Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ra sức thi đua thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2018!
Từ khóa tìm kiếm Từ khóa tìm kiếm

Ngọn gió tâm hồn vẫn lay thức đời quê

(Ngày đăng: 01/11/2017, số lượt xem: 127)

                    (Nhân đọc tập thơ Cây vẫn gió - Nxb. Hội Nhà văn, 2017 của nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung)

                 

Trần Quang Quý

 

Trong Cây vẫn gió, Nguyễn Ngọc Tung viết khá nhiều về mảng đời sống đương đại, từ nông thôn đến nghề xây dựng, các ký ức về chiến tranh, những vấn đề về biển đảo, môi trường; những tâm sự, chiêm nghiệm về lẽ sống, nết ăn nết ở, tình người… Nhưng niềm đau đáu, ân tình, thương yêu nhất, tập trung nhất của anh trong Cây vẫn gió và cũng có thể nói là cả đời thơ anh chính là mảng nông thôn - quê hương với những người thân, những người nông dân chân chất, nặng tình nặng nghĩa và những người thợ xây dựng, là nghề gắn bó gần cả cuộc đời anh. Vậy anh có gì trong Cây vẫn gió?

Cây vẫn gió cũng là tên từ một ý thơ viết về xây dựng: “Thành phố màu công nhân/ Bao vui buồn thương nhớ/ Mùa đi, cây vẫn gió/ Nắng xanh màu áo xanh” (Về miền khói trắng). Mùa sẽ qua đi, hiện thực đời sống sẽ qua đi nhưng gió của khí trời, của hồn thơ, của ký ức tình người thì vẫn luôn lay thức, sống động trong anh.

Cái nghề xây dựng vất vả nắng mưa, dầu dãi ngoài công trình, trên những tầng cao, ai cũng biết. Một nghề nay đây mai đó, trong hành trình “Sông mãi trôi biền biệt/ Mây đã về trăm năm!” nhưng dưới con mắt thi sĩ, cái vất vả của người thợ luôn ẩn sau những câu thơ da diết mà lãng mạn, yêu cuộc sống lạ kỳ của mình. Hình ảnh người thợ luôn là hình tượng đẹp trong chất thơ giàu xúc cảm, mặn mòi của Nguyễn Ngọc Tung, kể cả lúc bom Mỹ réo trên đầu, thời lán tạm giấy dầu, thời bánh xà phòng phân phối, thời chợ vồ, chợ cóc: “Tôi đã quen sự đổi màu của những đám mây/ Tiếng đàn chim thiên di chiều ngọn tháp/ Gió có biết mồ hôi chúng tôi trộn cùng sỏi cát/ Và cái nóng bê tông bỏng rát tầng cao?/…/ Anh ghép mảnh bình minh/ Em nhễ nhãi gánh trưa bỏng gió/ Thanh sắt nặng vai cong hoàng hôn/ Sỏi đá nhọc nhằn xây mơ ước” (Ô cửa mây bay). Quả là một thời lãng mạn, hồn nhiên!

Những người lao động bình thường, vất vả như chị đánh ráp, phun sơn hay chị công nhân gánh cát luôn trong thơ Nguyễn Ngọc Tung với tâm thức như thế. Là bởi, anh luôn tìm ra vẻ đẹp của con người sau những công việc giản đơn, bình thường nhất của nghề. Những hạt cát “Rũ sạch bùn đất/ Cát hóa cây cầu”, còn người gánh cát thì: “Cát đen cát vàng/ Bên nắng bên mưa/ Oằn vai trĩu bến/ Gánh sóng lên bờ”. Hay “Sóng cả sông sâu/… lầm lũi đời cát/ gánh cả sông lên!” (Gánh cát). Đó quả là những thi ảnh đẹp, thường gặp trong thơ anh, vốn xuất hiện nhiều từ tập thơ trước (tập Những câu thơ từ đất) khi viết về đồng quê, nông thôn. Còn người thợ đánh ráp, đánh bóng đồ gỗ (nội thất) vất vả đến: “Nắng rát mặt ngày/ Mưa gầy con mắt/ Bụi gỗ lấm mặt/Sương gió tóc thu phai”. Cái nghề mà: “Bàn tay mài sương, miết gió/ Chị mài nổi gân xanh, miết hằn vân gỗ/ Vá lành sẹo cây, vá kín sẹo đời”. Và gửi gắm ở đó tâm sự: “Nước sơn đẹp lòng người bán kẻ mua/ Đánh đổi được chăng lòng gỗ tạp?” (Đánh bóng). Các cụ ta bảo “Tốt gỗ hơn tốt nước sơn”, nhưng người ta vẫn cứ phải đánh bóng cho thị giác, ai đây hiểu được “lòng gỗ tạp”, ai đây biết bàn tay người thợ “mài sương, miết gió” sau lớp sơn bóng nhoáng kia?

Viết về người thợ xây, Nguyễn Ngọc Tung thường có cặp chủ thể nam nữ “anh - em” để nói về tình nghề, tình yêu của người thợ như là cặp giao duyên, hát dân ca trên công trường lao động, trên tầng cao của những ngôi nhà gắn với trời mây phiêu lãng. Phải chăng, phép dụng công này để quên đi cái nhọc nhằn của nghề xây dựng: “Anh xây dọc, gió ngang/ em khóa vòm mây thắm/ tháp vươn cao đầy nắng/ đêm thắp vầng trăng lên” (Vầng trăng đỉnh tháp). Nét đặc trưng ấy càng rõ khi anh sử dụng hình thức thơ lục bát để nói về sự “giao duyên” này: “Gió vẫn là gió đấy thôi/ Mà sao lại hát những lời của mây/ Đời thợ tựa cánh chim bay/ Hình như mây trắng vẫn hay mỉm cười?/ Anh xây em phụ bên trời/ Tầng cao ánh mắt dõi đồi hoa sim/ Sợi dây mướt một tầm nhìn/ Cầm bằng giọt nước ta tìm về nhau” (Tình thợ xây)…

Sau những bài thơ về người xây dựng là sự tiếp nối mảng thơ nông thôn, vốn rất ấn tượng, có nét riêng của Nguyễn Ngọc Tung ở tập Những câu thơ từ đất. Khi trở về với cội rễ nông thôn, tâm thơ anh vừa đau đáu quê làng, đồng ruộng; hồn thơ anh vừa cần mẫn “kiến tạo” những thi ảnh đẹp, lúng liếng hồn thi sĩ: “Những chiếc nón nhấp nhô lặn ngụp/Liềm ai gặt trăng non/Lúa đầy ắp thuyền vàng ngấn nước/Kéo trăng về bì bõm hoàng hôn” (Gặt hoàng hôn - tập Những câu thơ từ đất). Thì ở Cây vẫn gió, Nguyễn Ngọc Tung còn tiếp cận những chi tiết rất nhỏ bé, tưởng như vụn vặt của nhà nông, ít người làm thơ về nông thôn chú ý, là những cái chang cào lúa, cái sẹo trâu, cái néo đập lúa thủ công… Phải gắn bó và thấm đẫm đời sống nông thôn xưa đến từng chi tiết mới có thể rung cảm trước đời thường như vậy. Một cái sẹo trâu bé xíu nhặt được gần lò mổ đã tái hiện cả ký ức ấu thơ, thân phận con trâu cày cuốc quanh mùa, và chắc bây giờ phận trâu già đã vào lò mổ nên mới có “Cái sẹo trâu vật vờ bên mương lò mổ/ chòng chọc như con mắt nhìn tôi...”. Một vật dụng lầm lũi khác, là cái chang cào lúa nhưng đã được thổi vào đó cả hồn cốt đồng quê, hương thơm sống động, sâu bện mùa màng: “Cái chang phơi lúa đã mòn/ Trong từng thớ gỗ vẫn còn hương rơm” (Cái chang).

Tất nhiên, trước hết ở nông thôn của Nguyễn Ngọc Tung là hình ảnh trung tâm, còn lưu giữ trong ký ức thăm thẳm của đời người: “Mẹ cha nay đã khuất/ Dây néo và quang cặp/ Treo như giọt mồ hôi/ Rơi vào ta mặn chát…” (Kỷ vật). Đôi quang và dây néo đập lúa là vật dụng thủ công đằng đẵng bao đời ở nông thôn trước cơ giới. Bây giờ những kỷ vật treo trên vách kia chính là những giọt mồ hôi, giọt người luôn thấm vào thi sĩ bóng hình những người thương yêu nhất, bóng hình mẹ cha. Nông thôn ở Cây vẫn gió còn có cuộc đời “Người đào giếng”: “Anh thuộc từng thớ đất/ Biết mạch nào nông sâu/… gạn chắt tháng năm gọi nước về”. Có những thợ mộc ở “Làng mộc”: “Làng trên, bến dưới bè gỗ đi về/ Vợ chồng choãi chân kéo cưa, lừa xẻ/ Kéo bao chân trời, lùa bao góc bể/ Cưa đục long đong đẽo gọt phương người/…/ Người làng mộc thật như lõi gỗ/ Chỉ bếp là giàu đầu mẩu cám cưa”. “Kéo bao chân trời lùa bao góc bể” là câu thơ hay, có tầm khái quát, phiêu cảm của nghề “kéo cưa, lừa xẻ”, nâng hẳn vóc dáng người thợ mộc, vốn “Long đong đẽo gọt phương người”. Ở đó còn có những ông thợ may vốn là thương binh từ những mặt trận nóng bỏng về làng; có người chị dâu tần tảo nuôi chồng thương binh, nuôi con ăn học… Và, chắc hẳn rồi, có mẹ ta ung dung tự tại, bình thản làm sao, lồng lộng trước không gian, thời gian: “Mẹ ngồi chải tóc vào mây/ Vo tròn sương gió cho đầy nắng xuân!” (Nắng xuân). Rồi một ngày, những đứa con của mẹ, làm sao khác đây, cái quy luật của đất trời đã sắp đặt cho mọi cuộc đời, mà se sắt lòng ta: “Mẹ đi sớm về khuya/ Gánh bao mùa rụng lá/ Con thèm một lời ru/ Sợ một ngày vắng gió…” (Nếu một ngày vắng gió).

     Tình cảm với cha, mẹ không chỉ là cái riêng của mỗi đời người, nó còn là thứ văn hóa đặc thù “tình mẹ, nghĩa cha”, “tình làng, nghĩa xóm” vốn rất sâu sắc ở nông thôn. Nó lẩn khuất ẩn hiện, mộng du, ảo giác ám trong tâm hồn người ta… Bài “Đêm qua mẹ về” của Nguyễn Ngọc Tung là một bài lục bát hay, dung dị mà xúc động nói về cõi thực thực mơ mơ của tình cảm ấy: “Rõ là bóng mẹ đi qua/ Thì ra gió vít cành la cành bồng/ Lập lòe đom đóm bờ sông/ Như là mẹ đấy mà không thấy người/ Rõ là mẹ bổ cau rồi/ Mà buồng cau vẫn xanh ngời trái cau…/ Đêm qua mẹ về thật lâu/ Sao chẳng thấy mẹ ăn trầu như xưa?”.

     Nhưng khác với nhiều nhà thơ viết về nông thôn trong xã hội công nghiệp và đô thị hóa nhanh, với những dằn vặt về sự mất đất sản xuất từ thuở ông cha, thậm chí lấy đất để dành cho các đại gia tư nhân, các nhóm lợi ích này nọ, hay những lo âu về sự biến đổi, xuống cấp của văn hóa, xã hội ở làng thì Nguyễn Ngọc Tung nhìn những biến động ấy một cách nhẹ nhàng điềm đạm, “hòa bình” hơn. Thường là những câu thơ gợi những ký ức đẹp, những nét đời sống đã trở thành những nét văn hóa làng đã thay đổi mà làm ta nao lòng, tiếc nuối: “Trăng còn khi tỏ khi mờ/ đã quên để nhớ, đã chờ để yêu/ Mênh mông quá, mênh mông chiều/ Đồng quê vẫn gió mà diều về đâu?” (Mây trắng vẫn tìm trời xanh). Ta biết, không chỉ cánh “diều về đâu?” mà biết bao vẻ đẹp đồng quê, người quê giờ cũng đồng cảnh trong câu hỏi đó. Bởi vậy, Nguyễn Ngọc Tung luôn coi quê làng là nẻo về, là nơi thấm đẫm kỷ niệm ấu thơ của những người quê đó, nhưng giờ đây bấp bênh giữa cái còn cái mất: “Về làng vắng ngọn tre cao/ Bờ ao bói cá chiêm bao bóng chiều/ Ai như dáng mẹ liêu xiêu/ Tay run run vớt phận bèo nổi nênh/ Ta về ta gặp lại mình/ Vừng thơm, tương muối ấm tình ngõ trăng/ Sao lòng chợt thấy bâng khuâng/ Lơ ngơ mái phố chen chân bóng làng…” (Về làng). Vì thế, thơ anh cũng nhẹ nhàng gọi sự trở về với nguồn cội: “Tôi về sóng vẫn đầy sông/ Người sang chật bến mà không thấy người…/ Người đi biền biệt chân trời/ chiều nay có tiếng đò ơi… gọi về” (Gọi). “Không thấy người…”, không chỉ là người từng thương nhớ của nhà thơ, mà là tiếng gọi cái chất “Người” của quê, của văn hóa làng trở lại, trong một niềm thảng thốt nhớ thương!

Cốt cách thơ Nguyễn Ngọc Tung là vậy. Anh không quá vồ vập, riết róng mà luôn nhìn quê bằng vẻ đẹp tôn thờ, bằng mỹ cảm “hòa bình”, chênh chao và lãng mạn. Anh vẫn là nhà thơ lấy truyền thống làm căn cốt sáng tác, nhưng tìm tòi ở câu, ở ý, ở hình tượng. Nhiều bài thơ lục bát của anh dung dị, trong sáng mà lay thức hồn làng trong mỗi con người muốn tìm về quê.

T.Q.Q

Vũ Hương Xuân