho cô ngoài một chút văn chương đạm bạc và sự cảm thông. Hình ảnh bãi tha ma và những trò nghịch ngợm của trẻ chăn trâu; cô gái nhỏ có đôi chân kỳ diệu với chiếc máy vi tính; đêm đầu tiên gặp lại vợ của người lính; quả bom câm, tên tù binh Mỹ và nhát gậy nện vào mặt ông chủ nhiệm, tất cả như âm bản của cuộn phim được soi qua ánh sáng chập chờn hư thực.

Đôi bàn tay bóp nhè nhẹ bờ vai người đàn bà, có cảm giác toàn thân Hải Linh run rẩy. Sức trẻ trỗi dậy, cánh cửa bản năng hé mở, cái bếp tàn hoang sơ bao lâu nay bừng lửa, đôi mắt thành ý tự nguyện, tấm thân trong trắng hiến dâng...

Nguyễn Thừa cảm nhận sự phản ứng từ cô thật lạ lùng. Có cái gì thúc đẩy anh nên làm một người đàn ông hơn làm một người cha. Buông cái bao dung về với sự khát thèm. Chút dục vọng trần tục ngọ nguậy: hơi ấm nồng nàn nóng hổi từ làn da lan tỏa, nhịp thở nơi vầng ngực phập phồng rạo rực... bàn tay anh ve vuốt, rờ rẫm.

Xoạt trên trần nhà có tiếng mèo vờn nhau gầm gào thảng thốt. Nguyễn Thừa bừng tỉnh. Bàn tay lóng ngóng dừng lại trên khuy cúc áo ngực cuối cùng vừa bật.

Hải Linh giật mình, cảm xúc tan loãng theo tiếng mèo. Cô xoay người ý tứ cài lại khuy áo rồi nói:

- Lúc nãy em kể đến đâu rồi anh?

 

13

 

Bọn anh xuống đến chợ đã trưa, ông mặt trời lơ lửng, da trời xanh ngắt, gió ngừng thổi, mây mù và hơi lạnh trốn biệt sau dãy núi phía xa. Nhưng lạ, chợ vắng tanh vắng ngắt. Các dãy lều xiêu vẹo trông như người say rượu. Nhiều mái bị gió thổi tốc ngược, rạ lợp chổng lên, xệ xuống như bị tay người rút dở. Chị hai dẫn bọn anh vào chợ. Trên lối đi, một vài vũng nước trong vắt soi bóng trời thăm thẳm... Trên thềm dãy hàng ăn uống ngổn ngang bàn ghế đóng bằng gỗ tạp tre. Anh nhận ra quán bà Ba bán bánh đúc quen mẹ. Mới nghĩ đến mà mũi như ngửi thấy mùi nồng nồng của vôi bốc lên từ tấm bánh tròn trắng đục.

Đột nhiên chị hai bước chầm chậm... Qua vai chị, nhìn về phía trước, anh thấy cuối dãy lều bán thịt lợn, dưới gầm phản có cái gì động đậy như người. Chị ba nép sát vào chị hai, nắm chặt vạt áo. Chị ba vốn nhát, ban ngày ban mặt bố sai vào buồng lấy cái gì cũng chẳng dám nữa là. Anh cũng chờn nhưng hơi nóng từ lưng chị hai truyền sang bụng và ngực nên anh vững tâm hơn, tay siết chặt áo đề phòng chị chạy.

Bọn anh tiến lên. Chị hai thế mà bạo! Bình thường ở nhà chị đã làm “tướng” rồi mà.

Bố bảo: - Con này là trâu sứt sẹo, hổ còn chẳng sợ, gan lì tướng quân, mai lớn lên đứa nào lấy nó bị nó làm chồng.

Chẳng biết nay mai thế nào chứ bọn anh bây giờ nghe chị răm rắp. Nếu không chị cho nghỉ chơi ngay. Ở phố đứa nào định bắt nạt bọn anh là bị chị cho một trận. Nhớ một lần, lũ bạn của chị thách:

- Mày có dám cho sâu đo bò lên áo không?

Tụi trẻ con cho rằng nếu để sâu đo đo lên áo bao nhiêu, người đó chỉ sống được ngần ấy năm thôi. Chị cuộc:

- Tao làm được chúng mày mất cái gì?

- Chúng tao gọi mày bằng “mẹ”.

- Được! - Chị tuyên bố - gọi tao là “mẹ” gọi các em tao là “chú” là “dì” nghe chưa?

Chị chui vào giàn mướp hoa vàng tìm bắt vài con sâu đem ra để nó đo từ gấu quần lên ngực làm bọn ở phố Đệ Nhị trợn tròn mắt thán phục.

Chị với tay rút cây que cài trên mái. Một tay vòng đỡ mông anh, một tay cầm que thế thủ. Khi còn cách một quãng, bọn anh nhận ra không phải là người, mà là một con chó lông đen gầy nhom đang gặm cái gì có vẻ ngon lắm.

Thấy động, nó quay đầu nhe răng trắng nhởn gầm gừ. Chị hai giơ que, con chó không sợ, tiếng gầm gừ to hơn. Chị cúi xuống nhặt hòn đất lên ném, con chó thôi gầm gừ, chị ba buông tay nắm vạt áo cúi xuống nhặt viên gạch vỡ đưa cho chị hai. Sau cú ném ấy, con chó cum cúp lảng ra cách đấy chừng chục thước ngồi chồm hỗm cầm chừng...

Bọn anh tiến gần đến xem nó gặm cái gì. Ôi eo, trước mặt ba chị em một đám thịt bầy nhầy. Chị hai bỗng rú lên một tiếng nghe thật hãi hùng, ném que co cẳng chạy thục mạng, chị ba thấy chị hai chạy cũng chạy theo. Em biết không? - Anh hỏi, rồi nói tiếp: Ngồi trên vai anh nhìn rất rõ: Giữa đám thịt bầy nhầy có cái đầu lâu một đứa trẻ con không lớn hơn anh bao nhiêu bị chó gặm nham nhở.

Hãi quá! Chị hai, chị ba chạy không kịp thở... Ngồi trên lưng anh tưởng mình như lão Tàu ô cưỡi ngựa phi nước đại. Phải cái mỗi lần xốc lên xốc xuống dái anh bị đập xuống lưng rất đau nhưng không dám kêu. Cắm cổ chạy không nhằm phương hướng nào nên khi dừng lại bọn anh không nhận ra mình đang ở đâu. Loanh quanh lạc hướng vào một cánh rừng, đường mòn đất đỏ quạch, hai bên lối đi toàn cây là cây. Đi một lúc lâu ra khỏi cánh rừng gặp doi đất cao cắt ngang. Bọn anh trèo lên quan sát:

Doi đất vòng vèo hun hút tầm nhìn. Phía dưới chân doi đất nước mênh mông, sóng từng đợt ì oạp đập vào bờ. Xa xa là dãy núi có ba ngọn núi cao vút. Anh đoán chắc đó là núi Tam Đảo, vì có lần bố kể với mọi người bố đã đến tận đấy tìm bắt rắn.

Chợt chị hai hỏi:

- Bọc oản đâu? Chạy mệt đứt cả hơi, đói quá, bây giờ ăn đã.

May trong lúc chạy trời xui đất khiến thế nào mà chị ba vẫn giữ được bọc oản của ông người thật gói cho.

Chị hai mở bọc chia cho mỗi đứa một cái oản, hai quả ổi còn đâu chị gói lại đưa cho chị ba: “Để dành lúc nào đói lại ăn”. Chị ba nhồm nhoàm nhai khen: “Ổi đào ngọt và thơm quá! Anh cầm oản đưa lên mồm trệu trạo, chị hai bảo: “Để chị bắt chước mẹ nhai rồi mớm cho cu” - Chị cắn oản nhai, bụm miệng lè vào mồm anh. Oản nhạt, khó nuốt, anh nhăn mặt. Chị hai bảo: “Chị nhai lẫn ổi cho em dễ ăn”. Oản nhai lẫn ổi ngon thật, nhưng khi nuốt anh lại nghĩ tới những giọt sữa của bà mặt đẹp cho bú sáng nay.

Ăn xong, chị hai nói:

- Chị em mình bị lạc rồi. Bây giờ phải quay lại tìm đường về kẻo tối.

Đúng thế, mặt trời đã khuất sau rừng cây, hơi sương bay là là trên mặt đầm. Chị hai uể oải ngồi xuống cho anh trèo lên lưng. Chị lấy câu mẹ hay nói khi bế anh để ca cẩm: “Nặng như cối đá lỗ ấy”.

Bọn anh tụt xuống cái dốc vừa leo lên. Chị hai dừng lại trước con đường nhỏ có ba nhánh rẽ. Chị hỏi:

- Có đứa nào nhớ lúc nãy mình đi đường nào không?

Anh đã biết nói đâu mà trả lời, còn chị ba ngước mắt nhìn chị hai bối rối... chị hai “hừ” một tiếng rồi phăm phăm bước vào nhánh giữa. Ba chị em luồn lách dưới những rặng cây, lá cành trên đầu đan che kín tưởng như trời sập tối rất nhanh. Càng vào sâu càng sợ. Đi một thôi một hồi nữa mới ra khỏi cánh rừng. Anh nghe chị hai trút một hơi thở khoan khoái. Trước mặt bọn anh là cánh đồng lúa loang lổ chỗ xanh, chỗ vàng. Chị hai dẫn bọn anh đi cắt ngang một ruộng lúa. Nhìn đồng lúa xác xơ, rời rạc anh nhớ chuyện dì kể cho mẹ nghe: Năm nay mùa màng dưới quê thất thu, có người đói quá đêm ra ruộng cắt trộm lúa non, bị địa chủ đánh chết dìm xác xuống bùn lầy.

Chị hai dẫn bọn anh đi vòng vèo theo bờ ruộng, chị ba bước hụt, tí lại kêu oai oái. Chị hai nhắc: “Bước cẩn thận, giữ bọc oản kẻo rơi mất”. Trời chạng vạng, gió thổi mạnh dần.

Bỗng nhiên chị dừng lại nghe ngóng. Có tiếng ầm ầm như tiếng nước dội. Bỗng nhiên chị hai hô: “Chạy nhanh lên...”. Từ phía sau, nước ào ào cuồn cuộn đuổi theo.

Vừa thoát lên tới mặt đường thì ngọn nước cũng ập tới. Ngọn nước hất lại, cuộn đổ thành dòng. Những bông lúa sót lại trên đồng bị nước dìm lút ngọn, loáng cái mặt ruộng trắng xóa.

Hú vía! Bọn anh nếu không chạy kịp thì chắc bị nước cuốn đi như rác ở cống sau phố Đệ Nhị.

Trời tối sập. Bọn anh đi xuôi theo chiều nước chảy.

Đường gập ghềnh dốc lên, dốc xuống. Chị hai nhắc chị ba bám sát kẻo lạc, nhắc anh túm chặt khỏi rơi. Nước dâng lên rất mạnh, từ xa vọng tiếng nước réo sôi sục.

Bọn anh mỗi lần xuống đến chân dốc là lội phải nước. Đầu tiên láng gót, sau ngập đến ống chân rồi ngang thắt lưng. Cho tới khi nước chảy xiết cắt ngang không tài nào vượt được sang bên kia ba chị em đành quay lại. Bọn anh mắc kẹt trên đỉnh dốc.

Chị hai đặt anh ngồi xuống mặt đường, kéo chị ba ngồi cạnh. Anh nghe chị thở dài. Anh chắc lúc ấy chị ân hận vì không nghe lời mẹ dặn. Chị dụi dụi đầu vào đầu hai đứa, những giọt nước mắt lăn từ mặt chị xuống má anh nóng hổi. Hai tay chị ôm anh và chị ba vào lòng như gà mẹ dang cánh che chở cho lũ gà con vào những ngày mưa bão.

Hơi ấm của ba chị em truyền sang, sưởi ấm cho nhau. Cả ba ngủ thiếp vì mệt.

... Bọn anh tỉnh dậy trời đã tờ mờ sáng. Xung quanh toàn nước là nước, trắng xóa một vùng. Cánh rừng hôm qua bọn anh lạc vào không nhìn thấy đâu nữa, chỉ còn mấy đỉnh dốc nhô cao như đít cái bát bị dìm trong chậu rửa. Chân dốc chỗ ba chị em đứng, nước lem lém bò dần lên.

Giữa dòng, nước chảy mạnh, luồng nước kéo theo bao nhiêu thứ. Những căn nhà nổi lềnh bềnh nối tiếp nhau, dập duềnh như các toa xe lửa đang chạy; cây cối, rác rưởi không biết từ đâu trôi về lộn nhào từng vòng, từng vòng. Một con lợn khoang trắng ngửa bụng, bốn cái móng giơ lên trời quay quay bị hút vào xoáy nước chìm nghỉm, lúc lâu mới thấy con lợn giơ bốn chân tận giữa dòng; từng đám củi gỗ bám bọt gặp sóng tan hòa vào dòng nước xiết chảy.

Chị hai cho bọn anh ăn nốt chỗ oản và ổi còn lại. Chị mớm hết phần dành cho anh rồi mà bụng vẫn đói. Anh nhìn chị mồm tóp tép, chị cằn nhằn: “Chỉ có việc ngồi trên lưng mà ăn rõ nhiều lại còn vòi”. Nói vậy nhưng chị vẫn mớm vào mồm anh thêm mấy miếng nữa.

Ăn xong chị hai lấy mảnh vải bọc oản nhúng nước rửa mặt cho anh và chị ba. Chị nói.

- Nước chắc chỉ lên đến thế thôi chứ lấy nước đâu mà lắm thế!

Ấy là chị tự an ủi thế chứ thực ra anh nhìn xuống, nước đã mấp mé đỉnh dốc.

Đến trưa nước bắt đầu ngập đến chân ba chị em. Chị hai nắm chặt tay chị ba, anh túm chặt vai áo chị hai. Cả ba sợ đến nỗi không khóc được. Chị ba rên thành tiếng: “Thế này chết chị ơi...” Anh chưa biết chết là thế nào, nhưng có lần chị hai nằm dài trên giường nhắm mắt lại dọa anh: “Chị chết đây cu ơi...”. Anh trèo lên người, cạy mồm, cạy mắt chị vẫn không dậy. Anh sợ, òa lên khóc, lúc ấy chị mới mở mắt cười nói: “Chết giống người ta ngủ lâu ấy mà”. Chết mà như ngủ thì sợ gì! Ngủ chán, chết chán lại dậy đi chơi...

Anh không sợ chết nhưng sợ nước, chắc vì lần anh bị ỉa đùn, lấy tay bốc cứt bôi nhoe nhoét khắp người, cho cả lên mồm. Chị chun mũi vì thối, lôi anh ra giếng, múc nước dội từ đầu xuống chân. Anh vùng vẫy, giãy giụa, mũi miệng tranh nhau thở vì ngạt. Sau lần đó hễ thấy nước là anh sợ. Mẹ và dì mỗi lần tắm cho anh khác nào đánh vật. Mồm anh nằng nặc kêu khóc, hai tay cào cấu, chân giãy nảy đạp tứ tung. Mẹ cáu phết vào đít anh mấy cái anh mới chịu. Mẹ ca cẩm: “Thằng này tuổi thân, giống khỉ, thích leo trèo, sợ nước”. Có lẽ mẹ nói đúng vì thế bây giờ ngồi trên lưng chị, anh trợn tròn mắt sợ sệt nhìn dòng nước chảy ngầu ngã.

Chị hai xoa đầu chị ba: “Nếu bị nước cuốn, các em nhớ phải bám chặt lấy chị”. Chị chả nói thì anh cũng đã tóm vai áo chị rất chặt rồi còn gì. Chị ba hai tay đã quàng ôm riết lấy eo bụng chị hai đấy thôi.

Vừa lúc đó, từ phía đầu nguồn nước ào ào đổ về. Bọn anh bị nhấn chìm vào một đợt sóng, anh sợ đến nỗi nhắm tịt mắt lại vì nước chồm lên đầu. Anh chỉ kịp nhớ lời chị hai dặn: “Bám chặt lấy chị”.

 

14

 

Cơn bão tháng tám năm ấy cướp đi một nửa sản lượng lúa.

Ông chủ nhiệm thông báo cho các đội sản xuất:

 - Ưu tiên thuế nông nghiệp. Hiện nay có chiến tranh ở biên giới phía Bắc. Mất mùa dân có thể đói. Nhưng quân đội phải ăn no mới đánh thắng được giặc.

Khẩu hiệu: Thóc không thiếu một cân - Quân không thiếu một người được ông quán triệt.

Mặc dù vụ mùa thất thu, nhưng em để ý thấy dạo này bố mẹ rất vui.

Bố nói:

 - Trong chiến trường ba ngày mới được bát cơm, còn ăn toàn rau rừng với lương khô vẫn chịu được.

Mẹ nói:

 - Nông dân quen khổ rồi. Qua loa cho xong bữa.

Bố lên chợ Phúc An mua đôi gà mái đẻ. Được quả trứng nào đem vào bồ thóc cất kỹ sợ chuột cắp.

Thèm, em lấy ra luộc: Bố bảo:

 - Mẹ có em bé, để dành cho mẹ ăn lấy sức.

Thảo nào bố vui thế.

Chải đầu bắt chấy, mẹ hỏi:

 - Con thích em trai hay gái?

- Con thích em trai. Em trả lời.

- Hai bố con giống nhau thế không biết! Nếu con gái thì sao? - Mẹ hói.

Em ậm ừ còn bố cười: Thích con trai. Nhưng nếu không được, nhà mình sẽ có hai cái Linh. Mẹ cười, em cười, bố cười. Lâu rồi nhà em mới có tiếng cười vui thế.

Đội thông báo ra sân kho nhận thóc công điểm. Mẹ bảo:
- Nặng thì mượn xe cải tiến. Con Linh ra đẩy cho bố.

Bố kéo xe, em đẩy, chở thóc về. Ngồi bệt xuống sân, mắt bố thẫn thờ. Mẹ mở miệng tải, bốc nắm thóc ca cẩm: - Sắp mọc mầm, gạo thì nát, cơm thì đắng.

Bố nói: - Mai tôi ra đầm Vực vỡ đất trồng dây khoai lang, không đến khi hết gạo lấy gì mà ăn?

Mẹ gàn: - Đất nhiều nhưng chẳng làm được đâu! Từ bận tranh nhau phi công phi kiếc, hai làng thù nhau hơn. Bố nó đừng ra, nhỡ cái thì khổ.

Tinh mơ, bố vác cuốc, xách theo ấm nước vối. Chọn khoảnh đất ven đầm đánh luống. Dây khoai vừa bén rễ có kẻ đến nhổ sạch. Bố ngao ngán nhìn mầm rễ trắng ngần vứt chỏng chơ.

Bố kiếm màn cũ, chẻ tre vót cần làm vó riu tôm. Trẻ chăn trâu ném đất xuống cho động nước. Bố nói, tụi nó bảo: Đầm của giời, thích ném ở đâu thì ném.

Ngại va chạm, bố im. Uớc mơ cứu đói ở đầm Vực của bố bị tiêu tan.

Bụng mẹ thây lẩy, mạch máu xanh lét hằn trên làn da, bụng càng phưỡn, mặt mẹ càng hốc hác. Bố ca cẩm: - Trông mình gầy và xanh quá!

Mẹ hớn hở: - Tại nuôi cả thằng cu nên thế đấy mà.

Thuốc của người dân tộc miền núi công hiệu thật! Cũng bõ công của mẹ. Bố uống được hai chục thang bệnh đã chuyển. Mất tiền cũng đáng! Da bố bớt vàng, cơn sốt dứt hẳn. Ông Chủ nhiệm có lần gặp nói:

- Chuẩn bị tính lao động chính được rồi nhỉ?

Lao động chính đi làm được tính công điểm chính; không làm vẫn phải đóng góp công xã hội bằng những người khỏe mạnh.

- Bác ưu tiên cho em. - Bố nói.

Ông Chủ nhiệm lên lớp:

- Cả nước đi bộ đội chứ mình gì đồng chí! Chẳng nhẽ ưu tiên tất cả lấy đâu sức người sức của chi viện cho tiền tuyến? - Lý lẽ của ông, bố không cãi nổi.

Sáng sáng xã viên tập trung dưới cây mít treo quả bom câm nhận việc. Bà Đội trưởng nhìn bố ái ngại: - Chú còn rớt lắm, đi làm sợ gục ra đấy lại tội mẹ con nó.

Bố nói: - Không đi làm lấy gì mà ăn hở bác? Còn mọi tiêu chuẩn nữa chứ!

Bố nhắc đến những quyền lợi xã viên được hưởng. Bánh thuốc lào Tiên Lãng, bao diêm Thống Nhất, gói chè Liên Hoa, mảnh vải phin, không dùng để lẻ cho quán nước đầu làng cũng dôi thêm được dăm hào lãi.

Em trèo cây hái ổi mang ra gửi hàng nước. Ổi ngon dễ bán. Mẹ nói: - Bà biết trước nên trồng ổi giúp mẹ con mình đấy!

Quả thật tiền bán ổi đủ cho nhà em tiền dầu đèn, muối mắm. Bố nói:

- Mong bà phù hộ cho qua đận này.

Nhưng ổi chín cũng có mùa.

Bố soi lấy trứng có sống cho một mái gà ấp, mười lăm quả nở được mười con. Bố dặn: - Linh, chăm lấy gà, mẹ đẻ tần gà với lá ngải cứu tẩm bổ cho mẹ.

Em đào giun cho gà ăn, bọn gà lớn nhanh như thổi.

Em hỏi mẹ: - Ngày xưa mẹ đẻ con có dễ không?

- Dễ! Đau bụng ra trạm xá được nửa ngày thì đẻ. Chửa lần này mẹ thấy khác lắm. Chắc là thằng cu nên mệt mỏi hơn.

Được thằng cu không những riêng bố mẹ mà cả họ đều mong. Bác cả đằng bố em đẻ năm bận, bốn gái, một trai.

Mẹ sáng nhà nói với bác dâu trưởng: - Em tính tháng thứ bảy rồi mà không thấy động tĩnh gì.

Bác đưa mẹ đến trạm xá, cô y tá vạch áo áp ống nghe vào bụng: - Không rõ tim thai, chuyển lên viện Phúc An.

Giữa trưa bác dâu về thở dài:

- Bác sĩ bảo phải nằm viện để theo dõi. Có tiền nộp mới được nhập.

Bố vét hết tiền nong trong túi được năm đồng. Không đủ, bố đi vay. Trong họ mỗi người giúp đôi đồng, hàng xóm dăm đồng, bác cả cho thêm vỏn vẹn được hai chục đồng. Mẹ nằm dăm hôm, bệnh viện bảo phải đi Hà Nội, ở đây không đủ phương tiện.

Đi Hà Nội lấy đâu ra tiền? Cầm giấy chuyển viện về nhà, lần nữa... Mẹ tặc lưỡi: - Chẳng sao đâu! Thằng bé chắc ngoan không muốn làm đau mẹ.

Mẹ lấy áo rách lựa cắt khâu thành áo trẻ con, mấy người hàng xóm cho tã cũ. Bố mang mảnh dù pháo sáng đem từ chiến trường về đưa cho mẹ khâu làm vỏ chăn.

Tết năm ấy bố không gói bánh chưng, dành gạo chờ mẹ đẻ. Bác cả cho hai chiếc bày bàn thờ cúng gia tiên, thêm cái bánh con cho em.

Ông chủ nhiệm lấy khẩu hiệu tiết kiệm nhắc nhở bà con xã viên. Cấm không mổ lợn trộm, nấu rượu chui. Chiều ba mươi tết, hợp tác xã mổ con trâu già, chia cho mỗi xã viên tiêu chuẩn một cân, phân phối mỗi nhà chai rượu cam, một gói mứt, cút nước mắm. Bố bán gói mứt bù tiền mua thêm chai rượu mang sang bác cả thắp hương ông bà nội.

Tối ba mươi, mẹ nằm thiêm thiếp trên giường. Mấy người đàn ông uống trà ngồi nói chuyện chiến sự phía Bắc chờ giao thừa. Ngoài trời rét đậm. Mạ chiêm xém vàng, hợp tác xã có chủ trương ăn tết xong gieo lại.

Mẹ mơ thấy mình đẻ một bé trai kháu khỉnh, bụ bẫm, da hồng hào, tóc đen nhánh, mặc áo hoa, toe toét cười. Vừa đẻ ra nó đã biết theo chị Linh đến trường. Hai chị em vừa đi vừa hát bài gì không nghe rõ. Bỗng có tiếng kẻng báo động. Có tiếng máy bay lẫn tiếng súng nổ. Rồi một loạt bom rải xuống. Cây mít treo quả bom câm đổ dập. Nhìn về trường học một chùm lửa chụp xuống. Có cái gì thúc mạnh vào bụng mẹ đau nhói, mẹ gào thảm thiết: - Con ơi, con ơi!...

- Mẹ cái Linh, mẹ cái Linh, sao vậy? - Bố lay mẹ.

Mẹ mở mắt ngơ ngác: - Hai đứa trẻ đâu?

- Trẻ nào? Mình mơ gì vậy? - Bố hỏi.

Mẹ đưa tay ôm bụng: - Tôi mơ đẻ con trai. Mọi người đâu cả rồi?

- Về từ lúc nãy. Chuẩn bị giao thừa rồi.

- Có nhẽ tôi sắp đẻ? Đau lắm!

- Cố nhịn đến sáng mai được không? Bây giờ biết nhờ ai?

- Bảo con Linh sang bên nhà gọi bác cả - Mẹ nói.

Bác cả đang cúng, bỏ dở bài khấn giục vợ chạy sang. Mấy người hàng xóm nghe tin chạy đến.

Cái võng bạt bố đem ở chiến trường về đã chuẩn bị sẵn. Bốn người thay nhau khiêng. Bố cầm đèn bão đi trước. Em cùng mấy người chị con bác cả chạy theo sau.

Đúng là tối như đêm ba mươi. Thi thoảng có người bước trượt xuống ruộng.

Lên đến đường cái, gặp trai gái đi chơi giao thừa, rủ nhau hái lộc ở đồi Thanh Tước. Họ rùng mình nghe tiếng mẹ rên, ái ngại nhìn đám người khiêng cáng...

Thị xã Phúc An râm ran tiếng pháo.

Mẹ được đưa vào khoa cấp cứu.

Chiếc loa gắn ở cổng bệnh viện vang lên giọng hát: Em ơi! Mùa xuân đến rồi đó....

 

15

 

Miệng anh há rộng đớp đớp, nước trào vào khoang mồm đùn ngược lại đằng mũi, đầu lắc liên hồi vì ngợp, ho sặc sụa mồm phun phì phì, tai ù nghe tiếng cối xay thóc, chuẩn bị lịm thiếp thì đột nhiên như có ai nhấc bổng lên. Mở mắt, nửa người ngâm dưới nước, còn hai tay vẫn bám chặt vai chị hai, Chị hai chồm người trên bè nứa, tay tóm sợi dây buộc bè, một chân gác lên quặp vào khe hở cố đu lên. Lúc ấy không nhìn thấy chị ba đâu. Khi chị hai co nửa người lên mặt bè, anh thấy chị ba hai tay tóm vạt áo chị hai còn người bập bềnh trên mặt nước. Chị hai loay xoay mãi vẫn không trèo nổi lên bè vì vướng. Anh nghe chị hai hét:

- Tóm lấy bè, buông áo chị ra.

Vừa hét, chị hai vừa lấy chân đạp mạnh, Chị ba bị cú đạp bung ra đẩy về phía cuối dòng, nhấp nhô, nhấp nhô giã gạo cách cái bè một quãng nhưng hai tay vẫn khư khư ôm vạt áo bị xé giơ trên mặt nước.

Chị hai nhanh chóng trèo lên bè.

Rất may trên bè có cây sào nứa, chị hai cầm lấy thả một đầu xuống nước. Ngọn cây sào trôi về phía chị ba. Nhưng tay chị ba vẫn không buông vạt áo rách ra, còn đầu thì lắc liên hồi. Chị hai gào:

- Buông mảnh áo ra, tóm lấy đầu sào, tóm lấy đầu sào.

Anh không ngờ tiếng chị hai thét to đến vậy. Chừng như hiểu, chị ba buông mảnh áo, quờ quạng tóm được đầu cây nứa. Chị hai ngoảnh lại bảo anh: “Cu bám chặt để chị kéo”.

Lên được bè, mặt chị ba xám ngoét, đầu rũ rượi, ngắc lên ngắc xuống, bụng phềnh như bụng ễnh ương, nước trong bụng ộc ạo, cuộn thắt từng đợt, mồm nôn ọe, nhổ phì phì. Một lúc sau nước hết, thôi nôn chị òa khóc.

Anh không khóc nhưng nghĩ lại lúc bị dìm trong nước, không thở được mà sợ.

Cái bè chở bọn anh trôi theo chiều nước chảy, đôi lúc nước quẩn lại đảo ngược biến mũi thành đuôi hoặc quay đi quay lại rồi lại lừ lừ trôi. Mặt bè rộng, vững chãi, giữa bè có một cái lều che bằng lá gồi.

Ở trên bè nhìn rõ hơn: Xung quanh cả một vùng mênh mông nước. Những rặng tre bị nhấn chìm còn trơ lại tầm ngọn cong vút, bị nước vít hất lên hất xuống. Bọn anh nhìn xem phố xá, nhà cửa nhà mình đâu không thấy. Cả một vùng nước là nuớc. Phía dãy núi Tam Đảo xanh thẫm trùng điệp nhấp nhô tít tắp chạy dài. Mé cuối dòng bè đang trôi có mấy ngọn đồi cao, đứng rải rác sắp bị nước nhấn chìm. Chị hai bảo: “Đấy là đồi Thanh Tước, ở nơi ấy có chùa, trôi đến đấy xin được khối oản”.

Mặc chị ba i ỉ, chị hai cõng anh dìu chị ba vào lều. Trong lều chẳng có cái gì ngoài mùi ẩm mốc làm mũi anh hắt xì hơi mấy cái liền. Chị hai nói: “Thoát rồi. Các em ngồi đây, không được ra ngoài nhỡ ngã xuống nước”.

Mắt chị ba đỏ ngầu, những sợi tóc bết ở trán rỏ nước tong tong. Chị hai cởi quần áo của anh và chị ba vắt bớt nước, treo lên mái lều hong cho khô. Chị đứng lên, nửa thân áo bị đứt hở khoảng da lưng bợt bạt, một vết lằn tím ngắt cạnh sườn đang rớm máu.

Nắng to nhưng bọn anh rét vì gió thổi. Chiếc bè vẫn lững thững trôi. Chị ba và anh ngồi nép vào góc lều nhìn ra: Chị hai đứng trên bè, cầm sào thọc xuống nước. Cái sào ngập gần lút ngọn mà chưa tới đáy. Chị rút sào lên đi vào lều hỏi:

- Các em có đói không? Chị đói lắm rồi.

Ai đã được ăn cái gì mà không đói. Bụng cồn cào, rát ràn rạt như phải bỏng, mấy ngụm nước khi nãy nôn hết ra rồi, bụng bây giờ rỗng không. Chị ba hỏi:

- Oản với ổi còn không hả chị?

- Ăn hết rồi còn hỏi! Bây giờ hai đứa ngồi im đấy chị ra ngoài kiếm cái gì để ăn.

Nước mênh mông bể sở như thế này không biết có ăn được để chị hai kiếm không. Chị ba ôm anh, mệt quá gật gà ngủ. Còn anh đói quá không nhắm mắt được. Nhìn ra xem chị hai tìm cái ăn.

Bỗng chị hai mặt xám ngoét chạy vào lều hổn hển: “Có... có người...”

- Ở đâu? - Chị ba choàng tỉnh.

- Ngoài... ngoài kia... - Chị hai lắp bắp

Anh và chị ba nghển cổ nhìn: Phía trước mặt bè sắp trôi đến có những cây cao hơn mặt nước, anh nhìn thấy có vài con chim lượn lờ trên không trung chứ chẳng thấy có ai.

Chị ba nói: - Người đâu mà người!

Chị hai lấm lét chỉ ra: - Người... người... người chết, chết trôi.

Chị ba nghe chị hai nói “chết” rúm lại như con sâu róm. Anh thụt vội đầu vào, ba chị em nép sát nhau sợ sệt nhìn ra.

Lập lờ nổi sát bè, một cái xác người trương phềnh, bị sóng đánh lật lên lật xuống, phướn phườn phườn như cái trống giữ nhịp múa sư tử đêm trung thu, mặt mũi phồng phạo như mặt chú Tễu múa rối nước. Tóc trên đầu lơ thơ rập rờn, vải áo trương căng cứng, đường chỉ khâu giãn như sắp bục, cái quần nhuộm nâu tụt quá hông, chiếc dây thừng thay dải rút thắt ngẫng, bờ thịt hằn sâu che kín miệng cạp. Một tay duỗi thẳng đờ, một cánh tay vắt ngang, khuỷu co ngang, bàn tay nắm chặt đai cạp quần. Sóng nước xô mạnh, đôi khi cái xác vập úp nghiêng như muốn lật người trèo lên bè.

Bọn anh ôm nhau thi thoảng hé mắt nhìn xem cái xác trôi đi chưa. Nhưng cái xác hình như không muốn rời cái bè. Nó giãn ra một chút rồi lại sát gần vào. Ruồi muỗi bu đen kịt, lúc đậu, lúc bay vù vù. Từ tít trên trời, vài con quạ kêu “quà... quà...” lượn lờ chao qua chao lại, là là nghiêng nghiêng cánh như muốn sà xuống bè.

Chị ba rên: “Em đói quá...”, người anh ngọ nguậy đồng tình. Chị hai xoa lưng hai đứa: “Chờ người chết trôi trôi đi rồi chị tìm cho hai đứa cái gì ăn...”

Nhưng không biết bao giờ cái xác mới trôi đi mà bụng bọn anh thì đói...

Chị đứng lên rút quần áo mặc cho anh và chị ba:

- Mặc quần áo vào sẽ đỡ đói.

Quần áo mặc vào đỡ lạnh nhưng không đỡ đói. Cái đói vày vò cái bụng. Chị hai lấy tay ép bụng cho đỡ đói, chị ba cong người vặn vẹo cho đỡ đói, anh há miệng đớp đớp chờ bầu vú với những giọt sữa ngọt ngào thơm thảo cho đỡ đói.

Ngả chiều, mây đen từng đám bay ngang, nước chảy yếu dần, cái bè trôi từ từ.

Chị hai nói đúng: Cái bè đang trôi về hướng núi Thanh Tước. Các xác người chết trôi, trôi cùng bè.

Một cây chuối từ đâu dạt đến rập rờn cạnh cái xác.

Nhìn cây chuối, bọn anh đứa nào cũng ứa nước bọt. Nhớ lần mẹ thái chuối làm rau ghém ăn với riêu cua, chị nhớn lấy nõn chuối non nhét vào mồm anh. Vị ngọt chát. Nhưng bây giờ mà được ăn thì chát mấy vẫn ngon.

Chị hai hình như quên cả đói. Mắt chăm chú hết nhìn cây chuối lại nhìn cái xác... Cả hai đang rập rờn nô đùa; cái xác lật lật như muốn đẩy cây chuối ra xa, cây chuối rỡn sóng ép cái xác dập dập vào thân bè...

Chị hai nói: - Ngồi im đấy, chị lấy sào đẩy “nó” đi.

“Nó” ở đây tức là cái xác. Đẩy cái xác đi để giành lấy cây chuối.

Chị hai bước ra, cúi đầu xuống nhấc cây sào, lò dò tiến đến chống một đầu vào cái xác, bụng cái xác kêu bum bủm như người đánh rắm, ruồi muỗi bay lên vù vù. Mỗi lần cái sào đẩy cái xác, cái xác đẩy cây chuối cùng trôi ra. Sợ cây chuối trôi đi sẽ mất cái ăn chị dừng lại.

Chị vòng lên phía trên, lấy sào chọc vào cây chuối, có ý muốn đẩy cây chuối dịch xuống phía dưới lấy chỗ cho cái xác trôi. Cây chuối trơn, cái sào chọc vào trôi trượt, chị lựa chống đầu sào vào ngọn chuối, cây chuối dừng lại, cái xác trôi theo bè.

Khi giữa cây chuối và cái xác chừa ra một khoảng cách, chị dùng sào chống vào cái xác đẩy. Chọt chị hai khựng lại, ngồi thụp xuống nhìn.

Ngay chỗ thắt lưng, nơi bàn tay cái xác nắm, có một cái túi vải nhỏ màu xanh giống như túi đựng cối giã trầu của bà dưới quê ngoại. Cái túi có sợ dây thắt miệng túi được buộc chặt vào sợi dây thừng thay dải rút của cạp quần cái xác mặc. Để cho chắc, bàn tay cái xác còn nắm chặt sợi dây.

Chị hai lấy sào kều kều cái túi. Cái túi thõng chìm dưới nước, mỗi lần đầu sào nâng lên nhìn rõ có vật gì để ở trong.

Chị hai quên phắt chuyện cây chuối, tập trung vào chiếc túi cái xác đeo. Chị quyết định đến gần. Còn cách một tầm tay, chợt chị giật mình vì tiếng “quà... quà”.

Một con quạ đậu cuối bè vỗ cánh bay vụt lên trời.

Chị đặt tay lên ngực cho đỡ sợ rồi tiếp tục công việc. Nhìn tưởng gần, nhưng khi thực hiện mới thấy khó. Khoảng cách giữa chị với cái xác là nước, nằm ẹp xuống mặt bè, cố với tay về phía cái túi nhưng không được. Có lần tay với sắp được cái xác lại bị sóng đẩy ra.

Mệt quá, chị hai ngồi nghỉ nhìn cái xác tính toán. Chị quay vào lều vẫy:

- Một đứa ra giúp chị.

Chị ba nhìn anh như muốn nói: “Em giúp chị hai”. Nhưng lúc đó anh đã đi vững đâu mà giúp được!

Chị ba đi ra chỗ chị hai. Chị hai nằm xuống bò lết ra sát mép bè. Chị ba một tay tóm chặt dây buộc bè, một tay tóm chặt cổ chân chị hai ghì lại.

Chị hai vươn một tay, tóm lấy cạp quần cái xác, một tay cầm cái túi dứt mạnh... “oạc oạc oạc” vải quần cái xác mủn toạc, sợi dải rút buột ra lên theo. Chị hai nhỏm dậy reo: “Được, được rồi”. Cái túi trong tay chị nhưng đầu dây đằng kia bị tay cái xác giữ lại. Chị hai bảo chị ba: “Ra kéo cùng chị”.

Phải mất một lúc cái xác mới “bỏ tay”. Chị hai cầm vội cái túi chạy biến vào lều như sợ cái xác trèo lên bè cướp mất.

Vào trong lều, chị hai mở ra: Một vật tròn, to hơn nút lọ mực, vàng chóe hiện ra... chị hai vội túm lại nhìn quanh: “Vàng... vàng - Chị nhớn nhác nói tiếp - Cất... cất đi kẻo ai vào thấy họ đòi mất”. Chị thắt miệng túi lại, buộc vào dải rút quần của mình rồi bảo:

- Hai đứa ngồi đấy, chị ra vớt cây chuối lên.

Cái xác bị cái sào đẩy “ngoan ngoãn” rời khỏi chiếc bè, “nó” lượn lờ một lát rồi trôi ra xa. Chị quay lại chỗ cây chuối. Cây chuối to, không tài nào kéo lên bè được. Chị gọi chị ba ra tước bẹ.

Nõn chuối trắng ngần, chị hai bẻ cho bọn anh mỗi đứa một đoạn. Chưa bao giờ anh thèm ăn như thế. Chị hai lấy tay bóp mủn nõn chuối bón vào mồm anh, anh nuốt lấy nuốt để. Vị nõn chuối không ngọt, không thơm như sữa mẹ và sữa của bà mặt đẹp. Nhưng ngon làm sao. Ăn đến đâu, tỉnh đến đấy, phải mỗi cái tơ chuối dính nhằng nhằng hai bên mép.

Trên cao, ông mặt trời thổi lửa xuống mặt bè, cái nóng hầm hập vỗ vào da thịt như phải bỏng. Mặt ba chị em đỏ không kém mặt ông trời. Ăn hết nõn chuối mà bụng vẫn nôn nao, xót như cào, như xé. Chị hai cuộn bẹ chuối thành bồ đài vục lấy nước cho bọn anh uống. Cái lưỡi của anh thè ra tìm vị ngọt, nhưng chỉ nhận thấy vị nhạt toẹt. Bỗng cả ba chị em mồm nôn thốc nôn tháo. Ruột cuộn thắt từng đợt đẩy nõn chuối ọe ra khỏi miệng. Nhớt dãi chảy ròng ròng. Mắt mở thấy hoa nắng nở rộ, nhảy nhót, mắt nhắm thấy sầm xì, mù mịt. Đầu quay như chong chóng làm bằng lá đứa gặp gió trên đồi Thông ở phố Đệ Nhị. Trước khi không nhìn thấy gì nữa, bọn anh nhận ra cái bè trôi qua sườn núi Thanh Tước, còn ngôi chùa lưng chừng núi ngập chìm. Thế là ước mơ của ba chị em được ăn oản ở chùa tan theo dòng nước chảy.

 

 

16

 

Tin người đẻ ra ma quái đồn khắp tỉnh. Nhiều kẻ bạo gan tò mò vào bệnh viện xem; cửa nhà xác khóa, bảo vệ không cho vào. Nhưng ai ra về cũng khăng khăng tận mắt được nhìn thấy như đinh đóng cột.

- Cái thai có một con mắt ở giữa trán, trước khi đưa xuống nhà xác hai mắt mở trừng trừng.

- Cái thai có mõm như lợn, chân tay mọc lông như khỉ.

- Cái thai có vòi như vòi voi.

- Cái thai không chân tay, tròn ủng như sọ dừa, nhưng sọ dừa trong chuyện cố tích còn sống, chứ sọ dừa của mẹ này là yêu vật nên bệnh viện mang chôn ngay. Khi chôn phải lấp hàng tạ vôi bột.

- Cái thai...

Thôi thì đủ chuyện nói về cái thai.

Ông thầy cúng ở làng quả quyết:

- Âm hồn những người bị Tây chôn sống dưới giếng làng không thoát bây giờ báo ứng.

Gã thầy bói phán:

- Vì thâm thù nên có kẻ thuê thầy địa lý yểm bùa, mướn pháp sư chôn hình nhân hòng triệt hạ dân Quyết Chiến.

Ông không nói hẳn ra nhưng ai cũng biết ông định ám chỉ ở đâu rồi.

Có kẻ độc mồm, độc miệng:

- Hồi ở chiến trường miền Nam, bố bắn chết nhiều người quá nên bây giờ bị các âm hồn trả thù.

Tại..

Theo họ có rất nhiều cái tại liên đới đến quái thai mẹ đẻ ra.

Mưa lay phay, rét căm căm. Sợ mùa xuân mất vui, ngại đầu năm xuất hành hướng xấu, dân làng kiêng không ai đến viện thăm mẹ.

Bệnh viện ngày tết vắng người. Gió bấc thổi ù ù vào hốc nứa đòn tay, vào lá cọ lợp mái sàn sạt, sàn sạt, mây xám vần vũ phủ kín bầu trời.

Mẹ tỉnh sau cơn mệt lả vì vượt cạn, mắt lờ đờ nhìn bố như muốn hỏi: - Con của chúng mình đâu?

Bố bậm môi nén nhịn nhưng nước từ khóe mắt chảy ra ràn rụa.

Bác cả nấu cháo ép mẹ ăn lấy vài ba miếng, mẹ lắc đầu, đôi mắt mở to không một chút hồn.

Mẹ mơ thấy hồn mình bay vào cõi u linh, nơi chín tầng địa ngục, lửa hồng hoang trong chảo dầu thiêng lập lòe, thứ dầu ở cõi âm ti địa phủ mới có; ánh lửa chập chờn bay lượn như ma trơi; không sáng, không tối, không nóng, không lạnh. Đứng xung quanh là những hung thần địa phủ mặc giáp đen, tay cầm binh khí áp giải các linh hồn mặc áo dài may bằng giấy màu trắng thướt tha. Âm binh dẫn mẹ ra. Không dây trói mà cảm giác tay chân mẹ không cử động nổi. Cánh cửa tòa đại hình mở. Thú đầu trâu mặt ngựa đẩy cỗ xe nhà táng đặt chiếc quan tài nhỏ. Mẹ ngó vào: Một di hài nửa người nửa thú nhoẻn cười. Nụ cười phù thủy ma quái lanh lảnh cất lên từ đôi môi biến dạng phù ủng nhớp nhúa. Nó thò cùi tay cụt lủn vươn về phía mẹ đau đớn gào thét:

- Trả cuộc đời cho ta!... Trả cuộc đời cho ta!...

Mẹ sợ hãi tay cố đẩy, giọng hãi hùng:

- Tôi không có tội... tôi không có tội.

Đôi cùi chỏ máu chảy ròng ròng vươn dài như mình rắn quấn quanh cổ mẹ:

- Mi có tội không cho ta làm người, mi phải chết... mi phải chết.

Nghẹt thở, mẹ cố vùng thoát... nhưng vòng xoắn ma quái xiết chặt...

- Sao thế, sao thế mẹ cái Linh? Mơ gì đấy? Tỉnh dậy đi, tỉnh dậy đi! - Bố lay vai mẹ.

Mẹ ú ớ, hơi thở tắc nghẹn, trán lạnh ngắt, môi xám ngoét. Bác sĩ vừa chạy vừa la:

- Bớ bác sĩ... Cấp... cấp... cấp cứu...

Bác sĩ trực vạch mi mắt, đồng tử con ngươi mẹ lờ đờ. Những sợi bông đặt sát lỗ mũi bay bay. Người bác sĩ thở phào:

- Còn sống!

Mẹ tỉnh sau mũi tiêm thuốc hồi sinh. Nằm thêm hai hôm nữa bố xin đưa mẹ về, bệnh viện trả lời:

- Ty Y tế công văn xuống: Đoàn cán bộ Trung ương đến điều tra. Đi cùng có cả người nước ngoài và các nhà báo.

Sự kiện đẻ ra quái thai của mẹ vang đến tận Hà Nội.

Một sáng, ba nhân viên y tế đến thay quần áo mới cho mẹ, rồi cáng mẹ lên nằm ở căn phòng được quét dọn sạch sẽ. Bác sĩ dặn:

- Nếu có ai hỏi bệnh viện đối xử với bác thế nào, nhớ nói cho chúng tôi một tiếng phục vụ tốt.

Đoàn người đến. Căn phòng sạch sẽ, mùi vôi mới thơm nồng, ve quét màu xanh nhạt, đầu giường kê tủ gỗ đánh véc- ni bóng lộn, trên mặt bày lọ sứ trắng cắm hoa hồng; ngăn tủ dưới đựng phích Trung Quốc vẽ chữ hỉ; giường nằm trải ga trắng bốp. Đủ thấy điều kiện thế nào nên không ai hỏi.

Đi cùng đoàn có nhiều người nước ngoài. Họ nhìn mẹ bằng đôi mắt màu xanh lét như mắt mèo. Yêu cầu phiên dịch, dịch bệnh án từ hôm mẹ nhập viện. Các nhà báo, phóng viên ra hiệu mẹ ngồi dậy để chụp ảnh; hỏi han, mở sổ ghi ghi chép chép.

Người đàn ông nước ngoài, da đỏ như ngực gà chọi, lỗ chân lông to đến nỗi có thể xỏ que tăm vào được, có cái mũi khoằm như mỏ diều hâu, hỏi mẹ. Lời của ông được người phiên dịch dịch:

- Chồng bà đâu?

Mẹ ngơ ngác:

 - Nhà cháu ở dưới chỗ mọi khi cháu nằm ấy!

Người phiên dịch không dịch câu trả lời của mẹ, mà quay lại bảo bệnh viện trưởng:

- Anh cho mời chồng bà ta lên.

Bố bước vào. Ông người nước ngoài nhìn chằm chằm:

- Ông làm nghề gì?

Bố đáp: - Tôi là bộ đội đánh Mỹ, bây giờ đã phục viên.

Sau khi nghe phiên dịch, ông người nước ngoài quay sang xì xồ nói với những người đi cùng. Bọn họ xoay sang phỏng vấn bố.

Hỏi: - Ông đi bộ đội bao nhiêu năm?

Bố đáp: - Dạ! Mười năm.

Hỏi: - Ông chiến đấu ở đâu?

Bố đáp: - Dạ! Chiến trường Tây Ninh, Buôn Ma Thuột, biên giới Campuchia.

Một người đi cùng đoàn mở bản đồ Việt Nam hỏi:

- Ông chỉ cho chúng tôi nơi ông đã đánh nhau với quân Mỹ?

Bố nói địa danh, người phiên dịch chỉ. Mấy người nước ngoài nhìn bố, nhìn bản đồ gật gật, rồi lại chụp ảnh, lại ghi chép. Người phiên dịch giảng giải:

- Họ nói: Những nơi ấy ngày xưa máy bay Mỹ thả hàng ngàn tấn hóa chất. Có thể vì vậy nên bác bị nhiễm chất độc.

- Thế họ hỏi để làm gì? - Bố hỏi,

Người phiên dịch trả lời:

- Lấy bằng chứng để nói cho dư luận quốc tế biết.

Bố nghĩ: Gớm thật! Cả thế giới đều biết cơ đấy!

Người phiên dịch quay sang hỏi ông Viện trưởng:

- Ông Trưởng đoàn nước ngoài hỏi: Quái thai hiện nay để ở đâu?

Ông Viện Trưởng:

- Chúng tôi ngâm dung dịch bảo quản để tại phòng xét nghiệm. Xin mời...

Đoàn người theo gót ông Viện trưởng. Bố bảo mẹ:

- Dẫu sao cũng là hòn máu của mình, tôi lên nhìn nó lần cuối.

Mẹ nhìn theo bố, gửi cho con mình lời chào vĩnh biệt.

Nhìn nó lần cuối. Nhưng không bao giờ bố dám kể cho ai nghe cái lần cuối ấy. Mẹ gặng, bố thoái thác: Lên đến nơi, họ mang nó lên xe chở đi rồi.

Thực tình bố nói dối. Bao năm ở chiến trường, bố trực diện những đau thương mất mát của đồng đội. Bố nhớ: Có những chiến sỹ hi sinh chưa kịp chôn, xác trương to, biến dạng, mùi thối khẳn, máu mủ bê bết, xương nát vụn từng mảnh... Bố nhặt nhạnh, sắp xếp lại, rửa mặt, thay quần áo, bó, gói vào ni lông, tăng, võng đem chôn, mà chưa bao giờ bố sợ. Nhưng trước giọt máu của mình đẻ ra, bố rùng mình, hãi hùng, ớn lạnh... nó không mang hình thù rõ rệt. Nửa ngườt, nửa vật, một khúc thịt đông lạnh, trên mang dạng người, dưới mang phần thú. Trong dung dịch màu đỏ, nó đu đưa, bập bềnh như đang bơi trong máu. Đêm, bố mơ những giấc mơ quái đản.

Bố được bệnh viện kiểm tra rất kỹ: lấy máu, lấy dịch tủy, chiếu, chụp Xquang... Bố hỏi: Để làm gì? Bệnh viện trả lời: Xét nghiệm để làm bằng chứng tố cáo tội ác của đế quốc Mỹ.

Ra thế! Cái thân tàn của bố còn có ích. Sau đoàn nước ngoài còn mấy đoàn nữa đến. Lại chụp ảnh, lại ghi chép... Những hôm ấy bố mẹ được bệnh viện rất quan tâm.

Khi không còn đoàn nào xuống phỏng vấn, bệnh viện cho mẹ xuất viện.

Chờ tối mịt bố và bác võng mẹ về. Pháo hạ cây nêu nổ đì đùng. Đám khiêng không đi đường chính qua cổng làng mà mò mẫm tắt ngang ruộng về nhà.

Không hiểu sao đàn gà em nuôi đẹp thế, bỗng lăn đùng ra chết. Bác cả nói: Năm nay độc trời.

Từ ấy:

Lối qua nhà em không ai đi, cửa nhà em không ai tới. Láng giềng trước chung đường, nay mở ngõ mới.

Em đi học, có đứa rủa:

- Mày là chị em với cái quái thai.

Em không dám ra đầm Vực sợ trẻ con làng bên lấy chuyện mẹ đẻ vin vào đấy mà chửi.

Bố đi làm đồng thui thủi, không ai nói chuyện cùng.

Mẹ vật vờ như cái bóng, thi thoảng lên cơn tâm thần hoảng hốt.

Cái quái thai đeo đẳng bố.

Cái quái thai ám ảnh mẹ.

Rằm tháng bảy năm ấy, các vãi ở làng mời một cao nhân đến cúng trừ tà, tế lễ, đốt tiền âm phủ, vàng mã, hình nhân thế mạng, voi giấy, ngựa giấy đủ cả.

Đến ngày giỗ chung, bố tránh gặp mọi người, đến khuya ra mộ thắp hương cho ông bà nội.

Ổi hái, em mang lên tận chợ Phúc An mới bán được. Mấy quán hàng trong làng không mua, sợ âm hồn quái thai nhập vào nằm trong hương ổi.

Nhà em lúc nào cũng buồn như có đám.

Dân làng đồn: Đất ở nhà em có tà trùng ẩn náu.

Một hôm, ông Chủ nhiệm đến nhà. Ông mở túi lấy ra một gói đường, hai hộp sữa để lên bàn:

- Đài, báo đưa tin chuyện bác gái đẻ ra quái thai là do bác trai nhiễm chất độc từ hồi còn ở chiến trường. Chất độc ấy có tên là: Chất độc màu da cam. Như vậy, trăm sự tại thằng Mỹ... Chúng tôi sẽ giải thích để cho bà con trong làng hiểu. - Còn về gói quà, ông thanh minh - Nhân dịp ngày thương binh liệt sĩ, tuy gia đình không ở diện tiêu chuẩn, nhưng xã đội chiếu cố hoàn cảnh gia đình, bồi dưỡng đồng chí cân đường, hộp sữa. Nhà nước có khó khăn, của ít lòng nhiều, mong đồng chí thông cảm.

Bố mẹ mừng được nhận quà một, vui được thoát nạn hai. Vậy là không phải âm hồn, âm binh hay tà ma báo oán. Mà đây là do chiến tranh, do bọn đế quốc!

Mẹ như Thị Kính trong tích chèo cổ, trước cửa chùa giải được nỗi oan khiên.

Lâu lắm rồi nhà em mới vui như thế.

 

  

17

 

Tiếng nói nghe rất quen: - Thằng bé tỉnh rồi.

Mở mắt, trong ánh đèn cháy leo lét anh nhận ra đấy là người đàn bà mặt đẹp. Bà cặp đầu vú ấn vào mồm anh: - Bú thêm chút nữa đi con. May quá, cả ba chị em đều tỉnh rồi.

Hai chị và anh đã được những người cứu sống mặc cho quần áo rộng thùng thình của người lớn. Anh được bà mặt đẹp cho bú, còn các chị được ăn cơm. Vừa bú anh vừa liếc nhìn: trên chiếc thúng úp thay mâm có một bát quả cà muối. Vậy mà trông hai chị nhai ngon lành.

Chợt bà mặt đẹp hỏi:

- Lúc thay quần áo, cô thấy cạp quần các cháu có cái túi vải trong đựng chiếc triện đồng của Lý trưởng Thái Bình. Thế các cháu lấy ở đâu? - Nói rồi bà cầm cái vật mà chị hai tưởng là vàng lên ngắm nghía.

Chị hai thuật lại chuyện lúc ba chị em ở trên bè cùng với cái xác chết trôi cho bà nghe. Nghe xong bà mặt đẹp chép miệng thở dài:

- Đến Lý trưởng còn bị chết đói huống chi là dân lành. - Bà mân mê chiếc triện giọng tần ngần - Cô xin các cháu để giữ lại. Nay mai khi đất nước hòa bình, đưa vào nhà bảo tàng trưng bày làm vật chứng cho các thế hệ sau biết đến nạn đói năm Ất Dậu khủng khiếp như thế nào.

Cửa mở, một người đàn ông cao lớn đi vào. Ông ngạc nhiên nhìn bọn anh hỏi:

- Tại sao lại có trẻ con ở đây hả em?

Người đàn bà mặt đẹp trả lời:

- Đây là mấy cháu bé người Phúc An bị lạc, em gặp ở chùa Thập Phương mấy hôm trước. Không hiểu thế nào mà bị nước lụt cuốn về đây. Khi gặp cả ba chị em đều bị say nắng và đói lả, cấp cứu mãi mới tỉnh. Anh xem - Bà xốc nách cho anh đứng trên đùi bà - Thằng cu này hơn con tũn nhà mình bốn tháng. Thế còn con mình bây giờ ra sao hả anh? Em nhớ nó quá!

À, ra ông ta là chồng bà mặt đẹp.

- Anh vừa về thăm con hôm qua. Càng lớn lên nó càng giống em. - Ông đến ngồi cạnh bà, đưa tay cầm lấy chân anh - Thế em định giải quyết tụi trẻ này ra sao?

Bà trả lời: - Tình hình nước sôi lửa bỏng thế này đành phải cử người mang các cháu theo, đến Phúc An tìm gia đình trao trả. - Nói rồi bà hỏi - Có chỉ thị mới hả anh?

- Anh đến nắm tình hình và truyền đạt chỉ thị của Tổng bộ Việt Minh cho Ban cán sự tỉnh Phúc An. Đây là thời cơ ngàn năm có một. Dẫu gặp khó khăn, hoặc phải hy sinh cũng phải lãnh đạo nhân dân quyết tâm giành lấy chính quyền. - Im lặng một lát rồi ông nói tiếp - Anh được cấp trên cử về Tổng bộ nhận nhiệm vụ mới. Không biết bao giờ mới gặp lại em và con.

Những giây phút nặng nề len vào giữa hai người. Bỗng người đàn bà mặt đẹp ngẩng lên, tiếng của bà dứt khoát, mạch lạc.

- Anh về báo cáo lại cho cấp trên biết. Hội nghị cán sự toàn tỉnh Phúc An họp tại làng Chi Đông đã quán triệt tinh thần chỉ thị của Tổng Bộ Việt Minh. Ban cán sự tỉnh quyết định triển khai các mũi tiến công. Một từ huyện Kim Anh sang: một do đội tự vệ từ cơ sở cách mạng Châu Lam tiến về. Vũ khí ngoài giáo, mã tấu, dao phay, cuốc, thuổng... còn lại là đòn càn, gậy tre. Ban chỉ huy chủ trương đi tới đâu tuyên truyền vận động lôi kéo quần chúng nhân dân tham gia biểu tình đến đấy. Chớp đúng thời cơ cướp chính quyền, tuyên bố thành lập Ủy ban khởi nghĩa.

Người đàn ông mở túi nói:

- Đây là cờ Tổng bộ việt Minh gửi cho ủy ban khởi nghĩa tỉnh Phúc An.

Người đàn bà mặt đẹp trân trọng đón lấy. Lá cờ phủ lên người anh như tấm chăn mới thơm nồng. Người đàn bà mặt đẹp vuốt ve nếp gập, giọng nghẹn ngào:

- Thay mặt ủy ban khởi nghĩa, chúng tôi xin thề với Tổng bộ Việt Minh: Lá cờ đỏ sao vàng của Tổ quốc sẽ được cắm trên nóc dinh tỉnh trưởng Phúc An. - Nói rồi bà ôm anh nâng lên cùng với tấm vải cờ, bà nồng nàn hôn lá cờ, hôn má anh - Con ơi! Giờ lịch sử của dân tộc đã điểm.

Người chồng đến gần bà: - Anh đi nhé! Hẹn em ngày toàn thắng.

Hai người sát lại gần nhau, người đàn bà mặt đẹp ngả đầu lên bờ vai chồng thổn thức. Người chồng lấy tay vuốt suối tóc đen mềm mại thả sau lưng người vợ, hơi ấm lan toả nồng nàn xoắn quyện vào nhau. Trên má, những giọt nước mắt nhớ thương nóng hổi, thấm đẫm tình chồng, ngọt ngào nghĩa vợ.

Nằm ở giữa, anh ngỡ mình là đứa con do họ đẻ ra, là cầu nối tình yêu cho hai trái tim hát lời từ giã.

Có tiếng gõ cửa. Hai người buông nhau ra, chỉ còn đôi bàn tay siết chặt - Nghĩa vợ chồng giờ đây nhường cho tình đồng chí.

Cửa mở, một chiến sỹ du kích vào đứng nghiêm: - Báo cáo thượng cấp: tất cả đã sẵn sàng chờ lệnh!

Ngoài trời, màn đêm được thức tỉnh bằng những ngọn đuốc.

Bà trao bọn anh cho người du kích. Ông ta dùng quang đòn, cho anh và chị ba mỗi đứa vào một bên thúng gánh. Còn chị hai chạy theo đằng sau.

Ánh đuốc sáng rực, chạy dài như một con rồng lửa. Đầu con rồng, dưới ánh sáng lung linh, người đàn bà mặt đẹp thắt dây lưng gọn ghẽ, quần xắn cao, những bước đi chắc nịch, rắn rỏi... cả đoàn quân rầm rập theo sau bà.

Đi tới đâu, nhân dân từ các làng đổ ra hòa nhập vào hàng quân nối dài...

Sáu giờ sáng quân khởi nghĩa từ làng Chi Đông do người đàn bà mặt đẹp chỉ huy hùng dũng bước trên đường Quốc lộ 2, hành quân hướng về tỉnh lỵ Phúc An.

Bình minh ló rạng, muôn vàn tia sáng rực rỡ xuyên thủng những vầng mây ảm đạm. Gió từ rừng núi Tam Đảo thổi về lồng lộng.

Những cánh đồng nước lụt chưa rút hết, trơ lại từng quầng lúa đen đúa chết đứng. Đường đi lệt sệt lầy bùn. Mùi hôi thối bốc lên tanh nồng.

Bọn anh nhìn thấy tháp chuông nhà thờ cao nhất tỉnh lừng lững in trên nền trời rực rỡ dưới ánh nắng mặt trời.

Đoàn người rầm rập tiến vào cửa ô, lối rẽ ngay đầu phố Đệ Nhị.

Bọn anh nhìn thấy cây đa xanh cành lá xum xuê và ngôi chùa Thông cổ kính trên đỉnh đồi. Dưới chân đồi là nghĩa địa Tây. Nơi đó có hăng trăm ngôi mộ chôn lính Pháp chết trận.

Dân hàng phố đã dậy. Nhà hai bên đường mở tung cửa, tất cả ùa xuống đường, hòa vào dòng người. Khi qua nhà mình, anh thấy mẹ và dì đứng ở cửa nhìn theo đoàn quân. Anh giơ bàn tay nhỏ xíu vẫy, nhưng chẳng ai nhận ra. Chị hai kéo tay người du kích ra hiệu, người du kích xoay vai gánh, lắc đầu không nghe thấy vì tiếng reo hò ầm ầm vang dội như thác đổ. Bọn anh bị đám đông kéo xô đi.

Đoàn biểu tình tiến thẳng vào trung tâm tỉnh.

Có tin Thanh niên Đại Việt thuộc lực lượng Quốc dân đảng tập trung hơn hai trăm người lợi dụng tình hình tiến về dinh tỉnh trưởng cướp chính quyền trước quân khởi nghĩa.

“Đả đảo bọn Đại Việt Quốc dân đảng!”

“Đả đảo bọn tay sai đế quốc!”

“Ủng hộ việt Minh!”

“Quyết tâm giành Chính quyền về tay nhân dân Phúc An!”

Đoàn biểu tình hô vang khẩu hiệu. Khí thế như thác đổ tiến vào dinh tỉnh trưởng. Tổ chức thanh niên Đại Việt tan rã hoàn toàn trước sức mạnh của quần chúng.

Đoàn biểu tình chia thành hai mũi tiến công.

Một tiến thẳng vào dinh tỉnh trưởng.

Một kết hợp cùng đội tự vệ Châu Lam tiến đánh trại Bảo an binh.

Có tin báo: Trại Bảo an binh nổ súng chống lại quân khởi nghĩa.

Có tin báo: Nhật cho quân từ Vĩnh Yên kéo về.

Tỉnh trưởng bù nhìn Bùi Văn Thiệp có ý chống đối, kéo dài thời gian.

Tình hình cực kỳ khẩn cấp.

Ban cán sự Phúc An quyết định:

- Thành lập Ủy ban khởi nghĩa tỉnh Phúc An.

- Nhanh chóng giải phóng trại Bảo an binh.

- Điều tự vệ chuẩn bị đánh quân Nhật từ Vĩnh Yên kéo xuống.

- Tổ chức mít tinh công bố thành lập chính quyền mới.

Trước khí thế hừng hực của cách mạng, Bùi Văn Thiệp phải tuyên bố đầu hàng, nộp ấn tín cho quân khởi nghĩa.

Lá cờ đỏ sao vàng phấp phới bay trên nóc dinh tỉnh trưởng. Mắt muôn người như một ngước lên nhìn.

Những đứa trẻ chạy theo đội quân khởi nghĩa, không có cờ, chúng cởi áo buộc vào sào tre, sào nứa phất cao thay cờ.

Cuộc mít tinh bắt đầu: Nhũng vị lãnh đạo của ủy ban khởi nghĩa của tỉnh lỵ Phúc An xuất hiện. Bọn anh nhận ra ngay đấy là những khuôn mặt đã gặp tại ngôi chùa Thập Phương.

Người du kích công kênh anh lên vai. Phóng tầm mắt bao quát cả bốn phương tám hướng...

Trước hàng vạn quần chúng nhân dân tỉnh Phúc An, bảy con người giơ tay lên chào... Đứng giữa là người đàn bà có khuôn mặt đẹp như Đức Mẹ, đôi mắt bà âu yếm, bàn tay hướng về bọn anh vẫy vẫy.

Người có khuôn mặt như ông Phán giơ cao tay dõng dạc tuyên bố:

- Nhân danh chủ tịch ủy ban khởi nghĩa tôi tuyên bố:

Xóa sạch chế độ phong kiến đế quốc. Từ nay Chính quyền thuộc về nhân dân tỉnh Phúc An!

- Tinh thần cách mạng 19-8 muôn năm! Một tiếng hô rất lớn.

- Muôn năm!... muôn năm!... muôn năm!... - Quần chúng đồng thanh đáp.

Tai anh ù đặc vì tiếng hô dậy đất.

Mùa thu trời xanh ngắt, giữa khoảng không mênh mông, một đàn chim câu lượn từng vòng, từng vòng. Anh đoán chắc đó là đàn chim hội của bố vừa mới thả.

 

CHƯƠNG HAI

1

 

Thi trượt đại học, nhưng em đủ điểm vào học Trung cấp Nông nghiệp mở ở tỉnh. Bố mẹ mừng lắm. Bố nói:

- Đất quê mình chiêm khê mưa thối. Đói nghèo quanh năm. Con cố học giỏi, mang kiến thức về giúp bà con nông dân cải tạo đồng ruộng.

Trường cách nhà chừng mười cây số. Hôm đến tập trung, em bước vào trường trước sự ngỡ ngàng của bọn con trai. Những cái nhìn đuổi theo sau như nói:

- Người đâu mà xinh tệ!

Tuổi dậy thì, thân hình cân đối, mắt đen láy, ánh sáng từ tinh mắt long lanh như hạt cườm, da mịn màng, bóng hồng như quả ổi đào chín trên cành. Hồi còn ở nhà, mỗi lần lội ao, hai núm vú hây hây hằn trên nền vải. Từ nơi sâu kín, những sợi lông tơ nhú mọc mềm mại. Hôm ấy, em mặc áo trắng điểm hoa cà, ngực được nịt gọn trong áo xu chiêng.

Lợi dụng cùng học một trường, nhiều kẻ đến làm quen em, ve vãn, tán tỉnh buông lời trầm trồ khen ngợi.

Nhưng riêng một người không chú ý. Đó là Tổ trưởng tổ học tập. Ngoài những lúc bắt buộc phải gặp nhau vào thời gian sinh hoạt tổ, còn lại là thái độ thờ ơ, lãnh đạm, coi sắc đẹp của em không đáng để ý, coi em như không có mặt trên đời. Thái độ của Tổ trưởng như một lời tuyên chiến. Đối lại, em tỏ vẻ ngạo mạn, coi thường, hở ra một câu là em khích bác. Lạ một cái là Tổ trưởng không hề phản ứng, đến nỗi đứa bạn gái cùng tổ phải kêu lên:

- Mày quá đáng quá Linh ạ. Thấy người ta hiền lại bắt nạt. Được đằng chân lân đằng đầu.

Có một điều chỉ có em và Tổ trưởng biết: Nơi xuất xứ của Tổ trưởng là làng Quyết Thắng đối thủ với làng Quyết Chiến. Như ngầm thỏa thuận, không ai nói đến điều ấy nên bạn bè trong lớp không biết.

Học được sáu tháng, một sự kiện xảy ra.

Nhà trường tổ chức chụp ảnh làm thẻ. Một tay thợ chụp ảnh xuất hiện. Hắn gầy, mắt sâu, khuôn mặt tóp, ẩn sâu trong mớ tóc xù, quăn queo như ca sĩ hát nhạc Rốc in trên họa báo, vạt áo sơ mi màu lòng tôm, sơ vin eo ếch trong đai quần màu tím than và chiếc thắt lưng vảy rắn. Chiếc máy ảnh nhãn hiệu ZENIT lủng lẳng bên hông. Hắn nói:

- Đám đàn bà ở thị xã xách dép cho em, con gái ở trường chẳng đứa nào ăn đứt. Được ăn mặc, em kém gì minh tinh màn bạc. - Miệng nói, nhưng ánh mắt của hắn ngưng lại trên ba ngấn cổ trắng ngần của em.

Không hiểu vì được khen hay vì cái nhìn mà mặt em đỏ rần rật. Hắn cười:

- Riêng em, anh xin chụp thêm một kiểu ảnh nghệ thuật treo làm mẫu.

Dẫu hồ nghi không tin, nhưng em thấy hắn bấm máy hai lần thật.

Nửa tháng sau hắn đến trường trả ảnh. Riêng em, hắn đưa thêm một phong bì.

- Của em đây! Hôm nào đến hiệu mà xem ảnh của em được anh phóng to treo làm mẫu.

Cái thật của hắn làm em rung động, một chút thiện cảm len vào lòng. Bức ảnh để trong phong bì, bọc tờ giấy pơ-luya màu hồng tẩm nước hoa thơm phức. Ảnh chụp em ngồi nghiêng, đôi mắt mở to ngơ ngác, tay đặt lên đùi, khóe miệng hé mở. Em nghi ngờ người con gái xinh đẹp trong ảnh kia không phải là mình.

Đem về lớp khoe, tụi bạn xúm xít xem. Tổ trưởng đi qua, mắt liếc nhưng im lặng. Sinh hoạt cuối tuần, Tổ trưởng nói lời xa xôi:

- Ban lãnh đạo nhà trường nhắc nhở mọi người: Trong khi còn là học sinh không được quan hệ yêu đương.

Tổ trưởng nói chung chung, nhưng em nghĩ Tổ trưởng cố tình ám chỉ. Đêm ngủ, em mơ thấy tay thợ ảnh đánh nhau với Tổ trưởng. Không ai thắng ai, nhưng khuôn mặt của tay thợ ảnh vênh váo đắc thắng, đôi mắt nhìn ác độc, còn Tổ trưởng mặt buồn như đưa đám và thẫn thờ như người bị mất cắp.

Tỉnh ngủ, nhớ lại giấc mơ, lòng em hẫng hụt, một nỗi buồn vô cớ lan nào lòng như đám sương mù buổi sớm. Vì sao, em không lý giải nổi.

Tưởng có vậy, ai ngờ tay thợ ảnh thích em thật. Hắn viết thư tỏ tình. Bức thư nào cũng có thơ. Em không thích thơ, nhưng những câu thơ hắn viết đọc thấy hay hay. Đôi bướm quấn quýt in trên trang thư như biết cất cánh, mùi nước hoa chờn vờn làm hai cánh mũi em phập phồng.

Chiều thứ bẩy, hắn đón sẵn ở cổng trường, đi xe Môkích màu đỏ rực, gạ đưa em về. Em không đồng ý, nhưng khi thấy Tổ trưởng đạp xe đạp đi qua, em nhảy phắt lên giục: Phóng nhanh lên! - Tay thợ chụp ảnh rồ ga, chiếc xe đi như bay. Thoảng trong làn khói, đôi mắt Tổ trưởng nhìn em như trách móc. Quay lại, tránh cái nhìn, bất chợt mũi em ngửi thấy mùi nước hoa lẫn mùi hôi nách tỏa ra từ thân thể tay thợ chụp ảnh. Em lợm giọng muốn nôn.

Điểm thi đua của tổ không đạt. Phần lớn bị ảnh hưởng do thành tích học kém của em. Trong cuộc họp, Tổ trưởng đề nghị mọi người giúp đỡ. Nhưng khi phân công tìm người giúp, ai cũng đun đẩy cho Tổ trưởng.

Tổ trưởng yêu cầu em tối thứ bảy và ngày chủ nhật ở lại để học thêm môn Triết học. Nghị quyết của tổ, em phải chấp hành. Chiều thứ bảy, tay thợ chụp ảnh và cái xe Môkích mầu đỏ lảng vảng đợi ngoài cổng trường. Chờ mãi không thấy em ra, hắn lên xe nổ máy ra về.

Tổ trưởng rủ em lên lớp, thắp điện, mở toang tất cả các cửa. Em hỏi:

- Sao không học ở nhà?

Tổ trưởng nói:

- Giữ cho Linh là chính.

Em dài giọng:

-Vâng... cảm ơn.

Tổ trưởng đứng trên bục y như thầy giáo. Em không ngờ môn Triết học khô như muối rang mà Tổ trưởng giảng hay thế. Giọng trầm ấm, lời lẽ mạch lạc. Em nuốt từng lời.

- Mình giảng Linh có hiểu không? - Tổ trưởng hỏi.

Cố chấp em trả lời:

- Hiểu in ít thôi.

- Môn Triết học là môn khó. Nhưng nếu đã hiểu thì lại rất thích. Nếu không hiểu chỗ nào Linh cứ hỏi.

Em tinh nghịch:

- Đề nghị phụ giảng thêm chỗ Thúy Kiều tắm!

Tổ trưởng đỏ mặt như vừa uống rượu.

Về đến cửa phòng ở, đột ngột em rủ:

- Ra cổng trường mua cái gì ăn đi.

Trời lạnh, gió bấc thổi thốc tháo, lá bàng rụng đầy sân trường. Lần đầu tiên đi đôi, Tổ trưởng ngượng, em vờ như không biết, chủ động sà xuống hàng ngô:

- Bà nướng cho chúng cháu hai bắp: - Buột miệng nói xong hai từ chúng cháu tự nhiên em xấu hổ. Cũng may trời tối, khuất ánh đèn không nhìn thấy má em hồng như than đang quạt.

 

2

 

Theo anh trai kể thì ngày 2-9-1945 tại quảng trường Ba Đình Hà Nội, Bác Hồ đọc bản Tuyên ngôn khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.

Như vậy, nước Việt Nam và anh trai hơn tôi hai tuổi.

Nhưng hơn hai tuổi mà biết được bao nhiêu sự kiện xảy ra. Nghe chuyện mà tiếc. Giá mẹ sinh tôi ra sớm thì hay biết bao. Tôi sẽ được cùng các chị gái và anh trai đi đến mọi chốn, biết mọi điều, cưỡi trên bè, lênh đênh trôi dạt khắp nơi... Được gặp người đàn bà hiền hậu có khuôn mặt đẹp như Đức Mẹ; được cùng đi trong đoàn quân tiến về cướp chính quyền, họp mít tinh ở dinh tỉnh trưởng Phúc An.

Cứ lúc nào nghĩ tới hoặc có ai nhắc đến những sự kiện đã xảy ra trong những năm ấy, là tôi lại bức bối và tiếc nuối.

Nhưng thôi, bố thường nói: Con người sinh ra có số. Trời cho ai cái gì, người đó được nấy. Ghen tị, tiếc nuối chẳng ích chi.

Mấy hôm nay, bố cho thợ đóng xe nghỉ việc về quê. Mẹ sai chị nhớn xuống các làng thanh toán tiền cho thợ bắt rắn và bảo họ ngừng không bắt nữa.

Dì kể: Hà Nội có đánh nhau to, tỉnh Phúc An cũng sắp có loạn rồi. Theo lệnh của Ủy ban kháng chiến: nhà cửa, vườn tược phải phá hết.

Bế tôi nằm võng dì lẩy Kiều: “Ngày vui chẳng được tày gang...”. Giọng dì buồn tênh, nuối tiếc.

Cán bộ Việt Minh đến vận động bố ủng hộ xe kéo tay cho bộ đội làm xe chở lương thực. Bố đồng ý. Ủy ban kháng chiến trưng dụng 50 chiếc. Họ viết giấy xác nhận công lao giúp đỡ kháng chiến. Mẹ cất kỹ những giấy tờ đó vào hòm.

Các dãy phố hai bên đường, tường nào kẻ chữ được là có khẩu hiệu kêu gọi: “Toàn dân thực hiện tiêu thổ kháng chiến”, “Toàn dân thực hiện vườn không nhà trống”. Giữa ngã ba căng biểu ngữ “Tỉnh Phúc An mỗi người dân là một chiến sĩ, mỗi đường phố là một mặt trận. Mỗi góc phố là một pháo đài”.

Lũ trẻ chúng tôi mang nồi đồng, chảo gang vỡ đập inh ỏi. Anh trai nhặt ở xưởng một đoạn vành xe, tay gõ “keng, keng, keng” mồm kêu rống riết: “Sướng quá! Sướng quá chúng mày ơi! Sắp đánh nhau rồi”.

Lạ? Người lớn chuẩn bị đánh nhau kêu vất vả, còn lũ trẻ con lại reo mừng.

Đường trong nội tỉnh xẻ ngang, xẻ dọc. Giao thông hào luồn qua các dãy phố. Nhân dân được huy động đào đất, xẻ hào, đắp ụ, chặt tre đóng cọc. Cây cối hai bên đường ngả xuống, cắt từng khúc dựng thành chiến lũy. Tường ngăn được đục thủng, xuyên nhà nọ với nhà kia. Bộ đội, tự vệ đông ngần ngật, hối hả, mặt ai cũng căng thẳng.

Thật tiếc! Đang hòa bình sống yên vui thế. Mới được hai năm, Chính phủ vừa khắc phục xong những hậu quả do nạn đói và nạn lụt năm bốn nhăm (1945).

Tỉnh Vĩnh Yên sát nhập với tỉnh Phúc An thành tỉnh Vĩnh Phúc.

Phúc An trở thành thị xã.

Các phố trong thị xã được đặt lại tên:

Phố Đệ Nhất đổi thành phố Trưng Trắc.

Phố Đệ Tam đổi thành phố Trưng Nhị.

Phố Đệ Nhị nhà tôi ở đổi thành phố Văn Miếu.

Các xóm nghèo trước đây được lấy địa danh và tên các nhân vật lịch sử ngày xưa đặt thành phố:

Phố Sóc Sơn, phố Quang Trung, phố Hoàng Hoa Thám, phố Trần Quốc Tuấn. Phòng thông tin của Pháp trở thành lớp dạy học xóa nạn mù chữ, nhà tù Tây nhốt Cộng sản được sửa sang thành nhà thương.

Mẹ khoe: Bà Lang kiêm mụ đỡ làng Nhuế được Việt Minh mời ra chữa bệnh và đỡ đẻ cho nhân đân.

Tôi nghĩ: Kỳ này mụ đỡ tha hồ mà vênh váo.

Bên kia phố, dưới chân đồi Thông là xóm Bái. Trước khi tôi có mặt trên đời, ở đó có nhà chứa gái, tiệm thuốc phiện, phòng hát cô đầu, ổ gá bạc. Sau ngày 19-8-1945, công an Việt Minh đến, giải tán những tụ điểm ăn chơi trác táng và xóm Bái được đặt tên mới là phố Lao Động. Còn Chùa Thông, sau ngày giành được Chính quyền, vào rằm, mùng một tấp nập người lên cúng bái, khói hương nghi ngút. Phố xá vui hẳn.

Mỗi lần được chia oản anh trai bảo:

- Giống như oản ông người thật coi chùa Thập Phương cho bọn anh hồi cướp Chính quyền và chạy lụt quá! Thiếu mỗi ổi đào thôi.

Giọng anh vẻ khoe khoang, tôi thầm tị, nhưng không dám nói, vì sợ anh giận không đưa đi chơi.

Nhưng mấy hôm nay, bố mẹ nhắc dì trông chừng lũ trẻ con. Dì bắt anh chị em chúng tôi ở tịt trong nhà, cấm tiệt không cho đứa nào ra ngoài. Mẹ nói:

- Không trông, chúng nó lại bỏ nhà đi như năm Ất Dậu thì chết.

Bố bảo:

- Ở nhà chờ lệnh chạy “tản cư”.

Tôi ao ước:  Trốn khỏi nhà và phiêu bạt với các chị và anh trai như hồi bốn nhăm (1945) thì thú bao nhiêu.

Dì xếp sắp quần áo cho vào túi vải, đóng gạo vào bao tượng, chuẩn bị quang, thúng, đòn gánh đem theo khi tản cư.

Chị nhớn ngồi trên bậu cửa, tay vê vê khăn mùi xoa thẫn thờ nghĩ ngợi.

Mẹ quệt vết trầu đỏ thắm dính hai bên mép:

- Nhẽ ra hôm nay nhà ông Quảng Đức Lợi đem trầu cau lên ăn hỏi đây.

- Dưới Hải phòng có biến. Nghe kể, tàu chiến Pháp bắn vào khu cầu Ca-rông tan nát hết cả. Chính quyền Việt Minh ở Hải Phòng bị mất rồi. - Bố nói trong khi xếp cuốn lịch Vạn niên và mấy quyển Kinh dịch vào túi.

Dì an ủi:

- Chắc chỉ mất nhà thôi chứ người chẳng việc gì - Dì nói giọng buồn như lúc lẩy Kiều - Xong giặc giã thì lại đâu vào đấy. Đến lúc ấy dưới Hải Phòng thể nào chả cho người lên đặt lễ ăn hỏi, định ngày xin cưới.

Hồi đầu tháng trước ông bà Quảng Đức Lợi ở Hải Phòng lên chơi. Ông nói:

- Tôi quý cháu vì cháu trọng mẹ kế như mẹ đẻ. Đấy là cái đạo, cái nghĩa của con người. Tôi được cháu về làm dâu coi như là nhà Quảng Đức Lợi được thêm chữ Phúc.

Bà vợ ông Quảng xuýt xoa:

- Bao nhiêu con gái mà cậu hai chẳng ưng ai. Cứ muốn lên làm rể Phúc An. Thôi đó cũng là bởi vì duyên, vì số.

Bố mẹ mừng chị nhớn được vào gia đình bề thế, giàu có nhất Hải Phòng. Nhưng dì thì thương chị phải lấy chồng xa. Nằm trên võng dì hát ru:

Có con mà gả chồng gần

Có bát canh cần nó cũng đem cho

Có con mà gả chồng xa

Trước là mất giỗ, sau là mất con”.

Mẹ nói ý xa xôi:

- Đuợc làm dâu con nhà ấy là mừng. Gia phong cốt cách nhà người ta vang khắp Bắc kỳ, có tiếng tăm với cả thị trường Hồng Kông. Từ nay rắn rết, ếch nhái mang về đấy chẳng lo bị dìm giá. Có người nhà vẫn hơn.

Bố cười:

- Bà này nói như thật.

Ông bà Quảng Đức Lợi cho mụ mối lên hẹn ngày ăn hỏi, định ngày cưới. Thế mà bây giờ loạn lạc thành ra lỡ dở cả.

Gần tháng nay không có tin tức gì dưới Hải Phòng gửi lên. Nhà “Dây thép” bảo: Đường dây thép bị đứt không liên lạc được. Tin đồn toàn tin dữ. Cả nhà nhìn chị nhớn ra vào thẩn thơ mà thương.

Bố cho tự vệ tháo nốt những cánh cửa ở nhà ngang. Mấy anh tự vệ lấy trục xe bẩy. Cánh gỗ vỡ toác. Bố xót xa:

- Các chú nhẹ tay không hỏng hết bản lề cửa.

Anh tự vệ cười:

- Cả rừng thông trên đồi Thông còn phải chặt hết nữa là, tất cả mang ra dựng thành chiến lũy hết, giữ làm sao được hả bác!

Bố thở dài tiếc rẻ:

- Cửa đóng bằng toàn gỗ lim xanh xứ Thanh đấy các chú ạ!

Tiếng hát át tiếng bố:

“... diệt phát xít! Giết bầy chó đê hèn của chúng. Tiến lên giành Dân chủ Cộng hoà...”

Buổi tối, ông ký ga Phúc An đến nhà chơi thì thầm với bố:

- Việt Minh không chắc giữ được Phúc An. Nhà bác tính thế nào?

Bố lưỡng lự:

- Theo Việt Minh lên rừng thì biết làm gì mà sống? Mình là dân buôn bán. Lên rừng buôn bán với ai? Mà ở lại sợ bị Tây trả thù. Bây giờ biết tin vào phe nào? Bà nhà tôi bảo: Chia làm hai, tôi và mấy cháu lớn ra vùng tự do, còn mẹ nó với mấy đứa nhỏ ở lại. Chờ xem binh tình ra sao. Nếu ở đâu dễ sống thì ở.

Mẹ tuy sinh ra ở vùng nông thôn, nhưng sớm hòa nhập vào dòng tiểu thương thành thị nên hay tính toán. Sự tính toán nửa ở, nửa đi là vậy.

Mẹ dặn bố:

- Chuyện này cần giữ kín. Đừng để cho Việt Minh nghe được. Đừng nói cho những người đã từng theo Pháp.

Thế mà bây giờ bố hở ra cho ông ký ga biết. Ông ta trước đây làm cho Tây, bây giờ làm cho Việt Minh. Hai lòng như thế, nếu ông ta nói ra với phe nào bố cũng khổ.

Ông ký về, bố đem chuyện nói với mẹ. Mẹ trách bố dễ tin người. Bố biết lỗi im lặng. Mẹ quả quyết:

- Trước hết cả nhà tản cư vào Châu Lam đã. Ở đấy một thời gian, chờ yên yên rồi tính sau.

 

3

 

 Chiều thứ bảy nào tay thợ chụp ảnh cũng đợi em ngoài cổng trường. Hắn thay chiếc xe Môkích mầu đỏ bằng một chiếc Công- pho trắng sứ lịch lãm. Khoác chiếc áo dài chấm khoeo màu xám, đội mũ phớt mềm, đi giày mõm nhái, miệng thổi khói viết thành chữ o thật khéo.

Em thích tay thợ chụp ảnh vì hắn biết nói lời nịnh đầm; biết gu con gái hay ăn quà vặt để dúi vào tay một gói ô mai hay phong kẹo. Ngày Quốc tế phụ nữ ngoài quà tặng còn kèm thêm lời chúc lịch lãm.

Quả thực có những đêm em đã nghĩ để rồi mơ về hắn. Mái tóc xù và khuôn mặt quắt thoạt đầu nhìn khó coi, sau nhìn quen dần. Hắn viết thư gửi đều đều, mặc dù chiều thứ bảy nào hai đứa cũng gặp nhau. Hắn bảo:

- Viết thư cho em để thỏa mãn nỗi bức xúc của người đang yêu.

Hắn nói như thi sĩ đọc thơ, đối xử với em như đã được em chấp nhận.

Rủ lên thị xã xem ca nhạc, hắn khoe:

Các anh ở phòng văn hóa thị xã ưu tiên anh lắm mới cho hai vé. Hôm nay có Thu Hiền và Trung Kiên hát.

(Không hiểu vì sao hắn hiểu cả ca sỹ mà em mê?)

Xem xong, hắn rủ đi ăn. Bụng đói, em đồng ý. Vả lại em thích ăn phở Phúc An. Hồi còn học cấp ba, em và bọn bạn hôm nào đi học có tiền chỉ rình trốn cơm nguội để ăn phở.

Hàng phở bán đêm nằm ở cuối phố, gần ngã tư. Ánh điện đỏ quạch, khói than mù trời, mặt đường lồi lõm, ngồi đằng sau, em giữ ý không ôm eo, xe bị xóc làm em mất thăng bằng, mông nẩy lên nẩy xuống, ngực nhấp nhổm va vào lưng tay thợ chụp ảnh.

- Thế này cũng mang tiếng thị xã, nghèo như chị Dậu.

Em bật cười vì cách ví von của hắn.

Ăn xong, hắn rủ:

- Tụi mình lên bờ sông Cà Lồ hóng mát đi?

Em từ chối:

- Khuya rồi, em về ngủ, ngày mai còn phải học.

- Nghỉ một buổi đã sao? - Hắn gạ.

Em kiên quyết không đồng ý. Trên đường về hắn im lặng. Đồ chừng hắn giận. Em hỏi:

- Anh giận em à?

- Không giận nhưng buồn. - Giọng hắn thành thật. Nghe, em mủi lòng, nghĩ tới sự nhiệt tình, nhớ tới buổi ca nhạc, nhớ tới bát phở gà bốc hơi nghi ngút. Lúc qua đôi Thanh Tước, gần đến lối rẽ về làng, sát bãi cỏ hồi bé đi chăn trâu, em buột miệng:

- Ta vào trong kia ngồi một lát. Nói xong, lòng xuất hiện cảm giác ân hận, em nói thêm - Ngồi một lúc thôi, rồi anh chở em về trường. Bác bảo vệ nghiêm lắm!

Hắn cho xe men theo sườn núi, em chỉ đường xuống bãi. Dựng xe, hắn mở yên lấy tấm vải mưa (hắn đã có ý chuẩn bị trước) trải lên mặt cỏ, vuốt mép vải:

- Em ngồi xuống đi.

Ngồi, em ý tứ giữ khoảng cách, khoan khoái duỗi hai chân trên thảm cỏ dày, tay bứt cọng cỏ đưa lên mồm nhấm nhấm. Móc túi lấy bao thuốc, hắn hỏi:

- Mé kia là làng em phải không?

- Vâng, ở chỗ ông trăng treo trên mấy lùm tre kia kia - Em chỉ tay.

- Có lần tụi anh đã đến làng em xem phim rồi.

Quả thực hồi ấy ở làng em, một tháng đôi lần có đoàn chiếu phim lưu động đến. Nhưng em vẫn nguýt:

- Anh nói phét! Làm gì có chiếu phim?

- Em về hỏi bố xem! Này, anh còn biết cả tên tục cũ của làng em đấy nhé! - Giọng hắn vơ vào.

- Anh nói xem? - Em cố chấp.

- Làng em ngày xưa gọi là Kẻ Đống, còn làng bên kia gọi là Kẻ Gò. Mãi đến hòa bình mới đổi thành Quyết Thắng và Quyết Chiến.

- Anh đến sao em không biết? - Em thừa nhận.

- Chắc lúc ấy em còn thò lò mũi xanh, ai thèm để ý! - Ánh lửa lóe sáng, soi rõ nụ cười ranh mãnh nở trên đôi môi thâm xì trước khi bập vào cán điếu thuốc.

- Lớn bằng ai mà ra dáng? - Em bĩu môi.

- Không bằng ai cũng hơn đằng ấy.

Em không trả lời.

Trăng lên quá tầm ngọn tre, sao trời thưa thớt, ánh bạc phủ trắng màn đêm, sương rơi ướt đầm; hơi lạnh thấm qua làn áo mỏng, em so vai. Hắn hỏi:

- Em lạnh phải không? - Hắn nhích về phía em.

Thoáng một chút hơi nóng phả vào sườn, em giật mình dịch ra. Hắn mở đầu:

- Em có thích nghề ảnh không?

Em trả lời:

 - Nhà nước đào tạo em làm nông nghiệp, có thích cũng chẳng được. Mà có muốn thì nhà em nghèo lấy tiền đâu mua máy?

- Sao em không chọn ngành khác? Học nông nghiệp thì thà rằng ở nhà làm ruộng còn hơn.

- Nói như anh mà cũng nói! Cũng là làm ruộng nhưng có học vẫn hơn chứ!

- Hơn gì! - Em cảm tưởng môi hắn trề ra - Anh nói thật đấy! Học về có khác gì đám nông tồ suốt ngày bán mặt cho đất, bán lưng cho trời. Em không chê nghề ảnh anh sẽ giúp!

Sau câu nói, hắn đặt một tay lên vai. Em đẩy tay hắn ra, nói:

- Thôi, ta về đi,

- Anh tưởng... - Hắn búng mẩu thuốc bay lên cao, tàn thuốc bung ra vẽ thành bông hoa lửa.

- Anh tưởng gì? - Em hỏi.

- Ààààà - Hắn ngập ngừng - Ngồi một lúc nữa em! - Hắn nài.

Em đứng dậy vươn vai: - Về thôi, muộn rồi, dễ bây giờ có đến mười hai giờ đêm?

Xong câu nói, em bước đi. Hắn nhỏm dậy, rất nhanh, cầm lấy tay em kéo ngoắt lại, ôm choàng lấy người em, khuôn mặt hắn lộ rõ dưới ánh trăng, cái miệng hôi xịt mùi thuốc lá gí sát mặt: - Anh yêu em... anh yêu em... - Hắn lảm nhảm như bị ma ám. Em đẩy hắn ra: - Ơ, cái anh này? - Câu nói bị cái mồm người đàn ông bịt chặt. Em giãy giụa, tay đẩy, chân đạp nhưng không thoát nổi bàn tay nồng nhiệt, ham hố. Em cong lưng, ưỡn ra đằng sau để thở, tránh mùi hôi nồng nặc phả vào tận cổ họng. Không ngờ, hắn lấy một chân đưa ra đằng sau như đô vật ngáng địch thủ. Em ngã uỵch xuống tấm ni lông, cả thân hắn đè lên người em, một tay hắn luồn dưới tấm áo, miệng thì thào - Em chiều anh, chiều anh đi... - Trong người em xuất hiện cảm giác lâng lâng, đê mê, dễ chịu. Hình ảnh mấy đứa trẻ chăn trâu chơi trò vợ vợ chồng chồng hiện về. Em lả người, mềm nhũn khuất phục. Nhưng khi cái vật nóng hổi giữa háng hắn chạm vào đùi, thì em bừng tỉnh. Một phản ứng tự vệ đột ngột trỗi dậy. Gần như vô thức, em co gối, đạp thật mạnh, cái đạp làm hắn bật ngửa về phía sau. Kèm vào đấy là tiếng rú đau đớn từ miệng hắn thốc ra: - Ối giời ơi, đau quá! Đau quá ối giời ơi. - Sau tiếng kêu, hắn lịm đi.

Tưởng hắn chết, em nhổm dậy, xốc lại áo quần... chạy. Như hồi bé chăn trâu ở bãi, chiều nào về muộn, đánh trâu chạy tắt cánh đồng, tránh bãi tha ma, men theo bờ đầm Vực về làng.

Bình thường, rất ít kẻ đám đi qua đầm Vực vào nửa đêm. Người làng thường đồn ở dưới đầm có con Nam Nam, nó hay hóa thành người con gái xõa tóc ngồi bên bờ đầm hát nỉ non.

Mặc kệ! Việc vừa xảy ra ở bãi chăn trâu còn đáng sợ hơn nhiều. Em chạy một mạch về nhà. Con chó vàng nhảy cỡn quay tít cái đuôi như phất cờ. Em đẩy cửa, cửa cài then. Em tần ngần đứng trước cửa lưỡng lự không biết có nên gọi hay không?

Trong nhà, trên bàn, ngọn đèn đầu xanh lét. Tiếng ngáy nhè nhẹ từ trong giường vọng ra. Đang mải nghĩ thì con chó vàng quẩn cạnh chân cứ chồm lên người mừng. Bực mình, quên cả giữ ý, em quát: Vàng, im. Tiếng ngáy trong nhà im bặt, giọng bố vang lên phá tan sự yên tĩnh;

- Ai đấy? Nếu là trộm thì nhà nay không có gì đâu!

Em không kìm nổi nữa: - Bố ơi, con đây, Linh đây, bố mở cửa cho con.

Bố vùng dậy, vặn bấc đèn, ánh sáng tỏa rộng. Bố mở cửa hỏi:

- Sao con về muộn thế này? Ai đưa con về?

Mồm em lắp bắp: - Con... con, con sợ quá bố ơi! - Em, ôm chặt bố. Từ trong giường mẹ hỏi:

- Con Linh ở trường về hả bố nó?

- Mình dậy lấy cho tôi lọ dầu gió. - Bố dìu em đi vào giường - Hình như nó phải cảm?

Mẹ vắt màn, đỡ em nằm xuống giường, vạch lưng, vạch bụng xoa dầu, miệng xuýt xoa:

- Có chuyện gì nói cho bố mẹ nghe. Con bị đuổi học à?

- Em cố lấy bình tĩnh kể cho bố mẹ nghe chuyện vừa xảy ra. Nghe xong, bố im lặng đi đến bàn thờ, châm hương, chắp tay khấn khứa. Quay lại bố nói.

- Hai mẹ con ở nhà, bố ra xem người ta sống, chết ra sao? Dẫu thế nào vẫn phải giữ tình con người.

Mẹ làu bàu: - Đồ khốn nạn! Nó mà hại một đời con gái của con Linh tôi sẽ giết nó!

Thế mới biết phẩm giá của con gái đối với mẹ là vô giá.

Bố đi, ở nhà mẹ và em khắc khoải chờ. Em tưởng tượng: Chốc nữa bố vác cái xác tay thợ ảnh không còn hồn để nằm sóng soài dưới sân; em mường tượng ra khuôn mặt xệch xạc bê bết máu, mái tóc bồng bềnh phủ lên đôi mắt mỗi khi cười, trông như sợi chỉ căng ngang.

Có tiếng động ngoài sân, em nép vào lòng mẹ. Một tâm hồn già nua, bủng beo ôm ấp, che, chở cho một tâm hồn non nớt, thơ dại, lần đầu tiên phạm tội. Tội ấy thật khủng khiếp: Tội giết người.

Bố bước vào, mẹ chồm dậy:

- Nó đâu? Sao không đưa nó về?

- Chẳng thấy ai cả! - Bố thủng thẳng đáp - Xe máy cũng không thấy đâu. Chắc chỉ bị ngất thôi, tỉnh dậy lại đi được.

Em lảo đảo đảo ngã vật xuống nước mắt chảy đầm đìa, cổ nghẹn nấc, người giật đùng đùng, cơn sốt bất chợt kéo về, toàn thân nóng hầm hập. Lát sau, một cơn sốt lạnh kéo đến toát dọc xương sống, toàn thân giá buốt. Mẹ đắp lên người ba cái chăn mà em vẫn lạnh. Trong cơn hoảng loạn mê man, em lơ mơ nhìn hương cháy trên ban thờ sáng như đôi mắt bà ngoại nhìn. Bà bước xuống, dang tay đón, ghì chặt em vào lòng, cất tiếng hát ầu ơ. Em nhoẻn cười, hơi ấm từ da thịt bà tỏa ra, em ngả đầu, áp ngực bà tin tưởng. Những sợi tóc bạc phơ, mềm mại, mơn man lên hai má đỏ như bồ quân của em.

 

          4

 

Tôi rất khó chịu lúc đang ngủ bị đánh thức. Chính vì thế, khi người bị chao như đưa võng, xóc như xóc ốc, tôi làu bàu.

Có tiếng ai quở: - Thằng này ngủ như lợn! Tây đuổi đến nơi vẫn ngáy pho pho!

Thì đúng rồi! Tôi chẳng đẻ năm Hợi, cầm tinh con lợn đấy thôi! Còn Tây? Đấy là chuyện của người lớn, đâu phải chuyện của lũ trẻ ranh. Nói thế mà cũng nói! - Nghĩ vậy, tôi định tiếp tục ngủ như không có gì xảy ra thì bỗng nhiên, có cái gì đập rất mạnh vào lưng khiến tôi bừng mắt. Trời tối om, những ngôi sao tít trên cao nhấp nha nhấp nháy. Xung quanh lờ mờ những bóng người tay xách, nách cầm, gánh, gồng, khuân, vác... Thậm chí có người đầu còn đội các thứ hối hả chạy. Tôi nhận ra mình đang nằm trong thúng và được dì quẩy. Vì chân thọt, nên mỗi khi dì bước, cái thúng nhâng lên, thụt xuống như giã gạo. Thi thoảng, lưng của tôi bị những mô đất cao hỏi thăm đau ơi là đau.

À, ra là dân Phúc An chạy tản cư. Sau khi phá nhà, chặt cây, đào đường thực hiện khẩu hiệu “Vườn không nhà trống” xong, theo hiệu lệnh của Ủy ban Kháng chiến dân thường, đàn bà, trẻ con tản cư vào An toàn khu Châu Lam.

Mẹ đội một cái đẫy vải to chạy vượt lên:

- Dì mệt chưa? Chị đổi cho một tý!

- Em còn đi được! - Dì trả lời rồi hỏi - Từ đây vào đấy còn xa không chị?

- Thấy bà Đỡ bảo phải vào hang Dơi, nếu cần phải vượt đèo Nhe, sang tỉnh Thái Nguyên.

Hang Dơi, đèo Nhe! Những cái tên nghe buồn cười thật! Tôi nghĩ đến cái tên, còn cố tình ra vẻ không để ý có bà Đỡ đi cùng, dẫu bà có công đỡ tôi! Thậm chí trong gia đình ai cũng nói: - Không có bà Đỡ thì lấy đâu ra cu Thừa.

Nói bậy! - Tôi cãi thầm - Tôi do mẹ đẻ, cái tên Thừa bố đặt, chứ có phải do bà đỡ đâu! Bà ta không đỡ đã có người khác! Nói của đáng tội, hôm mẹ đẻ, không vì cả nhà sợ tôi chết thì còn lâu tôi mới ra. Tôi mà không ra thì lấy đâu chuyện để bà kể công?

“Bụp... bụp” lưng tôi đập liền vào hai mô đất cao như bị đánh, đau quá tôi khóc ré lên. Dì xuýt xoa:

- Nín đi cu Thừa. Dì xin lỗi. Đừng khóc! Khóc Tây nó nghe thấy thì chết.

Tôi nín bặt. Anh trai có lần nói: - Bọn Tây ác lắm! Ác hơn cả ông Ác trong chùa Thập Phương. Ông Ác ở chùa chỉ bắt những kẻ nào đến nghịch ngợm thôi, chứ bọn Tây bắt được, không có tội nó cũng giết. Tôi biết, anh trai nói phét, chứ thực ra, anh cũng đã biết thằng Tây mặt ngang, mũi đọc thế nào đâu.

Trời sáng dần. Đã nhìn rõ dòng người tản cư. Nét mặt ai cũng lộ vẻ căng thẳng, lo lắng. Đi cùng tốp với gia đình tôi là những gia đình ở cùng phố. Vô tư nhất là lũ choai choai, hợp thành một nhóm, vừa đi vừa nhảy lò cò, thi thoảng thò tay ngắt nụ sim, hoa mua và hoa đơn mọc hai ven đường. Những đứa trạc tuổi anh trai tôi được cõng, còn lũ oắt bọn tôi đều được gánh được địu sau lưng.

Có tiếng súng nổ vọng lại. Bố nói:

- Tây vào tới Phúc An rồi đấy!

Một người hàng phố góp chuyện:

- Không biết Việt Minh giữ được bao lâu?

Một người nữa:

- Nghe nói bọn Tây tràn từ Vĩnh Yên xuống; lính khố xanh nống từ Bắc Ninh sang. Người đồn mặt trận Thủ đô vỡ, Cụ Hồ và Chính phủ Việt Nam rút khỏi Hà Nội rồi.

Có tiếng thở dài, cả đoàn người im lặng, chỉ còn nghe thấy tiếng bước chân rậm rịch.

Dì đổi gánh cho mẹ. Mẹ gánh khéo hơn, lưng tôi không bị va vào những mô đất cao nữa.

Đoàn người đi dưới chân một dãy núi thấp như núi Thanh Tước, nhưng dài hơn nhiều. Chị nhớn bảo:

- Đến núi Thằn Lằn rồi.

Nhìn kỹ, dãy núi chạy dài hệt như con rắn thằn lằn đang rình mồi. Lấp ló trong rừng cây là con đường mòn ngoằn ngoèo dẫn lên núi. Trên mỏm núi nhô cao như đầu rắn, có hai cái nhà tròn trông như mắt rắn, lồi ra nhìn xuống đoàn người đi.

Bà Đỡ lên tiếng:

- Lô cốt của tụi Tây đấy!

Có tiếng người hỏi:

- Xây giỏi nhỉ?

- Chuyện! - bà Đỡ ra vẻ hiểu biết - Bắt phu phen khuân vác, phục dịch xây dựng chứ bọn nó làm gì được.

Thêm một câu hỏi:

- Bây giờ ai ở?

Vẫn là bà Đỡ trả lời:

- Đang xây dở thì bị quân ta đến. Bọn Tây bỏ của chạy lấy người - Câu cuối bà nói giọng tự hào.

Bố bắt chuyện:

- Bây giờ Việt Minh chạy, nay mai Tây về chiếm lại thể nào nó chả xây tiếp?

Không biết nói sao, bà Đỡ tảng lờ như không nghe thấy, nhưng ánh mắt nhìn bố như trách: “Ông mang tiếng người có học mà hỏi rõ ngớ ngẩn”.

Mẹ càu nhàu:

- Chuyện đại sự, mình biết gì mà tham gia.

Mẹ ý nhị gàn, sợ có người để bụng không nói nhưng chấp lời bố. Thời buổi nhiễu nhương, biết ai tốt hay xấu mà lường.

Đúng lúc bụng tôi đói, thì tất cả được lệnh dừng lại nghỉ. Người ra lệnh là bà Đỡ. Không hiểu sao ai cũng nghe bà ấy nhỉ? Tôi chợt nhớ mẹ kể: Ngay những ngày đầu giải phóng tỉnh lỵ Phúc An, bà Đỡ đã theo hẳn Việt Minh, được Ủy ban khởi nghĩa cho làm cán bộ y tế, cán bộ quyên góp tiền của cho Việt Minh. Bây giờ bà được phân công giúp dân Phúc An chạy tản cư ra khỏi vùng tự do. Chắc vậy nên ai cũng phải nghe.

Bà Đỡ đứng giữa mọi người, xốc lại chiếc bị đeo trên vai, thắt lại bao tượng bằng nhiễu tằm tơ, hắng giọng:

- Tất cả bà con nghỉ một lúc, tranh thủ ăn cơm xong ta lại lên đường. Từ đây vào tới khu căn cứ còn xa, mà chửa biết chừng còn phải vượt đèo Nhe sang Thái Nguyên.

Có tiếng hỏi:

- Ở những nơi ấy có chợ để chúng tôi làm ăn buôn bán không?

- Việc này không thấy các đồng chí Ủy ban Cách mạng nói - Bà Đỡ lúng túng trả lời - Tôi chỉ biết được lệnh dẫn bà con chạy vào núi tránh Tây, còn thế nào tôi không biết!

- Đem con bỏ chợ! - Một lời trách cứ.

- Nếu ông không muốn đi, ông có thể dẫn gia đình quay về! Cách mạng chỉ vận động chứ không ép buộc - Bà Đỡ nhìn thẳng vào mặt người vừa nói, trả lời.

- Lang vườn, mụ Đỡ mà ra dáng phết. - Có tiếng mỉa mai.

Bà Đỡ lặng im không đáp, giục mọi người: - Khẩn trương để còn đi. Nếu không, bọn Tây đuổi theo, bắt được sẽ giết hết.

Mọi người mở túi lấy cơm nắm cắt thành từng lát bày vào nón, hái lá cây thay đĩa xẻ muối vừng ra chấm. Mấy đứa trẻ chưa ăn quen, u oa khóc. Những cái mồm người lớn uể oải nhai. Chẳng ai muốn ăn vì lo lắng không biết ngày mai cơ sự sẽ ra sao?

Dì lấy cơm nhá, bụm miệng mớm cho tôi. Bà Đỡ đến chỗ hai dì cháu, vuốt má tôi, khen:

- Cu Thừa ăn ngoan hỉ! - Bà mở tã sờ xem tôi có tè dầm không, lấy tay vân vê đầu “chim” - Lớn lắm rồi, bao giờ lấy vợ nhớ cho cô ăn cỗ.

Tôi cong người giãy nảy không đồng ý. Bà cười:

- Đáo để, đáo để! Nó còn bực tôi từ hồi mới đẻ đấy mà. Nói cho con biết nhá! - Tay bà dí vào trán tôi - Sống được nhờ ba cái phát ấy đấy con ạ!

Mẹ đưa cho bà xắt cơm: - Ăn một miếng đi.

Bà Đỡ tay cầm, mắt nhìn bụng mẹ: - Thời loạn lạc đẻ ít thôi!

Mẹ liếc bố cười tủm.

 

5

 

Đêm hôm ấy, thấy thiếu em, mọi người trong trường nhốn nháo. Phòng Giáo vụ cho người tỏa ra khắp các ngõ đi tìm. Phân công người mò ở ao, chuôm, hồ, nơi em hay mang sách ra ngồi ôn bài.

Các cán bộ lớp được triệu tập khẩn trương. Thầy Hiệu trưởng đề xuất:

- Báo cho công an biết.

Tổ trưởng là người duy nhất biết em đi với ai, phát biểu:

- Báo cáo với các thầy, lúc chiều tan học, em thấy người nhà bạn Linh đến đón. Chắc gia đình có chuyện? Em nghĩ xong việc bạn ấy sẽ về trường nên không báo. Đề nghị nhà trường cho em về quê bạn ấy xem tình hình cụ thể.

(Câu chuyện trên về sau em được nghe kể lại. Nhờ đó mà em không bị kỷ luật vô tổ chức).

Mờ sáng, nghe tiếng gọi, bố ra mở cổng, Tổ trưởng trình bầy lý do. Bố nói:

- Có! Đêm qua, em nó về muộn, không kịp về trường. Tôi định hôm nay đến trường báo cáo xin các thầy cho em nghỉ mấy hôm. Khổ, con bé sốt xình xịch suốt đêm.

Nghe bố trình bày, em nằm giả vờ ốm ghê lắm. Tổ trưởng ngồi cạnh giường gọi:

- Linh... Linh... Linh mệt lắm phải không? - Bàn tay Tổ trưởng mát rượi áp lên trán em. Một luồng điện tự cảm xuất hiện, chạy dọc thân thể, ngưng lại nơi con tim, làm cho nó phập phồng, thổn thức.

Mắt nhắm, nhưng lòng em tràn xúc động, nước mắt ứa ra, toàn thân run run... Ngón tay thanh mảnh của Tổ trưởng nhẹ nhàng gạt những sợi tóc vương trên mặt, lấy khăn mùi xoa chấm cho em những giọt nước mắt. Chỉ những hành động nhỏ nhoi ấy mà làm cho trái tim em bừng tỉnh. Khoảng xa cách giữa em và Tổ trưởng như thấy thật gần, thật gần.

Chợt Tổ trưởng nói:

- Mình phải về để báo cho nhà trường biết. Linh cứ nghỉ ngơi cho khỏe, đừng lo lắng gì cả. Bài vở mình sẽ chép cho. Chiều nay, bạn bè trong tổ sẽ đến thăm.

Bàn tay mát rượi nhấc lên, khoảnh khắc chia xa nhen vào lòng em hụt hẫng. Nếu có thể, chắc lúc đó em sẽ ghì chặt bàn tay ấy, để mãi mãi truyền sang em một niềm tin, bù những nỗi sợ hãi mà đêm qua em gặp phải.

Bố, mẹ tiễn Tổ trưởng ra ngoài sân, em nghiêng đầu, hé mắt nhìn theo. Hình ảnh ấy, con người ấy, không ngờ là định mệnh theo suốt những năm tháng còn lại của đời em.

Ép em uống cốc sữa xong, mẹ bảo:

- Con lớn rồi, lựa người mà chơi. Mình là con gái nhà lành, hoàn cảnh nghèo, không với được những nơi cao xa đâu.

Bố ngồi dưới cuối giường, lật tấm chăn mỏng, xoa xoa vào mu bàn chân em, giọng trầm ấm, nhẹ nhàng:

- Bố mẹ có mỗi mình con, có mệnh hệ nào, bố mẹ nương vào ai? Con có thương bố, thương mẹ thì cố gắng học hành. Nay mai ra trường, công việc ổn định, ai thương yêu mình chân thật thì lấy. Đừng khôn ba năm dại một giờ con ạ.

Em nằm yên, lòng trào dâng một nỗi xót xa ân hận. Có những lúc như thế này mới cảm thấy tình thương yêu của cha mẹ vô bờ vô bến. Em thấy mình sao vô tình. Nếu đêm qua, sự việc xảy ra khác, em sẽ ăn nói thế nào với những người thân?

Đồng lõa với ánh trăng là màn sương bạc, là bàn tay ma quái chờn vờn khêu gợi, thân thể hừng hực đầy đam mê cám dỗ... Chỉ một giây phút tự quên trong khát thèm nữa thôi, bờ vực thẳm khôn cùng sẽ nhấn chìm một đời con gái. Em rùng mình, cố xua đi những hình ảnh đã qua. Dọc đốt sống, một luồng điện lạnh buốt, hãi hùng chạy suốt...

Mãi cho tới khi khuôn mặt của Tổ trưởng hiện lên, em mới xóa đi được những nỗi khiếp đảm vương vấn trong lòng. Người con trai hiền lành, ham học, lúc nào cũng để mắt đến em, chăm sóc em với sự nhút nhát, e dè. Những lần em cố tình ngang bướng cãi lại, Tổ trưởng chỉ nhìn em thầm trách móc, tuyệt nhiên không một lời nặng nhẹ.

Biết “thóp” Tổ trưởng thích mình, em lấy điều đó để trêu chọc lại. Bởi vì, trước Tổ trưởng, trái tim em không cảm thấy rung động. Như mách bảo đó là sự kiêu kỳ của người con gái được kẻ khác si mê. Muốn dằn vặt để người con trai hạ mình. Cùng với quan điểm của các bạn đồng giới, em dựa vào sắc đẹp trời phú, thay mảnh nam châm hút hồn các chàng trai. Hành động quá đà của tay thợ chụp ảnh là bài học chơi dao có ngày đứt tay cảnh cáo em. Nhờ đó, hình ảnh Tổ trưởng nổi lên như một trang nam tử có ý nghĩa. Em nhớ lại những buổi học thêm, nhớ vị ngọt bùi và mùi khét của bắp ngô nướng qua than; nhớ chùm hoa phượng và tiếng ve râm ran giữa sân trường; nhớ ngọn lửa cả lớp đi cắm trại bên bờ hồ Đại Ngọc.

Em lật tấm chăn ngồi dậy đi ra cửa. Nắng vàng yếu ớt lọt qua lớp mành cửa. Đã cuối thu, gió nhẹ đu ngọn tre, tiếng sáo diều trên tít tầng không Uuuuu... vọng về. Sao mà em nhớ trường, nhớ lớp thế không biết! Mới chưa đầy một ngày mà em tưởng như đã xa hàng tuần. Em ngồi bậu cửa mong các bạn tới. Không biết Tổ trưởng có giữ lời hứa đến thăm không? Có xa mới thấy những người quanh mình thân thiết làm sao!

Chợt em có cảm giác hình như có người nhìn từ phía sau... Em rờn rợn, tóc gáy dựng đứng, tim đập gấp... Em quay phắt lại. Không! Chẳng có ai, ngoài tấm hình bà ngoại. Đôi mắt Người nhìn em như trách móc sự nông nổi. Em tránh không dám nhìn lại, trong lòng cảm thấy mình như người có lỗi.

Bà ơi, giữa cuộc đời, cháu mảnh mai yếu ớt làm sao! Chắc bà sợ cháu của bà sẽ làm ô uế thanh danh? Không đâu bà ơi, đấy chỉ là sự lầm lỡ của tuổi trẻ. Bà đừng giận cháu bà nhé! Bà hãy phù hộ cháu. Hãy cho đôi chân của cháu cứng cáp bước trên đường đời đầy chông gai và gian khó.

- Linh làm gì đấy con? Đỡ mệt chưa mà đã dậy? Tiếng mẹ hỏi làm em giật mình.

- Mẹ ơi, mẹ kể về bà ngoại cho con nghe đi.

Tay mẹ cầm rổ ổi, những quả ổi da mỡ màng, nhìn thấy đã ứa nước miếng:

- Mẹ hái sẵn chốc nữa bạn con đến cho chúng ăn - Mẹ chọn cho em một quả. Quả này ở cành dưới gốc đây con, quả hái dưới gốc bao giờ cũng ngon hơn.

- Vâng! - Em đón trái ổi, nhắc lại câu hỏi - Mẹ còn nhớ gì về bà ngoại không?

- Thực ra, - Mẹ nói - Những chuyện hoạt động Cách mạng của bà là do những người cùng thời với bà kể. Bản thân họ cũng chỉ được nghe rồi nói lại. Chẳng biết có thật không? Nhưng dẫu gì thì gì, bà ngoại con là người thoát ly theo Cách mạng rất sớm. Chỉ tiếc những người công tác với bà đều hy sinh cả nên không có ai xác nhận công lao của bà để làm thủ tục công nhận bà là liệt sĩ, được cấp bằng chứng nhận gia đình có công với Chính phủ.

- Thế bức truyền thần kia, ai vẽ cho bà hả mẹ? - Em hói:

- Sau khi bà ngoại bị Tây bắn chết một thời gian, có người cầm bức truyền thần này đem về cho nhà. Mẹ chỉ nhớ ông ta cao, to, mắt bị chột đến nhà đưa cho. Lúc ấy cụ ngoại ôm mẹ, nhìn ảnh khóc nhiều lắm.

- Bà bị Tây bắn ở đâu hả mẹ?

- Họ nói ở đồi Thông, mé gần bệnh viện Phúc An. Bắn xong, bọn Pháp ra lệnh phơi xác bà mấy ngày, nhưng ngay đêm hôm ấy xác bà bị mất tích. Người thì bảo chúng bắn bà chỉ bị thương nên bà trốn thoát được. Người thì bảo Việt Minh có phép tàng hình vào cõng bà đi. - Mắt mẹ rơm rớm.

- Thế còn ông ngoại? Không có tin tức gì hả mẹ? - Mẹ cũng chỉ được nghe nói thôi! Đâu như ông bị bắt rồi bị đày ra Côn Đảo rồi chết ở đấy! Nếu không, ông đã về. Sau ngày giải phóng miền Nam, bố mẹ bàn với nhau: lấy ngày bà mất làm ngày giỗ ông ngoại luôn cả thể.

Em nghe rõ tiếng thở dài của mẹ.

Thêm một điều hôm ấy em mới biết: Không chỉ có ông bà nội có giỗ chung, mà ông bà ngoại cũng vậy.

Ngoài ngõ có tiếng xe đạp, em hồi hộp nhìn ra, quên bẵng chuyện đang nói với mẹ. Điều em mong là sự thật. Trước tiên, khuôn mặt Tổ trưởng hiện ra, sau, lố nhố các bạn cùng lớp. Nước mắt em trào ra ràn rụa, cố kìm lại, nhưng không được. Em òa lên khóc nức nở. Các bạn ùa vào xúm quanh; có ai đấy ôm lấy em, ghì chặt như sợ em biến mất. Mắt em nhòe nhoẹt, lòng em thổn thức.

Trong suối nước mắt của em hôm ấy, có hai dòng hòa lẫn: tủi hổ và xúc động.

 

6

 

Càng đi sâu vào rừng, đường càng khó đi. Núi Thằn Lằn lùi lại phía sau và nó trở nên thấp bé khi trước mặt chúng tôi là dãy núi Tam Đảo hùng vĩ mướt mát một màu xanh. Dòng người tản cư dãn dần thành từng nhóm. Gia đình tôi tụt lại gần tốp cuối. Bà Đỡ bảo:

- Đi cố, không đến tối không đến được địa điểm tập kết.

Ở rừng trời mau tối lắm, đoàn người len lỏi theo đường mòn dẫn vào một bản nhỏ. Truớc khi vào bản phải đi qua con suối cạn. Bà Đỡ nói ra về hiểu biết:

- Đây là con suối từ trên dãy núi Tam Đảo chảy về. Bây giờ nó ít nước trông hiền lành thế thôi, chứ vào mùa mưa, lũ tràn về khéo chạy không kịp.

Nghe bà nói, tôi nhớ cơn lũ năm bốn nhăm trong chuyện anh trai kể. Trong khi đó bà vẫn liến láu:

- Đây là vùng bà con người dân tộc Sán Dìu. Tuy họ ít học, xa thành thị, nhưng tấm lòng của bà con ở đây tốt lắm. Các đồng chí trong Ủy ban dặn tôi: Vùng Châu Lam là cái nôi của cách mạng tỉnh ta. Hồi hoạt động bí mật, chuẩn bị lực lượng cướp chính quyền, bà con người dân tộc nuôi giấu cán bộ, tích lũy lương thực, tinh thần Cách mạng cao lắm!

Tôi ngạc nhiên nghe bà nói. Mới tham gia hoạt động cho chính quyền được vài năm mà bà Đỡ nói như diễn thuyết, hiểu biết như người có học, ra dáng cán bộ.

Có tiếng hỏi:

- Nghe nói vùng này nhiều cọp lắm phải không?

- Hôm nọ - Bà kể - Họp cán bộ, có đồng chí người dân tộc vùng này ra kể: Cọp Tam Đảo về, ban ngày mà bắt mất hai con trâu thả trên nương.

Nghe thấy vậy, mọi người không ai bảo ai đi sát vào nhau. Chị nhớn cõng anh trai đi gần vào dì, tóm lấy cổ tay, mắt nhớn nhác nhìn sang hai bên rừng cây rậm rạp. Còn tôi nghe hãi són cả nước đái. Dì ca cẩm:

- Kể chuyện gì không kể, lại kể chuyện cọp với ma làm tụi trẻ sợ.

Bà Đỡ chừng như biết lỡ lời liền bảo:

- Mọi người cứ yên tâm. Bà con người dân tộc thiểu số ở đây sống quây quần theo làng như dưới xuôi ta, xung quanh làng có rào chống thú dữ.

Gọi là làng nhưng chỉ có vài chục nóc nhà lụp xụp, tum hủm, nhỉnh hơn mấy cái quán ở chợ Phúc An một tẹo. Chẳng thấy một người nào ra đón. Chiều sậm sùi, hơi nước bốc lên từ con suối cạn, cây cối im lìm. Nếu thi thoảng không có tiếng súng từ xa vọng lại thì có cảm tưởng đây là vùng đất chết.

Mọi người dừng lại trước hàng rào.

Gọi là rào chứ thực tế chỉ là nhũng cây tre gai vòng gác lên nhau trông sơ sài. Cổng ra vào là một tấm phên đan bằng tre, thưa huếch thưa hoác, lớn như bố tôi còn chui lọt, thế mà bà đỡ nói phét là thú dữ không vào được. Giá con chó vàng của nhà tôi chưa bị thịt mà đi theo thì một phát nhún là nó qua ngay.

Một người nhanh nhảu định đẩy cánh cổng. Bà Đỡ quát:

- Muốn ăn tên hay mác hả? Đứng đây chờ.

Quả thật, được một lúc, chừng như những người trong làng đã nhận ra chúng tôi, có ba người đi ra, mặc quần áo nhuộm nâu, vai khoác nỏ, lưng đeo ống tên, tay cầm dao cán dài, mũi cong, lưỡi mài sáng loáng. Người cỡ tuổi bố lên tiếng:

- Có phải dân Phúc An không vớ?

Bà Đỡ nhanh nhảu:

- Đúng rồi vớ. Cán bộ Cách mạng dặn cứ vào đến làng Đồng Câu sẽ có người dẫn đi. Có phải đây là làng Đồng Câu không?

- Đúng rồi! Làm mình chờ mỏi cả mắt. - Ông nói - Tối rồi, sáng mai con gà rừng có gáy thì đi vớ!

Ông phân vài gia đình vào một nhà. Nhà tôi và hai gia đình nữa vào một căn nhà một gian hai chái. Trông ngoài nhỏ mà vào trong rộng rãi ra trò. Mái nhà lợp cỏ gianh, tường trát đất vách, cột bằng gỗ mầu nâu, bóng nhẫy như bôi mỡ. Bố bảo:

- Cái nhà này làm toàn bằng gỗ quý.

Trong nhà không có đồ đạc, giường đóng bằng tre, kê sát nhau thành dãy dài. Trên tường bàn thờ còn nguyên, phía sau bát hương là những lá bùa giấy màu vàng viết chữ nho màu đen. Dì chọn một góc nhà đặt các thứ xuống như xí chỗ. Những gia đình khác cũng vậy. Tuy là nền đất nhưng được nện chặt, mặt phẳng lỳ. Anh trai nói:

- Được nền này chơi đáo hay bắn bi sướng nhất.

Chị nhớn lườm:

- Nặng như cối đá lỗ ấy! Ngồi trên lưng người ta còn nhong nhong.

- Em là lão Tàu ô, chị là con ngựa cho em cưỡi.

Chị hai, chị ba thấy dì rải chiếu liền nằm ềnh ra thở.

Mẹ nhấc tôi ra khỏi thúng, vạch vú nhét vào miệng:

- Khát lắm hả con? Chốc nữa, mẹ bảo dì chắt nước cơm cho con uống thêm.

Bố nói đúng: Phàm đứa nào cầm tinh con gì đều có đặc tính con ấy. Như tôi chẳng hạn, phàm ăn, vớ cái gì cũng ngậm vào mồm. Chưa bú đủ là làu nhàu, thậm chí còn lấy mấy cái răng sữa nhay đầu vú mẹ.

Bà Đỡ lăng xăng, đến hết chỗ này lại chỗ khác. Khi đến gia đình tôi, bà bảo:

- Dì nấu cho tôi ăn với. Nhưng tôi dặn này: Người dân tộc Sán Dìu coi trọng chuyện bếp núc lắm! Củi đun phải róc mấu sạch sẽ, khi nấu cho gốc vào trước. Ý nói: có gốc mới có ngọn, có trước mới có sau. Mặc dù bà con không có ở đây, mình vẫn phải giữ phong tục tập quán của đồng bào. Tôi dặn để mọi người giữ gìn. Còn bây giờ tôi sang phổ biến cho các gia đình khác.

Ối dào, vẽ chuyện! - Tôi thầm nghĩ.

Mẹ hỏi:

- Thế chưa đến nơi ư bà?

- Còn ốm! - Bà Đỡ trễ dài môi - Đây mới đến Đồng Câu. Còn mướt mới đến hang Dơi. Nếu cần phải trèo qua đèo Nhe chứ chả chơi. - Câu cuối bà nói như dọa.

Mọi người nhìn nhau, nỗi lo lắng hiện lên mặt. Nhưng dẫu sao vẫn phải ăn cái đã. Bếp chật, bố ra sân chọn ba hòn đá kê thành bếp. Dì lấy trong thúng ra cái nồi đồng điếu, dốc gạo ở trong bao tượng vào rồi đi ra suối. Dì bảo:

- Đứa nào đi với dì lấy nước về đun nước uống. Không chốc nữa tối mịt không lấy được.

Chị hai hỏi:

- Dì ơi, đựng nước vào đâu?

- Chậu thau dì để dưới đáy thúng ấy.

Những người đàn bà bắt chước đi làm theo. Đám đàn ông xúm lại một chỗ giở điếu ra hút thuốc lào.

Chị nhớn chừng như nguôi chuyện cưới xin, mặt bớt buồn rầu. Chị vào bếp bê từng đon củi được bó cẩn thận ra nhóm. Bố dặn:

- Nhớ cho đằng gốc vào truớc, bếp kê bằng đá tảng, đun nấu cẩn thận không mất ăn.

Ông già người dân tộc Sán Dìu đi qua nhìn chị nhớn đun, gật đầu tỏ vẻ hài lòng.

Anh trai nhặt que vạch xuống đất một vạch ngắn một vạch dài, cách nhau độ vài bước chân, mở túi lấy mấy đồng xu ra gạ mấy đứa cùng phố đến chơi. Một lúc đã thấy tiếng ồn ào, cãi cọ của lũ trẻ con.

Vài ba ngọn nến được thắp lên, dì cẩn thận đem theo chiếc đèn dầu, dì bảo:

- Nhà mình thắp đèn, khi nào hết dầu mới dùng tới nến. Quả thực dì là người chu đáo. Ngay trong công việc ở nhà, nếu không có dì là mẹ tôi thấy bấn bó vô cùng. Trên đường chạy tản cư, hầu như mọi việc đều một tay dì quán xuyến.

Nhà tôi dọn ăn sau cùng. Mẹ nói:

- Chờ bà Đỡ về cùng ăn. Người đâu mà tốt nết! - Mẹ khen - Thế mà lận đận vì đường tình duyên, nếu không đã chẳng mấy mặt con rồi đấy bố nó nhỉ?

Bố ngồi tựa vào vách, thở dài.

- Con người ta có số rồi, ai cưỡng được.

Chị nhớn buông đũa thẫn thờ, trời tối nên không ai nhìn thấy mặt chị ra sao, nhưng cứ nghe tiếng thở dài là biết chị buồn khổ lắm. Câu chuyện bố, mẹ nói về tình duyên của bà Đỡ làm chị không khỏi chạnh lòng.

Dì xới cơm cho chị hai, chị ba và anh trai ăn trước. Mẹ lấy đường hòa nước cơm chắt bón cho tôi. Nước cháo ngậy, tôi nuốt lấy nuốt để. Ngoài trời mịt mùng, gió bắt đầu thổi mạnh dần, xa xa vọng vào tiếng vượn kêu, nai tác, có cả tiếng hổ gầm. Mọi người ngồi nép vào nhau, những đứa trẻ sợ hãi hơn cả. Chúng tôi mang theo nỗi hãi hùng vào trong giấc ngủ.

Tôi giật mình choàng tỉnh vì có tiếng nói:

- Chờ gì tôi? Cứ ăn trước đi kẻo đói. - Đó là tiếng bà Đỡ - Cho bọn trẻ ăn rồi chứ? Tình hình gay lắm! - Bà chuyển sang nói với mọi người đến tập trung nghe bà phổ biến - Thưa bà con, Phúc An, Vĩnh Yên, Phủ Lỗ, Hương Canh mất sạch rồi. Bọn Tây đông quân lắm. Theo kế hoạch, ngày mai ta cứ lên hang Dơi đã. Nếu phải vượt đèo Nhe sang Thái Nguyên tính sau! Tôi chưa đi bao giờ. Nhưng nghe các đồng chí địa phương nói: Từ đây sang đấy toàn đường mòn, xuyên rừng, vượt núi, đi phải mất dăm ngày. Đấy là nói tới người khỏe, chứ bầu đoàn thê tử thế này dễ còn hơn chưa biết chừng?

- Thế bây giờ làm thế nào? Sao ở đây chẳng có một ai cả? - Mẹ hỏi.

- Bà con dân tộc ở đây đi từ hôm qua rồi. Ở đâu quen đấy! Họ coi rừng núi là nhà. Trên núi nhiều hang động lắm. Chỉ có ông Trưởng làng với hai du kích ở lại làm nhiệm vụ đón chúng ta thôi.

Bố hỏi:

- Bây giờ họ đâu rồi?

- Họ đi rồi, họ có trách nhiệm đi tiền trạm, đánh dấu lối đi. Ngày mai đường nào hai bên cây có dấu dao phát là ta theo lối ấy! Mọi người nhớ đấy! - Bà Đỡ dặn.

- Bộ đội với tự vệ đâu cả? - Bố lại hỏi.

- Họ có nhiệm vụ của họ tôi làm sao biết được?

Có tiếng xì xào, rồi tiếng người chửi đổng:

- Mẹ cha nhà nó, kêu gọi đưa nhau vào đây rồi bỏ của chạy lấy người.

Bà Đỡ giơ cây đuốc nứa lên, ánh sáng bập bùng, bóng bà cao lồng lộng, mắt sáng quắc, nét mặt đanh lại:

- Ai chửi đấy? Có giỏi chường mặt ra đây. Muốn theo Tây cứ về. Đây khổ vì mất của, mất nhà, mất độc lập, tự do nên chỉ đi theo cách mạng thôi. Có khó khăn mới cần phải nhờ nhân dân giúp đỡ. Mai này cách mạng thành công hỏi rằng ai hưởng? Có nhớ những ngày vừa qua không? Có ai bị Chính quyền đàn áp không? Có bị nộp sưu cao, thuế nặng không? Có nhớ mọi người nô nức họp mét tinh, đi bỏ phiếu bầu cử không? Sao mà chóng quên thế? - Bà Đỡ nói xơi xơi, hướng mặt về góc tối có kẻ vừa nói những lời kia.

Bố gàn:

- Thôi, mời mọi người về ngủ để mai lấy sức còn đi. Còn mời bà - Bố nói với bà Đỡ - Bà ăn cơm đi.

Chừng như vẫn bực bà nói:

- Tôi đề nghị: Gia đình nào muốn về, ngày mai cứ quay lại, Cách mạng không cần nhũng con người không chịu được gian khổ. Cụ Hồ và Chính phủ còn phải lên ở trên rừng nữa là nhân dân. Đấy! Tôi nói với bà con như vậy. Nếu ai đi, mai chúng ta dậy sớm đi tiếp. Nhưng tôi nói trước: Sẽ gian khổ và khó khăn đấy! Còn ai không chịu được trở về là tùy.

Bà đột ngột dừng lời, không một lời đáp lại, mọi người lục tục đứng dậy, có tiếng nuốt tiếng thở dài vào bụng. Bà Đỡ ngồi xuống, đón bát cơm từ tay dì trao ăn ngon lành. Hình như bà đã nói được những lời mình muốn nói, cũng như lời không muốn nói phải nói ra. Bà trút nỗi niềm vào những hạt cơm nóng hổi, chan nước suối đun thay canh, húp xoàm xoạp.

 

7

 

Tổ trưởng không bao giờ nhắc hay hỏi chuyện xảy ra giữa em và tay thợ chụp ảnh. Điều đó không mang lại cho em sự thanh thoát trong lòng, mà chỉ thừa nhận sự bao che, khỏa lấp dư luận chứ không là sự bao dung, độ lượng.

Bảo em lúc ấy có yêu Tổ trưởng không? Có thể nói là: Có! Và cũng có thể nói là: Không!

- Có! Vì sau cái đêm hãi hùng ấy, không hiểu sao hàng ngày, không gặp nhau một lần, chào nhau một câu là em thấy như mình còn quên việc gì không rõ, cứ canh cánh trong lòng. Kẻng báo ăn cơm, em ra khỏi phòng muộn hơn mọi người. Tay cầm bát, đũa, mắt ngó sang dãy nhà bọn con trai có ý chờ. Hình như Tổ trưởng cũng vậy. Thấy em ra, Tổ trưởng lúi húi đóng cửa, rồi lững thững đi xuống nhà ăn. Không hẹn, nhưng lúc nào hai đứa cũng gặp nhau đúng cửa ra vào. Hành động có vẻ vô tình, trái tim lại biểu hiện như cố ý.

- Không! Bởi Tổ trưởng thiếu hẳn cá tính mạnh của người con trai buộc người con gái khuất phục; biết cách chiều chuộng, quan tâm tới sở thích, tán tụng, trang điểm cho sắc đẹp, những hương vị rất lãng mạn nhưng cũng rất cụ thể. Ở bên Tổ trưởng, em tin tưởng, không một chút mảy may, nghi ngờ. Như người bị vấp ngã, được kẻ khác đỡ dậy, người ta thấy mình được che chở, được đùm bọc. Sự thánh thiện trong tấm lòng Tổ trưởng truyền sang trái tim, em không rung động vì ái tình mà cảm động vì lòng biết ơn.

Nhưng trong đời, nhiều khi trái tim chỉ là trái tim của mộng mơ, của hoài vọng... Còn lý trí lại là một lẽ khác. Không có sự tuyệt đối đồng hành cho trái tim và lý trí. Bởi vậy, sự hàm ơn của lý trí, buộc con tim em chấp nhận chừa một góc cỏn con dành cho người gia ơn.

- Có phải lúc nào người ta yêu cũng vì ái tình cả đâu, phải không anh?

Hết chuột chạy, mèo gào và bây giờ là tiếng gà gáy ò... ó o... o. Hải Linh dừng lời, ngả lưng vào tấm mền chăn. Đôi mắt nhắm, vầng trán nhăn lại, ánh sáng đèn hắt sang đá kẻ, chia khuôn mặt thành hai khoảng sáng tối. Chìm vào những kỷ niệm xa xăm.

Nguyễn Thừa đứng dậy, anh ra bàn lấy cốc, rót nước đem vào:

- Em uống một chút.

- Cảm ơn anh. - Bàn tay cô chạm vào tay anh khi cầm cốc, một tia điện cảm ứng xuất hiện làm Hải Linh thảng thốt, nhưng sau đó là cảm giác ấm dịu. Hải Linh ngước nhìn Nguyễn Thừa. Giá chi lúc này anh ôm em vào lòng, thì chắc em sẽ bão hòa, tan biến... Môi em sẽ môi anh cho thỏa nỗi khát thèm cháy bỏng bao lâu. Em sẽ không giữ nữa! Đời là gì nếu không có những giây phút si mê cuồng nhiệt? Người ta có sống lại được sau khi chết đâu? Mà nếu có được hồi sinh sang kiếp khác, thì chắc gì ta sẽ được gặp nhau? Giá chi, anh là nửa của nỗi khát thèm, bạo liệt, man dại, vần vã. Cộng với một nửa kia của si mê, dại khờ, chân thành, nhút nhát. Hai cái đấy, em đều khao khát. Em muốn có, muốn cùng anh làm tròn. Cho anh, cho em: của tình yêu và dục vọng....

- Em đang nghĩ gì đấy? - Nguyễn Thừa ngồi xuống chiếc ghế đối diện, hỏi.

Luồng suy tư, nỗi khát khao trong lòng Hải Linh bị ngắt bởi câu hỏi. Cô nhìn khoảng cách giữa cái ghế ngồi của Nguyễn Thửa và nơi mình ngồi, buông tiếng thở dài, mệt mỏi đưa cốc lên miệng nhấp một ngụm nước:

- Em đang nghĩ về em.

Đó là một thời gian đáng nhớ - Hải Linh kể tiếp - Kể từ khi xảy ra chuyện giữa em và tay thợ chụp ảnh, Tổ trưởng luôn tìm cách gần em. Từ việc học tập, đến những chiều thứ bảy Tổ trưởng lai em về nhà bằng xe đạp. Bọn bạn cùng lớp coi đó như là chuyện tất nhiên. Vả, tụi nó biết Tổ trưởng thầm yêu em, nên đồng lòng gán ghép, ủng hộ.

Nhiều lúc đi bên Tổ trưởng, thoáng những con mắt nhìn theo tiếc nuối, và những lời thầm thì bàn tán của cánh con trai trong trường, em thấy vui vui. Ai ngờ, dần dần mối quan hệ ấy lún sâu, ràng buộc em với Tổ trưởng như một điều tất nhiên, mang nặng danh dự hơn là tình yêu của chính trái tim.

Một chiều thứ bảy, như thường lệ, Tổ trưởng dắt xe đạp đứng đợi em ở trước khu nhà tập thể. Các lớp học cửa khép kín, sân trường vắng lặng, những chùm hoa phượng sót lại trên tán cành đỏ rực dưới ánh nắng chiều hôm. Em kéo lại quai chiếc mũ nan rộng vành:

- Đi thôi, Tổ trưởng.

Vừa nói, em nhảy lên xe, rồi lại vội nhảy xuống:

- Bánh sau non quá! - Em kêu.

Tổ trưởng nhìn bánh xe, lẩm bẩm:

- Vừa mới thay săm hôm qua, - Đưa tay nắn lốp xe - Linh đi dần ra cổng, mình vào lấy bơm, bơm thêm.

Em bỏ mũ, cầm ở tay, lững thững đi ra cổng thì gặp tay thợ chụp ảnh. Hắn ta đứng đấy từ bao giờ. Vẫn vậy:

Mớ tóc xù, lượn từng gấp, thả dài, ôm khuôn mặt, áo màu lòng tôm bó eo ếch trong đai quần màu tàn thuốc, chiếc máy ảnh trễ hông, xe máy màu trắng sứ dựng mé bên kia đường. Sự đối mặt đột ngột làm em lúng túng. Em chợt nhận ra trên mặt hắn có một vết sẹo nhỏ mầu son. Hắn chủ động.

- Tôi viết thư, sao Linh không trả lời?

Mặt em đanh lại, đôi mắt căm hờn nhìn hắn.

Không để ý tới thái độ của em, hắn trâng tráo:

- Anh biết, anh làm thế là sai, nhưng bởi vì anh yêu em!

Em phản ứng:

- Thế mà là yêu à? Có là anh định hại một đời tôi thì có!

- Anh yêu em thật mà... Anh van em, em đừng xa lánh anh. - Hắn van vỉ.

- Tôi không yêu anh! Anh về đi.

- Em nói dối! Anh biết vì em giận nên em nói thế. - Hắn nói như một điều khẳng định.

Em nổi giận:

- Ai yêu anh bao giờ?

- Có! Đã có lúc em có cảm tình với anh. Nhưng vì anh không kìm được, có hành động thô lỗ nên em giận.

Em im lặng, vì điều này thì hắn nói đúng! Trong đầu em, vài hình ảnh kỷ niệm đẹp hiện về. Mắt em liếc nhanh, nét mặt hắn thất vọng thực sự, thành khẩn. Khuôn mặt ẩn sâu trong mớ tóc lòa xòa, sầu muộn, đượm dáng một kẻ thất tình. Bỗng em có cảm giác lòng mình mềm lại, nỗi hờn giận nhường cho niềm thương hại.

Vừa lúc đó, Tổ trưởng đạp xe ra. Hắn và Tổ trưởng nhìn nhau trong giây lát. Một giây lát thôi, nhưng tinh mắt của kẻ nào cũng bừng bừng.

Tổ trưởng đạp xe lướt qua cạnh hắn, nói với em giọng thật ngọt:

- Linh, lên xe đi.

Em nhảy lên poóc-ba-ga, hất chiếc mũ ra phía sau, tay bám eo, áp má vào lưng Tổ trưởng (Hành động mà chưa bao giờ em làm cả). Không nhìn lại, nhưng gáy em nóng ran như phải bỏng.

Đi được một quãng, nghe tiếng xe máy. Em giả vờ không để ý. Tay thợ chụp ảnh cho xe tằng tằng đi sát gần, nói:

- Em sẽ không bao giờ thoát khỏi tôi đâu! - Câu nói lạnh tanh, âm thanh sắc lẹm, rồi lao vút đi, để lại khói và mùi xăng sống, xông vào khứu giác như nhắn bảo cho em một lời hẹn gặp.

Tổ trưởng hỏi:

- Tay kia nói gì với Linh?

- Kệ hắn! - Em nói lảng.

- Có phải hắn vẫn viết thư cho Linh?

- Có! - Em thừa nhận - Nhưng Linh không đọc, nhận được là đốt. - Câu này em nói dối.

Tổ trưởng đồng tình:

- Đốt là phải! Quan hệ với loại người ấy làm gì.

Em im lặng. Tiếng bánh xe vo vo, thi thoảng có tiếng xích va vào hộp quẹt... quẹt.... Tổ trưởng càu nhàu:

- Xích vừa căng hôm nọ xong.

Nói chưa dứt lời, chân Tổ trưởng hụt chúi về phía trước. Chiếc xe loạng choạng, chuệch choạc lao xuống mương nước. Em nhảy vội, chân trượt guốc, cả người khuỵu, mất thăng bằng, ngã lăn ra bãi cỏ ven đường. Ngoảnh lại, Tổ trưởng ngã ngồi trên đường, chiếc xe đạp trôi tuột xuống sát bờ mương, đổ nghiêng, cái bánh sau quay tít.

Tổ trưởng nhổm dậy hỏi:

- Việc gì không Linh?

Em không trả lời, miệng méo vẹo, đau ứa nước mắt. Tổ trưởng vục dậy, chạy tới nâng em lên, vạch ống quần xem xét chỗ tím ở ống chân, tay xoa, mồm kêu xót xa như chính mình bị đau vậy.

Xoa, bóp một lúc lâu chân mới đỡ, bấy giờ em mới để ý thấy ống quần Tổ trưởng toạc một miếng, da nhiều chỗ xây xát, nhướm máu. Em hỏi.

- Có đau không anh?

Đôi mắt hiền lành chớp chớp.

- Ran rát đôi chút! Có điều bây giờ hai đứa phải dắt bộ, vì không có gì để tháo hộp xích.

Đường xa ngái, tít tắp mới thấy rặng tre quanh làng. Nắng tắt dụi. Xa xa, trên đỉnh đồi Thanh Tước, màn trời chuyển màu sẫm, đôi ba ngôi sao mọc sớm nhấp nháy, tiếng: Ơ... uôm... ơ... uôm của ễnh ương từ bờ chuôm dưới đồng vọng tới, tấu theo là dàn nhạc côn trùng nỉ non rên khóc.

- Linh ngồi lên xe, mình dắt - Tổ trưởng nói.

- Không! Em đi được - Em chối từ, cố gượng bước.

- Không! Linh cứ ngồi lên, mình biết chân Linh bị đau lắm! - Tổ trưởng dừng xe lại kiên quyết.

Đường vắng, thi thoảng mới có chiếc xe ô tô chạy qua. Có gã lái xe, cho xe đi từ từ, thò cổ ra khỏi buồng lái trêu:

- Có dám cho vợ lên ca- bin không? Tớ đỡ một quãng?

- Bao giờ cho đến tháng mười nhá! - Tổ trưởng dùng tên một bộ phim đối lại.

Bánh xe ô tô lăn đi, tiếng cười khanh khách của người lái xe để lại. Ngồi trên poóc-ba- ga, em cười mỉm.

Trời tối hẳn thì về đến ngã ba. Tổ trưởng bảo:

- Hôm nay về làng anh trước! (Tổ trưởng xưng anh lần đầu tiên) Chữa hộp xích xong, anh lai Linh về?

- Nhưng... - Em ngần ngừ - Nhỡ làng anh phát hiện ra em, họ đuổi đánh thì sao?

- Sao lại đánh? - Tổ trưởng quả quyết - Không ai dám đánh người yêu anh cả - Tổ trưởng buông một câu rất bạo.

- Yêu nhau bao giờ mà anh vơ vào?

- Thì anh cứ nói đi là vừa - Câu trả lời rất bài bây

Tổ trưởng dẫn em nào một nhà ngay đầu làng. Em đứng ngoài cổng, không vào. Chủ nhà xách đèn bão đi ra, mời:

- Mời cô vào nhà nghỉ chân, uống nước.

- Xin phép bác, cháu đợi ngoài này cũng được. - Em từ chối.

Rất may, ông ta không nhận ra em là người làng Quyết Chiến. Ông đi vào, em nghe tiếng ông hỏi Tổ trưởng;

- Người yêu cậu đấy à?

- Dạ, là bạn! - Tổ trưởng trả lời.

- Chắc còn xấu hổ? Người quê đâu ta? Tôi nghe giọng như quanh vùng ta?

Không thấy tiếng Tổ trưởng trả lời. Em chắc Tổ trưởng không dám nói. Cách đây ít ngày, về nhà, mẹ kể: Chuyện tranh giành khu đầm Vực căng lắm. Nghe nói, cán bộ trên tỉnh về giải quyết còn bị dân bắt trói, nhốt nửa ngày mới thả ra.

Được một lúc, Tổ trưởng dắt xe ra, tiếng líp xe nảy tanh tách. Người đàn ông tiễn chân ra cổng chào:

- Cậu với cô lại nhà.

Em ngượng, lí nhí chào lại. Chiếc xe đạp bon chạy, ánh sáng từ chiếc đèn tỏa rộng, soi rõ từng viên sỏi ruồi, lẫn trong cát, lạo xạo dưới bánh xe. Thấy đi đường lạ, em hỏi:

- Anh đưa em đi đâu thế này?

Tổ trưởng nói:

- Anh muốn Linh đi với anh đến một chỗ?

- Chỗ nào?

- Đến em sẽ biết! Anh có chuyện muốn nói với em.

- Chuyện gì anh nói ngay ở đây không được à? Sao cứ phải đi đâu? - Nói xong, em nhảy xuống xe.

Tổ trưởng phanh xe, miệng nằn nì:

- Còn sớm, về làm gì vội? Em và anh, chúng ta sắp xa nhau rồi.

- Sao lại xa nhau? Anh đi đâu? Lấy vợ à?

- Không! - Tổ trưởng nói vội - Ý anh nói, tốt nghiệp rồi, nay mai mỗi đứa đi một nơi, không có điều kiện gặp nhau.

À! Tự nhiên em thấy lòng mình se thắt. Chẳng gì cũng gần ba năm trời học hành với nhau. Bao kỷ niệm cùng nhau dưới mái trường. Em hỏi:

- Anh bảo đảm Linh đi với anh không xảy ra việc gì chứ?

- Lấy danh dự anh xin thề! - Giọng Tổ trưởng chân thành.

Đêm hôm ấy không có trăng, nhưng trời sáng. Những chòm sao dày đặc tít mãi trên cao, dải ngân hà trải rộng. Lưng ông Thần nông cong như chiếc cần câu thả xuống sông. Cạnh đấy là con vịt bơi, mắt nhấp nháy, lấp lánh. Những ngôi sao bồng bềnh trong mây, lúc lúc lại ngó ra, ẩn nấp như chơi trò ú tim.

Nơi Tổ trưởng đưa em đến là đằng sau ngôi chùa ven làng Quyết Thắng. Mẹ bảo:

- Ngày mẹ còn nhỏ, hai làng chưa xích mích, vào hội, mẹ hay sang xem diễn tích chèo, xem vật, chơi đu. Hội làng bên ấy giống như hội bên mình, hệt nhau, cùng thờ Đức Thánh Trần. Thế mà không hiểu tại sao hai làng sinh ra thù oán?

Chọn một bãi cỏ dày, êm, Tổ trưởng nói:

- Em ngồi xuống đi. (Câu nói giống hệt câu của tay thợ chụp ảnh).

Em ngồi xuống, Tổ trưởng cũng ngồi xuống. Nhưng lần này, người giữ khoảng cách là Tổ trưởng chứ không phải em. Em bứt cọng cỏ đưa lên miệng nhấm. Tổ trưởng mở trong cặp ra một gói bánh, đưa cho em:

- Linh bóc cho anh.

Đấy là gói bánh quy mặn, loại em thích ăn. Em hỏi:

- Anh mua bao giờ? Sao em không biết?

- Nếu để biết thì còn gì là bất ngờ nữa?

- Còn gì bất ngờ nữa không? - Em hỏi.

- Còn! - Tổ trưởng trả lời - Chốc nữa em sẽ biết!

Em bày hộp bánh lên mặt chiếc cặp. Tổ trưởng rút trong túi áo ngực ra hai cây nến kẹp trên cái giá gỗ nhỏ, bật lửa châm. Tiếng lách tách từ ngọn nến phát ra, ánh sáng tỏ dần. Đột nhiên, Tổ trưởng quỳ xuống trước mặt em, giọng tha thiết:

- Anh không biết bắt đầu nói với em như thế nào? Nhưng tự trong trái tim, anh đã thề sẽ phải yêu được em. Linh ơi, còn vài ngày nữa chúng ta đã xa nhau rồi. Nếu hôm nay, anh không nói được với em lời này, anh sẽ không bao giờ đủ can đảm để nói nữa. Và, như vậy, suốt cuộc đời trái tim anh sẽ héo mòn vì cằn khô. Xin em đừng nói lời từ chối. Xin em đừng tàn nhẫn với anh. Linh ơi! - Sau lời gọi da diết, kẻ tỏ tình, rút từ túi ngực ra hai chiếc hộp nhỏ. Một chiếc hình trái tim, một chiếc hình chữ nhật. Giơ lên, đưa về phía em, giọng như gần khóc. - Em là người hoặc ban ơn tình yêu, hoặc là ban cái chết cho anh. Nếu Linh chấp nhận, Linh hãy nhận chiếc hộp hình trái tim, và coi đấy là lời cầu hôn của anh. Còn nếu khước từ, em hãy trao cho anh chiếc hộp hình quan tài, mà anh hứa không một lời trách cứ.

Em như kẻ chết đứng. Hoang mang, bàng hoàng trước lời tỏ tình si mê đến cuồng dại. Em không nghĩ rằng sự việc lại đến như vậy. Em cấu vào tay xem là thực hay là mơ. Nào em đã có kinh nghiệm gì về tình yêu đâu để mà tĩnh trí, xử sự?

Em thực sự run sợ trước lời cầu hôn của Tổ trưởng. Giọng người con trai một nửa như ru, nửa kia như hăm dọa. Em mất hết nhuệ khí, chút nhuệ khí tri thức vừa được bôi lên cho kẻ học đời muốn làm người am hiểu. Em hiện nguyên hình là đứa con gái nông thôn, thuần phác, vào đời còn mang hẳn cả cánh đồng lúa trên vai, mang cả nỗi đau khổ, nghèo khó của quê hương, nỗi nhọc nhằn và sự đau đớn của cha mẹ.

Ngơ ngác, bần thần trước sự van xin, trước hành động thái quá, em lẩm bẩm:

- Anh... Đừng... đừng... đừng làm thế! Đừng làm thế anh...

Giọng kẻ si tình vẫn thiết tha:

- Không! Em hãy trả lời anh, hãy là người trao cho anh niềm hạnh phúc. Còn nếu không, anh xin được chết bên em.

Anh ta nhắc tới cái chết làm em sợ. Em nghĩ tới những vụ án báo chí đăng, vì thất tình mà nhiều đôi ôm nhau nhảy xuống sông, hồ tự vẫn; cùng nhau uống thuốc độc, hoặc treo cổ quên đời. Hình ảnh ấy chập chờn hiện lên, nỗi kinh hoàng làm em khiếp đảm. Mà em thì không muốn chết. Đột nhiên, như có kẻ xui khiến, em nhổm dậy, quỳ xuống, miệng lắp bắp:

- Đừng dại dột nghe anh. Em chấp nhận... em chấp nhận.

Sau câu em nói, cùng một lúc, cả hai đứa ngã nhào vào nhau. Lửa nến vụt tắt, bãi cỏ là đệm êm, bầu trời là màn, gió mơn man da thịt như quạt. Người em như tan loãng, không còn trời, không còn đất. Cả hai thân xác quằn quại, mang theo hai tâm hồn, bềnh bồng trôi lên ngàn lớp sóng, lạc vào cõi hư vô. Sự cảm nhận hòa quyện, hưng phấn bản năng vươn tới tột cùng của bạo liệt, dâng hiến, khát thèm trao, nhận. Một cảm giác đau nhói ở thể xác làm cho em bừng tỉnh. Nhưng sau đau xé và bừng tỉnh là cơn mê đắm, sự khoái cảm dâng lên, dâng lên đến tột cùng.

 

8

 

Dự định sáng sớm đoàn người sẽ lên đường, ai ngờ, mệt quá. Khi ánh nắng le lói chiếu vào cửa mọi người mới bừng tỉnh. Bà Đỡ chồm dậy, người vặn vẹo, miệng ngáp dài:

- Xin nhận khuyết điểm. Mệt quá nên tôi ngủ quên.

Chẳng ai nỡ trách, lục tục gấp chăn màn chuẩn bị lên đường. Suy cho cùng, bà Đỡ không gia đình, không con cái ràng buộc, chẳng qua bà được chính quyền phân công theo giúp đỡ mọi người mà thôi. Ở Phúc An này, nhà nào ít nhiều chẳng mang ơn bà? Dân Phúc An nghèo, gặp lúc ốm đau, bệnh tật chẳng đến nhờ bà còn nhờ ai?

Vào nằm viện, lấy đâu ra tiền? Các ngài đốc-tờ Tây khinh người Việt ra mặt. Kẻ nào có tiền mới được nằm, được chữa bệnh. Còn không tiến. A lê hấp! Về! Thế là phải đến nhà bà Lang, nhờ bà xem bệnh, bốc thuốc. Bà Lang nhận hết! Bệnh nào bà cũng chữa. Như đã nói ở phần đầu: Bà chữa bệnh bằng mọi thứ lá, nhưng chủ yếu bằng lá ngải cứu. Bà bảo:

- Cây thuốc nam của ta mọc khắp nơi. Đặc biệt là cây ngải cứu. Dễ trồng, dễ hái. Đối với người bị hỏa “nó” hạ nhiệt, người bị nhiệt hàn “nó” điều tiết trung hòa. Người nào bệnh cấp, hoặc sắp chết dùng ngải cứu còn có thể cứu sống.

Phần nữa cần nói là: Mỗi tờ giấy điểm chỉ của bà, chứng nhận một sinh mạng ra đời. Nói ngay cả thời trước Cách mạng tháng Tám cũng vậy. Tỉnh Phúc An cũ, ông Hội Lệ làm cho Tây, thay mặt người Việt cấp giấy khai sinh, còn phải căn cứ vào ngón tay cái của bà Đỡ điểm chỉ mới dám viết chữ quốc ngữ vào cạnh phần Pháp ngữ.

Trở lại buổi sáng hôm ấy. Khi bình tĩnh, bà lướt nhìn tất cả mọi người, rồi lẩm bẩm:

- Thiếu năm gia đình. Chắc là các vị không chịu được khổ, quay về đêm qua rồi. Thôi, kệ họ! Ai theo bên nào không ai bắt buộc - Nói rồi bà nhìn khắp lượt mọi người - Còn tất cả, tôi nhắc lại, cứ căn cứ vào dấu dao chặt – khắc hai bên đường mà ai.

Đến lúc bà nói, mọi người nhìn nhau mới phát hiện ra: Đó là năm gia đình giàu có ở thị xã đã bỏ về trong đêm. Nghe mọi người xôn xao, bà Đỡ nói:

- Cách mạng cần những con người một lòng, một dạ theo kháng chiến. Cụ Hồ dạy: Muốn đánh đuổi được bọn Tây là phải trường kỳ.

Có tiếng người hỏi:

- Bà Đỡ ơi, Kháng chiến trường kỳ là gì?

Bà Đỡ ớ ra không giải thích nổi. Thấy vậy, một người đi cùng đỡ lời:

- Không nên móc máy nhau. Đã ở hoàn cảnh này phải chụm nhau lại mà giải quyết. Đây không phải là lúc bất bẻ.

Bà Đỡ nhìn người đó cảm ơn, rồi nói:

- Tôi là người ít chữ, cấp trên bảo thế nào, nhập tâm nói lại thế. Nếu ai biết xin giảng giải cho tôi và mọi người cùng nghe.

Bố thủng thẳng giảng giải:

- Chữ kháng đồng nghĩa với đối kháng, kháng cự. Còn chữ chiến, đồng nghĩa với chiến đấu, chiến trận, chiến tranh. Còn như hai chữ trường kỳ, là Cụ Hồ dạy ta: Tuy đã giành được Độc lập, nhưng nay quân Pháp còn mạnh, muốn đánh thắng được bọn giặc, ta phải xác định thời gian Kháng chiến lâu dài. Không tính năm, tính tháng. Đến bao giờ quân ta mạnh, đủ sức sẽ chiến đấu. Chiến đấu đến bao giờ thắng lợi như hồi năm bốn nhăm thì thôi.

Nằm trong thúng, tôi nghe chẳng hiểu gì, mà chỉ thấy mọi người im lặng nghe. Có vài ba người gật gật ra điều đã hiểu. Riêng bà Đỡ gật đầu theo nhịp bố nói, mặt rạng rỡ trong ánh nắng mặt trời.

Trong khi đó, dì buộc lại quang thúng, chị nhớn gấp chiếu, thu dọn đồ đạc, chị hai, chị ba ngồi ngáp, có ý còn muốn ngủ nữa, mẹ vét chút ít cơm nguội còn lại trong nồi từ hôm qua chia cho anh trai một bát, còn lại bốc, nhá, nhét vào miệng tôi. Cơm có mùi ôi ôi, nhưng vì sữa mẹ ít, tôi bú không no, nên dẫu thiu, lưỡi tôi vẫn nhận ra vị ngọt của bột cơm ngon, ngọt hơn bao giờ hết.

Dì rút kinh nghiệm, hôm nay buộc quang cao, nên mông đít tôi không bị va vào những mô đất nữa. Tôi thấy mình gần với trời và ngọn cây hơn. Giơ chân tay, tôi đùa với hoa nắng xuyên qua cành lá hai bên đường. Thi thoảng anh trai ngồi trên lưng chị nhớn cõng, tay tóm vai chị như cầm cương ngựa, mồm líu lo:

- Nhong nhong nhong/ ngựa ông đã về / cắt cỏ bồ đề / cho ngựa ông ăn.

Chị nhớn càu nhàu:

- Chị không phải ngựa cho em cưỡi đâu nhá!

Đúng là trẻ con, dù ở hoàn cảnh nào vẫn vô tư như chẳng có gì mà lo lắng, chẳng có gì phải phiền muộn.

Đường đi càng lên cao, dốc dài như vô tận, những vết dao chém vào thân cây, khắc dấu hướng đoàn người đi, ứa nhựa thâm đen, như một vết thương rỉ máu. Bà Đỡ nói:

- Đến đường rẽ vào hang Dơi ta nghỉ giải lao. Từ đấy lên hang Dơi phải lội theo đường suối mà vào. Mà đằng nào cũng phải chờ ở đấy để nhận tiếp tế gạo và muối.

Nhưng biết đến lúc nào mới đến hang Dơi? Mọi người lặng lẽ bước, cái nóng bức bối, đàn ruồi vàng vo ve bay theo, nhiều con bu vào mặt, vào gáy, chân tay. Dì vừa gánh, vừa lấy cành cây xua. Bố nhặt được cái đòn xóc của ai vứt bên đường, buộc túm tó các thứ lại gồng lên vai. Mồ hôi bố chảy ra, ướt đẫm như tắm. Mẹ cõng chị ba, dắt chị hai miệng thở dốc.

Nằm trong thúng, tôi ngóc đầu nhìn các gia đình khác: Nhà nào cũng vậy. Còn riêng bà Đỡ, lúc đi vượt lên đầu đoàn, lúc tụt lại sau, luôn mồm:

- Cố gắng lên! Nay mai Cách mạng thành công tha hồ sướng.

Nghe vậy biết vậy. Cứ thế này thì biết bao giờ mới được như bà nói?

Lên đến gần đỉnh núi, cây cối thưa, mặt đường phẳng dần. Khi sắp tới đường rẽ vào hang Dơi bỗng nghe có tiếng máy bay “rẹtrẹtẹtrẹtrẹ...” trên đầu. Bà Đỡ quát:

- Tất cả nằm xuống! Đề phòng máy bay địch bỏ bom!

Mọi người vừa tản ra núp vào hai bên đường thì hai chiếc máy bay màu bạc óng ánh, thân hình như cánh phản lao xuống. Có tiếng kêu:

- Tàu bay khu trục đấy! Coi chừng nó bắn!

Lời chưa dứt, hàng loạt đạn nổ, đinh tai, nhức óc. Khi hai chiếc máy bay vọt lên, từ đuôi, mấy quả bom đen chùi chũi rơi xuống. Dì lao đến bế thốc tôi ra khỏi thúng, lấy hai tay ghì chặt tôi vào lòng, chạy tới, núp cạnh một cồ đá to cạnh đường đi, hai chân quỳ, mông chổng lên trời. Tôi lắc đầu không chịu, lách sang một bên sườn, ngó đầu ra nhìn: Sau ba, bốn tiếng nổ rền vang, những cụm khói dựng đứng đen ngòm mỏm núi phía xa, cây cối bị cắt ngang đổ như ngả rạ. May, không có quả bom nào rơi ở chỗ đoàn người Phúc An đi tản cư.

Cắt bom xong, hai chiếc máy bay vút lên cao. Tiếng ầm ì xa dần. Mọi người lồm cồm bò dậy. Phía sườn núi có bom rơi, những cụm lửa bốc cao, cháy rừng rực. Bà Đỡ giảng giải:

- Nó bắn ở hang Dơi, vì đấy là nơi có bộ đội. Còn lửa dễ bắt cháy vì đấy là rừng thông.

Khói đen dựng thành cột, loang rộng, xém vàng lan tỏa cả một vùng. Tiếng cây cháy gặp lửa nổ lép bép, mùi nhựa thông vừa thơm nồng vừa khó ngửi.

Đoàn người tản cư tiếp tục lên đường, khuôn mặt từng người hiện rõ vẻ lo âu vì không hiểu rồi con đường này sẽ dẫn mình đi tới đâu? Sau loạt bom ấy, có thêm vài gia đình cố ý đi tụt lại phía sau. Bà Đỡ biết, nhưng cố tình lờ đi. Bà tự hiểu, mình chỉ là mụ lang vườn không hơn không kém. Ai tin bà? Nhiều người sợ mà phải đi, chẳng qua ngại bà “tâu, hót” lại với cán bộ Việt Minh, sẽ bị trả thù. Bà mặc, ai hiểu sao ra thế. Bà sống với mọi người bằng tấm lòng. Cái gì tốt bà theo. Mà đã theo, bà sẽ theo đến tận cùng, nhưng chuyện nhân tình thế thái, bà rõ lắm. Tiếng trú ngụ ở chùa Nhuế, nhưng thực ra, nghiệp làm phúc bà mang bao trùm khắp tỉnh. Nhà nào thế nào sao bà chẳng biết! Nhưng trời cho mỗi gia đình một nhà, cho mỗi người một tính, biết sao mà lường. Thôi, mình cứ sống cho hết lòng - Bà nhủ vậy.

Dân tiểu thị ở Phúc An vốn tứ xứ quần cư, tinh ranh vặt vãnh. Thêm sự giao lưu buôn bán nhỏ, manh mún lại càng khiến họ có tầm nhìn quẩn quanh. Bên cạnh đó, sự đổi thay của thời thế, làm cho người ta không biết thế nào mà lần. Không dám đặt lòng tin nhiều vào ai. Đối với họ, chính trị là chuyện động trời, động đất. Đùng một cái, Tây, Nhật đánh nhau; đoàng một cái, Việt Minh cướp chính quyền. Độc lập tự do được vài năm lại phải bỏ nơi chôn nhau cắt rốn để lên rừng. Kẻ nói:

- Tưởng Việt Minh mạnh lắm?Ai ngờ bây giờ phải bỏ chạy.

Người bàn:

- Tình thế này chưa biết ra sao? Không biết theo ai sẽ được yên thân? Tây, Nhật súng ống, xe cộ rầm rầm mà còn chẳng ăn ai, huống chi mấy ông đội mũ ca lô, mặc áo trấn thủ, năm người có một súng, còn lại lấy đòn càn để chống với xe tăng, tàu bò?

Bố nói:

- Chỉ mong bình yên để buôn bán làm ăn, nuôi dạy con cái...

Mẹ thở dài:

- Loạn mãi thế này biết chạy đâu cho yên?

Bà Đỡ nghe mọi người câu ra, câu vào, bà cũng chẳng biết thế nào. Những điều phổ biến của cấp trên bà phổ biến hết rồi, còn những điều dân tản cư phàn nàn thắc mắc thì bà không giải thích nổi. Đưa họ đi thì được, nhưng nếu không đến nơi, đến chốn, không kiếm ăn được, khổ, họ chửi cho mục mả. Nghĩ vậy, chờ mọi người tập trung nghỉ ở lối mòn rẽ vào hang Dơi, bà nói:

- Thưa bà con, chúng ta đi hôm nay là ngày thứ ba rồi. Tôi vừa được cấp trên chỉ thị: Dẫn bà con vượt đèo Nhe sang Thái Nguyên. Ta phải vượt qua đỉnh núi kia - Bà chỉ về phía có dãy núi cao gần chạm trời, nói tiếp - Sẽ rất gian khổ, vất vả. Đến đây, tôi cũng không biết nói thế nào với bà con. Vậy nên... - Bà ngập ngừng một chút rồi quả quyết - Dù ở đâu ta cũng phải một lòng theo Cách mạng, phải nhớ những ngày được tự do vừa qua. Còn bây giờ, chẳng qua vì tình thế bắt buộc, Việt Minh phải tạm lánh vào rừng, nhưng rồi sẽ có ngày quay trở lại.

- Chuyện ấy nói mãi rồi, có gì nói toẹt ra lại còn... - Có tiếng nói trong đám đông.

Bà Lang nói tiếp như không để ý: - Lương thực để ăn thì không ngại, đã có bà con người dân tộc giúp đỡ. Nhưng còn chuyện nếu sang đến Thái Nguyên, chuyện làm ăn, buôn bán tôi cũng không biết thế nào? Vậy tùy bà con, ai theo được thì theo.

Sau thời gian nghỉ giải lao. Khi tiếp tục lên đường, lại thêm mấy gia đình cố tình tụt lại phía sau. Họ ngại nói ra, còn bà Đỡ và mọi người lờ đi như không biết. Bà Đỡ nói rồi mà: Ai theo được thì theo, tùy tâm!

Tôi bỗng thấy dưới rốn đau quặn, có tiếng kêu “ọc... ọc... ọc” sau lớp da bụng. Từ đít, cứt cứ chảy ra. Tôi oằn người. Dì hạ gánh cạnh vệ đường, đưa tay sờ, bỗng dì rụt tay, miệng kêu:

- Ỉa đùn rồi! Đồ “chó con”! - Dì mắng, lật nghiêng người tôi, lấy mấy tờ giấy bản lau vội vàng vì tôi giãy lên như phải bỏng.

Người tôi cong ngược lên như cầu vồng chống trả lại con đau. Không hiểu sao mà đau thế? Trong bụng như có hàng trăm ngàn mũi kim đâm, hàng ngàn mối dây xoắn ruột mà vò, mà xé, mà co, mà kéo. Tôi gào, ngặt nghèo vì đau. Mẹ chạy lại hỏi:

- Cháu sao thế? Dì đưa nó cho tôi. - Mẹ ấn đầu vú vào miệng tôi - Con bú đi.

Tôi lấy tay đẩy ngược, gào, khóc, lắc đầu không thèm ngậm. Cơn đau quằn quại tưởng như không dứt. Cả nhà thấy vậy đều quay lại, xúm xít quây thành vòng nhìn tôi. Qua làn nước mắt, bóng hình người thân của tôi nhòe nhoẹt. Tôi loáng thoáng nhận ra những gương mặt lo âu của mọi người. Nhưng khác hẳn với lòng kiêu hãnh lúc sắp được sinh, tôi không trêu đùa được nữa. Miệng thì khát, nước cứt ở đít tự động chảy ra, lổn nhổn vừa hòn vừa nước. Những cơn vò xé từng đợt hành hạ. Tôi nghe tiếng mẹ:

- Không biết nó làm sao? Bố nó chạy lên tìm bà Đỡ.

- Bà Lang chứ! - Bố cãi.

- Ối giời ơi! - Mẹ cau có cằn nhằn quát bố - Bà Lang hay bã Đỡ vẫn là một lại còn phải nói! Đi mau, không thằng bé chết đến nơi rồi kia kìa.

Bố chạy vội xuống dốc, vượt lên phía trước tìm bà Lang.

Nghe mẹ nói tới cái chết, thằng “tên” thò cổ ra bảo tôi:

- Cậu chết thì chết! Chứ tớ chưa muốn chết.

Nghe thằng “tên” nói, tôi cố nén cơn đau đáp trả:

- Cậu là thằng tôi. Bố đặt tên để gắn liền cậu với cuộc đời tớ. Sống chết phải cùng nhau, ai ngờ cậu hèn vậy?

Thằng “tên” cười khẩy:

- Không ai muốn chết ở cái tuổi mới biết bò cả. Cậu là người, muốn sống phải giữ gìn, ăn uống bậy bạ cho thỏa cái miệng, không biết giữ chừng mực, điều độ, bây giờ bị đau đớn sướng chửa?

Tôi lập tức cãi:

- Người ta đói thì phải ăn, khát thì phải uống! Không ai như cậu: Chỉ là một cái tên, không cần ăn, chẳng cần uống vẫn sống. Ngoài chức danh Nguyễn Văn Thừa để gọi, cậu chẳng biết gì sất! - Tôi cay cú nhiếc móc.

Thằng “tên” phản công lại:

- Nếu không có tớ ai người ta gọi cậu? Ừ! Bố ghép tớ vào cậu đấy! Nhưng cậu phải biết có tớ ở trên đời song hành chứ! Cậu làm gì phải hỏi tớ một câu, một tiếng. Đằng này, cậu bơ đi như không, bây giờ sắp chết cậu lại còn để liên lụy đến tớ phải không?

Tôi đang định chửi lại thằng “tên” một trận thì cơn đau đột ngột kéo đến hất ngã bổ chửng tôi và tay mẹ. Mẹ ghì chặt lấy tôi cho khỏi ngã, lấy tay xoa xoa rốn tôi. Tôi ưỡn ẹo, ngược bụng lên cố nén, nhưng từ trong bụng, nước cứ ồng ộc tuôn chảy như tháo cống, hậu môn của tôi thông thống không ghìm lại được nên cái gì ở trong bụng cũng muốn ồ ạt tuôn ra. Mùi khắm khẳn, tanh tưởi bốc ra.

Thoảng trong mùi hôi, thoáng trong cơn đau dữ dằn, tôi thấy mũi thằng “tên” chun lại ra điều ghê tởm và miệng hắn nở nụ cười khinh khi. Tôi cáu, định chửi cho hắn một trận, nhưng cái bụng liên tục thúc dồn dập, cơn đau dồn đến, như muốn bóp nát bụng tôi ra từng mảnh. Từ lúc ấy, đối với thằng “tên”, tôi ghi “hận” trong lòng.

Và, đối với “hai chúng tôi”, đấy cũng là lần “mâu thuẫn”, là trận “đấu khẩu” đầu tiên trong đời, kể từ khi mẹ sinh tôi và bố lấy cái tên Nguyễn Văn Thừa ràng buộc hai đứa vào nhau. Trận “đấu khẩu” ngầm, mở màn cho những tranh luận, những bất đồng, không thỏa hiệp giữa nó và tôi trong cuộc sống trên đường đời sau này.

 

9

 

Phải chờ đến gần mười một giờ trưa em mới được tiếp

Ông Trưởng phòng Nông nghiệp huyện giương đôi mắt kính lấp loáng những đường vòng thủy tinh quan sát, rồi hất hàm:

- Bao lâu rồi?

- Dạ... Thưa bác, cháu được điều về tăng cường ở xã ấy được ba năm rồi ạ! Nhưng vì...

Không cho em nói hết câu, ông Trưởng phòng ngắt lời:

- Tôi hỏi cái kia cơ!

Bấy giờ em mới chú ý tới ánh mắt sau vầng thủy tinh như dán chặt vào cái bụng nhô cao, khuy áo tuột để hở ra mảng bụng trắng ngần. Em vội lấy tay khép lại. Ông Trưởng phòng nói:

- Gái sắp hai con rồi còn gì mà xấu hổ? Nói cho phòng biết để còn bố trí nơi công tác.

- Dạ, thưa bác... - Mặt em đỏ rần vì ngượng, lời nói ấp úng - Được... được ba tháng... ạ.

- Hay! - Từ hay ngân như tiếng chuông. - Bỏ nhau ba tháng, chửa ba tháng. Đêm hôm trước còn ngủ với nhau, hôm sau ra tòa li dị. Sao chửa thế này mà còn bỏ nhau? Hay! (Lại một tiếng chuông nữa!). Các vị cũng văn minh gớm nhỉ? Biết cấy giống lúa ngắn ngày - Ông cười khềnh khệch.

Không dám trả lời, mặt em cúi gằm, mắt đăm đăm nhìn tờ đơn cầm trên tay, gáy nóng ran, hình như sức nóng từ hai thấu kính của ông Trưởng phòng truyền sang?

Lúc sau, ông lên tiếng:

- Đưa đơn tôi xem.

Em ngẩng mặt lên, không khí ùa vào làm dịu phần gáy:

- Thưa bác - Hai tay em nâng tờ giấy - Cháu mong các bác giúp đỡ...

- Bác cháu mãi! - Tay cầm tờ đơn đặt lên bàn, đôi thấu kính truyền thêm nhiệt lên mặt em - Bác cháu nào giúp được?

Sau câu hỏi, đôi thấu kính lượn sang hai bên rồi phóng ra ngoài cửa. Không thấy ai, quay lại ông nói tiếp:

- Quyết Chiến và Quyết Thắng kỳ này tách tỉnh xong sẽ hợp nhất thành một xã rồi! Nhưng mà lực lượng cán bộ Nông nghiệp tăng cường chúng tôi đã bố trí xong cả. Bây giờ chỉ còn vùng sâu vùng xa thôi.

Em rụt rè:

- Trăm sự cháu nhờ các bác.

- Nhờ thế nào? Chẳng nhẽ tôi đuổi người ta đi cho cô vào thế chỗ à?

- Dạ... Không phải ý cháu thế đâu ạ! Em thanh minh.

Không đáp lại, ông nghiêng đầu, một tay đỡ cằm, ngón trỏ bàn tay bên kia gõ từng nhịp lên mặt túi hồ sơ đặt trên bàn làm việc. Tiếng chém gió của chiếc quạt trần quay ù, ù như cối xay lúa.

Ngoài trời nắng chan chan, đã lập thu rồi mà thời tiết như độ giữa hè. Cơ quan Nông nghiệp ở trên tầng hai khu nhà ba tầng nằm giữa trung tâm huyện lỵ. Phòng làm việc của Trưởng phòng ở đầu hồi, thêm được diện tích của phần trần hiên. Phía ngoài kê bàn làm việc, chiếc tủ đựng hồ sơ đứng sừng sững thay màn gió che phần bên trong. Một phần đầu giường cá nhân thò ra có ý nói rằng đây là nơi nghỉ trưa hoặc trực đêm của chủ nhân căn phòng.

- Em đi lên đây bằng gì? - Trưởng phòng hỏi.

Em đáp:

- Dạ, thưa bác, cháu đi bằng xe đạp.

- Trưa rồi! - Ông chuyển tư thế ngồi - Đằng nào cũng phải chờ đến chiều tôi còn hội ý với bộ phận chuyên môn. Tiện thể em ở đây ăn trưa với tôi.

- Thưa bác, thôi ạ, để cháu ra phố chơi một lúc, đầu giờ chiều cháu quay lại.

- Bác cháu gì mãi thế? Em giúp tôi lấy cái bếp dầu để ở trong gầm giường mang ra ngoài hiên.

Bất đắc dĩ, em chiều ý bê chiếc bếp dầu ra ngoài. Ông Trưởng phòng cầm trên tay cái bật lửa vỏ nhôm và cái đóm:

- Em vào trong buồng lấy cái xoong và xách xô nước ra đây, để bếp đấy tôi nhóm.

Em kỳ cọ chiếc xoong bóng loáng rồi hỏi:

- Thưa bác, gạo ở đâu ạ?

- Cơm nước gì cho mất thời gian. - Ông nói - Nấu mỗi người bát mì, đập trứng vào là xong. Thôi, em để đấy cho tôi.

- Bác để cháu nấu. - Em nói.

Ông mang ra cho em mấy gói mì kèm theo bốn quả trứng gà:

- Ăn cái này nhẹ bụng, mà lại có chất hơn.

Em đập vào bát ông ba quả trứng cộng với hai phần mì. Ông cởi áo ngoài, co hai chân ngồi chồm hỗm trên ghế vừa thổi vừa húp xoàm xoạp. Nghe tiếng húp, em không nghĩ ông là Kỹ sư, Trưởng phòng Nông nghiệp huyện, mà liên tưởng tới mấy ông thợ cày dưới quê.

Trong lúc dọn dẹp, ông khoác cái áo lên vai nói:

- Xong việc, em vào giường nằm nghỉ, bụng mang dạ chửa đi đâu giữa trưa này? Cứ tự nhiên, tôi xuống dưới chỗ trực hút điếu thuốc lào, tán gẫu với cậu bảo vệ.

Nằm trên giường, em cảm động vì sự quan tâm của ông Trưởng phòng, mừng vì thấy công việc có chiều suôn sẻ.

Bây giờ thì ổn rồi. - Em nghĩ - Nếu cứ như lúc ban đầu thì gay! Em không hiểu sao thái độ của ông Trưởng phòng lại đột ngột thay đổi vậy? Nhìn ra khoảng trời ngoài cửa sổ: da trời mới đẹp làm sao, thi thoảng từng đụn mây nhiều hình thù màu xám bạc bay ngang qua rồi khuất sau khuôn cửa, trả lại nền trời một màu toàn bích. Lơ mơ em thiếp đi lúc nào không biết, mang theo cả bầu trời xanh rực rỡ cùng niềm hy vọng tràn trề vào trong sự tĩnh lặng của tâm hồn.

Em chợt giật mình, mắt mở bừng: Một bóng người lù lù như đổ ập xuống người, theo phản xạ, em lấy tay ôm bụng che đỡ cái sinh linh nhỏ bé đang hình thành. Màu thiên thanh biến mất, cánh cửa sổ đã đóng, ánh sáng lọt qua khe chiếu thẳng rồi gãy khúc trên hai thấu kính, phản lại, từng tia khúc xạ lấp loáng, lấp loáng.

Em chồm dậy nhưng không được. Cánh tay của thần dâm đỡ dưới gáy co đầu em lên gần sát đôi mắt kính, hơi thở nồng nồng phả vào da mặt. Em giãy giụa, nhưng sợ cái mầm sống bị đau, em ú ớ.

- Đừng... đừng... đứng làm thế thưa bác.

- Cho anh đi... - Tiếng thở hổn hển xen lẫn những lời nói ham hố khẩn thiết kêu nài - Cho anh đi em... rồi muốn chuyển về xã nào, thôn nào anh sẽ...

Cuống quýt, em đưa ra lý do cuối cùng: - Cháu đang có chửa... Bác...bác...bác... bác đừng...

Thần dâm áp đôi môi cuồng khát vào môi em, em lắc đầu, cái môi cùng cái mặt trượt xuống bên tai, cạnh gọng kính xiết kéo mấy sợi tóc mai làm em đau. Giọng thần loạn nhịp:

- Được cái l... chửa sướng nửa đời người em ơi... Em cho tôi nửa cái đời người ấy nhé...

Em loay hoay không biết làm thế nào để gỡ ra. Trong lúc gay go, bỗng quên phắt mình có chửa, em gồng người, co gối chống lại bàn tay thô bạo. Buông đôi tay đang bảo vệ hài nhi, em lấy một tay đỡ cổ đẩy lên, còn tay kia đấm thẳng vào mặt, cái kính văng ra, tung lên không rồi rơi cạch xuống nền nhà. Thần dâm bị hất ngược, bật dậy hiện nguyên hình là ông Trưởng phòng.

- Aaaaa... Cô... cô... cô dám đánh tôi phải không? Được! Rồi cô sẽ biết tay.

Em không còn nghe ông ta nói gì nữa, nhổm dậy, hẩy ông ta đang đứng ngã ngồi xuống giường lấy lối ra mở then cài cửa chạy ra ngoài, quên cả dép và nón đội.

 

10

 

Đi được một lúc lâu, khi quay về, bố buông một câu cụt lủn:

- Bà Lang đi mất rồi!

- Sao lại đi mất? - Mẹ hỏi.

Bố trả lời: - Tôi cũng như mình, biết đâu đuợc!

Dì ca cẩm: - Hay biết tin Tây đuổi theo, nên bỏ mọi người chạy trước?

- Không nhẽ thế? - Mẹ lẩm bẩm.

Lơ mơ, nửa tỉnh, nửa mê, nhưng tôi vẫn nghe thủng câu chuyện, nhếch mép cười khẩy, nghĩ: Cả nhà chẳng tin mãi bà ấy đi. Bây giờ mói rõ nhé! - Trong cái óc non nớt của tôi xuất hiện hình ảnh bà Lang kiêm mụ Đỡ. Và tôi, lấy tất cả sự coi thường, khinh bỉ trùm lên bà.

Thằng “tên” thấy thái độ của tối như vậy nó phản đối:

- Tờ không bao giờ tin bà ấy là kẻ phản bội.

- Thì đấy! - Tôi vặc lại - Cậu đã hưởng mùi hôi và vị đắng của lá ngải cứu đâu? Cậu đã được nếm những cái phát vào mông như trời giáng của bà ta đâu mà cậu chẳng bênh.

- Cậu là thằng không biết điều! - Thằng “tên” cao giọng xỉ vả - Nếu không có bà ấy biết xoay thai, cậu chẳng chết ngóm rồi à?

- Bà ấy không đỡ tớ, đã có người khác! - Tôi cãi bừa.

Thằng “tên” im lặng, vẻ coi thường. Tôi mệt quá, bụng lại réo òng ọc nên chẳng thèm nói nữa. Hai đứa tạm thời ngưng chiến.

Bố dọn chỗ dưới bóng mát một bụi cây để cả nhà nghỉ. Dì cùng chị nhớn bê nồi vào hẻm núi lấy nước; anh trai cùng hai chị nằm co ro dưới nền đất trải lá cây. Không ai nói một lời, lặng lẽ như chờ đợi những giây phút cuối cùng của đời tôi. Mẹ ngồi cạnh, mặt buồn bã, hai giọt nước từ khóe mắt ngưng lại trên gò má xanh rớt.

Lúc này, tôi không còn đủ sức gào nữa. Cơn đau không quặn thắt, nhưng cả người tôi mềm oặt, chân tay duỗi dài bất động. Miệng thi thoảng há, ngáp như cá thiếu nước, đôi mắt ốc nhồi bình thường đã trắng, nay trắng rã rượi, đồng tử con ngươi lờ đờ, thi thoảng mới động đậy. Từ lỗ đít, nước phân vẫn ri rỉ, mùi thối khẳn. Mẹ đã phải xé cả vạt áo ngoài đang mặc làm đồ lót mà vẫn không đủ, đành phải để tôi cởi truồng, kệ cho nước chảy ra, kệ cho gió lạnh căm căm giày vò. Bố ngao ngán, giọng rầu rầu:

- Thằng này số khổ. Hưởng hòa bình chưa được là bao thì lại gặp giặc giã. Bệnh tật thế này, bơ vơ giữa rừng núi thế này, biết có qua khỏi không?

Dì bê nồi nước, khập khiễng từ hẻm núi đi ra, nghe vậy, đai lại anh rể: - Anh chỉ được cái nói gở. Trẻ con đái, ỉa, sài đẹn là thường chứ có gì.

Tôi biết dì tự an ủi mình đấy thôi. Chứ thực ra, dì lo lắm! Trong số tất cả anh chị em, dì gần gũi với tôi hơn cả. Ngay khi tôi mới lọt lòng, dì đã là người đón tay. Bây giờ nhỡ tôi chết đi, dì chẳng khổ tâm, ân hận lắm à?

Chị nhớn nói:

- Chờ cơm sôi, lấy bọt nước cho em ăn, may ra khỏi mẹ ạ.

- Ừ, - Mẹ đáp - Chẳng gì cũng phải cho em ăn một bữa no con ạ!

Mẹ không muốn tôi phải làm ma đói.

Cả nhà cứ ngỡ sau khi ăn cơm xong là tôi “đi”. Bố đã bàn tới chuyện đào hố chôn tôi ở đâu, và nhắc mẹ nhớ ngày để hàng năm còn cúng cơm. Nhưng đến lúc nắng ngả sang chiều, tôi vẫn nằm thở thoi thóp. Thấy vậy, bố bàn:

- Cũng chưa biết thế nào? Nhưng nghe chừng trời dễ mưa? Bây giờ mà đi tiếp, không biết đến đâu mới có chỗ nghỉ? Còn chờ bà lang? Biết đến bao giờ. Tôi tính thế này: Cả nhà quay về làng Đồng Câu nghỉ, mai tính tiếp. Còn ở lại đây đêm nay, sợ có thú dữ tới.

Bố không nói hết câu, nhưng cả nhà đã hiểu. Dì đặt tôi vào một bên thúng, cái thúng như rộng ra, mọi lần tôi nằm, chân thừa, gác lên cả miệng thúng. Hôm nay, lọt thỏm, dì xót xa:

- Mới tá hỏa có một ngày mà người đã như tàu lá chuối héo thế này cháu ơi...

Chị nhớn cõng anh trai, bố cõng chị ba, mẹ cõng chị hai. Cả nhà lùi lũi quay lại. Trời ập tối rất nhanh, đường rừng vắng lặng, hơi nước từ thung lũng bốc lên bay là là trên tán cây, ngang sườn núi. Nằm ngửa mặt, tôi thấy mình bồng bềnh như bay trong mây, màu xanh lam nhường dần cho màu xám xịt. Xuống dưới chân dốc, gió bớt mạnh. Bố kiếm cây khô, bó, đốt đuốc; ánh lửa chập chờn, yếu ớt, lọt thỏm giữa núi rừng âm u.

Không thấy ai kêu khổ nữa. Chắc tất cả những vất vả, mệt nhọc, đói khát không sánh bằng những gì đang xảy ra, trong đó có sự chia ly tử biệt. Cái thúng, nơi chứa đựng một sinh linh thoi thóp - là tôi, đang đi gần đến huyệt đạo của chính mình. Từ xa trong bóng tối im lìm, tôi thấy Thần Chết đang tiến đến gần.

Thần Chết, tôi tưởng tượng là một quái nhân, mặt dài hơn mặt khỉ trong gánh xiếc biểu diễn rong ở chợ Phúc An. Còn tay, chân dài ngoẵng như rắn leo cây, mồm oạc ra như rắn hổ mang bành, vằn vện khoang đen, khoang vàng như rắn cạp nong. Nó múa may, chờn vờn quanh tôi.

Tôi không sợ chết! Nhưng tôi sợ, vì chết mà không được chơi với anh trai, với các chị nữa. Tôi sẽ không được nghe dì kể những câu chuyện cổ tích: Có cô Tấm bước ra từ quả thị; có con nhái, sau khi lột da, trở thành hoàng tử; có thằng Lý Thông tranh công, cướp nàng công chúa xinh đẹp của chàng Thạch Sanh nghèo khổ.

Nghĩ vậy, tôi ứa nước mắt. Nào tôi đã sống được bao nhiêu đâu mà nỡ bắt tôi phải chết? Sao bây giờ tôi ước ao có bà tiên từ trên trời bay xuống, cho tôi quả bầu tiên đựng nước cải tử hoàn sinh? Tôi sẽ trở lại như xưa, để được chập chững trên đôi chân hồng hào bụ bẫm, u ơ tập tiếng gọi cha, gọi mẹ đầu đời; tôi sẽ cùng dì lạc vào thế giới của những miền cổ tích xa xôi.

Thấy tôi mơ mộng, thằng “tên” giễu cợt: - Sắp chết đến nơi rồi mà còn mơ mộng.

Tôi nhìn nó căm hờn: - Rồi mày sẽ được tao giải thoát! Tao rất tiếc không được sống để mày hiểu, tao là người thế nào?

Thằng “tên” nhâng nháo: - Cậu thế nào thì ngay từ ngày bố ghép tớ vào với cậu, tớ đã hiểu rồi. Ăn thì tục, uống thì phàm, lười vận động, ba tháng trốn bò, sáu tháng không lết nổi một mét. Đi đâu chơi, nếu không có các chị bế ẵm thì làm tớ phải ở nhà cùng.

Nó còn nói dài lắm, tôi mệt, không cãi nổi cái mồm lu loa của nó! Nhưng suy cho hết nhẽ, có cái nó chửi tôi cũng đúng. Ví như chuyện đái dầm chẳng hạn. Rõ ràng đi ngủ, mẹ xi rồi. Gần sáng tôi vẫn “tương” ra một bãi trôi cả chiếu. Hoặc như chuyện ăn uống chẳng hạn, bất cứ cầm được cái gì là tôi đưa lên miệng.

Ừ, có thể tôi có nhiều tính xấu. Nhưng dẫu sao tôi và nó vẫn là một: Có tôi mới có nó, có nó mới có tôi. Hai đứa tuy hai mà một. Thế mà bây giờ, lúc tôi sắp chết, khi phút chia ly, tử biệt đã điểm, nó vẫn không dành cho tôi một phút tình cảm nào, dù chỉ là lòng thương hại. Thôi, cũng đành! Quyền yêu, ghét là của mỗi người, nào ai bắt được ai.

Phải tối sẫm cả nhà tôi mới về đến làng Đồng Câu. Chị nhớn kiếm đâu ra hàng đống cỏ lông lợn đem vào nhà đốt lên, căn nhà ấm hẳn. Dì đặt quang gánh xuống, giục anh rể:

- Anh lấy cỏ lót xuống dưới, rồi trải túi cói lên cho chị và các cháu nằm. Em xuống suối vò chỗ quần áo bẩn, hơ cho khô, sáng mai còn lấy cái cho cháu mặc.

Bố bảo chị nhớn:

- Con cầm đuốc soi cho dì. Đêm tối, hai người cùng đi vẫn hơn.

Chị nhớn theo dì đi ra. Mẹ nằm xuống, ôm tôi, hơi ấm từ nơi mẹ truyền sang. Tôi cảm nhận được nỗi xót đau của lòng mẹ. Mẹ ơi! - Tôi thầm gọi - Con không muốn chết! Con muốn được ở với bố mẹ và cả nhà mình suốt đời... Hình như mẹ cảm nhận được nỗi lòng của tôi. Mẹ lấy tay vuốt mái tóc khô xác trên đầu, rồi đưa tay rờ rẫm khắp cái thân thể còn trơ da bọc xương của tôi. Chợt mẹ giật mình nhổm dậy:

- Bố nó ơi! Sao bụng thằng Thừa chướng to thế này?

Ánh sáng soi rõ cái bụng tôi phềnh to, kềnh càng như tang trống hội chùa Báo Ân trên đồi Cấm. Bố tôi ngửa tay gõ thử, cái bụng tôi trả lời: “Bung, bung”. Bố bảo:

- Thế này, chẳng được bao lâu nữa.

Anh trai cầm lấy bàn tay bé xíu của tôi:

- Em tỉnh ngủ, hôm nào về, anh cho ra Bãi Tập chơi.

Anh trai hứa bao nhiêu lần cho tôi ra Bãi Tập, nhưng chưa bao giờ tôi được ra. Chắc vì tôi chưa biết đi? Có lần chị hai nói:

- Bãi Tập là khu đầm lầy giáp chợ Phúc An. (Khu chợ mà anh trai đã kể ở phần trên). Sau khi Việt Minh giành chính quyền, lấy đất san lấp làm Bãi Tập để bộ đội, tự vệ tập quân sự, đánh trận giả, luyện võ đánh Tây. Bọn trẻ con trong phố ra đấy chơi đủ các trò.

Tôi ước mơ được ra đấy chơi mà chưa bao giờ được. Bây giờ, ước mơ ấy lại càng xa xôi.

Dì bê quần áo lên, đặt vội xuống, nhào vào:

- Cháu nó sao rồi anh chị?

Mẹ nước mắt lưng tròng:

- Chắc cháu không qua được.

Bố thở dài:

- Âu là cái số.

Chị nhớn quay mặt đi, lấy tay chấm nước mắt. Chị hai, chị ba vuốt ve chân tôi, hơi nóng từ bàn tay các chị truyền sang, cảm giác trìu mến, thân yêu như muốn níu tôi lại.

Gió ngoài trời mạnh dần, kèm vào đấy là từng đợt mưa rừng ào tới. Nước mưa xối xả trên mái, tiếng mưa lộp bộp trên tán cây rừng, lúc ào ào, lúc ắng lặng... Gió lùa qua khe cửa thốc tháo vào nhà. Ngọn gió đùa giỡn lưỡi lửa, ánh sáng chập chờn, quất lên những sinh linh nhỏ nhoi, rét mướt, quất vào những tâm hồn bơ vơ, đơn lạnh.

Dì chắp tay hướng lên trời, chị nhớn quỳ bên cạnh; bố cời vầng than đỏ như muốn cho trời bớt lạnh, mưa bớt rơi, gió bớt thổi; chị hai, chị ba, anh trai co ro, lấy cỏ phủ lên đôi chân giá buốt; mẹ vạch vú, cố vắt trong bầu vú nhão nhoét, kiệt khô, một chút nước màu trắng, thấm thấm lên môi đứa con mình.

Trên cao, trời vẫn ầm ầm giận dữ; mặt đất, mưa gió vẫn giơ ra bộ dạng hoang dại, dữ dằn.

Tôi nghe mung lung nhịp điệu của vũ trụ xoay vần, của mưa gió hãi hùng... Thần Chết uốn éo, múa điệu múa biệt ly, rền rĩ hát lời hát bi ai. Huyệt mộ há hốc mồm dọa nuốt tôi. Tôi cố vươn về nơi sống, Thần Chết lôi tôi về phía mồ.

Bỗng, thằng “tên” gào lên thất thanh:

- Bố mẹ ơi, cả nhà ơi, có người đến.

Nghe tiếng thằng “tên” reo: gió ngừng thổi, mưa ngừng rơi, Thần Chết dừng vũ điệu biệt ly, ngừng lời ca bi ai; miệng huyệt mộ khép lại. Cả nhà tôi bừng tỉnh:

Từ ngoài sân, có ba người đội mưa gió ào vào. Nổi bật là con người mà gia đình tôi quý trọng, thân thiết như người ruột thịt: Đó là bà Lang.

Đi cùng với bà là ông Trưởng làng và một người đàn ông ăn mặc kỳ dị.

Mắt tôi nhòa đi, niềm hy vọng được sống ùa đến, bất giác tôi liếc mắt nhìn thằng “tên”. Nó thò mồm vào tai tôi thì thầm:

- Thừa ơi, sống rồi!

Đời là vậy đó! Khi biết tôi có thể được cứu sống nó lại gắn cái tên nó vào với tôi. Nhưng thôi, thường khi con người có niềm vui dễ quên đi hờn giận, dễ mủi lòng tha thứ. Tôi cũng vậy!

Bà Lang không nói không rằng, vạch áo bụng tôi lên, áp tai xuống nghe. Nghe xong, bà lấy tay quệt phân, giơ lên trước ánh đuốc xem, rồi đưa lên mũi ngửi. Tôi thoáng thấy mọi người ngồi quanh nhăn mặt lại.

Bà tháo cái bị luôn đeo trên người xuống, mồm hỏi:

- Dì xem còn nến không?

Dì đáp:

- Còn! Lấy mấy cây để tôi lấy?

- Bà Lang bảo:

- Đưa cho tôi hai cây, còn lại đưa cho ông kia - Bà chỉ tay sang ông có lối ăn mặc lạ kỳ.

Dì lấy nến đưa cho bà, còn lại trao hết cho ông.

Bà Lang trải tấm vải xuống nền nhà, lấy từ trong bị cói ra: Một tập bìa cứng cuộn trông như một cái sâu kèn; một con dao mỏng; một củ gừng; một cái que sắt, đầu nhọn như gai bưởi; một bó hương; một tệp giấy bản; một hộp đựng ngải cứu đã cắt thành sợi, phơi khô.

Bà dùng ba ngón tay nhúp ngải, vê thành từng viên như viên thuốc lào bố hút. Vê xong, bà lấy giấy bản trải rộng, đặt nén hương vào giữa, xếp viên ngải vào. Bà lẩm bẩm:

- Cu Thừa con trai bẩy vía, làm bẩy ngải. - Xong, bà cuộn vào trông như điếu thuốc lá xì gà một lần ông ký đem mời bố và khoe được xếp ga người Tây cho.

Bà dùng kim, châm lên thân củ gừng nhiều nhát, dùng dao thái từng lát, như mẹ xắt khoai lang để hấp cơm.

Chuẩn bị xong, bà bảo mẹ:

- Bế ngửa nó lên cho tôi.

Bà dùng ngón tay đo, rồi đặt một miếng gừng lên chỗ định, đưa điếu ngải châm vào ngọn nến, khi điếu ngải bắt lửa, bà chụm môi, thổi hơi nóng vào miếng gừng. Bà dặn mẹ:

- Bà để tay sát đấy, nếu thấy nóng, dùng ngón ra hiệu cho tôi, kẻo bỏng thằng bé!

Tôi nhớ, lúc đó tôi thấy da bụng nóng, thi thoảng hơi nóng phả rát bỏng. Mỗi lần như vậy, mẹ lấy ngón tay ra hiệu. Bà Lang lại kéo xa điếu ngải ra một chút và ngừng thổi. Miếng gừng này khô, Bà Lang thay miếng khác.

Hết ngửa bụng lại đến nằm sấp. Mỗi lần thay miếng gừng mới, Bà Lang lại lấy ngón tay đo, tính. Bố nói ra vẻ thông hiểu:

- Bà ấy tìm huyệt đạo.

Trong lúc Bà Lang dùng điếu ngải chữa cho tôi, thì ngay gần đấy, ông Thầy Mo (về sau tôi mới biết ông là Thầy Mo) người dân tộc Sán Dìu, bạn của Thần Núi, Thần Rừng, Thần Mưa, Thần Gió... người chuyên trị quỷ, trừ tà, cai quản ma lai, ma xó xứ Châu Lam, chuẩn bị bày bàn cúng lễ. Bao nhiêu nến dì đưa cho, ông đốt hết, cắm thành vòng, quây xung quanh một hình nhân đẽo bằng gỗ. Ông lấy trong túi ra đôi xập xoèng bằng đồng, rồi vừa co cẳng nhảy cù đớ, hai tay ông vừa vung ra xa, rồi đập vào nhau, tiếng thanh khí vang lên “Choeng, choeng, choeng, choeng... choeng”, theo nhịp ngũ liên. Cả người ông uốn éo, dẻo như miếng kẹo kéo. Chiếc mũ cắm lông chim sặc sỡ lấp loáng trong ánh lửa bập bùng. Đôi chân trần, đen đúa chuyển điệu. Dù ông ta chỉ sử dụng một loại nhạc cụ, nhưng sau nhịp năm, là những vũ điệu lạ kỳ, giàu tiết tấu. Lúc mang sự huyền bí, linh thiêng gần với thần thánh; lúc kinh dị, man dại, gần với ma quái.

Ông vươn rộng cánh tay, như thần điểu bay lượn giữa không gian, rồi sà xuống, xòe hai cánh khổng lồ phủ lên tượng hình nhân bé nhỏ. Trông như chim lớn bảo vệ, chở che cho chim non yếu ớt. Có vũ điệu như người mẹ ru con, mười đầu ngón tay mơn man, ve vuốt; miệng hát những câu lạ lùng, nhưng âm hưởng dịu dàng, âu yếm. Lúc lại bỏ xập xoèng, cầm con dao quắm to bản, múa một bài quyền thuật, chém tới, chém lui. Mỗi nhát chém, ông hét lên man dại, như vừa hạ sát một đối thủ vô hình mà chỉ riêng ông nhìn thấy. Rồi lại đột nhiên vung dao lên, gí thẳng vào bụng, vào đầu, vào chân, tay bức tượng gỗ...

Có thể bây giờ tôi nói, độc giả cho là phét lác, nhưng lúc ấy tôi được cả Bà Lang và ông Thầy Mo truyền công lực vào. Mùi điếu ngải cháy, bay, vương vào khứu giác, thơm lạ lùng, miệng tôi hà hít luồng sinh khí, da mặt tôi hồng hào dần, nước hôi từ hậu môn ngừng chảy. Tôi xấu hổ khi nghe tiếng rắm “bum bủm” phọt ra, cố ghìm mà không được. Còn mỗi khi nghe tiếng thầy mo hét, chân, tay tôi co, duỗi; con tim trong lồng ngực tràn đầy huyết khí; mắt tôi vẽ vòng theo cái bóng của ông nhập nhòa, chập chờn in trên vách nứa.

Thằng “tên” ghé vào tai tôi thì thầm:

- Cậu không chết nữa rồi!

Tôi không thèm nói với nó. Thực tế đã trả lời.

Bà Lang đốt hết bảy điếu ngải; ông Thầy Mo múa hơn hai canh giờ, tàn chục bó đuốc. Người tôi tỉnh, chướng khí tan đi đâu cả, da bụng giáp da lưng, miệng ứa nước miếng thèm ăn. Bà Lang nhắc mẹ:

- Ai mắc bệnh này phải kiêng. Cho ăn vội, cho uống vội, đứt ruột mà chết. Bà nghe tôi, thi thoảng vắt tí sữa, bôi lên môi cho nó đỡ khô môi, khô cổ. Nhịn không chết, cho ăn là tắc tử! - Nói xong, bà nằm kềnh ra nền đất mà ngủ, ngáy vo vo.

Mẹ bảo:

- Khổ, lo hết việc nước lại đến việc đời.

Bố cởi áo của mình bảo dì:

- Dì đắp cho bà ấy khỏi lạnh.

Ông Thầy Mo, nằm cạnh cửa, đầu gác lên túi đựng đồ cúng, chân dang rộng, mồm há, thở như kéo bễ, dãi miệng chảy rề rề. Dì cầm cái bao cói, che kín cho ông chỗ phần đóng khố.

Ngoài trời sáng bạch, mưa ngừng rơi, gió ngừng thổi. Cây rừng đẫm nước, muôn lá khoe màu xanh mượt, những giọt nước đọng lại trên tàu chuối trong veo. Có muôn ngàn tia nắng xuyên qua kẽ lá, như hào quang rực rỡ vẽ ở những bức tranh trong nhà thờ. Tiếng chim hót vang lừng, rộn ràng. Cảnh vật như chia vui với niềm vui của gia đình tôi.

Đối với cả nhà, hôm ấy là một ngày đáng nhớ. Tôi như được sinh ra lần thứ hai. Bố, mẹ, chị nhớn, chị hai, chị ba, anh trai, và người dì thân yêu của tôi nữa, tất cả xúm quanh, nhìn tôi, ánh mắt vui như lời nói chúc mừng. Dì đón tôi từ tay mẹ, như đón tôi thuở mới lọt lòng. Trùm, ủ lên người tôi chiếc váy nồng mùi oi khói và ấm hơi lửa, miệng à ơi, ru nựng:

Ngẫm hay muôn sự tại trời

Trời kia đã bắt làm người có thân

Bắt phong trần, phải phong trần

Cho thanh cao mới được phần thanh cao

- Đúng thật! - Bà Lang trở mình, ngáp dài, rồi đọc - Bắt phong trần, phải phong trần - Cho thanh cao mới được phần thanh cao - Bà nói tiếp - Câu thơ khéo đáo để! Trời mà không cho cu Thừa được làm người, thì hai Bà Lang như tôi, bốn ông Thầy Mo người Sán Dìu cũng chẳng cứu được.

Chị nhớn bưng mời bà bát nước, bà bụm miệng súc, nhổ đánh “toẹt” xuống đất. Bà lấy trong túi áo ra một miếng trầu, bỏ toẹt vào mồm, nhai bỏm bẻm:

- Ông Trưởng làng đi gặp thượng cấp, không biết thế nào?

Bố hỏi:

- Tình hình thế nào hả bà?

Bà Lang tưởng bố hỏi chuyện hôm qua, liền kể:

- Hôm qua, tôi đến địa điểm nhận chỉ thị. Đợi lâu quá, tối đêm mới gặp liên lạc đến. Bàn giao xong, quay ra mới biết tình hình nhà mình. Tôi phải vượt sang chân đèo bên kia mới tìm được ông Trưởng làng. May quá, lúc ấy có cả Thầy Mo ở đấy, tôi mời đi luôn. Bụng tính: Có thờ có thiêng, có kiêng có lành. Thôi, thế là mừng rồi.

Mẹ nói:

- Bây giờ tôi và cháu nấu cơm. Cả nhà chắc đói rồi.

Nói xong mẹ cùng chị nhớn đi nhóm bếp.

Bà Lang dặn:

- Đặt lấy nồi cháo vừa cho cu Thừa vừa cho Thày Mo. - Bà giải thích - Phong tục ăn uống của bà con ở đây đơn giản, nhưng có điều nấu một nồi cơm phải nấu cùng một nồi cháo. Vừa ăn cơm vừa húp cháo.

Bố nói:

- Trông họ thế mà tốt và hiền nhỉ?

Bà Lang nói:

- May mà có các bà con người dân tộc chứ không chết ráo! Hôm qua, cán bộ người Tày bên Thái Nguyên sang đón bà con Phúc An tản cư về An toàn khu rồi. Thế là tôi hoàn thành nhiệm vụ với Ủy ban tỉnh Phúc An. Còn bây giờ đến việc nhà mình - Bà vươn vai đứng dậy - Đằng nào cũng phải chờ ông Trưởng làng. Vả lại, mọi người cũng cần phải nghỉ, sáng mai đi cũng được.

Mặt trời lên cao bằng mái nhà thì chị nhớn nấu xong cơm. Trong khi đợi cơm chín, dì lấy bọt cơm bón cho tôi. Bà Lang vạch quần tôi, nói:

- Săn lắm rồi - Bà giải thích - Muốn biết trẻ con yếu, khỏe, chỉ cần xem dái nó săn hay chảy là biết ngay! Thằng này nhanh lại sức. Nhưng cho ăn ít thôi, phòng đứt ruột - Dặn dì xong, bà đi đến chỗ Thầy Mo ngủ, đánh thức ông bằng thứ tiếng dân tộc. (Không biết bà học nói từ bao giờ mà giỏi thế?). Ông Thầy Mo nhổm dậy ngơ ngác:

- Gọi mình dậy làm gì?

Bà Lang trả lời:

- Sực phàn (Ăn cơm).

Rất khó đoán tuổi Thày Mo. Nhìn mặt, có lẽ phải đến sáu mươi? Nhưng nhìn mái tóc xanh, chưa đến năm mươi! Ông không mời, dùng tay bốc cơm ăn rất tự nhiên. Bố gắp mời ông miếng cá mắm. Ông xua tay từ chối, mặt nhăn, mũi chun lại ra vẻ khó ngửi. Bà Lang giải thích:

- Người dân tộc Sán Dìu không ăn cá mắm, không ăn mắm tôm.

Ăn xong, Thầy Mo đứng dậy nói:

- Mình đi đây! - Ông rảo bước đi thẳng ra cửa.

Bố rút trong tay nải ra một chiếc áo, chạy vội theo đưa cho ông. Ông lắc đầu, nói:

- Mình làm phúc thôi mà. Lấy cái gì, con ma nó khinh. Lần sau cúng nó không sợ mà - Ông nhe hàm răng đen nhẻm cười; hai tay chắp, đầu gật có ý chào cả nhà. Đi được một quãng đột nhiên ông quay lại. Bố tưởng ông ta đổi ý đồng ý lấy áo liền chìa ra. Ông ta cười, móc trong túi ra một túi thuốc bột:

- Lấy cái này xát vào chân tay cho khỏi con vắt, con muỗi đốt à - Nói xong ông quay ngoắt người đi thẳng.

Bà Lang cầm túi thuốc, mắt nhìn theo, chép miệng:

- Họ nói một là một, không lấy là không lấy. Đâu như người Kinh ta, khách sáo, giả tạo bỏ mẹ.

 - Sao ông ta không chờ Trưởng làng? - Bố hỏi.

Bà Lang trả lời:

- Đêm nay ông ta còn phải cúng tuần cho một người trong làng mới chết chôn ở trên núi.

- Ông ta có vợ con gì không? - Mẹ hỏi.

- Có! Nhưng sống với nhau được một thời gian, người vợ mắc bệnh hủi, bị dân làng chôn sống, đứa con trai mới ba tuổi bị chôn theo. Cả hai mẹ con bị vùi vào vôi bột. Sau khi mất vợ con, ông ta phát tiết, đi lang thang trong rừng hàng năm trời. Nghe Trưởng làng kể: Thần Rừng hợp, nhập hồn vào cho ông làm Thày Mo. Dân làng tin ông ta lắm, nói gì cũng nghe. Ngoài chuyện cúng bái, ông ta còn rất giỏi chữa bệnh bằng lá cây trong rừng.

Cả nhà tròn mắt, vểnh tai nghe chuyện Bà Lang kể.

Dì hỏi:

- Có phải người thiểu số biết chài không?

- Nghe nói vậy, chứ đã thấy ai bị chài mà biết - Bà Lang trả lời - Trai gái yêu nhau quá, thất tình, rồ dại là chuyện thường. Ở tỉnh Phúc An mình thi thoảng chẳng có đàn bà, con gái điên điên, dại dại, đầu cài hoa, miệng hát véo von là gì.

- Cũng tùy người thôi. - Dì nói, nhưng mắt liếc về phía chị nhớn. - Chẳng tội gì phải thế! Ai lấy ai là do duyên số trời se.

Bỗng có tiếng người hú, âm thanh dội vào núi ngàn vang vọng, ngân nga. Bà Lang đứng phắt dậy:

- Tiếng hú báo nguy của Thày Mo. Chắc có chuyện?

- Nói xong bà bảo cả nhà - Gói ghém các thứ. Nhanh lên!

Trao tôi cho mẹ, dì vơ các thứ nhét vội vào thúng. Ba tiếng hú nữa vang lên. Bà Lang thét:

- Tây đến! Ba tiếng hú là báo hiệu có Tây. Bỏ tất cả đấy! - Bà quát - Theo tôi vào rừng.

Đáp lại lời bà là tiếng súng nổ. Tiếng nổ đập vào vách đá vọng lại, nghe như hàng trăm tiếng nổ. Bà Lang vọt ra lối cửa sau.

Không còn kịp thu dọn nữa, cả nhà nháo nhào chạy theo. Lúc bế xốc tôi lên, mẹ đánh rơi tay nải, dì vơ vội, khoác vào vai, giục chị nhớn:

- Cháu dắt hai em chạy theo sau mẹ!

Bố cõng anh trai, dì ôm quàng mấy thứ chân thấp chân cao chạy cuối. Đường rừng gập ghềnh, hẹp, lại vừa qua mưa, mặt đường rất khó đi, nhưng Bà Lang chạy rất nhanh. Cả nhà thục mạng chạy theo. Chạy được một lúc, gặp con suối chắn ngang, mặt nước mênh mông dâng cao, cuồn cuộn xiết chảy, từng đợt sóng liếm vào cây cối mọc hai bên bờ. Bà Lang nói:

- Vừa mới hôm qua còn lội, nước chưa tới đầu gối, vậy mà...

Chần chừ bên bờ suối một lúc, bà bảo:

- Đành phải tìm đường khác thôi. Chờ nước rút phải mất cả đêm nay.

Bà dẫn cả nhà tôi men theo bờ suối rẽ ngược lên một con dốc rất cao. Dì lấy áo buộc thành địu, địu tôi sau lưng. Khi nhận lại tay nải dì đưa, mẹ bảo:

- May quá! Toàn bộ gia sản của nhà nằm trong này đấy!

Leo tới đỉnh dốc, chân dốc bên này đất thoải, từng bụi cây sim và cây mua mọc xen kẽ. Tựa cằm lên vai dì, tôi nhìn thấy khu làng cả nhà vừa ở đấy chạy ra nằm ngay sườn núi đối diện. Bà Lang ra hiệu cho mọi người dừng lại, rồi thầm thì:

- Mọi người ngồi ở đây, tôi phải đi xem binh tình thế nào. - Rảo được mấy bước bà quay lại dặn - Nhớ lời tôi, không được đi đâu đấy!

Tôi không nghĩ đó lại là lời trăng trối cuối cùng của bà.

Bà Lang thận trọng đi về phía làng. Lúc bà ẩn mình sau bụi cây nghe ngóng. Khi còn cách rìa làng một quãng bà dừng lại. Không thấy động tĩnh bà đứng dậy đi tiếp. Bỗng như từ trên trời rơi xuống, một toán tính Tây lố nhố xuất hiện. Trên tay cầm súng lăm lăm đón đầu bà. Bọn chúng hô hét, xì xồ náo loạn.

Bà Lang chững lại vì đột ngột. Rồi chợt như hiểu, bà quay ngoắt lại chạy về phía gia đình tôi. Bọn Tây đuổi theo, một thằng giơ khẩu súng lên trời bắn một loạt. Tiếng súng nổ vang cả núi rừng. Có tiếng hô nửa tiếng Tây nửa tiếng ta:

- Ố là la... Bố cu Việt Minh tàn pà... tàn pá tứng nại... tứng nại... Tialaphơ... (- Ố la la... Bố cu Việt Minh đàn bàn... đàn bà đứng lại... đứng lại... Bắn... bắn...)

Một giọng khác vang lên:

- No! No! Tàn pà... pắt xống tàn pà Việt Minh... No Tialaphơ... No... no... (- Không! Không! Đàn bà... bắt sống đàn bà Việt Minh... Không bắn... Không... không...)

Đang chạy về phía chỗ cả nhà tôi nấp, đột ngột bà rẽ ngang chạy sang cánh rừng bên kia. Giữa hai cánh rừng là một trảng đất toàn cỏ lông lợn mọc. Mùa đông, từng cụm cỏ úa vàng, xõa xượi như tóc đàn bà bị rối. Bà Lang chạy rất nhanh, khoảng cách giữa bà và bọn chúng xa dần. Bố thì thào:

- Sắp qua được rồi.

Mẹ đồng ý:

- Vào được rừng là thoát.

Nhung bỗng bà Lang bị ngã. Cả nhà không hiểu tại sao lại thế? Vì không nghe tiếng súng nổ. Bà nhoai người chồm lên, nhưng không đứng lên được, bà ra sức nhoai... Trông từ xa bà giống như con nhái quờ quờ bơi hai chân trước. Bà bơi bơi rất nhiều mà sao không tiến lên được một chút nào. Hình như có ai dưới đất nắm chân kéo bà xuống?

Bố kêu lên thảng thốt:

- Thôi chết! Bà Lang bị thụt bùn rồi.

Trong lúc đó, khoảng cách giữa bọn Tây và bà rút ngắn lại. Khi chúng đến gần thì người bà chỉ còn hở ra từ nách đến đầu. Tôi thấy bọn chúng loay hoay nhưng không sao đến chỗ bà được. Mấy thằng Tây xì xì, xồ xồ, tay chỉ trỏ loạn xạ. Bọn chúng tháo dây súng nối lại với nhau quăng cho bà để kéo lên. Nhưng bà thà chịu chết chìm trong bùn chứ nhất quyết không cầm.

Mẹ thở dài:

- Người đâu đến là gan!

Lúc này hình như bọn Tây đang tìm cách khác lôi bà ra khỏi đám lầy. Chúng chụm đầu lại bàn bạc. Rồi có ba thằng quay lại phía làng. Lúc trở ra mỗi thằng vác theo một tấm ván.

Bà Lang vùng vẫy không chịu để chúng bắt. Nhưng sức lực có hạn, bà bị chúng cầm tay kéo lên bờ. Hai thằng, mỗi thằng nắm một tay, bùn trơn, chúng tóm váy, nhấc ngược người bà mà lôi.

Dì xót xa:

- Thế thì còn gì là người nữa.

Chúng đưa bà đến chỗ lấy nước dẫn bằng ống bương của người dân tộc Sán Dìu. Bọn giặc hè nhau lột trần rồi đẩy bà vào dòng nước. Bà không kháng cự, gạt tay chúng ra, đàng hoàng như người đi tắm. Dòng nước chảy xối xả, lớp bùn đất dính trên người bà tan trôi. Làn da người đàn bà lộ dần, trắng nõn nà.

Tất cả lũ giặc ngỡ ngàng, những hành động điên cuồng ngừng lại.

Như bông hoa chưa một lần chạm gió, đường nét con gái trên cơ thể người đàn bà còn trinh nguyên hiện ra. Suối tóc dài đen nhánh phủ trên tấm lưng trần thon thả; hai núm vú xinh xinh, cong vươn trên vầng ngực đầy đặn, tròn trĩnh, hồng hào. Có ai ngờ, sau lớp màn trần tục che đậy, bưng bít là bức tranh với những nét chấm phá ngợi ca sự ngây thơ, khờ dại về một thuở hồng hoang; là bức phù điêu với những nét chạm khắc do tạo hóa vần vũ cấu thành, tạc y lên cho nhân gian chiêm ngưỡng.

Bà hiện thân là nữ Thủy thần trong truyện dân gian của người Sán Dìu mà dì đã kể cho tôi nghe: Nữ Thủy thần là con gái của vua Thủy Tề. Một lần du ngoạn qua xứ Châu Lam, thấy phong cảnh hữu tình, nữ Thủy thần tháo viên ngọc xanh cài trên đầu ném xuống và đọc một lời nguyền:

- Ai tìm thấy viên ngọc xanh sẽ tìm thấy hạnh phúc đời đời.

Từ bấy đến nay, qua bao nhiêu mùa cây thay lá, đất Châu Lam trải mấy mươi đời, dòng suối Đồng Câu hết đục lại trong, nhưng chưa một ai tìm thấy cả.

Bà đứng đấy, như pho tượng hiển linh. Mặc cho nước nguồn ve vuốt, cho gió ngàn mơn man, cho ánh nắng rực rỡ e ấp phủ trên da thịt.

Phút ái ân, giao hòa giữa thiên nhiên với nữ Thủy thần.

 

 

11

 

Ông cựu Chủ nhiệm kiêm Xã đội trưởng bây giờ xuống làm nhân viên tạp dịch cho văn phòng Ủy ban, đến nhà đưa cho em bì thư bị xé. Ông nói, cái sẹo trên trán giật giật liên hồi:

- Bác tưởng lại là giấy Tòa án gọi cháu, hóa ra giấy của Phòng Nông nghiệp huyện. Sướng nhé! Được về làm ở gần nhà có ngang người ta cho của. Con cái đã có bố trông, đẻ đái đã có mẹ lo.

Tin vui làm em quên nỗi bực bội vì ông tọc mạch vi phạm bí mật thư tín. Ông về, em mở quyết định ra xem và ngỡ mình nằm mơ. Sau sự việc xảy ra ở Phòng Nông nghiệp huyện, em nghĩ thể nào ông Trưởng phòng sẽ trả thù, điều em đến một xã xa. Ai ngờ, tờ quyết định chuyển em về ngay xã nhà. Em cầm tờ giấy thơm phức mùi mực dấu, áp vào bụng, chỗ vồng lên cao nhất như nói với con em rằng: Con ơi, dẫu sao đời mẹ con mình cũng còn gặp may. Lòng khinh bỉ và những ý nghĩ xấu về ông Trưởng phòng Nông nghiệp bỗng vợi bớt.

Em đem chuyện tâm sự với người bạn gái. Bạn bảo:

Chẳng phải ân hận vì hành động mà ông ta có lòng tốt thế đâu! Chẳng qua sợ cậu bức xúc đem chuyện đi kể, mất chức Phó Sở Nông nghiệp tương lai nên ông ấy ký quyết định để xoa dịu cậu đấy thôi! Vả lại, nghe đâu Quốc hội họp lại chuẩn bị cắt trả vùng mình về Vĩnh Phú. Cậu không thấy bao nhiêu người chạy về Hà Nội à? Binh tình này cơ quan nào chẳng thiếu cán bộ, nhất là cán bộ tăng cường cho cơ sở? Ôi dào! Người đời ít có kẻ ban không lòng tốt cho ai!.

- Sao hay tách tỉnh thế nhỉ? - Em hỏi.

- Chuyện - Bạn chép miệng - Các ông Nghị mà lại! Thích thế nào thì xoay ra thế! Tớ là nhà văn ấy à - khối chuyện để viết! Nghe đâu trường Đại học Tài chính, rồi trường Sư phạm II đòi Bộ Giáo dục chuyển vào nội thành. Mấy ngàn sinh viên mà chuyển đi ấy à, thị xã Phúc An có vắng như chùa Bà Đanh!

Mặc kệ! Em chẳng cần! Chuyện tách tỉnh, tách huyện là của Chính phủ. Đâu cũng giời đất này. Giờ đây em chỉ mong sao để được gần nhà. Như kẻ sắp chết, vượt qua khỏi nấm mồ hoang lạnh, mịt mờ, đầy rẫy yêu ma, quỷ quái, được hồi sinh sau khi trái tim nhận quá nhiều đau khổ, tràn ngập sự dối trá, đảo điên, lừa lọc, giả tạo, phù phiếm... Khiến tim em đã trở nên chai sạn. Em hoàn nguyên thành đứa trẻ thơ dại lúc thèm ăn, khát uống khóc đòi bố mẹ. Được gần với bố mẹ lúc này là điều cần nhất với em, với những đứa con em sinh ra. Chúng nó cần có một mái ấm gia đình, cần được nhận - ít nhất là những năm tháng đầu đời - sự yêu thương đùm bọc, chở che. Và em nữa! Em muốn trong những đau khổ được gục vào lòng mẹ mà thổn thức, khi cô đơn, bải hoải được vỗ về an ủi... Em thề với lòng mình không bao giờ lấy chồng, không bao giờ nghĩ tới đàn ông nữa.

Mới có vài năm trời mà em cảm thấy cuộc đời đã trải mấy mươi năm.

Quá khứ trong em hiện về rõ mồn một:

Khi nhận được tin em báo có thai, Tổ trưởng mặt cắt không còn hạt máu. Hồi lâu Tổ trưởng nói:

- Anh mới dạm qua sự quan hệ của chúng mình mà bố anh đã gầm lên: Tao không bao giờ bước sang cái làng ấy! Không thông gia với bất cứ thằng nào, con nào ở Quyết Chiến! Đấy là lời thề độc của cả làng, cả dòng họ rồi, mày biết không?. Rồi ông dọa sẽ từ anh...

Em hỏi:

- Thế bây giờ anh định thế nào?

Tổ trưởng cúi đầu tránh ánh mắt em, giọng rụt rè:

- Anh... anh... anh sợ bố anh lắm. Vả lại, chú anh đang xin cho anh về Ủy ban huyện. Nếu...

Em gặng:

- Em cần ý kiến của anh về chuyện của chúng mình?

Tổ trưởng lần lữa:

- Để anh xem thế nào!...

Cái xem thế nào của Tổ trưởng là sự im lặng và sự tránh né không gặp lại em. Sau đó là một bức thư xin tha thứ. Em cầm trong tay lá thư như cầm một liều thuốc độc. Nói dối bố mẹ lên trường, nhưng thực ra em lang thang ra đầm Vực để tự tử. Đêm ấy, gió thổi lồng lộng, những bụi cỏ lác ở Bãi Giữa xõa tóc đu đưa như kẻ nhập đồng. Em mộng du lần theo lối quanh bờ đầm. Trăng cuối tháng lên muộn, mặt nước lập loáng, lóng lánh theo nhịp sóng ì oạp đập vào bờ. Em bước xuống bậc, bước lần theo men bờ. Chân vừa chạm nước, bỗng giật thột người vì một con chim từ bụi rậm vỗ cánh bay lên. Tiếng vỗ cánh đột ngột làm em choàng tỉnh. Hình ảnh bố mẹ thất thần vì đau khổ hiện ra; từ trong cơ thể, sự sống cụng cựa mơ hồ mách bảo em đừng rắp tâm làm kẻ giết người. Em bàng hoàng quay ngoắt chạy lên bờ.

Cánh chim đêm vô tình đã cứu em thoát chết.

Hoảng hốt như bị ma đuổi, em cứ chạy mà không biết chạy về đâu? Không mục đích, không địa chỉ. Ngẩng mặt lên nhìn thấy quầng sáng phía trước. Em hướng mình chạy về nơi đó. Gần sáng, em nhận ra mình ở đầu cửa ô thị xã Phúc An. Một số nhà đã dậy mở cửa, dọn hàng. Em lang thang, vẩn vơ đi qua các quầy. Một bà thật béo hỏi:

- Sáng sớm, em mua gì? Mở hàng cho chị.

Em ngước đôi mắt vô vọng hỏi lại:

- Bà hỏi gì?

Nhìn mắt em, bà ta chột dạ. Chờ em đi qua, bà văng theo một câu:

- Rõ thối thây! Đồ rồ tình!

Cứ thế em đi, bất kể thời gian, mặc cho nắng chiếu vào đầu, xiên vào cổ. Lang thang hết phố này đến phố khác, chân vẩn vơ, mắt lơ đễnh, có lúc đứng hàng giờ ngắm những vật trưng bày trong tủ kính, dưới sạp hàng. Ai mời mua, em im lặng sợ người ta lại bảo mình là rồ tình. Bỗng em nhìn thấy rất nhiều người trong tủ. Một cô thiếu nữ có khuôn mặt thật quen nhìn em, miệng nở môi cười. Em cố nhớ xem là ai mà không tài nào nhớ nổi. Em chau mày nghĩ: Ai mà trông quen thế? bước đến gần đầu em va phải tấm kính chắn đằng trước đau điếng. Có tiếng mắng:

- Cái cô này sao lại đi đứng như thế? Vỡ kính phải đền đấy!

Nghe tiếng, em quay lại, bất chợt người đó kêu lên:

- Linh phải không? Em đi đâu đấy?

Cái đau làm em bừng tỉnh; câu hỏi giật giọng cho em nhận ra người hỏi là tay thợ chụp ảnh. Và, đồng thời cũng nhận ra người con gái kia là ảnh của em được trưng bày làm mẫu trong tủ kính.

Tay thợ chụp ảnh dẫn em vào nhà, lấy nước và bàn chải răng hối em rửa mặt. Nước lạnh cho em sự tỉnh táo, nhắc em từ sáng chưa có gì vào bụng. Tay thợ chụp ảnh bê bát phở vào:

- Em ăn rồi nghỉ ngơi cho lại sức.

Lúc ấy em mới thấy mình đói ngấu. Ăn xong, mọi mệt nhọc như tan biến. Trong lúc tay thợ chụp ảnh bận tiếp khách, em ngả người xuống giường ngủ một giấc thật say.

Chiều tối em tỉnh dậy; tay thợ chụp ảnh giục:

- Em vào buồng vệ sinh tắm rửa. Quần áo anh để trong đó rồi. Anh mua đại, không biết có vừa không?

Em bước ra khỏi phòng tắm. Tay thợ chụp ảnh cố giương hai mi mắt chạy dài như một đường chỉ:

- Đẹp! Đẹp thật.

Không hiểu hắn khen em hay khen bộ áo quần hắn mua? Em bẽn lẽn:

- Anh rõ khéo mua. Em cảm ơn anh.

Tay thợ chụp ảnh dắt chiếc xe màu trắng sứ ra:

- Tụi mình đi lòng vòng một lát đi em.

Em ngần ngừ một chút, nhưng rồi ý nghĩ: Thân xác mình còn gì nữa đâu xuất hiện. Em trèo lên, vòng tay ôm eo người đèo, lòng tự nhủ: Kệ! Đến đâu thì đến.

Tay thợ chụp ảnh cho xe lượn qua mấy dãy phố, gặp ai quen cũng gật đầu ra vẻ tự hào, coi em như vật trang sức đắt tiền đeo trên người để phô điễn. Thi thoảng lại ga rõ to như báo với thiên hạ rằng: - Mình đang lai người đẹp. Vài người hàng phố nhìn theo, chỉ trỏ.

Đưa em vào quán cơm, tay thợ chụp ảnh nói nhỏ với người chủ quán. Chủ quán đưa hai đứa vào phòng ăn. Tiếng hát từ máy cát-xét rên rỉ:

... đây quán bên hồ... nghe lòng nức nở... thôi thôi hết rồi... đời em như sóng xanh giữa hồ, gió mưa đập vùi...

Nâng cốc bia hắn nói:

- Uống cho duyên kỳ ngộ, uống cho ngày tái hợp. Anh không nghĩ lại có ngày được gặp em. - Hắn bắt em uống một nửa cốc, nửa cốc còn lại hắn uống. - Em quay về với anh là anh mãn nguyện lắm rồi.

Em định đính chính câu quay về của hắn, bởi vì em có ra đi với hắn đâu mà để bây giờ quay về? Nhưng rồi em im lặng vẻ đồng ý.

Hôm ấy tay thợ chụp ảnh uống nhiều. Hắn ép, cứ một cốc chia đôi, em nửa, hắn nửa. Em thấy người mình lâng lâng như cùng với hắn bay về nơi không có đích, hắn lảm nhảm nhắc lại những kỷ niệm của hai đứa. Chợt hắn đăm đăm nhìn em:

- Nếu không có sự phản ứng của em đêm hôm đó, chắc anh sẽ không yêu em nhiều đến thế này. Anh đâu phải kẻ còn ngây ngô, non yếu trong sự đụng chạm xác thịt. Nhưng người con gái dám phản ứng anh như vậy chắc chỉ có em. Linh ơi (giọng hắn lạc đi) cái đó chỉ để cho anh ngày đêm nhớ đến em. Anh đã hứa: Kiếp này không có được em, anh sẽ chết...

Em giật mình. Sao lời thề của lũ đàn ông giống nhau thế? Thằng cha Tổ trưởng lúc quỳ mọp dưới chân em cũng tha thiết nói lời thề sẽ chết. Bây giờ, trong cơn tột cùng của mê đắm, tay thợ chụp ảnh nhắc lại một câu thề y hệt.

Em đứng phắt dậy, định nhổ một bãi nước bọt vào lũ đàn ông hèn mạt và giả đối kia mà đi. Nhưng hoàn cảnh kéo em về thực tại với điều kiện của chính mình. Trong một phút, em trở nên khôn ngoan. Cô nữ sinh vừa tốt nghiệp ra trường đổi lốt thành một kẻ dối trá lọc lõi:

- Anh có yêu em bao giờ đâu! - Em ngồi xuống, mắt đong đưa nhìn hắn.

Câu hờn trách và con mắt đong đưa là mồi thuốc nổ được châm ngòi. Tuy thợ chụp ảnh sụp xuống, úp mặt vào hai gối em thổn thức.

- Đàn bà qua tay anh đã nhiều, nhưng em là người duy nhất anh tôn thờ.

Em giương miệng cài bẫy:

- Lấy điều gì để chứng minh điều anh nói là thực?

- Trời ơi là trời! - Hắn kêu lên - Em muốn anh thế nào nữa đây? Vừa gặp lại em, anh đã thề phải giữ em cho bằng được. Bây giờ em muốn gì anh cũng chiều.

- Anh nói thật chứ? - Em giương miệng cái bẫy cao hơn một chút cho con mồi dễ lọt.

- Anh nói thật! - Con mồi đã sẵn sàng nhảy.

- Em muốn anh cưới em! Anh đồng ý chứ? - Miệng bẫy được em giăng há hoác.

- Sao vội thế? - Con mồi chùng người lại vẻ đắn đo.

Em cười phá lên sằng sặc:

- Thế mà anh nói là yêu?

Con mồi chồm tới:

- Được! Cưới thì cưới.

Con mồi tọt nào lồng, cửa bẫy sập.

Em đưa tay xoa cái bụng vừa tắt được nửa vòng kinh: Con ơi, dẫu danh dự chẳng là gì, nhưng mẹ vẫn cần có để làm chỗ dựa.

Đêm hôm ấy em ngủ ở hiệu ảnh. Có một chiếc giường, hắn nhường cho em. Còn hắn, nằm trên chiếc phông vẽ dưới phòng chụp. Trước khi đi ngủ, hắn ngồi cạnh em. Tuyệt nhiên không có ý bờm xơm. Chắc hẳn vẫn nhớ cú đạp của em ở bãi chăn trâu? Vả, em kiên quyết giữ khoảng cách, điều duy nhất em cho phép hắn làm là cầm tay. Hắn nâng bàn tay em lên ve vuốt, âu yếm, đặt đôi môi thâm xịt hôn nồng nàn vào mu, vào lòng bàn tay em.

 Mãi về sau này khi nhớ lại em gọi đó là Khoảng cách ma giáo.

Hải Linh nói với Nguyễn Thừa rồi vươn hai tay ưỡn người, đầu cô ngửa trên thành giường, đăm đăm nhìn vào lỗ thủng trên tấm cót trần nhà; vầng ngực vươn cao, cơ thịt đầy, tròn chuyển động sau làn áo mỏng, cặp đùi săn, lẳn, lẩn dưới ống quần bò gin bó, duỗi dài trên mặt ga đệm.

Nguyễn Thừa đặt tay lên bàn chân của Hải Linh xoa nhẹ, hơi ấm khác giới truyền lan, xúc giác của người đàn ông thức dậy. Sự cụng cựa vô ý làm cho mặt anh ngứa và nóng ran. Cố ghìm lại sự thèm khát, cơn khát thèm càng trỗi dậy. Anh nhìn thân thể người đàn bà ẩn dưới vật che đậy bằng con mắt của dục vọng, của si mê. Tưởng tượng thực thể phơi bày dáng nguyên sơ, trần tục, khêu gợi; lòng dâng lên cảm xúc thèm muốn được mơn trớn, xoa nắn, được bão hòa, thỏa mãn. Mắt Nguyễn Thừa dừng lại ở khoảng giữa hai đùi khép kín; nét hằn kẻ vệt phân thành đường cong khêu gợi trên mặt vải, căng mọng... cùng khoảng bụng trắng phau hớ hếch, vô tình đẩy dục vọng cuồng khát lên đỉnh điểm. Giống đực cựa quậy, trỗi dậy, đưa bản năng lấp đầy lý trí. Nguyễn Thừa đưa lưỡi liếm đôi môi khô khốc; mắt lờ đờ man dại... Hai tay chầm chậm giơ lên như bị nam châm hút cuốn về nơi ham muốn.

Bỗng tiếng chuông điện thoại réo. Đột ngột phá tan sự tĩnh lặng, nhấn chìm cơn sóng tình đang đâng, con thuyền đi sắp cặp bờ bỗng bị dòng nước cuốn phăng ra xa; mũi tên biểu đồ thị đang vọt cao đột ngột tụt lút. Nguyễn Thừa thấy tâm hồn mình hụt hẫng, trạng thái đang dâng lên về điểm dương, nay vụt trở về điểm âm.

Chờ hồi chuông điện thoại đổ lần thứ hai Hải Linh mới nhỏm người lên, co tay xem đồng hồ, phàn nàn:

- Ai gọi điện thoại mà sớm thế nhỉ? Mới có năm giờ sáng.

Nguyễn Thừa đứng dậy né người cho Hải Linh đi qua, mùi đàn bà theo hơi nóng thoảng vào mũi, nhưng cảm giác thèm muốn của người đàn ông đã trôi qua.

Hải Linh quay lại nói với anh:

       - Họ nhầm số máy! Thôi, dậy chuẩn bị lên đường anh nhé!

 

 

 

Trần Hải