NHIỆT LIỆT CHÀO MỪNG 43 NĂM NGÀY GIẢI PHÓNG MIỀN NAM, THỐNG NHẤT ĐẤT NƯỚC (30/4/1975 - 30/4/2018)
Từ khóa tìm kiếm Từ khóa tìm kiếm

Tuyển tập Thơ và Trường ca đoạt Giải thưởng Văn học Nghệ thuật 1997 - 2016 (Quyển 2, phần 4)

(Ngày đăng: 18/01/2018, số lượt xem: 12)

 

 

 

Trăng châu thổ
 

 

 

NHÀ XUẤT BẢN HỘI NHÀ VĂN, 2007
 

 

 

 

 

 

------------------------------------------------------
 

 

 

 Tập thơ đoạt Giải C,
 Giải thưởng VHNT tỉnh Vĩnh Phúc 5 năm lần thứ III
(2006 - 2010)

 

  

 

 

 

 

 
Sập vuông
đặt giữa nhà thờ họ
gỗ lim ánh màu gương
 
Gặp lại tuổi thơ
men men sập gỗ
châm đóm thuốc lào
nhận lộc ông trưởng họ
 
Nghĩa trang dày những ngôi mộ
Vào đời
tôi biền biệt xa quê
có dịp về
ít đúng ngày giỗ Tổ
 
Tuổi sáu mươi
được mời lên sập gỗ
len vào niềm vui
nỗi lo xa.
 
Tôi vịn vào
Người xưa

 
 
       
  
 
 
 
Chim trong lồng, lồng nhốt trong nhà kính
Cháu con đi làm cửa khóa rèm buông
Chim còn non tơ ta thì già cả      
Chim hót nhớ trời - người nhớ cố hương.
              
   6 - 2001

 
 
 
 
 
 NẮNG HUẾ
 
Những mong mưa đón mình về
Bây chừ gặp Huế bốn bề nắng loang
Thơ mưa làm nón khô rang
Nỗi buồn núi Ngự lan sang Cấm Thành
Giọt chuông Thiên Mụ mỏng manh
Rỏ lên mặt nước tím xanh đợi chờ
 
Nắng vàng đủ rạng gì xưa
Thời gian rêu phủ e lừa thế gian
Cán cân đạo lý đa đoan
Nhẹ công nặng tội nỗi oan để đời
 
Phù du ngắn lắm phận người
Mãi còn một Huế đẹp thời vàng son.
 

 

 

  Huế 20 - 6 - 2003
 
 

 

 

 
 
 
 
 
 
Giá như mưa cứ rơi thánh thót
Để tôi mờ tỏ trước Hoàng Liên
Có cớ làm quen người bên cạnh
Khăn piêu, yếm thắm nếp ô nghiêng
 
Giá như mưa cứ rơi thánh thót
Tiếng trầm tiếng bổng nhịp khèn vui
Biết đâu người ấy khe khẽ hát
Đôi bóng di dơ (*) liệng giữa trời.
Giá như mưa cứ…trời chợt nắng
Thổ cẩm Sa pa lộng lẫy màu
Chợt ai đến đón người lên ngựa
Một mình
    một bóng
   một cơn ngâu.
 
-------------------
 (*)Loài chim sống chết có nhau

 

  

 

 

 

 

 
 
 
 
 
Trạng Nguyên, Hoàng Giáp bao người
Cửa quan thì hẹp, cửa đời khắt khe
Ai Vua dụng, ẩn làng quê
Đội bia rùa thấu ê chề nỗi đau
 
Lưỡng Long chầu nguyệt dãi dầu
Ngàn năm văn hiến xanh mầu cỏ cây.
Nối đời lều chõng đắm say
Khiêm nhường văn hiến đất này cùng dân
 
Nén nhang tôn kính Tiền nhân
Áo the khăn xếp
         Bút thần dâng thơ.
 
 
 
 
 
 
 
 
Hẳn là liền chị liền anh
Cổ xưa như thể trầu xanh vôi nồng
Áo the bên nón ba tầm
Mạn thuyền lúng liếng trăng rằm vàng in.
Trước tôi ai đến Hội Lim
Mai sau lành lặn mũ xiêm, yếm hồng.
Tuổi mình duyên cạn đứng trông
Một thời quan họ đèo bòng vấn vương
 
Câu vui gửi vội trầu thơm
Câu buồn thì cứ chờn vờn phận ta
Chùa Dâu, Tháp Bút còn xa
Nhớ ai màu áo sim già ni cô
 
Bồng bềnh tỉnh thực đâu mơ
Hội Lim duyên đợi nẻo xưa…kịp về.
 
  1 - 2000
 
 

 

 

 

 

 

 

 

 

 
 
 
 
 
Cửa Ngăn ở đâu
 đến giờ tôi chưa hề biết.
Câu thơ vĩnh biệt
“Ở đây không gỗ ván
vùi anh trong tấm chăn”
theo thời gian
tôi cùng các em
“Khóc anh không nước mắt”
 
Nỗi bất ngờ
đồi Quế Trạo
chiều nay
gặp mộ bia Hoàng Lộc
Tôi hỏi trời hỏi đất
tuổi ba mươi
Ông nằm ở nơi đâu?
Xuân Trạch
Bến Then
mây Sáng Sơn buông dải lụa mềm
sóng Lô giang ứa lên màu đỏ
 
Chở che ngôi sao
cây vải thiều Hải Dương quê anh
ngọn cỏ mùa xuân
bông hải đường đỏ ấm ngày đông
khói hương người núi Sáng
 
Từ cửa trường
tôi hình dung vóc dáng
trẻ măng
“Hôm qua còn theo anh”.
   
  25 - 5 - 2005 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Ánh trăng níu lại hoàng hôn
Đồi cao mẹ vội về xóm
 
Trăng hạ tuần nhập nhòa liếp mỏng
Mẹ đi làm đồng xa
 
Trăng tròn vành vạnh sân nhà
Mẹ giần sàng, ủ bếp
Đêm thành phố ánh trăng hao khuyết
Nơi mẹ yên nghỉ đồi đầy trăng!
                         
    5 - 7 - 2000
 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 
Đam mê áo trắng hay màu nắng
Về quê Vỹ Dạ hỏi thăm Hàn
Vườn ai mướt quá* người đâu vắng
Gió theo lối gió nẻo nào sang
 
Đường Hàn Mặc Tử êm dòng chảy
Gặp nắng hàng cau hoa bắp lay
Lắng nghe rất khẽ sông Hương thở
Đò ai còn ướt ánh trăng gầy
 
Nhà vườn hun hút xanh như ngọc
Lá trúc che ngang, người chốn đâu
Hỏi nhà thi sỹ - Thưa đâu có
Hồn thơ Vỹ Dạ hóa màu mây.
 
 Thôn Vỹ Dạ
     22 - 6 - 2004
----------------------------
 (*) Thơ của Hàn Mặc Tử

 

 

 

 

 

 

 
 
 
 
 
 
 
 
 
Những người muôn năm cũ*
Gặp lại buổi hôm nay
Sân đình hoa đại trắng
Đường phố mát hàng cây
Ông áo the khăn xếp
Ông cà vạt com lê
Bút lông thảo những nét
Như phượng múa rồng bay
Người xin đôi câu đối
Người chữ Thọ, chữ Nhân
Mực Tàu nền giấy đỏ
Tìm vui vợi lo toan
 
“Những người muôn năm cũ”
Về hòa cùng đời vui
Chữ thầy như nụ thắm
Tri âm với tình người
 

 

 

         Tết Nhâm Ngọ
 

 

 

 --------------------------
(*) Thơ Vũ Đình Liên 
 
 
 
 
 
 
 
 
Mộc Châu trưa ấy mây đâu vắng
Nắng đến kiêu sa rạng rỡ vàng
Đất trời thăm thẳm xanh độc thoại
Lòng mình đa cảm lại đa mang.
 
Rãy mới non xa tươi tươi đỏ
Cây ơi người hẹn thắm mùa hoa
Cành la, cành bổng đan mơ mận
Đào chín tay em phấn mịn da
 
Thảo nguyên sương tuyết màu chè biếc
Em ở nơi nào hái búp non
Ước chi có bướm về lượn múa
Để anh còn cớ gặp Lăm vông
 
Mộc Châu nỗi nhớ chưa trọn vẹn
Suối mát, đồi xanh giữ hộ mình
Vầng mây trắng muốt bay bảng lảng
Cùng múa lăm vông, vít rượu cần.
      
   Mộc Châu, trưa 16 - 4 - 2002
 
 
 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 
 
Bãi non biển Bạc Liêu
dấu chân chim đan hình mạng nhện
dấu chân em ngập trong bùn quánh.
 
Sóng triều đỏ
đâu dấu chân chim
dấu chân em!?
 
Chạm non xanh
cây đước cây tràm
chạm tiếng chim quây tổ.
 
Cây ơi
hỏi gió
tìm hộ người đi.
                                
 Biển Bạc Liêu 6 - 1979
 

 

 

 
 
 
 
 
 
 
 
 
Cát phẳng mịn vươn tầm lung linh trắng
Biển xanh hơn hun hút chân trời
Cờ Tổ quốc nơi địa đầu Sa Vỹ
Sóng rừng dương rạo rực nhịp tim tôi.
                                              
Móng Cái 6 - 2000
 
 
 
 
 
 

 

 

 
 

 

 

 PHÓ ĐÁY
 
Lòng sông
phả trắng
viên sỏi
dòng hẹp
qua sông người lội
không nỡ mang đi ngấn phù sa.
 
Những giọt nước
tích hợp đại ngàn xa
nuôi bãi ngô
nương sắn
cây đồi cao màu đá ong nâu sẫm
làm mái che sông.
 
Người đôi bờ
khen khoai ngọt tháng năm
sắn bung tiết chạp
quen rồi lam lũ.
 
Lòng sông âm thầm
lắc đầy tầng văn hóa cổ
luyến láy điệu Trống quân
tiếng khèn ấm đỉnh mờ sương
ngả nghiêng vòng bạc trắng
các quan Võ, quan Văn
đình làng
hướng nhìn ra sông.
 
Tôi ngược dòng
không nỡ
mang hạt phù sa
mang hồn Phó Đáy.
                                      
  11 - 7 - 2006

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 
 

 

 

 GẶP Ở ĐỀN HÙNG
 
Lần đầu lên Đền Hùng
Gặp màu mây truyền thuyết
Công chúa soi giếng Ngọc
Đám cưới nàng Ngọc Hoa
 
Gần gũi câu chuyện xưa
Vua tôi cùng cày cấy
Hạt thóc gieo thuở ấy
Dẻo nắm cơm chiến hào
Thương mẹ cha giáp hạt
Khoai sắn nhường nhịn nhau
 
Đá thề nhắn người sau
Gươm bao đời tuốt vỏ
Dấu binh đao khói lửa
Trong sắc màu đất tươi.
Lên Đền Thượng bồi hồi
Thấm sâu lời Bác dặn
Cha anh từng chiến trận
Núi sông dồn hai vai
Chiến dịch rồi chiến dịch
Không áo giáp bia hài
Bao cánh rừng đuổi giặc
Đều gửi gió về đây.
 
Màu ngói lẫn màu mây
Thoảng hương trầm cầu phúc
Nhớ rừng xa bão táp
Nơi đồng đội hy sinh.
 
Hồn thiêng màu cờ đỏ
Trên đỉnh cao Hy Cương
Ôi mây sao quá gần
Trắng mờ bia mộ Tổ.
 
Điều quen và chuyện lạ
Cứ xao xuyến trong lòng
Lần đầu viếng Đền Hùng
Như gặp mình ở đó
Hoành phi mang ráng đỏ
Với thông xanh bạt ngàn.
 
Thế đứng cùng Tổ Tiên
Đưa tôi đi giữ đất.
                         
  3 - 1983
 
 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 
 
Nối hai miền châu thỏ
Nắm cơm nếp dẻo thơm
Sáng nay mẹ tiễn con
Ở sân bay Hà Nội.
 
Giá rét giờ đọng lại
Chiếc áo len em đan
Gặp màu nắng phương Nam
Lòng anh là mùa hạ
 
Ôi hai mùa châu thổ
Tha thiết với đời tôi
Nơi tuổi để bồi hồi
Tiếng trống chèo dìu dặt
Nơi sau trận thắng giặc
Nghe câu Lý ngựa ô
Đất giàu những lời ca
Hồn tôi nâng mơ ước
 
Tay cầm lên nắm đất
Sông Hồng hay Cửu Long
Mà lòng cứ rưng rưng
Nhớ bao đời giữ nước
Nơi gió bấc lạnh buốt
Nơi mùa khô nóng rang
Bầm sông Hồng lam làm
Má Cửu Long cần mẫn
Gieo tôi niềm khát vọng
Một tình yêu đằm thắm
Hai phương trời chờ mong
Em ở ngoài Sông Hồng
Vào mùa chiêm bảy tấn
Đồng đội anh xuống ruộng
Cắt dây kẽm gỡ mìn
Đêm gió chướng Cửu Long
Thao thức mầm lúa thở
 
Hai tấm lòng châu thổ
Mở ra một tình yêu.
 
 
 
 
 
 
 
 
Rạ mùa vừa lên cây
Hơi lạnh se nắng sớm
Mùa bổ cau đến sớm
Nhà đội trưởng rạng đèn
Quây quần quanh bếp hồng
Dao cau lia thoăn thoắt
Chuyện về khuya đượm nồng
Như miếng trầu nhai giập
 
Qua bảy mùa gặt thóc
Nay trảy lứa cau đầu
Buồng trĩu mấy tầng quả
Kém gì dưới xuôi đâu
 
Cau “mạ lửa” ăn năm
Cau tỉnh Thanh ăn sáu
Thứ cau chiêm lựa khéo
Bổ bốn hãy còn dư
 
Nhớ lại mới ngày nào
Ở đây xa chợ phố
Nhỡ cau ăn rễ vỏ
Vị nhạt phai trầu thơm
 
Miếng trầu ngấm đêm đông
Việc gia đình, tiền tuyến
Tết này mấy đám cưới
Dành lại giống cau Thanh.
 
Miếng cau cong mũi thuyền
Hạt dẻo cùi trắng nõn
Tay mẹ rải đều đặn
Lên nong kịp nắng mai.
 
Mùi nồng lá trầu tươi
Quyện hương thơm rạ lúa
Bếp cời hồng ngọn lửa
Đầm ấm mùa bổ cau.
                 
 1 - 1973
 
 
 
 
 
 
 
 
 

 

 

 

 GIẢ THỰC
 
Tóc hồi sinh màu thuốc
giọng lơ lớ thị thành
bọt bia xù căng
lời chúc.
 
Bạn hữu đâu…?
vỏ bia va lăn lóc
 
Chạm mặt gương
mình không còn thực
chạm ô cửa
vơi với đồng xa
 
Nguyên vẹn
ánh mắt mẹ già
ngày tiễn con ra phố!
  
                  4 - 7 - 2004

 

 

 

 
 
 
 
 
 
                   Viết cho Liên - Tú - Thủy
 
Gian nhà ngang vẻn vẹn mười sáu mét vuông
Nơi ngồi học với bàn gỗ mộc
Nhà đã cũ mẹ cha đâu nỡ đập
Dọi mái, vá tường lưu nét tuổi thơ.
 
San khó khăn, sách giáo khoa bọc bìa
Chị lớn học, em út dùng còn mới
Nơi ngồi học thơm ngô bung, dưa muối
Lợn đòi ăn, bố mẹ dạy tiết năm
 
Đèn nê - ông giờ ít sáng nhà ngang
Cha lại nhớ ánh đèn tròn đỏ sẫm
Điện mất luôn đèn dầu nhập nhoạng
Tiếng quạt mo xua muỗi canh khuya.
 
Cửa ngách lên trường mòn lối đi về
Bóng nhãn, giếng đồi mỏi tay kéo nước
Nhà tập thể mái lượn oằn rêu mọc
Lam lũ cô, thày…con biết chăm ngoan.
Cửa đại học lần lượt đón ba con
(Cha phân vân không cùng nghề bố mẹ)
Niềm vui muộn mới lên ông bà ngoại
Việc cơ quan ba con ít về thăm.
Căn nhà ngang vắng hơi ấm cháu con
Trống trường vọng cha lặng nhìn giá sách
Tay lần giở nét chữ con thân thuộc
Giáo án chồng cao vơi nỗi nhớ trường.
 
Căn nhà ngang lam lũ với thời gian
Tổ ấm gia đình thày trò trọn vẹn
Chốn đô thành nhớ quê đồi thương mến
Căn nhà ngang rộng trang sách vào đời.
                               
   10 - 2005

 

 

 

 
 
 
 
 
      Tặng Xuân
 
Vẫn trang giáo án dày thêm
Ê ke, thước kẻ treo nghiêng góc tường.
Vẹn nguyên tiếng vọng trống trường
Lối qua tập thể con đường mát cây.
 
Bởi yêu mau tháng ngắn ngày
Con đò chở đạo ắp đầy mắt thơ
Để giờ neo lạị bến xưa
Hoàng hôn nghiêng ngọn sóng xô cuộc đời
Niềm vui san sẻ cùng người
Nỗi buồn ngẫm lại để soi phận nghề
 
Con xa - đò vắng - vườn quê
Chao ôi tiếng trống vọng về sớm hôm.
                                                        
 5 - 9 - 2002
Nguyễn Tạ Vĩnh Hà