NHIỆT LIỆT CHÀO MỪNG NGÀY NHÀ GIÁO VIỆT NAM 20/11!
Từ khóa tìm kiếm Từ khóa tìm kiếm

TIỂU THUYẾT VĨNH PHÚC - Tuyển tập tác phẩm đoạt Giải thưởng Văn học Nghệ thuật 1997 – 2016, (phần 4)

(Ngày đăng: 19/01/2018, số lượt xem: 102)

 


 

 

PHÙNG KIM TRỌNG

 

 

 

Tráo đá

 

NHÀ XUẤT BẢN QUÂN ĐỘI, 2011

 

---------------------------------------------------------

 

Tiểu thuyết đoạt Giải C,

 Giải thưởng VHNT tỉnh Vĩnh Phúc 5 năm lần thứ IV

(2011 - 2015)

 

CHƯƠNG MƯỜI

 

Bà Thân hoàn toàn không hiểu được vì sao cô con gái Lệ Mai của mình đang khỏe như vậy lại lăn ra ốm. Nuôi con từ nhỏ bà thấy chưa có đứa nào mà nhàn như Lệ Mai. Ngay từ ngày còn bé Lệ Mai cứ ăn, cứ lớn, động một tý là nhoẻn miệng cười, đố ai thấy Lệ Mai của bà nhăn nhó vì đau ốm gì. Nếu bà nhớ không nhầm ngoài lần sốt mọc răng ra cô con gái của bà không hề nhức đầu, sổ mũi. Con gái con đứa mà nó toàn thích những trò chơi của bọn con trai, đánh khăng, đánh đáo, chơi trận giả, lớn lên một tý nữa thì nhảy ra sân đá bóng với bọn con trai. Nhìn Lệ Mai nhiều người bảo rằng có lẽ bà mụ nặn nhầm chứ đúng ra nàng phải là con trai. Người Lệ Mai ngay từ nhỏ đã chắc như thép rèn, bà vẫn còn nhờ hồi còn trẻ con hễ cứ chiều đến là nó ra cái cây nhãn đằng sau nhà, cây nhãn có một cành nằm ngang mặt đất, to bằng cổ tay. Nó bám hai tay lên đó vắt vẻo hết co tay kéo người lên rồi lại lộn người qua cành nhãn trông như con khỉ con. Có người bảo với bà rằng bà được tay nuôi con như vậy thì cứ đẻ lấy vài đứa mà nuôi cho bõ. Của đáng tội chỉ đến con bé này thì bà mới được tiếng là mát tay như vậy chứ ba thằng anh nó làm cho bà đầu tắt, mặt tối. Ngày đẻ thằng đầu - thằng Hưng - lúc mới đẻ nhìn tóc nó đen nhánh, da dẻ nhẵn nhụi, cứ nằm ngủ im thin thít như quả bí, bà đã thầm cảm ơn trời phật thương bà cảnh neo đơn nên đã cho bà một đứa con hay ăn, hay ngủ như vậy. Nó cứ ăn, cứ ngủ cho bà như vậy thì bà cũng có thể yên tâm lo sản xuất để cho ông Nghiên hăng say chiến đấu. Ai ngờ chỉ vài ngày sau nó bị viêm phế quản. Khi đưa đến bệnh xá, ông y sỹ Đồng bảo rằng thằng bé bị sặc nước ối khi đẻ. Ông ta trách bà khi đẻ đã không chú ý đến tiếng thở nặng nhọc của con. Đứa con khi mới đẻ nó phải khóc, khóc càng to càng tốt. Còn nếu nó không khóc thì phải bế nó lên, ấp nó vào ngực mình rồi vỗ mạnh vào lưng cho nó bật ra tiếng khóc. Trời ạ! Lần đầu tiên làm mẹ bà có được ai bảo ban gì mà biết. Thấy đứa con hồng hào ăn no rồi ngủ ngoan lại đi vỗ cho nó khóc thì họa có mà điên. Bây giờ sự thể đã thế này thì trăm sự nhờ trời. Bà nhìn đứa con trai mà vừa hôm qua còn là niềm mơ ước, là hòn ngọc của bà hôm nay nằm im như sắp về với tổ tiên mà lòng quặn đau, khóc không ra tiếng. Ông y sỹ bệnh xá trưởng bảo rằng: Thôi thì tôi đành đánh bạc với trời. Nếu cháu nó không có số làm người thì bà cũng đừng trách cứ gì tôi. Ông ta lấy ra một cái xi-lanh to như cái ống thổi, gắn vào cái kim nhỏ nhưng dài đến cả gang tay. Nhìn thấy cái dụng cụ trên tay ông y sỹ, bà đã gào lên ông đừng có giết cháu. Nhiều người phải xúm vào ôm lấy bà để ông y sỹ chọc cái kim vào lưng thằng bé hút ra một si lanh dịch nhờn nhờn, nhờ vậy mà thằng Hưng mới được làm người. Rồi hai thằng sau, thằng Vượng, thằng Tài dù bà đã hết sức chú ý làm cho chúng nó khóc như xé vải sau khi đẻ, nhưng đứa nào cũng vậy, cứ đau ốm quặt quẹo hết bệnh này đến bệnh khác trong khi chồng đi vắng, một mình bà tất tả ngược xuôi cắp con đi tìm thầy, tìm thuốc bao nhiêu là cơ cực. Sau này nuôi Lệ Mai thấy nó cứ ăn, cứ lớn; càng lớn, càng xinh, càng giòn cười, tươi khóc không phải vất vả gì thì bà lại có chồng bên cạnh. Nhiều lúc nhìn con bà đã thấy lo lo hay nó đúng là con trời cháu phật mượn cửa làm người. Bà mang con gửi vào nhà chùa, sư thầy bảo rằng Lệ Mai là công chúa đại ngàn. Bà chả hiểu nó ra làm sao, bà là nông dân chân đất mắt toét làm sao mà đẻ ra công chúa được kia chứ? Nhưng thôi! Thầy đã nói vậy thì nó là vậy, người đời bảo gì bà làm vậy chỉ cầu mong cho con được khỏe mạnh như người là bà mừng rồi. Giờ đây 20 tuổi đầu đang hơn hớn như bông hoa mới nở nó đột nhiên lăn ra ốm, mà có vẻ như bị ma nhập có lúc mắt nó trông dài dại như bị ma bắt mất hồn thật. Chả biết tính sao bà đi đến cô Hòa - một người có khả năng tiên đoán tương lai hậu vận của con người qua những lá bài. Có người gọi là “đồng” Hòa là theo thói quen và cách gọi của dân làng Mùi thôi chứ cô Hòa không phải là đồng cốt như những người khác. Trong nhà cô không có phủ cũng như ban thờ, nhà cô cũng giống như những nhà khác của làng Mùi chỉ có một bàn thờ gia tiên kết hợp với thờ thổ công, thổ địa. Cô Hòa cũng không theo thầy để nhảy nhót hầu đồng.

Cô Hòa nghe bà Thân nói  thì lấy ra một cỗ bài tú-lơ-khơ. Sau khi đảo đi, đảo lại cô rải cỗ bài ra trước mặt. Bà Thân nhìn vào cứ như nhìn vào bức vách, khổ một nỗi từ nhỏ đến giờ đây là lần đầu tiên bà nhìn thấy những quân bài. Bà đâu có biết con , con pích là con nào. Cô Hòa ngồi rất lâu trước những con bài rồi bảo: Bệnh của Lệ Mai là do một người đàn ông mang lại, bệnh này không thể chữa bằng thuốc, cũng không thể chữa bằng cúng được. Bệnh này chỉ có thể chữa được bằng cách cho Lệ Mai đi đâu đó thật xa, đại loại như đi du lịch một thời gian hoặc nếu đi hẳn được khỏi làng Mùi là tốt nhất. Cô Hòa hỏi bà xem Lệ Mai đã yêu ai chưa? Bà suy nghĩ một lúc rồi quả quyết lắc đầu. Cô Hòa mỉm cười bảo; Nhưng những quân bài lại nói rằng cô ấy đã yêu và bị thất tình. Nghe cô nói bà Thân chỉ muốn hét vào mặt cô mà bảo rằng đừng có mà nói nhảm, bà nuôi và dạy con bà cẩn thận chứ đâu phải lũ mèo mả, gà đồng. Bà cũng đang mong cho con bà có đôi có lứa. Kể ra thì cũng lạ thật. Lệ Mai là một cô gái giòn người tươi nết, đảm đang, tháo vát vào hàng hiếm có của làng Mùi. Thói thường những cô gái như vậy thì ngay từ khi còn nhỏ đã được các cậu con trai, rồi các bà mẹ chú ý. Nếu không định đi học để tấp tửng bay cao, nhảy xa thì chỉ cần ra dáng con gái một tý đã có người rước về làm dâu rồi. Nhưng Lệ Mai kể từ khi thôi học ở nhà mặc dù bà đã nhiều lần đánh tiếng rằng: Con gái học thế thôi còn ở nhà lấy chồng. Thế mà vẫn không thấy có chàng trai nào đến xin ông bà cho phép tìm hiểu. Trong khi Lệ Mai đi đến đâu thì cánh con trai cũng quây lấy săn đón chiều chuộng vậy mà tối đến nhà bà vắng tanh, vắng ngắt. Hình như các cậu con trai của làng Mùi bị mẹ cấm cửa không dám bén mảng đến gần nàng. Ngay cả cái cậu Thanh nhà ở ngay cạnh nhà bà, trước kia hai bà mẹ cũng đã có ý tác thành cho hai đứa vậy mà sau này khi bà Nhu cùng chồng chuyển nhà đi khai hoang làm kinh tế ở trong núi Thắm thì hai đứa ít khi gặp nhau. Cái chuyện trai gái, nếu muốn cho chúng nên vợ nên chồng thì phải cho chúng thường xuyên quấn quýt lấy nhau. Lửa gần rơm lâu ngày cũng bén, các cụ nhà ta chả dạy thế còn gì. Cái nhà bà Nhu ấy chả biết nghĩ gì mà lại tách đôi trẻ ra như vậy. Thực ra nhà ông bà ấy nào có thiếu thốn gì. Ở cái làng Mùi này từ trước tới nay ông bà ấy vẫn thuộc vào hàng giàu nứt đố nổ vách, nhưng thôi chắc phải có lý do gì. Cái cậu Thanh ấy kể ra cũng tệ, vừa mới xa một cái là đã quên ngay bạn cũ. Cũng may, hai đứa chúng nó vẫn chưa có gì, về thực chất vẫn chỉ là hàng xóm, là bạn thời trẻ con thôi. Còn nếu như chúng đã trót nặng lời thề non hẹn biển mà giờ đây ngoảnh mặt làm ngơ thì kể ra cuộc đời này cũng quả là bạc thật. Mãi gần đây mới thấy Chu Khởi thỉnh thoảng lui tới nhưng là tới để đánh cờ với ông Nghiên chứ không phải để tìm hiểu hay tâm sự với Lệ Mai. Nhiều lúc nhìn Chu Khởi bà cứ nghĩ không hiểu bây giờ anh ta là người như thế nào, chứ ngày bé cũng là loại rách trời rơi xuống. Ai đời mới mấy tuổi đầu đi xem phim ở sân kho hợp tác, không có tiền mua vé sắp đến giờ chiếu anh ta chui rào vào xem, chả có ai chui rào mà lại chui đằng đít vào trước, mấy người bảo vệ tưởng thằng bé định chui ra mà phim sắp chiếu liền kéo vào. Cái chiêu ấy của thằng bé khiến nhiều người của làng Mùi lắc đầu. Nhiều người bảo rằng thằng bé này lớn lên sẽ gớm lắm đây. Dân làng Mùi vẫn cứ bảo rằng Chu Khởi đến nhà bà chủ yếu là vì cô con gái Lệ Mai. Chứ cả cái làng Mùi này ngoài Lệ Mai ra thì ai là người có thể giữ chân con ngựa bất kham ấy lại nữa. Người ta nói thì cứ nói, nhưng bà làm mẹ chả lẽ không hiểu được lòng con. Hơn nữa bà cũng để ý xem giữa hai người có ý tứ gì không? Nhưng rõ ràng anh ta đến chủ yếu để đánh cờ với ông Nghiên, đánh cờ chán lại bày ra uống rượu rồi nói với nhau những chuyện trên trời dưới bể gì ấy, chứ có thấy anh ta với con gái bà nhìn gì tới nhau mà bảo rằng yêu. Vậy mà cô Hòa này lại dám bảo con gái bà thất tình thì ai mà chịu được. Nhưng bà Thân từ trước đến nay vẫn là người hiền lành. Cái gì thấy sai bà chỉ biết ấm ức trong lòng chứ ít khi bộc lộ ra cho người ngoài biết.

- Vâng! Cô nói vậy thì tôi biết vậy. Nhưng chẳng hay cháu nó phải lòng anh nào vậy?

Cô Hòa nhìn người mẹ với vẻ thương hại. Hóa ra bà ta chưa biết gì thật sao? Hai ngày nay cả làng Mùi đang kháo nhau ầm lên về chuyện Lệ Mai vào tận nhà ông Thận Hải, bố vợ tương lai của Nguyễn Tiến Thanh để định tranh cướp chồng với cô em họ. Người đời nói quả không sai: Những chuyện xảy ra với con cái thì người mẹ bao giờ cũng là người biết sau cùng.

- Cái này thì những quân bài lại không cho biết.

Bà Thân ra về, trong lòng bán tín, bán nghi. Bà bắt con gà giò, nấu bát cháo ngải cứu bưng lên buồng cho con gái. Bà cảm thấy ruột gan mình như có muối xát khi nhìn thấy vẻ mặt xanh xao, ủ dột của Lệ Mai. Bà đỡ cô dậy dỗ dành như với một đứa trẻ.

- Này con cố húp một tý cháo cho nó khỏe.

Lệ Mai ngạc nhiên nhìn mẹ rồi lại nhìn bát cháo. Nàng đang sống trong một thế giới không thực. Trong tâm thức của mình Lệ Mai như lờ mờ nhận ra người mẹ hiền từ. Mùi cháo ngải thơm xộc vào mũi khiến nàng choàng tỉnh. Nàng chợt nhớ tới những cây ngải trong vườn thuốc nam nhà Tiến Thanh. Nàng nhìn mẹ, rồi lại nhìn bát cháo.

- Mẹ, mẹ hái ngải ở đâu đấy?

- Mẹ hái bên vườn bà Nhu.

- Đấy là vườn thuốc của anh Thanh đấy mẹ.

- Mẹ biết rồi. Con cố ăn cho khỏe.

- Anh Thanh hái cho con phải không mẹ?

Bà Thân im lặng nhìn con gái, không hiểu ý nghĩa câu đó là thế nào, trong khi Lệ Mai vẫn chăm chú nhìn bà chờ đợi câu trả lời.

- Đúng rồi! Chú Thanh chú ấy hái nhờ tôi mang về nấu cháo cho em đấy.

Cũng may mà Chu Khởi đang ngồi đánh cờ với ông Nghiên ngoài nhà nghe thấy nói vọng vào, khiến Lệ Mai như người vừa chết đi sống lại.

- Chú ấy bảo rằng em phải ăn thật no vào.

Chu Khởi ngừng đánh cờ, đến bên cửa buồng nhìn Lệ Mai và bà Thân. Lệ Mai ngước nhìn Chu Khởi, ánh mắt rạng ngời.

- Anh ấy bảo vậy thật hả anh Khởi?

- Từ trước đến giờ Mai thấy tôi nói dối bao giờ chưa?

Lệ Mai nhìn Chu Khởi vẻ biết ơn rồi bưng bát cháo lên ăn. Nhìn nàng ăn ngon lành, bà Thân ngạc nhiên không hiểu vì sao nghe Chu Khởi nói mà Lệ Mai lại như khỏe ra. Hay là… Hay là chúng nó… Bà thấp thỏm mừng thầm.

Chu Khởi quay trở lại bàn ngồi cùng ông Nghiên trước bàn cờ. Nhưng phải thừa nhận một điều rằng hôm nay hắn không có tâm trí nào mà tập trung vào đánh cờ nữa. Không hiểu tâm trạng ông Nghiên ra sao, chứ với Chu Khởi rõ ràng là đầu óc hắn đang để tận đâu đâu. Đã mấy lần hắn đi nhầm nước khiến ông Nghiên phải ngạc nhiên không dám ăn quân của hắn sợ lại bị hắn lừa. Mấy ngày nay, bằng cái trực cảm khá nhạy bén của mình, Chu Khởi đã khẳng định chắc chắn một điều rằng Lệ Mai từ lâu đã mang lòng yêu Tiến Thanh. Một tình yêu đơn phương vật vã. Hắn thèm khát đời này có một người con gái nào đó dành cho hắn một chút tình yêu như vậy. Phải, chỉ cần có một người yêu ta như vậy, ta sẵn lòng làm trâu, làm ngựa cho người ấy cưỡi. Chu Khởi đã thèm khát mà nghĩ như vậy.

Cuộc đời kể cũng không ai biết trước ngày mai sẽ ra sao để mà hôm nay sống cho tử tế. Gã đàn ông du thủ, du thực theo cách gọi của dân làng Mùi đã nhiều lần suy nghĩ. Bị mẹ bỏ rơi từ lúc lọt lòng, lớn lên nhờ cả những lần ngửa cổ lên mút từng tý sữa từ vú con trâu cái trong chuồng. Hình như từ nhỏ, ngay cả khi được sống sung túc có người hầu kẻ hạ Chu Khởi cũng chưa cảm nhận được hơi ấm tình người. Ngay từ khi còn rất nhỏ hắn đã phải tranh giành với các anh, các chị từng củ khoai lang nướng, từng miếng cơm cháy còn sót lại trong nồi, không ai bênh hắn trong cái gia đình bố mẹ nuôi. Hơn chục tuổi đầu hắn được liệt vào hàng những đứa trẻ suy dinh dưỡng, bụng ỏng, đít vòi, người gầy nhẳng chỉ mỗi cái đầu là to quá cỡ. Cuộc đời của hắn sẽ không biết ra sao nếu vào năm 13 tuổi, khi đang cùng chúng bạn tha thẩn trên đường làng, Chu Khởi bỗng thấy có một người thanh niên đầu tóc dài trùm gáy ngồi trên một chiếc xe bình bịch dừng lại hỏi: Có thích ngồi lên bình bịch đi chơi không? Chu Khởi ngần ngại nhìn đám trẻ đang cùng chơi với mình, hắn nhận thấy sự thèm thuồng ghen tỵ trong ánh mắt những đứa bạn đang ngây người ra nhìn. Thì cả cái làng Mùi ngày ấy đã ai có được xe bình bịch, mỗi khi có một chiếc xe chạy qua làng bọn trẻ đều giương mắt nhìn, nếu như không bị bố mẹ cấm là chúng kéo nhau thành từng đoàn chạy theo, vừa chạy vừa reo hò ầm ĩ cho đến khi chiếc xe chạy khuất chỉ để lại luồng khói đen xì trên đường. Chu Khởi nhìn người thanh niên mạnh dạn gật đầu. Ngồi lên thì ngồi, sợ gì, cùng lắm thì anh ta chở mình đi bán là cùng chứ gì. Bị bán cho người khác so với trở lại nhà bố mẹ nuôi cũng không khác gì nhau. Chu Khởi leo lên ngồi sau người thanh niên, miệng nhoẻn cười chào những đứa bạn chăn trâu, cắt cỏ ở làng Mùi như chuẩn bị đi xa không hẹn ngày gặp lại. Hắn đã chấp nhận dấn thân vào cuộc phiêu lưu mới, nhưng trái với những gì hắn nghĩ, người thanh niên ấy đưa hắn trở về gặp người mẹ đã đẻ ra hắn. Người mẹ ấy giờ đây đã là vợ một một quan chức cấp cao trên tỉnh. Ông cán bộ này nghe nói vì mải mê với sự nghiệp cách mạng nên bị vợ cắm cho cặp sừng cao ngất nghểu trên đầu. Đang lúc cô đơn, buồn chán định kết thúc cuộc đời bằng một liều thuốc chuột giá có năm trăm đồng (đấy là hắn nghe kể lại), thì lại bị con bé ô-sin đánh tráo thay bằng viên pô-ly tổng hợp. Qua cơn bĩ cực, hai kẻ bất hạnh nhìn nhau như lần đầu thấy mặt. Tuy là rổ rá cạp lại nhưng mẹ hắn lại không dám nói cho ông chồng già biết về mối tình ngang trái và đứa con rơi bỏ lại ở làng Mùi. Ông ấy là con người có tâm hồn đa cảm và tấm lòng nhân hậu, ông ấy không thể tha thứ cho mẹ nếu như biết được mẹ cũng là một người phụ nữ nhẫn tâm, đã vứt đứa con mình dứt ruột đẻ ra. Mẹ hắn luôn nói với hắn như vậy. Mãi sau này vì không sinh thêm được nữa lại bị lương tâm cắn dứt, người mẹ ấy mới thuê người tìm hắn. Ngày đầu gặp lại mẹ đẻ, Chu Khởi không làm sao làm chủ được tình cảm của mình, hắn đã lao vào lòng mẹ mà khóc như chưa bao giờ được khóc. Nhưng bà mẹ ấy thay cho việc vỗ về an ủi hắn, lại nhìn hắn với ánh mắt lạnh lùng. Gương mặt của đứa con trai gợi cho bà nhớ về gương mặt bất nhân, thất đức của người đàn ông đã đánh cắp cả tuổi thơ, cả đời con gái của bà. Dù đã cố nhưng mỗi lần nhìn thấy con trai là trái tim đã bị tổn thương của bà lại đau nhói, bà không thể trút nỗi oán hận với người bố bội bạc lên đầu đứa con trai, cũng không thể sụt sùi nói ra với nó một lời xin lỗi đối với hành vi bỏ rơi khi nó vừa lọt lòng năm xưa. Lại càng không thể cho ông chồng có “tâm hồn đa cảm và tấm lòng nhân hậu” biết về đứa con tội nghiệp của mình. Mẹ hắn đã giao hắn cho chị Bính, một người phụ nữ còn trẻ trông coi. Chị Bính khi ấy mới 22 tuổi là một người phụ nữ khá quyến rũ, chị đã có chồng, có con nhưng cả chồng và con chị bị chết trong một vụ tai nạn giao thông. Góa chồng ở tuổi đôi mươi lại khoác lên người cái “tướng” khắc phu hại tử. Người phụ nữ thôn quê ấy phải bỏ làng lên thành phố làm thuê kiếm sống. Thời gian đầu chị đi chăm sóc người ốm trong bệnh viện K trung ương. Ngày nào cũng tiếp xúc với những người bệnh mang trong mình căn bệnh quái ác không phương cứu chữa, tiếp xúc với nỗi đau khổ của người khác, chia xẻ với họ những đớn đau tuyệt vọng trước khi vĩnh viễn từ giã cõi đời đầy cực lạc chị cảm thấy như nỗi đau mất chồng, mất con của chị cũng vơi đi phần nào. Thế rồi không biết duyên nợ ra sao lại có người giới thiệu chị cho mẹ hắn để bà thuê chị trở thành người giúp việc chuyên trông nom cho đứa con trai bất hạnh của mình.

Hai chị em được mẹ hắn cho ở trong một căn nhà nằm ở ngoại vi thị xã trung tâm tỉnh. Bà không muốn lộ chuyện đứa con riêng với chồng nên chủ động cách ly hắn được ngày nào hay ngày ấy. Đó là một căn nhà cấp 4 nằm trong một khu vườn rộng gần hai ngàn mét vuông, có tường gạch bao quanh. Mảnh đất có âm khí khá nặng, mãi sau này Chu Khởi mới nghe người ta nói vậy, nơi đây trước kia vốn là nơi các băng nhóm trộm cắp chọn làm nơi thanh toán ân oán giang hồ. Ban đêm thỉnh thoảng hắn nghe thấy tiếng uỳnh uỵch, uỳnh uỵch, tiếng la hét thất thường. Chị Bính bảo với hắn rằng đó là các linh hồn đang đùa chị em mình đấy thôi. Chị cho làm một cây hương ngoài vườn rồi thường xuyên hương khói, quả nhiên hắn thấy mọi chuyện yên ổn trở lại. Trong vườn được trồng khá nhiều cây ăn quả. Cái làm cho Chu Khởi thích nhất là một cái giếng khơi nước bốn mùa cứ trong văn vắt, và mát đến lạ lùng. Mùa hè đang chạy ngoài nắng về bơm một chậu nước lên vục mặt vào thấy người như tỉnh hẳn ra. Mùa đông nước giếng lại ấm như vừa đun trên bếp. Hình như có một thỏa thuận ngầm giữa Chu Khởi và chị giúp việc từ ngày về ở trong ngôi nhà ngoại vi thành phố ấy là: Hai chị em đều không uống nước lọc, không uống nước sôi để nguội mà chỉ uống nước giếng. Ngay cả nước làm đá trong tủ lạnh cũng lấy luôn từ giếng. Phải thừa nhận rằng người giúp việc của hắn là người biết lo xa, không biết bằng cách nào chị ta tỷ tê để bà mẹ lo đầy đủ giấy tờ hợp pháp mang tên hắn là chủ nhân của lô đất và ngôi nhà ấy. Chính nhờ sự lo xa ấy mà trong cơn vật đổi sao dời, chia chia tách tách, cái thị xã trong bỗng chốc trở thành một thành phố năng động và có tốc độ tăng trưởng kinh tế đứng vào hàng nhất nhì cả nước, Chu Khởi bỗng trở thành tỷ phú. Hắn cũng chẳng ngu gì mà “thái” đất bán để ăn, cũng với sự “cố vấn” của người giúp việc, Chu Khởi chỉ giữ lại một phần vườn nho nhỏ bao quanh căn nhà có cái giếng khơi còn lại hắn cho thuê mặt bằng. Tiền thuê đất đảm bảo cho hắn vung phí suốt cả cuộc đời.

Gần ba mươi tuổi, lại đã qua một lần sinh nở, người giúp việc của Chu Khởi bỗng trở nên hấp dẫn lạ thường. Chỉ đến năm đã trưởng thành, trong đêm trước của một người đàn ông Chu Khởi mới nhận ra người phụ nữ vẫn ngày đêm sống trong một căn nhà với mình có một sức hấp dẫn không gì cưỡng lại được, Chị có thân hình gọn gàng thon thả với đôi chân dài thẳng đuột, mỗi khi chị ấy mặc quần soóc hai chân trông như hai cái búp măng bóc vỏ trắng nhễ nhại khép lại đầy mê hoặc. Chị Bính vẫn có thói quen mặc áo phông rộng cổ, mỗi khi chị vô tình cúi xuống hai bầu vú trắng nõn nà nửa kín, nửa hở kích thích tính tò mò của một gã trai mới lớn. Lần đầu tiên có lẽ là tình cờ, vào một đêm lạ lắm, cái đêm đầu tiên hắn thấy trong người rạo rực, thấy khao khát một cái gì đó, lần đầu tiên cái đồ nam tính của hắn tự nhiên bật dậy ở trong quần lót. Đêm ấy hắn mơ, hắn mơ thấy mình nằm cùng giường với chị Bính, hắn ấp bộ mặt vào hai bầu vú đẫy đà của chị, chỉ có thế thôi mà toàn thân hắn đã cong lên, một luồng chất lỏng bầy nhầy âm ấm chảy ra ướt sũng đũng quần. Ngày hôm sau hắn nhìn người giúp việc của mình vẻ xấu hổ ngượng ngùng. Với cái nhạy cảm của người phụ nữ đã có chồng, chị Bính như hiểu cái gì đã xảy ra với hắn. Khi thấy hắn lặng lẽ giặt quần lót, chị nhìn hắn bảo; Em giặt như vậy không sạch đâu, xem đây này. Chị cầm chiếc quần lót vẫn còn loang lổ căng ra trước mắt hắn, hắn đỏ mặt ấp úng không biết bảo sao chỉ cúi đầu im lặng. Không có gì phải xấu hổ cả, một thằng đàn ông phải biết tự hào về điều đó. Em sẽ mang lại sự mãn nguyện cho cô gái nào làm vợ em. Hắn chả biết mình phải tự hào về cái gì trong khi chị Bính mang cái quần đi giặt lại. Hắn cứ đứng trố mắt ra nhìn nhất là khi chả biết vô tình hay cố ý chị Bính lại đem lồng cái quần si-lip bé tý xíu mầu hồng của chị lên trên cái quần lót của hắn rồi đem móc lên dây phơi. Hắn nhìn hai vật vốn không nên khoe khoang làm gì ấy lồng lên nhau bay trong gió cũng thấy vui vui. Đêm ấy đã về phòng rồi mà hình ảnh cái si-lip phụ nữ lồng bên trên chiếc quần đùi của mình vẫn cứ ám ảnh mãi tâm trí Chu Khởi. Rồi không hiểu do ma xui, quỷ khiến hay do bản năng thôi thúc mà khi nghe thấy tiếng nước dội ngoài giếng, hắn rón rén đi lại gần cửa đứng nín thở nhìn ra. Lần đầu tiên trong đời thấy một người phụ nữ hoàn toàn khỏa thân dưới ánh trăng hạ tuần hắn cứ ngỡ như mình đang sống trong một giấc chiêm bao. Người phụ nữ đang khỏa thân kia như một tiên nữ trốn xuống trần gian để đùa vui cùng hắn. Tuy vậy, vẫn có một cái gì đó mạnh hơn bản năng kìm giữ hắn lại, hắn nín thở lui bước trở lại giường khi chị Bính lau khô người và kết thúc buổi “tắm tiên” của mình. Không biết chị có biết hắn vừa nhìn trộm chị hay không nhưng khi tắm xong chị vẫn cứ đi vào buồng ngủ của hắn. Chu Khởi cảm thấy vô cùng xấu hổ nhất là khi cái của nợ của hắn cứ dựng ngược lên trong quần. Lần sau chị không cần vào đây nữa đâu, tôi tự mắc màn được. Hắn nói như vậy nhưng hai mắt hắn lại nhìn như bị thôi miên vào khe hở giữa ngực người phụ nữ. Chị Bính liếc mắt nhìn hắn vẻ ngạc nhiên. Cậu chủ làm sao vậy? Trước cái nhìn của người giúp việc, thằng con trai mới lớn còn lóng ngóng chuyện đời như hắn thật không biết phải làm sao cho hết ngượng ngùng, bối rối. Hai mắt hắn nhìn như ngây, như dại khiến cho người phụ nữ cũng thấy cơ thể mình nóng bừng lên run rẩy, trong phút chốc cái mặt nạ đức hạnh bị lột bỏ. Chị ngã vào tay hắn. Hai cơ thể giống như hai cục nam châm bỗng dính chặt vào nhau.

Hắn đã từng ngộ nhận đấy là tình yêu. Suốt hàng năm trời sống với người đàn bà giúp việc hơn mình đến gần chục tuổi. Chu Khởi đã được chị ta dẫn vào trong mê cung tình ái khiến cho hắn cảm thấy cuộc đời thật khó sống nếu không có chị Bính. Và cũng lạ, không ai hiểu được lòng dạ đàn bà, khi đã nắm được hắn trong tay, hình như người đàn bà giúp việc mới ra công nhào nặn hắn thành một con người biết sống có trách nhiệm. Chị bắt hắn phải tu tỉnh học hành, hàng ngày chị bắt đầu kiểm tra sách vở của hắn và chị ta ngạc nhiên rằng những năm qua Chu Khởi của chị cũng chăm chỉ đi học chứ không la cà trong các quán net, chị ta lại còn muốn hắn phải học lấy một nghề nào đó. Của rề rề không bằng nghề trong tay. Chị ta bảo với hắn như vậy, hắn cười hề hề. Chị không biết đấy thôi, tôi có một cái nghề hái ra tiền ấy kia. Nghe Chu Khởi nói, người phụ nữ bây giờ đã quá là thân thiết với hắn ngạc nhiên. Đánh bạc. Hắn đáp một cách tỉnh khô. Chị Bính mở to mắt nhìn hắn tưởng mình nghe nhầm. Hắn bảo rằng từ ngày ra thành phố ngoài giờ học còn lại hắn ngồi khoanh chân trong các chiếu phỏm. Hắn chỉ đánh phỏm còn các thứ khác như xóc đĩa, tổ tôm hay đô-mi-nô hắn cũng sành nhưng lại không thích. Ở thành phố này có bao nhiêu chiếu bạc, các con bạc chơi với nhau ở mức như thế nào: 5, 10, 15, 20 hay 2, 4, 6, 8 hắn đều biết hết. Khi nào hết tiền hắn chỉ cần kiếm lấy vài chục nghìn rồi tìm đến một chiếu nào đó và nhẩn nha vét sạch túi chúng nó lấy cái mà tiêu. Hắn còn bảo rằng không nên chơi với bọn dân đen, dù chúng có nhiều tiền cũng không nên chơi vì không cẩn thận công an họ “vồ” được thì tù mọt gông. Khi chơi nên chọn bọn cán bộ mà chơi, cái bọn này chúng nó chơi bằng tiền chùa nhưng cũng khát nước lắm. Cái yên tâm nhất là cái bọn này nó nằm ngoài vòng pháp luật, công an ít khi dám sờ đến chúng. Thì vuốt mặt phải nể mũi mà. Nghe Chu Khởi nói rành rẽ như vậy, chị Bính chỉ biết kêu trời. Đấy không phải là một nghề, cậu hiểu không? Chu Khởi cũng ngạc nhiên không hiểu tại sao một chuyện bình thường như vậy mà chị ta lại lo lắng kinh hãi đến thế. Gương mặt chị ta tự nhiên tái mét, mồ hôi ướt đẫm, chị ta lắp bắp: Hơn nữa những đồng tiền phù vân ấy chỉ mang lại điều bất hạnh. A! Cái điều này thì hắn đã nghe được từ miệng bà mẹ nuôi hắn rồi. Trong phút chốc hắn bị kéo trở lại làng Mùi, kéo lại với cái kỷ niệm thời thơ ấu khi ngày 30 tết đến nơi, thấy trong nhà không còn một hột gạo hắn đã bắt trộm con gà trống duy nhất còn lại trong chuồng đem ra chợ bán rồi đi đánh phỏm. Lần ấy hắn đã mang về cho mẹ nuôi số tiền bằng bán cả mấy chục con gà. Cứ tưởng rằng bà mẹ nuôi sẽ mừng, sẽ thưởng cho hắn chiếc áo để diện trong ba ngày tết. Ai ngờ bà Củ đã nện cho hắn một trận. Đấy là lần đầu tiên trong đời bà đánh hắn, bà đánh hắn mà nước mắt bà lại vãi ra như chính bà bị đánh. Bị đánh mà lại là đánh đau nhưng hắn không khóc, hắn không bao giờ khóc nếu không hiểu rõ nguyên nhân của việc mình bị đòn roi. Tất cả chỉ vì hắn không phải là con đẻ. Hắn đã hậm hực nghĩ vậy và thầm nuôi một mối thâm thù với bố mẹ nuôi, nhưng hôm ấy nghe chị Bính nói hắn mới thấm thía nỗi đau của bà mẹ nuôi khi từ chối những đồng tiền “phù vân” của hắn. Chu Khởi nhìn chị Bính, hắn tin chắc rằng trên đời này chỉ có mình chị ta là yêu hắn thật. Số phận! Hắn bảo với người phụ nữ hơn hắn gần chục ấy như vậy. Tôi sẽ cưới Bính làm vợ. Hắn cứ tưởng rằng khi hắn nói vậy thì người đàn bà có số phận hẩm hiu như Bính sẽ vui mừng, sẽ ôm lấy hắn, sẽ hối thúc hắn nói lời phải giữ lấy lời. Nhưng không chị ta lắc đầu quầy quậy, chỉ một chút ái ân thì tôi không tiếc cậu, chứ vợ chồng thì không. Chị ta bảo vậy và hắn tin rằng đấy là ý nghĩ thật của chị ta. Nhưng tại sao lại như thế. Tôi yêu Bính kia mà. Hắn thề thốt, hắn van xin nhưng người phụ nữ đã biến hắn thành đàn ông ấy vẫn không thay đổi quyết định. Tôi không ngại về tuổi tác, đàn ông có thể lấy những người con gái bằng tuổi con mình thì cớ gì đàn bà không lấy được những chàng trai đáng tuổi em mình. Và quả thật cậu cũng đáng mặt làm đàn ông lắm. Một người đàn ông như cậu mà chỉ dành cho một con đàn bà thì cuộc đời này quả là quá bất công. Nhưng tôi không thể lấy cậu vì… tôi cũng yêu cậu.

Tình yêu thật chả phải hiểu ra làm sao. Hai người bên ngoài thì vẫn là quan hệ chủ tớ nhưng bên trong lại thân mật hơn cả vợ chồng. Chu Khởi phải thừa nhận rằng đó là những tháng năm sống thật hạnh phúc của hắn. Hắn và người đàn bà giúp việc có thể quấn vào nhau như đôi rắn, bất kể lúc nào, bất kể ở đâu chỉ miễn là họ vẫn còn sức để làm chuyện ấy. Cho đến một ngày chị Bính quyết định lấy chồng ngoại quốc. Cũng là để cho nó xong một kiếp người, chị bảo với hắn như vậy. Chị không hề gây cho hắn sự ngạc nhiên nào. Trước ngày ra đi hàng tháng trời chị ta đã báo trước cho hắn. Duyên phận chúng ta có lẽ chỉ đến đây thôi, sẽ không ai cưỡng được mệnh trời. Chị ta bảo vậy và dặn dò hắn kỹ lưỡng từng công việc, dặn dò y như một người mẹ dặn đứa con trai nhỏ dại của mình rồi lên máy bay đi làm dâu xứ người.

Chu Khởi không hiểu được tâm trạng của hắn khi người tình đồng thời là người giúp việc của hắn bỏ hắn ra đi. Sự đời tất phải như vậy, cái lời tỏ tình đầu đời của hắn với chị có thể coi là sự nông nổi nhất thời của tuổi trẻ. Chỉ đến khi chị Bính đã thực sự đi rồi Chu Khởi mới thoát ra khỏi cơn mê muội của những cuộc hoan lạc, một buổi sáng tỉnh dậy không có chị Bính nằm cùng trên giường hắn ngỡ ngàng hít thở bầu khí tự do. Hắn bật dậy khỏi giường nhảy tưng tưng, miệng hét lên: Ôi! Sung sướng quá ta đã được tự do... Ngày hôm đó hắn đã ngủ vùi cả ngày không bị ai đánh thức, không ai giục phải đi đánh răng, phải ăn đủ ba bát cơm một bữa… Mãi đến chiều tối, hắn mới ra khỏi nhà đi ăn cơm tiệm, vào quán karaoke gọi hẳn hai em trẻ măng nõn nà đến cùng hát cho đến khản giọng.

Nhưng thật lạ. Chưa bao giờ Chu Khởi lại cảm thấy vô vị trống rỗng như vậy. Mình chả cần cho ai và chả ai cần đến mình. Hằng ngày, sau các cuộc vui chơi đến kiệt sức hắn mò về nhà nằm thao thức suốt đêm mà không sao chợp mắt. Chính trong những ngày đó có một tiếng nói mơ hồ nào đó mách bảo cho Chu Khởi hãy quay trở lại với làng Mùi.

Lệ Mai đã ăn xong rồi bước ra ngoài nhà, sau trận ốm vẻ mặt nàng trông vẫn hồng hào. Nàng khẽ mỉm cười chào Chu Khởi và bố rồi đi ra sân đứng nhìn sang nhà hàng xóm. Trong phút chốc nàng bỗng nhớ ra tất cả, Thế là hết. Nàng thở dài rồi đi vào bếp đun một nồi nước bồ kết để gội đầu. Bà Thân nhìn con gái, nó đã dậy được, đã biết tự chăm lo lấy mình như thế này thì bà cũng đỡ lo. Bà không hiểu chuyện gì đã xảy ra với cô con gái của bà, nhưng bà đã yên tâm. Tất cả những đứa con của bà đều phải biết tự xử lý lấy những vấn đề của riêng mình. Bà không can thiệp và sẽ không bao giờ can thiệp vào những việc thuộc lĩnh vực tình cảm của các con. Bà quay lại bàn nơi ông Nghiên và Chu Khởi vẫn đang ngồi như đang chăm chú suy nghĩ nước cờ.

- Ông nó hôm nay sao chưa đi ăn cỗ?

- Đám ấy hoãn rồi mà bà.

- Sao lại hoãn thế?

- Ông Thận bị công an bắt lên huyện, còn thằng Thanh thì trốn đi đâu từ hai ngày nay. Ăn hỏi mà thiếu hai con người ấy thì thành thế nào được.

Bà Thân bỗng nhiên thở dài. Quái lạ cái làng Mùi này thời gian gần đây nó làm sao ấy nhỉ?

Chu Khởi bỗng nhiên xếp quân cờ lại, bảo:

- Hôm nay có khi ta nghỉ bác ạ. Lần khác bác cháu ta chơi tiếp.

   - Thế khi nào anh lại về?

Ông Nghiên nhìn người bạn cờ của mình vẻ luyến tiếc.

- Lần này cháu còn ở nhà. Cháu đang muốn tìm một ô đất để mở một dịch vụ ở làng nhưng không biết tìm ở đâu.

- Anh định kinh doanh mặt hàng gì? - Ông Nghiên nhìn Chu Khởi ngạc nhiên. Từ trước tới nay ông chỉ biết Chu Khởi là một gã du thủ du thực ăn chơi trác táng thôi, chứ có bao giờ nghĩ hắn cũng có ý định làm ăn tử tế.

- Cháu định mở dịch vụ ăn uống, giải khát.

- Ờ…ừ! - Ông Nghiên ậm ừ, chả ai hiểu ông nói vậy nghĩa là làm sao?

Chu Khởi chào ông Nghiên và bà Thân rồi bước ra sân. Hắn nhìn ra ngoài giếng. Hắn ngạc nhiên khi thấy Lệ Mai đang ngồi gội đầu, mái tóc đen, dày, dài óng ả của nàng buông đầy chậu nước. Sự bình thản của nàng khiến Chu Khởi ngạc nhiên. Hắn khẽ huýt gió nhún vai và rảo bước.

 

CHƯƠNG 11

 

Nguyễn Tiến Bật ngồi khoanh chân trên cái vỏ măng kê ở gian giữa căn nhà ba gian tường xây mái lợp lá cọ. Khi chấp nhận nghe theo ý kiến của vợ vào núi Thắm để khai hoang vỡ hóa tăng gia sản xuất, ông Trưởng họ Nguyễn Tiến không ngờ cuối đời mình lại có được niềm vui với cây cối, đồi vườn. Mảnh đất này khi ông đến vẫn còn cằn cỗi, bề mặt toàn đá là đá, đá lớn, đá bé đứng bên nhau trông như đội quân chuẩn bị xung trận ấy. Ông đứng nhìn những tảng đá ấy mà ngán ngẩm lắc đầu. Sức người có hạn mà thiên nhiên lại “ưu đãi” cho ông những tảng đá gan lỳ cùng năm tháng thế này. Nhưng Nguyễn Tiến Bật vốn là một người không dễ gì bỏ cuộc. Để xem tao với mày, ai thắng ai. Ông đứng đạp chân lên tảng đá to khu đồi Đá  Đen. Tương truyền rằng ngày xưa khi bà Nữ Oa đội đá vá trời. Khi đi đến chân núi Thắm vì mải ngắm cảnh thiên nhiên tươi đẹp nên gót chân sa xuống sông Hồng, làm lệch thúng đá trên đầu khiến đá rơi xuống thành gò Đá Đen. Ông Trưởng họ Nguyễn Tiến không biết mặt bà Nữ Oa trong truyền thuyết ấy, nhưng ông bằng lòng giải quyết hậu quả do sơ suất của bà để lại.  Ông ra làng Thạch Đê đến lò rèn của lão Kỳ thửa cho mình một cái búa tạ. Đích thân ông quai búa cùng với ông thợ rèn để rèn một cái búa mà không biết phải gọi tên nó như thế nào.Với sức lực của một gã đô vật năm xưa, mà ông dám khẳng định rằng nếu bây giờ làng Mùi vẫn tổ chức hội vật đầu xuân như trước thì ông vẫn cứ là quán quân xới vật. Ông đã tiến công không mệt mỏi vào cái vùng đất đá này. Hàng ngày ông cởi trần mặc độc một cái quần lót bộ đội rộng thùng thình quai búa tạ. Chiếc búa trên tay ông nặng chình chịch, đập phát nào chắc phát ấy. Dù không biết chữ nhưng ông là người lao động có tư duy rất khoa học, từng tảng đá ông đều săm soi thật kỹ để tìm ra các đường gân, thớ thịt của nó. Khi đã tìm được rồi ông vung búa lên, đập xuống. Mỗi nhát búa của ông nện xuống tảng đá đều vỡ ra từng mảng, tuy to nhỏ khác nhau nhưng rõ ràng chúng đều có đường có nét. Và đặc biệt bề mặt tảng đá nhẵn thin thín, đến nỗi ông có thể dùng nó ghép lại với nhau thành cái mặt bàn uống nước. Số đá vỡ được ông chuyển ra xếp thành đống ngoài gần đường. Một mình với đôi quang chành, cái đòn gánh bổ bằng nửa cây tre đực ông lầm lũi gánh đá ra xếp thành đống bên đường. Bao năm rồi cái đống đá ấy ngày một to nhường chỗ cho cái vườn cây ăn quả rộng hàng mấy mẫu. Hàng ngày nhìn thành quả lao động của mình Nguyễn Tiến Bật vô cùng phấn khởi. Đúng các cụ nhà ta dạy cấm có bỏ đi câu nào. “Trai có chí cắm trại, gái có chí bán hàng cơm”. Thử hỏi cả cái làng Mùi này, thậm chí cả cái huyện Thanh Lâm này ai đã có chí bằng ông Trưởng họ Nguyễn Tiến ở làng Mùi. Cái trang trại đó là theo cách gọi của Nguyễn Tiến Lộc - Phó Giám đốc Công ty Si-lic Trường Sinh. Cái con người mà ông chỉ nghe thấy tên chứ chưa nhìn thấy mặt, người ta bảo mỗi lần về làng Mùi hắn đều nghỉ trong quán cà phê Trăng Lưỡi Liềm nhưng không bao giờ hắn ló mặt đi đâu. Từ một căn phòng riêng khá kín đáo nằm khuất sau hòn non bộ. Nguyễn Tiến Lộc tiến hành các buổi họp với lãnh đạo của các chi nhánh trong công ty. Tiến hành ký kết các hợp đồng kinh tế trị giá hàng tỷ đồng. Chả biết thực hư ra sao nhưng dân làng Mùi bảo rằng những tụ điểm karaoke mọc lên ở làng Mùi cùng với sự gia tăng sản xuất của Công ty Si-lic Trường Sinh đều là do sự chỉ đạo của Nguyễn Tiến Lộc. Từ lâu ông Trưởng họ Nguyễn Tiến ở làng Mùi đã muốn gặp gỡ, làm quen với con người bí hiểm đó. Ông Trưởng họ Nguyễn Tiến muốn gặp Nguyễn Tiến Lộc với hai lý do. Thứ nhất, ông muốn tìm hiểu cặn kẽ kẻ thù không đội trời chung với mình. Không hiểu sao từ ngày Công ty Si-lic Trường Sinh ra đời, ông Trưởng họ Nguyễn Tiến ở làng Mùi luôn có cảm giác như nó mới chính là kẻ thù của ông, kẻ thù của dòng họ Nguyễn Tiến ở làng Mùi này. Thoạt đầu khi biết Thúy Liễu, con gái Thục lác làm giám đốc công ty ông đã cười khẩy. Con ranh này không phải đối thủ của ông. Với khả năng của họ Nguyễn Tiến,  ông có thể đánh bật cả tổ tiên ba đời nhà nó ra khỏi làng chứ cái công ty, công tiếc này thì nghĩa lý mẹ gì. Ông đã chỉ đạo con cháu trong họ Nguyễn Tiến ngấm ngầm mở một cuộc chiến chống lại Công ty Si-lic Trường Sinh. Ông đã bí mật gài người của họ mình vào Công ty Si-lic Trường Sinh. Thời gian đầu họ Nguyễn Tiến cũng có tới hơn ba chục người vào làm công nhân của Công ty Si-lic Trường Sinh. Nhưng cái công ty kẻ cướp, cái con đĩ làng ấy quả là khôn ranh, mọi công việc của nó đều làm bằng máy. Máy hút cát từ dưới sông lên, máy múc cát từ bãi đổ vào ô tô, con cháu của họ Nguyễn Tiến không được làm gì khác ngoài chân bảo vệ với mức lương chết đói, thế là chỉ được ba bảy hai mươi mốt ngày là bỏ về sạch. Đến khi Công ty Si-lic Trường Sinh mở rộng sản xuất sang các lĩnh vực khác như kinh doanh xăng dầu, nhà hàng karaoke… Ai cũng biết rằng nó đang gặm nhấm dần xương tủy của người dân làng Mùi. Dòng họ Nguyễn Tiến nhà ông, cái dòng họ từ bao đời nay vẫn ngồi chiếu trên của làng bỗng nhiên bị Công ty Si-lic Trường Sinh đe dọa. Cái công ty ấy ngay từ đầu ông trưởng họ Nguyễn Tiến ở làng Mùi đã nhận thấy nó là mối đe dọa trực tiếp đến quyền lợi của dòng họ. Ngay từ đầu ông đã hiểu ra cuối cùng thì kẻ thù của dòng họ đã xuất hiện. Cần phải có đối sách để đánh bại Công ty Si-lic Trường Sinh bằng mọi giá. Ông Trưởng họ Nguyễn Tiến đã bố trí cho một số con cháu của mình tham gia cùng với người dân xóm Bãi đấu tranh với Công ty Si-lic Trường Sinh để thăm dò phản ứng của chính quyền. Với chính quyền xã thì ông không sợ, bởi họ đều là người họ Nguyễn Tiến. Nhưng sự vào cuộc quyết liệt của công an huyện khiến ông trưởng họ Nguyễn Tiến ở làng Mùi cảm thấy không yên. Như vậy là chính quyền đã đứng về phía cái công ty kẻ cướp ấy.  Ông biết rằng những người dân xóm Bãi cũ sau vụ vừa rồi sẽ co vòi lại, vừa mới bị công an bắt nhiều người đã lo sốt vó lên tìm cửa chạy chọt. Không hiểu tại sao nhưng ngay bản thân ông chỉ cần nhìn thấy bóng dáng của công an đã run như dẽ thì còn nói gì đến người khác. Thật chả hiểu ra làm sao nữa. Ông muốn gặp Nguyễn Tiến Lộc để tìm hiểu xem thực chất con người này là ai để mà vạch ra đối sách đấu tranh với Công ty Si-lic Trường Sinh. Thứ hai ông cũng muốn liệu cái gã Phó Giám đốc cũng có họ Nguyễn Tiến này gốc gác từ đâu và có dây mơ, dễ má gì với họ Nguyễn Tiến ở làng Mùi của ông không?

Đã có ý định từ lâu nhưng ông Trưởng họ Nguyễn Tiến vẫn không biết bằng cách nào để tiếp cận Nguyễn Tiến Lộc thì may sao buổi sáng hôm ấy ngủ dậy Nguyễn Tiến Bật bỗng thấy trong người sảng khoái, con chim khách lại từ đâu bay về đầu nhà hót liền ba tiếng. Nguyễn Tiến Bật đã linh tính thấy ngày hôm nay chắc nhà mình lại có khách, ông đi vào nhà ngồi khoanh chân lên chiếc chiếu vỏ măng kê ở gian giữa. Vợ ông dọn bữa sáng cho chồng. Bữa sáng của trưởng họ Nguyễn Tiến là bữa chính trong ngày, đấy là thói quen ăn uống của người dân làng Mùi từ bao đời nay. Trong ngày họ chỉ ăn hai bữa chính là bữa sáng và bữa chiều. Còn bữa trưa thì tùy điều kiện từng gia đình, trẻ con thì có thể có bát cơm nguội, người lớn thì củ khoai, củ sắn nhì nhằng cho qua buổi. Người dân làng Mùi từ trước tới nay ăn uống không cầu kỳ nhưng phải no bụng. Vẫn là cái thói quen của tất cả những gã đàn ông Trưởng họ Nguyễn Tiến làng Mùi khi ngồi ăn bao giờ cũng một mình một mâm chễm chệ như ông vua con ở cái bục giữa nhà. Còn vợ con thì chỉ sau khi chồng ăn xong mới được ăn ở dưới bếp. Cái thói quen này tuy không còn phổ biến nhưng trong những gia đình trưởng nhánh của họ Nguyễn Tiến ở làng Mùi thì vẫn được duy trì. Ông Trưởng họ Nguyễn Tiến có thể một mình ăn hết nồi tám cơm nghĩa là cứ việc tự xới lấy mỏi tay. Nhờ vậy mà ông có một cơ thể rắn chắc như gỗ mun. Ngồi trên chiếu vỏ măng nhẵn bóng mát rười rượi, ông Trưởng họ Nguyễn Tiến chăm chú nhìn ra ngoài đường nơi có đống đá, to như một quả gò con đang nằm trơ lỳ cùng năm tháng. Nhìn đống đá ông bỗng ước mơ mình có khả năng và cơ bản là có chỗ để chứa nó thì tốt bao nhiêu. Đang nghĩ vẩn vơ, ông bỗng dụi mắt khi thấy một người đàn ông bước xuống từ một chiếc xe con màu đen. Ông đã nghe nói chỉ có lãnh đạo của Công ty Si-lic Trường Sinh mới đi loại xe này. Từ trước đến nay cánh lãnh đạo của cái công ty kẻ cướp ấy có bao giờ mò vào tới vùng đất khỉ ho cò gáy này. Gã đàn ông có dáng người dong dỏng cao, mái tóc bạc trắng như cước, gã mặc một bộ quần áo khá trang nhã hợp với khí hậu nóng nắng của ngày hè.

Gã đàn ông đứng khá lâu bên đống đá do Nguyễn Tiến Bật đánh và chuyển ra xếp lên đó. Cử chỉ của gã thật lạ, cứ như lần đầu tiên thấy đá, gã đưa tay sờ mó vuốt ve trên mặt từng phiến đá, gã ngẩng mặt nhìn như không tin rằng đống đá khổng lồ này là có thật. Mãi sau gã mới nhìn vào ngôi nhà của Trưởng họ Nguyễn Tiến, gã không hề ngạc nhiên khi thấy chủ nhà vẫn ngồi khoanh chân như tượng trên cái chiếu vỏ măng giữa nhà chăm chú nhìn khách. Khoảng cách khá xa nên gã đàn ông lặng lẽ đi vào.

- Chào bác! - Gã đàn ông lên tiếng khi đặt chân lên hiên nhà.

- Không dám! Chào ông! - Nguyễn Tiến Bật trả lời khách không ra vẻ vồn vã cũng không tỏ vẻ ngạc nhiên.

- Đống đá kia có phải là từ trong vườn nhà bác mà ra?

- Vâng! Mời ông ngồi chơi, uống nước. - Mời khách ngồi uống nước nhưng Trưởng họ Nguyễn Tiến không hề đứng dậy pha nước hay có một cử chỉ nào chứng tỏ đã sẵn sàng đón khách. Ông vẫn ngồi im lặng quan sát khách. Một gương mặt khá nhẹ nhõm, mái tóc tuy bạc trắng như cước nhưng không thể nói là già. Ông ta không phải là người làng Mùi, điều ấy thì đã rõ. Phải chăng, kẻ thù của ông đã tới?

Gã đàn ông ý tứ ngồi vào mép chiếc vỏ măng đối diện với chủ nhà. Đúng. Gã ta chính là Nguyễn Tiến Lộc - Phó Giám đốc Công ty Si-lic Trường Sinh. Gã là một con buôn lọc lõi, một chuyên gia đàm phán, nói theo cách nói của người dân làng Mùi.

Bà Nhu từ dưới bếp mang ấm chén nước lên cho chồng tiếp khách. Thói quen trong nhà Trưởng họ Nguyễn Tiến từ xưa vẫn thế. Bà đặt cái khay nhôm trong có một cái ấm nước bằng sứ Hải Dương và hai cái chén sạch trắng tinh trước mặt chồng, ngước mắt nhìn khách nở một nụ cười rồi lại lặng lẽ rút lui.

Trưởng họ Nguyễn Tiến rót nước ra chén, cách rót nước của ông cho thấy khi tiếp khách lạ ông cũng là người am hiểu, và có sự tôn trọng khách chứ không như khi ngồi uống nước cùng những người anh em trong họ Nguyễn Tiến nhà ông.

- Mời ông xơi chén nước chè nóng.

Nguyễn Tiến Bật đưa chén nước mời khách vẻ trịnh trọng.

- Cám ơn bác! Mời bác! Chà! Chè thơm quá.

Nguyễn Tiến Lộc bưng chén nước lên uống một cách khoái trá thực sự. Trong các loại nước uống từ nhỏ gã vốn chỉ thích có nước chè. Gã xuýt xoa thưởng thức vị chè ngon đậm thấm dần trong đầu lưỡi.

- Tôi là Phó Giám đốc Công ty Si-lic Trường Sinh. - Nguyễn Tiến Lộc đặt chén nước xuống nhìn chủ nhà. Trong chuyến đi thị sát vùng núi Thắm này gã không chờ đợi một sự tiếp đón trịnh trọng như thế này.

Nguyễn Tiến Bật khẽ giật mình một cái nhưng ông trấn tĩnh ngay được. Ông nhìn Nguyễn Tiến Lộc một cái nhìn khó hiểu. Không hiểu thế này là làm sao, từ lâu mình đang muốn gặp hắn thì hôm nay hắn lại lù lù dẫn xác vào.

- Vợ chồng tôi rất hân hạnh được ông Phó Giám đốc ghé thăm. Chả hay ông có điều gì chỉ bảo.

- Bác dạy quá lời. - Nguyễn Tiến Lộc khẽ cười, cái cười nhẹ nhàng như muốn xua đi cảm giác khách khí thậm chí có phần mỉa mai của chủ nhà. Kinh nghiệm hàng bao năm giao tiếp trên thương trường cho gã biết rằng. Người ngồi trước mặt mình là một kẻ độc đoán, nhưng cũng là con người thận trọng, khôn ngoan.

- Phải tận mắt nhìn mới tin rằng trên đời này vẫn còn những người phi thường như bác. Không hiểu bằng cách nào mà bác phá được ngần ấy đá để tạo nên cái trang trại này.

Hai cánh mũi của Nguyễn Tiến Bật chợt phập phồng. Lời khen có vẻ như sống sượng của Nguyễn Tiến Lộc không ngờ lại làm cho ông Trưởng họ Nguyễn Tiến cảm thấy vô cùng thích thú. Trong cuộc đời mình ông ít khi được nghe ai khen thẳng như vậy. Để kìm cảm xúc của mình ông rót thêm nước vào chén cho khách.

- Chè của bác ngon quá. Tôi không biết làng mình vẫn còn có thứ chè ngon hơn cả chè Thái thế này. - Nguyễn Tiến Lộc lại tấm tắc khen chè ngon. Rồi lại chậm rãi uống như đang thưởng thức một đặc sản.

- Ông cứ uống tự nhiên. Chè nhà tôi đảm bảo là chè sạch. – Ông Trưởng họ Nguyễn Tiến lúc này đã có cái để nói chuyện với khách. Ông ta khoe nhà mình có một nương chè trồng trên núi Thắm không bón phân, không phun thuốc và cũng không bán mà chỉ để uống. Khách tấm tắc khen chủ nhà như vậy là cẩn thận và chỉ có ở làng Mùi mới có được một người biết lo xa, biết giữ gìn sức khỏe như vậy. Nguyễn Tiến Lộc bảo rằng thời buổi này cái gì cũng sử dụng đến thuốc trừ sâu, phân hóa học, uống một chén nước chè ngoài phố cũng không yên tâm. Vòng vo chuyện chè, chuyện nước cuối cùng ông Phó Giám đốc Công ty Si-lic Trường Sinh cũng đưa được chủ nhà về với vấn đề mình đang quan tâm. Ông ta nhìn ra đống đá đứng sừng sững trước nhà ông trưởng họ Nguyễn Tiến vẻ ái ngại.

- Đống đá to như thế kia sao bác để nó chắn trước cửa nhà thế?

- À lúc đầu tôi cũng chỉ định xếp tạm ở đó nhưng về sau càng ngày nó càng lớn nên mới khó. - Nguyễn Tiến Bật vờ than thở. Ông vẫn cảnh giác tránh để không vội vã tham gia vào câu chuyện.

- Về phong thủy theo tôi trước cửa nhà mà có khối chắn như vậy thì sẽ bị ám.

Nguyễn Tiến Lộc buông ra một đòn quyết định. Trước khi đi vào tìm hiểu vùng núi Thắm này gã đã nghiên cứu kỹ. Dân ở đây vẫn chủ yếu là dân xóm Bãi những người đã tự nguyện di chuyển chỗ ở tạo điều kiện cho Công ty Si-lic Trường Sinh có mặt bằng để xây dựng và đi vào sản xuất. Những con người mà hàng tháng nay đang kéo nhau đi đấu tranh với Công ty Si-lic Trường Sinh, cuộc đấu tranh vẫn chưa chấm dứt và sẽ không bao giờ chấm dứt. Bây giờ Công ty Si-lic Trường Sinh lại mở rộng sản xuất sang khai thác đá bở đây là một món lợi khổng lồ. Ngài “Tổng” đã nói vậy, mà đâu cần đến bộ óc thông minh siêu việt của ngài “Tổng”,  bản thân Nguyễn Tiến Lộc cũng đã ngửi thấy mùi tiền bốc lên từ cái dãy núi đá vô tri, vô giác này. Làm thế nào đuổi những người dân này ra khỏi vùng núi Thắm để lấy mặt bằng sản xuất. Đấy là vấn đề khiến nhà đàm phán hàng đầu của Công ty Si-lic Trường Sinh suy nghĩ mấy ngày nay. Người dân bây giờ hình như cũng đã khôn hơn sau những vụ mất mát không nhỏ vừa rồi. Cuộc đấu tranh của hơn trăm hộ dân xóm Bãi mà hôm nay đang sống ở dưới chân núi Thắm lúc đầu chỉ là biểu hiện tự phát của một vài gia đình. Nếu như, ông Phó Giám đốc Công ty Si-lic Trường Sinh rất ghét dùng đến cái từ “nếu” trong cuộc sống thì ông vẫn cứ phải thừa nhận một điều rằng nếu như ông có toàn quyền quyết định thì ông đã tháo ngòi nổ cái cuộc đấu tranh này ngay từ khi nó mới bắt đầu. Chỉ cần bỏ ra một ít lợi nhuận nho nhỏ đáp ứng yêu cầu của những hộ dân, âu cũng là việc nên làm. Đằng này, ông “Tổng” và bà Giám đốc Công ty Si-lic Trường Sinh, cái đôi này đúng là một cặp bài trùng kẻ tung người hứng. Nguyễn Tiến Lộc ngạc nhiên không hiểu sao một người như ông “Tổng”, một người có tài kinh bang tế thế, một người mà mỗi câu nói khiến cho thiên hạ phải há hốc mồm ra mà nghe như nuốt lấy từng lời lại cứ nghe lời Thúy Liễu thun thún. Ông ta có thể đánh đổi cả sự nghiệp chính trị của mình chỉ vì một người đàn bà thôi sao? Lòng dạ đàn bà, không ai hiểu được ra sao, Nguyễn Tiến Lộc đã sắp bước sang cái tuổi bất nghi hoặc rồi mà vẫn chưa hết dại. Gã đã sai lầm khi đánh giá thấp khả năng thực tế của Thúy Liễu, cái chiêu bài “nhả” cho các vị chức sắc từ xã đến huyện, đến tỉnh một tý lợi nhuận bằng số phần trăm cổ phần “ảo”, mỗi tháng đều đặn gửi cho các vị một bản báo cáo về tình hình sản xuất của công ty và một phần lợi nhuận để buộc các vị phải có trách nhiệm với công ty quả là một chiêu độc đắc. Dân làng Mùi cứ việc đấu tranh, cứ việc kiện cáo. Hàng bao đơn từ kiện cáo gửi lên đều được chuyển cho người của Công ty Si-lic Trường Sinh xử lý thế mới là “độc”. Đấu tranh chống lại Công ty Si-lic Trường Sinh có khác nào chống lại chính quyền, chống lại Nhà nước. Không phải tự nhiên mà Công an huyện Thanh Lâm vào cuộc một cách quyết liệt như vậy. Mà dân làng Mùi cũng lạ thật, cũng là con người cả vậy mà họ nhìn thấy công an cứ như nhìn thấy cọp. Nghe nói trong cuộc đấu tranh vừa rồi có người vừa nhìn thấy công an đã vãi đái ra quần kể cũng tội thật. Chỉ có vào đến đây chứng kiến công việc làm của những người dân bình dị như ông Trưởng họ Nguyễn Tiến đang ngồi trước mặt thì Nguyễn Tiến Lộc mới thực sự kính nể khả năng phi thường của họ. Cả vùng chân núi Thắm chỉ toàn đá là đá vậy mà những người nông dân này chỉ với hai bàn tay trắng, không máy móc, không thuốc nổ đã khai phá chúng thành những khu vườn cây ăn trái, nhưng khu đất thổ cư đẹp như trong mộng thế này. Họ không biết được rằng bên dưới lòng đất nơi họ đang sống còn ẩn chứa cả một kho tài nguyên vô cùng phong phú. Khác với những tảng đá nổi trên mặt đất, đá trong lòng đất là loại đá xanh, loại đá này rất cần thiết cho công việc làm đường giao thông, rất cần thiết cho các công trình xây dựng trong tương lai. Nói như vậy là một lần nữa những người dân lành sẽ lại phải chuyển đi để lấy mặt bằng cho Công ty Si-lic Trường Sinh khai thác và sản xuất đá. Sản xuất đá khác hẳn với việc múc cát dưới sông Hồng lên bán lấy tiền. Nó rất cần mặt bằng để tập kết máy móc, tập kết nguyên vật liệu và sản xuất. Ý của ông “Tổng” là đá moi lên sẽ được nghiền nhỏ trước khi cung cấp ra thị trường. Và một nhà máy nghiền đá sẽ mọc lên trên những vườn cây ăn quả như thế này. Lợi nhuận chắc chắn là không nhỏ, nhưng lợi nhuận ấy sẽ chạy vào túi những vị lãnh đạo của Công ty Si-lic Trường Sinh, còn những người dân sẽ lại một lần nữa lao đao khốn khổ vì mất đất, mất nhà. Cần phải thuyết phục họ. Nhưng thuyết phục bằng cách nào? Trách nhiệm ấy đè nặng lên vai nhà đàm phán hàng đầu của Công ty Si-lic Trường Sinh. Mấy tháng nay Nguyễn Tiến Lộc đã suy nghĩ, đã dự tính rất nhiều phương án. Bây giờ thì không thể giở cái chiêu bài cũ ra nữa, bây giờ thì một Bí thư Đảng ủy Đỗ Tiến Bật chứ mười ông Bí thư Đảng ủy làm gương chuyển nhà đi cũng không lôi kéo được một hộ dân làm theo. Dân làng Mùi sau một lần nhận thấy sự tráo trở của Công ty Si-lic Trường Sinh, nhận thấy sự bất công mà họ phải gánh chịu thì chắc chắn họ sẽ cảnh giác. Gặp gỡ từng nhà dân để thỏa thuận việc mua bán đền bù, đây cũng là một phương án khả thi nhưng sẽ vô cùng phức tạp, người ta sẽ không bao giờ chấp nhận cái giá đền bù do công ty đưa ra. Có lẽ phải dùng đến chính quyền. Dân làng Mùi nhìn chung vẫn còn thuần chỉ trừ những người thuộc họ Nguyễn Tiến - cái họ lớn nhất làng này, mà ông Trưởng họ Nguyễn Tiến không hiểu trời xui đất khiến thế nào đang sống yên lành trong ngôi nhà từ đường giữa làng Mùi Trung lại đùng đùng đưa vợ con vào đây khai hoang vỡ hóa. Không biết dùng cách nào để “bẩy” được người đàn ông này ra khỏi đây. Phải, chỉ có cách đó thì mới đuổi được những người dân đang sống dưới chân núi Thắm đi để lấy đất cho Công ty tiến hành mở rộng sản xuất. Nguyễn Tiến Lộc nhìn Trưởng họ Nguyễn Tiến: Trông ông ta như một pho tượng đá được gắn chặt vào mảnh đất này. Nghe nói về phong thủy mà ông ta dửng dưng như nghe nói chuyện thời tiết không bằng.

- Tôi hỏi khí không phải. Ông cũng là họ Nguyễn Tiến? - Nguyễn Tiến Bật nhìn khách và đưa ra một câu hỏi rõ ràng chả liên quan gì câu chuyện của khách. Đây là một chiêu bài của ông một khi chưa hiểu thực chất đối phương muốn gì thì có thể tìm cách đưa câu chuyện sang hướng khác.

- À… Dạ… Vâng! - Nguyễn Tiến Lộc ấp úng. Lần đầu tiên nhà đàm phán hàng đầu của Công ty Si-lic Trường Sinh bị lâm vào thế bị động. Cái bẫy mà gã đã giương ra định dẫn dụ con mồi vào không ngờ lại không có tác dụng.

- Vậy dòng họ nhà ta có gốc gác từ đâu?

- Dạ … Quê tôi ở Thái Bình.

- Tôi hiểu rồi. Ông uống nước đi.

Không thể biết Nguyễn Tiến Bật nói tôi hiểu rồi có nghĩa là thế nào. Nguyễn Tiến Lộc cầm chén nước lên uống.

- Như vậy anh chỉ là họ Nguyễn. Trong nhà anh có thể bố anh họ Nguyễn Văn, em anh Nguyễn Xuân… - Trưởng họ Nguyễn Tiến ở làng Mùi đưa ra một kết luận khiến Nguyễn Tiến Lộc giật mình. Ông ta cứ như là thầy bói tầm cỡ thời đại. Làm sao mà chỉ cần nghe ông nói mình quê Thái Bình người nông dân quanh năm chưa bước ra khỏi làng Mùi này có thể nói đúng như vậy về gia đình ông.

- Tôi nghe nói Công ty Si-lic Trường Sinh đang định đuổi chúng tôi khỏi núi Thắm để khai thác đá đúng không? - Nguyễn Tiến Bật nhìn thẳng vào nhà đàm phán hàng đầu của Công ty Si-lic Trường Sinh buông ra một đòn cân não khiến Nguyễn Tiến Lộc choáng váng.

- Bác dạy quá lời. Chúng tôi đang tiến hành khảo sát, nếu quả tình vùng núi Thắm có mỏ đá chúng tôi sẽ lập luận chứng kinh tế báo cáo tỉnh xin giấy phép khai thác.

   - Mời ông đi ra đây.

Nguyễn Tiến Bật đứng lên bảo Nguyễn Tiến Lộc đi theo. Ông ta dẫn nhà đàm phán của Công ty Si-lic Trường Sinh đi ra cái giếng khơi đào phía sau nhà. Hai người đứng lặng im trên thành giếng soi mình nhìn xuống. Nguyễn Tiến Lộc chưa hiểu ý của chủ nhà ra sao thì Trưởng họ Nguyễn Tiến ở làng Mùi đã nhìn thẳng vào gã, cái nhìn từ trên xuống đầy vẻ hăm dọa.

- Ông đã thấy chưa, chỉ cần đào sâu không đầy một mét là đã gặp đá. Đây là loại đá mà các ông đang thèm muốn đúng không?

Nguyễn Tiến Lộc sững người nhìn Trưởng họ Nguyễn Tiến. Trước khi vào đây gã đã không lường trước sự việc. Không biết việc khai thác đá của Công ty Si-lic Trường Sinh tại sao lại lọt thông tin ra ngoài khiến một người dân thường quanh năm ngồi trong xó núi này cũng biết được. Trong kinh doanh mà để lộ thông tin như vậy thì hậu quả cũng chưa biết sẽ đi đến đâu. Trưởng họ Nguyễn Tiến lại dẫn nhà đàm phán của Công ty Si-lic Trường Sinh ra đống đá trước cửa nhà. Cái đống đá mà theo Nguyễn Tiến Lộc “đang ám” theo những hiểu biết của gã về phong thủy.

- Ông nói đúng. Đống đá này để đây đúng là không tốt nếu xét về phong thủy. Nhưng quả tình sức người có hạn tôi cũng muốn chuyển nó đi chỗ khác mà chưa biết làm thế nào?

- Vâng! Quả là sức người thì không làm nổi việc này thật. – Nhà đàm phán hàng đầu của Công ty Si-lic Trường Sinh bây giờ đã hiểu ra đối thủ của mình. Ông Trưởng họ Nguyễn Tiến quả là một người khôn ngoan giảo hoạt, ông ta đã tránh được cái bẫy do ông giương ra và lại mở ra một cái bẫy khác. Nếu như bây giờ Nguyễn Tiến Lộc lại hăm hở muốn giúp đỡ chủ nhà bằng cách hứa thuê máy múc, thuê xe vào trở giúp chỗ đá này đi thì quả là nực cười.

- Cái đám đá vô dụng này quả là khó chịu. Tôi tiếc rằng tôi không còn trẻ nếu không tôi đã vứt nó đi rồi.

- Ấy… Tiền cả đấy bác ạ. Nếu quả tình bác không dùng đến tôi sẽ mách cho bác người mua. Giá cả thì do hai bên thỏa thuận, tôi chỉ xin bác 10 phần trăm gọi là công “chỉ chỏ”.

Nguyễn Tiến Bật khẽ mỉm cười. Cái cười đầu tiên kể từ khi Nguyễn Tiến Lộc vào nhà. Chiêu này của nhà đàm phán hàng đầu của Công ty Si-lic Trường Sinh quả là độc đáo, đã hạ gục Trưởng họ Nguyễn Tiến ở làng Mùi. Trong phút chốc ông ta đã đánh tan sự hoài nghi của đối phương. Việc tự nhận mình chỉ là “người chỉ chỏ” kiếm hoa hồng đã khiến cho Trưởng họ Nguyễn Tiến ở làng Mùi đánh giá thấp khả năng của ông. Trong mắt của Nguyễn Tiến Bật thì giờ đây Nguyễn Tiến Lộc không còn là vị Phó Giám đốc của Công ty Si-lic Trường Sinh nữa mà ông ta chỉ là một tên ma cô chỉ chỏ đang đầy rẫy trong làng Mùi.

Phó Giám đốc Công ty Si-lic Trường Sinh chia tay trưởng họ Nguyễn Tiến ở làng Mùi mà không có một sự giao kèo nào, nhưng gã vẫn mỉm cười. Hình như gã đã tìm ra đối sách cho bài toán vẫn chưa có lời giải...

 

 

 

 

 

 

HOÀNG BAN (Nguyễn Hoàng Long)

 

Mùa hoa sim

 

NHÀ XUẤT BẢN HỘI NHÀ VĂN, 2013

 

---------------------------------------------------------

 

Tiểu thuyết đoạt Giải C,

 Giải thưởng VHNT tỉnh Vĩnh Phúc 5 năm lần thứ IV

(2011 - 2015)


 

CHƯƠNG HAI

 

1. Trời sáng rõ, Dân mới bư­ớc thấp, b­ước cao mỏi mệt về tới nhà. Nhìn thấy con, ông Dân lục vấn ngay:

- Con đi đâu suốt cả đêm qua? Tại sao ng­ười con bơ phờ thế kia? Liệu còn đủ sức nhập ngũ không?.

Dân thanh minh:

- Sắp đi xa, con cũng phải chia tay bạn bè. Thời gian lúc này có bao nhiêu cũng thiếu. Con đâu còn trẻ con mà bố cứ lo ngập, lo nghẹn mãi.

Ông Dân dàn hòa:

- Là bố nói thế, đâu trách cứ con. Mẹ con xếp cơm rồi. Con ăn ù đi kẻo không kịp bạn bè. Nhớ giữ gìn sức khỏe. Nhớ thư­ờng xuyên viết thư­ về cho bố mẹ.

Dân không ngần ngại thư­a:

- Con mong là như­ vậy. Vào chiến trư­ờng không có thời gian, giấy bút cũng thiếu.

Ngồi xuống mâm cơm, Dân không tài nào nuốt nổi miếng cơm vào miệng. Mặc dù thịt gà, xôi nếp là những món ăn ­anh thích nhất. Gia đình đông con, bố mẹ phải tiết kiệm. Về nhà cả nửa tháng nay, bữa cơm cuối cùng mới dám mổ gà. Nếu đầy đủ nh­ư gia đình khác chắc Dân đư­ợc liên hoan nhiều bữa rồi. Dân chỉ cầm cái đùi gà, nắm xôi đi ăn đ­ường. Bạn bè cùng đi đợt này với Dân tới đông đủ. Thằng Tùng cư­ời ha hả, nói bô bô:

- Chúng ta lần l­ượt ra trận cả, lũ con gái ở nhà ế hàng đàn. Mấy thằng chột mắt, thọt chân ở nhà vớ bẫm. Chúng nó trở thành mì chính cánh, có khi vớ hai, ba vợ chẳng chơi đâu.

Tuấn chen vào:

- Mày tiếc rẻ thì ở nhà.

Tùng lại bô bô:

- Tiếc cũng chẳng đ­ược. Nhiệm vụ của tớ là ở ngoài mặt trận, mặt đối mặt với đế quốc Mỹ. Tao thấy anh Dân cũng dở quá chừng, về nghỉ phép những 15 ngày mà không c­ưới béng cái Huyền đi cho rồi. Bây giờ, kẻ Bắc, ng­ười Nam nhớ mong chờ đợi thật là mệt. Ở làng này nhiều ngư­ời làm như­ vậy tại sao không bắt ch­ước họ. Tin thế nào đư­ợc cái đám đàn bà con gái. Họ khóc sướt m­ướt, thề sống, thề chết đấy lại quên ngay đấy mà.

Dân như­ ng­ười bị ong đốt, anh quát Tùng:

- Bậy nào. Ta phải tin vào lòng chung thủy của phụ nữ chứ. Ở làng này đã có ai phản bội ngư­ời yêu đi lấy chồng đâu.

Thằng Tùng cũng chẳng vừa:

- Ai hơi đâu mà cắm sào đợi các anh. Khi về các anh lại chê ng­ười ta thì sao? Nếu các anh không về thì sao? Khi về, các anh què, cụt ai hơi đâu mà lấy các anh. Khi về, các anh thăng quan tiến chức, biết bao cô gái trẻ vây quanh. Họ đ­ược gì nào? Các anh ngoảnh mặt đi là cái chắc!

Dân tiếp tục phản công lại:

- Ở đâu xa tao không biết, chứ ở làng này không ai làm điều bất nghĩa như­ vậy đâu. Đại tá Đông khi về đâu có bỏ ng­ười vợ già, đội khăn mỏ quạ, răng đen, suốt ngày nhai trầu bỏm bẻm. Anh Nam khi về cụt tay. Chị Ngân không ghét bỏ trái lại còn rất yêu thư­ơng. Cái chính là ng­ười ở nhà biết chung thủy, chờ đợi. Ngư­ời đi trăm đư­ờng, vạn nẻo không đ­ược thay lòng đổi dạ. Dân tộc ta coi trọng đạo lý lắm. Thôi đi kẻo muộn.

Quay về phía bố mẹ Dân nói:

- Con chào bố mẹ.

- Chúng cháu chào hai bác.

- Tùng, Tuấn cùng nói.

*

*       *

Tiếng trống ếch của các em thiếu nhi đã vang vang khắp xóm làng. Ng­ười ngoài đường đông nghịt. Cờ đỏ sao vàng, biểu ngữ nườm n­ượp khắp đư­ờng làng “Thanh niên hăng hái lên đường bảo vệ Tổ quốc. Tất cả cho tiền tuyến. Tất cả để chiến thắng. Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một ng­ười!”  Những khẩu hiệu ấy vừa để tiễn chân các chàng trai ra trận vừa để nhắc nhở cái ý chí quyết chiến, quyết thắng của toàn dân tộc đối với mọi ng­ười. Những khẩu hiệu ấy là lời hiệu triệu, lời thề non n­ước thôi thúc cả ng­ười ra đi và ng­ười ở lại. Họ đi ra mặt trận mà lòng vui như­ trẩy hội, như­ ngày tết. Cứ mỗi ng­ười ra đi, lại có tới hàng chục ng­ười đi tiễn chân. Ra tới đầu làng thì bọn con gái đông đủ chẳng thiếu một ai. Dân đ­ưa mắt về nơi ấy, Huyền nổi bật trong đám con gái bởi chiếc áo tím, bó sát ng­ười làm nổi bật những đ­ường cong của cơ thể. Huyền đẹp hơn mọi ngư­ời, đẹp hơn tất cả đám con gái của làng. Huyền đi đứng tự nhiên, nói cư­ời thoải mái. Nàng đư­a mắt về phía Dân nh­ư muốn nói: “Anh cứ yên tâm mà đi! Em sẽ đợi anh suốt đời!” Đáp lại, Dân đ­ưa mắt nhìn Huyền: “Anh nhớ mãi và mang theo màu tím áo em!” Nhớ mãi những trái sim quê nhà do bàn tay em hái và bón vào miệng. Nhớ nàng Tô Thị yêu quý của anh”.

Thằng Tùng tách khỏi mọi ng­ười, xăm xăm chạy tới đám con gái. Nó cầm tay Huyền kéo về phía Dân. Huyền xấu hổ, co ngư­ời lại, má đỏ lựng. Tay kéo Huyền, miệng Tùng thét lớn:

- Lại đây, đừng làm phách nữa. Có gửi cái “hòm” nào thì gửi đi. Chúng tớ sẽ nhắm mắt lại. Nó hô lớn: Nhắm mắt lại. Mọi ng­ười cư­ời rộ. Huyền hai má đỏ dừ, tay bo chặt cái Mơ và giấu mặt vào vai nó. Như­ng lòng Huyền sung s­ướng, rạo rực lạ thường. Huyền chỉ muốn vư­ợt lên tất cả, chạy đến ghì chặt lấy Dân mà hôn thỏa thuê, no say. Chị cố ghìm nén lòng mình để nư­ớc mắt khỏi tuôn trào.

Ngày giao quân thực sự là một ngày hội. Nó đư­ợc hình thành và phát triển từ khi cuộc kháng chiến chống Mỹ bắt đầu. Nó trở thành nét đẹp của quê h­ương, của dân tộc. Ng­ười tiễn đ­ưa chật ních mọi ngả đ­ường, chỗ nào cũng chật như­ nêm cối. Ngư­ời đâu mà nhiều thế. Ng­ười cứ như­ ở trên trời rơi xuống. Ng­ười lai nhau bằng xe đạp. Ngư­ời đi bộ. Vì đây là cuộc giao quân của cả một huyện. Hôm nay tiễn đưa bạn, ngày mai đến l­ượt mình. Thanh niên còn mấy đâu. Ngoảnh đi, ngoảnh lại hậu phương còn lại toàn thiếu niên, phụ nữ và ông bà già. Mai ngày lớn lên, chúng em lại tiếp b­ước các anh.

Các ngả đư­ờng vào thị trấn huyện đều bị nghẽn tắc những ng­ười và ngư­ời. Ai không đi tiễn chân ngư­ời ra mặt trận cảm thấy như­ có lỗi với làng xóm và ng­ười ra đi. Ng­ười đi c­ười c­ười, nói nói vui vẻ. Họ bắt tay tạm biệt ng­ười thân và những ng­ười có mặt. Họ xiết tay nhau thật chặt. Họ ôm ghì lấy nhau, không muốn rời. Họ trao tặng phẩm cho nhau. Tặng phẩm chủ yếu là sổ ghi chép, khăn mùi xoa. Sang hơn, lịch sự hơn là bút máy Trường Sơn. Họ hứa với nhau: Nhất xanh cỏ, nhì đỏ ngực. Ngư­ời ở lại  mắt ngấn lệ, xịt xoạt khóc.
        Trư­ớc khi lên xe, Dân đánh liều đến nơi Huyền, Mận, Nhung đang đứng. Anh đư­a mắt về phía mọi ngư­ời bắt tay chào tạm  biệt. Khi nắm tay Huyền anh thấy nóng nh­ư hòn than. Anh đư­a Mơ cái bút máy và dặn:

- Nhờ Mơ chuyển cái bút máy này cho thằng út.

- Anh mang đi mà dùng. Mơ nói. Anh có những hai cái cơ mà.

Huyền nhìn thẳng vào mắt Dân. Dân thấy mắt Huyền đỏ hoe. Dân vẫy tay chào tạm biệt lần cuối.

Ng­ười đi lên xe. Ngư­ời ở lại cũng trèo lên xe. Họ chẳng muốn xa nhau. Đư­ờng nghẹn tắc. Xe chật như­ nêm cối. Xe nổ máy, từ từ chuyển bánh. Ngư­ời hai bên đ­ường nới rộng cho xe đi. Họ nối thành hàng dài chạy theo xe. Họ vẫy tay cùng hét:

- Đi nhé.

- Ng­ười trên xe hô to:

- Ở lại nhé!

- Họ cùng nhau hát to: “Giải phóng Miền Nam chúng ta cùng tiến b­ước”.

2. Những ngày sống và chiến đấu ở miền Nam, Dân tiến bộ rất nhiều, rất nhanh. Nhiều khi anh rất nhớ cha mẹ và các em. Đặc biệt anh luôn nhớ tới Huyền. Nhiều lần gửi thư­ về nhà, nhưng ở đây anh chư­a hề nhận đư­ợc thư­ của gia đình, của Huyền. Anh như­ cánh chim bay, nay ở rừng này, mai ở rừng khác. Mới ngày nào, anh còn là anh lính mới tò te. Thế mà hôm nay, Dân trở thành cán bộ chỉ huy tài năng, dũng cảm, m­ưu trí dày dạn kinh nghiệm.

Chiều nay, trên đư­ờng đi công tác, Dân v­ượt qua vạt rừng sim mênh mông, rộng lớn. Hoa sim tím biếc. Quả sim tím mọng. Hoa sim, quả sim lúc ẩn, lúc hiện d­ưới tán lá xanh rờn. Hoàng hôn đang chuyển dần sang màu tím. Tất cả như chỉ còn đọng lại trong màu áo tím của Huyền.

Nhìn cánh rừng sim, quả chín mọng đánh thức Dân nhớ tới những kỷ niệm x­ưa, anh như­ đang đi trên đồi sim quê nhà. Đồi sim nơi hò hẹn giữa anh và Huyền. Nơi ấy là cái nôi của tình yêu. Nơi anh và Huyền thực sự là vợ chồng của nhau. Nơi ấy diễn ra cuộc chia ly rất đẹp và đầy thi vị. Tất cả như­ một cuốn phim hiện ra trư­ớc mắt anh. Anh sung s­ướng ngả mình d­ưới rừng sim. Lá sim, hoa sim, quả sim dìm anh ngập d­ưới màu tím của sim. Rừng sim nơi đây vắng Huyền. Anh hái quả sim bỏ vào miệng. Anh uể oải, chậm rãi nhai những quả sim trong miệng. Nh­ưng quả sim nơi đây để lại h­ương vị nhạt thếch nơi miệng anh. Phải chăng những trái sim nơi đây vì bom đạn chiến tranh nên thiếu đi vị ngọt. Những trái sim quê nhà do bàn tay nhỏ nhắn, mềm mại của Huyền hái và đưa vào miệng anh nên ngọt ngào hơn. Chao ôi! Những trái sim ngọt lịm. Những đêm hành quân trên đỉnh Trường Sơn lộng gió, dốc núi, đèo cao, suối sâu, có ai ngờ màu tím ấy sáng ngời, vẫy gọi. Màu tím ấy, đư­ợc ánh sáng tình yêu kỳ diệu, thắp sáng. Những khi khát nư­ớc, miệng khô quạnh, cứ nghĩ đến trái sim quê nhà anh thấy ngọt lịm hết khát, hết đói. Dân chợt nhớ trong truyện Tam quốc có kể: Khi quân lính đang đói, khát. Tào Tháo nói với quân sĩ rằng: “Tr­ước mặt có rừng mơ” làm cho quân sỹ hết khát, hết đói.

Một lần Dân và Huyền dắt tay nhau dạo chơi trên đồi sim. Tiếng chim rừng hót vang vang với đủ giọng điệu làm thành dàn đồng ca, hợp x­ướng chứa chan hạnh phúc. Tình yêu, hạnh phúc như­ chén r­ượu nồng làm anh ngất ngây không làm chủ được bản thân. Anh ôm choàng lấy Huyền rồi ghì chặt vào lòng. Huyền giãy giụa, dùng hết sức lực đẩy anh ra. Chẳng nói, chẳng rằng Huyền vùng vằng, giận dữ bỏ về. Anh gọi: “Huyền ơi! Cho anh xin lỗi”. Huyền không trả lời, lặng lẽ âm thầm đi về. Anh rất ân hận về hành động của mình. Anh buồn rầu, lững thững đi dư­ới đồi sim như­ ngư­ời hái sim mà trong tay không hề có trái sim nào. Mệt quá anh nằm xuống rồi ngủ thiếp đi. Trong mơ, anh thấy anh và Huyền c­ưới nhau. Cả hai đều vui mừng, tận hư­ởng h­ương vị ngọt ngào của đêm tân hôn. Một năm sau, Huyền sinh cho anh một đứa con trai thật bụ bẫm và kháu khỉnh. Nhìn đôi má bầu bầu, phinh phính, trắng như­ bột lọc của nó ai cũng muốn bế và hôn. Tiếng động của con vật chạy qua khiến anh tỉnh giấc. Huyền như­ nàng tiên dịu hiền ngồi bên cạnh, thả đôi mắt đắm đuối nhìn anh. Anh và Huyền đều cư­ời. Anh kể cho Huyên giấc mơ tuyệt đẹp vừa qua. Cả anh và Huyền đều vui, nét mặt rạng rỡ dư­ới nắng chiều. Anh hôn nhẹ lên má Huyền. Mặt Huyền đỏ dừ.

Thì ra, khi Huyền bỏ về nhà. Thời gian giúp Huyền bớt căng thẳng và tỉnh táo hơn. Huyền nhận ra tình yêu của anh. Huyền lại th­ương nhớ anh. Huyền quay lại đồi sim tìm anh. Vì quen đ­ường, thuộc lối như­ lòng bàn tay nên Huyền dễ dàng tìm thấy anh. Thế là anh chị lại quấn quýt, xoắn xuýt bên nhau, tay nắm tay cùng rảo b­ước về nhà. Đi đ­ược một quãng, Huyền lùi lại để Dân đi tr­ước phòng có ng­ười nhìn thấy, miệng thế gian tam sao thất bản.

Những năm ở chiến tr­ường miền Nam. Màu áo tím theo Dân đi các chiến dịch, đi vào trận đánh. Lúc vui, khi buồn màu áo tím chia sẻ, động viên khích lệ anh hăng hái tiến lên. Màu áo tím là trái sim quê nhà, là tình yêu của anh. Nó mãi mãi l­ưu giữ trong tâm hồn anh.

Dân bừng tỉnh sau giấc mơ dài, khó quên nơi rừng sim. Giấc mơ ấy đưa anh về  quê nhà gặp lại đồi sim, gặp lại Huyền. Miệng anh ngọt lịm hương vị của sim.

*

*      *

Mặt trời thấp dần. Hoàng hôn buông xuống. Dân luồn rừng, cắt đường về đơn vị. Buổi tối ở rừng đến quá nhanh. Dân phải chạy đua với thời gian và bóng đêm. Nếu không kịp về đơn vị, Dân sẽ phải nhịn đói, phải ngủ một mình ngoài rừng. Cái bụng của rừng to lắm, rộng bao la nhường nào. Nó có thể nuốt chửng cả anh và cả đoàn quân vào bụng mà chẳng thấm vào đâu. Dân không chết nhưng phải ngủ ngoài rừng, đơn vị lo lắng mất công đi tìm. Bản thân chịu khổ cực không nói làm gì? Bao nhiêu đồng đội phải lặn lội trong đêm tối, rừng sâu tìm kiếm, khó khăn nguy hiểm quàng lên vai bao đồng chí. Họ có thể nghĩ anh bị lạc đường, hoặc vướng mìn của giặc mà hy sinh ở nơi nào đó cũng nên, hay sẽ bị biệt kích bắn lén. Hai tay vịn cây, chân bước gấp, mắt Dân quan sát định hướng. Những dây leo chằng chịt chắn ngang, anh bình tĩnh định hướng rồi luồn lách qua những chằng chịt cây lá cúi người mà đi. bụng đói cồn cào, miệng khô cháy, mồ hôi ướt cả quần áo. Dân phải đi nhanh, đi thật nhanh. Trời tối đến nơi mất rồi!

Thật may, Dân về đến nơi trú quân của đơn vị khi trời sập tối. Dân nghe tiếng Huân hỏi:

- Thủ trưởng Dân về chưa?

Dân vui mừng lên tiếng:

- Về rồi!

- Tại sao về muộn thế. Chậm tí nữa là phải cử người đi đón ông đấy.

Dân im lặng không trả lời Huân.

*

*      *

3. Trời tang tảng sáng còn chưa rõ mặt người. Cả đơn vị thu mình trong rừng cao su rộng lớn. Vừa đặt chân tới nơi, đơn vị phải dồn sức đào công sự. Đường hành quân khá xa, quanh co, vòng vèo tốn bao sức lực thời gian. Đào công sự xong thì trời sáng rõ. Mọi người nằm lăn ra ngủ. Cả khu rừng chìm trong im lặng. Những tia nắng vàng như mật ong tưới đầy tràn khu rừng cao su. Rừng cao su bừng sáng, tỉnh dậy sau đêm dài ngủ say.

   Dân nằm trên võng đung đưa, đón những tia nắng sớm như người cưỡi trên con thuyền bồng bềnh ngoài biển khơi đầy sóng gió. Mặt trời từ từ nhô lên từ đại dương mênh mông.

   Rừng cao su đẹp như một bức tranh sống động với nhiều gam màu. Những hàng cao su thẳng tắp, đều chăn chắn cả chiếu cao lẫn chiều ngang. Rừng cao su là sự chia đều giữa mỗi cây cả về bầu trời và mặt đất. Ngắm nhìn những hàng cây theo góc nghiêng, góc thẳng ta cũng thấy hàng thẳng hàng, cây thẳng cây. Nơi nào cũng giống nhau, khó khăn lắm, tinh tường lắm mới tìm nổi sự khác biệt. Vì thế, người vừa tới mà đi trong rừng cây cao su rất dễ bị lạc. Nếu mọi con người đều cũng được hưởng sự công bằng giữa bầu trời, mặt đất như cây cao su thì hạnh phúc biết mấy. Rừng cây cao su là tài sản vô cùng quý giá của đất nước. Từ những dòng mủ trắng như sữa, người ta chế ra bao nhiêu mặt hàng phục vụ con người. Thế mà bom đạn Mỹ ngang nhiên chặt ngang thân cây, thiến cụt những cành cây Mỹ còn dùng bon napan thiêu trụi cả rừng cao su một cách vô cớ. Những cây cao su này tội tình gì đâu, chém giết ai đâu? Thì ra cuộc chiến tranh ăn cướp này không những giết người mà giết cả những động vật, thực vật. Nghĩ đến thân phận chung, trái tim Dân đau nhói sự căm thù. Những người lính chiến, không những chiến đấu để bảo vệ nhân dân, tổ quốc mà còn bảo vệ những rừng cây và muông loài muôn thú. Vì điều đó mà bao đồng đội của anh đã ngã xuống và vĩnh viễn nằm lại đất này.

Dân đến gặp Năm Mập, Bảy Hùng và Sáu Huân để thống nhất cuộc họp cán bộ từ đại đội trưởng trở lên. Cán bộ có mặt đông đủ. Thay mặt Ban Chỉ huy tiểu đoàn, Dân truyền lệnh:

- Tiểu đoàn chúng ta có nhiệm vụ cùng với các đơn vị khác tấn công, tiêu diệt cứ điểm X vào đúng giờ G đêm nay. Từ địa điểm đóng quân tới cứ điểm X phải mất hai giờ hành quân, phải rất khẩn trương mới kịp. Diệt xong cứ điểm X, chúng ta rút về Y trước khi trời sáng. Thời gian ém quân ở đây để chuẩn bị cho trận đánh đêm nay là cực kỳ quan trọng, là tiền đề, là bàn đạp tiến tới thắng lợi này. Vì thế phải bí mật tuyệt đối, không có tiếng động, không có khói lửa. Cả ngày nay chúng ta sẽ phải ăn lương khô, uống nước mang theo, phải tiết kiệm nước uốn tới mức tối đa. Nếu đơn vị nào thiếu thì tạm thời phải nhịn không được làm trái quy định. Đứng về mặt tổ chức, đây là mệnh lệnh chiến trường, kỷ luật như sơn. Các đơn vị phải cử người canh gác “nội bất xuất, ngoại bất nhập”. Nếu để lộ bí mật, bom pháo địch từ các nơi dồn dập tới ngay. Chúng dùng trực thăng đổ quân xuống sống mái với chúng ta. Chúng ta như cá nằm trên thớt. Khi đó chúng ta buộc phải chiến đấu, thương vong không biết đâu mà lường. Đơn vị ta nhận nhiệm vụ khai hỏa và tiêu diệt cứ điểm quan trọng này, quyết định thắng lợi của trận đánh đêm nay. Hôm nay chúng ta nghỉ ngơi và giữ bí mật, đề cao cảnh giác. Tất cả phải sẵn sàng. Khi nào có lệnh xuất kích là phải đi ngay, phải chiếm được ngay trận địa.

Phương án tác chiến, tôi đã trình bày cụ thể trên sa bàn rồi. Các đồng chí cứ thế thực hiện.

*

*       *

Đêm ấy, bộ đội đào công sự xong rồi. Mọi người nóng lòng chờ đợi lệnh nổ súng. Thỉnh thoảng Dân lại soi đèn pin nhìn đồng hồ. Thời gian trôi đi quá chậm chạp. Các chiến sỹ súng đạn đã sẵn sàng. Mắt đổ dồn về phía đồn thù. Kim đồng hồ xê dịch mãi chưa tới giờ G.

Giờ nổ súng đã tới, thời khắc lịch sử đã điểm. Dân vụt đứng dậy hạ lệnh nổ súng. Bão lửa bất ngờ đội xuống đồn địch. Dân dẫn đơn vị tiến lên, xông vào đồn giặc. Dưới ánh đèn dù, sáng như ban ngày, anh nhìn rõ từng lô cốt chìm trong biển lửa. Giặc la lối ầm ĩ, chửi bới om sòm không ngớt. Chúng chạy lung tung như ong vỡ tổ. Các đơn vị bạn đồng loạt xung phong. Kẻ địch bị tấn công bất ngờ không kịp trở tay. Cả cứ điểm chìm ngập trong biển lửa. Nhiều tên địch bị trừng trị ngay từ loạt đạn đầu. Số còn lại đầu hàng thì sống, Nếu ngoan cố chống lại, được các chiến sĩ tặng cho những viên “kẹo đồng”. Trận đánh nhanh chóng kết thúc. Khi hạ lệnh cho đơn vị rút lui, Dân chờ cho đơn vị rút hết anh mới trở ra. Một quả pháo rơi gần nơi Dân đứng. Dân bị hất ra xa và bị thương, ngất đi.

Đơn vị đi khá xa mà vẫn không thấy Dân đâu. Tiểu đoàn phó Huân và liên lạc Tân quay lại tìm Dân. Họ mò mẫm từng đoạn công sự. Họ tìm thấy chiếc xà cột đựng tài liệu và chiếc bi đông thủng lỗ chỗ. Khẩu súng ngắn bị văng rất xa. Tân xác định những thứ này là của Dân. Theo Huân phán đoán Dân bị pháo dập và đã hy sinh. Thi thể có thể bị cắt làm nhiều mảnh. Họ lại chia nhau đi tìm xung quanh đó, nhưng biệt vô âm tín.

Họ thất vọng buồn rầu trở về. Trên đường về, Huân và Tân phải vượt qua nhiều gian khổ, vất vả, có khi nguy hiểm đến tính mạng. Cả đêm hôm đó và ngày hôm sau phải ngủ bờ, ngủ bụi, nhịn đói, nhịn khát. Huân cũng bị thương vào cánh tay trái. Nhưng tình đồng đội, tình bạn đã giúp họ vượt qua. Đêm hôm sau, họ mới về tới đơn vị. Họ mệt lả, bụng đói miệng khát. Ăn vội miếng cơm rồi lăn ra ngủ như chết.

Đơn vị làm lễ truy điệu Dân và báo tử về gia đình. Cả đơn vị ai cũng thương tiếc Dân, người chiến sỹ luôn chiến đấu dũng cảm, kiên cường, người chỉ huy tài năng, thông minh, mưu trí, hết lòng thương yêu đồng đội. Trong chiến đấu, khi tiến vào đồn giặc anh là người dẫn đầu. Khi rút quân anh là người đi sau cùng.

Dân là người được học hành đến nơi đến chốn, được tôi luyện trong chiến đấu ác liệt. Mỗi khi trình bày một vấn đề trước đơn vị, Dân có giọng nói rất truyền cảm, mạch lạc, không thừa, không thiếu, khi truyền đạt mệnh lệnh rành mạch, dứt khoát, rõ ràng dễ hiểu. Dân là mẫu người lý tưởng để cán bộ chiến sỹ vươn tới. Tương lai của Dân như một thảo nguyên mênh mông. Nhưng khi cần phải hy sinh cho nền độc lập của Tổ quốc và hạnh phúc của nhân dân anh không hề tiếc máu xương. Dân để lại trong lòng Huân những tình cảm đặc biệt và trong sáng. Ở cương vị cấp trưởng, Dân luôn gương mẫu dìu dắt và giúp đỡ Huân. Khi bàn bạc, thảo luận, Dân và Huân rất dân chủ. Nhưng khi quyết định, Dân luôn nhận trách nhiệm về mình, không đổ thừa cho cấp phó. Với tư cách là đồng hương, Dân gần gũi, yêu thương Huân.

Năm Mập - Chính trị viên trưởng tiểu đoàn nằm bẹp cả ngày trên võng vì quá thương tiếc Dân - Người bạn, người đồng chí luôn nhận khó khăn về mình, nhường thuận lợi cho bạn.

Hà và Tân là liên lạc kiêm cần vụ luôn ở bên Dân, vui buồn, đói khát, gian nan, vất vả có nhau. Dân có thể nhịn đói, nhịn khát để nhường cho Hà và Tân. Hà, Tân thương Dân vô cùng, cả hai cùng nghẹn ngào khóc Dân.

Tất cả những người chiến sĩ dũng cảm hy sinh trong trận đánh vừa qua tô thắm thêm cho lá cờ truyền thống của đơn vị,  xây nên những tượng đài anh hùng cho cán bộ, chiến sĩ noi theo. Những người lính luôn phải đối mặt với kẻ thù, với cái sống và cái chết giành lại cho quê hương, đất nước. Họ ít có thì giờ để nghĩ tới quá khứ, vì họ luôn tất bật với công việc và chiến đấu.

4. Kể từ đêm chia tay lần cuối với Dân đến nay đã hơn ba tháng, lúc nào Huyền cũng nghĩ tới Dân. Ngồi vào bàn học, Huyền thấy Dân ngồi kề bên. Huyền không tài nào học nổi. Kể cũng lạ thật, trước đây Dân ngồi cạnh là sức mạnh, động viên, cổ vũ, khích lệ khiến đầu óc Huyền sáng suốt, tiếp thu bài mau lẹ. Khi đi chăn trâu, một mình Huyền đi khắp đồi sim mà không hái một quả. Huyền cố tình bỏ trái sim vào miệng, sim đắng ngắt. Huyền lại nghĩ tới Dân.

Đêm ngủ, Huyền mơ thấy Dân nằm cạnh. Bàn tay Dân vuốt ve mái tóc, sờ lên đôi má nóng bừng. Dân ghì chặt Huyền vào lòng. Huyền đắm chìm trong những giây phút bên anh. Giấc mơ thật đẹp và ngọt ngào. Khi tỉnh dậy, Huyền thấy sung sướng ngây ngất, khoan khoái và dễ chịu kỳ lạ. Huyền thấy lòng mình lâng lâng. Có những lúc tay cầm sách, bỏ đâu cũng chẳng nhớ. Đôi khi Huyền ngồi thừ ra, mẹ gọi cũng không nghe thấy. Mẹ mắng, Huyền chống chế: Con đang nghĩ về bài toán khó. Hình ảnh Dân càng in đậm trong trí nhớ của Huyền. Nếu Huyền có tài hội họa như Nguyệt Nga thì bức chân dung về Dân hẳn không khó khăn gì.

Gần đây, Huyền thấy cơ thể có sự chuyển biến lạ thường. Ba tháng nay, Huyền không thấy… Trước đây, việc ấy chính xác từng ngày, từng giờ. Bỗng dưng, ba tháng nay không thấy. Điều đó khẳng định Huyền đã mang thai. Huyền nên mừng vui, đau buồn lo lắng? Một sinh linh nhỏ nhoi đã hình thành và phát triển trong cơ thể chị. Nếu Huyền nghe Dân tổ chức đám cưới thì điều này khiến chị rất vui, sẵn sàng đi loan báo, với bạn bè, thông báo cho hai bên cha mẹ. Nhưng tình thế này buộc Huyền phải giữ kín. Cơ thể Huyền thay đổi nhanh chóng đến không ngờ. Đôi bầu vú lớn dần, như muốn phá tung cái áo lót mà chui ra. Cách đây không lâu chị còn mặc vừa vặn nay cứ xiết chặt lại. Hai đầu vú không đỏ như xưa nữa. Nó to và cứng, chuyển dần sang màu thâm đen. Bầu vú đẫy đà, rắn chắc hơn. Nó tạo thành đường eo lớn, phục phịch hơn. Huyền phải bó cái bụng lại cho nó bình thường như trước. Chỉ khi tắm, lúc nằm ngủ cái bụng mới được thoải mái hơn, không bị trói buộc. Những lúc ấy chắc đứa trẻ vui lắm. Trước đây lông mày Huyền như đường chỉ rất đẹp, gần đây cứ dựng ngược chẳng ra làm sao cả. Cổ Huyền nổi những đường gân xanh. Rõ nhất ở bụng, đường gân xanh nổi hẳn lên rất to.

Đến bữa ăn, ngồi xuống mâm, Huyền không tài nào nuốt nổi miếng cơm vào bụng. Cứ ăn vào là ói mửa liền. Mỗi lần nôn ọe, nước mắt nhạt nhòa. Sau mỗi lần ói mửa, nôn ọe, chị mệt lả, chỉ muốn đi nằm. Huyền thèm của chua đến nao lòng. Mọi khi ăn khế chua, Huyền phải nhăn mặt, nhắm mắt, có sức mới đưa được miếng khế chua vào bụng. Thế mà bây giờ, Huyền ăn rau ráu, ngon như ăn cơm. Cái vị chua, chát biến đâu mất. Cây khế đầu nhà chị ăn vạt một góc. Nhưng khốn nỗi chị đâu dám ăn khế trước mặt mọi người. Hái khế vụng, ăn khế vụng là công việc làm về đêm của Huyền. Một lần Huyền bị mẹ bắt quả tang chị hái khế, ăn khế rau ráu ngon lành.

Mẹ gọi chị vào trong nhà. Mẹ nhỏ nhẹ nói với con gái:

- Mẹ có chuyện muốn hỏi con.

 Mới nghe mẹ nói vậy mặt Huyền đã xanh như tàu lá, chân tay run lẩy bẩy.

- Con không được giấu mẹ. Nhìn con gần đây, mẹ khẳng định con đã có thai. Mẹ đã qua cái thời ấy, mẹ biết. Con trót dại với ai? Con nói thật với mẹ đi, con không giấu nổi mẹ đâu. Liệu con có giấu mãi được không? Khi cái bụng vượt mặt, còn giấu được ai nữa.

Huyền ngồi lặng im. Khi chị cúi mặt nhìn xuống cái bụng, lúc nhìn đôi chân. Rồi Huyền lấm lét ngẩng lên nhìn mẹ.

Mẹ lại giục:

- Con nói đi! Mấy tháng rồi?

Huyền vẫn lặng câm. Bà mẹ thấy người nổi gai gà. Bà thét:

- Mày câm miệng à? Tao nói ngọt mày không nghe. Con gái hơ hớ thế kia mà chửa hoang. Đẹp mặt chưa? Uổng công tao mang nặng đẻ đau và nuôi mày từng ấy năm trời. Bố mày mà biết thì chết. Lúc đó đừng có trách mẹ không bảo trước.

Huyền nói lí nhí qua hàng nước mắt đang chảy hối hả trên má:

- Con… con con chót dại dại. Ba… ba tháng rồi. Bố mẹ thương con, đừng bỏ con, tội nghiệp lắm.

Bà mẹ dằn từng tiếng:

- Mày nằm với thằng nào? Con nhà ai?

Huyền vừa khóc, vừa nói. Hai tay dụi mắt. Hai mắt đỏ như hai miếng tiết:

- Nó là của anh… anh Dân.

- Bây giờ con tính thế nào? Bà mẹ hỏi.

Huyền sợ sệt, đưa mắt nhìn mẹ.

- Con chẳng biết tính thế nào. Tất cả trông vào tình thương của bố mẹ. Bố mẹ bảo sao con nghe vậy.

Hai mẹ con đều im lặng. Mỗi người suy nghĩ theo chiều khác nhau. Huyền khóc vì sự bồng bột. Nếu nghe anh Dân tổ chức đám cưới thì đâu đến nỗi này. Khóc vì đứa con nhỏ bé trong bụng. Rồi đây số phận của nó thế nào? Liệu có được mẹ tròn con vuông không, hay là mẹ con mỗi người một ngả. Khóc vì thương anh Dân ở nơi chiến trường có hiểu cho hoàn cảnh của chị lúc này không?

Bà mẹ cũng nước mắt ngắn, nước mắt dài. Nước mắt ấy là sự hòa đồng của lòng thương con và sự không dạy bảo con đến nơi, đến chốn, cao hơn nữa là sự tức giận con không chịu nghe lời cha mẹ “Cá không ăn muối cá ươn. Con không nghe lời cha mẹ trăm đường con hư”. Bây giờ, người đời chê con thì ít, cười cha mẹ thì nhiều vì không biết dạy bảo con. Bây giờ phải tính sao cho êm thấm. Những điều suy nghĩ riêng chứ gặp nhau, không ai nói với ai. Mặc dù họ là hai mẹ con.

Mặt trời đã lên cao. Nắng tỏa khắp sân từ lâu. Bố Huyền nói oang oang ở ngoài cổng:

- Nhà vắng tanh, mẹ con đi đâu cả thế này mà để gà bới đống rơm rạ thế kia.

 Ông vội đuổi ụi! ụi!

Trong nhà, mẹ con Huyền trở về với thực tế.  Bà mẹ nói với con:

- Nín đi con... Đừng vội để cho bố con biết. Bố con nóng như lửa. Để mẹ lựa lời nói trước với bố con đã. Nếu để bố con biết lúc này, ông ấy không chịu nổi, khùng lên thì nguy. Tất cả bung bét, vỡ lở, mọi người được dịp chê cười.

Bà bình tĩnh chạy ra, vồn vã hỏi chồng:

- Ông đi đâu từ sáng đến giờ. Ông chẳng hề nói với tôi một tiếng, khiến lòng tôi không yên.

Ông Huyền vui vẻ, bộc bạch cùng vợ.

- Tôi sang nhà ông Thả có chút việc. Chả là, nhà ông ấy có con bò định bán. Tôi muốn mua cho mấy đứa trẻ nhà mình chăn, để chúng chơi bời lêu lổng hư thân mất nết.

- Nhà mình có trâu rồi còn mua bò làm gì nữa. Tiền bạc đâu mà ông mua bò? Vài năm nay, gia đình nhà ta mới tạm đủ ăn.

- Tiền bạc bà khỏi phải lo, đâu sẽ có đó. Bà cứ mặc tôi. Tôi định bán trâu để mua bò. Trâu dữ tợn hơn, sinh sản chậm lại ăn hết nhiều hơn. Bò ăn ít lại sinh sản mau. Trẻ con dễ chăn dắt. Bán trâu để mua bò đâu có thiếu tiền mà bà cứ lo đứng, lo ngồi mãi.

- Là tôi nói vậy. Mua bán thế nào là quyền ông. Cái loại đàn bà: “Sâu sắc như cơi đựng trầu, đái không cao hơn ngọn cỏ” biết gì mà bàn. Cái gì có lợi thì ông cứ làm. Nhưng tôi xin góp ý với ông một điều, phải ông nghe mà sai thì thôi. Trâu lại có ưu điểm khả năng chống rét tốt hơn bò.

Nghe vợ nói vậy, ông Huyền mát lòng, mát dạ. Xưa nay bà ấy vẫn là người biết điều, mọi việc cư xử với chồng con và mọi người chung quanh rất chu toàn. Bà ấy rất mực yêu thương chồng con. Bà đã làm được việc lôi cuốn chồng vào câu chuyện của bà khiến ông không để ý đến thái độ, sắc mặt của mẹ con bà.

Tối hôm ấy, khuya lắm rồi. Trẻ con học bài xong đứa nào, đứa ấy nằm lăn ra ngủ. Chúng đang thi nhau kéo gỗ. Bà mẹ vùng dậy, khẽ len lén đi ra nhà ngoài. Bà đi rất nhẹ và êm. Đến bên chồng, bà vỗ nhẹ để đánh thức ông dậy. Bà ngồi xuống giường  nói rất nhỏ.

- Ông vào trong này, tôi có chuyện muốn bàn với ông. Rồi bà lại khẽ đi về giường của mình.

Bà Huyền vừa năm ấm chỗ thì ông tới liền. Ông ngoan ngoãn làm theo vợ. Ông nghĩ lâu nay mải làm ăn, vợ chồng ít khi ngủ với nhau. Ở nông thôn vợ chồng ít ngủ chung với nhau là chuyện thường. Nếu muốn thì chủ yếu là “đánh du kích”, xong rút liền. Mặt khác các con lớn, bố mẹ phải ý tứ, kín đáo. Bà ấy nhắc khéo ông, thức tỉnh cái vùng nhớ của đàn ông bừng bừng nổi dậy mãnh liệt. Ông vừa tới giường, bà kéo ông nằm xuống ngay. Ông vui vẻ, phấn khởi hẳn lên, thỏa mãn những nhận xét đánh giá của ông. Bà chìa tay cho ông gối. Bà ấy ghì chặt lấy ông. Cái của kia cứ hừng gực bốc lửa trong ông. Bà nói:

- Tôi có chuyện này nói với ông. Nhưng khi nghe ông phải thật bình tĩnh, nóng nảy là lỡ việc.

- Thì bà nói đi. Việc gì mà phải rào trước đón sau mãi.  Tôi nghe đây. Nhanh lên để còn… lâu lắm rồi chưa…

Bà hắng giọng.

 Lâu nay, ông có để ý đến sức khỏe và sự thay đổi của con Huyền không?

- Tôi làm lụng tối mắt, có lúc nào ngơi tay. Ở ngoài đồng suốt từ tờ mờ sáng cho tới tối mịt thì giờ đâu mà để ý đến con cái.  Nhiều ngày, tôi chỉ gặp mẹ con bà bữa cơm tối. Bà với nó là mẹ con con gái với nhau, bà phải biết hơn tôi chứ.

Bà ghé vào tai chồng:

- Cái Huyền có thai rồi. Ông sắp được làm ông ngoại rồi.

Ông như người bị điện giật, vùng trở dậy.

- Có thật không? Bà nói tiếp đi.

Bà kéo chồng nằm xuống

- Ông cứ nằm xuống đã, bình tĩnh nghe tôi nói. Ông làm gì mà như người mất hồn thế. Ông phải thật bình tĩnh, vợ chồng mình bàn tính cách giải quyết.

Ông lại ngoan ngoãn nằm xuống giường. Nhưng lần này ông nằm cách xa vợ một chút, chú ý lắng nghe vợ nói.

- Tôi quan sát, theo dõi mấy ngày nay rồi. Sáng nay, tôi vừa hỏi nó. Nó thú nhận là đã có thai ba tháng, đứa con trong bụng là của thằng Dân. Việc đã ván đóng thuyền rồi. Vợ chồng mình phải bàn cách giải quyết sao cho êm thấm, để khỏi phải đeo mo vào mặt, dân làng chê cười.

Ông Huyền thở dài thườn thượt.

- Bà biết chuyện trước, chắc bà có suy tính rồi. Trong chuyện này,  bà khôn khéo hơn tôi nhiều. Tại sao bây giờ bà mới nói với tôi?

- Tôi cũng mới biết thôi. Cái bụng của nó đã nổi đâu mà nhìn thấy. Phải nhìn vào những biến đổi của cơ thể nó mới biết. Hơn nữa, tôi phải lựa thời điểm thích hợp mới nói với ông. Nếu cứ nóng nảy, sồn sồn gặp đâu nói đấy, ông nổi khùng lên thì chẳng khác nào lạy ông tôi ở bụi này.

Ông không giữ nổi bình tĩnh, gắt vợ:

- Bà tính thế nào thì cứ nói toạc móng heo ra, để tôi biết chừng. Bà cứ dài dòng, vòng vo mãi, tôi sốt ruột quá rồi. Tôi muốn phát điên lên đây.

- Còn tính gì nữa. Chỉ có cách phá quách đi là gọn và êm chuyện lại kín đáo.

- Nhưng bằng cách nào? Ba tháng rồi liệu có phá được không?

- Được! Nhưng phải khẩn trương, chần chừ, do dự là chết liền. Nhưng phải tuyệt đối bí mật. Việc này chỉ có tôi và ông biết thôi. Ngày mai, tôi đi liền.

Ông Huyền sốt sắng hơn cả vợ:

- Sáng mai, bà phải dậy thật sớm, tránh không gặp ai càng tốt. Khi về, bà phải cất giấu thuốc thật kín đáo. Nếu gặp ai, bà phải nói chệch đi, đừng để họ sờ vào thuốc. Lời nói biết đi mà.

Nói xong, ông Huyền bỏ ra nhà ngoài nằm. Ông chẳng còn bụng dạ nào mà nghĩ tới chuyện kia nữa. Cái vùng nhớ bản năng của người đàn ông vụt biến mất. Bà ấy cũng không còn tâm trạng nào, hứng thú gì nữa. Nên không thấy bà ấy nhắc nhở đến chuyện ấy. Nhưng ông có ngủ được đâu. Ông thấy đau quá. Cha con lão Dân trả thù ông đây. Cú đánh này rất hiểm, đau lắm. Chỉ có ông mới biết. Cũng tại ông mất cảnh giác, thiếu trách nhiệm với con. Cứ nghĩ chúng nó còn trẻ. Học nhóm, học tổ phụ đạo cho nhau. Ai ngờ phụ đạo lại “ phụ” luôn cái bụng cho ềnh lên. Chẳng biết, con ông được thêm bao nhiêu chữ nhưng được cái bụng to thì chắc rồi. Bà ấy nói đúng, nếu ông nổi nóng, làm ầm lên chỉ chuốc lấy vạ vào thân, lạy ông con ở bụi này. Phá đi là thượng sách, ba mươi sáu cách chẳng cách nào hơn cách này. “Phá! Phá!”. Nếu cái Huyền có xanh xao, gầy còm cứ đổ thừa là nó bị ốm. Có trời mới biết. Khi ấy, ông giữ dịt nó ở nhà. Ai biết đó là đâu? Thật may bà ấy phát hiện sớm. Để lâu thì cứ bụng nó như cái trống làng thì cứ gọi là bêu! Bêu cả lũ!

*

*      *

Bố Huyền dậy đun nước pha trà. Uống nước trà buổi sáng là thói quen của ông. Ngồi một mình nhâm nhi chén nước trà, ông thấy vợi bớt ưu phiền. Uống trà xong, ông đi nấu cơm, và nấu cám lợn. Sáng sớm, bà ấy và các con đã có cơm ăn đi làm. Hôm nay, mẹ Huyền dậy sớm hơn mọi ngày. Bà vội ăn bát cơm, xong là đi luôn.

Bố Huyền đánh thức các con dậy ăn cơm. Ngồi xuống mâm cơm vắng mẹ, các con nhao nhao hỏi mẹ đi mà không ăn cơm. “Mẹ có chút việc phải đi sớm! Mẹ ăn rồi.” Ông trả lời các con.

- Cái Huyền phải cố gắng, chịu khó ăn uống. Sức khỏe của con dạo này không được tốt. Sức khỏe là vốn quý của con người.

Nghe bố nói vậy, Huyền thấy nhẹ nhàng dễ chịu hơn. Chắc là đêm qua, mẹ đã nói với bố rồi. Ông bà thì thầm to nhỏ ở trong buồng mãi tới khuya. Nhưng tại sao bố quan tâm, lo lắng đến sức khỏe của Huyền? Tại sao việc động trời mà bố không nổi khùng? Chắc mẹ đã chuyền cho bố cái bình tĩnh, dịu dàng, ngọt ngào sáng nay. Con cám ơn mẹ! Nhưng đằng sau cái dịu hiền kia, chứa đựng điều gì trong đầu bố. Việc đó phải có thời gian kiểm nghiệm. Tại sao sáng nay, mẹ đi đâu sớm thế?  Việc gì mà gấp gáp vây? Bao nhiêu câu hỏi còn bỏ ngỏ, chưa có lời giải khiến Huyền ớn lạnh khắp cơ thể như có con rắn chạy dọc sống lưng. Tự nhiên Huyền thấy ngượng ngùng và xấu hổ với bố.  Huyền không dám nhìn thẳng vào mắt bố. Đôi mắt ấy vừa dịu hiền, vừa bốc lửa nghiêm khắc đổ về phía Huyền. Chị còn mặt mũi nào để nhìn bố mẹ và các em cũng như những người xung quanh. Việc làm của Huyền có ảnh hưởng tới các em không? Về mặt pháp luật, ai làm việc xấu thì người đó đắc tội. Nhưng người đời xem xét sự việc như thế cho đâu, mà nhìn nhận theo góc độ đức trị. Chị xấu thì các em cũng xấu. Chị có tính trăng hoa, dẫn đến chửa hoang thì các em cũng dễ đi theo vết xe đổ ấy. Thật tội nghiệp cho chúng. Bố mẹ cũng phải đội chung cái mũ “chửa hoang” cùng các con. Tuy nhiên mức độ khác nhau. Đẻ con ra mà không biết dạy. Con hư tại cha mẹ người đời vẫn thường nói thế mà. Mối lo lớn nhất đối với Huyền, liệu các em sau này có đi theo bước chân của chị không? Khi nghe bố gọi dậy ăn cơm, Huyền vâng vâng, dạ dạ mà thân thể cứ nằm bẹp xuống giường. Chị như con cò muốn bay không cất nổi cánh. Huyền suy nghĩ miên man, lung tung.

Ông Huyền đi thẳng vào buồng con gái. Ông nhẹ nhàng, âu yếm đặt tay lên trán con:

- Con sốt đây mà. Người con nóng như hòn than. Bố biết mọi nhẽ, mọi chuyện rồi. Việc đã vậy không thể ngồi yên mà chờ chết. Ai thương mình chứ? Việc này bố mẹ bàn tính kỹ rồi.

Huyền vùng trở dậy. Chị nhảy xuống đất. Chị quỳ dưới chân bố, miệng lắp bắp:

- Con chót dại! Bố tha tội chết cho con. Vì con mà bố mẹ phải đau lòng, khổ sở. Vì con mà bố mẹ phải mang tiếng xấu hổ với anh em với dân làng.

Ông Huyền nuốt hận vào lòng nói:

- Đứng lên đi! Con biết nhận lỗi là tốt. Dữ như hổ cũng không ăn thịt con. Bố nào lại giết con. Con tử tế, ấm no, hạnh phúc bố mẹ mừng và được nhờ. Con hư đốn, chửa hoang, ăn trộm, ăn cắp thì vẫn là con của bố mẹ. Bố mẹ không từ chối nổi đâu, người ta vẫn buộc vào cổ. Chỉ có điều con nhận ra khuyết điểm, nhận ra lỗi lầm to lớn là được. Từ nay, bố mẹ bảo gì con phải vâng lời làm theo, không được ương bướng chống lại. Bài học này đắt giá lắm, con phải nhớ đời, tu tỉnh và sửa chữa.

-Vâng ạ! Vâng ạ!

*

*       *

5. Mặc dù tiết trời chớm thu mà vẫn oi bức. Ngồi sắc thuốc ở cái bếp nhỏ, thấp tè tè, nóng từ bếp lửa tỏa ra, nóng của tiết trời khiến mẹ Huyền lấm tấm mồ hôi. Bà than phiền con cái làm khổ cha mẹ  Sắc thuốc lửa phải lâm râm và phải thường xuyên trông chừng kẻo nước thuốc cạn mà không biết. Cẩn thận vẫn hơn, thỉnh thoảng phải đong thử ra bát. Ấm thuốc sắc từ sáng tới gần trưa chỉ còn bát đầy. Bà Huyền nét mặt rạng rỡ, nhẹ nhàng bưng từ dưới bếp lên đưa cho con gái. Bà ngọt ngào, dịu dàng, dỗ con:

- Bố mẹ thấy con ốm đau, mệt mỏi không đành lòng, mẹ cắt cho con mấy thang thuốc bắc để con mau phục hồi sức khỏe, tiếp tục học tập và giúp đỡ gia đình. Con cố uống đi, không đắng đâu.

- Con xin! Mẹ cứ để đấy cho con. Con sẽ uống tức thì, chờ nguội bớt đã!

Huyền suy nghĩ mung lung. Chị có ốm đau gì đâu. Từ xưa tới nay, mỗi khi trong nhà có người ốm, dù to, dù nhỏ đều dùng thuốc tây mua của trạm xá. Tại sao hôm nay mẹ lại cắt thuốc bắc cho chị uống? Câu hỏi này chị không trả lời nổi. Cả bố mẹ đều biết chị có thai. Phụ nữ mang thai việc gì phải uống thuốc. Mẹ và những người xung quanh, khi mang thai có ai uống thuốc đâu? Bố mẹ thực sự thương con, thương cháu hay vì một lý do, một âm mưu còn được giữ kín. Tại sao bố mẹ không nói thật với chị. Vì sức khỏe của con gái hay vì sự sống còn của của cái thai. Chị và cái thai gắn liền máu thịt với nhau, không thể tách rời cái thai ra khỏi chị. Bảo vệ hay phá thai? Bảo vệ cái thai, chị có thể uống hàng trăm, hàng ngàn thang thuốc. Nhưng bố mẹ làm gì có tiền, cơm ăn chẳng đủ no, áo mặc chẳng đủ ấm lại bỏ tiền cắt thuốc cho con gái. Nếu làm phương pháp loại trừ thì rõ ràng, bố mẹ đang muốn giết cái thai trong bụng chị. Huyền thương con quá chừng. Nó là kết quả mối tình đầu giữa Dân và chị. Uống thuốc này, coi như chị giết đứa con của mình. Giết đi mối tình anh trao tặng chị. Đứa con là giọt máu anh gửi lại. Sau này gặp lại chị nói với anh thế nào? Cái thai là kết quả của tình yêu trong sáng như trăng rằm, như mùa xuân đầy hoa lá, là sự tự nguyện hiến dâng, là sự động viên, khích lệ anh đi chiến đấu. Anh không hề ép buộc chị. Vì thế chị không trách anh. Nghe lời bố mẹ, chị thoát khỏi cái “án” chửa hoang, bảo toàn  danh dự cho bố mẹ, gia đình và dòng họ. Chị đang lâm vào tình huống khó xử, giữ được con thì phụ lòng bố mẹ. Bố chị chẳng nói “cha mẹ nào nỡ giết con” đó thôi. Chị phải theo lời cha dạy. Nhưng chị không thể giết con mình. Lòng người mẹ ngăn cản chị làm điều ấy. Lòng chị thương con như biển rộng, sông dài vô tận. Người xưa nói: “Mẹ chết chống gậy vông”. Vì lòng mẹ thương con thẳng tuồn tuột, không có đoạn, có khúc nào cả. “Cha chết chống gậy tre” lòng cha thương con chia ra từng đoạn, từng khúc: Lý trí, tình cảm, giận hờn và yêu thương. Lòng thương con giúp người mẹ vượt qua mọi nguy hiểm, chông gai, thách thức. Người mẹ có thể chết vì con. Mẹ sống thì con sống. Mẹ chết thì con chết.

Mẹ Huyền mấy lần vào buồng giục con, bát thuốc vẫn còn nguyên, nguội ngắt. Bà quay trở lại nói với chồng:

- Ông ơi! Tôi nói năm lần bảy, lượt với nó. Chỉ thiếu cách tôi phải lạy nó thôi. Nó vẫn lặng thinh, câm miệng hến, không chịu uống. Ông bảo có tức không chứ. Làm thế nào bây giờ?

Bố Huyền ngồi lặng im. Một lúc sau ông nói:

- Bà cứ để nó đấy, mặc tôi. Chờ cho mấy đứa trẻ đi học, đi chăn trâu, tôi sẽ hỏi tội nó. Ngọt không nghe, già đòn non lý sự. Nó sẽ phải nghe. Bố Huyền đứng dậy đi xuống nhà bếp. Khi trở lại, tay lăm lăm cái đòn gánh đầy vẻ dữ tợn. Ông quát mấy đứa trẻ:

- Các con đi học, đi chăn trâu kẻo muộn. Mặc dù, ông biết hãy còn sớm. Mấy đứa trẻ sướng quá vội đi ngay. Ông Huyền cầm cái đòn gánh đi thẳng vào buồng con gái. Ông quắc mắt, đôi mắt đỏ lừ:

- Huyền!

- Dạ

- Dậy uống thuốc mau!

- Vâng! Vâng!

- Huyền vẫn nằm yên. Chị định bụng, ngậm một ngụm thuốc vào miệng cho có mùi, rồi đổ bỏ. Nhưng mẹ cứ ngồi lì ở giường. Chị không tài nào hành động nổi theo ý muốn. Nhìn cảnh tượng ấy, máu nóng ngùn ngụt bốc trong đầu bố Huyền. Ông bảo vợ ra cổng canh chừng, phòng khi có người bất chợt đến nhà. Ông chạy vội xuống bếp. Một lát sau, tay ông bưng một bát cơm và một bát cám lợn. Ông xăm xăm đi vào buồng con gái. Bà Huyền nói nhỏ với chồng:

- Ông phải nhẹ nhàng dỗ dành con. Đừng đánh nó mà tội nghiệp.

Ông đặt bát cơm và bát cám lợn xuống giường. Ông quát lớn:

- Huyền!

 Huyền giật bắn người lên. Mặt mày xanh lét, cắt không còn giọt máu.

- Mày có uống thuốc không? Đồ đĩ rạc đĩ dày kia! Đồ voi giày! Người ta tha gọt gáy bôi vôi, dắt như con chó đi bêu khắp làng rồi bỏ rọ buông sông lại còn lên nước. Tao biết mày báo hiếu cho bố mẹ như thế này thì tao bóp chết mày từ khi mới lọt lòng để khỏi phải nuôi ăn học từng ấy năm trời. Mày đền đáp công lao cho bố mẹ bằng cái bụng chửa hoang à?

Huyền nằm im, không nói, không nhúc nhích.

Chiếc đòn gánh vun vút quật xuống tới tấp. Cái quật vào người Huyền, cái nện xuống giường bịch bịch làm những chiếc giát giường gãy răng rắc. Một lần nữa Huyền giật bắn người lên. Lại một chiếc đòn gánh trúng người Huyền. Huyền buộc phải ngồi dậy. Bố Huyền chỉ vào bát cơm và bát cám lợn. Ông dằn từng tiếng:

- Đây là bát cơm và bát cám lợn. Bát cám lợn tượng trưng cho bát cứt. Mày muốn sống ăn cơm thì phải uống thuốc. Mày không uống thuốc thì ăn hết bát cứt này rồi tao sẽ cho mày chết. Huyền chưa kịp trả lời đã  nhận mấy cái đòn gánh vào mông. Nhìn đôi mắt đỏ ngầu như cá chày, dáng vẻ dữ tợn của bố, Huyền hoảng hốt vô cùng. Huyền bưng vội bát thuốc:

- Con xin uống! Con uống!

Cầm bát thuốc trên tay lòng Huyền đau xót như dao cắt từng đoạn. Chị định nói đôi lời với con trước khi uống. Bố lại gầm lên: “Uống đi! Còn chần chừ gì nữa”. Chị uống hết bát thuốc và những giọt nước mắt trong đó. Bát thuốc này kết liễu đời chị và đứa trẻ chưa chào đời. Con chết trước mẹ chết sau. Chị uống hai, ba lần mới hết bát thuốc, chị buông tay ra. Cái bát vỡ tan tành, mảnh vụn bắn tứ tung. Huyền nằm vật xuống giường. Thế là hết. Cuộc đời mẹ con chị tan như cái bát.

Bó Huyền bỏ ra ngoài. Ông chạy ra cổng bảo vợ vào dọn.

Huyền vừa sợ hãi, vừa đau ê ẩm khắp người bởi những vết đòn gánh nện vào cơ thể. Chị nằm thiếp đi.

Bà Huyền dọn dẹp xong những mảnh bát vỡ, cất bát cơm, bát cám xuống bếp. Quay lên nhà bà nói với ông:

- Ông đánh con đau thế. Tôi cứ tưởng ông chỉ dọa thôi!

- Bà lại còn thương nó à?. Tôi dọa là chủ yếu. Nó chỉ mới ăn vài cái đòn gánh thôi. Tôi mà phang vào đầu thì nó chết toi rồi!

Thỉnh thoảng, mẹ Huyền lại vào buồng để dò xét và canh chừng. Nhỡ nó quấn trí làm liều thì khốn. Lòng bà quặn đau khi nghĩ đến đứa con gái.

Khuya lắm rồi mới thấy Huyền trở dậy. Nghe tiếng kẹt cửa, bố mẹ Huyền cùng thức giấc. Bà bám theo con gái đi ra sân. Bà đứng nấp sau đống rơm. Chờ con gái đi vào trong nhà. Bà soi đèn đến nơi con gái vừa đi tiểu. Bà rón rén đến bên giường chồng. Bà cúi xuống nói khe khẽ;

- Vẫn bình thường! Cái thai khỏe quá. Uống một thang thuốc mà chưa kết quả gì.

Bố Huyền ngồi dậy thì thầm với vợ:

- Càng tốt! Con Huyền sẽ không ngờ đây là thuốc phá thai. Sáng mai, bà sắc tiếp thang nữa. Nó sẽ uống ngay cho mà xem. Nó sẽ nghĩ tôi và bà lo lắng, bảo vệ sức khỏe cho nó. Tôi và bà không phải ép buộc nữa.

Sáng hôm sau, Huyền tỉnh táo hơn, đỡ mệt mỏi hơn. Nhưng người còn đau ê ẩm vì bị những vết đòn gánh nện vào người để lại vết tím bầm.

Buổi trưa, chị ăn hai bát cơm. Chị lại lên giường nằm. MẹHuyền bưng bát thuốc cho con gái. Huyền nhanh nhảu, ngồi dậy bưng bát thuốc uống một hơi hết sạch. Bà nở nụ cười mãn nguyện, bõ công bà sắc thuốc. Uống xong, Huyền nghĩ nếu là thuốc bổ như bố mẹ nói thì càng tốt. Nếu là thuốc phá thai thì đây là sự nối tiếp việc đã rồi, cầm dao bồi thêm cho con một nhát nữa, một liều ba bảy cũng liều.

Một tuần sau, Huyền tỉnh táo hẳn. Các vết bầm cũng biến mất. Chị lại tươi tắn, xinh đẹp như xưa. Chị đi đứng nhanh nhẹn, dịu dàng hơn. Những cử chỉ của chị như thách thức bố mẹ. Bố Huyền giận dữ ra mặt. Ông đứng ngồi không yên. Mẹ Huyền buồn rười rượi, ăn không ngon, ngủ không yên. Ông gọi bà tra vấn:

- Bà cắt thuốc ở đâu? Tôi chẳng thấy kết quả gì? Thuốc phá thai thành thuốc dưỡng thai, có nhục không chứ. Bây giờ biết nói với nó thế nào đây?

Bà như người có lỗi, bà thành thật khai trước “quan tòa”:

 - Tôi cắt thuốc của ông lang Đức người làng Thượng. Hôm ấy, khi tôi đến cắt thuốc người rất đông. Chờ cho hết khách, tôi mới thưa chuyện với thầy: - Thầy hỏi tôi bệnh gì?

- Dạ thưa thầy! Tôi không bệnh tật, ốm đau gì cả. Tôi cắt thuốc phá thai. Vì năm nay, tôi gần năm mươi rồi, lại có sáu đứa con. Bây giờ có thai sợ dân làng chê cười, nhất là đang khuyến khích đẻ ít. Kinh tế gia đình tôi rất khó khăn. Sáu đứa con của tôi lại trứng gà, trứng vịt, còn hai bố mẹ già. Mười miệng ăn cả thẩy, cơm ăn chẳng đủ, nhiều khi phải ăn cháo sắn. Vợ chồng tôi đã bàn bạc kỹ và thống nhất bỏ cái thai này. Trăm sự nhờ thấy giúp đỡ. Đấy, phải bịa ra như thế cho thầy tin.

   Suy nghĩ một lúc thầy dạy:

- Tôi theo ý bà tức là tôi giết con bà. Làm vừa lòng bà, tôi phạm tội giết người. Phúc chẳng thấy đâu mà tội cao như núi.

- Tôi cắn rơm cắn cỏ, lạy thầy! Thầy thương vợ chồng chúng tôi. Tôi khóc tức tưởi. Trước còn khóc nhỏ, sau khóc to hơn. Hình như thầy cũng động lòng. Thầy suy nghĩ giây lát rồi nói:

-Thôi được! Nể tình bà, tôi làm theo yêu cầu của bà. Nhưng bà phải giữ kín việc này. Việc này mà vỡ lở, tôi và bà phải ngồi tù đấy. Tù mọt gông. Thời bây giờ phá thai coi như giết người.

Bố Huyền bật cười, nói:

- Bà bịa tài thật. Nói dối cứ như thật. Đến tôi cũng phải tin sái cổ. Thầy lang cũng chẳng vừa, miệng nói một đường nhưng tay làm một nẻo và cũng như thật. Tôi xin bái phục cả hai. Thế là thầy không cắt thuốc phá thai cho bà. Trái lại, thầy cắt thuốc dưỡng thai. Đúng là ông Lang Đức. Cái thai vẫn bình yên vô sự. Nó còn đó. Cái Huyền xem chừng  tỉnh táo, nhanh nhẹn hơn mọi ngày. Và mẹ con nó đang thách thức tôi với bà. Bây giờ biết tính sao đây?

- Làm thế nào bây giờ, ông nói đi?

Bố Huyền dằn từng tiếng:

- Con dại cái mang. Tôi với bà phải đến nhà lão Dân, quỳ xuống mà lạy vợ chồng người ta. Cầu xin người ta nhận con, nhận cháu.

- Nhận thế nào được? Mẹ Huyền hỏi chồng.

- Điều đó không có gì khó khăn. Bà lại bịa ra chuyện tương tự như cắt thuốc của thầy lang Đức.

Mẹ Huyền lo lắng nói với chồng:

-Vấn đề lo nhất, liệu nhà họ có chịu nhận không? Ai đi làm việc này?

- Tôi nhắc lại, chỉ có tôi với bà mới làm nổi việc này. Quỳ xuống mà lạy người ta. Nhục cũng phải làm.

Mẹ Huyền vốn là người khôn khéo, biết nhìn xa trông rộng. Sau một lát suy nghĩ, cân nhắc, bà nói với chồng:

- Không được! Ông vốn tính nóng nảy, hơn nữa, ông và tôi đến nhà họ lành ít dữ nhiều. Tránh sao khỏi việc nói qua, nói lại thành hòn bấc ném đi, hòn chì ném lại. Cãi nhau, xô xát nhau là cái chắc. Mình nói nhỏ họ làm ầm lên thì nguy. Tôi tính rồi. Tốt nhất, vợ chồng mình nhờ bà Tèo nói giúp. Bà Tèo là người biết ăn nói, con kiến trong hang cũng phải bò ra. Bà Tèo là chỗ thân tình với nhà mình, anh em ruột không bằng. Bà Tèo còn là chị con ông anh của vợ lão Dân. Bà ấy mới đủ tài, đủ điều kiện đứng ra thu xếp việc này.

Ông Huyền tỏ vẻ tán thành gật gù.

- Được lắm. Bà vợ của tôi giỏi lắm, một người biết lo bằng kho người biết làm. Bà đi ngay không nên chậm trễ.

Mẹ Huyền đi khỏi nhà. Bố Huyền như người ngồi trên đống lửa, cứ thấp thỏm lo âu. Ông cảm thấy xấu hố và tủi nhục quá. Ông suy nghĩ mung lung. Nếu vợ chồng lão Dân nhận con, nhận cháu, bước tiếp theo phải làm gì. Nếu anh Dân còn ở nhà tổ chức đám cưới là xong chuyện. Mọi việc êm ru. Nhưng khốn nỗi, Dân đang chiến đấu chiến trường miền Nam. Khó quá. Nhưng khó mấy cũng có cách giải quyết miễn là được hai gia đình chấp thuận. Nếu vợ chồng lão Dân từ chối thì sao? Câu hỏi hắc búa quá không có lời giải. Thú thật ông chưa nghĩ tới.

Đêm ấy, trăng thượng tuần đã gác núi. Gió thổi nhè nhẹ, mát rười rượi.  Bố Huyền trằn trọc mãi chẳng tài nào ngủ nổi. Mong mãi chẳng thấy bà ấy ra. Ông đành rón rén, dò dẫm, nhẹ nhàng mò vào buồng vợ. Bà ấy ngáy đều đều, nho nhỏ. Ông khẽ khàng ngồi xuống giường và nằm xuống bên vợ. Bà ấy tỉnh giấc, bằng động tác quen thuộc, ôm ghì lấy chồng. Ông hỏi nhỏ:

- Bà Tèo trả lời thế nào?

- Tôi định nằm nghỉ một chút nữa sẽ ra nói với ông. Nhưng mệt quá nên ngủ thiếp đi. Bà Tèo rất nhiệt tình, theo bà ấy việc đó nên làm: “Tôi sẽ bảo vợ chồng nhà Dân. Chắc là xong thôi!” Ngày mai bà ấy sẽ trả lời. Ông Huyền buông tiếng thở dài:

- Lại chờ đợi. Chờ đến bao giờ. Chờ đến khi nó đẻ con ra đấy à?: “Đau đẻ lại chờ sáng trăng”.

Bà khẽ tát yêu vào má chồng:

- Mình mới nói với người ta lúc tối nay. Ngày mai, bà ấy mới đến gặp nhà Dân được chứ. Mình chỉ nóng vội thôi.

- Sốt ruột quá nên chẳng nhớ gì.

Hình như chỉ đêm nay, ông bà mới thảnh thơi. Vùng nhớ của giống đực, giống cái thức tỉnh hai vợ chồng. Lâu mới gặp,  người già, nhưng tình không già. Họ vui vẻ, để mà tạm khuây khỏa. Nhưng cả hai đều hăng hái, nhiệt tình như thời trai trẻ.

Mấy hôm nay, Huyền dõi theo mọi hành động của bố mẹ. Mẹ đi lại như con thoi. Mẹ đi đâu? Đêm hôm khuya khoắt mà bố mẹ còn rì rầm, bàn bạc với nhau ở trong buồng. Mọi khi có thế đâu? Tuy không biết chính xác, nhưng chị đoán bố mẹ đang bàn tính về cái thai trong bụng chị. Trước sau như một, Huyện tự nhủ Mẹ sống thì con sống, mẹ chết thì con chết. Nhân lúc bố vắng nhà, chị hỏi mẹ:

- Mẹ ơi! Con hỏi thật mẹ điều này, mẹ đừng giấu con. Bố mẹ định xếp đặt việc của con và cháu như thế nào? Con thấy bố mẹ bàn bạc liên tục.

- Cha bố chị! Chúng tôi vất vả, đeo mo vào mặt cũng chỉ vì cái bụng của chị. Chị cứ để chúng tôi lo liệu. Chúng tôi muốn hai gia đình ngoảnh mặt lại nhìn nhau, hòa thuận với nhau, cùng nhận con, nhận cháu. Nhưng điều đó không thuộc quyền bố mẹ quyết định. Người quyết định số phận của con thuộc về phía nhà ông Dân. Làm thân con gái, khôn ba năm dại một giờ nên nhục thế đấy. Bố mẹ phải xuống thang nhờ người đến nói khó, kêu gọi lòng từ bi của gia đình họ. Nói cách khác là phải quỳ gối, cầu xin họ. Nhưng vẫn chưa có tin tức hồi âm. Chị đã hiểu cho nỗi nhục của người làm cha làm mẹ chưa?

Bố Huyền đi làm về. Bà kéo ngay chồng vào buồng. Vợ chồng lại to nhỏ, thì thầm với nhau. Ông biết bà định nói gì rồi. Lòng ông thấp thỏm, lo âu. Trái tim ông cứ đập thùm thụp, những mong những điều tốt lành đến với vợ chồng ông. Huyền đứng sau nhà nghe trộm. Nhưng bố mẹ nói nhỏ quá nên chỉ nghe câu được câu chăng.

- Ông ơi! Không ổn rồi. Họ nói rằng: Nhà họ là gia đình gia giáo nhất làng này. Thằng Dân là đứa con ngoan, học giỏi. Nó sống rất mẫu mực, lễ phép, hiểu đạo lý làm người biết kính trên, nhường dưới. Nó không phải là đứa hư hỏng, sống buông thả, chơi bời lêu lổng. Nó không bao giờ làm việc ấy. Cái Huyền, con nhà vô học, bố cu, bố đĩ. Gia đình gia phong không nền nếp. Con cái hư hỏng là điều không tránh khỏi. Cái Huyền nó ăn nằm với ai có trời mà biết, bây giờ đổ vạ cho thằng Dân chứ gì. Từ xưa tới nay, thằng Dân không một lần nói dối cha mẹ. Giả thiết, thằng Dân lỡ đi lại với con Huyền, trước khi đi nó phải nói với chúng tôi chứ. Nếu thằng Dân dặn lại, chúng tôi sẵn sàng nhận con, nhận cháu. Muốn đổ vạ cho nó thì cứ kêu toáng lên để dân làng cùng nghe. Nó đâu cãi lại. Nó đang đánh giặc ở miền Nam kia kìa. Tại sao không đổ cái vạ cho thằng nào ở nhà, ném con vào nhà nó? Đúng là gái đĩ già mồm. Khôn hồn thì bảo nhau câm miệng lại. Họ khôn ngoan, ranh ma nên mới nhờ bà đến nói giùp. Vợ chồng nó mà vác mặt mo tới đây, tôi sẽ đập cho vỡ mặt để chừa cái thói vu khống, ăn không nói có. Thằng bố nó là tên Sở Khanh chính hiệu, quân lừa đảo con nhà lành tự nó biết cách giải quyết. Không phải nhờ đến bà đâu.

Nghe đến đó, bố Huyền gầm lên như con thú bị thương, cứ lồng lộn lên mà chẳng làm gì nổi ai. Ông nằm vật xuống giường như cây cổ thụ  đổ đánh uỵch một tiếng. Mặt ông tái nhợt như người chết đuối vừa vớt lên. Nước da xanh như tàu lá chuối. Miệng ông cứng lại, không nói, không rằng. Mẹ Huyền sợ hãi, hốt hoảng nhưng không dám kêu to, giấu kín không cho anh em, con cháu biết. Bà lặng lẽ, lấy dầu gió xoa vào thái dương và khắp người chồng. Bà ôm đầu chồng lắc lắc gọi:

- Bố cái Huyền! Bố cái Huyền!

Bố Huyền từ từ tỉnh lại. Ông cảm thấy đau đớn, mệt mỏi quá chừng. Ông vẫy tay ra hiệu:

- Bà để tôi nằm nghỉ.

Mẹ Huyền hiểu ý chồng. Bà ngồi tiếp tục xoa dầu và nặn bóp cho chồng. Một lúc sau,bố Huyền ngủ thiếp đi. Hôm sau, ông tỉnh dậy, ông thấy người mệt mỏi, buồn rầu như cái cây bị héo. Ông nặng nề khi cất tiếng nói, khó khăn lắm mới tìm thấy tiếng cười.

Mẹ Huyền dịu dàng, nhỏ nhẹ nói với chồng:

- Thôi ông đừng nghĩ ngợi nữa. Ông nghỉ ngơi cho khỏe, đằng nào thì ván đã đóng thuyền rồi, ta mang ra mà dùng. Con dại cái mang, đã xấu thì xấu rồi. Vợ chồng mình đành giơ cái mặt thớt cho thiên hạ cười chê. Nó tài giỏi thì được nhờ con. Nó chửa hoang thì vẫn là con tôi, con ông.

Bố Huyền bức xúc nói với vợ:

- Đây là sự trả thù đểu cáng, hèn hạ của cha con lão Dân. Tôi thề không nhìn mặt nó. Rồi nó sẽ biết tay tôi, lành với bụt chứ không ai lành với ma. Nó là kẻ gieo gió ắt phải gặp bão.

- Ông bảo, nhà họ trả thù nhà mình nghĩa là thế nào? Xưa nay, tôi thấy nhà mình và bên ấy có to tiếng gì đâu, không cãi cọ nhau, không đánh chửi nhau. Chuyện xảy ra thế nào mà ông nói vậy?

*

*      *

6. Trời sáng từ lâu. Mặt trời lên cao hơn ngọn cây, rọi những tia nắng vàng rực rỡ xuống đất trời phương Nam, chiếu xuống những cánh rừng nhiệt đới bị bom na-pan, chất độc hóa học. Tiếng chim rừng ríu ran chào bình minh vừa tỉnh giấc. Dân từ từ tỉnh lại sau nhiều giờ ngất lịm. Anh mở mắt nhìn bình minh. Nhưng một chân đau nhức, khiến anh không tài nào đứng dậy nổi. Ngực tưng tức khó thở như có ai dùng đôi tay đấm vào ngực và bóp vào cổ. Cái đói, cái khát lại hành hạ anh dữ dội, muốn đánh gục anh. Dân nhìn thấy hố nước trong veo, có sức lôi cuốn anh đến kỳ lạ, như con ong nhìn thấy bông hoa vừa mới nở. Miệng Dân khô cháy. Anh dùng hết sức lực còn lại, cố lết xuống hố nước. Khi tới miệng hố thi sức lực đã kiệt. Anh đành nằm trên miệng hố. Khi sức lực đã khỏe khoắn hơn sau đợt nghỉ, anh lại tiếp tục lết tới hố nước. Anh dùng hai tay vốc nước lên miệng, Nước từ từ chảy xuống dạ dày. Nước đi tới đâu, anh thấy dễ chịu tới đó. Anh như người vừa được uống nước thần. Anh tỉnh táo hơn. Nhưng còn cái đói thì lấy gì để giải quyết đây? Bụng cồn cào khó chịu quá. Nó quặn lên từng cơn, réo èo èo. Anh cảm thấy lả đi. Anh dự định nghỉ lấy sức, lết khỏi hố nước, vào rừng kiếm lá cây, hoặc cái gì đó bỏ vào bụng.

Bỗng Dân thấy có tiếng bước chân người, chạy rầm rầm phía trên. Tiếng chân người ngày một nhiều, một gần. Anh nằm yên để nghe ngóng. Có tiếng kêu:

- Một tên Việt cộng nằm bên cạnh hố nước.

Dân biết ngay là tụi lính ngụy. Nhưng anh bất lực, chân què, người đang lên cơn sốt. Cả cơ thể nóng như một hòn than khổng lồ. Phải chi lúc này, còn vài quả lựu đạn và khẩu K54 không bị văng mất, anh sẽ cho bọn chó đẻ biết mặt. Nếu anh phải hy sinh ít nhất cũng vài tên chó đẻ phải đền tội, bỏ mạng. Dân thở dài, chấp nhận là kẻ bị bắt sống trong cảnh tù đầy. Anh sẽ bị chúng đánh đập, tra tấn cực kỳ độc ác, tàn nhẫn và đối xử như một con vật, chẳng biết sống chết thế nào? Nhưng dù phải chết, anh quyết giữ vững khí tiết của người chiến sỹ cách mạng. Anh nằm im.

Tên sỹ quan ra lệnh:

- Chúng bay xuống mang nó lên đây.

 Hai tên lính được tên sỹ quan giao nhiệm vụ liền lao xuống hố nước, lao thẳng tới nơi Dân nằm. Một tên lật ngửa Dân lên. Nó đặt tay lên ngực, lên mũi. Nó kêu to lên:

- Thằng này còn sống!

Tiếng tên sỹ quan gào thét:

- Khiêng lên đây cho tao!

Hai thằng lính buộc phải mó tay, chung lưng đấu sức khiêng Dân tới trước mặt tên sỹ quan. Từ hố nước lên tới mặt đất, dốc dây diều, gồ ghề khó đi. Hai tên lính vừa phải mang súng bên mình vừa phải khiêng nặng, khó nhọc. Chúng chửi bới, nguyền rủa lẫn nhau:

- Mày ngu như con chó! Mày bảo “nó chết rồi” tao với mày hất nó xuống hố nước là xong. Cái hố bom to lớn thế này ai biết đâu mà tìm. Cho nó về chầu diêm vương mát mẻ. Bây giờ, tao với mày phải khiêng nó như khiêng bố già. Thật là nhục! Ngu ơi là ngu.

Thằng kia tức quá chửi lại:

- Câm miệng lại! Bảo nó chết đâu dễ dàng thế. Tên sỹ quan này ranh ma lắm, cử người xuống kiểm tra thì chết cả lũ. Liệu mày có chịu nổi mấy cái báng súng không? Nó còn trừ lương nữa, thì chết đói và còn bao lời xỉ vả, mắng chửi nữa. Tên kia sợ quá, mó tay khiêng vội.

Hai tên lính đặt Dân nằm xuống đất.  Tên sỹ quan lấy chân hất lăn Dân qua bên này, bên kia. Dân như một khúc gỗ. Tên sỹ quan nói:

- Thằng này bị thương và bị ngất. Chúng nó vội rút lui, đứa nào cũng muốn thoát thân nên bỏ thằng này lại. Đồng đội của chúng nó tốt thế đây. Chúng bay mở mắt ra mà nhìn. Quân lực Việt Nam Cộng hòa không bao giờ bỏ chiến hữu như tụi nó. Mặt mũi thằng này rất sáng sủa chưa chắc đã phải lính trơn. Biết đâu trong đầu nó chứa đựng đầy những bí mật mà chúng ta cần khai thác và sử dụng vào những công việc cần thiết sau này.

 Nó lập tức ra lệnh:

-  Đưa thằng này lên xe, cho nó vào bệnh viện, chạy chữa khỏi cái chân để moi những bí mật trong đầu nó. Về Sài Gòn, tao sẽ họp báo tuyên truyền về lòng “nhân đạo” của Việt Nam Cộng hòa và tố cáo cộng sản bỏ đồng đội bị thương nằm lại, một mũi tên trúng hai đích.

 Tên sỹ quan rất hài lòng về quyết định này. Nó cười khùng khục hy vọng cấp trên sẽ biểu dương khen thưởng nó. Mọi việc diễn ra đúng như dự kiến và mưu mô xảo quyệt của hắn.          

Nằm ở bệnh viện quân ngụy, Dân được “chăm sóc” thật đặc biệt như một “anh hùng”, một kẻ có công trạng với nền cộng hòa của chúng.  Nơi Dân nằm, có lính canh gác vòng trong, vòng ngoài. Vòng ngoài là những tên lính thực sự, súng ống hẳn hoi. Người bình thường cũng nhận biết chúng là lính. Ở vòng trong là những tên lính giấu mặt, ăn măc giả danh thầy thuốc. Các thầy thuốc: Bác sỹ, y tá và hộ lý phải nhất nhất tuân theo sự chỉ huy, điều khiển từ xa. Tên sỹ quan an ninh, mặc quần áo trắng mang phù hiệu thầy thuốc theo dõi Dân rất chặt chẽ, không bỏ qua chi tiết nào dù là nhỏ. Tên này người tầm thước, mặt mũi sạch sẽ, râu lúc nào cũng cạo nhẵn thín. Đôi mắt to và sâu, trắng dã như mắt lợn luộc. Cái mũi khum khum nhòm mồm. Nước da thiết bì, đen xì. Đặc biệt điệu cười của gã luôn thay đổi theo sắc thái tình cảm. Khi gã cười: Khà khà,  hề hề, ha ha và hí hí… rất khó hiểu. Tiếng nói của gã thong thả, chậm chạp phát ra từ vòm họng, qua hàm răng nghe rin rít ghê người khó chịu. Quần áo gã lúc nào cũng sạch sẽ, tỏ vẻ lịch lãm. Gã cười đấy nhưng lại cáu gắt, thô lỗ được ngay.

May mắn, vết thương không làm cho Dân phải cưa chân, chỉ cần bó bột và điều trị một thời gian là khỏi. Ngực Dân bị sức ép nhưng được điều trị thì sẽ ổn. Khi nghe bác sĩ nói vậy, tên sỹ quan an ninh cười khà khà nói:

- Cưa phắt cái chân nó đi! Chỉ tha cho nó mạng sống thôi. Nhưng sống cũng không đánh đấm gì được nữa, là người tàn phế suốt đời.

Bác sỹ kiến nghị với gã:

- Không cần cưa! Với cái chân này, nó chẳng làm trò trống gì được đâu. Tha cho nó một lần nữa.

Thằng sỹ quan an ninh nói:

- Các ông “nhân đạo” dữ nhỉ! Thôi được. Gã để lại cái cười bí ẩn rồi bỏ đi.

Ba ngày sau, Dân tỉnh táo hoàn toàn. Tuy người vẫn còn sốt, ngực đau ê ẩm. Tên sỹ quan an ninh mặc áo trắng đến giường bệnh, hỏi:

- Anh tỉnh hẳn chưa? Chân còn đau không? Anh chịu khó điều trị cho vết thương mau lành.

Dân cảm thấy ghê sợ và bỉ ổi bởi cái giọng nhân đức giả của hẳn, nhưng Dân vẫn gật đầu đáp lại.

Hai ngày sau gã lại tới. Gã nêu ra vài câu hỏi, buộc Dân phải trả lời:

- Tôi là người lính bị thương. Tôi bị các ông bắt đưa về đây.

Gã cười sằng sặc rồi ngọt nhạt nói với anh:

- Điều đó, tôi biết rồi. Tôi muốn anh thành thật và biết điều hơn. Rồi hắn đe dọa: Anh nên nhớ tính mệnh của anh đang nằm trong tay chúng tôi. Chúng tôi có thể cho anh sống và cũng có thể bắt anh chết bất kỳ lúc nào. Anh nhớ chưa? Chúng tôi sẽ hết lòng chạy chữa vết thương cho anh, không phải để anh nói điều ấy. - Hắn vỗ nhẹ vào người Dân - Anh nên biết điều một chút.

Dân im lặng. Gã cười nhếch mép, không thành tiếng, lại vỗ vỗ vào vai anh:

- Anh cứ yên tâm điều trị và tiếp tục suy nghĩ. Chúng ta sẽ nói chuyện vào dịp khác.

Nhìn thái độ của tên sỹ quan an ninh, Dân có thể đoán được ý đồ của nó. Chúng chữa chạy vết thương cho anh để thể hiện lòng “nhân đạo”. Nhưng âm mưu sâu xa của chúng là chữa vết thương của anh mau lành, đầu óc minh mẫn sẽ khai thác ở anh những điều chúng cần biết.

Chừng một tuần sau, tên sĩ quan an ninh ngụy lại tới. Hắn xem vết thương ở chân Dân rất kỹ. Hắn hì hì cười rồi nói với Dân:

- Cái chân của anh sắp khỏi rồi, sức khỏe của anh cũng sắp hồi phục. Chúng ta sẽ có dịp nói chuyện thân thiện với nhau trên tinh thần người lính, người Việt Nam, máu đỏ da vàng. Anh vui lòng chứ!

 Dân im lặng. Sức khỏe của anh dần dần hồi phục. Cái chân đã tháo bột. Anh có thể chống nạng đi lại. Nhưng anh chỉ có thể chống nạng đi lại trong bệnh viện. Nếu ra khỏi cửa là có người ngăn lại: “Tôi có cánh đâu mà sợ bay mất”. Anh vui vẻ trả lời người ngăn anh lại. Người ấy lại khéo léo trả lời “Chân của anh chưa khỏi hẳn, sợ anh ngã nên phải có người đi kèm. Ở đây, anh mọc cánh cũng chẳng thoát đâu”.

Thời gian nằm viện đã hơn hai tháng. Dân bỏ nạng, tập tễnh tập đi. Mỗi bước đi, anh thấy buốt lên tận đầu. Anh tự nhủ phải cố gắng, kiên trì luyện tập. Nhưng mới chỉ đi quanh phòng bệnh, anh thấy mệt nhoài, ngồi xuống giường nghỉ, mồ hôi vã ra như tắm. Nghỉ được một lúc, mồ hôi ráo, anh lại tiếp tục tập đi. Hắn lại tới. Hắn nở nụ cười hềnh hệch và đầy bí hiểm:

- Chúc mừng anh, vết thương đã sắp lành. Hy vọng chúng ta sẽ có cuộc nói chuyện vui vẻ, thú vị và thân tình trong một ngày không xa.

Dân lạnh lùng trả lời:

- Cảm ơn những lời nói tốt đẹp của ông.

Hắn cười khùng khục thật to, khả ố và nham hiểm:

- Chúng tôi đánh giá về ông không lầm, hoàn toàn chính xác. Chào tạm biệt. Hẹn gặp lại.

Dân ngồi im lặng.

Trời tối mịt. Không rõ mặt người, nếu không có điện thắp sáng. Một chiếc ô tô, bịt kín mít, chạy thẳng vào phòng của Dân. Hai tên lính xuống xe theo lệnh của hắn. Chúng đẩy Dân lên xe và sập cửa, bấm khóa lại. Xe nổ máy đi thẳng. Ra khỏi bệnh viện có xe theo sau hộ tống. Xe chạy qua nhiều đường phố, liên tục rẽ phải, rẽ trái khiến Dân chóng mặt. Anh không tài nào hình dung và nhớ nổi, xe đã chạy qua bao đường phố. Nhìn qua kẽ hở nơi thành xe, anh chỉ thấy đèn nhoang nhoáng. Thỉnh thoảng xe dừng lại ở ngã tư có đèn đỏ.

Xe dừng lại hẳn. Chúng dắt Dân đi qua nhiều phòng, nhiều cửa. Chúng mở còng số 8 cho Dân. Rồi đẩy anh vào căn phòng tối om, khóa chặt cửa lại.

Đèn bật sáng. Dân nhìn thấy bộ mặt phèn phẹt, đen xì xì của tên sĩ quan ngụy đang ngồi chờ sẵn. Vẫn thái độ, giọng nói ấy, chỉ khác hôm nay Hắn mặc quần áo sỹ quan an ninh mà không mặt quần áo thầy thuốc nữa. Hắn đặt ra nhiều câu hỏi bắt buộc Dân phải trả lời. Dân tự nhắc mình, phải thật bình tĩnh. Trước sau phải trả lời thống nhất, phải suy nghĩ thật chín, đừng để sai sót, nhầm lẫn.

- Tôi là người lính. Tôi bị thương nên bị các ông bắt và chạy chữa vết thương cho tôi. Tôi ghi nhận điều đó.

Hắn cáu và gắt om lên:

- Biết rồi! Nói mãi! Anh nên biết điều một chút. Họ tên anh là gì? Quê quán ở đâu?

Điều này, Dân đã chuẩn bị từ lâu. Dân bịa ra cái tên và quê quán. Anh nói:

- Tên tôi là Nguyễn Quang Trung, quê ở Đồng Hỷ, Bắc Thái(*).

Hắn vẫy tay. Một lũ đầu trâu, mặt ngựa ùa vào. Thằng nào, thằng ấy đều béo tốt, khỏe mạnh và cởi trần. Có thằng ngực đầy lông lá. Lại có thằng ngực xăm con rồng, con cọp để hù dọa người yếu bóng vía. Thằng nào bắp tay cũng nối lên cuồn cuộn. Khi chúng dùng tay thụi vào người, lúc chúng dùng chày nện xuống người anh. Nhưng chúng càng đánh, Dân càng lì ra. Trước Dân còn trả lời, sau chỉ im lặng. Anh luôn tâm niệm: Im lặng là vàng. Nói dễ nhầm lẫn. Anh chết đi sống lại nhiều lần. Mỗi lần ngất đi. Chúng đổ nước vào người rồi bỏ mặc nằm đó. Khi anh tỉnh chúng lại đánh tiếp. Cứ như thế cho đến sáng. Dân nằm sóng xoài trên sàn nhà, chỉ còn thoi thóp thở. Lũ ác ôn mệt nhoài. Mỗi lần giải lao chúng hò hét nhau uống bia, uống rượu.

Khoảng 10 giờ sáng hôm sau, Dân tỉnh táo trở lại. Anh thấy mình nằm trong bệnh viện. Nhưng không phải bệnh viện lần trước. Sở dĩ chúng làm vậy để các bác sĩ, y tá, hộ lí không biết anh là ai. Toàn thân anh đau ê ẩm, không nhấc nổi chân tay. Anh nằm như một cái xác không hồn. Người quen khó nhận ra anh. Vì mặt mày thâm tím, sưng phù. Duy có đầu óc Dân vẫn tỉnh táo và minh mẫn, theo dõi các diễn biến ở xung quanh.

Đèn điện bật sáng. Dân mở mắt, biết là tối từ lâu. Nghe tiếng quen thuộc, anh biết là hắn. Hắn nói với bác sỹ:

- Các ông có trách nhiệm chạy chữa, thuốc thang cho tên này mau lành vết thương, càng sớm càng tốt.

Ngay sau đó, anh được khám, cho uống thuốc và tiêm thuốc. Anh lại được “chăm sóc” như trước. Về mặt thuốc thang có phần “ưu ái”, canh phòng cẩn thận hơn. Hắn thường xuyên đến. Nhưng anh nhắm mắt lờ như không biết.

 

(*) Bắc Thái tức Thái Nguyên ngày xưa.

 

 

Qua một tuần điều trị, Dân tỉnh táo hơn. Trên mình đầy thương tích, khắp người tím bầm như người nhuộm mực tím. Đầu óc Dân ong ong đau buốt như có ai cầm búa nện vào. Lồng ngực đau ê ẩm, các xương sườn như muốn gãy ra hàng loạt. Cái chân vừa mới liền nay lại gãy rời ra, dính được nhờ lớp da. Vì thế cái chân lại phải bó bột. Thêm một cánh tay phải bó bột nữa. Cả ngày Dân phải nằm ngửa. Thỉnh thoảng anh mới trở mình nằm nghiêng một chút nhưng rất đau đớn. Rất may, chân tay cùng bó bột một bên.

Nắng chiều vừa tắt. Hoàng hôn phủ khắp. Hắn lại tới. Hắn đến bên giường của Dân với vẻ quan tâm và thân mật. Hắn nói:

- Cuộc nói chuyện giữa chúng tôi và anh thật tốt đẹp và đầy ý nghĩa. Tôi hy vọng nó để lại trong anh những kỷ niệm sâu sắc khó quên và nhắc anh phải có thái độ đúng đắn và thức thời hơn.

Dân cố ghìm đau đớn trả lời hắn:

- Cảm ơn ông! Ông nhắc tới cuộc “nói chuyện” chết người vừa qua. Vì nó mà tôi “ được” nằm viện của các ông lần thứ hai. Cảm ơn ông! “Sự quan tâm chăm sóc” của ông. Nếu được nói chuyện với ông lần thứ hai, chắc tôi đi gặp Diêm vương.

Hắn cười khớ khớ. Hắn đi đi, lại lại trong phòng. Bỗng hắn quay lại chỉ tay về phía Dân:

- Anh hóm lắm. Chứng tỏ anh là người thông minh và hiểu biết. Vì thế anh cần phải sống để trở về với gia đình, vợ con. Anh có vợ chưa? Ở tuổi anh chắc vợ con đầy đủ rồi. Họ đang mong anh trở về đấy! Có người vợ nào lại muốn xa chồng vĩnh viễn đâu. Có đứa con nào muốn mất cha đâu chứ!

- Là con người ai chẳng có cha mẹ. Khi khôn lớn trưởng thành ai cũng phải có vợ con. Đó là quy luật của tạo hóa. Ở trên đời này, có ai chui từ khe nẻ, kẽ cây lên đâu. Và chỉ có những người tu hành mới không có vợ con. Tôi chỉ là con người bình thường, đâu phải thần thánh nên đều nằm trong cái chung đó. Nhưng thưa ông sỹ quan, thương yêu cha mẹ, vợ con là bổn phận của mỗi con người nhưng không vì thế mà bán rẻ lương tâm, cam phận làm tôi tớ cho ngoại bang để kiếm bát cơm thừa, canh cặn.

Dân trả lời hắn.

Hắn tức lắm. Mặt hắn sa sầm xuống như cái thớt. Hắn chạy xồng xộc tới giường Dân. Hai tay hắn bóp cổ Dân và buông lời đe dọa:

- Được! Rồi tao sẽ cho mày biết tay để mày giữ trọn cái lương tâm trong sạch và trung thành với lý tưởng, với Đảng của mày. Chúng mày là những thằng ngu muội, tin tưởng một cách mù quáng. Ngày đi gặp  “Diêm vương” của mày không còn xa đâu, hãy nhớ lấy. Xuống dưới đó để mày giữ lương tâm trong sạch.

Dân tưởng nó bóp chết anh ngay lập tức. Nhưng nó chỉ dọa thế thôi. Dân cảm thấy nghẹt thở và đau thắt ở cổ. Dân đưa đôi mắt căm thù, giận dữ về phía hắn. Hắn tức giận bỏ đi. Lòng Dân nặng trĩu căm hờn. Tiếng dày lộp cộp nên trên nền nhà xa dần và mất hẳn.

Hai tháng sau, vết thương đã lên da non, màu hồng, khép miệng thành sẹo. Dân có thể tự đi lại trong phòng, sức khỏe bình phục. Nước da có phần tươi tắn hơn. Dân nghĩ: Chúng sắp làm thịt mình đến nơi rồi. Dân chuẩn bị sẵn sàng để bước vào cuộc chiến đấu mới, một mất, một còn. Cuộc chiến đấu không cân sức, tụi nó có đủ sức mạnh, mưu mô xảo trá. Còn Dân, một mình, với thân hình gày còm, ốm yếu. Chỉ duy nhất có trái tim yêu nước, trí óc thông minh sáng suốt, Nhưng Dân sẽ thắng.

Kẻ địch thâm độc, nham hiểm lắm. Chúng không giết anh ngay. Chúng cho anh chết từ từ, chết đi sống lại, thân tàn ma dại. Chúng thuốc thang, chạy chữa cho Dân khỏi để rồi đánh tiếp. Mục đích của chúng làm cho Dân đau đớn, khiếp sợ và cuối cùng gục ngã, đầu hàng chúng, phản bội lại đồng đội, nhân dân, Tổ quốc với hy vọng biến anh thành những tên tay sai, mẫn cán, đâm chén, bắn giết không biết ghê tay, uống máu đồng đội và nhân dân không biết tanh. Dân tự nhủ: “Chết trong còn hơn sống đục. Nếu phải chết, Dân sẽ ngẩng cao đầu, chết dũng cảm, kiên cường như đã hứa với Huyền để khỏi vẩn đục quê hương và sáng mãi màu áo tím hoa sim.

 

*

*     *

Thông báo hết giờ làm việc vang khắp bệnh viện. Mọi người tấp nập ra về. Bệnh nhân chuẩn bị đón bữa cơm chiều. Dân sống trọn ngày yên ổn.

Bỗng một chiếc ô tô bịt kín mít chạy tới phòng Dân. Chúng bắt Dân đưa tay vào còng số 8. Tên sĩ quan tâm lý ngụy làm ra vẻ lịch thiệp:

- Tôi đến mời anh đi dự bữa tiệc đặc biệt. Tôi hy vọng lần này anh vui vẻ, biết điều hơn.

Dân nhếch mép cười, trả lời hắn:

- Ông mời tôi đi dự tiệc mà vẫn còng tay tôi? Tôi đón chờ nó từ lâu rồi. Xong bữa tiệc “đặc biệt” của ông, tôi thành ma đói đi gặp Diêm Vương cũng nên. 

Hắn khềnh khệch cười trả lời:

- Điều ông mong muốn chẳng khó khăn gì. Chúng tôi sẽ chiều ông.

Bốn tên lính nhảy bổ vào lôi Dân lên xe. Cửa xe khóa lại, xe chạy liền.

Bữa “đại tiệc” theo cách gọi của tên sĩ quan ngụy bắt đầu. Các “món ăn” bày biện đầy đủ và phong phú. Người phục vụ dày đặc, chạy đi, chạy lại như đèn cù. Món  “khai vị” là những câu hỏi thẩm vấn cũ rích. Dân nhắc lại những câu trả lời thuộc làu làu:

“Tôi là người lính. Tôi bị thương nên bị các ông bắt, đưa vào bệnh viện thuốc thang chạy chữa. Rồi đánh tôi bị thương và các ông lại thuốc thang chạy chữa cho tới khỏi, Và tôi bị đánh tiếp.

Món thứ hai chúng gọi là “giã giò”, chúng vật ngửa Dân ra sàn nhà, căng chân tay anh về bốn phía và buộc vào cọc. Lũ đầu trâu, mặt ngựa dùng chày giáng tơi tấp xuống bụng và ngực Dân. tiếng chày nện “ bịch bịch” lúc mau, lúc chậm như người giã giò. Lúc đầu Dân còn cảm thấy đau đớn. Vài phút sau, Dân chẳng còn biết gì nữa. Thỉnh thoảng hắn cho dừng lại khẽ hỏi nho nhỏ: “Anh ở đâu? Anh làm gì?”. Trước Dân còn nghe rõ nhưng không trả lời, sau chẳng biết gì nữa. Người “giã giò” xem chừng cũng mệt. Người bị giã giò mềm như bún, mười phần chết chín nhưng quyết không khai báo.  Đổ nước vào người nó. Giải lao, nghỉ xả hơi - Hắn ra lệnh.

Món thứ ba “mề gà”. Chúng treo ngược Dân lên xà nhà, ròng dây thả anh xuống lưng chừng, lơ lửng như cái bao cát của những người tập đấm bốc. Chúng đứng xung quanh đẩy đi, đẩy lại cùng đấm. Hắn ngồi điều hành những tên đao phủ tra tấn Dân. Dân như cái xác không hồn mặc chúng hỏi và đánh.

Món cuối cùng “tắm rửa”. Trước khi sang món này, chúng lại xả hơi, giải lao. Chúng thả Dân xuống và cởi trói cho anh. Chúng dựa anh vào xó nhà. Dùng vòi nước xả nước vào đầu. Lưng anh dựa vào hai góc tường đón dòng nước từ trên cao dội xuống. Đầu Dân đau buốt như bị hàng ngàn kim đâm vào hộp sọ, lan đi khắp cơ thể. Nước lạnh buốt. Lúc đầu Dân run khe khẽ. Cuối cùng Dân không còn đủ sức để run. Dân vật ngã xuống sàn nhà, nằm bất động. Người Dân như cái dưa héo, mềm oặt. Chúng bỏ mặc Dân nằm đó.

   Hôm sau, chúng lại đưa Dân vào nhà thương. Vì chúng biết Dân còn sống. Dân nằm lại ở nơi đây ba tháng trời. Chúng thuốc thang cầm chừng, ngày có, ngày không. Chúng cho anh ăn cơm gạo hẩm với mắm thối. Hai lần trước chúng thuốc thang, “chăm sóc tử tế” nhằm âm mưu khai thác thông tin và mua chuộc. Lần này, chúng định bỏ Dân chết đói với thương tật đầy người và bệnh tật. Biết âm mưu ấy, Dân tích cực ăn uống và tiêm thuốc. Khi Dân tạm bình phục chúng vội đày anh đi Côn Đảo

*

*      *

7. Ông Huyền kéo vợ ngồi xuống giường, nói:

- Bà ngồi xuống đây, bình tĩnh tôi kể bà nghe. Chuyện dài lắm, phức tạp lắm. Cách đây lâu lắm rồi, cái thời trai trẻ đầy hoài bão, ước mơ. Khi ấy tôi chưa lấy bà, nên chẳng liên quan tới bà. Từ khi vợ chồng lấy nhau, tôi cũng quên khuấy đi mất chưa kể cho bà nghe. Chuyện chẳng có gì hay ho cho lắm. Nếu là chuyện vui có khi, tôi kể cho bà nghe rồi. Nhưng đây là chuyện buồn và đau lòng. Bà đừng bận tâm làm gì.

Lúc còn trẻ, tôi rất đẹp trai lại hát hay nữa! Nhiều cô chết mê chết mệt tôi. Tôi trở thành của quý hiếm. Ai cũng muốn có tôi. Tôi thả sức mà lựa chọn, đứng núi này, đọ núi kia. Tôi tham gia đội văn nghệ của xã. Tôi thường sắm vai vua trong các vở chèo Tấm Cám, Đường Minh Hoàng du nguyệt điện.

Cô Nức là em lão Dân thường sắm vai cô Tấm và hoàng hậu trong các vở trên và vai vợ trong nhiều vở diễn khác nữa. Ngoài đời chúng tôi là bạn bè là người cùng làng và là đội viên đội văn nghệ xã. Khi lên sân khấu, tôi và Nức là vợ chồng. Giả mà thật. Thật mà giả. Cứ như thế diễn đi diễn lại nhiều lần. Cũng vì thế tôi và Nức rất quý mến nhau. Trên sân khấu, dưới ánh đèn sáng trưng, tôi và Nức có thể ôm hôn nhau như  vợ chồng thật. Việc làm ấy không bị chê cười và lên án. Trái lại khán giả còn vỗ tay nhiệt liệt tán thưởng và cổ vũ. Khi khán giả vỗ tay cổ vũ, cả hai chúng tôi đều vui, không một chút e ngại rụt rè mà còn hăng hái nhiệt tình hơn. Ngoài đời, tôi chưa một lần cầm tay Nức. Vì tôi rất nhát gái.

Cô Nức rất đẹp, quả tình tôi rất thích cô ấy. Trái tim tôi nhiều khi rung động, đập rộn ràng. Nhưng tôi chưa dám tỏ tình với Nức. Vì gia đình tôi thuộc diện nghèo khó. Nhà Nức thuộc loại có máu mặt, bố Nức là người có học. Cái quan niệm môn đăng hậu đối còn đè nặng nơi ông ấy. Nghĩ vậy, tôi không dám tỏ tình với Nức. Xem chừng Nức thích tôi và đem lòng yêu vụng nhớ thầm tôi.

Nức dáng người tầm thước. Mặt trái xoan. Đôi mắt bồ câu, đen như hạt nhãn, long lanh như nước suối mùa thu. Da trắng như trứng gà bóc. Mái tóc dày, dài dưới thắt lưng và xanh mướt. Ai nhìn thấy Nức cũng chết mê, chết mệt. Cổng nhà Nức thường xuyên có những chàng trai trồng si nhưng mà không thành. Thời bây giờ kỷ luật nghiêm lắm. Lơ mơ là ăn đòn liền và đánh rất đau. Nên ai cũng sợ.

Thế rồi giông bão bất ngờ ập đến. Cô Nức có thai. Cái bụng của Nức  ngày một lớn dần lên. Trước còn giấu kín, sau cả làng đều biết vì nó cứ chềnh ềnh ra đó. Nó đâm thẳng vào mắt lão Dân. Cụ Hương Bản suy nghĩ và xấu hố quá. Cụ ốm và chết trong tiếng eo xèo của dân làng, Người nhiều chữ nhất làng lại không biết dạy con, để con hư đốn. Cái đau của cụ Hương Bản là ở chỗ đó. Nỗi đau trút lên cả đầu lão Dân. Ai là người dám cả gan, đào móng, khoét tường nhảy vào vườn cấm bẻ cành, trộm đào? Lão Dân lồng lộn như con thú dữ bị thương. Lão tra hỏi em gái:

- Nức! Mày ăn nằm với thằng nào? Có mang với thằng nào?

Nức im lặng. Ngọn roi lại vút, vút, vút dội xuống người Nức. Nhưng Nức vẫn câm lặng như hến, thi gan với những trận đòn roi ngày lại ngày. Lão Dân đi dò la, tra hỏi hết nơi này đến nơi khác mà vẫn kín như bưng, không tài nào tìm ra manh mối, tìm thủ phạm. Dùng đòn roi tra khảo không kết quả, lão Dân dùng chiến thuật dụ dỗ ngon ngọt:

- Em là con gái út trong nhà, bố mẹ và các anh chị rất thương em. Em bị hại, anh rất đau lòng như có ai cắt từng khúc ruột, khúc gan. Ngày đêm anh lo cho em.

- Em chót dại, ăn nằm với ai thì nói với anh để anh còn thu xếp với gia đình người ta tổ chức, cưới xin đàng hoàng. Các em nên vợ, nên chồng, hưởng hạnh phúc trăm năm, cả nhà đều vui. Em cứ im lặng một mình gánh chịu, còn kẻ đang tâm phá hại đời em nhởn nhơ ngoài vòng pháp luật. Đẹp như em, hát hay, múa dẻo mà lại chửa hoang thật phí cả cuộc đời. Dân làng chê cười bố mẹ mình không biết dạy con. Bố mẹ rất buồn phiền, ra đường không dám nhìn ai, không biết giấu mặt đi đâu.

Mặc cho anh trai nói, cô Nức không hề hé răng, mở miệng nửa lời. Cô câm lặng như cái xác không hồn. Lão Dân thay đổi phương pháp, chuyển sang xỉ vả:

- Nức! Mày ngứa nghề lắm phải không, thèm khát quá phải không? Sao mày không phơi cái “ấy” ra giữa trời mà kêu lên rằng “ai thèm, ai khát” thì đến. Ngày xưa con gái không chồng mà chửa hoang thì phải cạo đầu bôi vôi dắt đi khắp làng rồi nhét vào rọ ném xuống sông.

Bị đánh đập, xỉ vả thậm tệ, không chịu nổi, cô Nức nhảy xuống giếng tự tử cho thoát nợ đời. Nhưng thật khốn khổ cho cô, chẳng may có người nhìn thấy. Họ cứu được Nức. Cô thoát chết. Nức bỏ làng từ đó đến nay. Cô ở đâu, sống chết ra sao, có trời mà biết.

Đối tượng bị nghi vấn nhiều nhất là anh. Người đầu tiên lão Dân nghĩ tới là anh. Lão có rất nhiều lý do để nghi ngờ anh. Vì anh và Nức thường đi tập và biểu diễn văn nghệ với nhau. Đêm hôm khuya khoắt, anh và Nức thường đi về cùng nhau, lại chỉ có hai người. Có trời mà biết điều gì đã xảy ra. Trước còn nghi ngờ, sau qua tìm hiểu, lão khẳng định anh là người bẻ hoa, đang tâm dẵm nát hoa. Trong anh lóe lên lòng nhân đạo, muốn nhận mẹ con Nức về nuôi. Sau nhiều đêm đắn đo suy nghĩ, anh từ bỏ ý nghĩ ấy. Vì chẳng ai hiểu cho là anh vì nghĩa cả, vì lòng thương Nức. Anh không thể nhắm mắt làm ngơ để lão Dân vu khống buộc tội. Anh cãi lại lão Dân:

- Ngoài những đêm, những thời gian đi tập và biểu diễn văn nghệ với tôi, em gái ông còn đi với ai, ngủ với ai ông có biết không? Ông có bắt quả tang tôi và Nức nằm với nhau không? Ông có bắt được trai trên, gái dưới không? Nếu có tại sao cô Nức không nói với tôi? Vì thế ông không thể nhắm mắt nói bừa, theo kiểu chó cùng cắn dậu.

Lão Dân ngồi im như thóc. Nhưng trong lòng lão vẫn đầy giông bão đối với anh. Lão ta đào sâu cái hố hận thù với anh. Trong trí nhớ của lão ta, anh là kẻ bẻ trộm hoa, chơi hoa chán, lại tàn nhẫn dẵm nát rồi bỏ trốn. Lão bảo anh sở khanh là vì thế. Cái hố sâu hận thù kéo dài mấy chục năm qua. Nếu cái Huyền có thai với con nhà khác thì đâu đến nỗi này. Nếu thằng Dân ở nhà, chắc gì lão ấy cho thằng Dân lấy con Huyền nhà mình. Thằng Dân đi bộ đội lại đang chiến đấu ở miền Nam, lão mới có cớ để từ chối và trả thù. Uất chết đi được, tôi thề không nhìn mặt lão.

Công bằng mà nói, tôi với bà dạy con không đến nơi đến chốn, không đến đầu đến đũa. Đêm hôm để nó tự do đi lại với nhau. Cái kim không đứng im, sợi chỉ lùa thế nào nổi. Tôi muốn khép lại cánh sửa hận thù đối với gia đình lão. Khi biết thằng Dân quan hệ với con Huyền, tôi làm ngơ, bỏ qua. Tôi muốn mở mối quan hệ mới thân thiết bắt đầu từ đôi trẻ. Nào ngờ, khi con gái tôi bị con trai lão đánh cắp cái trinh trắng ngàn vàng, lão lại ngoảnh mặt làm ngơ, còn già mồm lên án, lăng mạ tôi. Những lời nói và hành động của lão là sự trả thù thô bạo và mù quáng. Lão muốn con tôi phải bước theo vết xe đổ của cô Nức, bỏ làng mà đi, cuối cùng chết mất xác ở nơi nào đó. Lão muốn gia đình tôi thành đám tang, cái bia cho thiên hạ chê cười. Lão thâm độc, nham hiểm ở chỗ đó. Tôi sẽ cho lão biết mặt, lành làm gáo, vỡ làm môi, lôi thôi làm thìa.

Cái máu Hoạn Thư trong người mẹ Huyền âm ỉ được dịp bùng cháy. Bà biết cư xử theo kiểu Hoạn Thư. Bà buông ra những câu mát nước thối đá:

- Không có lửa sao có khói. Biết đâu, ông chẳng có phần trong đó, không đúc cốt thì cũng tráng men…

Bố Huyền uất ức, ứa máu lên tận cổ. Ông thét lớn:

- Bà ăn phải bả của lão Dân từ bao giờ. Bà định tiếp tay cho bố con lão Dân để hại tôi à? Bà lợi lộc gì trong chuyện này.

Mẹ Huyền sợ quá. Mặt bà biến sắc. Bà cúi mặt nhìn xuống chân. Bà không đủ can đảm nhìn thẳng vào mặt chồng. Bà thấy ân hận, nhưng toại chân thì dễ, toại miệng thì khó.

Bố Huyền đập tay xuống giường:

- Trách nhiệm của bà để đâu? Bà đẻ con ra mà không biết dạy con. Người xưa nói: “con hư tại mẹ” chẳng sai chút nào. Là người mẹ, bà phải dạy con gái tứ đức, tam tòng, công dung ngôn hạnh. Cái phẩm giá quý nhất của người con gái là gì bà biết không? Chữ trinh. Người con gái mà đánh mất cái đó coi như bỏ đi. Nó với thằng Dân thậm thà, thậm thụt với nhau những lúc đêm khuya thanh vắng bà phải biết chứ. Bà phải theo dõi sát sao và ngăn chặn từ xa khi mới chớm nở chứ.  Đằng này, nó ngủ với con gái bà ngay trước mắt mà không biết. Đến khi con gái bà ễnh cái bụng thì bà mới biết. Bà vô trách nhiệm đến thế là cùng. Thời con gái bà cũng buông thả thế à? Đến tôi là thứ mấy? Bà nói đi xem nào?

Biết chồng đang lên cơn điên khùng, nói năng bừa bãi, lung tung nên bà không chấp. Lúc khác, bà quyết không để ông ấy xúc phạm đến nhân phẩm. Lúc này một điều nhịn chín điều lành. Chồng tới vợ lui, các cụ dạy rồi. Bà chỉ cần cãi lại một câu, cuộc ẩu đả xảy ra tức thì. Bà sẽ nhận được những quả đấm thôi sơn, những cú đá cực mạnh cho đến khi mặt mày sưng vù lên mới thôi. Gia đình sẽ tan nát. Bà tiếp tục ngồi lặng im, cúi mặt xuống.

Bố Huyền nói mãi chỉ tổ mỏi miệng, tốn sức. Ông đành ngồi im. Nếu bà ấy chỉ cần cãi lại một câu là ông đấm đá cho bớt giận và hả lòng hả dạ. Nhưng bà ấy không bỏ đi, không cãi lại mà cứ ngồi im. Thế mới tức chứ. Tức điên người lên. Ông gầm thật to. Ông đi  hết trong nhà lại ra ngoài sân. Ông muốn đập bỏ, đốt cháy cái nhà này đi. Đi thật xa, bỏ lại phía sau tất cả. Nhưng cả dân làng kéo tới. Lạy ông con ở bụi này. Ức chết đi được mà không dám mở miệng, không dám nói to.

Chẳng biết làm gì cho hả cơn giận, ông chạy đi tìm rượu. Ông cầm cả chai rượu đổ ồng ộc vào miệng. Ông uống như người khát rượu từ nhiều năm. Càng uống, càng tỉnh thế mới tức chứ. Chờ mãi, đợi mãi bà ấy không hề mở miệng nói một lời, ức không chứ. Bà ấy là người hiểu ông hơn ai hết. Nhiều năm chung sống với ông đã dạy cho bà ấy “Im lặng! Ngồi đó mà nghe. Đứng lên bỏ đi là tan của nát nhà. Nhừ đòn” Tức quá, ông uống hết một chai 65 rượu. Xưa nay, ông đâu phải hạng người rượu chè be bét. Ông chỉ uống rượu khi vui và có thức nhắm. Uống vài chén cho vui và câu thức ăn. Thế mà hôm nay ông uống nhiều như vậy. Say quá, ông nằm vật xuống giường. Ông ngủ như chết, ngáy như sấm. Giấc ngủ, ông chờ đón cả tháng nay. Giấc ngủ, ông cảm thấy sướng nhất trên đời. Nhờ nó, ông quên tất cả: Vợ con và mọi người xung quanh..

*

*       *

8. Đêm về khuya. Ngoài trời thật là yên tĩnh. Trong nhà chỉ có tiếng ngáy đều đều của ông ấy và mấy đứa trẻ. Mẹ Huyền sang buồng con gái. Bà vặn to ngọn đèn dầu. Con gái bà vẫn thức và đang khóc. Nước mắt đầm đìa cả gối. Đôi mắt  sưng vù như quả nhót, chín đỏ. Người nó gầy rạc đi. Bà nhẹ nhàng hỏi con:

- Đến giờ này mà con chưa ngủ à?

- Con ngủ sao nổi! Vì con mà bố mẹ nặng lời với nhau. Gia đình ta vốn hòa thuận, vui vẻ. Giông bão nổi lên cũng vì con. Gia đình lúc nào cũng nặng nề, âu sầu, ủ rũ chẳng khác nhà có đám tang. Nó khác đám tang vì không có kèn trống, người thăm viếng. Đám tang đứa con gái hư hỏng... Nếu con có gan chết thì thành đám tang ngay tức thì. Bố mẹ khỏi xấu hổ, khỏi bị dân làng chê cười.

Mẹ Huyền động viên, an ủi con gái:

- Con đừng nghĩ quẩn. Chết đâu phải là hết. Voi chết để lại da. Con chết nhưng tai tiếng chửa  hoang vẫn còn mãi mãi. Nhưng người ta cười ba tháng chứ không đóng đám cười ba năm. Việc đã rồi, xấu cũng xấu rồi, khóc cũng chẳng ai thương. Câu chuyện cô Nức em gái ông Dân chửa hoang bỏ làng đi mấy chục năm rồi. Dân làng có quên đâu. Người ta nhắc tới cô, như nhắc tới bài học để răn dạy con gái. Phải dũng cảm lên mà sống. Nồi nước nóng lên rồi phải nguội, không nóng mãi đâu mà sợ. Gió, mưa rồi phải tạnh, phải ngừng. Biết đâu, khi anh Dân về, con và anh ấy lại đoàn tụ thì sao? Phía trước vẫn còn rộng mở. Biết đâu hôm nay là họa, là xấu ngày mai là phúc lại được tôn vinh: Mối tình chung thủy, sống hết mình vì nhau.

- Nhưng bố con đâu hiểu như mẹ. Con rất muốn sống bên bố mẹ và các em, chấp nhận tất cả mọi tai tiếng, mọi lời chê cười. Nhưng “cây muốn lặng gió chẳng dừng”

- Con cứ yên tâm mà sống rồi đâu sẽ có đó. Mẹ sẽ giải thích với bố con dân dần, từ từ. Bố con tính ngay thẳng, nóng nảy nhưng không để bụng lâu.

Sáng hôm sau, khi mặt trời vừa lên khỏi ngọn tre. Các con đi vắng cả, bà Huyền ở nhà vì chồng bị ốm. Ông Huyền tỉnh giấc. Người ông mệt lả. Ông cảm thấy như vừa qua trận ốm nặng. Ông muốn vùng dậy, đi lại cho khây khỏa. Nhưng cái thân không cất nổi cái đầu. Cái đầu cứ rúi rụi xuống. Nó đau nhức và nặng trình trịch, như có ai cầm cái gì đập vào đầu ông. Toàn thân đau ê ẩm. Ông chống tay định ngồi dậy mà không tài làm nổi. Ông đổ vật xuống giường đánh “uỵch”, làm giường rung bần bật. Ông buồn đi tiểu quá. Ông cố lấy sức còn lại, trở dậy. Ông lết ra mép giường. Ông vừa đặt chân xuống đất, cố đứng lên. Nhưng vừa đứng lên, ông ngã chúi đầu xuống đất. Nghe tiếng “huỵch”, bà Huyền từ bếp vội chạy lên. Thấy chồng nằm dưới sàn nhà. Bà định dìu chồng lên giường. Ông Huyền xua tay nói:

- Bà cho tôi đi tiểu! Tiếng ông khàn khàn nghe không rõ.

Bà Huyền hỏi lại 

- Ông nói to lên. Tôi nghe không rõ.

- Bà cho tôi đi tiểu!

- Ông không đi nổi đâu. Ông cứ ngồi yên đấy, tôi đi lấy chậu.

- Nhanh lên!

Ông Huyền đứng dựa vào thành giường. Ông loay hoay mãi mà không cởi nổi quần. Biết vậy, bà Huyền giúp ông làm việc ấy. Ông Huyền nằm xuống giường, người ông như cái dưa héo. Bụng ông nóng như lửa đốt và cồn cào như đang bị bào mỏng. Miệng ông khô cháy, chỉ muốn uống nước. Một cốc, hai cốc nước vẫn thèm, vẫn khát.

Bà Huyền bưng bát cháo hành nghi ngút, thơm nức từ dưới bêp lên, bà ngồi xuống giường dịu dàng, ngọt ngào nói:

- Ông ăn bát cháo hành, tía tô nóng cho đỡ mệt. Cảm sốt mà ăn cháo hành, tía tô là nhẹ ngay thôi mà. Từ trưa hôm qua đến giờ, ông vẫn nhịn đói, có gì ở trong bụng đâu.

Ông Huyền ú ớ trong miệng, ra hiệu:

- Bà đỡ tôi dậy!

Bà trèo lên giường đỡ ông ngồi dậy, tựa vào đầu giường. Bà bón cháo cho chồng, nhỏ nhẹ giải thích:

- Việc đã rồi. Đằng nào thì hoa cũng tàn sau cơn mưa, gió. Ông có phép thần cũng chẳng thể làm tươi trở lại. Ông uống rượu như thế chẳng giải quyết được gì. Nhất thời, ông quên những bực tức, giận hờn, khổ đau. Nhưng sau đó đâu lại hoàn đấy. Chẳng may, rượu say mềm, trúng gió độc, lỡ xảy ra việc gì, vợ con khổ suốt đời, tai tiếng con lưu truyền mãi về sau. Họ không nhận con, nhận cháu, thì vợ chồng mình nhận, có chết ai đâu mà sợ. Việc cái Huyền chửa hoang bay đi khắp làng rồi. Liệu ông có bịt được miệng thiên hạ không? Bàn tay ông có che nổi mặt trời không? Cái mo đã gắn vào mặt ông, mặt tôi rồi. Liệu ông có gỡ nổi không? Ở đời ai chả muốn đẹp, muốn giòn. Chẳng ai muốn trên mặt có vết bớt đen xì xì, xấu xí. Nhưng trời bắt tội vợ chồng mình, chạy đâu thoát. Âu cũng là cái đức, cái vận nhà mình mỏng. Ông cứ điên khùng mãi, cái Huyền dại dột, nghĩ  quẫn bắt chước như cô Nức thì khổ cả đời, uổng công nuôi nó mười mấy năm trời.

Ông Huyền không nói nửa lời mà cứ như cái dọc khoai héo. Nhưng ông vẫn ăn hết bát cháo ngon lành. Ông thấy đỡ mệt và tỉnh táo hơn. Ông lại nằm quay ra giường. Bà Huyền mang tăm, nước cho chồng. Bà không nói nữa. Bà hiểu tính ông như ruộng lúa, ruộng khoai. Khi bà nói, ông im lặng là lúc ông nhận ra đúng, sai, lầm lỗi. Nếu không biết dừng, cứ nói lải nhải mãi, ông lại khùng lên, bất cần đời, hậu quả khó lường. Sức chịu đựng của ông có hạn. Hầu như người đàn ông nào cũng vậy. Là vợ phải biết điều đó, gia đình mới hạnh phúc. Bà để yên cho ông nghỉ.

Ông Huyền nằm vắt tay lên trán, Ông nghĩ bà ấy nói phải. Nhân lúc đắm đò, ta giặt mẹt luôn một thể. Ta dạy cho lão Dân bài học để hắn nhớ đời và trả mối thù xưa, muốn đến đâu thì đến, không nhất thì bét. Đằng nào thì con ông đã chửa hoang rồi, bị kết tội là không dạy được con. Mặt vấy mực rồi, bôi đen luôn một thể, thiên hạ chê cười luôn một thể. Nhưng bằng cách nào? Ông Huyền nghĩ mãi không ra. Ông phải giữ thật kín, đừng để cho ai biết kể cả vợ con.

Những ngày tiếp theo, ông Huyền bình phục rất nhanh. Ông câm lặng như thóc. Ông không hề đi khỏi nhà.

Trưa hôm ấy, mặt trời ngả về Tây. Ông Huyền mang dao đi mài. Ông mài con dao bầu thật sắc, cạo đứt những sợi lông ở chân. Ông quay vào nhà uống vài chén rượu để lấy thêm dũng khí khi bước vào trận. Nhân lúc vợ con lúi húi  dọn dẹp dưới bếp, ông dắt dao vào người và đi thẳng ra cổng.

Bà Huyền linh cảm có điều gì hệ trọng sắp xảy ra. Bà chạy sang nhà em trai. Bà hốt hoảng kêu toáng lên, mặt không còn giột máu:

- Chú Hai ơi! Chú Hai. Án mạng! Án mạng!

- Có việc gì mà bác hốt hoảng thế kia?

- Chú sang ngay có việc gấp. Án mạng xảy ra đến nơi rồi  Bố cái Huyền vừa uống rượu xong tay cầm con dao bầu sáng loáng, mặt sát khí đằng đằng, ông ấy vừa đi ra cổng. Tôi đoán chắc, ông ấy đến nhà lão Dân. Chú chạy nhanh lên can ông ấy lại. Thế nào cũng xảy ra án mạng.

Ông Hai chạy đuổi theo. Bà Huyền chạy lẽo đẽo theo sau. Ông Huyền vừa đi, vừa múa tay, miệng thét lên. Tao liều chết với mày. Người lớn, trẻ con đứng chật hai bên đường. Chạy một đoạn, ông Hai đuổi kịp anh trai. Vừa chạy, ông vừa gọi:

- Bác Huyền! Dừng lại nghe em nói đã!

Ông Huyền lặng thinh, chẳng nói, chẳng rằng. Ông cắm đầu chạy thật nhanh. Tới gần nhà ông Dân, ông càng bước nhanh hơn. Ông đẩy cổng bước vào. Vừa tới sân, ông thét lớn:

- Lão Dân đâu? Ra đây nói chuyện với ta. Ta quyết sống mái với mi.

Không có tiếng trả lời. Tiếng con chó vàng vừa sủa, vừa rút lui: Gâu, gâu.

- Lão Dân đâu? Ra đây ta hỏi? Mi muốn sống hay muốn chết?

Ông Hai nắm áo ông Huyền kéo lại:

- Bác về đi. Bác cho em xin!

Ông Huyền quát lại em trai.

- Chú mặc tôi!

Nghe tiếng người la hét, tiếng chó sủa, mấy đứa trẻ từ nhà bên cạnh chạy về:

- Bố mẹ cháu đi vắng rồi!

Rồi chúng chạy vội đi. Chúng đang mải đánh bi với nhau.

- Mày trốn à? Sợ rồi chứ gì? Ông Huyền nói như thách thức. Ông quay trở về. Ông ấm ức vẫn chưa giết được lão Dân. Ông Hai và bà Huyền lẽo đẽo theo sau. Mừng là án mạng không xảy ra. Ông Hai khuyên giải anh:

- Bác hành động như vậy để làm gì, giải quyết được gì? Bác giết chết người ta. Bác rũ tù. Thế là cả hai cùng chết. Chết! Tiếng xấu để đời. Mối hận thù, từ đời, truyền sang đời con. Máu còn chảy, chảy không ngừng. Ván đã đóng thuyền rồi còn nói gì nữa. Ta mang thuyền ra mà sử dụng. Việc gì phải đập phá thuyền cho phung phí.  Ở đời, ai cũng muốn hơn người, chẳng ai muốn đui mù, khoèo tay, thọt chân. Số trời đã định rồi, bác cưỡng cũng không nổi. Bác làm vậy chỉ tổ cho thiên hạ chê cười. Bác không thấy dân làng đứng chật hai bên đường à? Người ta đang xem bác diễn trò và cười bác đó.

Ông Hai quay ra cổng nói với mọi người:

- Bà con cho anh em tôi xin, mời bà con về nhà cho!

Ông Huyền chịu không nổi, thét lớn:

- Chú không phải dạy khôn. Tôi biết cả rồi!

Ông Hai chen ngang:

- Biết rồi mà bác hành động vậy à? Nếu hôm nay ông Dân ở nhà, điều gì sẽ xảy ra. Hai con trâu húc nhau, không chết thì cũng què.

- Tôi không cần chú dạy khôn. Có phải con chú đẻ ra đâu mà chú đau xót. Người ta chê cười tôi đâu cười chú. Chú có cởi truồng đâu mà xấu hổ. Chú về đi! Về đi! Biết anh đã nổi khùng, lên cơn điên. Ông Hai lặng lẽ bỏ về.

*

*       *

   9. Đêm hôm ấy, trời không trăng sao. Ngoài trời thật là yên tĩnh. Gió thổi nhè nhẹ. Mắt Huyền chong chong từ chập tối đến giờ. Các em ngủ say không biết trời đất là gì. Bố mẹ mấy ngày đêm căng thẳng, mệt nhoài. Đêm nay không còn sức mà thức nữa, bố mẹ ngủ từ 10 giờ. Mọi thứ sắp xếp rất cẩn thận. Bố mẹ đâu ngờ đến nước cờ Huyền bỏ nhà ra đi. Chị biết ra đi là rất nguy hiểm. Cái chết cầm chắc trong tay. Nhưng Huyền phải ra đi. Số phận mẹ con chị gửi vào may rủi, gửi vào lòng từ bi của đức Phật và lòng tốt của mọi người. Cho dù phải chết, chị không hối  tiếc, không oán trách ai. Chị nhìn căn nhà lần cuối. Hai hàng nước mắt hối hả tuôn chảy. Chị khe khẽ nói: “Con chào bố mẹ, chị chào các em”. Chị vội vàng xách túi ra đi.

Mọi ngày, ông Huyền dậy rất sớm. Uống xong bình nước chè, ông đi nấu cơm, nấu cám lợn. Mệt quá, ông dậy muộn hơn ngày thường. Nhưng hôm nay là chủ nhật, dậy muộn một chút cũng chẳng sao.

Khi cả nhà ngồi cả xuống mâm cơm mà vẫn chưa thấy Huyền dậy, bà Huyền vội chạy lên gọi con. Bà hốt hoảng, sững sờ không thấy con đâu. Bà nhìn xung quanh, quần áo, các đồ dùng cá nhân của Huyền đều không còn. Bà hốt hoảng, choáng voáng kêu toáng lên:

- Ông ơi! Ông ơi! Cái Huyền bỏ nhà đi rồi! - Bà dậm chân, đấm ngực thùm thụp. - Ối giời ơi! Ối làng nước ơi! ối con ơi là con ơi! Con đi đâu, bỏ bố mẹ, bỏ các em! Thế là ông giết con tôi rồi. Ông đánh đập, xỉ vả thậm tệ nó chịu sao nổi. Ông hả giận chưa?

Cả nhà đứng dậy, bỏ mâm cơm chềnh ềnh giữa bếp. Đàn gà gọi nhau ùa vào, thi nhau mổ vào bát cơm, nồi cơm. Tranh nhau ăn, đánh nhau chí chóe, kêu quang quác. Con mực thả sức đuổi gà.

Bà Huyền ngồi ở giữa sân vừa khóc, vừa gào:

- Ối làng nước ơi! Con tôi đâu? Con đi đâu, bỏ bố mẹ, bỏ các em.

Ông Huyền mắng át đi:

- Bà làm gì ầm lên thế. Bình tĩnh đi nào.

Nghe tiếng khóc của chị dâu và các cháu, ông Hai là người chạy đến đầu tiên. Hỏi ra mới biết Huyền bỏ nhà đi từ đêm. Ông thấy rõ trách nhiệm của người chú thay mặt cha. Ông nói:

- Tôi nhờ anh em, bà con đi tìm khắp các giếng, hồ ao, sông ngòi. Ai có phương tiện thì đi xa, không có phương tiện thì đi gần. Hàng chục người vội vã, khẩn trương chạy đi khắp nơi, bốn hướng.

Nghe tiếng kêu khóc, dân làng kéo đến thăm hỏi và nghe ngóng tình hình. Người đứng chật sân. Người đứng đầy cổng. Người ta bàn tán, trao đổi đủ điều. Người khen thì ít, người chê thì nhiều. Khen chê đều có lí do. Họ nói: “Con gái hư hỏng, mất nết. Bỏ nhà ra đi, để rồi chết mất xác ở nơi nào đó. Chứ hay ho gì”. Có người lại nói: “Xấu thì đã xấu rồi. Ở nhà đẻ rồi nuôi con. Việc gì phải đi đâu”. Người nói: “Chết là dại. Con chó còn muốn sống huống chi là con người”. Người khác nói: “Sống nhục thì chết quách cho xong. Chết là hết không phải nghe tiếng eo xèo. Như thế là người biết trọng nhân cách. Cô Huyền không chịu nổi sự đánh đập, xỉ vả của gia đình, xã hội”.

Hai giờ sau các ngả đi tìm kiếm trở về đều thông báo không thấy Huyền đâu cả.

Ông Hai lại nói với mọi người:

- Sau khi xem xét kỹ đồ đạc và đọc thư của cháu Huyền, tôi thấy cháu không có ý định tự tử, cháu chỉ bỏ đi thôi. Nhờ  các bác, các anh đi tìm các bến tàu, bến xe ở quanh vùng này chắc là thấy. Mọi người lại hăng hái nhiệt tình ra đi, có người chưa kịp ăn cơm sáng.  Ở nông thôn, khi gặp hoạn nạn, bất kỳ ai cũng xả thân giúp đỡ, kể cả công sức, tiền bạc.

Gần trưa. Mặt trời nghiêng nghiêng nhìn rõ căn nhà vẫn chật cứng người. Những người già và là chỗ thân tình, anh em, bà con với ông bà Huyền còn ở lại để chia sẻ nỗi buồn với ông bà và chờ tin những người đi tìm kiếm.

Tất cả đã trở về. Người nào người ấy đều mệt mỏi, bơ phờ, cùng nhau nói không thấy Huyền đâu. Ông Hai đọc thư cho mọi người nghe:

Bố mẹ muôn vàn kính yêu!

Các em vô cùng yêu thương!

Bố mẹ nuôi con từng ấy năm trời, chưa báo đáp được gì. Con để lại tiếng xấu, lời chê cười khiến bố mẹ đau lòng. Vì thế con phải ra đi. Đi đâu con chưa biết? Nhưng đó là lối thoát duy nhất để bố mẹ khỏi đau lòng, khỏi bị chê cười, mai mỉa. Nhờ nó mà ngăn nổi cuộc chiến tranh, hận thù giữa hai gia đình, máu không chảy phí hoài. Cả hai gia đình có chung dòng máu, chung một sinh linh nhỏ bé.

Một đóa hoa nở rồi phải tàn. Tàn sớm hay muộn cũng là kiếp hoa. Bố mẹ cứ xem như con đã chết từ khi mới lọt lòng, đừng thương tiếc và đừng đi tìm kiếm đứa con bất hiếu mà ảnh hưởng sức  khỏe. Trước khi đi, con xin kính dâng bố mẹ lòng biết ơn vô bờ bến. Bố mẹ đừng tìm kiếm con làm gì cho tốn công, vô ích.

Nếu con còn sống sẽ có ngày trở về. Cha con ông cháu sẽ vui vẻ sum vầy. Nhược bằng con không còn nữa, con xin vĩnh biệt bố mẹ và các em yêu qúy.

Tạm biệt bố mẹ và các em.

Bà Huyền nói:

- Con Huyền bỏ nhà đi, mang tất cả quần áo lành rách, mới cũ và mọi đồ tư trang.

Cụ Khải là chú ông Huyền nói như đinh đóng cột:

- Căn cứ vào thư cháu để lại và các thứ mang theo, ta có thể kết luận: Cháu Huyền bỏ nhà trốn đi vì những bức bách chứ không có ý định tự tử.

Mọi người đều nhất trí với kết luận của cụ Khải. Bố mẹ Huyền thấy phần nào cảm yên tâm vững dạ hơn. Vì ông bà và mọi người còn hy vọng có ngày Huyền sẽ trở về.

Tuy vậy, gia đình ông Huyền vẫn như bị phủ kín tấm bạt lớn của sự nặng nề, không khí buồn thảm, ảm đạm khắp nhà, ngoài sân, ngoài vườn. Gia đình như một đám tang, bà Huyền và những đứa em khóc lóc gọi con, gọi chị. Chỉ khác đám ma là không có khăn tang, không có kèn trống. Mọi công việc ngưng trệ. Ngày vẫn ba lần đỏ lửa nhưng ăn uống chẳng ra sao. Bố mẹ Huyền thở ngắn than dài và đổ lỗi cho nhau, vào lúc khác có khi đã cãi nhau, đánh nhau rồi.

Ông Huyền nói:

- Chung quy, chỉ tại bà dạy dỗ con không đến nơi đến chốn “Phúc đức tại mẹ. Con hư tại mẹ.” Cổ nhân dạy chẳng sai câu nào.

Bà Huyền không chịu nổi, đổ lỗi cho chồng với lý lẽ sắc sảo:

- Con tôi cũng là con ông. Dạy con là trách nhiệm của ông và tôi. Cho con bú mớm là người phụ nữ. Dạy con biết điều phải trái là trách nhiệm của ông. Nếu ông không đánh đập, xỉ vả  nó thậm tệ thì đâu đến nỗi. Ông có mang nặng đẻ đau đâu mà ông xót - Bà bật khóc tức tưởi - Huyền ơi! Bây giờ con ở đâu? Huyền ơi! Việc gì con phải tự kết tội mình và đày đọa thân mình? Huyền ơi! Con sống hay chết? Huyền ơi! Con có thương mẹ và nhớ các em không?

Đau xót quá, ông Huyền vẫn tỏ ra cứng cỏi, thét vợ:

- Bà im miệng cho tôi nhờ. Tôi đang chết từng khúc ruột, khúc gan đây. Con mất đằng con, nỗi nhục này bao giờ rửa nổi?. Bà không chia xẻ còn đay nghiến cái nỗi gì. Bà muốn tôi phải làm gì?

Ông đi đi, lại lại.  Bà ngồi kể hành, kể tỏi…Vợ chồng điều qua tiếng lại đủ rồi. Chỉ còn cách thượng cẳng chân, hạ cẳng tay thôi. Nhưng lúc này ... Đau đớn quá. Buồn nẫu ruột. Ông lại tìm đến rượu để giải cơn sầu. Rượu đưa ông vào giấc ngủ và quên tất cả. Hết rượu, ông tỉnh lại. Ông lại uống tiếp. Chẳng biết ông uống đến bao giờ. Hay chỉ khi nào con ông trở về và hết oán hận với lão Dân, ông mới thôi uống rượu. Anh em làng xóm khuyên can, ông coi như không nghe, không biết. Ông sống trong thế giới riêng.

*

*       *

10. Nắng Côn Đảo chan hòa rực rỡ. Trời Côn Đảo xanh xanh thắm. Thỉnh thoảng đám mây lững lờ trôi. Biển Côn Đảo tít tắp màu xanh trong. Sóng ngày đêm ì ầm vỗ bờ. Từng đàn Hải Âu sải cánh bay. Con tàu phành phạch rẽ sóng đưa đoàn người ra Côn Đảo.

Dân đến Côn Đảo vào một ngày như thế và mang theo hồ sơ: “Cán binh Bắc Việt, bị thương và bị bắt làm tù binh, qua nhiều lần thẩm vấn”.

Cái lệ ở đây, những tù nhân từ đất liền ra Côn Đảo đều phải qua một lần thẩm vấn để bổ sung vào hồ sơ. Tùy theo mức độ “ngang bướng”, cuộc thẩm vấn này có thể coi là khúc nhạc dạo đầu, chào mừng tù mới nhập đảo. “Khúc nhạc” này đã khiến nhiều người trở thành tàn phế vĩnh viễn thậm chí ra đi không về. Nếu vượt qua cửa ải này sẽ được xếp “thứ hạng tù”.

Buổi tối hôm ấy, Dân được thiếu tá Thiềng “đón tiếp”. Thiềng là dân võ biền, chữ nghĩa không kín cái lá đa. Nhưng hắn đi lên từ đấm đá nội bộ và bắn giết nhân dân. Tuy ít học nhưng Thiềng rất ranh ma, lọc lõi.

Thiềng to lớn khỏe mạnh, bắp chân, bắp tay nổi cuồn cuộn. Hắn tôn thờ Hít-le và Nguyễn Cao Kỳ làm sư phụ và thần tượng. Hắn để râu theo kiểu quan thầy. Đôi mắt ốc nhồi, trắng dã như lợn luộc. Lông mày sâu róm. Mồm rộng, tiếng nói ồm ồm và điệu cười hềnh hệch khả ố. Tóc chải mượt theo kiểu gọng kính. Nước da đen xì gần giống người Ma-rốc. Nhờ thành tích chém giết, hắn được giaophụ trách an ninh, chỉ dưới quyền “chúa đảo” nhưng có quyền theo dõi cả lãnh chúa. Vì thế tên này thường gầm ghè lại chúa đảo, luôn tìm cách để quật với chúa đảo. Hắn thường nói ra miệng: “Những tên Việt Cộng ra tới đây gan cóc tía cũng phải mở miệng. Nếu không nhận thì cầm chắc phải què quặt, hoặc toi mạng”.

   “Tiếp” Dân, hắn cởi trần trùng trục. Cây thánh giá ngoại cỡ lủng lẳng trước ngực như muốn nói với mọi người hắn là con chiên ngoan đạo. Trước khi hỏi Dân, hắn không quên làm dấu “cha con thánh thần” và uống rượu. Ngực hắn đầy lông lá. Cánh tay xăm hàng chữ “Hận thù cộng sản”. Hắn thường giải thích: “Cộng sản bắn chết cha hắn, cướp toàn bộ đất đai tài sản của hắn. Nên hắn phải theo chúa vào Nam”. Cha hắn là địa chủ cường hào gian ác có nhiều nợ máu với nhân dân. Bản thân hắn, khi còn ở miền Bắc cũng đi lính và có nhiều tội ác với nhân dân.

Hắn hách dịch hỏi Dân:

- Quê tỉnh nào?

Im lặng. Hắn quát:

- Mày câm à? Không trả lời phải không?

Dân trả lời rõ  ràng:

- Tôi khai trong hồ sơ rồi. Ông không đọc đấy thôi.

Hắn trợn đôi mắt ốc nhồi, đỏ ngầu:

- Mày bướng với ông à?

Hắn như con thú dữ, ngực đầy lông lá, vung cánh tay xăm chằng chịt lao về phía Dân, “tặng” ngay anh quả “phật thủ” vào mặt. Hắn hét:

- Đ mẹ chúng mày. Tao bỏ quê theo chúa vào đây mong được yên thân mà chúng mày không buông tha. Chúng mày tham lắm, nhường một nửa nước mà vẫn chưa hài lòng.

Xem chừng chưa hả dạ, hắn bồi thêm mấy quả nữa vào người Dân. Dân thấy mắt nảy đom đóm, cứ như sao sa, đầu choáng váng, loạng choạng suýt ngã. Dân gắng gượng đứng dậy. Mặc dù bị những quả đấm như búa tạ giáng vào mặt. Nhưng Dân không khiếp sợ, tuy rất đau. Hắn tống thêm một loạt nắm đấm vào ngực, vào bụng anh. Dân đứng không vững nữa, ngã gục xuống sàn nhà.

Hắn cười sằng sặc:

- Ngã rồi à? Chịu không nổi à? Đau lắm phải không?

Hắn bỏ Dân nằm đó, đi uống rượu. Dân nghĩ, phải cố chịu đựng, không để bọn chó săn, bán nước coi thường. Ở đời,  hơn nhau lòng dũng cảm, lòng kiên trì chịu đựng. Hắn nói gì, cứ mặc xác, tạo cho hắn tâm lí “chiến thắng và vui vẻ”.

Hắn sai đổ nước cho Dân tỉnh. Tự tay hắn trói Dân vào cột. Hắn lại tiếp tục đánh anh. Đánh mãi đau tay nên hắn phải dùng gậy.Trong sâu thẳm lòng hắn, căm thù và không đội trời chung với cộng sản.  Nhưng đối với cộng sản Bắc Việt lòng căm thù còn tăng lên gấp bội. Hắn đánh Dân tới trưa. Mặc dù đau đớn nhưng Dân nghe rõ tiếng chuông đồng hồ. Mệt quá, hắn bỏ đi, buông lại lời phía sau: “Thằng này gan lì tướng quân và chịu đòn giỏi lắm. Tao thấy ít đứa như nó”.

Hôm sau, Dân tỉnh táo trở lại. Mặt trời chiếu những tia nắng vàng rực rỡ đầu tiên xuống căn phòng. Căn phòng trống trải, hôi hám vắng bóng người. Lũ chuột, lũ gián thi nhau chạy đi chạy lại. Người Dân đau nhừ. Dân biết hắn tống vào nhà biệt giam.

Những ngày sống trên đảo, tin tức bên ngoài đều bị bưng bít và bóp méo. Vì những người đưa tin không ai khác ngoài những tên lính, tên ác ôn khét tiếng, đâm chém người không ghê tay. Nghe để mà nghe, không ai dại dột, tin vào đầu lưỡi những tên dạ thú mặt người ở nơi đây. Nhiều khi nghe chúng nói phải hiểu ngược trở lại, tốt thành xấu và xấu thành tốt.

Những ngày cuối tháng tư năm 1975, tụi chúng bàn tán rất nhiều về tình hình chiến sự, cư xử với tù nhân mang chút tính người hơn.

Sáng hôm ấy, mặt trời lên cao, tù nhân nghỉ giải lao. Tên thiếu tá Thiềng, khét tiếng ác ôn nói với Dân:

- Quân giải phóng tiến sát Sài Gòn rồi. Miền Nam sẽ hoàn toàn giải phóng. Nay mai, các ông sẽ được trở về với đồng đội.

Dân hỏi lại:

- Còn ông đi đâu? Làm gì.?

Hắn cười hề hề, để lộ bộ răng cải mả với những chiếc răng vàng khè,  to đùng. Hắn thừ người buồn rầu trả lời:

- Ngồi thay chỗ các ông! Được chưa? Vui lòng chưa?

- Nếu đúng như ông nói. Chúng tôi không độc ác và đánh đập tù nhân  tàn bạo, dã man như các ông đâu. Tôi hứa danh dự. Các ông cứ tin đi.

Hắn chép miệng, cười hềnh hệch:

- Không tin cũng phải tin. Các ông không đánh đập, không giết người như chúng tôi. Nhưng các ông dùng quần chúng nhân dân đấu tố, xỉ vả chúng tôi. Khi ấy, tôi thà ăn kẹo đồng cho xong chứ không chịu để ai làm nhục.

Dân không nói gì thêm, lặng lẽ bước đi. Bỏ mặc hắn ở lại phía sau. Dân nghĩ: Chiến thắng đến nơi rồi. Dân sẽ trở về với đồng đội, cha mẹ, người thân và Huyền. Dân lại bước chân vào giảng đường Đại học để học nốt năm cuối. Đó là ước mơ, nguyện vọng của Dân. Với điều kiện sức khỏe, Dân không thể ở trong quân ngũ. Đó là điều đáng tiếc và thiệt thòi. Ngày tàn của chế độ tay sai bán nước và lũ cướp nước đã điểm. Lòng Dân vui như đi trẩy hội, trống giục cờ bay.

Những tên qủy mặt người, cứ tưởng không biết sợ là gì. Ai ngờ, hôm nay chúng đang khiếp sợ trước khí thế chiến thắng như chẻ tre của quân dân ta. Gần đây, chúng nó bàn tán sôi nổi, ầm ĩ việc di tản chạy ra nước ngoài. Vợ con những tên cai ngục ra sức thu gom đô-la, vàng để chuẩn bị chuồn ra nước ngoài. Công việc quản lý tù nhân có phần lỏng lẻo hơn. Chúng lo cho số phận, tương lai tiền đồ hơn công việc. Tiếng dùi cui, tiếng roi vọt, tiếng chửi bới thưa hẳn, giảm hẳn. Những tiếng nói có chút tình người bắt đầu xuất hiện trên miệng lũ thú dữ tưởng là điều không tưởng thì nay là sự thực.

Khi quân ta tiến vào dinh Độc Lập, Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng như tiếng sét nổ trên đầu chúng giữa trời quang mây tạnh. Cả hệ thống chính trị và lý tưởng chống cộng bao năm qua hoàn toàn sụp đổ không thể cứu vãn. Chúng chỉ còn nghĩ tới cách thoát thân, ba mươi sáu chước, chuồn là thượng sách. Nhưng chuồn có nhiều cách khác nhau, tùy thuộc khả năng tiền bạc, chức vụ, tội ác của mỗi tên. Tên Thiềng giữ đúng lời hứa, dùng súng bắn vào đầu kết liễu cuộc đời dã thú của hắn. Đó là cách chạy trốn thứ nhất.

Hôm ấy, trời âm u, ảm đạm. Sóng biển ầm ầm đổ vào bờ cát mịn. Gió thổi mạnh. Tàu Mỹ như con vật khổng lồ, chết từ lâu, mùi hôi thối  tỏa ra làm ô uế không khí và biển cả. Những sĩ quan, binh lính ngụy như những con ruồi nhặng bu vào cái xác chết, đậu vòng trong vòng ngoài, chen chúc nhau để kiếm ăn.

   Người leo được lên tàu rồi, muốn tìm cho mình một chỗ ngồi. Nhưng tàu chỉ có hạn, người đi tàu lại quá nhiều nên xảy ra cuộc cạnh tranh, ẩu đả gay gắt chẳng khác nào cái chăn hẹp người này kéo thì người kia bị hở. Cuộc giành giật này tất xảy ra xô xát nhau, để có nơi ngồi yên ổn, thoái mái. Quy luật của muôn đời là kẻ mạnh thắng kẻ yếu. Chúng loại trừ, khử nhau bằng các cuộc ẩu đả chết người, người yếu sẽ bị hất khỏi tàu rơi xuống biển. Thỉnh thoảng lại có tiếng người rơi xuống biển “ùm, ùm”. Lúc này rơi xuống biển hãy còn may, không phải làm mồi cho cá, chầu hà bá. Họ có thể ngoi lên bờ, tiếp tục cuộc chen lấn trên mặt đất.

Người còn đứng ở cầu tàu, mang hết sức lực mà xô đẩy, chen lấn để lên tàu. Cầu tàu nhỏ hẹp, người đứng chật ních, ai cũng muốn lên được tàu. Cuộc chiến ở đây còn nguy hiểm hơn. Người phía trước chưa dịch bước nổi vài centimét, người phía sau ép tới, giục “nhanh lên”. Có người còn dùng vật cứng nện vào đầu người phía trước, kêu chí chóe. Có người đau quá, ngồi thụp xuống, bị người phía sau đè lên trên, xéo lên đầu, lên chân, lên tay kêu oai oái. Ngạt quá, đứng lên để thở liền bị hất xuống biển “òm, òm”. Người ta vội ngoi lên lại tiếp tục vào cuộc chen lấn trên mặt đất. Người vất vả, khổ sở hơn cả trong cuộc di tản này là phụ nữ và trẻ em. Họ có tội tình gì mà phải di tản, chịu cảnh chen lấn chết người này.

Người còn đứng trên đất liền mới đông và dài, dài vô kể. Cảnh hỗn độn ở đây còn mãnh liệt, tàn bạo hơn, dễ gây ra tai họa cho con người. Họ hò hét nhau cố lên lên nhưng tàu đã chật ních. Người trước không lên được tàu, người sau cứ đẩy lên, nhiều cuộc xô xát, đánh lộn đã xảy ra. Đã có người bị thương và bỏ mạng. Dòng người cứ như thác lũ ào ào tràn về.

Con tàu nổ máy, chuyển mình, hất không biết bao nhiêu người còn đứng ở cầu tàu lăn xuống biển. Có người cố bám vào tàu, lập tức bị người trên tàu nện vào tay một cách tàn nhẫn không tương tiếc. Tàn bạo hơn, có người còn dùng dao chặt đứt người bám vào tàu, liên tiếp tiếng “òm, òm”  “ùm, ùm” ngã xuống biển. Tàu dứt tình ra đi, dứt tình với các “chiến hữu, đồng minh”. Vì kẻ điều khiển con tàu cũng phải nghĩ đến nếu không muốn bị quân giải phóng bắt làm tù binh …

Những tên lính và hạ sĩ quan có cuộc chạy trốn cho riêng mình. Việc làm đầu tiên là vứt bỏ vũ khí để thoát thân. Bỏ súng nghĩa là đầu hàng, không ai còn nổ súng vào kẻ đầu hàng. Nhưng vẫn con quần áo mũ nón, giày dép mang trên mình thì vẫn là lính. Thế là họ cởi hết, vứt hết cả ra đường mà chạy. Súng đạn, quần áo, giày do kẻ bại trận quẳng ra đường khiến đến nỗi làm nghẽn tắc giao thông, cản trở việc đi lại của nhân dân.

Những lá cờ ba sọc, một giờ trước đây còn đứng trên cột cao, trên nóc các công sở phấp phới, ngạo nghễ tung bay trong gió. Giờ đây cũng nằm trong số phận chung bị ném cả ra đường. Bị bàn chân của chính những người chạy trốn đầy bùn đất dẫm lên. Cuối cùng chỉ còn là mảnh giẻ rách, đầy bùn đất. Tất cả đều chung số phận với chế độ sản sinh ra nó.

Quân giải phóng  ra đảo tiếp quản và đón các chiến sĩ bị tù đày về đất liền. Mọi người cùng nhau hò hét, cùng nhau hát “Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng, cùng nhau nhảy múa. Hình như tất cả sức lực còn lại sau những năm tù đày họ đều mang ra hết ca hát, nhảy múa cho thỏa tích. Những người yếu quá, họ vui đón ngày giải phóng bằng nụ cười, nước mắt và những cái vẫy tay. Những lá cờ của mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam phần phật, hiên ngang tung bay trên đảo trong nắng gió biển. Ai cũng hả lòng, hả dạ và đều thấy như mình được sinh ra từ đây. Ngày vui trọn vẹn khiến Dân lại nhớ tới đồi sim quê nhà, nhớ Huyền, nhớ tới cha mẹ, người thân. Ngày vui sum họp đến từng ngày, từng giờ. Khi về tới nhà, đặt ba lô xuống, Dân sẽ chạy tới ôm Huyền vào lòng thật chặt, kể cả con nếu có.

*

*       *

11. Rời Côn Đảo, nơi có nhiều kỷ niệm bi tráng, rời nơi rèn luyện khí phách của người chiến sĩ cách mạng, Dân về đất liền vào đúng dịp hoa phượng nở rực đỏ. Dân nhớ tới đời sinh viên với bao hoài bão ước mơ, nhớ những mùa thi. Những kỷ nệm của thời trai trẻ, ùa về choáng ngợp tâm hồn anh. Dân được nghỉ ngơi, bồi dưỡng sức khỏe và học tập về tình hình, nhiệm vụ mới của đất nước. Niềm vui chiến thắng hân hoan giúp anh nhận rõ trách nhiệm của mình đối với đất nước. Thể theo nguyện vọng của Dân, anh được trở lại trường để học năm cuối cùng.

Vào một ngày đẹp trời, mây núi giăng đầy. Chim hót líu lo, ánh mặt trời thẹn thùng đã nấp sau những dãy núi phía xa. Hoàng hôn vội vã buông xuống núi,  những tia nắng vàng yếu ớt cố vươn lên, đậu trên những ngọn cây.

Vợ chồng ông Dân vừa đi làm về. Bà Dân ba chân, bốn cẳng đi chuẩn bị cơm tối. Ông Dân lúi húi rửa chân ngoài giếng. Bỗng có tiếng: “Con chào bố”. Ông Dân ngẩng đầu lên, ngỡ ngàng kêu: “Bà ơi! Thằng Dân về” Bà nói từ trong bếp vọng ra: “Ông có mê không đấy. Thằng Dân hy sinh rồi còn đâu. Dân kêu lên: “Mẹ ơi! Con về thật đấy!”. Mừng quá, bỏ cả nồi cơm, bà chạy nhào ra. Mẹ con ôm chầm lấy nhau. Hàng xóm, láng giềng chạy ùa cả tới. Mọi người đều ngỡ ngàng trước sự trở về của anh. Ông bà Dân mừng lắm. Bà Dân nóng bỏng trên má bởi những dòng nước mắt. Ông can bà: “Con về, tại sao bà khóc. Bà phải vui lên chứ!” Bà trả lời chồng: “Tôi mừng quá đấy mà”. Bà đi nấu ấm nước để mời mọi người uống. Nhà ông Dân chật kín người đến mừng đón Dân trở về. Ông Dân sai con đi mượn thêm bàn ghế, ấm chén khắp xóm mà vẫn thiếu. Người già, người lớn tuổi ngồi trên giường, trên phản, bàn ghế. Người trẻ tuổi đứng chật trên hè, dưới sân. Ai cũng muốn biết về sự sống chết của anh. Dân kể vắn tắt cho mọi người nghe. Anh không may bị thương, bị giặc bắt làm tù binh và đày ra Côn Đảo từng ấy năm. Đơn vị tưởng anh chết nên báo tử về gia đình. Ai cũng trầm trồ, ngạc nhiên và mừng anh còn sống trở về.

Nhìn thấy con gầy còm, ốm yếu, chân bị thương đi tập tễnh, lòng mẹ quặn đau. Mẹ khóc sụt sùi. Mặc dù, anh đã được nghỉ ngơi, bồi dưỡng, sức khỏe tăng lên nhiều rồi. Nhưng Dân vẫn như cái cây bị ốm, phơi mình dưới nắng hạn, mưa bão nhiều năm nên phải có thời gian bồi bổ sức khỏe mới hoàn toàn phục hồi.

Cả một tuần, nhà Dân lúc nào cũng đông nghịt người đến thăm. Dân suốt ngày bận bịu tiếp khách và luôn miệng “tái bản” về sự sống chết của mình. Những người đến thăm, Dân thấy thiếu gia đình Huyền và cũng chẳng thấy ai nhắc tới nàng. Linh tính báo cho Dân biết những điều chẳng lành và khoảng cách giữa hai gia đình không nhỏ. Trái tim Dân nhói nhói lo âu dù chưa biết sự việc ra sao? Thực lòng, Dân muốn chạy đến hỏi xem sự thể thế nào? Nhưng Dân thấy chưa tiện, vì đối với ông bà Huyền anh chỉ là người dân người làng, thân thiện hơn là người kèm cặp Huyền học tập. Từ ngày về, Dân chưa đến kịp thăm gia đình nhà ai, kể cả chú bác ruột anh.

Nhìn thấy bảng vàng Tổ quốc ghi công liệt sĩ Phạm Đình Dân treo trên tường và bàn thờ, đầy chân nhang lòng anh không khỏi bùi ngùi, quặn đau. Dân bắc ghế trèo lên tường gỡ bằng Tổ quốc ghi công xuống và dọn dẹp bàn thờ cất đi làm kỷ niệm.

*

*     *

Nhân buổi tối rỗi rãi, đẹp trời. Gió thổi nhè nhẹ.  Dân đến thăm bố mẹ Huyền. Vừa thấy anh, bà Huyền òa khóc và kể lể:

- Huyền ơi! Anh Dân  đã trở về và đến tìm con. Hiện nay con ở đâu, còn sống hay chết? Nếu còn sống, con hãy bế con về gặp anh ấy. Chẳng may con đã chết thì con báo mộng về cho mẹ và anh Dân biết. Nếu con chết rồi, con sẽ thổi tắt ngọn đèn cho mọi người cùng nhìn.Chờ mãi, đợi mãi, ngọn đèn vẫn sáng tỏ. Bà Huyền nở nụ cười: Nó còn sống anh Dân ạ!

 Trong lòng Dân lóe lên tia hy vọng. Dân thành thật nói:

- Huyền còn sống mẹ ạ! Con tin là như vậy. Huyền không thể chết. Mẹ hãy kể lại tường tận, tỉ mỉ những gì xảy ra khi con đi vắng?

Những lời mẹ Huyền nói như xoáy vào tim gan Dân, làm vỡ tung ra ngàn mảnh. Đầu óc Dân choáng váng, nhìn ngọn đèn lúc tắt, lúc tỏ cứ như những vì sao trên trời lấp lánh tỏa sáng.

Ông Huyền ngồi lỳ trên phản chẳng nói chẳng rằng, miệng ông như người vừa trúng gió độc bị cấm khẩu.

Dân đến bên bà Huyền từ tốn nói:

- Con xin lỗi mẹ. Lỗi là tại con. Mẹ kể hết đầu đuôi câu chuyện với con rồi. Những ngày tới con sẽ đi tìm Huyền. Nếu không tìm thấy cô ấy, con thề suốt đời chẳng lấy ai để chuộc lầm lỗi của mình. Con nhớ mãi lời thề, đêm chia tay trên đồi sim, Huyền nói: - Kẻ nào phản bội sẽ bị chú cuội ném cành đa vào mặt cho tới khi chết. Con và cô ấy nặng tình, nặng nghĩa lắm. Cô ấy mang theo giọt máu của con. Vì muốn con yên tâm đi đánh giặc nên Huyền tự nguyện hiến dâng tất cả cho con. Một tấm lòng vị tha, sự hy sinh cao cả. Con mãi mãi biết ơn Huyền. Nhờ Huyền mà con yên tâm đi đánh giặc. Nhờ Huyền mà con dũng cảm, hiên ngang trước kẻ thù. Thành tích mà con có được và sự tiến bộ như hôm nay, công lao một nửa thuộc về Huyền. Con xin cha mẹ, một ngàn lần cầu xin cha mẹ tha thứ và đừng trách cứ cô ấy. Người có tội là con. Tất cả là tại con. Xin cha mẹ cứ trách phạt.

Dân đứng tựa lưng vào cột như người tự trói mình, ngay bên cạnh ông Huyền. Dân chờ đợi sự hỏi tội của ông bà Huyền. Chờ mãi, đợi mãi, không thấy ông bà Huyền ra tay. Dân lại giục:

- Bố mẹ còn ngần ngại gì nữa mà không ra tay. Bố mẹ có thể chửi mắng, đánh đập cho hả lòng, hả dạ. Thậm chí có thể chém bỏ, con không một lời ca thán. Con làm thì con chịu. Con đã nhiều lần đối mặt với kẻ thù, nhận đủ những đòn tra tấn tàn bạo, độc ác mà chưa hề rơi nước mắt, chưa một lời van xin. Nhưng trước cha mẹ con xin chịu mọi sự trách phạt:

- Cha mẹ con đắn đo gì nữa. Hãy xử tội con đi!

Bà Huyền gạt nước mắt giục chồng:

- Ông Huyền! Ông nói gì đi chứ!

Ánh đèn tỏa sáng. Ông Huyền ngồi như phỗng đá, nước mắt chảy từng dòng, từng dòng trên mặt. Lần đầu bà thấy ông khóc. Bà cũng xịt xoạt khóc theo. Bỗng ông Huyền như tỉnh cơn mê. Ông đứng dậy, đôi tay run run, kéo Dân ngồi xuống phản:

- Con ngồi xuống đây, bố mẹ nói con nghe!

Nhưng Dân không ngồi, anh đứng như trời trồng. Mặt Dân đanh lại, mắt nhìn thẳng, môi mím chặt. Ông Huyền bộc bạch nỗi lòng giấu kín bấy lâu:

- Con và Huyền thương yêu nhau, bố mẹ có biết. Bố mẹ không ngăn cản, trái lại còn ngấm ngầm tác thành cho các con. Tình yêu của các con được nhom nhén từ khi để chỏm, ngồi trên lưng trâu, giúp đỡ nhau học tập cho tới khi khai hoa kết quả. Con là người có tài, có đức được mọi người yêu mến. Con và Huyền rất xứng đáng được hưởng hạnh phúc. Ngày qua tháng lại sâu nặng tình nghĩa tao khang. Con đi chiến đấu. Huyền có thai. Nếu ông bà bên ấy nhận con, nhận cháu thì cái Huyền không bỏ nhà ra đi, mới dẫn đến cảnh chia ly đau xót và thương tâm. Anh trở về, bố mẹ rất mừng. Nhưng lòng bố mẹ quặn đau, đứt từng khúc ruột, khúc gan, xót thương cái Huyền bụng mang dạ chửa một mình thân gái dặm trường, lành ít, dữ nhiều. Nhờ trời, nhờ Phật phù hộ, nó còn sống chắc có ngày tái ngộ. Chẳng may, mẹ con nó không còn nữa, âu cũng là số phận, biết trách ai. Nếu Mỹ không đưa quân vào xâm lược miền Nam, con không đi bộ đội vào Nam chiến đấu, không bị tù đày thì đâu đến nỗi. Con không nên bận tâm, không phải kết tội và hành hạ bản thân nữa. Con đã đổ nhiều xương, máu trong chiến đấu, lại bị chúng đánh đập, tra tấn hành hạ nhiều năm trong nhà tù. Bố mẹ rất hiểu và thương con. Khi con trở về, đối xử với bố mẹ rất tình nghĩa. Con yên tâm học tập và bồi dưỡng sức khỏe. Hạnh phúc còn dài, tương lai rộng mở phía trước. Bố mẹ mừng cho con.

Hôm nay, bà Huyền mới hiểu lòng chồng. Thì ra ông ấy cũng rất thương anh Dân và cái Huyền. Bao nhiêu năm suy nghĩ để ông nói được như hôm nay. Bà Huyền hồ hởi nói thêm:

- Bố con nói vậy là rất phải. Cáí Huyền chắc cũng yên phận ở nơi nào đó rồi. “Con mọc răng nói năng gì nữa”. Nếu còn sống chắc mẹ  tin một ngày nào đó, cái Huyền sẽ dẫn con về. Chẳng may số phân hẩm hiu đối với nó cũng đành biết làm thế nào. Thời gian đâu còn ngắn nữa.

Lúc này Dân mới dám mở miệng:

- Con còn một khuyết điểm nữa. Khi sự việc xảy ra, con không nói cho bố mẹ con biết. Đêm chia tay cuối cùng,  con và Huyền mới chính thức ăn ở với nhau. Sáng hôm sau, con phải đi sớm nên không kịp nói với bố mẹ. Con ân hận mãi, gửi bao nhiêu thư về nhà mà không tới. Một ngàn lần, một vạn lần xin bố mẹ tha tội chết.

Ông Huyền ngước mắt nhìn Dân nói:

- Đánh kẻ chạy đi, không ai đánh người chạy lại. Con biết nhận lỗi, bố mẹ cũng lượng thứ. Nỗi đau thành sẹo rồi. Nhắc tới là nói tới kỷ niệm, để thông cảm và thương nhau hơn. Nếu con không đi đánh giặc nơi xa thì đâu đến nỗi này. Tất cả đều do chiến tranh. Bây giờ con định làm gì?

- Cám ơn bố mẹ. Con sẽ học nốt năm cuối cùng Đại học. Sau đó con đi dạy học. Dạy học là nghề con yêu quý, tự nguyện gắn bó suốt đời.

Những ngày ở nhà, lúc nào Dân cũng thở ngắn than dài, đứng ngồi không yên. Lúc nào, lòng Dân cũng như lửa đốt. Ngày ăn không ngon, đêm ngủ không tròn giấc. Nỗi nhớ nhà đau đáu từng ấy năm trời. Về tới nhà lại thiếu vắng, trống trải cái gì đó mà không gì bù nổi mà cũng không thể nói ra được. Lúc nào anh cũng nghĩ tới vợ con. Vì anh mà mẹ con Huyền phải đội trên đầu hai tiếng “chửa hoang”. Mẹ chửa hoang, con hoang. Người đời chê cười, dè bỉu mẹ con Huyền. Nỗi nhục dai dằng suốt cuộc đời. Chỉ khi nào tìm thấy mẹ con cô ấy mới cởi được cái mũ “chửa hoang” trên đầu. Nó như cái vòng kim cô Phật bà quan âm gắn trên đầu Tôn Ngộ Không. Vì thế Huyền phải bỏ nhà ra đi,  lìa bỏ cha mẹ và các em. Mười năm rồi, Huyền chưa dám về thăm quê, thăm cha mẹ và các em. Mẹ con cô ấy sống tha phương cầu thực nơi nào? Còn sống hay chết? Huyền còn sống, con anh còn sống. Huyền chết, con anh chết. Hai mẹ con nhưng là một. Nó là con trai hay con gái? Nó mạnh khỏe hay èo ọt? Nếu con sống, con anh hơn chín tuổi rồi. Liệu có được học hành đến nơi đến chốn không? Đời sống của mẹ con Huyền ra sao? Dân gian có câu: “Tốt phô ra, xấu xa đậy điệm”. Cứ theo cách đó mà suy, mẹ con Huyền không về quê, không tin tức gì là mẹ con Huyền đang gặp khó khăn trở ngại lớn. Nếu bố anh nhận con, nhận cháu thì không có sự chia lìa này. Bao nhiêu câu hỏi cứ khoan, xoáy mãi vào trái tim anh. Dân chưa tìm ra câu trả lời. Lẽ ra hôm nay, anh và Huyền được sống bên nhau. Anh được ôm vợ con vào lòng mà hôn hít, tận hưởng hạnh phúc sau bao năm xa cách. Dân tha hồ mà kể cho Huyền nghe những câu chuyện chiến đấu hào hùng, những ngày gian khổ ác liệt thừa sống thiếu chết trong nhà tù của Mỹ - ngụy. Huyền sẽ gục đầu vào vai anh mà khóc rồi kể về sự đau đớn khi phải vượt cạn và nỗi vất vả, khổ cực phải nuôi con một mình.

Sự cố chấp của cha mẹ anh dẫn đến hậu quả là sự chia ly, đẩy Huyền ra ngoài đường đang lúc bụng mang dạ chửa, trong tay không một đồng xu dính túi. Bước chân khỏi nhà, Huyên không biết đi đâu, sống bằng gì, tương lai mờ mịt, chui vào đường hầm không lối ra. Liệu bố mẹ có độc ác không? Không những thế, bố mẹ anh còn nặng lời với bố mẹ Huyền. Vì sao bố mẹ anh hành động như vậy? Mặc dù sau khi Huyền đi, bố mẹ nhờ người đi tìm Huyền cả tháng trời. Liệu có thật lòng, hay để trấn an dư luận xã hội? Bố mẹ có thật lòng thương con, cháu hay làm vậy để cứu vãn lương tâm. Bây giờ anh phải làm gì? Đương nhiên phải đi tìm vợ con. Nhưng tìm ở đâu, bằng cách nào, bắt đầu từ đâu. Một loạt câu hỏi cứ xoáy mãi vào đầu anh mà không có câu trả lời.

Dân hờ hững với tất cả. Tất cả đều vô nghĩa. Anh gấp quần áo vào ba lô để sớm hôm sau đi từ lúc mặt trời chưa mọc. Mẹ anh thấy vậy vội nói với chồng:

- Ông ơi! Thằng Dân định đi đâu ông ạ! Tôi thấy nó gập quần áo nhét vào ba-lô.

Ông Dân lo lắng, gọi con đến hỏi:

- Con định đi đâu bây giờ mà gấp quần áo?

Dân im lặng. Im lặng. Dân cố ghìm nén những giông bão đang nổi trong lòng. Người đối diện với anh là cha đẻ. Thật khó nói, khó trả lời.

- Con định đi đâu bây giờ? Ông tự trả lời. Thương vợ, con là phải quá đi rồi. Nhớ vợ, nhớ con cũng chẳng có gì là sai. Bố đã trải qua những tình cảm ấy mỗi khi xa nhà. Bố rất thông cảm với con. Con định kết tội bố mẹ chứ gì? Cho dù bố mẹ là kẻ điên khùng, rồ dại, cởi truồng chạy ra ngoài đường thì vẫn là người đẻ ra con, nuôi con học hành khôn lớn. Cho dù bố mẹ là kẻ tù tội, liệu con dám bỏ không? Một bên là vợ con từng gắn máu thịt với con. Một bên là bố mẹ đẻ ra con, san sẻ máu thịt cho con. Con sẽ đặt lên bàn cân, bên nào nặng hơn, bên nào nhẹ hơn? Con là người có học, cư xử thế nào cho phải đạo. Cái Huyền bỏ nhà ra đi, bố mẹ nhờ người đi tìm kiếm nhiều nơi mà vẫn biệt vô âm tín. Điều ấy chứng tỏ, bố mẹ rất thương con, cháu. Khi gia đình bên ấy đến báo Huyền có thai với con. Bố mẹ phải điều tra, xem xét hư thực thế nào? Chẳng lẽ bố mẹ chấp nhận ngay. Trước khi con đi, con nói gì với bố mẹ đâu. Nhưng gia đình bên ấy và cái Huyền quá nóng vội. Sự hiểu lầm và hận thù giữa hai gia đình là sâu sắc, có từ lâu. Nhân việc cái Huyền  có thai với con thổi bùng ngọn lửa oán hận lên. Hai gia đình điều qua tiếng lại, hòn bấc ném qua, hòn chì ném lại là điều không tránh khỏi. Thậm chí bố cô ấy còn vác dao đến nhà để chém bố. Thật may, hôm đó, bố đi vắng nên không xảy ra án mạng. Cái lỗi đó là do cả đôi bên, tại anh, tại ả chứ chẳng của riêng ai. Con chẳng có lý do gì để oán hận và kết tội bố mẹ. Nhưng dù sao, con cũng phải thương bố mẹ già chứ. Bố chừng này tuổi, ngày nào cũng phải theo đít con trâu từ lúc rạng đông đến tối mịt mới có bát cơm đổ vào miệng. Mẹ con suốt ngày bán mặt cho đất, bán lưng cho trời và còn bao nhiêu việc ở nhà nữa cũng vì ai? Vì ai? Tình thương bố mẹ cạn kiệt trong con rồi à? Lòng con đầy ắp những oán giận, hận thù đối với người đẻ ra con, nuôi con ăn học khôn lớn trưởng thành? Đó là sự lầm lẫn, điểm tối trong tư duy của con. Con định bỏ bố mẹ, bỏ các em mà đi à? Đó là hành động nóng vội nhất thời. Thế là con có nghĩa với vợ.  Nhưng bất hiếu với cha mẹ. Con bỏ mãi được chăng? Dân làng sẽ chê cười con chứ không chê cười bố mẹ đâu. Bố thất vọng về con nhiều quá.

 Ông Dân dừng lại. Ông đi xuống bếp. Tay lăm lăm con dao dựa, nét mặt đầy dữ tợn. Ông đặt con dao lên bàn, ông lạnh lùng nói với con:

- Dân! Để tỏ lòng chung thủy với cái Huyền, để hả giận và khỏi phải nhìn mặt người cha này, con cầm dao chém bố đi. Bố rất vui được con chém chết đấy. Ông ngồi xuống ghế, thét lớn:

- Dân! Chém đi! Chém chết tao đi!

Bà Dân từ dưới nhà chạy lên. Bà vừa khóc, vừa van vái:

- Tôi xin ông. Tôi van ông! Dân ơi! Mẹ cầu xin con đó!.

Dân ngồi ngay như phỗng, không mở miệng nói lấy nửa lời. Mặc bố mẹ làm gì, nói gì. Chỉ biết sáng hôm sau, Dân đi thật sớm khi bố mẹ và các em chưa ngủ dậy. Dân đi như kẻ chạy trốn, trốn mình và trốn tất cả.

*

*       *

12.  Dân trở về đơn vị. Anh vạch ra kế hoạch ôn tập, chuẩn bị cho năm học tới. Cả ngày, cả đêm, Dân vùi đầu vào trong đống sách, hô gọi kiến thức trở lại. Thực hiện khẩu hiệu: “Học! Học nữa! Học mãi! Anh chỉ dừng lại để giải quyết những sinh hoạt và khi đã thấm mệt. Những ngày đầu, Dân thấy quá mệt mỏi, đầu óc như đặc lại không có kẽ hở để kiến thức chui vào và dừng lại. Học trước quên sau, đầu óc muốn vỡ tung ra từng mảng. Anh cố nhét vào thì chúng lại trồi ra. Tay cầm bút cứng đơ đơ, khó khăn lắm mới viết nổi, nét chữ cứ như gà bới, khó đọc, khó nhìn. Khi ấy, anh thấy nản lòng bỏ sách vở nằm trơ trên bàn. Anh đi thăm bạn bè mang theo nỗi buồn không nguôi. Rồi anh tự kết tội mình là kẻ ngại khó, đầu hàng trước những thử thách mới. Anh đứng giữa đôi dòng nước: Một là tiếp tục học tập, không ngừng cố gắng vươn lên, hai là đầu hàng và gục gã trước những tri thức và đòi hỏi mới, xin đi công tác khi trong tay không bằng cấp. Nhưng anh dần tĩnh tâm và với lòng kiên trì, quyết tâm cao, những kiến thức rơi vãi trong những năm ở chiến trường lần lượt quay trở lại. Anh vui vẻ, phấn khởi hẳn lên. Anh càng say mê học tập.

Từ ngày Dân khoác ba-lô về trường đến nay vừa tròn ba tháng. Anh không thư từ. Lòng ông Dân lúc nào cũng như lửa đốt, ăn không ngon, ngủ không yên. Vì ông đã để thằng con tuột khỏi tay. Nhưng ông vẫn giấu vợ giấu con để cố tạo ra không khí yên bình của một gia đình mà cả Hợp tác xã và dân làng đều khen là hòa thuận. Ông vừa giận con, lại vừa thương con. Hai mặt đó cứ đan xen, chằng néo với nhau. Ông tự hào vì nó thông minh, học giỏi và rất ngoan ngoãn. Dù sóng gió ập đến gia đình, dù cha con ông bất hòa. Nhưng cha con ông mãi mãi vẫn là cha con. Sự đụng độ, va chạm giữa cha con ông là sự nóng nảy, bực dọc nhất thời. Nhưng dù sao cũng sứt mẻ những tình cảm vốn có. Nó bỏ nhà đi là cố quên những gì đau buồn vừa xảy ra.  Ông cảm thấy thông cảm với con hơn bao giờ hết. Nó thừa chết thiếu sống vì bom đạn, vì những đòn tra tấn dã man, tàn bạo của kẻ thù. Khi đi hai bàn tay trắng, lúc trở về vẫn hai bàn tay trắng, vợ con bỏ nhà đi không biết đâu mà tìm.

Nhưng ông cũng thất vọng về con, tiếc công nuôi con ăn học  khôn lớn và trưởng thành. Người có học lại được rèn luyện trong chiến đấu mà thiếu dũng cảm, xem xét, phán xử vấn đề thiếu khách quan và công bằng như thế thì thật là buồn.  Khi gia đình bên ấy nhờ người đến báo cái Huyền có thai với thằng Dân, ông biết ngay chẳng thằng con ông thì ai vào đây nữa. Vì ông biết chúng thương yêu nhau và gắn với nhau như nhựa. Cái sai lầm lớn nhất của ông là không vui mừng đón nhận con, cháu mà đem lòng hận thù trước đây của ông và ông Huyền để đối xử với con, cháu. Gia đình ông Huyền thì nóng nảy gây chuyện tày đình. Hậu quả là con, cháu ông phải gánh chịu. Thế rồi ông lấy quyền làm cha để nóng nảy với thằng Dân. Ông đứng ở địa vị người cha mà phán quyết nó nên nó không chịu nổi. Tại sao hôm  ấy ông lại nóng nảy và khùng lên như con trâu điên?

Hai bố con, trời không chịu đất thì đất chịu trời vậy. Ông phải kéo con trở về và giữ nó bên ông. Mệt quá, ông Dân ngủ thiếp đi. Mờ mờ sáng, từ ngoài ngõ, ông Tục, đội trưởng sản xuất gọi toáng lên:

- Ông Dân ơi! Sáng nay bừa đồng Bứa nhé!

Ông Dân vội mở mắt trả lời:

- Vâng! Vâng!

Ông Dân vùng dậy vác bừa, lùa trâu đi. Cánh đồng Bứa lọt giữa hai triền núi, bùn lầy nước sâu. Nơi đây chỉ có bừa cho chìm và rập cỏ xuống dưới bùn, nước, không phải cày. Nói đến hai tiếng đồng Bứa thợ cày, thợ cấy đều giãy nảy như đỉa phải vôi. Công bừa, công cấy gấp đôi nơi khác. Vì chiếu cố gia đình ông Dân khó khăn, đông con nên ông Tục thường dành những công việc nhiều công điểm khoán cho ông Dân. Thêm nữa, ông Dân cũng mạnh khỏe, chịu khó, ít suy bì,  tị nạnh.

Ông Dân lùa trâu xuống ruộng. Bùn, nước sâu đến ngập ức trâu, trên đùi ông. Người và trâu vừa rạch, vừa ngoi như con cá rô đi từ bờ bên này sang bờ bên kia. Con trâu cứ nghiêng bên này rồi nghiêng bên kia một cách nặng nề, vất vả để từng bước tiến lên.

Khi mặt trời vượt khỏi ngọn núi trước mặt. Nắng nóng gay gắt. Trâu thở phì phò.Thỉnh thoảng con trâu lại đập sừng sanghai bên xua đuổi ruồi muỗi. Nước bắn tung tóe. Con trâu cảm thấy khoan khoái, dễ chịu hơn. Nó lại miệt mài kéo bừa. Ông Dân cố gắng bước để theo kịp con trâu. Mồ hôi ướt đẫm vai áo, ông Dân thấm mệt nhưng vẫn cố sức đi tiếp.

Nắng gắt quá. Mệt quá, con trâu nằm ềnh xuống ruộng. Ông Dân quát mắng mỏi miệng và lấy roi quất vào hai bên mông. Những vết roi hằn như con trạch mà con trâu cứ ỳ ra đó. Đổi chiến thuật, ông dỗ dành nó. Cố lên con! Một chút nữa thôi. Bừa xong, tao đãi bát cháo cám, bù vào sự vất vả này.  Con trâu chẳng thèm để ý tới lời ông. Trâu nằm chềnh ềnh ra ruộng, thản nhiên nhai trầu bỏm bẻm. Thương trâu quá, ông tháo bừa cho trâu nghỉ gặm cỏ.

Vào rừng, chặt một đoạn cây, ông buộc cây vào hai bên thiếu. Ông bắc vai trâu vào vai mình, thay trâu bừa ruộng. Đoạn cây được ông kéo đi khắp ruộng, cỏ bị vùi dập xuống ruộng phẳng lì. Bùn, nước ngập trên đùi non, khi lên tới bẹn. Bùn nước còn bắn lên ướt sũng cả áo. Ông cứ phải nghiêng bên này, rồi lại nghiêng bên kia lạch từng bước mà đi lên.

Mệt quá, ông lên bờ ngồi nghỉ. Chân tay run bần bật, mồ hôi vã ra như tắm. Mắt hoa, nhìn mặt trời cứ tưởng bảy tám ông mặt trời. Tối qua, hầu như ông thức trắng đêm. Sáng nay đi bừa chẳng có gì nhét vào bụng. Nghĩ tới trách nhiệm, nghĩ tới sự tín nhiệm của ông đội trưởng Tục, nghỉ một lúc, ông lại tiếp tục bừa cho bằng xong.

Bừa xong thửa ruộng. Mặt trời vừa đứng bóng. Người ông mệt lả, chân không buồn bước. Nhưng ông rất vui. Buổi sáng, ông được 5 công. Ông có thêm gạo nuôi con. Ông lại quên tất cả nỗi cực nhọc.

Trời còn tối đất, nhìn chưa rõ mặt người. Cuối thu, chớm đông, trời se se lạnh. Bờ cỏ hai bên đường ướt đẫm sương đêm. Ông Dân xách túi rời nhà xuống Hà Nội thăm con. Mặc dù, từ nhà tới ga, ông phải cuốc bộ hai tiếng đồng hồ. Ông hăm hở, quên cả mệt nhọc vì lòng ông rất vui. Đi sớm càng tốt, chờ tàu cũng được. Trong túi ông chỉ có nắm cơm ăn đường, một nải chuối tiêu, 30 quả trứng gà mà ông thấy nặng quá, mỏi rã cả tay. Để có quà cho con như thế, gia đình ông phải dành dụm cả tháng.

Tàu chuyển bánh, ông Dân mở cơm nắm ra ăn. Nắm cơm to quá, ông chỉ ăn hết một nửa. Nửa còn lại ông dành để ăn trưa.

Đúng 12 giờ tàu đến Hà Nội. Ông ngồi nghỉ ở gốc cây cổ thụ ven đường, mở gói ăn nốt nắm cơm còn lại. Một giờ sau, ông tới trường. Vừa đúng lúc Dân ngủ dậy. Gặp bố, Dân vui lắm. Anh nở nụ cười tươi rói:

- Bố ăn cơm chưa? Bố xách gì nặng thế?

- Bố ăn cơm rồi! Của nhà, cây vườn, bố mang cho con nải chuối tiêu và ba chục quả trứng gà để con bồi dưỡng!

- Bố mẹ già rồi! Tại sao không để những thứ ấy ở nhà bồi dưỡng. Con trẻ khỏe, ăn uống thế nào cũng xong!

- Xuống thăm con chẳng lẽ lại đi tay không à? Bố nhớ con lắm.

- Con nhớ bố mẹ quá, nhưng ngặt vì bận học quá. Nghỉ lâu quá. Quên hết nên phải cố gắng bố ạ!

- Bố cũng nhớ con lắm. Mẹ con còn sốt ruột hơn.

- Chiều nay con phải lên lớp. Bố ở nhà nằm nghỉ.

Dân dứng dậy dọn dẹp, rũ chiếu để bố nằm nghỉ, rồi xin phép đi học. Thái độ và cách cư xử của Dân khiến ông Dân rất vui. Nằm xuống là ông ngủ ngay. Chiều ấy Dân mua thêm thức ăn và lấy cơm ở nhà bếp tập thể. Hai bố con vừa ăn cơm vừa nói chuyện vui vẻ. Cả ông và con không ai nhắc tới chuyện cũ. Ông say sưa kể chuyện gia đình, chuyện Hợp tác xã. Dân báo cáo với bố về sức khỏe và tình hình học tập:

- Con nghỉ học lâu quá, kiến thức rơi vãi khắp chiến trường. Bây giờ trở lại trường, con phải cố gắng lắm mới theo kịp bạn bè. Bố mẹ thông cảm cho con.

 Ông Dân được lòng như cởi tấm lòng. Ông nói:

- Bố mẹ nào giận con. Khi nào biển Đông hết nước thì bố mẹ mới hết lòng thương con.

- Tối con phải học bài, bố cứ ngủ trước. Hôm nay, hai bố con ngủ chung cho vui.

-Ngày mai, bố về sớm.

- Bố cho con gửi lời hỏi thăm mẹ và các chú, các bác,các em.

Trở lại trường sau bao năm gián đoạn học tập. Đây là một thách thức lớn, đòi hỏi Dân phải nỗ lực, cố gắng phi thường. Anh ở lì tại trường. Chỉ có dịp Tết anh mới về thăm gia đình. Anh như ông thầy tu, cả ngày chỉ biết tụng kinh gõ mõ, quên hẳn chung quanh. Ngoài  giờ lên lớp nghe giảng, anh tới thư viện. Anh vừa đọc, vừa ghi chép. Buổi tối, anh không bao giờ ngủ trước 12 giờ đêm. Chỉ có dùng tất cả thời gian vào học tập, lòng anh mới vợi đi nỗi nhớ vợ con. Anh cần mẫn như ong tìm kiếm nhị hoa. Nhưng ở đời được mặt này thì mặt kia lại sa sút, kém nhất là sức khỏe. Cuối năm, anh nhận bằng tốt nghiệp loai ưu, được giữ lại trường học tiếp để làm cán bộ giảng dạy đại học. Để có kết quả này, anh sút mất 3kg, người gầy còm ốm yếu. Nhưng đó là phần thưởng lớn đối với anh. Điều mà trước đây anh không dám mơ ước.

Anh vội vàng báo cáo và xin ý kiến bố mẹ. Anh nói:

- Thực tình con muốn học tiếp để làm cán bộ giảng dạy, việc này nhiều người mơ cũng chẳng được. Nhưng sức khỏe của con lại không tốt. Vì thế con muốn xin về dạy cấp ba.

Bố anh lòng tràn ngập vui sướng. Ông viết thư trả lời con:

Bố mừng và tự hào lắm. Nhưng quyết định thế nào là tùy con, bố không can thiệp

Dân được phân công về dạy ở một trường cấp ba thuộc tỉnh Vĩnh Phú. Từ nhà anh đến trường khoảng 15 km, đường núi, nhiều dốc khó đi. Anh phải ở lại sinh hoạt tại trường. Phương tiện đi lại khi ấy chủ yếu là chiếc xe đạp. Điều quan trọng hơn cả sức khỏe của anh không cho phép anh đạp xe đi lại hàng ngày. Nếu bận việc, một tháng, hai tháng anh mới về thăm gia đình. Nhưng có khi chỉ nửa tháng, một tuần anh lại đạp xe về thăm bố mẹ.

Mười bảy năm giảng dạy ở trường này, khi còn là anh lính mới “tò te” về trường. Đến nay, anh “lên lão” trở thành giáo viên lâu năm nhất trường. Gia tài, anh tích cóp những năm qua: Một chiếc giường cá nhân, trên mặt phủ chiếc chiếu đã sờn cũ. Giường kiêm luôn cả tủ đựng quần áo, chăn màn. Đó là kiểu giường có hòm ở đầu giường. Người ta nghĩ ra kiểu giường này là rất phù hợp với điều kiện kinh tế hồi bấy giờ. Người tạo ra nó chắc được cấp bằng “sáng chế” như ai đó sáng tạo ra “rô bốt” thời nay. Quần áo chưa mặc, gói vào túi ni lông để ở đầu giường làm nhiệm vụ của cái gối. Giữa phòng kê bộ bàn ghế, vừa dùng để tiếp khách, là bạn bè và phụ huynh học sinh tới thăm, vừa dùng để làm việc, và là bàn ăn cơm. Góc giường là cái bếp dầu và mấy cái xoong, nồi. Một miếng ván đặt trên mấy hòn gạch dùng làm chạn bát, đũa. Tiền thân của nó là cái ngăn kéo “bàn chết”. Phía đuôi giường là kệ sách. Vốn là những phần thành giường, thành bàn đã được “khai tử” ghép lại với nhau bằng những cái đinh. Nhờ bàn tay tài hoa, khéo léo, bào nhẵn, ghép lại và đóng đinh nên không đến nỗi thô kệch và chướng mắt. Kệ sách khá phong phú, sắp xếp ngăn nắp gọn ghẽ. Sách nằm trên kệ chủ yếu là phục vụ cho giảng dạy hàng ngày. Những sách quý hiếm đắt tiền cất kỹ ở cái hòm đuôi giường, khóa cẩn thận. Một cái điếu cày dựng ngay ở đầu bàn. Trên nền nhà lổn nhổn những bã thuốc lào. Căn phòng thoảng mùi thuốc lào khen khét.

Căn phòng là nơi dừng chân, nghỉ ngơi, uống nước của những giáo viên trống giờ. Phòng rộng rãi lại gần văn phòng nhà trường. Từ đây đến các phòng học không xa, đường đi lại dễ dàng và sạch sẽ. Phòng luôn mở cửa. Chỉ khi trời rét mới khép. Thầy cô giáo tự do ra vào. Mọi chuyện ở trường như: Ông A đến muộn bị trực tuần không cho vào lớp. Cô B quản lý lớp không tốt, ồn ào như cái chợ. Ông C vợ mới đẻ. Bà E mất sổ gạo mặt méo như cái bị rách… đều được thông báo tới mọi người, coi như “chuyện vui nhà giáo” Buổi trưa, nếu cần ở lại để dạy tiết một buổi chiều hoặc phải họp nhiều giáo viên vẫn góp gạo nấu cơm chung với Dân. Những buổi vui vẻ, họ góp tiền mua thịt, rượu cùng ăn với nhau. Ở đây không có chủ, khách. Người vo gạo, người nhặt rau, người xách nước, người thái thịt. Bát đũa thiếu, chạy tới các gia đình giáo viên trong khu tập thể mượn..

Dân là người chung thủy với bếp ăn tập thể nhất. Vì anh muốn dành nhiều thời gian cho việc học hành. Nhưng cái chính là anh ngại đun nấu. Bếp tập thể bị “khai tử” cùng với cơ chế bao cấp, anh buộc phải sắm bếp dầu, xoong nồi, bát đũa nấu ăn riêng. Bạn bè, đồng nghiệp quý mến, thương yêu Dân nên phòng anh không bao giờ vắng khách. Bạn bè, đồng nghiệp chẳng may vợ ốm, con đau hoặc có việc riêng phải nghỉ được lãnh đạo nhà trường đồng ý, anh sẵn sàng dạy thay không hề suy tính. Nếu các đồng chí trong tổ có việc hiếu, hỷ anh thăm hỏi chu đáo và sẵn sàng giúp đỡ không tiếc công sức.

Thế nhưng không hiểu vì sao, xấp xỉ ngũ tuần mà Dân vẫn “phòng không”. Có người gọi đùa “Đại tướng phòng không” anh chỉ cười. Nếu có ai hỏi: Anh định cắm sào đợi ai? Anh ngồi im không nói. Anh sống trong một thế giới riêng đầy bí ẩn. Nếu ai hỏi chuyện vợ con, anh ngồi lặng, mắt nhìn đâu đâu coi như không nghe, không biết. Trong tổ có ý định ghép anh với cô giáo cùng môn. Xem chừng, cô ấy cũng ưng thuận. Dân đánh bài chuồn coi như không nghe, không biết. Có người đoán anh không có cái số ta, hoặc của quý đó bị hỏng. Họ bàn nhau, tổ chức khám xét. Anh không phản đối, trốn  tránh. Anh sẵn sàng hiến mình làm vật thí nghiệm. Họ muốn làm gì anh chiều hết.

Anh là người chịu đọc, chịu học. Ngoài giờ lên lớp, soạn bài, chấm bài thì toàn bộ thì giờ còn lại anh đều dùng cho việc đọc, học. Một năm chỉ có ngày Tết, ngày hè là Dân vắng trường. Dân được mọi người đặt cho cái biệt danh “Dân bám trường, bám lớp”.

Mười bảy năm qua, “Dân bám trường, bám lớp” học thêm được hai ngoại ngữ là Anh, Pháp và đang tiếp tục học thêm Hán Nôm theo học lớp tiến sĩ tại chức. Nhiều năm “Bám trường, bám lớp” được bầu là giáo viên dạy giỏi, chiến sĩ thi đua. Vì anh có học sinh giỏi cấp tỉnh và quốc gia. Những giờ thao giảng nhân ngày 20-11 và 22-12 giáo viên toàn trường tới dự. Có những giờ người đến dự còn đông hơn cả học sinh. Tiết học phải dạy trên hội trường mới đủ chỗ ngồi. Một cô giáo dạy sinh vật nhận xét:

- Nghe anh Dân dạy văn, tôi càng thêm yêu văn học. Yêu thực sự. Đôi khi tình cảm trỗi dậy, yêu luôn cả người dạy văn.

Hiệu phó Hào vừa cười, vừa nói:

- Nếu cô đồng ý lấy Dân để tôi giới thiệu.

Cô ấy không nói gì, mặt đỏ như trái bồ quân chín.

Tập thể giáo viên giới thiệu “Bám trường, bám lớp” vào Ban lãnh đạo nhà trường. Qua bỏ phiếu kín, Dân được 95% phiếu đồng thuận, nhưng anh một mực khước từ.

- Cám ơn các đồng chí yêu mến và tín nhiệm. Nhưng tôi sức khỏe yếu, năng lực quản lý kém. Các đồng chí cho tôi thời gian rèn luyện và phấn đấu.

Đó là cách từ chối khéo rất khiêm tốn. Nhiều người bực tức đặt câu hỏi tại sao “Bám trường, bám lớp” khước từ tín nhiệm của tập thể? Mùa hè năm nào “Bám trường, bám lớp” cũng không về nhà, không ở trường, đi đâu, làm gì ai biết không. Đó là sự mờ ám, chúng ta cần tìm hiểu xem…

*

*       *

 13. Gần hết hè, Dân mới về thăm bố mẹ và các em. Ông Dân ngạc nhiên hỏi ngay:

- Tại sao nghỉ hè ba tháng mà bây giờ con mới về thăm nhà?

Dân chống chế, vui vẻ nói:

- Bố mẹ thông cảm. Con theo học lớp trên Đại học và chuyên ngữ tiếng Anh. Sau đó, vui bạn bè lên Lào Cai nghỉ mát một chuyến. Đây là dịp may hiếm bố ạ! Nếu không có bạn bè giúp đỡ, con đi sao nổi.

Ông Dân nói:

- Con nói vậy bố tin. Nhưng bố thấy con ít quan tâm đến gia đình!

- Bố thứ lỗi cho con.

Tối hôm đó, Dân tới thăm và biếu quà ông bà Huyền và các em. Bà Huyền nhanh nhảu hỏi ngay:

- Anh đi đâu về mà cho chúng tôi quà nhiều thế?

- Con đi thăm Lào Cai, Yên Bái!

Cái Đào liền hỏi:

- Có gì vui, anh kể cho cả nhà cùng nghe?

Dân nở nụ cười vui. Thật là một chuyến đi có một không hai ở đời. Nó để lại cho anh nhiều kỷ niệm khó quên. Lên tới Thị xã Yên Bái. Anh thuê nhà trọ nằm ở giữa ga và bến xe thị xã Yên Bái cho thuận tiện việc đi lại. Tìm được nhà trọ lý tưởng như vậy không phải là dễ, có khi mất cả buổi.

Hàng ngày, khoảng 8 giờ sáng là anh có mặt ở nhà ga. Anh như người đi tàu, chờ tàu. Nhưng anh quan sát, theo dõi, tìm kiếm trong số người lên tàu, xuống tàu và cả người chờ tàu nữa. Nam giới không nằm trong tầm nhìn của anh. Đối tượng anh quan sát, tìm kiếm là nữ giới. Bà già, con nít bỏ qua. Anh đặc biệt chú ý phụ nữ tuổi từ 35đến 45. Vì khuôn mặt, nước da, dáng đi sẽ phản ánh đúng độ tuổi. Nhưng rất nhiều người mặc dù ở độ tuổi ấy, do hoàn cảnh kinh tế, đời sống có thể trẻ hơn hoặc già hơn. Nên từng trường hợp cụ thể mở rộng đối tượng hơn. Nhưng khốn khổ cho anh, phụ nữ thường hay đội nón, che kín mặt. Nhiều khi đứng xa không quan sát nổi. Gặp trường như vậy, anh phải tìm cách đến tận nơi bắt chuyện. Chẳng hạn chị đi tàu ngược hay tàu xuôi, kiếm cớ hỏi thăm đường, làm quen khi chờ tàu v v …

“Phục” ở nhà ga cả tuần mà chưa thấy đối tượng cần tìm. Anh rất buồn! Anh nghĩ, đã lên tới đây rồi, thì nên kiên trì. Nhưng sáng đi hăng hái, nhiệt tình. Chiều về buồn tênh. Nỗi cô đơn trống vắng tràn ngập tâm hồn. Chân anh bước trên đường mà chẳng biết đi đâu. Anh lại về nhà trọ.

   Bến xe Yên Bái người đi lại tấp nập, nhộn nhịp. Xe ra, vào bến cứ ầm ầm, còi inh tai. Nắng lên, hào phóng tưới khắp bến xe. Có lẽ ở nơi đây nắng lên muộn hơn thì phải. Nắng lên, những chiếc xe sơn màu bạch kim chói sáng, nhìn loang loáng. Các xe sơn màu sẫm trở lên tươi sáng hơn. Bến xe không thiếu gì người bán hàng hai bên đường. Nhiều hơn cả là hàng quà bánh. Người đông như kiến cỏ. Vừa lúc ấy, Dân có mặt ở bến xe. Bỗng anh nhìn thấy người phụ nữ mặc áo màu tím hoa sim. Liệu có phải người anh đang tìm kiếm. Nhưng người ấy đội nón che kín mặt. Anh chỉ nhìn thấy sau lưng và dáng đi. Anh quyết định đuổi theo. Anh nhào lên chạy theo. Thấy anh chạy có người hốt hoảng kêu “Cướp! cướp” người này chuyền người kia “Cướp! cướp”. Có người chạy đuổi theo.

Mải đuổi theo bóng áo tím, anh chẳng còn để ý tới ai. Vừa đến chỗ rẽ, anh loạng choạng đâm ngay vào bà già bán bún sườn. Đổ hết nồi canh và rá bún của bà đó. Anh thản nhiên cứ rượt đuổi. Bến xe náo động. Đồn công an ngay gần đó. Thấy có tiếng người kêu “Cướp”. Công an có mặt kịp thời. Anh bị bắt. Chẳng hiểu tội gì? Họ yêu cầu anh tường trình sự việc xảy ra. Anh nói, tôi lên đây tìm em gái. Vừa trông thấy một người mặc áo tím, dáng đi giống em gái tôi. Tôi liền đuổi theo nên không nghe thấy tiếng kêu và không may làm đổ gánh bún của cụ già. Cụ ấy như mẹ tôi ở nhà. Tôi nhận khuyết điểm, xin lỗi cụ và mọi người. Tôi xin bồi thường những thiệt hại gây ra cho cụ. Thấy anh nói vậy, cụ già thương tình. Cụ nói:

- Bún bán gần hết rồi, còn không đáng kể. Ở đời, ai chẳng có lúc nhỡ nên tôi không bắt anh ấy đền!

 Anh mừng rỡ, đứng dậy chắp tay nói:

- Con cảm ơn mẹ.

Người mặc áo màu tím, dáng đi giống Huyền khiến anh chạy thục mạng đuổi theo mà vẫn không kịp. Buồn bã, mờ mờ sáng hôm sau, anh nhảy tàu đi Lào Cai. Như ở Yên Bái, anh thuê nhà trọ gần bến xe và nhà ga. Cứ sáng ra bến xe. Chiều về nhà ga. Anh thu mình vào nơi khuất quan sát, tìm kiếm kiên trì không biết mệt mỏi. Ngày lại ngày, không vẫn hoàn không. Anh tự hỏi Huyền có thể đi đâu? Huyền có thể từ Vĩnh Phú đi tàu lên Yên Bái, Lào Cai để tìm việc làm. Nhưng giả định của anh chưa có lời giải, một ẩn số khó tìm. Quyết tâm đi tìm Huyền của anh không giảm mà luôn luôn được hâm nóng. Nhưng thời gian, tiền bạc hết sạch sau một năm dành dụm, tích cóp. Anh phải quay về chuẩn bị cho năm học mới.

Nghe tới đây, cả nhà đều thông cảm và thương anh gấp bội. Bà Huyền và mấy cô em gái, em dâu đều nước mắt ngắn, nước mặt dài. Riêng ông Huyền ngồi lặng yên.Một lúc sau ông nói:

- Việc làm của anh thể hiện lòng thương vợ, thương con như núi cao, biển rộng. Điều đó bố mẹ rất trân trọng và quý mến, đó là sự khác biệt giữa anh và những người xung quanh. Có được người con rể như anh khác nào trong nhà có vật quý báu. Anh đi tìm mẹ con nó khác nào mò kim đáy biển. Vợ chồng tôi bàn bạc với nhau rồi. Chúng tôi bắt chước cụ Nguyễn Du trong truyện Kiều đem duyên em thay duyên chị. Chúng tôi đã hỏi ý kiến em Đào, em gái của Huyền rồi. Đào rất quý mến và thương yêu anh. Khi chúng tôi nói, anh biết Đào trả lời thế nào không? Đào e thẹn, mặt đỏ bừng ngập ngừng nói: - Tùy bố mẹ quyết định. Con gái nói thế là đồng ý rồi còn gì nữa. Sau này tìm được Huyền thì chị vẫn là chị, em vẫn là em. Một nhà đoàn tụ càng vui anh Dân ạ! Đó là tấm lòng của vợ chồng tôi. Anh đùng từ chối.

- Con xin cảm ơn bố mẹ! Con không thể tham lam theo kiểu hoa thơm bấng cả cụm. Con không thể phản bội Huyền để lấy bất kỳ người phụ nữ nào. Nếu con lấy Đào, khi tìm thấy Huyền, chúng con không thể thành vợ chồng được. Vì luật pháp không cho phép, mặc dù con và Huyền đã con với nhau tuy chưa có cưới xin. Bây giờ lấy Đào con phải cưới xin đoàng hoàng, phải được pháp luật công nhận, phải báo hỷ với dân làng. Luật hôn nhân gia đình của nhà nước quy định một vợ, một chồng. Huyền sẽ là người đứng ngoài nhìn hạnh phúc của con với Đào. Như thế không xong về mặt pháp luật và không ổn về mặt tình cảm, đạo đức.

Bà Huyền nói thêm:

- Anh Dân ạ! Anh đừng tự làm khổ mình nữa. Anh cứ nghe vợ chồng tôi đi. Tội lỗi, vợ chồng tôi nhận tất.

Thân là con trai ông Huyền cũng hùa vào:

- Anh Dân đừng quan trọng hóa vấn đề. Thế gian đầy người cưới vợ chui, chẳng cần đến pháp luật. Vấn đề cốt lõi là gia đình ta đồng thuận, không để xảy ra mâu thuẫn là được.

- Con đã nói hết lẽ rồi, xin bố mẹ và gia đình đừng ép nữa. Nói như em Thân lại càng không được, anh là một đảng viên, người ta không bỏ qua đâu. Một lần nữa con xin cảm ơn bố mẹ và các em.

   Ông bà Huyền không nói gì thêm. Và từ đấy mối quan hệ giữa gia đình ông Huyền với Dân mở ra trang mới, gắn bó và sâu sắc hơn..

   Mỗi lần về thăm quê, Dân không quên đến thăm ông bà Huyền. Tết nào Dân cũng đến đón xuân và chung vui cùng gia đình. Có miếng gì ngon, ông bà Huyền cũng dành cho Dân. Thỉnh thoảng Dân lại mua biếu ông bà bộ quần áo. Đôi khi Dân còn mua thuốc bổ để ông bà bồi bổ sức khỏe. Quan hệ giữa hai gia đình ông Huyền và ông Dân cũng bớt căng thẳng. Khi giỗ cha mẹ hai bên đều mời nhau. Người mời đầu tiên là ông Dân và sau đó thành lệ.

*

*      *

14. Mùa hè năm sau, Dân lại tiếp tục  cuộc hành trình đi tìm Huyền. Lần này, Dân đi  Cao Bằng - Lạng Sơn. Giữa đường Dân dừng lại ở Bắc Giang, Thái Nguyên. Mỗi tỉnh anh dừng lại một tuần. Từ nhà ga đến bến xe ô tô, anh đều tìm đến. Lúc ẩn vào nơi kín đáo để tìm kiếm. Khi giả làm người đi tàu, đi xe lẫn vào dòng người đông dúc, nhộn nhịp để quan sát, theo dõi. Gặp những người có dáng giống Huyền, anh cố gắng tiếp cận để nhìn thật kỹ.

Đêm nay, Dân ngủ tại ga để có thể tìm Huyền trong số những người đi tàu đêm. Anh thấy thiếu sót lớn là bỏ lỡ, bỏ phí mất nửa thời gian. Thời gian đối với anh quý hơn vàng. Thời gian là người chiến thắng. Vì không nắm được lịch chạy tàu nên anh đến muộn.

Gần sáng còn hai chuyến tàu nữa. Nếu về nhà trọ sợ ngủ quên, anh trải tấm ni lông ngủ tại phòng chờ của nhà ga. Người ở đâu mà đông như kiến cỏ, nằm ngổn ngang, la liệt kín cả phòng chờ. Nóng ngoài trời, nóng từ cơ thể người phả ra. Ngoài trời cây cối im phăng phắc. Cứ nóng hầm hập thế này thì chịu sao nổi. Phòng chờ nóng như cái chảo rang. Người nào, người ấy đều mong có làn gió thổi tới dù là nhỏ. Nếu vài ba giờ nữa mà không có gió, không mưa thì mấy đứa trẻ sẽ chết ngạt mất. Tiếng khóc của trẻ nhỏ, tiềng đàn muỗi vo ve khiến Dân không sao ngủ nổi. Anh liền tay phe phẩyy cái khăn mặt. Muỗi đâu mà nhiều thế, Dân chỉ quờ tay đã vớ được muỗi rồi. Đắp kín mặt thì chúng lại đốt dưới chân. Đôi bàn tay thì một tay phải ôm cái túi mang theo, còn tay kia xua chỗ này thì chúng tia nơi khác. Mệt mỏi quá, trở mình liên tục. Dân không tài nào ngủ nổi. Mắt cay xè, đầu nhức như búa bổ. Người nhơm nhóp mồ hôi vì nằm trên tấm ni-lông.

Một lúc lâu, tiết trời dịu mát, đàn muỗi chắc cũng no bụng  nên “bỏ quên quý khách”. Dân vừa chợp đi một lúc, bỗng nghe tiếng kêu thất thanh của người phụ nữ: “Trộm! Trộm!”. Dân choàng mắt, tỉnh dậy. Tay anh vẫn ôm cái túi xách. Anh cảm thấy yên tâm. Cái túi vẫn còn,  anh giữ túi cẩn thận hơn, ngoắc dây túi vào tay. Dân định ngủ tiếp nhưng chỉ ngủ gà, ngủ vịt. Bỗng thấy người phụ nữ khoảng 50 tuổi đang ngồi kêu khóc:

- Trời đất ơi! Kẻ cắp lấy hết tiền bạc đồ dùng của tôi rồi. Các ông nhà ga ơi! Các ông công an ơi! Tìm giúp tôi cái túi với! Phải bắt kẻ trộm cắp đền tội và lấy lại cái túi cho tôi.

   Nghe tiếng kếu ngày càng lớn và thống thiết, hai anh công an đường sắt xuất hiện, đến phòng chờ xem xét tình hình. Trời sáng rõ. Người phụ nữ nhìn rõ cái túi của mình nằm gọn trong lòng Dân. Chị ta vui mừng kêu lên:

- Cái túi của tôi đây rồi! Kẻ trộm cắp ngang nhiên, đàng hoàng ngủ tại phòng chờ, có ghê gớm không? Anh công an khẽ khẽ đập tập tay vào người Dân. Dân mệt mỏi lăn qua, lăn lại, ầm ừ… Anh miễn cưỡng ngồi dậy, mắt nhắm, mắt mở. Nhìn thấy hai anh công an, anh tỉnh hẳn. Anh công an hỏi:

- Tại sao anh lại lấy cắp túi của chị này?

Dân tức giận hét lên:

- Đề nghị các anh cẩn thận khi phát ngôn. Đây là túi của tôi. Tôi không thèm lấy cắp!

Người đàn bà không kìm nổi tức giận. Bà chạy lại giằng lấy cái túi của mình. Dân co người kéo lại, cố giữ chặt lấy túi. Người kéo đi, người kéo lại. Người đàn bà gầm lên:

- Đây là túi của mày à?

- Đây là túi của tôi. Chị đừng có vu khống đặt điều!

Hai anh công an bảo Dân buông tay, đưa túi cho bà ta. Bà ấy mở túi ra. Trong túi đựng toàn quần áo phụ nữ, có cả đồ lót và gương lược. Bà ấy chìa những thứ ấy trước mặt Dân và gay gắt hỏi:

- Đây là túi của mày à? Túi đựng gương lược và đồ lót của bà nội mày! Mày còn cãi nổi không?

Nhìn cái túi, Dân ngạc nhiên, hốt hoảng lúc ấy anh mới nhạn ra cái túi của anh đã không cánh mà bay. Dân kêu lên:

- Túi của tôi đâu? Khi nằm ngủ, tôi vẫn còn ôm túi cơ mà! Cẩn thận hơn, tôi còn ngoắc quai túi vào tay!

Người đàn bà mất túi mỉa mai:

- Đi mà hỏi cái túi của mày, không biết xấu hổ, gái đĩ con già mồm. Trông mặt mũi sáng sủa thế kia mà đi ăn cắp. Hai anh công an ngăn lại và mời hai người về cơ quan làm việc. Khi mở túi xách ra, các đồ dùng còn nguyên nhưng tiền bạc mất sạch. Anh công an hỏi Dân:

- Anh còn gì để nói không? Tiền bạc của bà ấy anh để đâu hay đã tiêu những gì? Anh công an lục soát túi áo của Dân. Chỉ có ít tiền ăn đường, giấy chứng minh thư nhân dân ghi nghề nghiệp dạy học và một thẻ thương binh. Anh công an hỏi giọng mỉa mai:

- Anh là thương binh, là thầy giáo mà đi ăn cắp à? Khi đứng trên bục giảng, anh nói về đạo đức với học sinh thế nào? Chẳng lẽ bảo chúng đi ăn cắp như thầy à?

Không kiềm chế nổi khi bị xúc phạm tới nhân cách người thầy giáo, Dân  phản đối gay gắt:

- Cấm anh lăng mạ tôi khi sự việc chưa rõ ràng. Tôi nhỡ tàu phải ngủ lại nhà ga để đi chuyến tàu sáng mai. Suốt đêm, tôi không hề chợp mắt vì nhà ga lắm muỗi và bẩn quá. Gần sáng tôi vừa chợp mắt, còn ngủ gà, ngủ vịt thì nghe tiếng kêu thất thanh “Trộm! Trộm!”. Mở mắt ra, túi còn trong tay nên tôi lại ngủ tiếp. Ngờ đâu, kẻ gian lại xảo quyệt đến thế là cùng. Chúng lấy túi của người này ngoắc vào tay người khác để đánh lạc hướng điều tra của công an, tạo ra sự  nghi ngờ trong nội bộ nhân dân chúng ta, còn chúng vẫn nhởn nhơ ngoài vòng pháp luật. Nếu tôi là kẻ cắp, không dại gì ôm cái túi lấy cắp được ngủ tại nhà ga. Làm thế khác gì lạy ông tôi ở bui này, nằm chờ các ông tới bắt. Tôi có thể lầy hết tiền bạc, quẳng cái túi ra ngoài sân ga, quay lại ngủ ngon lành mà vẫn bình yên vô sự.

Người đàn bà mất của không để lọt tai những lý lẽ của Dân. Chị ta gay gắt:

- Tang vật sờ sờ ra đấy vẫn còn ngoan cố không chịu. Tôi đề nghị các anh công an tống nó vào nhà tù và bắt nó hoàn lại số tiền cho tôi. Những loại người này chỉ có nhà tù, chỉ có nhà tù mới tâm phục, khẩu phục và nhận ra lẽ phải, biết đạo lý làm người. Nhà tù sẽ làm cho nó câm họng, không cãi láo nữa. Cuối cùng phải tống cổ loại người này ra khỏi ngành giáo dục. Thầy bà gì cái tụi ăn cắp, ăn trộm. Con sâu bỏ rầu nồi canh, làm xấu cả ngành giáo dục. Con cháu tôi nhiều người đi dạy học, chắc không chịu nổi những loại người này ở trong ngành.

 Hai người nói qua, nói lại không dứt. Càng nói, lý lẽ của người đàn bà càng sắc sảo, mạnh mẽ, dễ thuyết phục người nghe. Trái lại Dân càng lâm vào thế bí, bất lợi, không biết làm thế nào thoát khỏi cái trận đồ bát quái này. Chẳng ai thừa nhận anh mất túi. Tang vật còn nằm sờ sờ ra trước mặt mọi người.

Anh công an nói:

- Nghe anh trình bày, tôi thấy có lý, có sức thuyết phục. Nhưng cái túi đánh đổ tất cả, lý lẽ của anh, niềm tin của chúng tôi. Trước mắt chúng tôi lập biên bản giữ anh lại.

Thật hú vía. Ngay lúc đó, các anh công an đi tuần tra dẫn tên kẻ cắp tới. Lúc gần sáng, khi đang làm nhiệm vụ, các anh phát hiện thấy tên này ôm túi chạy qua bờ rào. Các anh bắt nó lại để khám xét. Nhìn thấy cái túi của mình, Dân reo to lên:

- Cái túi của tôi đây rồi. Chúng mày chạy lên trời, chui xuống đất cũng bị kéo xuống, đào lên để trị tội.

Mở túi ra, các đồ dùng của anh còn nguyên. Cuộc lục soát và thẩm vấn nhanh chóng chuyển sang tên ăn trộm.

Công an hỏi tiền bạc của bà này mày để đâu?

- Tôi không biết. Tôi có lấy túi của bà này đâu.

- Anh đừng ngoan cố nữa! Tiền bạc để đâu? Khai mau!

Lục soát túi của nó. Số tiền người bà mất còn nguyên. Thời gian gấp quá, hàng quán chưa bán nên tên trộm chưa kịp tiêu xài được.

Dân được minh oan. Lý lẽ của anh trở nên sắc bén như đao, gươm. Anh nhẹ nhàng hỏi người công an:

- Anh suy ngĩ gì về những lời lăng mạ, buộc tội tôi vừa rồi của anh. Các anh là người cầm quyền, cán cân của pháp luật, cần phải thận trọng khi đánh giá, xem xét một hiện tượng, sự việc. Các cụ dạy: “Ăn phải nhai, nói phải nghĩ” “ Toại chân thì dễ, toại miệng thì khó”.

Anh công an vui vẻ nói:

- Tôi xin lỗi bác. Chúng tôi quả là hơi vội vàng khi xem xét và kết luận. Nếu không bắt được tên trộm, bác ngồi tù oan.

Dân quay sang người đàn bà, nhẹ nhàng hỏi:

- Bây giờ, bà còn đổ lỗi cho tôi nữa không? Còn định bỏ tù tôi nữa không? Khi sự việc chưa chắc chắn, đừng nên buộc tội người khác.

Người đàn bà cười trừ, nói:

- Em xin lỗi bác! Nhìn thấy bác ôm cái túi của em ai mà không tin. Con đau, của xót, em tiếc của, nóng vội cũng là thường tình. Không ngờ tụi nó lại ranh ma, xảo quyệt đến thế khiến anh em mình nghi ngờ lẫn nhau.

Mười mấy năm qua, hè nào, Dân cũng đi tìm Huyền. Bến tàu, bến xe của hầu hết các tỉnh phía Bắc đều in dấu chân anh.. Tiền bạc dành dụm được đều ném vào cuộc đi tìm kiếm này. Sau mỗi chuyến đi, người anh gầy rạc, đen nhẻm. Vì ăn uống thất thường, nghỉ ngơi, tắm giặt không được thoải mái, chân cẳng không được khỏe. Cuộc đời con người chẳng là bao, Dân tự nhủ với lòng mình: “Anh sẽ đi tìm Huyền hết quãng đường còn lại. Kiếp này không tìm thấy Huyền, nếu sau được làm người xin nguyện tiếp tục đi tìm Huyền. Vì anh mà Huyền hiến dâng và hy sinh tất cả. Anh cũng vì em mà không tiếc công sức, tiền của đi tìm. Đó là lẽ công bằng ở đời, đạo lý làm người, là giữ trọn lời thề, lời Huyền dặn lại đêm trăng khi chia tay” . Nhưng đất nước thì dài rộng,  mà bàn chân anh thì ngắn và còn bị thương tật…

 

 

Trần Hải