NHIỆT LIỆT CHÀO MỪNG NGÀY NHÀ GIÁO VIỆT NAM 20/11!
Từ khóa tìm kiếm Từ khóa tìm kiếm

NHÀ VĂN VĨNH PHÚC HIỆN ĐẠI ( Phần 5; Quyển 1)

(Ngày đăng: 19/01/2018, số lượt xem: 187)

 

  

NGÔ LINH NGỌC

 

- Họ và tên khai sinh: Ngô Linh Ngọc

- Sinh năm 1922, mất năm 2004

- Các bút danh: Hồng Linh, Nguyễn Linh, Búa Đanh…

- Quê quán: Thôn Khả Do, xã Nam Viêm, thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc

- Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam (từ 1961)

 

- Tác phẩm chính đã xuất bản:

* Quân đội nhân dân (diễn ca, 1950)

* Bác Hồ, cha của chúng ta (diễn ca, 1955)

* Đêm tàn Bạch ốc, Mỹ cút đi (thơ trào phúng, 1975)

* Tuyển tập văn học Tây Sơn (dịch thơ, 1986)

* Tuyển tập thơ Lê Thánh Tông (dịch thơ, 1991)

* Quan tổng trấn Bắc Thành (truyện vừa, 1994)

* Tuyển tập văn học Nguyễn Du (dịch thơ, 1996)

* Tuyển tập thơ ca trù (biên soạn, khảo cứu với Ngô Văn Phú, 1985)

* Tuyển tập Ngô Linh Ngọc (2004).

 - Giải thưởng văn học:

* Giải thơ báo Cứu quốc năm 1946.

* Giải thưởng dịch văn chữ Hán của Hội Nhà báo Việt Nam năm 1979.

* Giải thưởng khảo luận Nguyễn Khuyến (Hội Nhà báo Việt Nam năm 1980).

* Giải thưởng dịch thơ Lê Thánh Tông (Viện Hán Nôm, 1979).

- Suy nghĩ về nghề văn:

    Theo tôi thơ phải luôn đổi mới và có định hướng, phải hay, có tác dụng bồi dưỡng ý chí cho hiện tại và mai sau. Thơ chữ Hán của tiền nhân chói lọi tình yêu nước, yêu dân, tự hào dân tộc, chói sáng nhân văn, nhân đạo, rất trữ tình, rất đẹp… Tôi đã để nhiều năm dịch các áng thơ hay của Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Cao Bá Quát, Lê Thánh Tông, Tùng Thiện Vương. Mong muốn của tôi là Hội Nhà văn đào tạo những dịch giả Hán Nôm.

 

A - TRONG KÝ ỨC BẠN BÈ

 

CA TRÙ LẠI KHÓC TRI ÂM 

Đàm Quang Minh

 

Ông, người mà cố nhạc sĩ Văn Cao đã gọi là “nhà say mê lớn”, là nhà thơ, nhà văn, nhà báo, nhà dịch thuật, nhà nghiên cứu âm nhạc, nhà kỳ học, tài hoa của ông thể hiện xuất sắc trên rất nhiều lĩnh vực văn hóa. Niềm đam mê lớn nhất của ông là ca trù, với bộ môn nghệ thuật này mà ông đã gắn bó tâm huyết cả một cuộc đời và một phần lớn sự nghiệp thi ca của mình. Bắt đầu nghiên cứu, tìm hiểu về ca trù từ những năm 40 của thế kỷ trước, khi Khâm Thiên, Vạn Thái, Thái hà là những trung tâm của đời sống văn nghệ Hà Nội. Nơi tập trung đầy đủ những danh ca: Chu Thị Năm, Quách Thị Hồ, Nguyễn Thị Phúc, những bậc danh sĩ: Nguyễn Tuân, Vũ Hoàng Chương, Trần Huyền Trân. Ông đã chứng kiến thời kỳ phát triển rực rỡ nhất của môn nghệ thuật này. Ông đã sống trong không khí lãng mạn văn hóa cảu những mối tình giai nhân – tài tử; danh sĩ – danh ca. Nhưng khác với rất nhiều bạn văn cùng thời, những người đi tìm trong tiếng đàn ca, tiếng phách lối thoát, sự giải tỏa tinh thân cho những bi phẫn của cuộc đời. Ông tìm đến ca trù như người tìm đến đạo. Đạo của thi ca, đạo của những mối giao tình tao nhân mặc khách. Với ca trù, ông như Lưu Thần – Nguyên Triệu, đi hái thuốc tìm tiên; Ông như Tư Mã Giang châu, lệ đầm vạt áo xanh khóc cùng người ca nữ. Bao năm vương vấn nợ ca trù của ông là những món “nợ tâm hồn” mà vay trả cả đời không hết.

Do những hoàn cảnh lịch sử, có một khoảng thời gian dài, tiếng hát ca trù lặng im trên đất Việt. Ông cũng sống âm thầm trong nỗi nhớ nhung da diết. Ngày tái ngộ với tri âm đã trào dâng trong ông biết bao cảm xúc. Ông làm bài hát nói “Tặng chị Hồ” ngay trong buổi hội ngọ với nữ danh ca sau bao năm xa cách để nói lên tâm sự của mình.

Lửa binh mấy chục năm trường

Hồ Gươm lại nhớ đến cồn Hà mô

Bồi hồi phách cũ đàn xưa

Thấy người giờ đó mà ngờ chiêm bao.

Trong nguồn cảm hứng, ông đã sáng tác một chùm các bài hát ca trù rất đẹp: “Tin xuân đất nước” – Dấu đẹp hồ Gươm” – “Đêm Paris nghe tiếng hát ca trù”… Ông làm phim “Hát cửa đình Lỗ Khê”, ông xuất bản cuốn “Tuyển tập thơ ca trù”, ông viết rất nhiều bài báo và đi nói chuyện ở rất nhiều nơi về ca trù. Ông đi tham gia biểu diễn nghệ thuật cùng các nghệ sĩ Quách Thị Hồ, Nguyễn Thị Phúc, Phó Kim Đức. Ông cùng những bạn bè tâm huyết trong làng ca công dồn công sức để cố gắng gây dựng, phục hồi lại bộ môn nghệ thuật dân tộc độc đáo này. Nhưng ngọn lửa nhen nhóm của ca trù chưa bùng lên được thì những người thổi hồn cho nó đã lại nối tiếp nhau ra đi về cõi vĩnh hằng. bà Phúc, ông Du, ông Ban, ông Kỳ rồi đến bà Hồ, người thì do tuổi tác, người thì vì bệnh tật.

 “Ba tiếng thùy châu” cũng đã đi vào dĩ vãng, ông Ngô Linh Ngọc, người khách hào hoa phong nhã nhất, người tri âm tri kỷ gắn bó nhất với ca trù cũng đã ra đi. Mất ông, ca trù lại mồ côi một lần nữa. Mất ông, Thăng Long, Hà Nội mất đi một nhà văn hóa lớn, một nhà tri thức với cốt cách thanh cao, một nhà thơ lớn với những niềm đam mê bất tận. Xin phép được dùng lời đôi câu đối viếng ông của chị Thanh Hằng nhà thơ Nguyễn Bình làm lời kết:

Nùng Nhị nho lâm khuynh đại thụ

Tràng An cầm khách thất tri âm.

 Đ.Q.M

  

 

 

 

NHỚ MÃI NGÔ LINH NGỌC

MỘT NHÀ BÁO CHIẾN ĐẤU, MỘT HỒN THƠ TINH TẾ

 

Vũ Hoàng Địch

Nhà thơ Ngô Linh Ngọc đã từ biệt gia đình, bạn bè ra đi vào cõi vĩnh hằng hôm 1 tháng 3 năm 2004 (tức ngày 11 tháng 2 năm Giáp Thân). Trên mấy chiếc xe đi theo xe tang đưa anh về nghĩa trang Văn Điển, nơi anh yên nghỉ, người ta nhìn thấy nhiều cụ ông, cụ bà trong số người đưa tang. Các cụ đã vượt qua những khó khăn của tuổi già để đưa tiễn một người bạn với tri thức sâu rộng, có hồn thơ tinh tế và phong cách khiêm nhường của một nhà nho.

Ngô Linh Ngọc, nhà báo chiến đấu

Anh Ngô Linh Ngọc gia nhập làng văn rất sớm. Anh đã từng kết giao với nhiều nhà văn, nhà thơ nổi tiếng thời ấy như Lê Văn Trương, Vũ Hoàng Chương, Trần Huyền Trân, Nguyễn Bình, Hồ Dzếnh… Nhưng anh cũng sớm có thiên hướng nghiêng về các đề tài xã hôi. Cho đến nay, ngay từ trước cách mạng tháng Tám, anh đã viết những bài bút ký, những phóng sự về lớp người cùng khổ ấy, đặc biệt là trên tờ Việt Nam Hồn do nhà văn Lê Văn Trương chủ biên. Từ khi cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ cho đến khi ra đi vĩnh viễn, Ngô Linh Ngọc đã dành trọn đời mình cho báo chí. Tính chiến đấu của anh được thể hiện rõ ràng trong các bài viết cho nhiều tờ báo hàng ngày cũng như hàng tuần, đặc biệt là tờ báo mà anh đã dành hết công sức đóng góp như ờ Quân Du kích, Quân Việt Bắc, Tạp chí Tổ quốc, Báo Văn nghệ, Báo Thống nhất… sau này. Điểm đặc biệt của anh trong công tác báo chí là anh luôn luôn kết hợp báo chí với văn học, sự kết hợp đó được nhằm để phục vụ cho tầng lớp nghèo khổ, tầng lớp tiên phong trong phong trào chống Pháp lúc đó. Anh giãi bày: “… Vào bộ đội, gần gũi đêm ngày với các đồng đội trong những năm kháng chiến chống Pháp – đại bộ phận là nông dân, công nhân, được đọc thơ văn, kịch nói của các bạn văn nghệ sĩ trong quân đội, tôi yêu văn nghệ quân đội, đặc biệt là thơ bộ đội, thơ chiến sĩ. Yêu và khâm phục thực sự. Liệt sĩ, trung đội trưởng Ngô Quang Sen – bộ đội địa phương (Bắc Giang), chiến sĩ thi đua toàn liên khu Việt Bắc, trước trận đánh cuối cùng, đã đọc cho tôi nghe bài thơ cũng có thể là lần cuối cùng của anh, tả lại trận chống càn ở xã anh, trong đó, một số chị em nữ dân quân bị địch bắn chết trên quãng sông đầu làng. Tôi đọc câu thơ anh tả hình ảnh các nữ liệt sĩ nửa chìm nửa nổi dưới nước Răng đen rưng rức mà không thấy cười, nước mắt tôi trào ra, ngực tôi tức thở.

Ngô Quang Sen là người nông dân, không hề được cắp sách đến trường sao lại có câu thơ hay đến vậy (1).

Ngô Linh Ngọc, nhà thơ trong nhà báo ở thể thơ châm biếm

Ý thức sâu sắc về báo chí cần phục vụ thực tế cuộc sống, phục vụ cuộc chiến đấu giành độc lập dân tộc, nhà báo Ngô Linh Ngọc đã chọn một hướng đi cho mình, đó là chiến đấu bằng hình thức thơ châm biếm, thơ đả kích. Thể loại này rất có tác dụng với quần chúng, là loại chiến đấu trực diện với kẻ thù.

Thơ châm biếm, thơ đả kích của anh đăng rải rác trên các báo, tạp chí, phát sóng trong các chuyên mục của Đài tiếng nói Việt Nam trong chống Mỹ rất đa dạng, có khi đó là bài thể phú, có khi nó lại mang thêm một mầu sắc trữ tình. Trong bài thể phú, dù nội dung của bài viết thế nào thì hình thức của nó vẫn phải là một bài phú nghiêm chỉnh, hình thức nghiêm chỉnh nó đảm bảo cho tính sắc bén của nội dung.

Chúng ta hãy nghe một đòn đả kích của Ngô Linh Ngọc trong một bài đả kích thể phú:

“Hỡi ơi!

Vũ khí luận Huê Kỳ

Bùa vạn năng đế quốc

Gối đầu giường các vị tướng cao bồi

Thờ chính diện mấy tòa lầu ngũ giác

Nào bí quyết chẹn đường cướp của: ‘Đánh nhanh thắng gấp, ngoạm mau”

Lại cẩm nang lấy thịt đè người: “cậy khỏe, lấn bừa, bám chắc”

Thu nhân tâm bằng họng súng, lưỡi lê

Thuyết nhân đạo bằng máy bay đại bác(2)

Qua các câu thơ trên, ta thấy rõ nét những luận điểm phê phán thực chất cái gọi là “Vũ khí luận Huê Kỳ”. Sau đó, anh vạch ra tính tất yếu thất bại của loại “vũ khí luận” ấy:

“Dậy rằng

Liệu nhé Giôn ơi

Binh thư cá mập hết thời đã lâu

Sách mèng đã hóa tã lau

“Lừa” già đeo nặng vàng mau vẹo sườn!

Đi đâu? Đi quách về vườn!(3)+

Toàn bộ bài trên, tuy rất dài, sắc bén về nội dung đả kích, nhưng vẫn giữ được hình thức nghiêm trang của thể phú.

Lại có những trường hợp bài thơ đả kích của Ngô Linh Ngọc dưới bút hiệu Búa Đanh, một mặt vẫn giữ tính chất châm biếm, nhưng mặt khác lại có thêm mầu sắc trữ tình, làm sâu sắc tính châm biếm của nó. Chúng ta hãy nghe mấy câu sau đây trong bài Khúc hát mùa thu của anh:

“Mưa rơi ngoài Bạch ốc

Như rơi trong lòng … Giôn

Từng giọt dài thánh thót

Ơi buồn ơi, hỡi buồn (4)

Là người am hiểu thơ ca Pháp, nhà thơ đã khéo vận dụng ở bài thơ châm biếm trên khiến ta như nghe thấy tiếng vọng của bài thơ trữ tình “Khúc đoản ca bỏ quên” của P.Verlaine:

Như mưa trên phố vắng

Lệ dạt dào tim ta

Nỗi buồn nào sâu lắng

Xâm nhập vào tim ta(5)

Ngô Linh Ngọc, nhà thơ trữ tình

Tuy chúng ta chưa được đọc nhiều bài thơ trữ tình của Ngô Linh Ngọc, nhưng với những bài đã đăng, chúng ta phải kể đến anh trong thơ trữ tình Việt Nam, bởi vì qua các bài đó, người ta có được những cảm xúc mạnh mẽ, chân thực với những vần điệu độc đáo của riêng anh.

Trong bài thơ “Trăng đêm mười chín”, đêm đầu tiên của các trận đánh bảo vệ thủ đô Hà Nội, mở đầu cho cuộc kháng chiến toàn quốc năm 1946, Ngô Linh Ngọc, với tư cachs là nhà thơ tự vệ thành, đã thêm một nét trữ tình rất đẹp vào bản hùng ca của cuộc chiến đấu:

“Trên tầng mây sáng, giữa trời cao

Một vành trăng mới vòng cung lượn

Lấp lánh hai đầu hai ngôi sao

Cùng sao năm cánh như ta nhỉ

Trăng đã cùng ta đánh trận đầu (6)

Trăng lưỡi liềm hiện ra giữa hai ngoi sao trong chòm sao trên đầu những người tự vệ thành Hà Nội đang chiến đấu sống chết với kẻ thù, thế mà người tự vệ ấy vẫn còn nhìn thấy vẻ đẹp của vầng trăng, hơn nữa còn nhận ra hiện tượng kỳ lạ 500 năm mới xuất hiện một lần là vầng trăng lưỡi liềm nằm giữa hai chùm sao vào đêm ấy.

Những câu thơ hay như vậy có rất nhiều trong thơ trữ tình của Ngô Linh Ngọc.

Ngô Linh Ngọc, người dịch thơ Đường và thơ chữ Hán Việt Nam

Là con một nhà nho, được học chữ Hán từ nhỏ với gia đình, lại có được một hồn thơ tinh tế, Ngô Linh Ngọc rất có hứng thú trong việc dịch các bài thơ Đường, thơ Hán Việt Nam ra Tiếng Việt. Mặc dù các bài thơ anh dịch, có nhiều bài đã được người khác dịch, trong đó có cả những nhà thơ nổi tiếng, anh vẫn cứ làm việc đó, vì anh cho rằng mỗi bài thơ hay đều mang những dấu ấn khác nhau từ mỗi người dịch, do góc độ suy tư và góc đọ cảm thụ của họ rất khác nhau.

Đọc lại những bài thơ dịch của Ngô Linh Ngọc, người ta thấy anh không những tôn trọng nguyên tác, mà còn cố gắng giữ được nhịp điệu của nó. Anh gắng thâu nhận hồn thơ của người xưa và chuyển thành thơ Việt với những đêm suy nghĩ, trăn trở để có những bản dịch tốt nhất, truyền cảm. Chúng ta có thể thấy được điểm đó, khi đem so sánh một đoạn thơ trong nguyên tác bài thơ “Tương tiến tửu” (Cùng chuốc chén) của nhà thơ Lý Bạch:

“Quân bất kiến Hoàng Hà chi thủy thiên thượng lai

Bôn lưu đáo hải bất phục hổi

Hựu bất kiến cao đường minh kính bi bạch phát

Triêu như thanh ti, mộ như tuyết

Nhân sinh đắc ý tu tận hoan

Mạc sử kim tôn không đối nguyệt”

Với bản dịch của Ngô Linh Ngọc:

“Người chẳng thấy:

Sông Hoàng Hà tuôn nước lưng trời kia

Đổ xuôi ra biển chẳng thấy về

Lại chẳng thấy:

Tóc bạc trước gương sầu chẳng xiết

Sớm như tơ xanh, chiều như tuyết!

Đời người đắc ý nên thật vui

Chớ để chén vàng xuông dưới nguyệt” (7)

Hoặc so sánh một đoạn trong nguyên tác bài “Long thành cầm giả ca” (Bài ca người gảy đàn ở thành Thăng Long) của Nguyễn Du:

“Tây Sơn cơ nghiệp tận tiêu vong

Ca vũ không di nhất nhân tại

Thuấn tức bách niên năng kỷ thì

Thương tâm vãng sự tận triêm y

Nam Hà quy lai đầu tận bạch

Quái để giai nhân nhan sắc suy

Long nhãn trừng trừng không tưởng tượng

Khả liên đối diện bất lương tri”

Với bản dịch của Ngô Linh Ngọc:

“Tây Sơn sự nghiệp tan rồi,

Múa ca sót lại một người còn đây

Trăm năm một thoáng vèo bay

Truyện xưa nhắc lại tuôi đầy giọt châu

Về Nam ta đã bạc đầu

Huống gì người đẹp má đào chẳng phai

Trừng trừng cặp mắt giương hoài

Khá thương đối mặt, đôi người chẳng hay (8)

Ngô Linh Ngọc, nhà nghiên cứu ca trù

Trước  Ngô Linh Ngọc đã có một số người nghiên cứu về ca trù, trong đó có nhạc sĩ Nguyễn Xuân Khoát. Ngô Linh Ngọc có những đóng góp đáng kể về mặt nghiên cứu thể loại này. Tiếp bước những người đi trước, anh đã bỏ nhiều công sức khái quát lại những vấn đề cơ bản của ca trù, trình bày thành hệ thống những vấn đề đó để những người yêu thích ca trù có thể có được nhưng tri thức sâu rộng và chính xác về thể loại này.

Ngô Linh Ngọc đã trình bày âm luật của ca trù, tiếng hát và các nhạc khí, những điệu hát thông dụng (thét nhạc, hát giai, hát múa đại thạch, đào luồn kép vói, ngâm vọng, hát nói…) anh đặc biệt lưu ý đến vai trò của phách và đàn đáy trong ca trù (9). Chính vì có sự hiểu biết sâu rộng về ca trù cho nên mỗi khi bàn đến ca trù là người ta phải kể đến anh, và chính anh đã cùng đoàn ca trù sang biểu diễn ở Pháp, và trình bày những đặc điểm của thể loại này với các học giả nươc ngoài.

Anh Ngô Linh Ngọc đã ra đi. Nhưng, những gì mà anh lại trong lĩnh vực báo chí và thi ca là đáng được trân trọng và giữ lại.

Hy vọng rằng suy nghĩ trên không phải là của riêng tác giả bài viết này.

 

V.H.Đ

 

---------------------

(1) Ngô Linh Ngọc – Tự bạch

(2), (3) Rút trong tập Đòn bút (tuyển tập thơ đả kích chống Mỹ), NXB tác phẩm mới

(4) Sách đã dẫn

(5) Trong bài Khúc đoản ca bỏ quên của P.Verlaine, in trong cuốn thơ Pháp thế kỷ XIX, bản dịch của Trần Mai Châu, NXB Trẻ thành phố HCM năm 1999, trang 221

(6) Rút trong tập thơ kháng chiến chống Pháp, NXB tác phẩm mới

(7) Rút trong tập thơ ca trù, NXB Văn học

(8) Trong tập thơ chữ Hán của Nguyễn Du, NXB Văn học

(9) Thơ ca trù, Sách đã dẫn.

 


 

 

 

 

B - MỘT SỐ TÁC PHẨM TIÊU BIỂU

 

1. Thơ trữ tình:

 

ĐÊM CHIẾN DỊCH

  

Voi thép rung rừng leo đỉnh dốc,

Xe thồ nườm nượp qua đèo cao,

Rừng khuya thình thịch chân người bước,

“Hò lơ, hò lo” câu nối câu.

 

Xóm nhỏ thâu đêm không chợp mắt

Nhịp chày giã gạo tiếng cười ran;

Điện Biên mai mốt tan đồn giặc

Anh sẽ về đây đón… các nàng!

 

Gạo giã vừa xong bao đóng rồi

Ngoài sân còn lại bóng trăng soi

Đầu hiên bà lão quê Hà Nội

Còn đứng nhìn theo sáng nụ cười…

                                                    1946

 

 

 

 

 

 

 

     TRĂNG ĐÊM MƯỜI CHÍN

 

Ánh điện phố phường vụt tắt

Vút cao rồi, ngọn lửa hồn ta

Răng nghiến nuốt đau, trán quần nhịn nhục

Đêm nay thỏa nhé, khúc quân ca!

 

Lửa đốt sân bay, pháo dồn Cửa Bắc

Phố hẻm, ngõ sâu, diệt lô cốt giặc

Chặn bước thù, sấu đổ nằm ngang

Ét – xăng chai lật ngửa xác xe tăng!

 

Hà Nội đứng lên

Ngời rạng ánh Sao Vàng!

Rầm rập bước chân người trong khói lửa

Náo nức tin vui về ngõ tối

Lá thư Bộ tổng nét chì sao

Súng bỏng bàn tay, bỏng chiến hào!

 

Vọng tiếng cười ran bên ụ thép

Trên tầng mây sáng giữa trời cao

Một vầng trăng mới vòng cung lượn

Lấp lánh hai đầu hai ngôi sao

Cũng sao năm cánh như ta nhỉ

Trăng mới tong quân đánh trận đầu.

                 Chiến hào Bạch Mai – Hà Nội

                 Đêm 12/12/1946

-----------------------

      (1) Đêm 19-12-1946, giữa lúc quân dân ta nổ súng đánh Pháp, trên trời vầng trăng lưỡi liềm hiện ra, hai đầu có hai chùm sao (ba, bốn sao nhỏ) lấp lánh trông như gắn vào vầng trăng. Đây là một hiện tượng rất lạ làm phấn khởi lòng mọi người dân lúc đó. Có nhà thiên văn học nói hiện tượng này 500 năm mới xảy ra một lần.

 

 

 

 

 

 

 

    NHÀ NHO KHÁNG CHIẾN

           Kỷ niệm Hội nghị Liên khu Việt Bắc,

          tặng các cụ trí thức nho học lão thành

 

Quẳng mái nhà tranh, ngọn bút lông

Nhà nho đi gánh việc non sông

Góp cùng buổi mới năm xe sách (1)

Hẹn với người xưa một tấm lòng

Thêm đẹp rừng xanh màu chính khí

Càng tươi sóng đỏ nét nho phong

Bài thơ “Thoái lỗ” (2) cùng ngâm tiếp

Đón Bác về vui “rượu một chung”…

                                                Việt Bắc 1948

-----------------------

(1) Trịnh Huyền đời Tấn ham đọc sách, khi dọn nhà đem theo năm xe sách quý.

(2) Thoái lỗ: Thơ đuổi giặc.

 

 

 

 

 

 

TRĂNG RỪNG VIỆT BẮC

                 Kỷ niệm đêm đầu tiên lên Việt Bắc

 

Trăng rừng nháy giữa tán tròn xoe

Rừng rối âm u, đóm lập lòe

Cối gạo đầu khe dồn lốp cốp

Đàn gà đỉnh núi gáy te te

Nhà sàn thấp thoáng hương cau ngát

Trâu trại gần xa tiếng mõ dè

Bếp lửa nhà ai, chồng với vợ

Nhịp nhàng điệu hát, đứa con nghe!...

                                                  Na Hoàn, 1948

 

 

 

 

 

 

 

NẤM CỎ ĐỒI SIM

            Tặng hương hồn Hồ Xuân, vợ tôi

 

Từ thuở biết anh chỉ một lần em khóc

Hôm mẹ già cười qua nước mắt

Tiễn em ra xe hoa

Về với anh, nghèo khó đợi quanh nhà

Hà Nội cháy, em chẳng hề run sợ

Thanh thản theo anh bước vào khói lửa

Sống chẳng lìa đôi, chết cũng chung đôi

Nụ cười son không ngớt nở trên môi

Quang gánh sớm khuya, mom sông tần tảo

Cô gái Hà Thành, tay mềm vai yếu

Trồng sắn nuôi con, góp gạo nuôi quân

Đợi ngày mai đất nước bình an

Vui chiến thắng trở về phố cũ

Anh lại làm thơ, em theo chợ búa

Con đi trường, ríu rít tiếng chim non

Giấc mộng em xây, bé nhỏ, giản đơn

Trong khói lửa bỗng tan tành sụp đổ

Bài hát “Đợi anh về” em chẳng còn hát nữa

Con cũng không còn chờ bố rẽ về thăm

Đất lạnh ven đồi, hai nấm cỏ âm thầm

Em nằm đó, con thơ ngây nằm đó!

Anh đứng sững, nghe tìm tìm rực lửa

Nghe đất trời ran tiếng thét “xung phong!”

Nấm cỏ

Đồi sim

Máu rỏ mãi trong lòng!

 

 

 

 

 

 

 

 

ĐOÀN QUÂN LƯU VONG

(Khoảng năm 1949, giặc Pháp dùng kế sách “tam quang”, càn quét khủng bố rất mạnh tỉnh Sơn Tây, nhiều cơ sở kháng chiến của tỉnh phải bật sang Vĩnh Phúc xây dựng lực lượng, thường xuyên vượt sông trở về gây cơ sở trong lòng địch. Cái tên “Du kích lưu vong” xuất hiện ở Sơn Tây thời đó)

- Anh đi đâu đấy hỡi anh?

Gió lạnh, bờ đê thẫm tối

Trại giặc, ánh đèn le lói

Đầu sông tiếng súng nổ nhanh

Bốt thù ngập ngụa máu tanh

Chúng cười, chọc tiết dân lành uống chơi

Thành Sơn lửa đốt tơi bời

Làng quê thoi thóp vài hơi thở tàn

Anh lẻn đi đâu, gồng gánh nặng

Sông khuya, đò yếu cũng sang ngang

Hay về phố cũ buôn hàng giặc

Lối tắt, đường quanh bước vội vàng?

- Không, không, bà quán hỡi,

Gió lạnh quét đồng hoang

Mở cửa, đừng nghi ngại

Con là trai dưới làng

Đêm khuya lặn lội đò giang

Vượt qua súng giặc lần sang bên này

Gạo ngô chở một gánh đầy

Cho đoàn du kích giết Tây no lòng!...

- Thôi, con! Đừng nói nưa

Vào đây, bếp lửa hồng

Sưởi lại bàn tay cóng

Cháo hoa đây, lót lòng

Con tôi cũng đội lưu vong

Chồng tôi mắt lóa, lưng còng cũng theo

Đêm nay đạn thét lửa reo

Có như chiếc lá rựng vèo bến sông!

- Bà ơi, bà cứ yên lòng

Xứ Đoài đã khắp nơi cùng đứng lên

Nhất thiêng là núi Tản Viên

Giặc kia nào dễ ở yên đất này

Quân dân ta đã hẹn ngày

Sạch sành sanh diệt hết bầy sói lang!

                                                 Bên Tự 1949

 

 

 

 

 

 

 

ĐÊM TẠM TRÚ

 

            Tặng Trần Ngọc Định, trạm trưởng trạm lưu trú

            Liên khu Việt Bắc

 

Gà gáy canh tư đêm vẫn dài

Trầm trầm sương xuống lạnh nương khoai

Ba gian trần trạm sàn thiêm thiếp

Lửa bếp lom dom, tí tách hoài

 

Cô lính văn công nồng giấc ngủ

Nụ cười đêm diễn vẫn trên môi

Anh bưu tá trẻ, khuya vào trọ

“Túi dết” (1) khư khư giữ cạnh người

 

Lính cậu Thủ đô lên Việt Bắc

Bàn chân đi khắp Hoàng Liên Sơn

Tình ca vùng Thái đêm khuya kể

Giấc ngủ canh thâu mãi chập chờn

 

Gà gáy canh năm, còn tối mịt

Ngoài sân đã rộn tiếng anh nuôi

Giục nhau chạy gấp thêm rau, đậu

Chiến dịch còn đông “khách” ghé chơi…

 

 

 

 

 

 

 

     GẶP GỠ

           Tặng Hằng yêu quý

 

… Sinh trong cảnh nghèo khó

Hai ta cùng khổ cả

Kháng chiến diệt quân thù

Em đã hóa thành gái góa

Anh cũng đã một thời

Khóc con cùng khóc vợ

Tản cư thiếu thuốc men

Giữa đồng hai nấm cỏ!

 

Cùng chung một nỗi đau

Cùng nguyện đòi hết nợ

Đừng khóc nữa em ơi

Giặc sắp tan rồi đó

Xóa sạch bóng sài lang

Đón xuân đời rộng mở…

 

Nào  em xiết chặt đôi tay

Ngả vào nhau mái tóc đầy gió sương

Đọc tên người cũ nguyện rằng

Khóc người, ta hẹn khóc bằng chiến công…

                                        Việt Bắc cuối thu 1953

 

 

 

 

 

 

 

XÀ LIM HUYẾT CA

     Kỷ niệm Nhà tù Hỏa Lò Hà Nội năm 1940,

     Kính tặng hương hồn các liệt sĩ cách mạng Việt Nam

 

I

Tường đá dầy ken chừ, trong đêm vút cao

Hau háu chòi canh chừ, mắt cuồng chó ngao

Sân vắng mênh mông chừ, gió đông lạnh buốt

Lăn lóc đầu lâu chừ, lá khô xào xạc

Hay tiếng hồn oan chừ, thầm thì gọi nhau

Khóa sắc lanh canh chừ, cửa buồng nào đó(1)

Ai sắp ra đi chừ, chưa nghe tiếng chào!

II

Xà lim hay rẫy mồ sâu

Hành lang mờ mịt, máu nâu nhuộm tường

Chân cùm, thép lạnh thấu xương

Khúc ca sông Dịch canh trường gió reo!

Tiệm Ly, tiếng trúc vọng theo

Nghẹn ngào ma khóc, cú kêu não nùng

Kìa ai khúc quẫn, đường cùng

Đầu rơi, mắt vẫn trừng trừng lửa căm

III

Xà lim, xà lim chừ, mi nghe thấy chăng

Cùm sắt, cùm sắt chừ, hôm mở toang

Ta đứng lên đây chừ, tóc xuyên mái ngói

Hồn ta cao ngàn trượng chừ, vút cánh sao băng

Ta chẳng làm ma chừ, ta không làm quỷ

Đầu ra rụng xuống chừ, máu ta càng hăng

Bảy sắc cầu vồng tô đất Việt

Cho tre Phù Đổng đẹp thêm măng

Xương trắng ngoài kia chừ, vào đây các bạn

Xà lim huyết ca chừ, cùng nhau hát vang!...

                                  Hà Nội, trước xà lim tử tù, 1941

 

 

 

 

 

 

 

 

CÂU CHUYỆN NGƯỜI DU KÍCH VEN SÔNG NHỊ

 

Tôi có một người anh

Người mạnh mẽ tinh nhanh

Xuôi ngược làm thuê mãi

Gia đình vẫn thiếu ăn

 

Từ ngày Pháp gây hấn

Cả nước vào chiến tranh

Anh về quê lánh nạn

Đời sống càng khó khăn

 

Chị thường tính quẩn, lo quanh

Trống tro một túp lều tranh bến đò

Quán nghèo, chợ vắng, co ro

Đàn con bên nách thập thò đòi ăn

 

Một hôm Pháp ập đến

Cướp của, đốt nhà dân

Quán hàng thiêu trịu hết

Tiền nong vét sạch sanh

 

Anh tôi vầng trán nhăn thêm mãi

Trước lũ con thơ rách áo quần

Trước chị dâu tôi gà má xạm

Chạy ăn từng bữa héo hon dần

 

Căm giận quân cướp nước

Anh xin vào nhà quân

Quyết diệt loài sói dữ

Uống máu người không tanh

 

Chí cao xua hết nhọc nhằn

Đoàn quân du kích chuyên cần, mải mê

Phá đường tỉnh, cắt đường quê

Rỡ cầu cản địch, giồng tre giữ làng

 

Rồi một đem tối mịt

Thuyền nhỏ vượt sông sang

Quân với dân hợp lực

Đồn giặc vỡ tan hoang

 

Tiếng khen đòn khắp thôn làng

Anh tôi giết gọn năm thằng giặc Tây

Bị thương, máu ngực phun đầy

Lưỡi đao còn múa, chặt bay sọ thù

 

Khói hương tỏa ngút đêm mờ

Cha tôi ngồi trước bàn thờ anh tôi

Điếu cày rít khẽ từng hơi

Bập bùng lửa đóm lóe soi bóng già

Ban đầu quân xã lập ra

Tên ghi đầu sổ đó là tên ông.

                                    Thu Đông 1947

 

 

 

 

 

 

 

TIỄN CHỊ HỒ(1) LÊN TIÊN

 

Xa nhau rồi đó chị Hồ ơi

Phi vụ trần gian dứt hẳn rồi

Sênh phách trả cho nghề Tổ giữ

Thuyền thơ đem để bạn tiên chơi

Trăm năm trò thế vèo xong nợ

Một hội mơ xuân đã thỏa đời

Khúc hát Tỳ Bà (2) lưu lại đó

Giọng oanh còn mãi gió chơi vơi.

----------------

 

(1) Nghệ sĩ nhân dân Quách Thị Hồ

(2) Bài hát được tặng giải thưởng của UNESCO.

 

 

 

 

 

 

 

TUỔI 80

 

Vèo tan bao ảo giác vèo qua

Ngưỡng tuổi tám mươi

Bàng hoàng quay lại

Phố cũ hào hoa

Quán lau đồi núi

Bến đò chiều

Ngơ ngác mình ta!...

                              1982

 

 

 

 

 

 

 

CÒN ĐỂ LẠI

 

        Người ta chết đi có những gì để lại

Những đồng vàng, khúc hát, bài thơ…

Vẫn còn thiếu những mảnh tình ngang trái

Những lời yêu đương chưa được nói bao giờ!...

    8-1970

 

 

 

 

 

 

HUẾ ĐẸP NGÀN THƠ

 

Thuở ấy tôi đi tìm Suối Nhạc

Hành hương một buổi đến sông Hương

Nắng mai tỏa ấm men Hương – Ngự

Ngây ngất hồn tôi mỗi bước đường

 

Gió thoảng hương cau vườn Vỹ Dạ

Mây lồng nệm cát bãi Nghinh Lương

Trong veo Đập Đá mùa trinh nữ

Áo trắng rờn bay trắng lớp, trường

 

Chiếc nón bài thơ, mái tóc ai

Tóc aim un chảy xát bờ vai

Huế ngàn duyên lượn nghiêng vành nón

Soi bóng dòng Hương vẫy lại người

 

Thấp thoáng Đông Ba đèn họp chợ

Mơ màng Cồn hến trống sang canh

Mái chèo khua nhịp đàn xa vắng

Điệu lý Năm Canh thắm nghĩa tình

 

Huế đẹp ngàn thơ, Huế, Huế ơi!

Ngàn thơ đẹp mãi giữa tim tôi

Câu hò đêm ấy, người đêm ấy

Một khúc Tương tư… Huế vạn đời!

 

 

 

 

 

 

 

NHỚ VÀ THƯƠNG

 

Đời người kể biết bao thương nhớ

Nỗi nhớ nào không gắn niềm thương

Tội nghiệp bấy con tim già cỗi

Nhớ thương đầy hai ngả âm dương.

                                              5-1995

 

 

 

 

 

NẾU CÒN THÌ…

                            Tặng chú tôi

 

Toi chăm học từ nhỏ

Dưới tuổi lên mười

Chữ Hán thuộc lòng, học một nhớ hai

Chẳng sợ roi mây thầy dọa

Sử Nam, Bắc, thơ “ngàn nhà” thuộc cả

Chú đi cày về xem vở gật đầu khen

“Nếu còn thì

Họ nhà này bảng lớn chắc đề tên”

Khôn lớn mai này, tôi mới biết

Nghề lều chõng, tự lâu rồi, đã hết

Chú tôi từng được mãi cả làng khen

“Nếu còn thi…”

Mái lều tranh trong xóm nhỏ tá điền

Còn chữ chú, tết nào xưa: “bần nhi lạc”

Nét chữ Lan Đình, phượng múa rồng bay

Nghèo túng một thời, chẳng giảm chút

Hoa tay!

 

 

 

 

 

 

 

2. Thơ ca trù

 

TRƯNG NỮ VƯƠNG

 

Giết giặc xé nề đâu phận gái

Trưng Nữ Vương chèo lái quyết rat ay

Đất Phong Châu phấp phới ngọn cờ bay

Đuổi Tô Định sáu lăm thành thu một giải

Một trấn sấm ran trời Lĩnh ngoại

Ngàn năm hương ngát dấu Mê Linh

Cõi trời nam riêng một triều đình

Cuột đồng dựng vẫn kinh hồn Hán tặc

Cứu quốc rạng ngời thiên dựng nước

Giống Rồng Tiên cân quắc rõ anh hung

Muôn đời gương sáng soi chung.

 

 

 

 

 

 

 

ĐÊM PARIS NGHE TIẾNG HÁT CA TRÙ

 

Mưỡu

Tỳ bà ai vẳng canh khuya

Trời Âu thức dậy hồn quê bao giờ

Dặt dìu tiếng trúc, tiếng tơ

Nhớ nao nao nhớ, mừng ngơ ngẩn mừng.

 

 

Hát nói

Trùng dương vạn dặm

Khúc tỳ bà dầm ấm giọng quê hương

Tiếng phách gieo, sóng dậy suốt canh trường

Trời Âu dựng mênh mông mang hồn nước Tỏ

Chén rượu Tản Đà, câu “hỏi gió”(1)

Mái chèo Yên Đổ, mặt Hồ Tây(2)

Tiếng trống chầu thao thức những đêm say

“Thề non nước” “Nợ tang bồng” (3) dồn nỗi nhớ

Hoài khúc Thăng Long, hồn viễn phố(4)

Lời ca “nhắn bạn” giọng Sào nam(5)

Tiếng hát ca trù bén quyện với giang san

Đang bay bổng giữa xuân Rồng đất việt

Trời viễn xứ nhích gần muôn dặm tuyết

Nghe quê nhà náo nức vọng lời oanh

Ấm lòng một khúc dương tranh.

-------------------

(1) Thơ Tản Đà

(2) Thơ Yên Đổ (Nguyễn Khuyến)

(3) Thơ Tản Đà, Trần Tuấn Khải

(4) Ý thơ Bà Huyện Thanh Quan

(5) Thơ Phan Bội Châu

 

 

 

 

 

 

DẤU ẤN HỒ GƯƠM

 

        Mưỡi 

Trăng vờn ngấn nước long lanh

Gió gờn bóng liễu đan mành rủ tơ

Trả gươm, chuyện cũ bao giờ

Bia Lê còn đó, Tháp Rùa còn đây…

 

Hát nói

Đền cổ mái rêu lồng bóng nước

Nắng đào Thê Húc nhịp cầu son

Bên Đài Nghiên, Tháp Bút đứng chon von

Chép hào khí Thăng Long ngàn vạn thuở

Tả vọng đài xưa, đường liễu rủ

Trấn Ba Đình cũ, bóng trăng in

Hồn nước non hòa đậm vẻ thiên nhiên

Hồ Gươm với Rùa Thiêng còn mãi đó

Sao năm cánh dọi rừng cờ thắm đỏ

Gươm ngàn xưa truyền lại cháu con đây

Liễu hồ rải biếc tầng mây.

 








NGÔ VĂN PHÚ

 

- Họ và tên khai sinh: Ngô Văn Phú

- Sinh năm 1937

- Bút danh: Ngô Bằng Vũ, Đào Bích Nguyên…

- Quê quán: Xã Nam Viêm, thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc

- Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam (từ 1970)

 

- Tác phẩm chính đã xuất bản:

    Đã xuất bản 234 đầu sách

- Giải thưởng văn học:

* Giải truyện ngắn báo Văn học, Hội Nhà văn, 1958.

* Giải nhất thơ và giải 5 năm Hội Văn học nghệ thuật Hà Nội (1975-1980).

* Giải thưởng 5 năm Hội Văn học Vĩnh Phú (1975-1980).

* Giải A về thơ (tập Heo may) của Ủy ban Toàn quốc các Hội Liên hiệp VHNT Việt Nam (1998).

* Giải nhất Đài truyền hình thành phố Hồ Chí Minh (Trường ca Mùa thu nhớ Bác) năm 2000.

* Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật.

* Huân chương chống Mỹ cứu nước hạng nhì 1985, do Chủ tịch nước tặng.

* Huân chương lao động hạng 3 do Chủ tịch nước tặng…

 - Suy nghĩ về nghề văn:

    Tôi nghĩ rằng, nhà văn phải có thiên bẩm, phải học tập không ngừng, có một vùng đất gắn khát khao của cả một đời người. Nhà văn phải tự nhận ra mình trước những trang viết đầy trách nhiệm và thuyết phục. Đừng để tư liệu choáng ngợp hư cấu. Đừng để hiện thực lấn át sáng tạo. Đừng lóa mắt trước những hình thức có vẻ như mới nhưng không hợp với tạng phủ của mình, song cũng đừng quá ôm ấp những vinh quang mà mình đã gặt hái trong quá khứ…

 

 

 

A - TRONG KÝ ỨC BẠN BÈ 

 

NGÔ VĂN PHÚ

DẤU ẤN QUÊ MÙA TRÊN THI ĐÀN 

Nguyễn Hoàng Sơn 

Ngô Văn Phú, tên thật cũng là bút danh. Sinh ngày 8/4/1937 tại làng Khả Do, xã Nam Viêm, huyện Mê Linh, tỉnh Vĩnh Phúc. Tốt nghiệp Đại học Tổng hợp Hà Nội (khoa văn), nhiều năm làm báo chí, xuất bản. Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam. Đã xuất bản 180 tựa sách bao gồm nhiều thể loại: thơ, truyện ngắn, tiểu thuyết, biên khảo, dịch thuật…Tuyển tập thơ Ngô Văn Phú (Nxb. Hội Nhà văn. 2000) gồm 374 bài, 440 trang in.

Trong phong trào Thơ mới trước 1945, có hai người nổi tiếng về thơ đồng quê là Nguyễn Bính và Đoàn Văn Cừ (có thể kể thêm Anh Thơ, tác giả “Bức tranh quê”, nhưng về khái quát chỉ hai cái tên trên là đủ). Nguyễn Bính tài hoa, viết nhiều, sống lăn lóc, bạt tử, vào Nam ra Bắc, đến đâu cũng để lại những giai thoại hay có, dở có nên được công chúng văn học biết đến nhiều hơn. Đoàn Văn Cừ viết ít, gần như cả đời sống ở làng quê Trực Ninh, Nam Định nên lượng bạn đọc ít hơn là cái chắc. Nhưng đừng dại dột đem so thơ ông này với ông kia rồi bảo rằng ai hơn, ai kém! Hai ông là hai mặt của tâm hồn đồng quê Việt Nam, thiếu mặt nào cũng là đáng tiếc. Đoàn Văn Cừ là tâm hồn đồng quê “thứ thiệt”, thật thà, hồn hậu, cam chịu, vui với người quê, cảnh quê. Phiên Chợ tết trong thơ ông vui mắt như một bức tranh làng Hồ. Những U tôi, những Ông đội quê mùa, được mô tả bằng đôi ba chữ giản dị mà sinh động vô cùng. Nguyễn Bính lại là hồn quê đã ngả màu phố huyện, màu thành thị. Ông trách cô gái ra tỉnh “Hương đồng gió nội bay đi ít nhiều” nhưng chính ông còn…tỉnh hóa bằng mấy! Những “nàng”(Nhà nàng ở cạnh nhà tôi/ Cách nhau cái giậu mồng tơi xanh rờn): “người”(Người đi phiêu bạt giang hồ/ Chị về giồng cỏ nấm mồ thanh xuân) với những mối tình dang dở, éo le của Nguyễn Bính thật ra chẳng quê một chút nào, có lẽ chỉ có trong tưởng tượng của các cô cậu học trò phố huyện đầu óc thấm đẫm những chuyện tình ái mùi mẫn kim cổ? Vậy mà Nguyễn Bính vẫn là nhà thơ được thuộc, được nhớ, được ngâm nga nhiều nhất.

Ngô Văn Phú có vẻ muốn tiếp nối cái mạch thơ Đoàn Văn Cừ nhiều hơn là Nguyễn Bính! Ông cũng tiếp nối cái mạch thơ điền viên thôn dã vốn rất được ưa chuộng trong thi ca cổ điển Trung Quốc và Việt Nam. Nông thôn của Ngô Văn Phú, nhất là trong những tập thơ đầu (Gió vào trận bão - 1964, Tháng năm mùa gặt -1978…) là nông thôn hợp tác hóa, cần cù, vất vả nhưng vui sống, tin tưởng-nhưng định ngữ sau chữ “nhưng” là cái mới của Ngô Văn Phú so với họ Đoàn. Bài ca dao “Mây và bông” (1961) nổi tiếng một thời gần như quy định cho cái “giọng” của cả đời thơ Ngô Văn Phú: “Trên trời mây trắng như bông/ Ở dưới cánh đồng bông trắng như mây/ Những cô má đỏ hây hây/ Đội bông như thể đội mây về làng”. Đây là thể “tỉ” trong ca dao truyền thống: so mây với bông rồi so bông với mây. Giữa cái vòng trắng luẩn quẩn ấy có một chấm đỏ chuyển động: Những cô má đỏ hây hây tạo nên dòng chảy cho màu mây về làng. Đơn giản vậy mà rất ấn tượng và hiệu quả: ca ngợi cuộc sống mới, con người mới vừa thành tâm vừa “nghệ thuật”, ăn giải Nhất cuộc thi ca dao là xứng đáng. Cũng năm này, Ngô Văn Phú còn có một bài thơ được giải Khuyến khích cuộc thi của tạp chí Văn nghệ, bài “Các anh về” (tặng các đơn vị khai hoang), với câu thơ đặc tả cái nóng ghê người của vùng đồi “Nắng lửa căng vênh mũ đội đầu!”. Đây là hình tượng mang đặc trưng của bút pháp Ngô Văn Phú: chi tiết, cụ thể rất đắc dụng trong thể ký, ấn tượng, pha một chút hóm hỉnh. Bài “Thăm bạn học cũ” làm nghề nuôi cá chẳng hạn, sẽ rất chán, nếu không có những chi tiết cụ thể, mang công phu của nhà văn “đi thực tế” như cái khổ cuối này “Thay quần áo lên giường/ Ôm lưng tôi bạn ngủ/ Bàn tay còn lạnh tanh/ Mãi mà không hết giá!. Cả những bài viết về đề tài chiến trường, đáng nhớ nhất vẫn là những câu, những đoạn khéo sử dụng chi tiết “Nấu nước ống bương/ Xào thịt voi thịt khỉ/ Ớt rừng cay xoa xuýt khen ngon/ Cái ngứa bữa đầu ăn bữa canh mon/ Gãi mép nhìn nhau cười rúc rích…(Bếp lửa rừng, 1968). Thơ Ngô Văn Phú giàu chất tự sự, bề bộn chuyện đời và cảnh sắc nhiều vùng đất nước. Ông lại viết nhiều, in nhiều, có lẽ là nhiều nhất trong các nhà thơ hiện nay, bài nọ che lấp bài kia, thật khó mà nhớ được trọn vẹn một bài (có lẽ trừ cái bài “Mây và bông” đầu đời kia!). Nhưng nhiều câu thơ Ngô Văn Phú lảy riêng ra lại dễ nhớ vì chi tiết chọn lọc, độc đáo và cái hóm, nghịch quyện trong đó. Cùng viết về làng đồi, khi th ì ông khoe “Đêm vệ tinh bay qua với đường bay dài nhất/ Mùa hè, trời bắc cầu vồng qua nhà tôi”. Khi thì khiêm tốn,kín đáo hơn: “Sỏi dầy, thưa vết chân trâu/ Xem phim, muốn đứng ở đâu mặc lòng”. Đã có cả vạn câu thơ, bài thơ hay về mùa thu đất Bắc, Ngô Văn Phú vẫn có một cách nói riêng về thu, cái riêng của nét cười thầm “Mùa thu đi lúc nào không ai biết. Không cả chờ một cuộc tiễn đưa!”. Tôi vẫn nhớ bài thơ của ông nhan đề “Chùa Thày năm đánh Mỹ” (viết năm 1972), in năm 1977 trong tập thơ “Chùa Thày”, Sở VHTT Hà Sơn Bình xuất bản, không hiểu sao ông không đưa vào tập tuyển, có lẽ vì ông ngại trùng lặp với nhiều bài “thơ chùa” khác? Cái “chất” của Ngô Văn Phú rõ nhất trong khổ cuối “Thấy đạn ta vút lửa/ Thấy tàu bay Mỹ rơi/ Sân chùa sư vui quá/ Cùng dân làng reo cười!”. Các bậc chân tu cũng có lúc hồn nhiên, nhập thế bất ngờ như vậy. Cái a-mua này bàng bạc suốt các tập thơ của Ngô Văn Phú. Ông là người không chỉ chịu viết mà còn chịu học, chịu đọc, tham bác nhiều lĩnh vực. Trong cái vẻ ngoài xuềnh xoàng, quê mùa, lè phè ấy là sự tự tin, đôi lúc kiêu ngầm, bất cần “Cũng có lúc nên Chí Phèo một chút/ Bởi đời đâu luôn được công bằng/ Cũng có lúc đành nămg ăn vạ/ Con có đòi, mẹ mới cho ăn…”. Kiểu thực dụng này đúng là của nông dân, lắm khi được việc đáo để. Có thể đòi hỏi thêm điều này điều khác ở thơ Ngô Văn Phú. Nhưng phải ghi nhận ông đã để được dấu ấn quê mùa trên thi đàn sau 1945, cả về số lượng và chất lượng. Nông thôn Việt Nam, nhất là nông thôn bây giờ, phức tạp hơn nông thôn của Ngô Văn Phú, càng khác xa thời Nguyễn Bính, Đoàn Văn Cừ, Anh Thơ. Nhưng đó là phần việc, cũng là “hương hỏa” dành cho những thi sĩ tương lai.

  Ngô Văn Phú có một khối lượng thơ tình khá lớn. Thơ tình của ông là thơ tình của một người đứng tuổi. Có buồn đau, nhớ nhung, nước mắt, sự thỏa mãn…nhưng tất cả đều mức độ. Giữa tình yêu với hôn nhân không xa nhau là mấy. Người yêu, với Ngô Văn Phú, trước hết và cuối cùng cũng chỉ là… “Đàn bà”: “Trong đời ta thiếu họ/ tính nết sẽ khác đi/ Nghĩ suy cũng khác/ Đàn bà/ lúc thơm như trái ngọt/ lúc đắng như mật cá mè/ Ta rạng rỡ…/ sụp đổ…/ Ta vui/ ta khổ/ Rời không xong/ Buông không nổi/ Đàn bà/ tiếng sét thuở yêu/ chiếc gậy trên đường đau khổ”. Đừng cho rằng thế là tầm thường hóa, dung tục hóa tình yêu. Ca dao xưa đâu phải chỉ một giọng sướt mướt, còn có cái khỏe mạnh, dám chấp nhận: “Ông chết thì thiệt thân ông/ Bà tôi sắp sửa lấy chồng nay mai/ Bà chất thì thiệt thân bà/ Ông tôi sắp sửa lấy ba nàng hầu!”. Suy cho cùng đã mấy ai dám chết vì tình! Về điểm này, Ngô Văn Phú thực và mới hơn Nguyễn Bính.

 

N.H.S

               

 

 

 

 

                                            

 

ĐỌC THƠ VỀ MỘT VÙNG ĐẤT

Tô Hà 

So với các nhà thơ cùng lứa, Ngô Văn Phú là một trong những tác giả viết khỏe. Đi ngang đồi cọ -1- mới xuất bản là tập thơ thứ sáu của anh.

Trong sáng tác, hầu như mỗi người chỉ có thể tung hoành trong một mảng đề tài nhất định. Mảng đề tài quen thuộc của Ngô Văn Phú chính là vùn đất cổ trung du ngoại thành Hà Nội, với xóm làng thấp thoáng sau bờ tre, lũy hóp, nhà cửa, vườn tược quần tụ trên thế đất gò đồi. Sáng dậy nghe tiếng gà láng giềng gáy, ngỡ như tiếng gáy trên nóc nhà. Mở cửa ra đã thấy mây trắng, núi xanh, cọ xòe tán lá, đồng ruộng tốt tươi, sông dài hút mắt. Có phải vì thế mà thơ anh đầy cảnh sắc:

Mặt đất òa xanh rộn rã mùa màng

Tiếng sấm mới bồn chồn con cá nhảy

Lá vây rừng. Núi đẹp đến thanh tao…

                       (Tháng hai)

------------------

(1) Nhà xuất bản Tác phẩm mới, 1986

 

Điều nổi bật trong thơ Ngô Văn Phú là tấm lòng gắn bó bền chắc với vùng đất chôn rau cắt rốn của mình. Nguyễn Bính có câu thơ phấp phỏng:

Hôm qua em đi tỉnh về

Hương đồng gió nội bay đi ít nhiều…

Con người thường thay tính, đổi nết, khi thay chốn, đổi nơi. Nhưng Ngô Văn Phú đã có gần nửa đời người học hành, công tác, sinh hoạt; vui buồn; lo toan; có mặt tại Thủ đô, mà “Hương đồng, gió nội” xem ra vẫn vẹn nguyên, đằm thắm.

Ta có thể bắt gặp trong thơ anh một chiều thu Tam Đảo, với cánh rừng thông chỗmưa, chỗnắng. Một phiên Chợ đầu đê lộng gió sông Hồng. Một ga xép, vài tán bàng non, với dãy phố nghèo, đi quanh quẩn vài vòng đã hết… Bên cạnh những bài thơ viết về kỷ niệm (Chợ đầu đê, Ga quê hương, Trời năm nay lại rét, Cơm trám, mưa hoa…) là mảng thơ cảm tác (Chiều vàng, Sấm tháng ba, Cỏ mật, Làng đồi, Hội xuân…)

Mở lòng trước thiên nhiên, tìh nghĩa với làng, với xóm, với gia đình, bè bạn là nội dung quán xuyến của tập thơ Đi ngang đồi cọ.Bản sắc tâm hồn, con người của một vùng đất hiện lên đây đó trong thơ Ngô Văn Phú khá rõ: Mộc mạc và tinh tế, hóm hỉnh và sâu sắc, chính xác, cụ thể, và mơ mộng, đắm say. Anh cảm rõ được cả cái “rùng mình” của những tàu lá cọ qua một thoáng heo may, anh nhận ra một cách thần tình trong nỗi nhớ, cái Mắt cây thì sáng, tiếng gà thì xanh. Và đồi, và núi kia cũng biết vui, buồn, gắn bó, hoa đồng cỏ nội kia cũng thấm đượm tâm hồn:

Hoa đồng tím nét xuân sang

Lúa trao cho nắng hương thầm buổi mai

Sông dài để gió cũng dài

Lá bay, bay mãi, bay hoài…lá bay…

                       (Thiên nhiên)

Nhận cảm và giãi bày, thơ Ngô Văn Phú còn đến với bạn đọc như một sự tiếp sức về niềm tin vào quá khứ, vào Vầng trăng ta thường hát cho nhau - Vẫn vằng vặc, sáng trong như thuở ấy, vào những cam go đang còn ngổn ngang trước mặt, vào lẽ sống không thể khác của những Người chân đất, những người không chỉ biết cày sâu, cuốc bẫm, mà đã đứng lên, tự ý thức được mình.

Giọng thơ anh nói chung là lạc quan, tươi tắn, nhưng không phải không có những câu, những mảng xúc động đến se lòng:

Thôi mẹ đừng ra ngõ tiễn chiều nay

Gió bấc đại hàn, lạnh lắm

Con nhìn mẹ cầm lòng chẳng vững

Chiếc áo bông cũ kỹ tự bao giờ…

 

Thôi mẹ đừng ra ngõ làm chi

Con chưa có chút gì đền đáp mẹ

Dù chỉ mong được xới bát cơm thường

Được dắt tay giúp mẹ bước lên thềm

Sau buổi chợ có đồng quà tấm bành…

Cái điệp khúc “Thôi mẹ đừng ra ngõ” qua bài thơ đưa tiễn cùng tên, cứ lặp đi lặp lại, canh cánh trong ta một nỗi buồn sâu xoáy. Ai bảo những câu thơ buồn không thực sự cần thiết, khi hiệu quả của nó đến với mỗi người như một sự thanh lọc ghê gớm của tâm hồn? Có phải Na-dim Hít-mét đã quả quyết: Không sợ buồn, chỉ sợ tuyệt vọng.

Trở lại thơ Ngô Văn Phú, không phải vui hay buồn, cái mạnh ở thơ anh, ở bài này bài khác chính là sự hài hòa giữa tâm hồn và ngoại cảnh, giữa tư tưởng và cách nhìn hiện thực. Mặc dù nắm chắc kỹ thuật trong tay, song anh không chạy theo hình thức, anh đi tìm cái đẹp, cái sâu lắng, hàm súc trong giản dị, cái tưởng như không, mà ngạc nhiên, kỳ thú. Bài thơ Giấc ngủcủa anhlà một trong những sáng táccó được theo xu hướng ấy:

Bạn tôi ngủ dưới gốc đa rợp mát

Gối đầu lên đoạn rễ còn queo

Chiếc cày ngủ ngon trên cỏ mượt

Sau buổi làm đồng gian lao…

 

Chuồn chuồn đến đậu trên vai áo

Sáo trên cành ném quả xuống đùa trêu

Lá nghịch ngợm rắc từng chùm hoa nắng

Áo thợ cày như thể áo thêu

 

Chắc hẳn bạn tôi mơ rất đẹp

Gương mặt hiền rạng rỡ làm sao

Ai dám bảo bạn tôi không giang cánh

Cùng cái làng xanh bay tít lên cao…

Giấc mơ bạn giang cánh, hay chính nhà thơ giang cánh? Bài thơ vừa hiện thực, vừa lãng mạn, lãng mạn ngay trong từng chi tiết rất thực, trong hình tượng, cấu tứ toàn bài, trong nghệ thuật và nội dung tư tưởng được phản ánh từ rất nhiều bình diện: Bài thơ ca ngợi lao động và con người lao động ư? Đúng thế, và không hẳn thế - Ca ngợi thiên nhiên và môi trường sống ư? Đúng thế, và không hẳn thế - Ca ngợi một nét sinh hoạt và cảnh sắc quê hương ư? Đúng thế và không hẳn thế…

Thơ là tự biểu hiện, là tri âm, tri kỷ. Để có những câu thơ máu thịt, nhất thiết nhà thơ phải có tâm hồn máu thịt, nói như Xuân Diệu, phải cùng đổ mồ hôi, cùng sôi nước mắt với bà con:

Từ bẩy đợt gầu giai chống hạn

Từ trăng quầng tuần nọ nối tuần kia…

 

Bùi đến vậy bữa đầu tiên luộc sắn

Mẹ bùi ngùi lặng ngắm con ăn

Mưa trả vụ, cơn mưa trả vụ

Chẳng trăng thu lòng cũng hóa rằm…

Trăng rằm tháng tám, cái tưởng như đơn giản mà không thật đơn giản, trước hết là cảm hứng xuất phát từ góc độ của người trong cuộc.

Làm thơ đích thực là một công việc quá sức, chỉ vô cùng hãn hữu, hạnh phúc lắm ta mới gặp một tứ thơ tưởng như “bắt được”. Đặc biệt, trong trường hợp ấy, hầu như giá trị hiệu quả bao giờ cũng lớn hơn ý đồ nảy sinh sáng tác. Bài thơ thành công nhất, Ngô Văn Phú nhất, là bài Hội làng đã ra đời như vậy:

Hội xuân mở trước sân đình

Gió đưa cánh pháo dập dình đầm sen

Có con ếch nấp bờ bên

Tưởng hoa nhảy xuống vồ lên giấy điều…

Bài thơ bốn câu, vừa đượm sức cổ thi, vừa tinh khôi, dân dã. Nhà thơ đã dùn nghệ thuật “tô mây, nảy trăng”, thoáng nét mà sinh động, mà gợi mở. Cái hay của bài thơ là không nói gì về hội hè mà gợi ra một không khí hết sức hội hè. Và hay nữa, đằng sau những câu thơ tươi tắn mà tác giả tâm giao, tâm đắc với ta kia là cái cảm giác bỗng ùa đến mênh mang một nỗi buồn quê kiểng.

Chỉ tiếc những bài thơ toàn bích  như vậy trong tập thơ chưa nhiều. Đọc Ngô Văn Phú ta thường bắt gặp cái cảm giác muốn say, muốn nghiêng ngả, song chỉ được phép ngà ngà, muốn xiết chặt, ôm hôn, song chỉ được phép cầm tay. Có phải ý thức hay tự ý thức, chính anh đã ném ra những giới hạn của mình, trong khi mọi thứ cần nắm bắt lại ở phía bên kia những giới hạn? Nhìn chung, làm nên vẻ đẹp thơ anh mới chỉ là những hoa, những nụ, những quả chưa thật chín. Nói một cách khác, đa phần anh mới chỉ gây được ấn tượng từng câu, từng mảng. Thơ anh nghiêng về phía truyền thống, song cảm hứng chưa mạnh, tốc độ chưa nhanh, khoảng cách im lặng giữa những câu thơ chưa thật mở rộng. Ai cũng biết, mỗi câu thơ đều ra đời trong một khoảnh khắc tâm trạng nhất định. Để có được cái khoảnh khắc cốt tử ấy-để có được tổng hòa những yếu tố tập trung cho sự bùng nổ ấy, vấn đề đâu phải chỉ đặt ra với tác giả Đi ngang đồi cọ?

Chao ôi, làm thơ khó thật! Một phần tư thế kỷ cầm bút, trăn trở với vùng đất gan ruột của mình…

Về mặt đề tài, chúng ta đã có sừng sững một Nguyễn Bính. Chúng ta đã có một Anh Thơ, một Đoàn Văn Cừ, một Hồ Dzuếnh, một Bàng Bá Lân trước cách mạng tháng Tám. Theo tôi, cũng nên tính đến một Ngô Văn Phú trong số những nhà thơ viết về nông thôn đang có những đóng góp hiện nay.

T.H

                                                                              

 

 

B - MỘT SỐ TÁC PHẨM TIÊU  BIỂU

 

CHÍN NHỚ MƯỜI THƯƠNG

 

Những là chín nhớ mười thương

Những là con nhện giăng mùng vương tơ.

Hội làng tỉnh tỉnh mơ mơ

Ra về một mối tình hờ cũng không.

 

 

 

 

 

 

HOA ĐỎ ĐẦU SÔNG

 

Dọc một bờ sông đỏ ngợp hồn

Thu vào cốt cách một quê hương

Cái hôm rời xã đi công tác

Bán gạo đưa tôi mấy dặm đường.

 

 

 

 

 

 

VÓ BÈ

 

Cót két giữa dòng sông nước lợ

Ông chài trầm mặc giữa bè tre.

Cá vào quẫy sóng kìa vuông vó,

Kéo cả trăng non lẫn gió hè.

 

 

 

 

 

NGƯỜI MÔNG ĐI CHỢ

 

Áo nào đẹp nhất đem ra mặc

Chân bước khoan thai dọc dốc đèo.

Người Mông đi chọ như đi hội

Núi ở sau nhà cũng muốn theo.

 

 

 

 

 

MÙA THU ĐI MẤT

 

Mùa thu đã bỏ tôi rồi

Lá rơi đâu phải lá rơi cho mình.

Còn đâu những dải nắng hanh

Trời bao nhiêu khói chẳng thành mùa thu.

 

 

 

 

 

 

MÂY VÀ BÔNG

 

Trên trời mây trắng như bông

Ở dưới cánh đồng bông trắng như mây

Những cô má đỏ hây hây

Đội bông như thể đội mây về làng.

                                        1961

 

 

 

 

 

HỘI XUÂN

 

Hội xuân mở trước sân đình

Gió đưa cành pháo dập dình đầm sen

Có con ếch nấp bờ bên

Tưởng hoa nhảy xuống, vồ lên giấy diều.

            1962

 

 

 

 

 

TẮC KÈ

 

         Hình thì xấu thịt thì bổ mát

Trốn nơi đâu cũng bị lùng tìm

Đã chết cứng trong bình rượu thuốc

Mặt còn ngơ ngác vẫn chưa tin.

 

 

 

 

 

 

 

MÙA THU

 

Heo may sen ủ trong lòng đất

Đòn gánh rồng cong giữa phố phường.

Tiếng ai rao cốm ngoài hiên vắng

Mùa thu dạo khắp đất Thăng Long.

 

 

 

 

 

 

NÚI VÀ MÂY

 

Núi nào lại muốn có mây

Mây đi nhớ núi dáng bay bồn chồn

Mây buồn thì núi cũng buồn

Núi có mây vờn nhìn núi ấm ngay.

 

Tự do là tính của mây

Đứng yên kiểu núi cũng đầy tự do

Sắc mây thay đổi từng giờ

Mà sao sắc núi bốn mùa cứ xanh

Trời đem em đến cho anh

Em ưng làm núi hay giànhlàm mây.

                                   1967

 

 

 

 

 

 

 

ÁO ĐỎ

 

Áo em đỏ rực căn phòng

Mùa đông như có lửa hồng thắp lên

Anh ngồi thầm lặng bên em

Sưởi cho tan hết những đêm một mình.

 

 

 

 

 

 

CỎ BÙA MÊ

  

Cỏ ở thung xanh trên núi Tản

Không hề có gió cũng đong đưa(1)

Ai yêu không được yêu thương lại

Hái cỏ ngầm đem đi bỏ bùa

 

Hẳn có bao người lẻn tới nơi

Thung xanh cỏ ngát một phương trời

Mỗi người chỉ được hái một lá

Và bỏ riêng cho mỗi một người

 

Tôi cũng lên đây cũng sững sờ

Cũng thầm xin cỏ một nhành tơ

Đêm về ngầm thả cho ai đó

Hồi hộp đêm đêm thức đợi chờ

 

Một đêm, hai đêm, ba bốn đêm

Cỏ bùa tôi bỏ đã lên men

Cái đêm em đến trăng đưa lối

Cò lại bay về núi Tản Viên

 

 

 

 

 

 

 

LÀNG CỌ

 

Làng cọ nằm nghiêng mơ mộng

Làng cọ như người hay rung động

Gió cấp ba tưởng bão nghiêng trời

 

Xa làng bao năm rồi,

Đất làng tôi giữ nguyên giọng nói,

Về đầu sân gọi mẹ, bầm ơi!

 

Người yêu tôi đi ngang đồi cọ,

Gọi lá non là mặt trời xanh,

Cọ hàng ngàn mặt trời của lá,

Mà em chỉ một ở trong anh.

 

Bạn bè đồng chí bảo tôi

Nó nói gì cũng ra người xứ cọ,

Tôi cãi tôi là người của lúa

Cãi vậy mà thôi, cãi vậy thôi

 

Làng tôi vây bọc bao đồi cọ

Sáng nào con sơn ca cũng bay ngang mặt trời

Bốn mùa nghe tiếng gió

Cọ vào nhà, vào trong thơ tôi.

 

Bắc Nam bè bạn qua chơi

Cọ xòe lá vẫy tay thân thiết,

Đêm vệ tinh – bay qua với đường bay dài nhất,

Mùa hè trời bắc cầu vồng qua nhà tôi.

 

 

 

 

 

 

 

       CỔNG LÀNG

 

 Đá cũ mấp mô còn mấy bậc,

Cửa tò vò sát mái rêu phong

Đôi hàng câu đối khoe miền đất

Gạch mấy trăm năm vẫn đỏ hồng

 

Một dải hồ sen hoa thắm hương,

Lũy tre cây gạo cũ không còn

Bốn mùa cỏ nội hoa đồng ngát

Và tiếng chim trời vẫn véo von

 

Nơi đám trai làng mắt sáng trưng

Cày bừa vai gánh cả giang san

Cổng làng ban sớm giọng trâu bước

Tre trúc vui theo dáng bạn điền

 

Nơi mẹ ân cần đưa tiễn con

Hanh heo gió núi áo bông sờn

Người đi buổi ấy mà đi mãi

Đem theo hình mẹ dọc Trường Sơn

 

Nơi biết bao nhiêu cô gái đẹp

Lấy chồng thiên hạ tít phương xa

Cổng làng đồng đất bên quê ngoại

Những lúc buồn vui vẫn ngóng về

 

Và có một anh chàng thủy thủ

Đi khắp năm châu trở lại làng

Thuốc lào, thềm cổng rêu ngồi hút

Cuối đời, đây vẫn chỗ dừng chân

 

Hồn muộn năm cũ còn nguyên vẹn

Mây gió bao đời vẫn thế kia

Cổng làng hay một hồn thơ cổ

Lưu giữ vơi đầy những nét quê.

 

 

 

 

 

 

 

 

LÀNG ĐỒI

 

Bốn bề này hóp, này tre

Bờ tường đất giãi nắng hè, ải thêm

Làng đồi trong thế nằm nghiêng

Con đường vút thẳng như lên tận trời.

 

Một viên sỏi rất nhỏ nhoi

Sáng trên đỉnh dốc, chiều rơi vào nhà

Bóng cây đổ xuống la đà

Tiếng ve đồi nhẹ như là gió reo

 

Mưa to đường vẫn khô vèo

Long tong giọt nước giỏ vào hố sâu

Sỏi dầy thưa, vết chân trâu,

Xem phim muốn đứng ở đâu mặc lòng

 

Trái chanh dẫu nhỏ mà thơm

Gà láng giềng gáy như trên nóc nhà

Đường gần đi lại hóa xa

Thấy em mà đến mất ba quãng đồng.

                                                    1976

 

 

 

 

 

 

 

CHIM NGÓI

 

Không hiểu từ đâu

Cứ mùa thu

Chúng bay về khắp cánh đồng

Siêng năng nhặt đỗ

Những đàn chim ngói

Mặc áo màu nâu

Đeo cườm ở cổ

Chân đất hồng hồng

Như nung qua lửa

Mang theo ngọn gió mùa đông bắc đầu tiên

Mùa màng bỗng rực rỡ lên

Những sắc màu đẹp nhất

Chúng đem tinh chất xa xôi từ những khoảng trời

Về hòa với sức mỡ màu của đất

Hương đồng hi vọng tràn trong mắt

Những tiếng cười bay dọc xóm vui

Sao tôi thấy chúng giống những cô gái làng tôi

Những cô gái báo hiệu những vụ mùa

phong thu bát ngát.

                                                1965

 

 

 

 

 

 

 

NHÀ ĐỒI

 

Nhà đồi tường lẫn màu rêu

Liếp che cửa đất, chim kêu trước thềm

Gió từ thung lũng gió lên

Hương đồng hương cỏ còn chen hương rừng…

 

Chiều về cửa ngõ mở tung

Chiều quê lại trải giữa chòm sân quê

Cơm xong mở hội nước chè

Điếu cày rít tận đêm khuya vẫn giòn…

 

Chuyện cày cấy, chuyện nước non

Đôi khi nổi trận cười giòn thỏa thuê

Đầu hồi tán cọ tỏa che

Chẳng vua quan cũng đầy khê lọng tàn

Bạn điền chơi với bạn điền

Đủ trăng sao, đủ bốn bên đất trời.

      1986

 

 

 

 

 

 

 

MỘT THỜI ĐỂ NHỚ

 

Tình yêu của tuổi học trò

Một cô gái nhỏ, đôi bờ vai xanh

Thế là em, thế là anh

Xa nhau thì nhớ mà gần thì kiêu

 

Vẩn vơ nói ít hiểu nhiều

Bắt con châu chấu thả vào cổ em.

Học thì nhớ nhớ quên quên

Có hôm ngồi viết mãi tên một người.

Tưởng rằng nên lứa nên đôi

Nào hay cơn lốc cuộc đời cuốn bay

Trường xưa mái phủ rêu dầy

Phủ luôn theo cả tháng ngày hồn nhiên.

 

 

 

 

 

 

MỘT NỬA

 

Một nửa là anh, một nửa em

Nửa đang cay đắng nửa vuông tròn

Nửa bay lên tít trời cao thẳm

Nửa gói trong thơ, giọng trĩu buồn

 

Biết là sáng tối có giao thoa,

Hạnh phúc, đau thương cứ ập òa.

Một nửa chết rồi còn nửa sống

Tái sinh kiếp khác đến bao giờ…

 

Thôi thì anh lại tựa nơi em

Đêm tối chờ trăng thế vẫn hơn.

Tháng tư trăng sáng cho hai đứa,

Tháng hoa cẩm chướng, tháng hoa hồng.

 

 

 




NGUYỄN BÙI VỢI

 

- Họ và tên khai sinh: Nguyễn Bùi Vợi

- Sinh năm 1933 mất năm 2008

- Bút danh: Hàn Sĩ Tử, Anh Nguyễn

- Quê quán: Cát Văn, Thanh Chương, Nghệ An

- Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam (từ 1982)

- Hội viên Hội Văn nghệ Vĩnh Phú

 

- Tác phẩm chính đã xuất bản:

* Hạnh phúc (Tập thơ, NXB Tre xanh, 1956)

* Gửi người yêu (Tập thơ in chung với Hà Nhật, NXB Tre xanh, 1956 )

* Câu chuyện tình yêu (Tập thơ, NXB Thép, 1957)

* Bông hoa mẫu giáo (Truyện thơ, NXB Phụ nữ, 1963)

* Con gái cô Út Tịch (Truyện thơ, NXB Kim đồng, 1968)

* Quê xanh (Tập thơ, NXB Vĩnh Phú, 1974)

* Anh là chiến sĩ  (Tập truyện dài, NXB Kim đồng, 1977)

* Bông hoa cỏ - Mặt gương soi (In chung với Ngô Quân Miện, NXB Tác phẩm mới, 1981)

* Gió và lửa (In chung với Vân Long, NXB Lao động, 1982)

* Nắng đất rừng (Truyện dài, NXB Kim Đồng, 1983)

* Trống trận đêm xuân (Trường ca, NXB Kim Đồng, 1984)

* Gươm thề Lũng Nhai ((Trường ca, NXB Kim Đồng, 1985)

* Thơ giữa đời thường (Tập thơ, NXB Hà Nội, 1985)

* Chuyện vui các nhà văn Việt Nam hiện đại (NXB Thanh Niên, 1986; NXB Văn hóa, 1990)

* Thầy giáo và nhà trường (NXB Giáo dục, 1999) 

* Tuyển tập thơ tình Việt Nam thế kỷ 20 (Tuyển chọn cùng với Quang Huy, NXB Thanh niên, 2000)

* Tuyển thơ Nguyễn Bùi Vợi (NXB Văn học, 2002)

* Thanh Chương tráng khúc (NXB Quân đội nhân dân, 2003)

Và nhiều tác phẩm thơ, bình thơ trên các sách, báo, tạp chí. Bài thơ “Qua Thậm Thình” đã được phổ nhạc và đưa vào sách giáo khoa lớp 4.

- Giải thưởng văn học:

* Hai lần giải thưởng cuộc thi thơ Báo Độc lập 1955, 1956

* Tặng thưởng của Ủy ban thiếu niên nhi đồng trung ương về truyện thơ “Con gái cô Út Tịch”

* Giải thưởng Hùng Vương cho tập truyện dài “Anh là chiến sĩ”

* Giải thưởng văn học công nhân lần thứ 4 cho phần “Gió nóng” trong tập thơ “Gió và lửa”, được tặng bằng “Lao động sáng tạo” của Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam.

- Suy nghĩ về nghề văn:

 Nghề văn là một nghề cao thượng, nhưng nó đòi hỏi tài, đức, vốn học, vốn sống bao nhiêu cũng không đủ. Tôi đã dốc sức cả đời cho nó, tuy thành tựu chưa có bao nhiêu, tôi không bao giờ hối hận về sự lựa chọn của mình.

 

 

 

A - TRONG KÝ ỨC BẠN BÈ

 

 NGUYỄN BÙI VỢI - NHÀ THƠ CÓ HAI MIỀN QUÊ

Vũ Đình Minh  

Miền quê sinh ra mỗi nhà văn, nhà thơ đều để lại những dấu ấn không phai mờ trong cuộc đời sáng tác của họ. Miền quê ấy không chỉ thể hiện ở đề tài mà nhà Văn, nhà thơ viết tới, mà còn ở cả giọng điệu và phong cách sáng tác. Nhà thơ Nguyễn Bùi Vợi có một miền quê như thế ở xã Cát Văn, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An. Sinh ra trong một vùng quê nghèo, gia đình lại đông anh em, Nguyễn Bùi Vợi vẫn được đến trường học từ bé và sớm đến với thơ ca. Miền quê ấy đã cho Ông giọng nói đặc biệt xứ Nghệ, một tính cách bộc trực, mạnh mẽ, một ý chí và niềm say mê thơ ca, vượt qua bao chặng khó khăn của đường đời mà Ông vấp phải. Một may mắn với Ông là khi bước vào sáng tác thơ đã được làm quen với nhà thơ nổi tiếng Xuân Diệu khi Xuân Diệu về Cát Văn làm công tác giảm tô. Nhà thơ đã gây thêm nhiều men say thơ ca cho Nguyễn Bùi Vợi. Sau này, dẫu xa quê xứ Nghệ để đi học, đi làm ăn nơi khác, miền đất Cát Văn, Nghệ An vẫn thường trở về day trở trong các tứ thơ của Ông và trở thành mảng đề tài Ông tâm đắc và có được nhiều bài thơ ghi đậm dấu ấn trong bạn đọc.

THƠ GỬI CHỊ Ở VÙNG BÃO NGHỆ TĨNH

                                                 Tặng chị Côn

         

          Em ở ngoài này nghe tin bão

          Nằm lo cho chị biết bao nhiêu

          Quê mình lắm nắng nhiều mưa gió

          Trời đất cũng tai ngược đến điều

          Mấy đêm em ngủ không ngon giấc

          Nhớ quê thương chị chút tình suông

          Lấy chi mà gửi vào cho cháu

          Cậu nghèo, cậu chỉ có văn chương!

         

          Sáng nay ngủ dậy nghe đài nói

          Từng chữ từng câu mát cả lòng

          Quê đang dọn dẹp vun trồng lại

          Trăm miền giúp của góp thêm công

 

          Trường học đổ rồi nay dựng mới

          Dẫu chưa ngói đỏ cũng tranh tre

          Bà con ở tận vùng cao gửi

          Ghềnh thác sông Lam một chuyến bè

 

          Làng xóm đỡ nhau từng mối lạt

          Đúng câu ”Tối lửa tắt đèn“ đây

          Nhà chưa dựng kịp nhường nhau ở

          Bát vơi còn quí nói chi đầy!

         

          Thôi thế chị ơi rồi cũng tạm

          Dân mình khổ mãi đã thành quen

          Nhờ đôi chân cứng tay dày dạn

          Khoai sắn thêm vào chắc đủ ăn.

 

          Em bận không về thăm chị được

          Chị cho em gửi chút niềm riêng

          Bà con có đến giúp rào dậu

          Em có bài thơ tặng xóm giềng

Hà Nội, 1993

Nguyễn Bùi Vợi có nhiều năm dạy học và làm công tác văn hóa văn nghệ ở Vĩnh Phúc, Phú Thọ và Ông coi đây là miền quê thứ hai của mình. Ở đây Ông đã tạo lập thành một gia đình, cùng nhau vượt qua bao khó khăn vất vả của đời thường và trưởng thành trong sáng tác thơ ca. Anh em văn nghệ ở Vĩnh Phúc, Phú Thọ vẫn coi Ông  là nhà thơ của tỉnh mình, khi biên soạn những tuyển tập thơ.

Bài thơ “Qua Thậm Thình” viết về huyền thoại các Vua Hùng dựng nước của Nguyễn Bùi Vợi đã được in vào nhiều tuyển tập thơ. Đây là cảm xúc sau nhiều năm Ông sống và làm việc ở miền quê này và những truyền thuyết của vùng đất lịch sử đã ăn sâu vào máu thịt Ông. Bài thơ viết theo thể lục bát nhuần nhuyễn và đầy gợi cảm.

QUA THẬM THÌNH

Đi qua xóm núi Thậm Thình

Bâng khuâng nhớ nước non mình nghìn năm

Vua Hùng một sáng đi săn

Trưa tròn bóng nắng nghỉ chân chốn này

Dân dâng một quả xôi đầy

Bánh chưng mấy cặp bánh giầy mấy đôi

Đẹp lòng vua phán bầy tôi

Tìm đất kén thợ định nơi xây nhà

Trăm cô gái tựa tiên sa

Múa chày đôi với chày ba rập rình

Đêm đêm tiếng thậm tiếng thình

Cối gạo đầy cả nghĩa tình nước non

 

Không còn dấu cũ, lầu son

Phía sau thành phố khói vờn trong mây

Trời cao. Bóng tỏa đường cây

Nhịp chày xưa thoảng đâu đây thậm …thình!

Vĩnh Phú - 1971

Nguyễn Bùi Vợi say thơ, Ông say đàm đạo về thơ với bạn, nhất là với các bạn thơ tri kỷ là người xứ Nghệ hoặc từng công tác ở xứ Nghệ.

Nhà thơ Vương Trọng cho biết Tạp chí Văn nghệ quân đội (nơi nhà thơ Vương Trọng khi đó đang công tác) có nhận được thư của một bạn đọc từ tận Bạc Liêu gửi về nhờ nhà thơ Nguyễn Bùi Vợi chép cho bài thơ “Chồng Nghệ” vì đó là một bài thơ nói rất đúng về bản tính của người Nghệ: 

 

             CHỒNG NGHỆ

                               (Lời bà xã)

Lấy chồng xứ Nghệ vui lắm nhé

Bữa cơm ăn no là đứng lên

Mặc cho khách ngồi nhai nhỏ nhẻ

Cười hì: - Cái tính bầy tui quen!

 

Bạn đến chơi nhà thì hỏi thẳng

- Có ăn tao bảo vợ nấu nào!

Bạn về vợ trách thì lại mắng

- Thật thà với hắn có làm sao!

 

Nói thì giọng nặng như bổ củi

Mô, tê, răng rứa nghe nhức đầu

Được cái trời cho tài chịu khổ

Nhà tranh cơm độn chẳng kêu đâu!

 

Đã nói khi nào cũng nói to

Đã nhìn ai thì nhìn thẳng mặt

Biết bao nhiêu bận bị mất lòng

Đánh chết cũng không chừa thói thật!

 

Đã viết, viết thâu đêm suốt sáng

Đã yêu, yêu đổ cả cây ngàn

Vừa hay nói to lại hay khóc

Trong chồng có một đứa trẻ con

 

Mười chín tuổi yêu giờ tóc bạc

Nghĩ thương quê Nghệ mấy cho vừa

Ai đã vương vào sông nước ấy

Xin vững tay chèo vượt sóng xô.

                                            1990

Thơ vốn là những cảm hứng nội tâm. Nhưng những miền đất nhà thơ đã từng sinh sống, những con người nhà thơ đã từng gặp, những từng trải trên đường đời lại chính là những yếu tố tạo nên nguồn cảm hứng đó. Thơ Nguyễn Bùi Vợi vốn mộc mạc và chân thành với những gì Ông trải nghiệm và khi đi đến cùng của sự mộc mạc chân thành, Ông đã có được những bài thơ hay.

Vùng quê Vĩnh Phúc, Phú Thọ với bao hạnh phúc và buồn đau đã ghi nhiều dấu ấn trong thơ Nguyễn Bùi Vợi. Khi Ông bộc lộ những tình cảm về vợ, về con trong thơ tưởng như rất riêng, nhưng bạn đọc tìm được ở đấy những phát hiện về chính mình. Ông may mắn có một người vợ cùng nghề, đã từng là nhà giáo, nhà báo và một cây bút viết truyện cho thiếu nhi, đã gắn bó và cảm thông với Ông qua nhiều thăng trầm của cuộc sống, đã khổ vì lấy chồng quê xa, xứ Nghệ, lại khổ vì chồng ham mê thơ mà xao nhãng việc nhà.

                   NGÀY EM XA

  Anh bồn chồn như thuở mới yêu em

  Nghe thật buồn cười, mà lạ thế

  Mười hôm em đi không thư không điện

  Anh vào ra tha thủi một mình

  Sáng đi làm bước dưới cây xanh

  Hoa chúm chím dạ nào ngắm nữa

  Trưa về nhà cơm không đúng bữa

  Bát mì này em nấu thì ngon.

 

  Có những chiều Hà Nội hoàng hôn

  Anh tha thẩn như ngày nào đi đón

  Người xuôi ngược ngược xuôi hờ hững

  Nghe trong mình thấm thía cô đơn

 

  Đêm anh thức với trang sách khuya hơn

  Những buồn vui nào có ai chung đọc

  Ngày bạn đến cho vé mời xem kịch

  Anh không quen vào nhà hát một mình

 

  Em ở nhà, có lúc anh gắt con

  Bố có giận còn nương níu mẹ

  Nay anh bù cho lòng con trẻ

  Một chút em thôi cũng khó khăn rồi

 

Ngày nắng đem chăn chiếu ra phơi

Tuần đôi bận lau nhà thay vỏ gối

Thay việc em làm mà không thay nổi

Cái tảo tần rất mẹ ở trong em

                               3-1981

Trong sự nghiệp nửa thế kỷ sống cho thơ của nhà thơ Nguyễn Bùi Vợi, nhiệt tình đi nói chuyện thơ của ông cũng rất cần được kể đến. Có lẽ sau bậc đàn anh là nhà thơ Xuân Diệu. Nguyễn Bùi Vợi cùng Vũ Quần Phương là hai nhà thơ có nhiều buổi nói chuyện thơ trước công chúng nhất Việt Nam. Vốn ham mê thơ, cả thơ mình lẫn thơ bạn. Nguyễn Bùi Vợi đã tuyên truyền lòng yêu thơ và vẻ đẹp tinh thần của thơ ca đến với biết bao bạn yêu thơ ở khắp mọi miền đất nước. Có được một giọng nói và giọng đọc truyền cảm cùng một trí nhớ thơ lâu bền, ông đã làm lây lòng yêu thơ cho bao người nghe. Bây giờ thơ vốn được in với số lượng ít và người ta vẫn tưởng là bạn đọc quay lưng lại với thơ. Nhưng nếu chứng kiến những buổi nói chuyện thơ của nhà thơ Nguyễn Bùi Vợi ở hội trường đông người hay ít người thì ta sẽ thấy người say mê thơ ca bây giờ còn nhiều lắm.

Hai mươi năm ông biên tập chương trình tiếng thơ của Đài Tiếng Nói Việt Nam, nhiều nhà thơ đã được công chúng biết đến, nhớ thơ, thuộc thơ họ qua làn sóng của Đài. Bài thơ sau viết về nghệ sĩ ưu tú Vũ Kim Dung trong một lần Nguyễn Bùi Vợi cùng các diễn viên của chương trình Tiếng Thơ của Đài tiếng nói Việt Nam về nói chuyện thơ và biểu diễn ở địa phương.

           ĐÊM BIỂN HẸN

                            Tặng Vũ Kim Dung

 

Đường lầy quá, xe không vào được

Đôi guốc cao trầy trật lội bùn

Người nghe ngoài trời căng mái bạt

Gió lạnh tê, len dạ còn run

Em hóa trang mà lòng bối rối

Chẳng nỡ nào mặc áo dài hoa

Ba bốn mặt công trường thủy lợi

Mái tôn che, gió rít quanh nhà

 

Đàn nâng nhịp câu thơ trầm bổng

Mấy trăm người giây lát lặng đi

Bài thơ đã thuộc lời, thuần giọng

Mà đêm nay xao xuyến điều gì?

 

Mắt em gặp trên vai cô gái

Một vệt bùn vô ý để quên

Niềm thương cảm trong em dâng mãi

Giọng ngâm khoảnh khắc chứa chan hồn

 

Tiếng vỗ tay ran dài. Em hát

Sóng lao xao…ai tựa mạn thuyền

Trăng ơi trăng… sao mà thương nhớ?

Người hỡi người… ngồi đứng không yên…

 

Lòng tôi quyện vào thơ vào nhạc

Những người nghe đang tan vào em

Em hát ca trù không trống phách

Thay cho đàn đáy - ấy là tim

 

Tan buổi diễn. Người xem cầm đuốc

Tiễn ra ba cây số đường lầy

Đôi guốc cao bước trơn bước trượt

Để một đời nhớ mãi đêm nay

                               Hải Hậu, 3-1985

Nửa thế kỷ sáng tác, kể từ tập thơ đầu tiên mang tiêu đề “Hạnh phúc” do nhà xuất bản Tre Xanh in năm 1956 đến tuyển tập thơ do Nhà xuất bản Văn Học in gần đây, nhà thơ Nguyễn Bùi Vợi đã in 12 tập thơ, trường ca, truyện thơ, trong đó tập truyện thơ “ Con gái cô Út Tịch” được tặng thưởng của Ủy Ban thiếu niên nhi đồng trung ương và tập thơ “Gió nóng” được giải thưởng Văn học công nhân và Tổng liên đoàn lao động Việt Nam tặng bằng  “Lao động sáng tạo”. Ngoài ra Nguyễn Bùi Vợi còn viết truyện cho thiếu nhi và tham gia biên soạn nhiều tuyển tập thơ.

Nhà thơ Nguyễn Bùi Vợi vốn ham vui với bạn bè, ở đấy Ông tha hồ nói chuyện về thơ ca, khen thơ người này, chê thơ người khác ở một bài nào đấy, tất cả đều thực lòng và khen chê xong là quên ngay. Đó cũng là thói thường của mọi nhà thơ. Ông vốn không biết uống rượu, chỉ nếm một ngụm mặt đã đỏ tưng bừng, nhưng chiều bạn đôi khi cũng nhấp môi chút đỉnh. Thơ và rượu, từ cổ chí kim người ta vẫn tưởng là bạn song hành nhưng nhiều khi không phải thế. Nhưng nhấp môi chút rượu nồng cùng bạn. Nguyễn Bùi Vợi đã được một bài thơ thật hay về đề tài này.

  UỐNG RƯỢU VỚI BẠN

 

Vốn không quen với rượu

  Gặp bạn mừng uống chơi

  Cũng nâng lên đặt xuống

  Cũng chén đầy chén vơi.

 

  Nghe trong người lâng lâng

  Nghe ấm dần lên mặt

  Nghe chiều đi bâng khuâng

  Thầm thì mây gió hát.

 

  Một chén…một chén nữa

  Nào đã uống gì đâu

  Mà ngực dồn nhịp thở

  Mặt trời soi vào nhau.

 

  Ôi cái nhớ cái thương

  Niềm vui và nỗi khổ

  Đường đi nửa đời người

  Chưa cạn bầu tâm sự.

Một chén… một chén nữa

Lẽ nào mình đã say

Mắt nhìn nhau như thể

Lần đầu yêu nhau đây.

 

Chuyện vợ rồi chuyện con

Tài năng và sự nghiệp

Đánh giá cả ông trời

Bằng những câu rất thật

 

Ừ thì một chén nữa

Sao mây nghiêng thế này

Uống cho đất bằng lại

Dễ gì ta đã say!

                     1983

Khi nhà thơ Nguyễn Bùi Vợi bước vào tuổi 70, Ông sống nhàn nhã và khá giả hơn một chút, nhưng lại không phải nhờ thơ, cái nghiệp Ông đeo đẳng suốt đời, mà là nhờ con và sự tảo tần của vợ, âu cũng là cái phúc muộn mằn của người sinh ra ở tuổi Dậu. Ông vẫn đi, vẫn viết và vẫn ham nói chuyện thơ như người bị thơ bỏ bùa từ thuở nhỏ.

V.Đ.M

 

 

 

 

 

 

 

CHÚNG TA ĐÃ MẤT ĐI MỘT NHÀ THƠ,
MỘT NHÀ BÁO XUẤT SẮC

( Điếu văn của Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam, do Nhà thơ Hữu Thỉnh – Chủ Tịch Hội Nhà văn Việt Nam đọc tại tang lễ nhà thơ Nguyễn Bùi Vợi).

Hôm nay chúng ta có mặt ở đây để vĩnh biệt nhà thơ, nhà giáo, nhà báo Nguyễn Bùi Vợi, nguyên là cán bộ biên tập kì cựu của Ban Văn học nghệ thuật, Đài tiếng nói Việt Nam, Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, đã về hưu, cư trú tại phố Tô Ngọc Vân, quận Tây Hồ, Hà Nội, đã từ trần vào hồi 11 giờ 02 phút ngày 8 tháng 5 năm 2008, tức ngày 4 tháng 4 năm Mậu Tý, sau khi đã được các thầy thuốc và gia đình hết lòng cứu chữa. Đây là một tổn thất vô cùng to lớn không chỉ của gia đình nhà thơ Nguyễn Bùi Vợi, mà còn là tổn thất chung của Hội Nhà Văn Việt Nam, Ban Văn học Nghệ thuật, Đài Tiếng nói Việt Nam, Báo Giáo dục & Thời Đại và bạn bè xa gần, những người từng yêu mến nhà thơ, nhà báo, nhà giáo Nguyễn Bùi Vợi, trân trọng những giá trị tinh thần mà người ra đi đã để lại cho chúng ta.

Nhà giáo, nhà báo, nhà thơ Nguyễn Bùi Vợi sinh ngày 5 tháng 11 năm 1933 tại xóm Tràng Lân, xã Cát Văn, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An. Từ năm 1940 đến 1953, học tiểu học và trung học tại quê nhà. Từ năm 1953 đến 1956, học sư phạm ở khu học xá Nam Ninh, Quảng Tây, Trung Quốc. Năm 1956 – 1957 dạy học tại trường Sư phạm sơ cấp Hà Nội. Từ năm 1957 đến 1971, về dạy học ở tỉnh Vĩnh Phú. Vốn là một nhà thơ nổi tiếng từ rất sớm nên nhà thơ Nguyễn Bùi Vợi có sự am tường bếp núc của một người ở trong nghề, chính vì thế những giờ giảng văn của thầy Vợi có một sức hấp dẫn rất đặc biệt. Nhiều thế hệ học sinh đến nay vẫn còn nhớ. Là một trong những nhà thơ xuất sắc nhất của vùng đất trung du, ông được bí thư Tỉnh ủy Kim Ngọc gợi ý chuyển công tác sang Ty Văn hóa, để có nhiều thời gian dành cho văn chương. Chính từ bước chuyển này, từ năm 1971 đến 1975, ông đã làm được nhiều việc có ý nghĩa đối với văn học, trong đó không thể không nhắc đến vai trò tham gia sáng lập Hội văn học Nghệ thuật tỉnh Vĩnh Phú.

Năm 1976, ông chuyển công tác về Hà Nội, là Biên tập viên chương trình Tiếng Thơ, Ban Văn nghệ, Đài tiếng nói Việt Nam, cho mãi đến năm 1996 thì nghỉ hưu, tập trung thời gian chuyên sáng tác và hoạt động văn học. Cũng trong thời gian này ông là cộng tác viên đắc lực, tiếp tục biên tập phần văn nghệ ở báo Giáo dục & thời đại, tổ chức cuộc thi thơ lục bát nhằm khẳng định sức sống của thể thơ truyền thống. Cuộc thi đã thành công ngoài dự kiến của Ban tổ chức và nói như nhà thơ Vương Trọng: “người có công đầu chính là nhà thơ Nguyễn Bùi Vợi”.

Trong suốt 20 năm công tác liên tục tại Ban văn nghệ, Đài tiếng nói Việt Nam, ông đã giới thiệu hàng ngàn bài thơ của các tác giả trong và ngoài nước, phục vụ những nhiệm vụ chính trị của Đảng và Nhà nước, đồng thời cũng phục vụ những nhiệm vụ thiêng liêng của thi ca và của nền văn học đương đại, khẳng định những giá trị của nền thi ca gắn bó chặt chẽ với cách mạng và với nhân dân, tôn vinh nhiều tên tuổi lớn của đất nước, đồng thời góp phần đào tạo nhiều cây bút trẻ, lần lượt xuất hiện trên các chặng đường phát triển của thơ ca Việt Nam. Ông đã để lại dấu ấn vô cùng sâu sắc và tốt đẹp trong lòng các nhà thơ và bè bạn yêu thơ trong cả nước trên cương vị công tác này, đặc biệt trong 10 năm đầu đổi mới đất nước, từ 1986 đến 1996, hoạt động thơ của ông, trong phê bình giới thiệu thơ, trong các cuộc bình thơ ở nhiều tỉnh thành từ Trung ương tới các địa phương, đến các công trường hầm mỏ, nêu một tấm gương sáng của một người tận tụy với sự nghiệp văn học, có trách nhiệm rất cao với người đọc, người nghe, góp phần rất quan trọng vào đời sống văn học của cả nước. Đây cũng là giai đoạn tài năng Nguyễn Bùi Vợi đạt đến độ chín nhất. Ông đã có 16 đầu sách, trong đó có 12 tập thơ và trường ca, nhiều tập tiêu biểu cho cả cuộc đời sáng tạo nghệ thuật của ông.

Nguyễn Bùi Vợi là một nhà thơ nổi tiếng rất sớm. Ông có thơ xuất bản từ năm 1956 với tập Hạnh phúc, rồi sau đó lần lượt các tập thơ và truyện thơ ra đời: Câu chuyện tình yêu (1957), Con gái cô Út Tịch (truyện thơ 1968), Quê xanh (1974), Anh là chiến sỹ (Truyện vừa 1977), Trống trận đêm xuân (truyện thơ năm 1981), Gươm thề Lũng Nhai (Truyện thơ 1982), Bông hoa cỏ - Mặt gương soi (1982), Gió nóng (1983), Thơ giữa đời thường (1986), Tuyển thơ Nguyễn Bùi Vợi (2003), v.v. Ngoài thơ, ông còn là tác giả của nhiều tập văn xuôi, chuyện vui văn học, đặc biệt là đồng tác giả của các tuyển thơ lớn có giá trị tổng kết các thành tựu thơ ca về thể loại cũng như về nghệ thuật của các giai đoạn thơ, với sự nghiêm khắc và công tâm nghề nghiệp đáng khâm phục. Ông đã được tặng nhiều giải thưởng văn học của các bộ ngành Trung ương và các địa phương, ghi dấu ấn là một trong những nhà thơ xuất sắc của nền thơ ca đương đại Việt Nam. Nhiều tác phẩm của ông đã được đưa vào giảng dạy ở trường phổ thông, trong đó có bài thơ “Qua Thậm Thình” rất nổi tiếng. Nhận xét về văn chương của ông cũng như con người ông, nhà thơ Trần Lê Văn viết: “Thơ anh thấm đẫm tính cách con người xứ Nghệ, đằm thắm, trung thực mà kiên cường”. Vì lẽ ấy, dẫu long đong chốn đời thường, lao đao giữa nhân tình thế thái, ông luôn gạn đục để làm trong trẻo một đời thơ mà ông đã vắt máu tim mình làm mực viết. Với sự trung thực và khiêm nhường, ông cũng đã từng nói về mình bằng những lời chắt từ gan ruột: “Nghề văn là một nghề cao thượng, nhưng nó đòi hỏi tài, đức, vốn học, vốn sống bao nhiêu cũng không đủ. Tôi đã dốc sức cả đời cho nó, tuy thành tựu chưa có bao nhiêu, tôi không bao giờ hối hận về sự lựa chọn của mình”.

Thưa anh hồn nhà thơ Nguyễn Bùi Vợi kính mến!

Ông đã đúng, rất đúng khi chọn con đường đi cho cả cuộc đời mình và ông có thể hoàn toàn yên tâm và thanh thản ra đi, bởi những giá trị mà ông để lại là rất xuất sắc, những giá trị đó sẽ thay ông sống tiếp trong lòng bạn đọc và bạn yêu thơ, trong lòng những ai từng quen biết ông hoặc từng thấy ông, từng nghe tên tuổi của ông. Ông đã nêu một tấm gương sáng về tinh thần trách nhiệm và sự tận tụy, trong lao động nghệ thuật, dù là sáng tác, biên khảo hay trong mọi quan hệ với đồng nghiệp, bè bạn xa gần... Những giá trị đó, sẽ còn lại mãi mãi, sau khi mọi thứ đã qua đi...

Thưa bà quả phụ Đỗ Thị Từ và gia đình nhà thơ.

Trong giờ phút đau thương này, chúng tôi, những nhà báo, nhà thơ, nhà văn, những đồng nghiệp cũ và mới của nhà thơ và bà con khối phố, bạn hữu xa gần, vô cùng bàng hoàng và đau xót tiếc thương trước sự ra đi của nhà thơ, nhà báo, nhà giáo Nguyễn Bùi Vợi. Không gì có thể bù đắp nổi sự tổn thất quá to lớn này. Chúng tôi biết, sở dĩ nhà thơ có được những thành tựu đáng kính trọng như đã nói ở trên, cũng là nhờ một phần quan trọng ở sự tần tảo lo toan của bà và của cả gia đình. Xin bà và gia đình nhận ở chúng tôi lòng biết ơn và sự chia sẻ niềm đau xót và tiếc thương vô hạn này.

Vĩnh biệt nhà thơ, nhà báo Nguyễn Bùi Vợi. Xin ông hãy thanh thản yên nghỉ ở cõi vĩnh hằng.

Xin vĩnh biệt!.

 


 

B - MỘT SỐ TÁC PHẨM TIÊU BIỂU

 

 

ĐÃI CÁT TÌM VÀNG

                       Yêu thương gửi Từ

 

  Trên những dòng sông thế giới

  Có những người đãi cát tìm vàng

  Tháng năm dài,

                     kiên nhẫn bền gan

  Lọc từ phần mười phân một

  Những người tìm vàng

                     không bao giờ nóng ruột

  Thời gian không nghiến nát lòng tin

  Anh không tìm vàng

                     nhưng lại tìm em

  Vất vả gấp trăm lần đãi cát

  Cát của bờ sông

                     lấy bao nhiêu chẳng được

  Người của thế gian

                      đâu của riêng mình ?

  Tìm một người yêu

                     xây một mối tình

  Lọc từ buồng tim ống máu

            Rung động,

                             yêu thương

                      giận hờn nung nấu

  Lúc cuộn lên như nước biển trào nhanh

  Lúc im lìm như sương đọng long lanh

  Không dám động, sợ tan tành giọt nước

  Người đãi cát quý chút vàng nhặt được

  Anh quý em từ một nụ cười

  Gom góp bao nhiêu, để cả cuộc đời

  Có những phút sáng ngời sức sống

  Đời chua cay,

            anh sẽ biến chua cay thành ước vọng,

  Cho đường đi dài rộng thênh thang

            Đời nhiều xót xa,

                     nhiều lối dọc đường ngang

  Anh kiêu hãnh, vững vàng bước tới,

  Vì bên anh, có tay em vẫy gọi

  Bàn chân anh không mệt mỏi bao giờ.

 

  Anh lọc từng suy nghĩ

                     những vần thơ

  Nhức nhối bao đêm dài thao thức

  Để ca ngợi một mối tình đẹp nhất

  Nhưng khó khăn hơn đãi cát tìm vàng.

                                                        6/1957

 

 

 

 

 

 

         QUA THẬM THÌNH

 

Đi qua xóm núi Thậm Thình

Bâng khuâng nhớ nước non mình nghìn năm

Vua Hùng một sáng đi săn

Trưa tròn bóng nắng nghỉ chân chốn này

Dân dâng một quả xôi đầy

Bánh chưng mấy cặp bánh giầy mấy đôi

Đẹp lòng vua phán bầy tôi

Tìm đất kén thợ định nơi xây nhà

Trăm cô gái tựa tiên sa

Múa chày đôi với chày ba rập rình

Đêm đêm tiếng thậm tiếng thình

Cối gạo đầy cả nghĩa tình nước non

 

Không còn dấu cũ, lầu son

Phía sau thành phố khói vờn trong mây

Trời cao. Bóng tỏa đường cây

Nhịp chày xưa thoảng đâu đây thậm …thình! 

                                                           Vĩnh Phú, 1971

 

 

 

 

 

 

CHUYỆN MỘT NGƯỜI NUÔI CÁ

 

Giữa các kỹ sư áo trắng cổ cồn

Anh vẫn đánh bộ đồ nâu dân giã

Nói kinh nghiệm nuôi cá

người nghe mắt long lanh.

                       

Con mè hoa phàm ăn

Giống trắm cỏ dễ nuôi, chóng lớn

Cá nhiệt đới quê mình đẻ sớm

Thằng trắm đen chỉ chén ốc cua.

 

Chú bé nghèo xưa mò con rô, con trê

Cái đầu trọc

lưng trần phơi

nắng cháy.

Chém cá giá máu cơ hồ ngừng chảy

Lạnh. Phong phanh một mảnh quần đùi.

 

Đêm, quê hương, tiếng gió rít dài

Hồ nước rộng, ngôi sao trôi lặng lẽ

Đèn ám khói văn phòng Đảng ủy

Con cá đồng quẫy nhức đầu anh.

 

Bốn tháng ròng đau năm đầu ngón chân

Mười bốn mẫu ao, đất hồng quanh trại

Đàn cá giống đầu tiên hồi hộp vỗ

Trăng lại tròn. Anh chưa xáp mặt con.

 

Ngày nắng. Đêm mưa. Ngồi bên bể ương

Màu nước ao cũng làm anh mất ngủ

Tranh sách mới qua rồi thời bỡ ngỡ

Ngọn đèn dầu chiếu quầng sáng đêm đêm.

Tóc bạc rất nhanh

trong hai năm

Mười loại cá quẫy đuôi vào bể đẻ

Đêm vớt trứng, san ao hối hả

Mặt anh hồng trong mắt xã viên.

 

Đất chín vàng mấy mùa lúa xuân

Ruộng ken tóc, ao đầm dày tăm cá

Đêm Vũ Di hương đồng bâng khuâng quá

Con chép nào đớp lạc một vì sao.

                                           Vĩnh Tường 1973 

 

 

 

 

 

 

 

 

NÓI VỚI CON SẮC NẮNG CỦA HOÀ BÌNH             

                                        Cho con trai Nguyễn Từ Sơn

 

                     I

Sáng nay con đến trường

không phải đội mũ rơm

Mẹ con rưng nước mắt

Hạnh phúc quá, cậu học sinh lớp một

Mênh mông trời xanh trên đầu

 

Những ngày này

bố muốn nói cùng con

một đôi điều về đất nước

giản dị quá mà thật là quá sức, phải không con?

 

Đất nước hết giặc ngoại xâm

Bác không còn

Nhưng trong mỗi lá cờ mừng hòa bình

đều có Bác

vẫn mênh mông vầng trán cao, tóc bạc

Bác cười hiền trong nắng ngắm con chơi

 

Trang sử con học sau này

không nói hết cuộc đời Bác đâu

Những dãy núi mù sương sẽ nói

Cái hơi lạnh thấu xương hang Pắc Bó

Cái nắng trung du hắt lửa vào người

Một vầng trăng

Một tiếng chim vui

Một giọt nắng

Một chùm hoa dại

đều sẽ nói về Bác Hồ với con mãi mãi

 

Khi Bác bị cùm trong ngục Tĩnh Tây

Bác đã nghĩ đến con

và buổi học sáng nay

Khi các bác, các chú con điềm nhiên ra trường bắn

Mặt dân tộc sắp hồng trong sắc nắng.

                    

                     2

Con sinh giữa những ngày đất nước gian lao

đỏ hỏn trên tay mẹ đã xuống hầm

Hạt gạo củ khoai nuôi con còn mang vị mặn

Nắng khét tóc, Bác thăm đồng chống hạn

Hạnh phúc nào mà chẳng có phần con.

Những ngày ấy da bố mẹ xanh

Năm tháng mất nhiều hồng cầu vất vả

Nhưng chưa bằng chú con đi đánh giặc ở Trường Sơn

Cái nắng tháng sáu làm tóc đỏ quăn

cơn mưa rừng làm da tái sạm

Bao bà mẹ tiễn con ra trận

gánh trên vai ba vụ cấy cày

Không gian rung trong tiếng bom

Đến giấc ngủ thần tiên của con

cũng đỏ trời pháo sáng

Gương mặt hòa bình đã rõ dần

trong đuốc  lửa B52 đâm đầu xuống

Bao đau thương đất nước chịu

                                        vì con!

Nhiều người bạn vui với ta mà òa khóc

Mặt nhân loại tươi như một đóa sen hồng

Dãy hầm trường con sẽ đi vào kỷ niệm

Ôi hòa bình nắng ấm của trăm năm.

 

 

 

 

 

 

GIỮ CHỐT

                                                         Tưởng nhớ Bùi Nguyên Khiết

 

(Nhà báo Bùi Nguyên Khiết, sinh năm 1945, quê tại xã Xích Thổ, huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình, là phóng viên báo Hoàng Liên Sơn, hy sinh năm 1979, trong khi tác nghiệp, tham gia chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, chống quân Trung Quốc xâm lược tại mặt trận biên giới huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai. Ngày 21-6-2014, Thành ủy, UBND thành phố Lào Cai và Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch tỉnh Lào Cai đã tổ chức lễ gắn biển tên đường phố mang tên liệt sĩ, nhà báo Bùi Nguyên Khiết, tại phường Bình Minh, TP Lào Cai.)

 

- Tên Khiết hàng đi!

  Nhâu nhâu một bầy chúng sủa.

  A.K. đanh giòn nổ

  Khiết bắn viên cuối cùng

  Trên người, bảy vết lê đâm.

 

  Hai mươi tháng ròng mày vất vả

  trụ vững vàng như một cây thông

mặt giáp mặt với quân Ưng Khuyển

Cơm là mì - luộc - nắm quanh năm.

Cái quần bộ đội cháu cho

ống rộng thùng thình không chữa lại

cứ mặc thế nhảy tàu Hà Nội

thăm bạn bè sớm, tối lại lên ngay.

Cứ gặp mày là bị cuốn vào say

những trang viết trong đầu cựa quậy

Mày lên chốt Mường Khương

Trưa 17…

- Tên Khiết hàng đi!

Mười năm giảng Cáo Bình Ngô

máu trong người rần rật

học trò nghe long lanh ánh mắt

Khẩu A.K. mày bắn viên cuối cùng

Trên người, bảy vết lê đâm

 

Giặc bị đẩy lui, xác chồng lên xác

Đồng đội ôm lấy mày nghiến chặt răng không khóc

Thằng con trai Ninh Bình sống chết với Lao Kai

Máu đỏ tươi đổ thắm đất này.

 

Quên sao được cái làng quê Yên Sở

Ta ngồi viết bốn bên xanh lúa

Đạn pháo từng chùm rừng rực phía Sơn Tây

Bên ngọn đèn dầu mày hì hụi mê say

Hơi mây núi, gió đồng chiêm hòa lẫn

Nhớ lắm, Khiết ơi, tao nhớ lắm.

 

Trên người, bảy vết lê đâm

Máu của mày nhuộm đỏ chốt Mường Khương

Bè bạn, học trò đang thay mày giữ nước.

                                             24 / 2 / 1979

 

 

 

 

 

 

 

 

THĂM THẦY GIÁO CŨ

                        Kính Tặng thầy Hoàng Như Mai

 

  Hai mươi bốn năm xa

  Con ngồi lặng bên thầy

  Phố Nguyễn Du nồng nàn hoa sữa

  Tóc thầy bạc phau

  Mái tóc con nửa đời sương gió.

 

  Đứa học trò thuở mười tám, đôi mươi

  Lại lắng từng câu, lại nhập từng lời

  Cái giọng nói một đời không quên được

  Cái ánh lửa cháy lên trong cặp mắt

  Hai bốn năm rồi, ấm mãi bên con.

 

  Có những đêm con nhớ đến bồn chồn

  Chiếc áo bông của thầy bạc màu nắng gió

  Trời trở lạnh, đông về cuối ngõ

  Rét đầu mùa, thầy ngủ có ngon không?

 

  Thầy đã giảng cho con về Đất nước, Nhân dân

  Để khi mặc lành không quên người áo vá

  Ăn miếng ngon nhớ bàn tay trồng khoai giỡ củ

  Câu ca dao đau đáu một đời.

 

  Con ngước lên. Con gặp mắt thầy

  Đầm ấm quá. Con thành trẻ nhỏ

  Những vui buồn thầy lặng nghe con kể

  Có lúc nào thầy không ở bên con

 

  Con nghe rất nhiều trong lặng im

  Thầy thấu cả những điều con chưa nói

  Phút giao cảm, thầy là tia nắng rọi

  Con, cây xanh đang nẩy lộc trong vườn.

 

  Thầy tiễn con về. Phố lạnh hơi sương.

  Con để mãi bàn tay trong tay thẩy ấm áp

  Và con biết đêm nay thầy lại thức...   

                                                    1980

 

 

 

 

 

 

 

VĨNH YÊN

 

Vĩnh yên ơi, ta lại về đây

Nhớ thương năm tháng có vơi đầy

Thuyền ai, mái động trăng đầm Vạc

Nghe bốn bề xuân rạo rực cây…

 

Một nẻo đường khuya xao xác lá

Mang đi để nhớ lại mang về

Ôi chao đã ba mươi năm lẻ

Phố cũ, đêm dài, sương lạnh tê

 

Phố cũ đêm nay dường trẻ lại

Râm ran bè bạn với anh em

Bàn chân lại ấm đường đất sỏi

Nghe ngợp hồn đầy một Vĩnh Yên…

                                        1996

 

 

 

 

 

 

TIẾNG NGHỆ

 

Cái gầu thì gọi là đài

Ra sân thì bảo ra ngoài cái cươi

Chộ tức là thấy mình ơi

Trụng là nhúng đấy đừng cười nghe em

Thích chi thì bảo là sèm

Nghe ai bảo đọi thì đem bát vào

Cá quả thì gọi cá tràu

Vo trôốc là bảo gội đầu đấy em!

 

Nghe em  giọng Bắc êm êm

Bà con hàng xóm đến xem chật nhà

- Khi mô sang nhởi bên choa

Bà O đã nhốt con ga trong truồng…

 

Em cười bối rối mà thương

Thương em một lại trăm đường thương quê

Gió lào thổi rạc bờ tre

Chỉ qua giọng nói đã nghe nhọc nhằn

Chắt từ đá sỏi đất cằn

Nên yêu thương mới sâu đằm đó em!

 

 

 

 

 

 

 

VỚI QUÊ

 

Gửi Cát Văn, quê mẹ

           

  Cho tôi nói với quê như chuyện trò với mẹ

  Đứa con tha hương ba chục năm rồi

  Ngót nửa đời tôi ăn cơm xứ Bắc

  Vị gạo đỏ quê nhà vẫn nhớ khôn nguôi

  Nghĩ đến quê tôi thành người mắc nợ

  Mái trường Thổ Sơn ơi tôi nhớ suốt đời

  Không có thầy Vận, thầy Châu dắt tôi thuở nhỏ

  Tôi, đứa trẻ nghèo chỉ biết nhặt cơm rơi

 

  Hạt cơm mẹ nuôi, tôi ăn thấy ngọt

  Tuổi thơ biết gì đến những đắng cay

  Cả cánh đồng anh chị tôi cấy gặt

  Năm tháng nuôi tôi, đất cũng khô gầy.

 

  Dù đi đâu cũng nhớ về đất cằn sỏi đá

  Con đường xã mình rầm rập hồng binh

  Trống Xô Viết ba mươi trong hồn tôi gióng giả

  Có mẹ, có cha trong quần chúng biểu tình.

 

  Những ngày đạn bom ngoài này xa tuyến lửa

  Không được dậy nửa đêm đón bộ đội vào làng

  Nồi nước mẹ nấu đầu hè quyện mùi trầu quế

Chỉ nghĩ đến thôi mà đã thấy bâng khuâng.

 

Ơi bạn bè, xin cứ gọi nhau như hồi còn đánh đáo

Dù con trai đã ông, con gái đã bà

Các cậu trụ ở quê với cơn mưa, trận bão

Cho bọn mình đến mọi nẻo đường xa.

 

Vẫn tím trong tôi đồi sim cằn rú Mít

Nhớ cái chuôm sâu ở đồng Hói đồng Chùa

Nay quê mình đã xanh trùm bóng mát

Bao ân tình mình xin gửi vào thơ…

             Hà Nội, 1985

 

 

 

 

 

 

VỀ QUÊ SƠ TÁN

        

         Về thăm làng sơ tán

mà như về quê hương

Trẻ con reo đầu ngõ

Người lớn gọi ngang đường.

 

Người nắm tay kéo vào

Người bảo: sang uống nước

Người trách: sao ít về

Người chê gầy hơn trước.

 

Hỏi thăm khắp cơ quan

Từng anh, từng chị một

Hỏi bố rồi hỏi con

Trả lời sao cho kịp?

 

Nước chè xanh bốc khói

Gần nửa làng đến chơi

Ngọn đền khuya càng đượm

Thêm giòn giã tiếng cừời…

 

Đêm gác tay lên trán

Thấy sâu nặng tình đời

Một làng quê xóm núi

Xao động cả hồn tôi

                     Làng cọ An Đạo, 1976

 

 

 

 

 

 

 

 

NINH BÌNH ĐÊM NÓI CHUYỆN THƠ

 

Định một đêm ghé lại Ninh Bình

Hút điếu thuốc hàn huyên với bạn

Bỗng bất chợt bạn bắt đi nói chuyện

- Ở chỗ mình anh em khao khát thơ

- Ừ thì đi!

Kẻng báo họp bất ngờ

Trai gái công trường đổ về chật lán

Nhà bức bối ta ra sân cho thoáng

Kê gỗ, tre xếp lấy chỗ ngồi.

Diễn giả nhìn lên, mắt gặp trời

Gặp dãy núi thuở cờ lau tập trận

Đèn gió tắt có đêm sao là bạn

Không thể nào nhìn rõ mặt người nghe

Muốn tìm một cặp mắt say mê

Để chỉ nói riêng cho ai cũng chịu

Không thơm thoảng phấn hương dìu dịu

Chỉ mùi mồ hôi trên áo mồ hôi

Không thể nói những câu thơ tha thẩn ngoài đời

Tả màu mây trên cánh đồng cháy khát

Không thể nói những câu thơ như phấn thoa lên mặt

Tôi biết rằng tôi cầm bút cho ai.

 

Thơ chiến trường, thơ các bạn tôi

Cơn sốt đến, trong hang trùm chăn viết

Sức học trò theo xe băng cái chết

Mà câu thơ cứ nghịch ngợm như đùa

 

Nhiều người nghe sống lại ngày qua

Với binh trạm bên đường, chiều bãi khách

Cạnh giếng nước có bom…” em có biết

Nên ai “ngủ ngày chân lấm“ đó em?

 

Tôi có người bạn thơ từ thuở sinh viên

Mải miết viết những câu thơ mây gió

Về Hà Nội heo may, nắng chiều ngõ nhỏ

Lên biên giới về, thơ viết thật hơn

Anh ngồi ăn với lính mấy lưng cơm

Trong đêm tối gió mù trời bụi thốc

Và anh biết: với cuộc đời khó nhọc

Câu thơ mình như khách đi qua.

 

Tôi không nhìn rõ mặt người nghe

Nhưng đăm đắm nhìn lên trăm cặp mắt

 Phút đồng cảm dễ đâu có được

Để câu thơ giây lát ruột rà

Tôi đọc những vần thơ không chút mượt mà

Về than bụi Việt Trì, gió Lào xứ Nghệ

Về mụn vá áo em, mồ hôi trán mẹ

Về người bạn văn ngã xuống Mường Khương

Người nghe tưởng thơ viết về chính họ

Có kỳ gạo chậm mì, đầu tháng muộn lương

 

Cái đêm ấy hồ dễ gì quên được

Thơ tri âm với đất đá công trường.                     

1981

 

 

 

 

 

 

 

 

NGHĨ BẰNG THƠ MỘT TƯ TƯỞNG ĐẢNG

 

 Xin đừng mở video ngằm hoài chùm pháo hoa mừng đại thắng

Máu, mồ hôi ba mươi năm sáng lên trong bảy sắc cầu vồng

Đảng bảo đất nước phải đổi thay, đổi thay là lẽ sống

Hơn năm mươi triệu người từ Lạng Sơn đến Minh Hải chờ trông.

 

Mười năm sau chiến tranh đã đủ thời gian để ta suy ngẫm

Những bồng bột thơ ngây, những ảo tưởng dại khờ

Ai nói: thống nhất rồi, gạo châu thổ sông Hồng đem nuôi lợn

Gạo xuất khẩu, gạo nuôi người, phù sa chín nhánh Cửu Long lo.

 

Những vùng quê trên đất nước mình có tháng vài ba trận bão

Nơi gió đổ cây sập nhà, nơi giáp biển sóng thần dâng

Lúa đang ngậm đòng, mưa trắng trời lại bữa cơm bữa cháo

Hạt gạo bây giờ đâu chỉ năm nắng mười sương.

 

Xin đừng vẽ tô, đôn những vùng quê lên mười tấn

Hạt lúa lép ngoài đồng mà trên trang giấy thơm tho

Ai ngợi gió ca mây hoài mà bữa cơm vẫn độn

Tháng giáp hạt dài, tóc mẹ bạc vì lo!

 

Xin sách giáo khoa nói in ít đi về rừng vàng biển bạc

Để các em bé lớn lên không hồn nhiên nghĩ đất nước mình giàu

Rừng bị phá quá nhiều, cây non trồng chưa kịp mọc

Kéo lưới vơ cả cá con rồi cá chẳng còn đâu!

 

Xin đừng lấy cái nghèo làm điều cao thượng

Trên thế gian này không ai nói nghèo sang

Thắng giặc rồi, cả nước đồng lòng nuôi chí lớn

Đem khối óc bàn tay hoạch định những mùa màng

 

Nếu tai ai quá quen nghe những lời tán khéo

Thì xin tập nghe cả những câu không chút chiều lòng

Thuốc chữa bệnh không thể nào ngọt lừ như kẹo

Không có mùa xuân nào không qua cửa mùa đông.

 

Xin chớ rông dài mà nên đi vào thực chất

Lo sự nghiệp nghìn đời từ áo mặc cơm ăn

Khi tận sâu thẳm tâm hồn, Đảng lấy dân làm gốc

Thì nhân dân sẽ theo Đảng hết lòng

 

Nói đổi mới tư duy để nghe thôi thì cũng dễ

Nhưng khó vô cùng là mình tự xẻ mình ra

Những quan niệm lỗi thời ở trong đầu mọc rẽ

Phải nhổ khỏi người ắt buốt tận thịt da

 

Đừng biến thành thời trang một tư tưởng mới

Đảng thương Dân, Dân yêu Đảng trọn đời

Ghềnh thác nào cũng qua, bến bờ nào cũng tới

Sau đợt rét dài đã ửng nắng xuân tươi

Trước Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ sáu - 1986

 

 

 

 

 

 

 

 

 

VẰNG VẶC SAO KHUÊ

 

 Giã biệt cha bên ải Nam Quan

Nuốt lệ đắng trong tim máu đọng

Đêm Đông Quan đèn vật vờ một bóng

Nỗi thù nhà nợ nước đôi vai

Tiếng rên xiết của lê dân xói óc

Lưỡi kiếm vung thay tiếng thở dài.

 

Cả non nước tím bầm đồn lũy giặc

Một góc rừng ấm lửa sáng đêm đen

Lương cạn Linh Sơn giặc tràn Khôi huyện

Giữa trùng vây củ nâu chát thay cơm.

 

Bài phú viết giữa hai lần giặc đuổi

Ngọn bút lông chống trăm vạn binh cuồng

Đêm sương lạnh đèn khuya một bóng

Ngời ngời nhân nghĩa tỏa từng chương.

 

Dân là gốc. Một niềm dân là gốc

Thảo binh thư vẫn nhớ kẻ cuốc cày

Cảm thương người hát rong đêm trở gió

Người hái dâu bãi vắng trắng sương dày.

Dân nô bộc đầm đìa nước mắt

Tiếng cuốc kêu khắc khỏai đêm hè

Người ngụp biển sâu mò châu ngọc

Kẻ xác treo thòng lọng cành đa

Chỉ tiếng gió hú dài bãi vắng

Đau quặn lòng nhìn một ánh sao sa.

  

Trên nhung  lụa mà đêm không chợp mắt

Áo vua ban chưa ấm một bên lòng

Đánh xong giặc trở về đầu bạc

Tim vẫn đau vì trăm nỗi nhân gian

Về với suối với cây khỏi nghe lời xiểm nịnh

Lều cỏ gianh khuất mặt lũ gian thần

Đêm tỉnh giấc lại gặp người dân đói

Bên tía hồng võng lọng với đai cân

 

Ôi một tấm cô trung cay đắng quá

Hoa ngắm khôn khuây rượu nhắp buồn

Chỉ mỏng mảnh một tấc lòng hậu thế

Có soi vào vằng vặc bóng đêm chăng?

 

Sáu trăm năm, ồ đã sáu trăm năm

Thời gian vùi lên bao tội ác

Những mưu đồ bị chôn sâu trong đất

Những kẻ lộng hành thành bụi tro.

 

Gác tía, lầu son, nào đâu cả?

Chỉ muôn đời vằng vặc sao Khuê.

                     Kỷ niệm 600 năm Nguyễn Trãi

                           Hà Nội, 1980

 

 

 

 

 

 

 

NGÀY EM XA

 

Anh bồn chồn như thuở mới yêu em

Nghe thật buồn cười, mà lạ thế

Mười hôm em đi không thư không điện

Anh vào ra tha thủi một mình

 

Sáng đi làm bước dưới cây xanh

Hoa chum chím dạ nào ngắm nữa

Trưa về nhà cơm không đúng bữa

Bát mì này em nấu thì ngon.

 

Có những chiều Hà Nội hoàng hôn

Anh tha thẩn như ngày nào đi đón

Người xuôi ngược ngược xuôi hờ hững

Nghe trong mình thấm thía cô đơn

 

Đêm anh thức với trang sách khuya hơn

Những buồn vui nào có ai chung đọc

Ngày bạn đến cho vé mời xem kịch

Anh không quen vào nhà hát một mình

 

Em ở nhà, có lúc anh gắt con

Bố có giận còn nương níu mẹ

Nay anh bù cho lòng con trẻ

Một chút em thôi cũng khó khăn rồi

 

Ngày nắng đem chăn chiếu ra phơi

Tuần đôi bận lau nhà thay vỏ gối

Thay việc em làm mà không thay nổi

Cái tảo tần rất mẹ ở trong em.

                                           3-1981

 

 

 

 

 

 

 

UỐNG RƯỢU VỚI BẠN

 

Vốn không quen với rượu

Gặp bạn mừng uống chơi

Cũng nâng lên đặt xuống

Cũng chén đầy chén vơi.

 

Nghe trong người lâng lâng

Nghe ấm dần lên mặt

Nghe chiều đi bâng khuâng

Thầm thì mây gió hát.

 

Một chén…một chén nữa

Nào đã uống gì đâu

Mà ngực dồn nhịp thở

Mặt trời soi vào nhau.

 

Ôi cái nhớ cái thương

Niềm vui và nỗi khổ

Đường đi nửa đời người

Chưa cạn bầu tâm sự.

 

Một chén… một chén nữa

Lẽ nào mình đã say

Mắt nhìn nhau như thể

Lần đầu yêu nhau đây.

 

Chuyện vợ rồi chuyện con

Tài năng và sự nghiệp

Đánh giá cả ông trời

Bằng những câu rất thật

Ừ thì một chén nữa

Sao mây nghiêng thế này

Uống cho đất bằng lại

Dễ gì ta đã say!

1983

 

 

 

 

 

 

 

TẤC LÒNG

            Tặng các nhà văn về dự đại hội

                       Nhà văn Việt Nam lần thứ  4

 

Người một đời tay mòn ngọn bút

Tóc phơ phơ mây trắng trong chiều

Đêm tĩnh mạc bóng bên hình bứt rứt

Sống hết mình chưa gửi trọn niềm yêu.

 

Người gùi gạo chiến trường đói quắt

Chập chờn câu trong hoa cải hoa cà

Cuộc chiến đấu đang cần thơ tiếp sức

Chẳng đành lòng ngâm ngợi ánh trăng xa

 

Người hăm hở trang văn bồng bột

Trái tim đau mong rọi lửa cho đời

Văn lận đận, ba mươi năm lận đận

Hồn quật trong gió bão vẫn còn tươi…

 

Tay nắm tay, mắt nhìn mắt lệ ứa

Mong ngóng hoài giờ mới gặp mình đây

Bao người bạn, người anh không còn nữa

Nên thương nhau, thương biết mấy cho đầy!

Còn đâu nữa khóe cười Tú Mỡ

Chiều Nhã Nam chuếnh choáng dáng Nguyên Hồng

Đường Hà Nội can Nguyễn Tuân thôi gõ

Cỏ trên mồ Xuân Diệu đã vàng đông.

 

Chế Lan Viên tan hòa vào trời đất

Nắm tro than còn lại chút trong bình

Ôi! Cái lẽ tử sinh nào ai biết

Phút hân hoan vắng ánh mắt Xuân Quỳnh

 

Đằng đẵng một đời chúng ta cầm bút

Mưa nắng đã từng, đắng ngọt đã qua

Hay dở gì xin thời gian lắng lọc          

Nụ hoa  nào chẳng muốn rực sắc hoa.

 

Xin nâng niu những gì từng gieo gặt

Những nở sinh vật vã hiến cho đời

Là nụ cười hay dòng nước mắt

Xin chân thành cháy hết, bạn mình ơi.

                                  Hà Nội, 9 - 1989

 

 

 

 

 

 

 

 ĐÊM BÈ BẠN THÀNH VINH

 

  Như thể chưa bao giờ biết ngủ

  Thức đọc cho nhau đến tàn đêm

  Mắt dậy sóng, tim thì cháy lửa

  Mà buồn vui xa xót tận hồn.

  Mọi ghế gủng dẹp vào một xó

  Cho trăng sao có chỗ ùa vào

  Báo bão. Tầng năm không gợn gió

  Bạn bè ơi thổi mát cho nhau.

 

  Anh ngồi đó: hiện thân của lửa

  Của bùn đất, cát, của gió lào

  Của nhọc nhằn, của đời lam lũ

  Đọc bài thơ ”gửi bạn cùng hưu”

 

  Chú…chú. Ở đây không có chú

  Tuổi năm mươi đâu chịu ngán mà

  Thơ bồng bột dại khờ mê đắm

  Thơ quật quăng gió giật mưa sa.

 

  Ồ sao mày in toàn thơ nhạt

  Mà đọc đêm nay nổi da gà?

  Thương mày. Tao thương tao. Thương tất

  Ta là…mà không phải là ta!

 

  Em cứ khóc không cần ghìm giữ

  Nỗi bạn đắng cay cũng nỗi mình

  Thơ chân thật ắt đòi trả giá

  Ngừng đập tim, thơ vẫn hồi sinh…

 

  Không phải nói gì .Thơ nói cả

  Chưa nắm tay đã biết tay chai

  Đêm bè bạn thành Vinh mất điện

  Thức cho nhau mới thấy ngày dài.

                                                   1988

 

 

 

 

 

 

NHỚ ÔNG KIM NGỌC  

 

Sách không làm ra đời mà đời làm nên sách

Tay cầm lõm seo cày nên ông thấu lòng dân

Giọt mồ hôi mặn đồng những tháng năm khoán hộ

Ấm bao gia đình chỉ cay đắng một mình ông.

 

Nằm dưới đất. Ngực còn thơm huân chương Độc Lập

Khoai lúa nôn nao nghe đất nở những mùa vàng

Cánh đồng nào bây giờ cũng mang hồn Kim Ngọc

Người lặng lẽ đi về trong truyện kể dân gian

                 Hà Nội. Năm 2000

 

 

 

 

 

 

CHỒNG NGHỆ

            Lời bà xã

 

Lấy chồng xứ Nghệ vui lắm nhé

Bữa cơm ăn no là đứng lên

Mặc cho khách ngồi nhai nhỏ nhẻ

Cười hì : - Cái tính bầy tui quen!

 

Bạn đến chơi nhà thì hỏi thẳng

- Có ăn tao bảo vợ nấu nào!

Bạn về vợ trách thì lại mắng

- Thật thà với hắn có làm sao!

 

Nói thì giọng nặng như bổ củi

Mô, tê, răng rứa nghe nhức đầu

Được cái trời cho tài chịu khổ

Nhà tranh cơm độn chẳng kêu đâu!

 

Đã nói khi nào cũng nói to

Đã nhìn ai thì nhìn thẳng mặt

Biết bao nhiêu bận bị mất lòng

Đánh chết cũng không chừa thói thật!

 

Đã viết, viết thâu đêm suốt sáng

Đã yêu, yêu đổ cả cây ngàn

Vừa hay nói to lại hay khóc

Trong chồng có một đứa trẻ con

 

Mười chín tuổi yêu giờ tóc bạc

Nghĩ thương quê Nghệ mấy cho vừa

Ai đã vương vào sông nước ấy

Xin vững tay chèo vượt sóng xô.

                                         1990

 

 

 

 

 

 


NHỮNG NGƯỜI VỢ CHĂM CHỒNG

TRONG BỆNH VIỆN

 

Trẻ nhất là sáu mươi

mặt chị nào cũng tươi

cũng hiền

dáng ai cũng tất bật

 

Những chàng trai

đã từng không ngủ được

mơ mơ một nụ cười

bây giờ là những chàng…bảy mươi

đầy mình…bệnh tật!

 

Thời trẻ các chị từng chong đèn thức

mòn đêm

đợi chồng

cuộ họp dài hơn tiếng vạc

những đức ông chồng mải mê sự nghiệp

(trước oanh, nay thì liệt!)

 

Bây giờ thì các chị được gần rồi

Suốt ngày, suốt đêm

ngồi bên giường

vừa bóp chân cho chồng

vừa ngủ gật.

Bạn vào thăm

các chị cười rất tươi

như không có gì khó nhọc

Riêng những vệt quầng quanh mắt

               không

                     giấu được ai.

 

 

 

 

 

 

 

LÒNG DÂN TRONG NHƯ NGỌC

(Trích tự truyện “Một đời khờ khạo” của Nguyễn Bùi Vợi)

 

Năm học 1956-1957, vợ chồng tôi nhận quyết định lên dạy học ở vùng trung du Vĩnh Phúc. Khi trao quyết định, anh Đoàn Sanh, trưởng phòng tổ chức của Bộ ngập ngừng:

- Hay là vợ chồng cậu về Bắc Ninh hoặc Hà Đông cho gần Hà Nội. Vĩnh Phúc đất bạc màu, nhiều khó khăn.

Tôi nằng nặc đòi đi Vĩnh Phúc. Tôi vùng đất này đã lâu, dù chưa đặt chân đến bao giờ. Đó là nơi có thị xã Vĩnh Yên nhỏ bé, hiền hòa, yên tĩnh, thường được gọi là thị xã hưu trí, nơi về nghỉ dưỡng già của các viên chức nhỏ thời Pháp thuộc, nơi các nhà văn lãng mạn trong nhóm “Tự lực văn đoàn” về đấy nằm hút thuốc phiện, đọc tiểu thuyết cho các cô nhân tình chép rồi mang ra Hà Nội bán cho các nhà xuất bản. Tuần đầu tháng nộp quyển thì tuần đầu của tháng cuối quí ra nhận tiền! Nhiều quyển tôi đã mê từ thời còn học đệ nhị, đệ tam (tương đương lớp 6, lớp 7 bây giờ): Tiêu Sơn tráng sĩ của Khái Hưng,  Hồn bướm mơ tiên của Khái hưng và Nhất Linh, Con đường sáng của Hoàng ĐạoNghe nói nhân vật Nghị Hách trong tiểu thuyết Dông tố của Vũ Trọng Phụng, chập choạng tối, hỏng xe dọc đường, mua rơm của Thị Mịch để nhét vào lốp ô-tô (!) cũng xảy ra ở cây số tám đường Vĩnh Yên lên Tam Đảo. Chừng ấy đủ kích thích trí tưởng tượng non dại của tôi thuở thiếu thời. Không gian của các tiểu thuyết như ga Thạch Lỗi, bến đò Lo…đều là vùng giáp ranh với huyện Đông Anh - ngoại thành Hà Nội bây giờ.

Lên đến nơi, vợ chồng tôi nhìn nhau cười, mới biết anh Đoàn Sanh nói thật. Con tàu hỏa ì ạch kéo mấy chiếc toa khách toa hàng già nua đi từ 5 giờ sáng mãi đến 10 giờ mới hổn hển thở phì phò vượt cầu sắt Hương Canh lên thị xã Phúc Yên - thủ phủ của tỉnh (chỉ cách ga Hà Nội có 40km). Đói quá nhưng quán hàng lèo tèo chỉ thấy bầy dăm bấp ngô luộc lạnh ngắt, vài ba cái bánh chưng, bánh tẻ lưỡi mèo. Ăn tạm cho đỡ đói, hai vợ chồng rủ nhau đi thăm thú thị xã.

Vĩnh Phúc bấy giờ còn rất nghèo. Cả tỉnh chỉ có một trường cấp II-III đặt tại thị xã Phúc Yên, lợp nửa ngói nửa rạ gồm 8 lớp cấp II và hai lớp cấp III. Hệ thống giáo dục phổ thông mười năm nhưng trường tỉnh chỉ mới có đến lớp chín nên nhà thơ Ngô Văn Phú (lúc bấy giờ nhà chỉ cách trường 3km) phải tuần tuần về vác ruột tượng gạo lên trọ học tận Phú Thọ để học lớp cuối cấp ở trường cấp III Hùng Vương, rồi sau này thi đỗ vào khoa Ngữ văn trường Đại học Tổng hợp Hà nội.

Sáng hôm ấy vợ chồng tôi hồi hộp đến cơ quan Ty giáo dục trình quyết định cho ông trưởng ty. Không ngờ phòng tổ chức giải quyết nhanh thế vì có lẽ họ đang thiếu giáo viên. Tôi được giữ lại trường cấp II-III Trần Phú còn vợ tôi về dạy lớp bốn trường cấp I Sơn Lôi - Bình Xuyên cách thị xã 4km đường tàu. Thời ấy ở cấp I, giáo viên dạy lớp ba, lớp bốn được đào tạo chính quy ở các trường sư phạm còn dạy lớp 1, lớp 2 thì thường là giáo viên vỡ lòng đôn lên hoặc đào tạo gấp vài ba tháng, những “Sư phạm gốc đa, gốc mít”!

Nhận quyết định, hai đứa đều mừng nhưng cũng hơi lo vì muốn đến trường vợ tôi, phải đi bộ 4km dọc theo đường tàu ngày ngày đâu phải chuyện đơn giản. Tranh thủ thời gian chưa khai giảng, hai vợ chồng đi “điều tra địa hình”. Nhìn ngược lên phía Sơn Lôi, tôi thấy một xóm nhỏ chừng vài mươi nóc nhà nép dưới lùm cây giữa đồng.Từ đây đến đấy ước chừng 2km nghĩa là …trung độ. Ừ nhỉ, sao mình không vào xóm ấy tìm nhà dân ở nhờ. Dân mình thời nào chẳng quí thầy giáo, trọng việc học hành.

Chúng tôi đi bộ dọc theo đường tàu, hỏi thăm người đi đường mới biết xóm ấy có tên cổ là xóm Tiên Non, giờ gọi là xóm Thịnh con (lên chừng nửa km là Thịnh lớn, cả hai nhập một thành thôn Thịnh Kỷ thuộc xã Nhất Trí huyện Bình Xuyên, Vĩnh Phúc). Đến đầu xóm, chúng tôi thích thú đi dưới bóng cây che rợp đường. Rất ít nhà ngói, hầu hết là nhà lợp rạ, vách đất, xóm rất nghèo. Gặp một cụ ông chừng ngoài sáu mươi, râu dài, mặt hiền như tiên ông, tôi nói với cụ ý định của mình. Cụ suy nghĩ một chút rồi nói:

- Con chim có mỏ, con gà có mào, xóm có trưởng xóm, tôi xin dẫn thầy cô vào ông Đa trưởng xóm, cũng là trong nội tộc cả.

Ông trưởng xóm vui vẻ tiếp và giới thiệu nhà anh Liệu gần đấy có điều kiện hơn cả. Vợ anh mới sinh chừng nửa tháng. Nhà anh ba gian, chỉ mới ở hết một . Nghe ông Đa nói xong, vợ chồng anh vui vẻ nhận lời, hiềm một nỗi chưa sắm được bàn ghế, giường màn đủ để thầy cô giáo dùng. Dẫn chúng tôi đi tắt qua sân nhà bà Duyệt, ông Đa mau miệng:

- Bà Duyệt có nhà không đấy? Bà làm ơn cho thầy cô giáo mượn cái bàn học và hai cái ghế.

Thấy bà Duyệt nhận lời một cách xởi lởi, chúng tôi định vào khiêng luôn nhưng bị bà ngăn lại:

- Ấy chết, thầy cô cứ để đấy, chốc nữa, tôi bảo bố Duyệt, cháu Đức đem sang chứ, ai lại để thầy cô giáo phải khiêng vác nặng nhọc thế! Mời thầy cô, mời ông vào xơi nước đã.

Ở nhà anh Liệu được ngót một tháng thì cháu bé con anh chị quấy khóc đêm suốt. Bà con hàng xóm xì xào cho rằng tại cho vợ chồng trẻ người lạ ở trong nhà, không kiêng cữ.

Một hôm cụ Biểu mời vợ chồng tôi lên nhà. Uống xong chén chè mạn, cụ khẽ khàng:

- Thôi thế, vợ chồng tôi xin phép cụ cố (thân sinh cụ ông năm ấy đã ngoài 80) rước thầy cô về ở với chúng tôi cho vui cửa vui nhà. Nhà có vài đứa cháu dại nhưng bảo được. Ăn hết nhiều chứ ở hết bao nhiêu.

Rồi cụ dẫn chúng tôi qua sân sang một mảnh vườn đầu hồi nhà chính. Ở đó, trên một mỏm đồi nho nhỏ, có một nếp nhà rộng chừng hơn chục mét vuông, tường đất mịn màng, mái lợp lá cọ mát mẻ, gọn gàng. Cụ bảo:

- Chẳng giấu gì thầy cô, nhà nghèo nhưng cũng được theo đòi đôi ba chữ. Cái “nhà học” con con này, tôi tôn nền làm cao lên để thỉnh thoảng anh em bạn bầu gặp nhau uống nước, thưởng hoa, bình thơ văn.

Vợ chồng tôi vô cùng thích thú với mảnh “giang sơn” riêng biệt xinh xắn này. Thế là từ hôm ấy mỗi sáng dậy, ăn sáng xong (thường là cơm nguội muối vừng), hai đứa lưu luyến chia tay nhau. Tôi đi xuôi xuống thị xã 2km. Vợ đi ngược lên Sơn Lôi, qua cầu Thịnh Kỷ đến trường. Trưa, ai về trước thì nấu cơm. Có hôm tôi nhanh nhẩu đoảng nấu canh bánh đa rau cần. Nấu kỹ quá, rau thì dai ngoách, bánh đa khê nồng…

Nhà cụ Biểu gồm cụ cố, cụ ông cụ bà, vợ chồng anh Châu con trưởng, hai cô con gái là chị Tảo, chị Bàng, hai cháu gái con anh Châu: cháu Mỵ, cháu Vỵ chơi tha thủi trong sân trong vườn. Hàng ngày chỉ có chị Châu, chị Bàng, chị Tảo ra thị xã Phúc Yên kiếm việc làm thuê. Gánh nước, bổ củi, phơi rơm, phơi rạ…Chiều về được chút tiền đong gạo cho cả nhà có bữa tối, bữa trưa hôm sau.Thời gian này mới có tổ đổi công, ruộng đồng chiêm khô mùa thối. Một năm hai vụ gặt. Mỗi vụ gặt xong, rơm phơi chưa hết màu xanh đã ăn hết thóc! Nói gì đến thức ăn! Bòn nhặt được cái gì ăn cái ấy. Bữa tối cả nhà hay ăn cơm ngoài sân …”cho mát, lại đỡ tốn dầu”. Có đêm đang ngồi soạn bài, nghe tiếng “lách cách, lách cách”, không biết là tiếng gì. Sáng hôm sau, nhà tôi hỏi thì chị Châu cười:

- Nhọ mặt, em ù ra sông Cà Lồ xúc mẻ hến, kiếm cho các cụ bát canh. Tra tương nấu sủi, ai ăn người ấy tự nhặt vỏ, bỏ vào mâm đồng kêu thế đấy cô giáo ạ.

Một buổi chiều, trái với lệ thường, chị Châu về sớm. Chị nói từ ngoài ngõ nói vào: ”Hôm nay gia đình có món ngon, mời anh chị giáo ăn cơm cùng cho vui”! Anh Châu đang ngồi đan nong nhổm lên hỏi: ”Món gì đấy, mẹ đĩ?” Chị nhìn bố mẹ chồng, nhìn chồng cười cười:

- Hôm nay may quá, tôi “vớ” được chân phụ quét dọn ở lò mổ Tiền Châu. “Lương” đã cao hơn mọi ngày lại còn đựợc “bồi dưỡng” mỗi người cân tóp mỡ. Bố nó đặt hộ tôi nồi cơm, nấu gia gia vào, đừng độn, để mời cả thầy cô giáo.

Anh Châu tót ra cổng, tay cầm cái nậm vẫn để trên bàn thờ: ”Có thức nhắm, ông con mình mời thầy giáo vài chén cho … dãn xương cốt, ông ạ!”

Chao ôi, miếng tóp mỡ kho tương sao mà ngon ngọt thế! Như là hai mươi mấy năm qua, tôi chưa bao giờ được ăn miếng nào ngon như thế. Bữa cơm tối hôm ấy - cả vợ chồng tôi là mười một người - râm ran, chuyện nở như pháo.

Từ hôm ấy, chúng tôi như là con cái trong gia đình!

*

*       *

Nhưng rồi cảnh yên ấm của vợ chồng  tôi với nhà cụ Biểu bị đứt quãng. Cuối năm ấy cả hai đứa đều phải chuyển trường, người đầu tỉnh, kẻ cuối tỉnh. Sinh con đẻ cái, chiến tranh, mọi việc càng thêm khó khăn mà thời gian thì cứ vùn vụt trôi, chưa có một lần đủ tĩnh tâm tĩnh trí nghĩ đến chuyện về thăm lại xóm Tiên Non, thăm lại gia đình cụ Biểu. Năm năm, mười năm…có lần tôi chợt rùng mình nghĩ đến ngày trở về thì những ân nhân của tôi đã về thế giới bên kia!

Tôi nhớ có ai đó - hình như giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh - đã trách khéo nhà thơ Tố Hữu khi bình giảng câu thơ ”Mười chín năm rồi chân tôi lại bước / Đoạn đường xưa cát bỏng lưng đồi”. Mười chín năm sau ngày cách mạng thành công, nhà thơ mới có dịp trở về Hanh Cát, Hanh Cù thăm lại người mẹ đã nuôi giấu ông những ngày hiểm nguy, khổ cực. Dĩ nhiên ông chỉ được gặp mấy đứa cháu nội cháu ngoại của mẹ Tơm mà thôi. Tố Hữu là cán bộ cao cấp của Đảng và nhà nước “bận trăm công nghìn việc” (như người ta vẫn nói). Còn tôi, tôi chỉ là một anh giáo quèn, một anh làm thơ quèn thì bận bịu gì, bận “trăm công nghìn việc“ gì mà không mất công bỏ buổi về thăm lại những người nghèo khổ nhưng đã dành tất cả sự thông cảm và tình thương yêu cho vợ chồng tôi.

Xin cụ cố, xin cụ Biểu ông cụ Biểu bà, xin anh Châu chị Châu, xin ông bà Thuận, ông bà Thi, ông Đa, bà Duyệt, bà Đề, bà Nghê, ông Viến, anh Duyệt, cô Thuế… Xin bà con nông dân nghèo khổ ở cái làng Tiên Non giàu nghĩa tình, giàu phong hóa tha thứ cho sự vô tâm của tôi.

Còn tôi, đã ở tuổi 75 - tuổi gần đất xa trời - tôi tự thấy không thể nào tha thứ cho lỗi lầm của mình được.

                                                   Hà Nội đầu tháng 12-2007

                                       (Hơn ba tháng trước ngày giã từ cõi thế)

 

 

 

 

 

 

NGUYỄN ĐĂNG BẨY

 

- Họ và tên khai sinh: Nguyễn Đăng Bẩy

- Sinh năm 1948

- Quê quán: Thổ Khối, Long Biên, Hà Nội

- Các bút danh: Đăng Bảy, Nguyễn Đăng, Đoàn Nhân Chính…

- Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam (từ 2006)

- Hội viên Hội Nhà báo Việt Nam, hội viên Hội Văn nghệ các dân tộc thiểu số Việt Nam.

 

- Tác phẩm chính đã xuất bản:

Mùa thu trong rừng sồi, Ra đi không trở lại, Kẻ đánh cắp thần linh (dịch thuật), Tình yêu khôn lường (biên soạn).

- Suy nghĩ về nghề văn:

Làm đã khá nhiều nghề, rồi bỏ lại tất cả để dành cho báo chí - văn chương, tôi chỉ mong truyền đến người đọc những điều bổ ích cho con tim khối óc. Làm được đến đâu, người đọc và thời gian tiếp nhận ra sao -  mình phải trông vào nỗ lực tự thân và duyên phận trời cho nữa.

 


A - TRONG KÝ ỨC BẠN BÈ

 

THẢN NHIÊN TRÔI THEO THỜI GIAN 

Hồ Anh Thái

 

Chắc Đăng Bẩy tự coi cái nghề dịch văn chương của mình cũng như mọi nghề thông thường khác, sản phẩm làm ra cứ thế gửi hết vào thiên hạ, dùng xong rồi thì người ta có thể bỏ lại hoặc bỏ quên ở đâu đó. Nhưng bạn văn chương thì không quên.

Khoảng đầu những năm 1980, Đăng Bẩy công bố bản dịch bài thơ Giờ bạn nơi đâu, bạn cùng trung đoàn hỡi của nhà thơ Xô Viết Alexey Fatyanov (1919-1959). Viết từ năm 1945, đây là một trong những bài thơ phổ biến nhất ở Liên Xô thời kỳ sau Chiến tranh thế giới thứ Hai. Tâm trạng những người lính ngay sau khi chiến thắng trở về làng quê. Bài thơ được phổ nhạc, bài hát cũng đã dịch ra tiếng Việt và hát lên, hát cả trong một vở kịch Nga rất được ưa chuộng hồi ấy, vở Những con hươu xanh. Những người cựu chiến binh gặp nhau và cùng hát: Giờ này anh về đâu, hỡi người bạn cũ cùng trung đoàn, đã cất bước cùng nhau trên con đường xa...

Tôi hầu như đã thuộc lòng bản dịch của Đăng Bẩy ngay sau khi đọc trên báo từ hồi ấy. Nhưng rồi gần ba thập kỷ trôi qua, tôi cố nhớ lại mà bài thơ vẫn thiếu mất một khổ, như trong văn bản này:

Đêm tháng năm những đêm ngắn ngủi

Tiếng súng lặng im, trận đánh xong rồi

Giờ bạn nơi đâu, bạn cùng trung đoàn hỡi

Các bạn đường đồng đội của tôi?

Trong ánh chiều tà tôi đi tha thẩn

Trước cổng nhà gỗ sực mùi sơn

Có thể người lính quen hiện đến

Gió hãy đưa đường người bạn tôi mong?

... ... ...

Nhỡ đâu bạn vẫn còn chưa vợ

Thì bạn thân ơi, đừng vội chi buồn

Đây rất nhiều bài ca và trong huyện

Nhiều cô em xinh đến mê hồn

 

Nông trường chúng mình sẽ dựng nhà cho bạn

Để ai ai cũng biết ở nơi này

Có một gia đình anh hùng Xô Viết

Từng lấy ngực che Tổ quốc những ngày

 

Đêm tháng năm những đêm ngắn ngủi

Tiếng súng lặng im, trận đánh xong rồi

Giờ bạn nơi đâu, bạn cùng trung đoàn hỡi

Các bạn đường đồng đội của tôi?

 

Dịch giả Đăng Bẩy đã dịch nhiều tác phẩm văn xuôi và thơ ca Nga. Nhiều năm anh là biên tập viên trang Văn học nước ngoài của báo Văn Nghệ. Thỉnh thoảng gặp Đăng Bẩy, tôi hỏi xin anh bản dịch đầy đủ. Chính dịch giả cũng không nhớ lại được. Anh cứ khất lần. Lâu lâu gặp anh, ngồi cạnh nhau trong những cuộc họp, tôi cứ nhắc. Mãi cho đến khoảng năm 2007, chắc là không chịu được nữa, một hôm Đăng Bẩy gửi cho tôi bản dịch mới, kèm theo bản tiếng Nga, lại còn viết thêm mấy dòng: “Đây! Khích mãi, trả nợ nhé – mò tìm bản gốc và dịch lại đấy!”

 

Đêm tháng năm, những đêm ngắn ngủi

Trận chiến đã xong, bom đạn câm rồi…

Giờ bạn nơi đâu, bạn cùng trung đoàn hỡi

Những người đồng hành, đồng đội của tôi?      

 

Trong ánh nắng chiều tôi đi tha thẩn

Trước cổng gỗ tươi sực nức nhựa sơn

Chắc hẳn một người từng chung mặt trận

Đang đến tìm tôi… Gió sẽ đưa đường?

 

Ta sẽ nhớ về một thời đã sống

Từng dặm đường xa, máu lửa khôn lường

Ta cạn ly đầu, để mừng chiến thắng

Ly nữa, uống thay người mất, kẻ còn.   

 

Ngộ nhỡ bạn tôi chưa thành gia thất

Thì bạn thân ơi, chớ vội ưu phiền

Tiếng hát vùng tôi không bao giờ dứt

Con gái vùng tôi danh bất hư truyền. 

 

Nhà bạn, nông trường chung tay xây cất

Để khắp quanh vùng ai cũng xuýt xoa

Đấy – một gia đình Anh hùng Xô Viết

Từng mang ngực ra che chắn nước nhà.

 

Đêm tháng năm, những đêm ngắn ngủi

Trận chiến đã xong, bom đạn câm rồi…

Giờ bạn nơi đâu, bạn cùng trung đoàn hỡi

Những người đồng hành, đồng đội của tôi?

Thế là đã có lại một bản dịch đầy đủ. Cả khổ thơ mà tôi đã quên trong bản dịch cũ.

Rốt cục thì Đăng Bẩy đã trả nợ cho tôi. Nhưng rồi cũng hơi buồn cười. Hai chúng tôi đều đã loay hoay một thời gian mà không ai nghĩ ra phải đi tìm bản dịch ở nơi lưu trữ tờ báo Quân đội Nhân dân khoảng đầu những năm 1980. Vậy thì chắc sẽ có ngày một độc giả yêu thơ tìm lại được văn bản ấy. Chắc chắn nó phải còn ở đâu đó, chẳng lẽ lại không thể tìm được một bài thơ trong hệ thống thư viện lưu trữ của ta.

*

*     *

Từ sau lần dịch lại bài thơ, Đăng Bẩy cộng tác với tôi giúp thêm màu sắc mới cho trang Văn Nghệ của báo Đại biểu Nhân dân. Tôi đặt anh viết về các nghệ sĩ điện ảnh danh tiếng của Liên Xô và nước Nga một thời. Vì sao? Ký ức của người Việt về nền điện ảnh ấy vẫn còn tươi mới. Vì sao nữa? Báo chí truyền hình ta lâu nay chỉ khai thác nguồn Âu Mỹ, cho nên cũng bị mất cân đối. Văn hóa văn nghệ Âu Mỹ hay quá đi chứ, nhưng nếu chỉ có một mình nó độc diễn thôi thì như lệch hẳn người, chân chấm chân phẩy.

Đăng Bẩy nhất trí với tôi, rồi vào cuộc. Cặm cụi tìm tài liệu, viết về các nghệ sĩ điện ảnh lớn của một nền điện ảnh sừng sững một thời. Từ những Oleg Strizhenov của Người thứ 41, Borisova của Thằng ngốc, Kirienko của Sông Đông êm đềm, Smurtunovsky trong Hamlet, Batalov của Moskva không tin vào nước mắt cho đến những Verchinskaya của Cánh buồm đỏ thắm, Người cá, Ruồi trâu, Taratorkin của Tội ác và trừng phạt, Pyrieva của Anh em nhà Karamazov, Svetlana Toma của Đoàn Digan tan biến vào chân trời, Alfierova của Con đường đau khổ, Vladimir Kolkin của Thép đã tôi thế đấy… Rồi những đạo diễn bậc thầy như Sergei Gerasimov, Bondarchuk, cha con Chukhrai, Tarkovsky, Konchalovsky, Nikita Mikhalkov… Anh không viết như những bài báo thông thường, mà là những chân dung mang tính văn học, kể về cuộc sống và sự nghiệp của họ, về cá tính và sự phát triển số phận của họ, theo những thăng trầm lịch sử của đất nước. Cũng phải đến hơn dăm chục chân dung công phu như vậy. Đạo diễn Việt Linh rất tâm đắc. Chị đang làm bộ sách về nghệ thuật điện ảnh cho nhà xuất bản Văn hóa Sài Gòn. Từng học đại học điện ảnh ở Liên Xô, học những bậc thầy như anh em đạo diễn Alov và Naumov, từng tiếp xúc những nghệ sĩ lớn của Nga, Việt Linh dự định sẽ in những bài chân dung của Đăng Bẩy thành một tập dày dặn. Mấy năm trời chị đi tìm nguồn tài trợ để in tập sách về nghệ sĩ điện ảnh Nga mà chị đã đặt sẵn tên, lấy cảm hứng từ nhan đề bộ phim Đoàn Digan tan biến vào chân trời, như một hàm ý về nền điện ảnh Xô Viết. Tập sách này chắc sẽ được đón nhận, những người yêu điện ảnh Nga - Xô Viết vẫn còn nhiều.

Những bài viết về nghệ sĩ điện ảnh Nga và Đông Âu, những bài viết về văn hóa nghệ thuật Đông Âu của Đăng Bẩy có một giọng riêng. Anh không dừng ở loại văn cung cấp thông tin của báo chí. Có lẽ là thói quen của người làm báo văn học, lại có một quan niệm thẩm mỹ mang tính văn học. Thành ra các bài viết của anh dường như hợp với sách hơn là với báo, và nếu in trên báo thì chủ yếu hướng vào đối tượng người đọc yêu thích văn chương.

Dịch kể cũng đã nhiều, nhưng không chuyên chú lắm vào việc tập hợp in thành sách. Chắc Đăng Bẩy tự coi cái nghề dịch văn chương của mình cũng như mọi nghề thông thường khác, sản phẩm làm ra cứ thế gửi hết vào thiên hạ, dùng xong rồi thì người ta có thể bỏ lại hoặc bỏ quên ở đâu đó.

*

*    *

Tập hợp thành quyển, đến nay Đăng Bẩy mới có mấy đầu sách: Ra đi không trở lại, truyện vừa của nhà văn Nga - Xô Viết Vasil Bykov, NXB Phụ Nữ, Việt Nam và NXB Cầu Vồng, Nga. Mùa thu trong rừng sồi, tuyển tập truyện ngắn Nga - Xô Viết, NXB Hải Phòng. Kẻ đánh cắp thần linh, truyện ngắn châu Á hiện đại, NXB Đà Nẵng. Tình yêu khôn lường, thuộc bộ sách về những câu chuyện tình đáng nhớ, NXB Thanh Niên. Thơ dịch rải rác trên báo chí thì dễ đến hàng trăm bài, nhưng cũng chẳng chịu tập hợp vào tuyển tập nào. Kiểu như bài Giờ bạn nơi đâu, hay bài Phụ nữ cười mà tôi còn mang máng nhớ được. Đăng Bẩy cũng tham gia dịch hỗ trợ cho người chủ biên trong những tuyển tập thơ của Blok, Esenin hoặc nhà thơ hiện đại Xô Viết Andrei Voznesensky, tập Chân dung Plisetskaya.

Tôi gặng hỏi, duyên nợ với văn chương như vậy thì chắc hẳn từ khi còn ít tuổi anh đã có dây dưa nào đó với thơ phú. Đăng Bẩy đã phải ngất ngưởng mà thú nhận rằng năm 1963, đang học lớp chín, hệ phổ thông mười năm, anh có bài in ở mục Ca dao của tạp chí Văn nghệ Quân đội, nhưng chưa từng dám khoe ai. Còn bài thơ đầu tay thì in trên báo Văn Nghệ năm hai mươi tuổi, tháng 5.1968, lúc đang là Thanh niên xung phong.

Mỗi lần đi trên quãng đường Hà Nội - Việt Trì, ngang qua làng Thổ Tang, huyện Vĩnh Tường, Vĩnh Phúc, tôi lại nhớ ra đó là quê của Đăng Bẩy. Cái làng bên ngoài san sát nhà cửa, xe cộ nườm nượp, vào trong còn thấy ao chuôm vườn chuối và những sản phẩm vại sành chum sành đặc trưng. Đăng Bẩy sinh năm 1948, thời tuổi thơ ở làng, anh kể, chiến tranh đói dài đói rạc, phải làm đủ thứ nghề như đào mương, cắt tóc, thợ may, phu hồ. Cho nên đến năm 1965 đi Thanh niên xung phong, làm đường, trồng rừng, gian khổ nhưng có đủ bữa ăn, thoát được cái đói. Đủ năm năm công tác, anh được đi học bổ túc rồi thi đại học, may đỗ điểm cao, được gửi đi Liên Xô du học. Một năm học tiếng Nga dự bị ở thủ đô Minsk của Belarus, 1972 - 1973, rồi Đăng Bẩy chuyển về Leningrad, nay là Saint Petersburg, thành sinh viên Học viện Kỹ thuật Lâm nghiệp, khoa Chế biến gỗ, chuyên ngành Cơ khí. Về nước, từ 1978 - 1981 anh làm kỹ sư nghiên cứu - thiết kế, Viện Máy công cụ và Dụng cụ, Bộ Cơ khí và Luyện kim, nay là Viện Máy và Dụng cụ Công nghiệp IMI. Từ tháng 10.1981 chuyển về làm biên tập viên trang Văn học nước ngoài, báo Văn Nghệ, rồi đứng ra làm phụ trương Văn nghệ Dân  tộc, sau đó làm thư ký tòa soạn Văn Nghệ cho đến khi về hưu.

Lang thang nghề nọ nghề kia như vậy, rồi đến với nghiệp văn chương từ lúc nào. Đấy là vì nhà văn Hồng Phi rủ rê về báo Văn Nghệ trông coi trang Văn học nước ngoài, để ông ấy rảnh tay chuyên tâm viết kịch và phê bình nghệ thuật. Đấy là vì họa sĩ - nhà thơ Hoàng Hữu khích lệ, không làm thơ nữa thì dịch bài cho anh em tham khảo. Thời ấy, đang cần nhiều người dịch văn học từ tiếng Nga.

Tôi hỏi anh về giai thoại xung quanh chùm thơ nổi tiếng của nhà thơ Hoàng Hữu, muốn nghe anh là người trong cuộc kể lại, bởi một số người viết văn ở Phú Thọ đã kể trên báo chí mỗi người một cách. Đăng Bẩy kể: lần ấy, nhân tiện về thăm mẹ, anh lên thăm Hoàng Hữu đang điều trị ở bệnh viện đa khoa Vĩnh Phú. Anh Hoàng Hữu rủ Đăng Bẩy ngủ lại đó, sớm mai cùng về Hà Nội, có ô tô đưa anh đi đón vợ và hai con ở Bần Yên Nhân về ăn Tết… Chuyến ấy, Hoàng Hữu nhờ Đăng Bẩy chuyển bản thảo của anh cho nhà thơ Ý Nhi để xếp hàng chờ in tập thơ riêng ở nhà xuất bản Tác Phẩm Mới. Nào ngờ trên đường về Việt Trì, Hoàng Hữu đột ngột mất. Nhà thơ Phạm Tiến Duật khi ấy đang trực cuộc thi thơ bèn giao cho Đăng Bẩy rút ruột tập bản thảo, lấy ra một chùm thơ Hoàng Hữu để in. Chính từ ấy mà bài Hai nửa vầng trăng được công bố, gây giật mình cho người yêu thơ và đoạt giải cuộc thi thơ của báo Văn Nghệ.

Mấy chục năm rồi, Đăng Bẩy vẫn nhớ thuở ban đầu, Hoàng Hữu khích lệ: không làm thơ nữa thì dịch bài cho anh em tham khảo với chứ. Tham khảo, hình như hai tiếng ấy vận vào đời làm báo và dịch thuật của Đăng Bẩy. Anh ít bận lòng đến làm sách hoặc các hợp tuyển để đời, anh chỉ coi công việc dịch của mình nặng về báo chí tham khảo, ai nhớ cho đôi ba bài thì nhớ, không thì cứ để cho nó thản nhiên trôi theo thời gian. Khi nào cần tìm, anh tin chắc chắn nó phải còn ở đâu đó, chẳng lẽ lại không thể tìm được trong hệ thống thư viện lưu trữ của ta.

 

H.A.T 

                          (Nguồn: báo Tiền phong, 12-5-2013,

báo Đại biểu Nhân dân, 30-5-2013)

 

 

 

 

B - MỘT SỐ TÁC PHẨM TIÊU BIỂU  

1. Ký

LỘC VƯỜN TAM ĐẢO

 

 Lộc trời đâu phải vô biên

Người đầu tiên được hưởng lộc vườn Tam Đảo tôi biết là cô bạn ở quê, một đội trưởng thiếu niên xuất sắc được Tỉnh Đoàn chọn lên đó dự trại hè. Mấy hôm sau về, thấy cô biết thêm nhiều bài hát mới, nhiều trò chơi mới, đặc biệt là làn da ánh mắt thì quả là... một nàng tiên vừa từ núi xuống! Hồi ấy, ai có tiêu chuẩn được lên Tam Đảo một lần đã được coi là sang lắm, chẳng như bây giờ, hễ muốn là có thể vù lên đó du lịch cuối tuần. Thị trấn Du lịch Tam Đảo đã sẵn những điểm tổ chức hội nghị, trại sáng tác văn học nghệ thuật hoặc nghỉ dưỡng trong mây.

Rồi tôi cũng được vài lần đến thưởng ngoạn miền đất hứa, giữ lại nhiều kỷ niệm đáng nhớ, trong đó có cuộc làm quen với một phụ nữ tên Thọ. Người đàn bà ấy sinh ra, lớn lên, lấy chồng, đẻ con trong sương mờ Tam Đảo và sống nhờ rừng Tam Đảo, từ thanh củi cây que đến ngôi nhà tổ ấm của mình. Chị cũng đã từng đi theo phường săn, hồi đó chẳng khó gì vẫn gặp những cá thể gấu, hổ hoặc báo lửa, còn lợn rừng hay khỉ thì cả đàn cả lũ... Cho đến một hôm, khi lẳng lặng chĩa nòng súng vào mục tiêu, thấy đó là con khỉ mẹ đang ve vuốt khỉ con, chị đã rụng rời chân tay và chấp nhận buông súng. Bây giờ, miệng thỉnh thoảng lại kêu ca tật bệnh, “đã hỏng hóc toàn bộ” như lời chị Thọ – nhưng hễ được ai khen là nhan sắc còn mặn mà, chị cười xuê xoa: “Nhờ cây thuốc, nhờ lộc rừng Tam Đảo đấy”.

Cái cảm giác về một Tam Đảo thánh thiện hằng hiện hữu trong tôi rồi cũng vỡ òa ra sau lần dừng tại cây số Mười Ba. Chỗ này trước kia luôn luôn có một cây chắn (barrier) để kiểm soát những ai lên-xuống núi, vì trên đó đã là rừng cấm. Từ ngày 15.5.1996, khu rừng cấm của tuổi thơ tôi đã chính thức trở thành Vườn Quốc gia Tam Đảo, cái tên nghe thật hiền, nhưng cũng bớt đi sự uy nghiêm của chốn núi cao rừng thẳm.

Càng tìm hiểu sâu công việc của Vườn Quốc gia Tam Đảo, tôi càng thấm thía câu nói cửa miệng người đời “Lộc trời đâu phải vô biên”. Bao cây cổ thụ ở chốn cheo leo đã bị đốn, bị xẻ thành từng súc từng đoạn, rồi bí mật theo khe theo suối tuồn xuống đồng bằng. Đã có không ít người lên tiếng về sự thiếu vắng bóng cây, bóng chim, bóng thú khi đến thăm rừng, và lạ lùng hơn – đến cả bươm bướm, côn trùng cũng ngày một khan hiếm. Đã có một hồi dân địa phương đua nhau đi bắt bướm về bán cho những đường dây tuồn tiêu bản ra nước ngoài, mà chẳng ai biết rằng mình đang làm mai một nguồn gen đặc hữu của quê hương đất nước. Một tiến sỹ côn trùng học từng nhiều lần cải trang đi khảo sát Tam Đảo đã luồn sâu được vào đường dây ma quỷ ấy không chỉ một lần... Phải khảo sát, điều tra, tìm ra phương sách cải thiện tình hình, để đến thời điểm hiện nay, tiến sỹ rất tự tin khẳng định: nếu như trước đây, mở mạng internet ra là thấy nhan nhản những lời rao bán côn trùng có xuất xứ từ Việt Nam, thì bây giờ thông tin loại đó đã vắng hẳn.

     Tài nguyên – cần kịp vãn hồi

Tam Đảo có 6 loại hoa đỗ quyên mọc từng chùm, thay nhau nở vào tất cả các tháng trong năm, mỗi loại hoa một màu sắc riêng (đỏ, trắng, vàng, tím nhạt, đỏ nhạt, trắng hồng) và tỏa mùi thơm dìu dịu. Tuy nhiên, những năm gần đây hoa đỗ quyên hầu như không còn trên dãy núi Tam Đảo, do người dân khai thác quá nhiều để bán làm cảnh và làm thuốc chữa ho. Bằng phương pháp giâm hom, gieo hạt, chiết cành, đồng thời ứng dụng cách bón phân, phun thuốc, xử lý nhiệt độ, ánh sáng hợp lý, Vườn Quốc gia Tam Đảo đã thuần dưỡng, bảo tồn thành công, dù nhân giống trong môi trường nhân tạo nhưng vẫn đảm bảo màu sắc, hương thơm như sống trong môi trường tự nhiên, mỗi chậu hoa cảnh có giá trị từ vài trăm nghìn đến hàng triệu đồng... Ngày 13.10.2008: các nhà nghiên cứu động vật khám phá tại Suối Bạc, ở độ cao 750m so với mực nước biển, thuộc Vườn Quốc gia Tam Đảo, loài rắn Má Dài - một trong 19-20 loài rắn Má Opisthotropis thuộc họ rắn nước Colubrid còn lại trên thế giới, nhưng ở Việt Nam chỉ còn 6 loài thôi. Chắc chắn rồi rắn Má Dài sẽ phải được hưởng số phận như của loài Chàng Xanh Đốm (ếch cây, tên khoa học là Polypedates dennysii) chỉ thấy ở vùng núi phía bắc nước ta, còn trên thế giới chỉ xuất hiện ở Myanmar và Trung Quốc. Từ hai cá thể thu được năm 2005 tại Vườn Quốc gia Tam Đảo, Trại Nghiên cứu Thực nghiệm các loài bò sát, ếch nhái thuộc Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật đã gây nuôi sinh sản thành công được 300 cá thể Chàng Xanh Đốm và ngày 15.6.2008 đã tiến hành tái thả về Vườn Quốc gia Tam Đảo. Chương trình nghiên cứu này có ý nghĩa đối với việc duy trì loài ếch cây ngoài tự nhiên - một loài vật tưởng chừng chẳng là gì trong lẽ sinh-tồn của trái đất. Phát hiện mới nhất được công bố hồi đầu năm 2014, hai tiến sỹ chuồn chuồn học quốc tế - Haruki Karube (Nhật Bản) và Matti Hämäläinen (Phần Lan) đã liên tiếp công bố tới 15 loài chuồn chuồn mới ở Việt Nam, trong đó, tại Vườn quốc gia Tam Đảo -  khu vực có đa dạng sinh học cao, với nhiều loài sinh vật đặc hữu và quý hiếm – có 5 loài: Stylurus clathratus, Fukienogomphus promineus Chao, Leptogomphus perforatus Ris, Burmagomphus divaricatus Lieftinck và Lamelligomphus formosanus được xếp hạng “Ghi nhận mới”, còn loài Leptogomphus tamdaoensis Karube được xếp hạng “Loài mới”. Những khám phá này là một trong những minh chứng về tầm quan trọng của Vườn Quốc gia Tam Đảo trong sự nghiệp bảo tồn các loài động vật đặc hữu của nước nhà và thế giới.

Hiện nay do nhu cầu săn bắt lấy thịt, làm thuốc, làm thú nuôi... nên số lượng rùa của nước ta ở ngoài tự nhiên còn rất ít. Ngày 8.7.2014 ngành Kiểm lâm đã thả 14 cá thể rùa thuộc 2 loài rùa Spengle và rùa Sa nhân trở về với tự nhiên tại Vườn Quốc gia Tam Đảo. Cuộc thả phóng sinh có ý nghĩa to lớn và đóng vai trò rất quan trọng trong công tác bảo tồn và phát triển bền vững nguồn gen động, thực vật cho thế hệ hôm nay và mai sau.

Còn có một sự thật nổi cộm hơn: Tổ chức Động vật châu Á đã cảnh báo rằng hiện Việt Nam chỉ còn chưa đầy 100 con gấu đang sống ngoài tự nhiên, hơn 4.400 con đang được nuôi nhốt trong các trang trại, chủ yếu để hút mật kinh doanh. Thực trạng này khiến Tam Đảo xúc tiến thành lập Trung tâm Cứu hộ gấu đầu tiên của Việt Nam. Trung tâm được đầu tư trên 3,3 triệu USD, hoạt động từ tháng 4.2008, đến 2009 mới chưa đầy một năm đã có 22 con gấu được nhập Trung tâm. Chúng được nữ chuyên gia Hà Lan Anne Marie cùng các chăm sóc viên đánh giá tình trạng sức khỏe, tính cách và các hành vi. Khu cách ly được vận hành khoa học, khách vào phải qua khử trùng, không được phép vào các buồng gấu nhằm bảo đảm cho chúng khỏi nhiễm mầm bệnh, sau đó được chuyển sang khu nhà phục hồi sức khỏe, sang khu quây nuôi gấu bán tự nhiên. Được biết: Tổ chức Động vật châu Á đã tài trợ cho Trung tâm, và nếu có hiệu quả sẽ tài trợ tiếp. Cũng như thế, Tổ chức Hỗ trợ Kỹ thuật Đức đã tài trợ 1,8 triệu euro cho Dự án Quản lý Vườn Quốc gia Tam Đảo và vùng đệm giai đoạn I (2003-2006), thấy thành công, bèn tài trợ tiếp 2 triệu euro cho giai đoạn II. Đến khi hoàn thiện, với những thiết bị vào loại hiện đại nhất châu Á, Trung tâm Cứu hộ gấu Việt Nam ở Tam Đảo sẽ bao gồm: khu cách ly tạm thời cho 50 cá thể gấu, 5 nhà gấu đôi với khu vực ngoài trời rộng rãi, mỗi nhà có diện tích khoảng 2000 mét vuông, khu phục hồi chức năng cho việc phục hồi thể chất và tinh thần cùng việc tái hòa nhập theo đàn của gấu, khu chăm sóc đặc biệt cho gấu bị khiếm khuyết nặng nề và nhà gấu con được thiết kế riêng để chăm sóc cho gấu con đang trong giai đoạn trưởng thành, có thể chăm sóc suốt đời 200-250 cá thể gấu cùng một lúc...  

Vệ sỹ rừng xanh

Hơn bảy chục con người ở Vườn Quốc gia Tam Đảo trong gần hai chục năm qua đã bám đất, bám rừng, bám dân một cách bền bỉ để thực thi trách nhiệm của những vệ sỹ rừng xanh. Họ đã lập được mối quan hệ gắn bó với dân cư 27 xã của 4 huyện thuộc 3 tỉnh Vĩnh Phúc, Thái Nguyên và Tuyên Quang trong tất cả các việc, từ hiếu hỉ của từng gia đình, đắp đập qua suối đến trang bị thông tin, kiến thức... cho người dân trong vùng. Trong những năm gần đây, Ban Quản lý Vườn đã phối hợp với các địa phương, từ chính quyền đến các tổ chức xã hội (Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ, Hội Cựu chiến binh, trường học...) làm tốt công tác quản lý bảo vệ rừng. Vườn Quốc gia Tam Đảo thành lập 24 ban chỉ huy và 126 tổ xung kích chữa cháy rừng được trang bị những phương tiện chữa cháy cần thiết, được tập huấn chi tiết để phối hợp với các lực lượng quân đội, công an sẵn sàng ứng cứu. Các chiến sỹ kiểm lâm được bố trí canh gác các trạm, chốt bảo vệ rừng xung quanh núi Tam Đảo, phối hợp với Hạt Kiểm lâm các huyện Bình Xuyên, Tam Đảo (Vĩnh Phúc), Sơn Dương (Tuyên Quang), Đại Từ (Thái Nguyên) và các hộ nhận khoán bảo vệ rừng tổ chức tuần tra, bắt và xử lý đối tượng vi phạm lâm luật. Tránh dùng vũ lực, chỉ dùng sức thuyết phục để dân trong vùng tự giác ngăn chặn lâm tặc, bảo vệ và phát triển diện tích rừng. Sau 10 năm đầu, Ban Quản lý Vườn đã giao khoán rừng cho các hộ dân xung quanh núi Tam Đảo chăm sóc và ký cam kết bảo vệ rừng với 3.161 hộ ở các xã vùng đệm, cử cán bộ kỹ thuật hướng dẫn các hộ nhận khoán thực hiện quy trình kỹ thuật trồng và chăm sóc rừng đặc dụng đúng mùa vụ. Mỗi năm Vườn Quốc gia Tam Đảo trồng thêm 300-400 ha, riêng năm 2006, trồng cả 900 ha đều sống. Nếu tính sau 10 năm đã có thêm 5.000 ha, cộng với 20.000 ha rừng khoanh nuôi bảo vệ, thì độ che phủ của rừng đã từ 60-61% lên 83-85%. Những người gắn bó với rừng Tam Đảo đều tự hào vì mỏm Mũi Cày mãi tít trên cao vốn trơ trọi, chỉ loi thoi lau lách, nay đã trùm dưới một tấm chăn óng biếc của rừng thông đuôi ngựa và cây bản địa... Có thêm một vạt cây rừng trên cao là có thêm một nguồn nước sạch dưới đất: hồi cuối thập niên 1980, người dân Đồng Bả xã Hồ Sơn thường phải đi xa hơn cây số lấy nước về, nhưng nay, nước trồng lúa ở vùng này còn thuận lợi hơn ở dưới xuôi rất nhiều. Các loài thú như hươu, nai, hoẵng, mang, lợn lòi, gấu, mèo rừng, sóc, chồn, cáo vắng bóng từ hàng chục năm trước, nay đã xuất hiện trở lại. Khu hồ Thanh Lanh lại có từng đàn hươu nai xuống uống nước, từ độ cao 200m trở lên đã xuất hiện dấu vết dũi của nhiều đàn lợn lòi. Đêm đêm, tiếng nai, hoẵng, mang giác vang rừng. Nhiều bộng ong, hang đá có dấu hiệu của các loài gấu ngựa, gấu chó sinh sống, kiếm ăn. Rõ nhất là những đàn chim như vẹt, khướu, tu hú, sáo sậu, mỏ cày, vòi voi, cò, vạc, sâm cầm, những loài chim sống dưới đất như đa đa, gà rừng, chim dẽ đều đã xuất hiện trở lại, điều mà từ hàng chục năm nay không hề thấy...

Đi đôi với các việc nhằm an sinh xã hội, Vườn Quốc gia đã phối hợp với Trung tâm Giáo dục thiên nhiên Việt Nam mở lớp tuyên truyền giáo dục bảo vệ môi trường cho người dân ở 3 thôn của xã Đạo Trù, 2 thôn của xã Ninh Lai... Đúng ngày kỷ niệm sinh nhật Bác Hồ năm 2007 - cùng các trường Đại học ở Hà Nội, Tổ chức Hỗ trợ Kỹ thuật Đức (GTZ) và một số Tổ chức Bảo tồn thiên nhiên hoạt động tại Việt Nam (WWF Greater Mekong, EVN, IUCN) mở Trường Rừng, đưa du khách trẻ từ Hà Nội và các tỉnh xa lên sống với rừng xanh yêu thương, tiến hành hàng loạt hoạt động bảo tồn, giáo dục môi trường: tham quan hệ thực vật: về đất, về cây bản địa; Khảo sát loài linh trưởng; Loài chim, loài lưỡng cư, bướm, côn trùng... Trong năm đó, Vườn quốc gia Tam Đảo đã phối hợp với GTZ, Dự án quản lý Vườn Quốc gia Tam Đảo và vùng đệm tổ chức 15 khóa tập huấn bồi dưỡng kiến thức chuyên môn cho cán bộ công chức. Tại đây, ngày 14.9.2008, cùng Tổng cục Môi trường, Toyota Việt Nam và Trung tâm Giáo dục Thiên nhiên (Bộ Giáo dục và Đào tạo) phối hợp tổ chức mở lớp bồi dưỡng cốt cán của các Vườn Quốc gia trong khuôn khổ Chương trình Hành trình Xanh - Bảo tồn Thiên nhiên (Go Green). Chương trình kéo dài trong 3 năm (từ 2008-2011). Rủ rỉ tâm tình với những vệ sỹ của Tam Đảo xanh, từ chuyên viên khoa học Lê Văn Xứng đến những công nhân đang chọn hạt giống thông đuôi ngựa, tôi thấy tâm hồn các vệ sỹ của rừng cũng đa sầu đa cảm. Họ cũng ấn hành 800 bản tập san Rừng xanh đưa đến với khoảng 5.000 lượt học sinh THCS ở ven núi huyện Tam Đảo và huyện Sơn Dương (Tuyên Quang). Lục lại ký ức, tôi mới ngỡ ngàng nhận ra rằng “nàng tiên” của Đội Thiếu niên làng tôi ngày nào rồi cũng gia nhập đội quân trồng rừng, và ông cựu phó giám đốc Vườn Quốc gia Tam Đảo Trương Quang Khiên đã lên tặng các đồng nghiệp hai tập thơ Mầm lửa và Lạc trong nhau, đều do Nhà xuất bản Hội Nhà văn ấn hành, trong đó có nhiều bài đã được đăng ở báo chí trung ương. Họ cất lên tiếng lòng của những người vãn hồi tài nguyên cho đất nước và tạo dựng cảnh quan thiên nhiên cho vùng du lịch... Ấy vậy mà cuộc sống đãi ngộ quả thực quá nghèo nàn so với những giá trị do lao động của họ mang về... Theo cách tính của cựu giám đốc – thạc sỹ Đỗ Đình Tiến – ước tính mỗi năm, một hec-ta rừng sẽ tăng trưởng đều đều, cho thêm 5 mét khối gỗ, thì trên dưới ba chục nghìn hec-ta rừng của Vườn Quốc gia Tam Đảo mỗi năm mang về cho đất nước khoảng 140.000 mét khối gỗ, trị giá xấp xỉ 70 tỷ đồng. Nguồn thu đó quả là khổng lồ so với ngân sách hàng năm rót cho Vườn Quốc gia, nhưng đâu đã có thể trích vào quỹ phúc lợi cho cán bộ công nhân viên. Cũng như vậy - những vệ sỹ của rừng làm nên cảnh quan tươi đẹp được hưởng gì từ những thu hoạch của ngành du lịch tại chính Tam Đảo này?

Lộc vườn Tam Đảo, do người Tam Đảo vun trồng, đã và đang trở thành tài nguyên đất nước. Các vệ sỹ rừng xanh theo câu châm ngôn “lộc bất tận hưởng”, yên dạ để dành cho những thế hệ mai sau...

 

 

 


 

CON ĐƯỜNG NGƯỢC DỐC

 VÀ BÉ EM KHÉP NÉP

Đến Lai Châu – Phong Thổ – Dào San ít ngày mà bộn bề những việc đã làm, những người đã gặp và những điều mong ước. Sánh ngang niềm kiêu hãnh về những thành công là ít nhiều thương cảm với đất và người nơi đây...

Con đường

Xe lên núi cao uốn lượn ngoằn ngoèo không bao giờ thiếu mấy ổ gà, mấy tảng đá từ sườn non lăn xuống bất thình lình án ngữ vệ đường, làm cho hành khách luôn luôn bị vặn sườn… Nhưng con đường lên Dào San bây giờ đang nâng đỡ chúng tôi đến với những bản cùng trời cuối đất ở miền Tây Bắc của Tổ quốc. Những viên đá hộc đá dăm lót đường làm căng gân tay của những phụ nữ các dân tộc Dao, Mông, Thái hồi mươi năm về trước, nay đã chìm lặn đâu đâu dưới lớp nhựa asphal…

Hai nhiếp ảnh gia của miền Nam đất nước đồng hành với tôi – Thái Thanh Niên từ thành phố Hồ Chí Minh và Lâm Tuyền từ Sóc Trăng – đã chọn chỗ ngồi kề cửa, ống kính lăm lăm sẵn sàng nạp hình, nhưng lộ vẻ thấp thỏm. Xe chạy chủ yếu là ngược dốc, mà trời cứ mù mịt thế này, dễ biến chuyến đi của hai nghệ sĩ vượt gần ba ngàn cây số đến đây trở thành “năm ăn năm thua”. Trung tá Công Thành dẫn đường chúng tôi luôn luôn an ủi: “Thời tiết ở đây nắng mưa bất chợt, đám sương mù này đi, nắng lại chợt hửng lên, các anh đừng nản. Hôm nay lại là ngày chủ nhật, có chợ phiên Dào San của các dân tộc địa phương, mỗi tuần chỉ họp một lần. Tôi đã điện thoại cho toàn thể đồng bào, hôm nay đi chợ đừng vội về như mọi lần, có đoàn nghệ sĩ nhiếp ảnh từ miền Nam lên ghi hình bà con mà”…

Biết là anh sĩ quan Biên phòng này nói trạng cho vui, chứ làm thế nào giữ chân bà con đừng sớm giã bạn, nhưng quả thật, bác tài xế thông thạo địa hình đã đổ được hành khách xuống cổng chợ Dào San để họ bán mua, ngắm nghía, chuyện trò với dân địa phương cả tiếng đồng hồ.

Dân Dào San vẫn còn giữ nết chất phác bẩm sinh, thấy máy ảnh, máy quay phim chĩa vào mình vẫn chưa biết vòi tiền cát-sê. Nhìn vào quán ăn, thấy hai phụ nữ Dao - một già một trẻ - lên cùng xe ở Bản Lang, nay đang ngồi ngất ngưởng uống rượu ăn phở bò với hai người bà con đồng tộc. Nhận ra khách đồng hành, bà già liền vẫy tay mời mọc tôi vào bàn chung vui. Theo lệ, đồng bào các bản lân cận đến đây để trao đổi thông tin về họ hàng thân tộc; cũng có những người tình cũ đến để tìm lại một nửa ngày xưa của mình; và đương nhiên - trai gái trẻ bây giờ đến để tìm bạn tình, chắp nối mối lương duyên mới. Này là một thiếu nữ Dao mặt hoa da phấn vừa xua đuổi hai chàng trai đang trổ tài tán tỉnh, vừa đưa con mắt cảnh giác để kịp thời quay lưng giấu mặt khi biết có người đang muốn “nhốt” mình vào máy ảnh. Này là một cháu bé Mông được địu trên lưng mẹ, đi chợ phiên cùng bà cùng chị, bé cứ tự bóc chuối ăn hết sức ngon lành...

Nằm đúng tâm điểm của 8 xã vùng cánh cung biên giới phía Bắc huyện Phong Thổ, cư dân ở trung tâm Dào San đa phần là giáo viên, cán bộ, bộ đội từ dưới xuôi lên, còn dân bản địa người Mông, người Dao, người Hà Nhì thì ở sâu trong các bản, cao trên lưng núi… Đồng bào quen trồng trọt ngô, lúa, thảo quả và chăn nuôi trâu, bò, lợn, gà. Nghe nói, trước đây, có nhà trồng thảo quả mỗi năm thu được hàng trăm triệu đồng, tiền về đóng gói cất kỹ cho mối xông, vì chẳng biết tiêu vào việc gì, cho đến khi con đường mở đến…

 

Kiêu hãnh

Khi chúng tôi đến Đồn Biên phòng Dào San, anh em cán bộ, chiến sĩ ở đây đều khẳng định rằng: đã nhiều năm nay, tình hình ở đây khá là ổn định. Đồn có trách nhiệm quản lý 25,546 km đường biên giới, đoạn phía đông (phân thủy) chạy dọc theo núi Khang (cao trung bình trên 1.800 m), đoạn phía tây (tụ thủy) dọc sông Pa Nậm Cúm. Tuyến này có 5 cột mốc quốc giới: phía đông – ba mốc 82; 83; 83/1, phía tây – hai mốc 68/2 và 69/3. Ở 8 bản giáp nước bạn - Ma Can, San Cha, Lùng Than, Tung Trung Vang, Sàng Sàng, Cò Ký, Khấu Dào, Hà Nhì – cư dân hai bên đều chấp hành khá tốt nội quy, quy chế khu vực biên giới do hai nhà nước ký kết, không thấy xảy ra những hiện tượng tranh chấp biên giới, xâm canh xâm cư… Trên địa bàn 3 xã Mù Sang, Dào San và Tông Qua Lìn, bao gồm 31 bản, 2.194 hộ, 11.695 nhân khẩu, đồng bào 5 dân tộc Mông, Dao, Hà Nhì, Hoa và Kinh chung sống thuận hòa.

Tai nghe những cụm từ ngắn ngọn và chắc nịch, nhưng mắt còn muốn thấy nhãn tiền, chúng tôi theo hai chiến sĩ Biên phòng từng nhiều năm làm việc vận động quần chúng xuống thăm một số bản dân cư. Đón nhận những lời chào hỏi đồng chí Tâm và đồng chí Páo của người già, trẻ nhỏ thì biết: các anh đã là chỗ thân thuộc của dân địa phương. Ở đây, người Mông chiếm số đông, 81,7% dân số, có 1.807 hộ, 9.561 nhân khẩu ở rải rác trong 27 bản vùng cao. Bà con ngày ngày lên những nương ngô, vạt rừng trồng thảo quả, ruộng bậc thang trồng lúa - đó là việc cổ truyền, nhưng mấy thập niên gần đây còn du nhập tín ngưỡng mới. Ở tất cả các tụ điểm đạo Tin Lành hoặc Cơ Đốc giáo của người Mông cũng như đạo Thiên Hùng của người Dao, tín đồ đều được hướng dẫn để không hoạt động tôn giáo trái pháp luật. Đó là một trong những thành công quan trọng của bộ đội Biên phòng, bên cạnh những công tác khác cũng chẳng kém phần quan trọng: kịp thời ngăn chặn những nguy cơ tiềm ẩn có thể gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội như tuyên truyền vận động thành lập nhà nước, quân đội Mông; lôi kéo, kích động dân cư di dịch tự do; mua bán người, bắt cóc chiếm đoạt trẻ em; mua bán, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng trái phép các chất ma túy; trộm cắp trâu bò, nông lâm thổ sản đưa qua biên giới tiêu thụ… Để thực hiện những nhiệm vụ đó, theo quyết định của huyện ủy Phong Thổ, Đồn Dào San đã cử một đồng chí bộ đội Biên phòng về xã làm phó bí thư thường trực đảng ủy, để sâu sát hơn với nguyện vọng của dân. Thượng úy Nguyễn Văn Nguyên cho biết: chỉ mới đây thôi, tháng 2 năm 2012, bộ đội Biên phòng Dào San đã trực tiếp vận động 8 hộ Mông gồm 45 nhân khẩu ở bản Dềnh Sang từ bỏ ý định di cư sang Mường Nhé, và trong quý I năm 2013 vận động thành công 13 hộ gồm 84 nhân khẩu nữa. Mô hình hoạt động này đã chứng tỏ tính hiệu quả, nên sắp tới, huyện ủy có kế hoạch điều động thêm hai đồng chí nữa về xã.

Sống gắn bó mật thiết với đồng bào các dân tộc Dào San, không ít cán bộ, chiến sĩ đã tìm thấy tổ ấm của mình tại đây. Nhiều người vẫn trầm trồ kể về anh bộ đội Biên phòng Nguyễn Hữu Hải, người đất Quan họ Bắc Ninh, lên Lai Châu “trấn thủ lưu đồn” không phải ba năm, mà trụ lại suốt đến nay. Khi làm nhiệm vụ ở Dào San, anh đã bén duyên cùng một cô gái Mông bản địa và cưới làm vợ năm 1992, đến nay, con lớn của họ đã vào đại học. Thiếu tá Đồn trưởng Đỗ Đình Cường cho biết: đơn vị anh có trên một chục cặp vợ chồng an cư lạc nghiệp quanh đây, mà đa số các nàng dâu là cô giáo vùng xuôi cắm bản. Mới đây nhất, ngay trước ngày chúng tôi lên, đơn vị đã tổ chức mừng đám cưới của thượng úy Trần Hà Nam, đội trưởng Kiểm soát Hành chính, với cô cử nhân Pháp ngữ Nguyễn Kim Loan. Kể ra - theo lời anh em đồng đội - thì cặp uyên ương này “lì” lắm. Họ cùng sinh năm 1985, thân nhau từ hồi cùng học ở thị trấn Đông Hưng, Thái Bình, hết bậc phổ thông mỗi người một ngả. Nàng nhập trường Ngoại ngữ của Đại học Quốc gia rồi hành nghề tại Hà Nội, chàng nhập trường Ngoại ngữ của Quân đội, sau đó, còn học tiếp và lấy thêm văn bằng thứ hai tại Học viện Biên phòng rồi lên nhận nhiệm vụ ở Dào San. Thế nhưng, cặp tình nhân vẫn quyết chung tình. Sau một lễ cưới tổ chức trang trọng tại quê nhà, đôi vợ chồng trẻ đưa nhau lên ra mắt đơn vị. Mấy ngày ở lại trong căn phòng hạnh phúc, nàng dâu mới cùng ăn trong nhà bếp tập thể với anh em, thỉnh thoảng lại phát huy sở trường, nhận đánh máy giúp đơn vị những văn bản cần thiết… Biết được mối lương duyên của họ, tôi thấm thía câu thơ của Nguyễn Đình Thi “chúng ta yêu nhau kiêu hãnh làm người”…

Và thương cảm

Trời Dào San khi mờ mịt mù sương, khi chói lói nắng vàng, khi la đà những áng mây trắng nõn… ngỡ như tiên cảnh. Nhưng khí hậu ở đây có đặc thù của vùng đất trời rành rẽ, rõ rệt hai mùa. Mùa khô thường gặp những cơn lốc xoáy, mưa đá, và mùa mưa thường dài liên miên, lạnh 1-2oC. Cùng với điểm du lịch Sa Pa ở độ cao 1.600 mét trên mực nước biển, nên khi nào bên đó tuyết băng, bên này cũng thế, mặt nước trong bể phủ một lớp băng, và áo mũ các chiến sĩ tuần tra phủ đầy tuyết trắng. Gió ở đây hun hút, lá cờ Tổ quốc cắm trên cột trước Đồn cứ độ hai tháng lại phải thay mới. Những ngày chúng tôi đến làm việc với Đồn đúng vào giao thời giữa hai mùa, nên ít nhiều cũng được nếm trải thời tiết nơi đây.

Ngày đầu tiên, vừa đón chúng tôi vào trong phòng, thiếu tá Đồn phó Hoàng Mạnh Hùng đã khép kín cửa ngay, kẻo mù sương ùa vào gây ẩm ướt hành lý của khách. Quần áo bộ đội giặt xong, phơi phóng phải dăm ngày mới có thể khô. Đang lúc nước nôi khan hiếm, các bể chứa nước phục vụ sinh hoạt của bộ đội đều trơ đáy. Thầm nghĩ, sao không xây bể trên lưng chừng núi để hứng nước mưa, nước suối dự trữ cho những ngày khô hạn? Chưa kịp nói ra, sáng hôm sau đã thấy thủ trưởng Đồn phân công lính tráng dọn rừng để di chuyển một thùng chứa nước - to bằng nửa gian nhà - lên đặt chỗ gần hơn ngọn suối… Như để tưởng thưởng cho những đầu óc chung mối lo toan, hôm sau, trời ban cho chúng tôi một cơn mưa dào dạt.

Chúng tôi đã đến thăm nhà anh Giàng A Nam, một cây khèn có thứ hạng trong những lễ hội của người Mông. Anh vừa âu yếm ôm đứa con chừng một tuổi, vừa nịnh khéo cô vợ đảm để cô chịu diện bộ đồ dân tộc, trèo lên căn gác treo đầy những bắp ngô, cho hai nhiếp ảnh gia ghi cảnh được mùa thu hoạch. Dọc đường nội bản lên xuống gập ghềnh, nhiều đoạn đã được lát bê tông, chúng tôi gặp lớp mẫu giáo bên đường, nghe lũ trẻ hát múa đều răm rắp. Chúng tôi cũng đến một trường tiểu học, nghe các cô giáo rôm rả chào anh em bộ đội Biên phòng. Một cô giáo đến nói nhỏ với anh em: “Hai cháu con nhà X đã trở lại lớp” – chắc là các cô mới vận động được học sinh đến trường. Một cô giáo mở hé túi áo ngoài của mình, cho chúng tôi thấy bên trong là một bọc kẹo: “Buổi nào lên lớp chúng em vẫn phải trù sẵn món này, có thế mới giữ được học sinh ở đây, anh ạ”. Ngôi trường mới xây được 4 phòng học kiên cố, nhưng nay các cô đã tổ chức được 5 lớp, phải vận động phụ huynh góp tre nứa vầu ghép vách làm một phòng học tạm. Thật thương cảm khi gặp cảnh một lớp luôn luôn có hai cháu bé Mông lẵng nhẵng bám theo, cả khi ngồi trong phòng học bài, cả khi ra sân tập thể dục. Hóa ra, có những cháu muốn đến lớp học chữ, nhất thiết phải mang em nhỏ đi theo, vì người lớn trong nhà bận lên nương cả. Mà hai đứa em nhỏ này đã sớm tinh khôn, hễ thấy máy ảnh chĩa vào mình liền khép nép núp sau lưng chị…

Ước chi, ở một vùng quê đang được quân dân đồng lòng bảo vệ chủ quyền quốc gia, gìn giữ sự ổn định xã hội và nâng cao chất lượng cuộc sống, lứa anh chị, bạn bè và đàn em của cháu nhỏ khép nép kia sẽ lớn lên, đầy đủ thể lực và trí lực vào công cuộc xây dựng và phát triển đất nước, quê hương…

 

 

 

 

 

 

LÊN MIỀN CƠTU

 Đã lâu lắm rồi, chúng tôi mới lại đi một chặng đường “vặn sườn, ù tai” như thế: lăn bánh từ Đà Nẵng được một quãng, len lách theo sườn núi Trường Sơn và bờ sông A Vương, phải mất cả bốn giờ đồng hồ mới bươn được chừng 120 cây số. Tây Giang đó…

Miền đất nguyên sinh

Dừng bánh trên Đỉnh Quế 1369m - địa danh xuất phát từ một cây cổ thụ tại đó, nhựa và vỏ sực nức hương thơm - ai nấy đều hít một hơi thật sâu rồi loanh quanh thư thả ngắm núi rừng hùng vĩ, rồi uống rượu Tr’đin, nhắm những cá Liêng, heo cỏ hay ếch đá om khói trên bếp củi và nghe những chuyện quyến rũ ở Tây Giang - huyện miền tây Quảng Nam nằm cheo leo trên đại ngàn Trường Sơn, giáp giới hai huyện Kạlừm, Đăkchưng của nước bạn Lào. Tại đây, hơn 95% dân cư là đồng bào Cơtu bản xứ.

Rừng Trường Sơn là kho tàng vô tận, thỉnh thoảng lại phát lộ những bí mật của mình. Ở hai xã Axan và Tr’hy, trên đỉnh Zi’liêng - ngọn núi thiêng cao ngất của người Cơtu – từ độ cao 900 mét trở lên hiện còn cả một rừng nguyên sinh mọc toàn pơ mu. Nghìn năm qua, người dân vùng này đã gìn giữ từng cây, thỉnh thoảng mới xin thần rừng một cỗ quan độc mộc cho người sang sống cõi khác. Hiện khu rừng rộng 450 hecta, gồm hơn hai nghìn cây, trong đó, 725 cây thọ từ 200 đến 1.328 năm tuổi, 1.037 cây có đường kính trên hai mét, cao trên ba chục mét; cây to nhất đường kính lên tới hai mét rưỡi, ngoài ra, số cây có đường kính từ một đến hai mét cũng khoảng 170, còn lại là những cây nhỏ hơn. Trong máy điện thoại thông minh của nhiều người ở đây thường có một bức ảnh chụp cảnh cây pơ mu “vua”, sáu người nắm tay nhau mới ôm trọn gốc. Giữa năm 2015, sau 8 tháng thực hiện các thủ tục trong nước và quốc tế, tỉnh Quảng Nam đã hoàn tất hồ sơ để Hội Bảo vệ thiên nhiên và môi trường Việt Nam công nhận quần thể pơ mu cổ thụ ở Tây Giang là rừng di sản.

Tây Giang cũng là địa bàn thuộc Khu bảo tồn Sao La. Vốn là, vào năm 1992, giữa rừng Trường Sơn bỗng lộ diện loài thú đặc biệt quý hiếm này, chúng có tên trong sách đỏ thế giới, chỉ còn tồn tại ở Việt Nam, đang sống tập trung ở vùng rừng núi Thừa Thiên - Huế và Quảng Nam với khoảng 200 cá thể. Khu bảo tồn Sao La Quảng Nam được thành lập trên diện tích 16.500 hecta tại 2 huyện Tây Giang, Đông Giang, kết nối với Khu Bảo tồn Sao La A Lưới và Vườn Quốc gia Bạch Mã, tỉnh Thừa Thiên Huế. Năm 2011, Quỹ Bảo tồn Thiên nhiên quốc tế (WWF) đã tài trợ 1,796 triệu euro để tập trung bảo vệ quần thể Sao La đó.

Và mới đây thôi, người dân bốn xã vùng cao Axan, Gari, Ch'ơm, Tr'hy mới biết: loài cây mọc nhiều ở những thung lũng gần khe nước cho loại hạt vỏ cứng khoái khẩu của heo rừng, sóc rừng, hóa ra đó là hạt dẻ, đang được nhiều người lùng mua, người quen thông thổ có thể lượm được mỗi ngày một tạ, bán với giá 5.000 đ/kg, sơ bộ vụ đầu, đám thương lái đã thu gom được hơn hai trăm tấn hạt. Cán bộ đã xuống tận từng thôn làng vận động bà con chỉ nhặt hạt, tuyệt đối không đốn hạ cây để năm sau còn hạt mà bán, đồng thời chính thức đề nghị các ngành chức năng hỗ trợ bảo tồn và có thể nghiên cứu nhân rộng loại cây đặc sản này.

Bốn giờ lăn bánh có vẻ “cam go”, nhưng cũng bõ công, vì với du khách lữ hành, thì Tây Giang với nhiều sửng sốt còn nhiều hấp dẫn phía trước…

Những người trung dũng

Thoạt nghe, Tây Giang còn là một cái tên mới mẻ, nhưng không mấy ai lấy làm lạ khi biết: trước năm 2003, đây chính là triền tây của huyện Hiên làm nên uy danh trung dũng kiên cường cho xứ Quảng trong hai cuộc chiến. Thung lũng Azứt là cửa ngõ chính của tuyến đường Hồ Chí Minh huyết mạch, nối liền miền Bắc hậu phương với các chiến trường Khu 5, Tây Nguyên qua ngả A Lưới và Hạ Lào. Hoạt động hừng hực ở khu “cổng trời” này không giữ bí mật được lâu, nên thôn làng bị bao trận bom rải thảm, người Cơtu bảo nhau rút vào rừng sinh sống, bám trụ tại quê hương. Những năm 1965-1969, chiến tranh ác liệt hơn, đơn vị công binh 43 của Bộ đội Trường Sơn cùng dân quân du kích và đồng bào địa phương phải khoét núi đào địa đạo tại xã Anông để bám đất và “giữ giống”. Địa đạo là nơi trú ẩn an toàn cho hàng trăm con người, đặc biệt là những em thiếu nhi miền Nam trên đường ra Bắc học tập. Cách đây ít lâu, qua khảo sát đã phát hiện được năm địa đạo ở Tâm Abóc, Ch'run, Abuôl, Bh'nơm và L'bơơi. Nửa thế kỷ qua rồi, bên trong vẫn còn nguyên những trạm cứu thương, hầm làm việc, nơi trú quân, kho lương dự trữ... Người Cơtu chấp nhận hoàn cảnh sống ngặt nghèo nhưng quyết không để cho bộ đội, du kích thiếu súng đạn lương thảo. Trong Gươl truyền thống của làng Cơtu trung tâm huyện lỵ Tơ Viêng còn treo nhiều ảnh chân dung cán bộ lãnh đạo và anh hùng dũng sĩ các thời kỳ, riêng một vị được tạc tượng bán thân trang trọng. Đó là cụ Alăng Bhuôch (1931-2015), người thôn Aruung, xã Bhalêê đã được nhà nước tấn phong danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân năm 2012. Từ nhỏ đã dính một trận ốm thập tử nhất sinh nên bị mù lòa, nhưng Alăng Bhuôch vẫn nằng nặc đòi được tham gia đoàn vận tải, có lần - ấy là hồi đầu tháng 5-1968 - cụ gùi cả thân và đầu súng DKZ nặng cỡ trăm cân, vượt suối băng rừng từ Bình Trị Thiên vào chiến trường Quảng Đà. Trong suốt 5 năm từ 1968 đến 1972, con người khiếm thị ấy đã gùi trên vai mình hơn 180 tấn hàng các loại, gồm 62 tấn lương thực và 120 tấn vũ khí. Sức mạnh và sức bền cổ truyền của người Cơtu đã góp phần ấn tượng vào công cuộc giải phóng và thống nhất nước nhà. Nhân vật huyền thoại ấy cũng chính là người đầu tiên be bờ đào mương, đưa mô hình làm lúa nước vào sản xuất nông nghiệp ở huyện Tây Giang sau ngày giải phóng.

Vượt lên chính mình

Những con người ngoan cường với những kỳ tích thời chiến đã hun đúc nên sức mạnh tinh thần cho nhiều lớp người Cơtu vượt khó trong thời bình. Do địa hình muôn vàn cách trở, Tây Giang phải phấn đấu cật lực, đến năm 2014 tỷ lệ hộ nghèo vẫn còn chiếm tới 46,34%, và đến cuối năm 2015 mới có 56/70 thôn/9 xã được sử dụng điện lưới sinh hoạt ổn định. Kỳ thực, đến thời điểm này, đây vẫn nằm trong số 62 huyện nghèo nhất nước.

Nhằm thay đổi bộ mặt nông thôn vùng cao phên giậu, đã từ lâu nay Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Tây Giang lần lượt ban hành nhiều quyết sách: về xây dựng kinh tế nông nghiệp, nông thôn, nông dân giai đoạn 2008-2013 và định hướng đến năm 2018; về xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ hiệu quả đến năm 2015 và giai đoạn 2015-2020; về xây dựng Thôn Nông thôn mới… Ý chí của Đảng trùng hợp với khát vọng của dân ắt tạo nên sức sống mãnh liệt. Bằng cách lồng ghép nguồn vốn trung ương và tỉnh cho các chương trình, dự án, huy động nguồn vốn hỗ trợ của các tổ chức kinh tế - xã hội, trong 5 năm qua, Tây Giang đã đầu tư được tổng vốn 411 tỷ 607,88 triệu đồng cho xây dựng cơ bản trên địa bàn gồm 176 công trình: mặt bằng, trụ sở làm việc, đường giao thông, thủy lợi, điện, nước sinh hoạt, giáo dục, v.v... Chương trình xây dựng Nông thôn mới đã huy động được tổng nguồn vốn 724 tỷ 423 triệu đồng; trong đó, nhân dân đóng góp 55 tỷ đồng. Có an cư thì mới lạc nghiệp, Tây Giang tập trung sắp xếp lại nơi ở ổn định cho cư dân của mình, đa số các hộ gia đình đều tự nguyện hiến đất đai, cây cối, rau màu, tháo dỡ di dời nhà cửa mà không đòi hỏi đền bù. Riêng xã Lăng đã có hơn 240 hộ tự nguyện hiến trên 150 hecta, tính ra tiền mặt, tổng nguồn đóng góp từ hiến tặng đất đai, hoa lợi, ngày công đã là trên 150 tỷ đồng… Huyện hỗ trợ san ủi mặt bằng tái định cư, bố trí cho dân làm nhà ở theo mô hình làng truyền thống của người Cơtu, mở rộng đường giao thông, xây dựng trường học và các công trình phúc lợi khác, đồng thời đẩy mạnh khai hoang, cải tạo đồng ruộng để tập trung vào sản xuất lúa nước giải quyết lương thực tại chỗ và gia tăng sản phẩm hàng hóa. Tây Giang từng bước chuyển đổi tập quán canh tác và cơ cấu cây trồng, một mặt bảo tồn và phát triển cây bản địa có giá trị kinh tế - những cây dược liệu quý: ba kích, đảng sâm, sâm Ngọc Linh… đang là hướng đi mới. Hiện nay, 20 hecta với khoảng 20.000 gốc ba kích đã được trồng ở hai xã Lăng và Atiêng. Theo khả năng, mỗi cây ba kích có thể cho từ 0,3–0,5 ký, giá mỗi ký 400-500 nghìn đồng và trong một tương lai gần, ba kích Tây Giang sẽ có thương hiệu sánh ngang đặc sản của vùng Ba Chẽ, Quảng Ninh. Và đảng sâm nữa: nhờ khai thác, trồng mới và kinh doanh đảng sâm mà đời sống của đồng bào Cơtu được cải thiện rõ ở vùng biên Axan, Ch’ơm, Gary nơi đã trồng trên 100 hecta đảng sâm để nhân giống phát triển. Ủy ban Nhân dân huyện Tây Giang đang cho tiếp tục khảo sát đánh giá và lập đề án để tiếp tục bảo tồn gen của những thảo dược bản địa, tiến tới ươm trồng với quy mô lớn. Ngoài ra, giống thảo quả và táo mèo từ các tỉnh miền núi Tây Bắc vốn có độ cao trên 1.000 mét, khí hậu mát mẻ cũng được nhập về trồng tại Tây Giang. Sau đợt thử nghiệm từ tháng 2-2012 trên diện tích 10 hecta với khoảng 29.000 gốc, thảo quả ở 2 xã Axan và Ch’ơm có tỷ lệ cây sống rất cao, đang là giống cây được ưu tiên phát triển.

Trên đất Tây Giang còn sẵn một loài cây độc đáo nữa: Tr'đin, riêng người Cơtu mới biết giá trị của nó. Sáng sớm, dùng dao sắc chích vào thân cây này, hứng nước vào lọ, chai chứa sẵn vỏ cây Chuôlr, để tự lên men, sau khi lọc qua một lớp vải sạch sẽ nhận được một thứ rượu tươi có màu trắng đục tự nhiên, dùng trong ba – bốn ngày. Rượu Tr'đin có vị hơi chát, thơm dịu và rất “dẫn mồi”… Xã Ch’ơm được chọn thí điểm xây dựng vườn ươm với diện tích 2.000 mét vuông để gây giống cây này cho quy mô lớn.

Tính quy mô cũng là đòi hỏi tiên quyết để có thể bước vào kinh tế thị trường, nên trong chăn nuôi gia súc, gia cầm và thuỷ sản, Tây Giang chú trọng khoanh vùng chăn nuôi tập trung. Trong năm 2015 ở Tây Giang đã hình thành thêm 26 gia trại, và với tổng số 90 gia trại hiện có trên diện tích khoảng 400 hecta ở các xã vùng cao, 280 hecta ở vùng thấp, việc chăn nuôi heo, bò, trâu, dê, gia cầm được phát triển theo hướng tập trung.

Được biết, để đạt danh hiệu đơn vị Nông thôn mới phải đạt đủ 19 tiêu chí, từ quy hoạch, tổ chức sản xuất đến giáo dục, an ninh, môi trường… 10 xã của Tây Giang đều ở bục xuất phát thấp, nhưng năm 2014 đã có xã Anông về đích và năm 2015, được một xã nữa hoàn thành đó là xã Lăng. Trong 19 tiêu chí đó, “xương xẩu” nhất vẫn là giao thông và thủy lợi: ở địa hình hiểm trở, mùa mưa kéo dài, mỗi mét đường sá, kênh mương đòi hỏi rất nhiều công sức và tốn kém. Nhưng dân Cơtu vốn không nhụt chí bao giờ.

Cơtu đặc chất

Gươl truyền thống của dân tộc Cơtu là nơi tụ họp toàn thể thôn làng, nhưng vai trò cầm trịch thuộc về những con người có uy tín cao trong cộng đồng. Tôi đã gặp tại Gươl những bậc trí thức như Cơlâu Nâm, Bhríu Pố, Coor Tíc, Clâu Blao, Blúp Ứ… Phần lớn các vị ngay từ nhỏ đã được đưa ra Bắc học tập và tốt nghiệp: người kỹ sư chế tạo máy Bách Khoa, người họa sĩ điêu khắc, người Đại học Sư phạm Việt Bắc, nay được suy tôn làm già làng huyện… Chính những con người từng kinh qua trường đời, khi trở về quê đã tham gia mang ánh sáng lại cho dân. Mà nguồn sáng trước tiên ở tự thân: họ sưu tầm những câu chuyện cổ tích, những tiết tấu trống chiêng, những nhịp điệu tân’ tung da’dă, những gương anh hùng dũng sĩ của dân tộc mình cùng những phương thức sản xuất mới của dân tộc bạn để truyền dạy cho lớp trẻ… Người Cơtu có phong tục còn hay hơn nữa: đến Gươl tham gia nói lý, hát lý. Chúng tôi đã có dịp cùng Chủ tịch UBND huyện Bhling Mia ngồi nghe một già làng và một trưởng thôn nói lý, hát lý với nhau, nội dung là đề xuất và giải đáp những khúc mắc nảy sinh trong công cuộc xây dựng nông thôn mới. Tiếng Cơtu ríu rít như chim mà rủ rỉ như suối, để những điều hay lẽ phải từ tốn thấm vào lòng người. Tôi tròn mắt ngạc nhiên thấy giọng nói nơi đây giống giọng ngoài Bắc. Anh A Lăng Bưng - Phó trưởng phòng Văn hóa huyện – giải thích: “Từ nhỏ sống với bộ đội miết, nên chúng em quen nói giọng Bắc mà”…

Chẳng nói đâu xa: bằng năng lực và uy tín lãnh đạo của mình, Briu Liếc, Bí thư Huyện ủy Tây Giang ở địa bàn núi cao rừng thẳm mà được Đại hội Đảng khóa XI bầu làm Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương. Được biết, ông tiếp tục được Tỉnh ủy Quảng Nam chọn để ứng cử vào Ủy viên chính thức của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII… Khi đoàn chúng tôi lên Tây Giang công tác, ông vừa về Hà Nội họp, để bảo vệ công trình Chữ viết riêng cho dân tộc Cơtu trước Hội đồng Khoa học Nhà nước. Dự án này được Briu Liếc cùng với các công sự dành khá nhiều năm điền dã và khảo cứu tại các cụm dân cư Cơtu, thảo luận và thống nhất về tổ phụ âm, về quy ước sử dụng các dấu, trong đó có dấu trọng âm để xây dựng hệ thống ngữ âm tiêu chuẩn. Đồng thời, trên cơ sở ký tự Cơtu do ông Quanh Tơ Lăng (Quách Xân) khởi thảo, đi đến thống nhất các quy ước và khai sinh chữ viết chính thức cho dân tộc Cơtu.

Với những nhân tố đặc chất Cơ Tu bản địa, chắc chắn trong từng đường đi nước bước để tạo cho đồng bào ổn định chỗ ở, mở mang kinh tế và dân trí, Tây Giang vẫn lừng lững trên một đỉnh của dãy Trường Sơn lịch sử và hăm hở trên đường xây dựng tương lai.

 

 2. Thơ

 

NHỮNG PHONG THƯ THƯA MẸ

 

Sang bên đây thư đi hết tháng ròng

Lời mẹ gửi, con vẫn hằng nhận được

Mẹ hay nhắn qua người này người khác

Mẹ chưa từng viết cho một ai…

 

Bao thứ giấy tờ, mẹ chỉ đứng tên người khai

Còn đều do các con thảo ra rồi ký thay cho mẹ

Hết con nhớn đến phiên con bé

Đến bây giờ con bé cũng đi xa

Tay mẹ đã run, mắt mẹ đã mờ…

 

Từ thuở lọt lòng, con chưa thấy bao giờ

Mẹ có chút rảnh rang để mà ngồi đọc sách

Nhưng bao tháng ngày, tuổi tên, sự tích

Mẹ thuộc làu làu, không sót một điều nào!

 

Trong suốt cuộc đời dãi dầu

Mẹ liệu có dịp nào học chữ? –

Chưa bao giờ con hỏi về điều đó

Cũng không bao giờ con hỏi nữa

Mẹ ơi!

 

Mẹ nhẩm tính từng hạt gạo, củ khoai

Nuôi con lên đều mỗi năm một lớp,

Những trang vở thuở học trò con viết

Mẹ tích cóp, và giữ gìn –

Ơi ngọn đèn khuya sao không tự tắt

Để mẹ mình thức đợi đêm đêm!

 

 

Nên mỗi bận xa nhà, con hiểu, việc đầu tiên

Là phải có thư ngay về thưa mẹ.

Những bức thư

Khi con kịp gửi về, khi còn phong trong ý nghĩ

Ở bên nhà, xin mẹ cứ bình tâm!

                               Leningrad, 1974

 

 

 

 

 

 

    MỘT NGUỒN VUI SÂU LẮNG

  

Em đến rồi, nơi ấy, anh yêu!

Nơi anh sống và em hằng thân thuộc

Nơi thung lũng thành hồ chứa nước

Núi núi đằm trong một nguồn vui,

Nơi sóng vỗ xênh xang bờ đập

Tim em rung nhịp bồi hồi…

 

Anh xa em trọn bốn năm rồi

Mà những dòng nước tụ về đây

Vẫn tuôn tự lòng anh chu đáo –

Bao công việc cần rất nhiều tần tảo

Mà được làm trọn vẹn thảnh thơi

Em nghe mực nước dềnh khoan thai

Mà cuốn cuộn những guồng máy chạy

Mà tung tăng những dòng kênh chảy

Tưới lúa đồng gần, tưới lúa đồng xa,

Con đò đưa êm như trong mơ

Ánh điện sáng bao điều bỡ ngỡ,

Nơi đàn cá quẫy mình sinh nở

Là nơi chim làm tổ bao đời.

 

Em thấy hồ nước ăm ắp đầy

Thấy hạnh phúc dâng ngay trước mắt

Em không khỏa giữa hồ nước mát

Mà đắm vào nỗi nhớ về anh.

 

Em nghe, em nghe… trong tiếng sóng xung quanh

Tiếng cuốc anh đào hồ như lại vọng,

Em lên bờ. Gió im. Nước lặng

Lại thấy bóng anh bốc đá xây kè

Ô! Ngày nao em tiễn anh đi

Giờ thung lũng đã đong đầy ánh nắng.

 

Em sống lại những ngày vui anh sống

Em khơi thêm nguồn vui anh khơi…

                         Hồ Vân Trục, 1969

 

 

 

 

 

 

VÂN GỖ

 

Ngọn mê mải tìm tầng không, chới với,

Cội cây loang bao dợn sóng âm thầm.

Trước vân gỗ, con bời bời một nỗi:

Nghĩa sinh thành - cổ thụ đã trăm năm.

                               Len 1975.

 

 

 

 

 

 

HÁT VỚI NGƯỜI TRỒNG RỪNG

  

Qua rồi nắng hanh, sương muối

Xuân tung bụi nước sinh sôi

Tở mở đất đai chào đón

Cây ươm vườn ta ra đồi.

 

Tay ta nâng niu âu yếm

Lá non bên má mơn man

Xa nhau luống còn bịn rịn

Gửi cây một nắm đất vườn.

 

Vườn ta không nghèo màu mỡ

Ao ta nước tưới chưa vơi

Nhưng đồi bên còn ngợp cỏ

Cướp nước nguồn ta, cây ơi!

Vườn cho lá xanh óng ả

Để cây kết quả trên đồi.

 

Ta cho cây đứng thẳng hàng

Khỏi đâm ngành la ngành bổng

Nay ta mong một lá xanh

Mai ta mong rừng gỗ thẳng.

 

Ta ươm cây lúc Thu sang

Như ươm niềm vui mong đợi

Hôm nay màu xanh trẩy hội

Lòng ta với lá cùng reo!

                     Phú Lộc, 1968

 

 

 

 

 

TRÁI NHỚ

 

Em dẫn anh vào một vườn mận chín

Trời hè len qua kẽ lá thưa xanh

Kìa – những trái mận tròn mũm mĩm

Hay nắng cô thành giọt giọt tím cành?

 

Mận em trao khiến phân vân lòng anh

Chả biết nên ăn hay là nên để?

Thứ trái cây này sao mà lạ thế

Đấy ăn, đây cũng thấy chua!

 

Cơn khát nào rạo rực ban trưa

Khiến trẻ dại cũng trở nên bạo dạn

Môi vừa chạm vào trái cây nhỏ nhắn

Vị mát trong đã rót tận đáy lòng.

 

Ở cành cao hay có trái ngon

Em bảo anh vin để cho em hái

Ngỡ chẳng bao giờ thấy lòng trống trải

Trái ngon nào ta chẳng hái chung tay.

 

Giờ xa em, xa bóng mát vườn cây

Còn bao nơi đang cần anh tới đấy

Nơi gió thổi rát khô như sấy

Nơi khói hun lửa táp bốn bề…

 

Mỗi khi cổ rát môi se

Lại nhớ khôn nguôi em nơi vườn mận

Và vị mát trong bỗng lại về lai láng

Như chẳng bao giờ em vắng trong anh!

 

           

 

 

 

HẠT XUÂN

 

Cành Đông hứng suốt đêm trường!

Ban mai lấp ló giọt sương tần ngần.

Đừng rung! Chồi bật bất thần

Lòng tay em bỗng hạt Xuân ngời ngời.

                     Việt Trì, Xuân 1979.

 

 

 

 

 

 

HỘI TRƯỜNG CŨ

 

            Tặng bạn học Trường cấp III Vĩnh Tường

                                    (Khóa 1963-1965)

 

Tên đất cũ, nay tên người tiền bối

Trường chuyển ngôi - đất mới. Thật ngỡ ngàng.

Dăm – mười năm xênh xang về dự hội

Gặp người hưu lòng vợi bớt hoang mang…

                               Vĩnh Tường, 2013

 

 

 

 

 

 

Ở PHỐ KHÔNG TÊN

                           Tặng Y

 

Anh đợi em ở quãng phố này –

Cả thành phố đang cùng anh đợi đấy:

Sỏi có sẵn lại như vừa mới rải

Để xa nghe đã thấy bước chân người

 

Cây mới trồng, cây xanh ngang tầm tay

Lá xanh bứt vương đầy lối hẹn

Chân trời ẩn trong màu gạch chín

Đồi lô nhô thấp thỏm trăm chiều

 

Em chợt hiện ra giữa đường đất đỏ au

Trước những mảnh lá vò nhựa ngái

Ngỡ đã trải nhiều tháng năm dầu dãi

Từng có anh chờ em ở đây.

 

Lạ lùng sao – thành phố hôm nay

Nhà chưa cất, chưa đặt tên cho phố

Đường mới mở chưa dập dìu xe cộ

Ta đi trong tấp nập nhịp tim mình.

 

Ta soi vào đâu – đấy hóa ân tình

Trời muốn đeo cườm đón vầng trăng đến

Đất muốn bày hoa nơi tay vun vén

Vì từng phút giây thương mến hôm nay

 

Một mai, một mai… phố đã tên rồi

Ta gặp lại mình trong từng đôi lứa

Chẳng mắc cỡ khi có người hỏi nhỏ:

- Ở chỗ nào anh chọn để chờ em…

 

 

 

 

 

 

VỚI QUỲNH NHAI

 

Ta tự coi mình cũng thể dân Quỳnh Nhai

Nhường đất ông bà cho lòng hồ thuỷ điện,

Một sớm Phiêng Lanh, Mai Quỳnh, Phiêng Bủng

Mở mắt, bần thần nhớ bóng Khao Phum.

 

Lạ lùng thay! Niềm thao thức cố hương

Tiếng ong bay giữa rừng già mộng mị,

Tiếng cá bơi dưới sông Đà thủ thỉ

Tiếng nai kêu thổn thức đầu ghềnh…

Ôi! Hơi núi hơi sông sao mà nhớ

Dẫu ông bà bố mẹ vẫn kề bên!

 

Những hòn đá mồ côi đoạn đường rẽ lên nương

Trông lạ lẫm hình thù, tỏ mờ trong trí nhớ,

Đầu nhà sàn, vạt nắng còn bỡ ngỡ

Ngày lại ngày, khi nao sẽ thành quen?

 

Nương mới, mũi cày, lưỡi cuốc phải bén hơn

Tìm nguồn nhựa, rễ cây trồng len kẽ đá,

Người lớn ngày ngày bới đất lật cỏ,

Trẻ nhỏ tập xe để đến lớp cuối mường.

 

Và một ngày mai, khi tích đủ nước nguồn

Mừng phát điện mà mắt ngân ngấn nước:

Hình bóng quê hương Quỳnh Nhai thuở trước

Có hiện về theo dòng điện này chăng?

                          Sơn La, 4-2009

 

 

 

 

 

HÁT ĐỐI ĐÁP

 

Soọng Cô hội hát Sán Dìu

Bạn về đông đúc, sương chiều thanh thơi

Mặc mây sũng ướt trên trời

Mũi thuyền rẽ nước tìm người tâm giao.

 

Ruộng vừng đom đóm soi vào

“Trầu giàn, cau đất chốn nao, hỡi người?

Hỏi thật cũng là hỏi chơi

Sơ giao là để sau rồi lương duyên.

 

Bát hoa, chè sánh ánh lên

Lời buông lời bắt, tay mềm dắt nhau

Giữa khuya, nhà rộng, mâm cao

Xơi nào dặm dạ, hát nào thâu đêm!

 

Hát từ độ tuổi hoa niên

Chung tình vẫn hát chẳng hiềm tóc sương

Thênh thênh thung lũng ca trường

Cậy nhờ nước suối, gió nương đệm đàn.

 

Về xuôi, lòng vẫn xốn xang

Soọng Cô bất giác hát vang đôi lời

Ngân nga, rồi bỗng ngậm cười:

Một mình hát đối, ai người đáp ta…

                     Đạo Trù - Tam Đảo, 11-2015

 

 

 

3. Thơ dịch

 

TỔ QUỐC

 

Những thành phố nghênh xa tiếp vào ba biển lớn,           

Những kinh tuyến và vĩ tuyến                                

Đan đệt nên một tấm lưới choàng,                          

Tổ quốc bao la, kiêu hãnh, ngoan cường.               

 

Nhưng mà khi trái lựu đạn cuối cùng                     

Đã nằm gọn lòng tay ta bỏng rát                   

Cần nhớ lấy – dù chỉ trong giây lát                         

Những gì xa xăm mà lắng đọng trong lòng,            

 

Đâu chỉ là một đất nước mênh mông,                     

Mà ta đã từng đi từng biết,                                     

Ta lại nhớ Tổ quốc mình thân thiết,                       

Hệt như từ tấm bé vẫn hằng trông.                                   

 

Một rẻo đất, ba cây bạch dương,                   

Một nẻo đường xa khuất sau rừng,                         

Một dòng chảy xiết nơi bến nước,                          

Một bờ cát trắng, liễu buông rong.                         

 

Chính tại đây ta đã được sinh ra,                   

Và cho đến tận cuối đời, ta tìm thấy                       

Niềm kiêu hãnh: rẻo con con đất ấy,                      

Đủ cho ta nhận biết đất mọi miền.                         

 

Có thể nắng nôi, giông bão, giá băng,                    

Có thể đói khát và rét mướt,                                   

Có thể sinh mạng mình không tiếc…                     

Nhưng mà, ba cây bạch dương này,                        

Không đời nào ta chịu nhượng cho ai.

                                                  1941

KONSTANTIN SIMONOV (Nga, 1915-1979)

 

 

 

 

     

 

GỬI NGƯỜI ĐỜI SAU

 

Vẫn chưa có người đâu, người còn rất xa vời -

còn là đất, là khí trời, là ánh sáng, -

nhưng trước các người chúng tôi xin bảo đảm.

Hậu sinh với chúng tôi là ruột thịt dính liền.

 

Trận này găng. Chúng tôi hiểu, bao phen

hàng trăm năm sau mình không có gì che chắn.

Một khi quân thù nhằm chúng tôi quăng lựu đạn,

mảnh sẽ văng đến tận người, ơi người những đời sau.

 STEPAN SCHYPACHOV (Nga, 1899-1980)

 

 

 

 

 

LŨ SÓI

 

Máu người đổ chốn chiến trường:

Mỗi ngày bao ngàn người mất!

Đánh hơi thấy mồi quanh quất

Sói tru vang động suốt đêm.

 

Những con mắt sói long lên

Bao nhiêu thịt người thịt ngựa!

Đây: giá một lần đọ lửa,

Một màn pháo kích trong đêm!

 

Sói chúa đang còn ngông nghênh

Trước đại tiệc bày trước mắt, -

Bỗng bốn chân như chôn chặt

Nghe gần đấy tiếng người rên.

 

Ngật đầu tựa gốc bạch dương

Một người trọng thương mê sảng,

Tán lá bạch dương chao động

Như mẹ hiền vỗ về con.

 

Bồn bề ran tiếng nỉ non

Từ từng cọng cây chiếc lá,

Trên từng cánh hoa sợi cỏ

Sương lăn như lệ long lanh.

 

 Sói chúa trước người thương binh

Nhìn khắp lượt, mũi hít hít,

Thấy mắt người còn hờ khép

Bèn bỏ đi, không làm gì…

 

Rạng sáng, có bọn người kia;

Thấy thương binh thoi thóp thở.

Sự sống dẫu sao đi nữa

Vẫn còn le lói trong anh.

 

Họ cắm vào người thương binh

Những mũi thuốn sắt nung đỏ,

Rồi quàng thòng lọng vào cổ,

Treo lên cành cây bạch dương…

 

Máu người đổ chốn chiến trường

Mỗi ngày bao ngàn người mất!

Đánh hơi thấy mồi quanh quất

Sói tru vang động suốt đêm

 

Nhưng độc ác hơn cả sói -

Là bầy thú dữ hai chân.

1943

MUSA DZHALIL (Nga, 1906-1944)

 

 

 

 

 

 

 

CON TIM

 

Hai mươi ngày và hai mươi đêm

Anh vẫn sống, làm ngạc nhiên bao thầy thuốc,

Anh luôn luôn có Mẹ ở bên

Thần chết không sao cướp anh đi được.

Hai mươi ngày và hai mươi đêm

Mẹ chong mắt trông anh không chớp

Tới buổi sáng thứ hai mươi mốt

Mẹ thiếp đi, chỉ nửa phút thôi.

Và, để cho khỏi động giấc Người

Anh dừng con tim mình lại

1940

 BORIS LEBEDEV (Nga, 1911-1945)

 

 

 

 

 

 

THÀNH RA, MỘT CUỘC CHIẾN TRANH…

 

Thành ra, một cuộc chiến tranh

kết thúc không bên nào thắng.

Vợ người chiến binh tử trận

đêm đêm trằn trọc một mình.

 

Người thắng ừ thì đã thắng,

còn người góa vẫn đơn côi,

thấu lạnh gió đêm thổi hoài

từ ngàn nấm mồ chôn vội.

 

Người bại đành rằng đã bại,

nỗi buồn thua trận nguôi ngoai

bãi nát chiến trường dựng lại

thì thành bất bại phen này.

 

Người bại lầm lũi hiện nay

công việc làm ăn tấn tới.

Vợ lính góa bụa ơi hỡi

kiếm sao được chồng thứ hai.

BORIS SLUTSKY (Nga, 1919 -1986)

 

 

 

 

 

 

 

ĐẶT ANH VÀO QUẢ ĐẤT…

  

Đặt anh vào quả đất,

Anh – một người lính trơn

Người lính không hàm cấp,

Người lính không huy chương.

Anh đứng, đất là đất

Anh nằm, đất là lăng –

Dải Ngân hà vằng vặc

Muôn đời soi quanh anh.

Mây ngả đầu non xanh,

Bão tuyết lồng, gió cả

Tiếng sấm trên trời vỡ,

Lâu lâu rồi trận ngưng…

Đồng đội về đủ mặt

Đây tay đồng đội nâng

Đặt anh vào quả đất,

Như đặt vào trong lăng..

                               1944

SERGEI ORLOV (Nga, 1921-1977)

 

 

 

 

 

 

MƯỜI BẢY TUỔI CHÚNG TÔI ĐÃ RẤT LÀ NGƯỜI LỚN

 

Mười bảy tuổi chúng tôi đã rất là người lớn

Bởi chúng tôi trưởng thành trong lửa đạn chiến tranh…

Thay lứa chúng tôi giờ, các cô em dong dỏng

Tóc đều óng đều dày, nom bồng nở sau lưng.

 

Các em giờ xinh ghê! Chúng tôi thì thật khác -

Con đẻ của thời đói kém, chiến chinh.

Nhưng các chàng trai mà chúng tôi đã gặp

Đều coi: rõ ràng, chúng tôi thật là xinh.

 

Người yêu đã hôn chúng tôi trong công sự,

Trước trận tử sinh đã thề thốt nặng lời,

Lem luốc, gầy gò, nhưng chúng tôi rạng rỡ

Và chúng tôi tin: rồi vẫn thế, trọn đời.

 

Ôi, sống sót là may!... Còn về được mấy ai.

Liệu có nên trách người yêu ngày nọ,

Giờ si mê những cô gái chân dài,

Mình ra trận, mẹ mới sinh ra họ?

 

Tình thực thì ngơ xuân đi, ai nỡ

Hoa nở, dép giày cao gót tung tăng,

Dù mái tóc sấy già như sém lửa,

Nhưng chủ nhân vừa mười bảy xuân xanh

 

Ngoài mặt trận không ít lần ta trằn trọc

Bạn cùng lứa của tôi ơi! Rồi tất cả sẽ êm dằm

Tranh đấu cho tình yêu ta cũng cần dũng cảm

Chẳng kém gì trong một cuộc chiến tranh!

 YULIA DRUNINA (Nga, 1924 -1991)

 

 

 

 

 

 

 

PHÉP MẦU NHIỆM CỦA MƯA

 

Em yêu mưa làm sao, em càng yêu mê mệt mưa rào

Mưa rào nhiệt cuồng và mưa rây dìu dịu,

Cơn mưa rây trinh nữ

Và trận mưa rào thiếu phụ xô bồ.

Mưa nấm nhô

mưa rỉ rắc

với hơi thu…

Em yêu làm sao, em càng yêu mê mệt mưa rào

Yêu được lăn mình trên những ngọn cỏ cao

Lấm tấm những hạt mưa trong trắng

Ngắt một cọng cỏ mềm đặt lên môi, em nhấm

Và em đi

Cho tất cả đàn ông đều nhìn em say đắm.

Em hiểu, chẳng hay ho gì khi mở miệng nói ra

“Tôi là người đàn bà xinh đẹp nhất”

- Nghe ngốc nghếch, và có khi sai sự thật.

Nhưng cho phép em khi trời bắt đầu mưa

Chỉ khi trời vừa mới bắt đầu mưa

Được nói lên lời thần diệu nhường kia:

“Em là người đàn bà xinh đẹp nhất”.

 

Em là người đàn bà xinh đẹp nhất

Bởi vì trời đất trong mưa,

Từng sợi nước đi qua đan vào từng sợi tóc,

Em là người đàn bà xinh đẹp nhất

Bởi vì gió hà hơi vào mặt,

Gấu váy bay tung, em ngượng ngập khép chân mình.

 

Em là người đàn bà xinh đẹp nhất

Bởi vì anh

đang ở xa em và em đang mong đợi.

Em là người đàn bà xinh đẹp nhất

Bởi vì em biết đợi

Và anh biết rằng em đang đợi anh.

 

Khắp không gian

Lan tỏa yêu đương và dịu mát

Tất cả khách qua đường đều tìm gặp hơi mưa

Và trong khi mưa tình yêu là bất chợt

Tất cả khách qua đường đều được tương tư,

Và em đợi anh bây giờ.

 

Anh có biết chăng là -

Em yêu mưa làm sao,

Em càng yêu mê mệt mưa rào

Mưa rào nhiệt cuồng và mưa rây dìu dịu,

Cơn mưa rây trinh nữ

Và trận mưa rào thiếu phụ xô

  ANA BLANDIANA (Rumania)

 

 

 

 

 

 

 

KHÔNG MỞ MẮT

 

Không mở mắt

Toàn thân em sáng toả

Chói loà vầng pha lê.

 

Tạc hình em ban khuya

mà anh không mở mắt

một tấm lòng pha lê

 

Hai ta thành vô biên

hoà nhập và thấu suốt

trong khi anh và em

đều cùng không mở mắt.

OCTAVIO PAZ (Mexico, 1914-1998, Nobel văn học 1990)

 

 

 

 

 

 

TÔI CHẲNG TIẾC CHẲNG NÀI CHẲNG KHÓC

  

Tôi chẳng tiếc chẳng nài chẳng khóc

Tất cả qua đi như khói như hương

Hoa táo trắng đã úa vàng tan tác

Chẳng bao giờ tôi còn được trẻ trung…

 

Con tim tôi ngấm nhiều buốt giá

Đâu còn rung nhịp những ngày qua

Và xứ sở bạch dương gấm lụa

Đâu còn xui tôi bước la đà…

 

Niềm vui sống mỗi ngày mỗi hiếm ?

Niềm xốn xang với tiếng nồng nàn

Vẻ thiên thần trong tôi ôi đã biến

Đâu sóng tình đâu ánh mắt chứa chan

 

Giờ tôi so đo trong từng ước muốn

Cuộc đời tôi hay giấc mộng đời ơi

Như một sớm xuân đang vang động

Ngựa hồng tôi đã phóng mất rồi…

 

Lá phong trút một sắc đồng lặng lẽ

Chúng ta rồi thành bụi giữa trần ai

Xin trọn kiếp mang niềm ân huệ

Âu đến thời, đời thắm rồi phai… 

SERGEY ESENIN (Nga, 1895 -1925)

  

 

 

 

 

 

NGUYỄN ĐĂNG SÂM

 

- Họ và tên khai sinh: Nguyễn Đăng Sâm

- Sinh năm 1942

- Quê quán: Vĩnh Yên, Vĩnh Phúc

- Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam (từ 2010)

- Hội viên Hội Văn học nghệ thuật tỉnh Quảng Ninh.

 

- Tác phẩm chính đã xuất bản:

   * Tiếng chim trái mùa (NXB Hội Nhà văn, 2005)

   * Lục bát sang sông (NXB Hội Nhà văn, 2006)

   * Lục bát đa mang (NXB Hội Nhà văn, 2007)

   * Lục bát đa tình (NXB Hội Nhà văn, 2008)

   * Thơ tình Nguyễn Đăng Sâm (Tập thơ, NXB Hội Nhà văn, 2015)

 - Giải thưởng văn học:

* Tặng thưởng cuộc thi thơ lục bát của tuần báo Văn nghệ - Hội Nhà văn Việt Nam, 2003.

* Giải C thơ tỉnh, Cuộc thi thơ tình của tuần báo Văn nghệ - Hội Nhà văn Việt Nam, 2007.

 - Suy nghĩ về nghề văn:

       Tuổi ấu thơ tôi uống dòng sữa mẹ thấm đẫm những lời hát ru con… Lớn lên tôi tắm trong dòng sông thi ca bởi nơi ấy có phù sa nuôi dưỡng tâm hồn con người. Nay đã trở thành nhà văn, tôi như con tằm rứt ruột nhả tơ dệt lên những vần thơ óng mượt cho đời.


A - TRONG KÝ ỨC BẠN BÈ

 

                        MỘT HỒN THƠ ĐẬM CHẤT DÂN Dà                                                                                                    Hữu Thỉnh

 

Hồi đi học, Nguyễn Đăng Sâm yêu văn và học giỏi môn văn. Anh tham gia Ban Văn Sử Địa của trường và bắt đầu làm thơ. Cái chất lãng tử đã thấp thoáng từ ngày ấy. Chiến tranh mở rộng ra cả nước cũng là lúc thầy giáo Nguyễn Đăng Sâm tốt nghiệp đại học Sư phạm và bắt đầu đứng trên bục giảng. Một thời gian khá dài, nhà trường sơ tán về một vùng quê huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc. Nguyễn Đăng Sâm được sống tận gốc cuộc sống lãm lũ thời chiến, được chứng kiến tấm lòng yêu nước cao cả của những người nông dân, vừa hiến cho đất nước những đứa con dứt ruột đẻ ra, vừa tình nguyện làm hậu phương lớn cho đất nước. Tình nào chả đi với cảnh. Cảnh đây là cái không gian sinh thành cổ kính, bền vững của làng quê Việt Nam. Tất cả, thấm vào tác giả một cách tự nhiên. Nguyễn Đăng Sâm vừa là thầy giáo của đàn em nhỏ, vừa là học trò của hồn quê Việt. Có lẽ đây là lý do chính giải thích vì sao, Nguyễn Đăng Sâm sinh ra và lớn lên ở thị xã Vĩnh Yên, nhưng lại đậm chất dân giã, quê mùa. Và vì sao anh lại chọn lục bát.

Việc chọn các thể thơ cũng giống như người cầm đũa, có người thuận tay phải, người thuận tay trái. Tôi không cho rằng cứ phải lục bát mới thuận tay để viết về người quê, cảnh quê, cũng như không hẳn là thơ tụ do thì dễ nói về cuộc sống thị thành.

Không phải vậy. Vấn đề là hồn, là cảm, là hòa điệu. Chẳng hạn câu thơ của Hàn Mặc Tử:

Chị ấy năm nay còn gánh thóc

Dọc bờ sông trắng nắng chang chang

Có phải lục bát đâu mà đậm chất quê đến thế.

Với Nguyễn Đăng Sâm, thơ lục bát hay phong cảnh thôn dã nói cho cùng cũng đều là mượn cả, đều là phương tiện để tô vẽ cho đậm cái chất lãng tử cố hữu ở anh. Đê làng để nhớ nhung, trăng lên để hờ hững, bến đò để ly biệt, chợ phiên để hối tiếc, cánh diều để nhớ thương. Nổi bật trên tấm phông lớn ấy là các mối tình. Thôi thì đậm nhạt, quanh co, thôi thì phất phơ, nhen nhúm. Tất cả đều dở dang, tất cả còn cách trái hạnh phúc một tầm tay. Đây chính là cái thế giới thẩm mỹ của thơ tình Nguyễn Đăng Sâm. Nhưng anh đóng vai lãng tử không phải để săn đuổi các mối tình mà đích thực để hái các vần thơ. May mắn là như thế:

Đây:

Trông ra chị nói nhẹ nhàng

- Mùa thu cùng với tóc chàng đang bay

(Chân dung tự họa)

Bán trời mua cái đam mê

Trắng tay lại được bốn bề gió trăng

(Say)

Và đây:

Trăm năm cát bụi trở về

Bà con mượn cả con đê đón người

(Về chốn cũ)

Phụ cha đâu dám phụ lòng

Tâm như ngọc sáng gương trong bụi trần

(Oan tình Mỵ Châu)

Và đây nữa:

Bèo xanh dạt bến cô liêu

Vắng em, đến nỗi xanh rêu đường về

(Xanh)

Cuộc tình trắng giữa chơi vơi

Chờ em tay trắng một đời trắng tay.

(Trắng)

Thưởng ngoạn một bữa tiệc hát, có người yêu cô gảy đàn, có người yêu một đường tơ, có người yêu cả hai. Với Nguyễn Đăng Sâm, xin bạn hãy đến với thơ anh tùy lời phán xét.

Có dạo, tôi bảo: “Này ông Sâm, thơ tình của ông nhiều rồi đấy, nên mở ra xã hội “Không biết ông Sâm nể bạn đến nhưng câu trả lời có vẻ thành thực lắm” anh đúng. Để mình cố thử xem sao”.

Nói với bạn xong, tôi đâm ra tự trách nhiệm. Sao lại hời hợt giản đơn đến thế. Nói thế hóa ra đối lập tình yêu với xã hội, mà quên mất rằng, trong cội nguồn, trong bản chất của nó, tình yêu là một vấn đề xã hội cổ xưa nhất J.J.Rousseau đã từng nói: “Hãy làm người đa cảm nhưng phải là hạng hiền trí, nếu người chỉ là một trong hai hạng người ấy, người không chi cả”. Thật chí lý và đầy đủ, vấn đề tình yêu trong thế giới đa cảm rộng lớn nói chung là thuộc về vấn đề của con người. Thế thì, làm một người tình trong sáng, nồng nhiệt, cao thượng, thủy chung cũng chính là một vấn đề có tính xã hội đang quan tâm, chứ sao?

Có người sẽ bảo, tôi đang bênh vực Nguyễn Đăng Sâm.

Tôi xin trả lời: Nhận xét đó là hoàn toàn chính xác.

Làm thơ mà không thấy nỗi truân chuyên của kẻ thương đời, không biết nâng niu nỗi khổ, đáy biển mò kim của kẻ săn chữ, thiết tưởng vẫn còn là kẻ ngoại đạo. Nhưng ngẫm cho kỹ, người trách tôi bênh vực Nguyễn Đăng Sâm cũng có nhiều phần có lý. Sự đòi hỏi của sẻ chia, của nâng đỡ, trước hết bao nỗi đời, cảnh đời khổ hạnh, đảo điên là hoàn toàn chính đáng. Giữa mây bạc và nước mắt nhà thơ nên cúi xuống. Và Nguyễn Đăng Sâm đã cúi xuống tìm thấy những hạt nguyên sơ của tình người, ấm áp và bất biến.

Bên giường tiếng võng còn chao

Còn êm chiếu cói mà sao vắng người

(Bên giường mẹ)

Tiếng khóc thảm bật lên một triết lý đau đớn muôn thuở của kiếp người “Thác là thể phách, còn là tinh anh” như Nguyễn Du đã nói từ hơn 200 năm trước. Nguyễn Đăng Sâm có khá nhiều những câu thơ như thế. Cho nên dù tập thơ này mang tên Thơ tình, nhưng độ khuếch tán của nó vượt ra ngoài giới hạn của tình yêu đôi lứa, trở thành lời tâm phúc với chúng ta về những gì mà hồn thơ động tới.

 

H.T

 

 

 

MỘT VỌNG PHU

 

Một đi một mất một còn

Một người một có một con một lòng

Một bóng một núi một trông

Một đời một đợi một chồng một xa

 

Một năm một tháng một qua

Một thương một nhớ một nhà một đau.

 

                                                                                          Nguyễn Đăng Sâm

 

LỜI BÌNH CỦA TRẦN BÁ GIAO

 

Nguyễn Đăng Sâm là một nhà thơ đã từng được giải thưởng về thơ lúc bát trên báo Văn nghệ. Nguyễn Đăng Sâm mạnh về thể thơ lục bát truyền thống của dân tộc. Thơ Nguyễn Đăng Sâm đã kế thừa được nghệ thuật thơ trưc tình của dân tộc. Cách gieo vần, âm thanh nhiệp điệu thơ đúng như thể thơ lục bát truyền thống, cuốn hút người đọc bởi những hình ảnh, hình thượng độc đáo, truyền tải được những cảm xúc sâu sắc và chân thành mà tác giả muốn gửi gắm đên bạn đọc. Nguyễn Đăng Sâm đang cố gắng làm mới mình trên nền thơ lục bát.

Như tên gọi của bài thơ Một vọng phu, Nguyễn Đăng Sâm như muốn nhấn mạnh đến một câu chuyện cổ dân gian nói về hình thượng người phụ nữ ngóng trông chồng mà hóa đá. Cái độc đáo của bài thơ là tác giả đã sử dụng điệp từ một để nhấn về những vấn đề triết lý cuộc sống từ một truyền cổ dân gian “Hòn vọng phu”.

Hai câu thơ mở đầu như lời dân chuyện kể về chuyện chia tay rất éo le của gia đình nhà kia: một đi (người chồng) một mất (người vợ mất chồng) và một còn (còn ở lại). Dường như đây chỉ là suy luận theo tên đề của bài thơ: Một vọng phu. Nhưng đến câu thơ thứ hai thì sự việc đã rõ ràng hơn. Câu thơ thứ hai như muốn nói về người vợ: Người ấy có một con và đang bồng con để chờ chồng với một tấm lòng thương nhớ, sự thủy chung của người vợ ở nhà.

Câu thơ thứ ba và thứ tư càng rõ hơn hoàn cảnh của người vợ: Một bóng một núi một trông/ Một đời một đợi một chồng một xa.

Hoàn cảnh của người nhân vật trữ tình trong bài thơ được khắc họa rõ nét hơn, làm sáng tỏ thêm chủ đề mà nhà thơ Nguyễn Đăng Sâm muốn gửi gắm. Thông cảm sâu sắc với hoàn cảnh éo le bi kịch mà người vợ phải gánh chịu. Hình tượng Một vọng phu hiện lên thật cụ thể. Người đàn bà ấy hóa đá, nên mới có cảnh: một bóng một núi một trông. Sự thương cảm của tác giả bộc lộ rõ ở câu thư thứ tư: Một đời một đợi một chồng một xa. Câu chuyện về nàng vọng phu đến đây đã rõ. Điều àm tác giả muốn gửi gắm đến bạn đọc là bi kịch của gia định vợ chồng ấy đã trút xuống người vợ với một con đang phải chờ đợi. Sự chờ đợi ấy kéo dài một đời quả là một tấn bi kịch. Câu thơ đã khắc họa được nỗi đau suốt một đời người. Đây là câu thơ hay nhất trong bài thơ, là đỉnh điểm của một bi kịch.

Hai câu kết của bài thơ:

Một năm một tháng một qua

Một thương một nhớ một nhà một đau.

Là những lời nhấn về bi kịch của người phụ nữ chờ chồng mà hóa đá. Đó là những câu thơ kết nối với nỗi đau của Nàng Vọng Phu trong đó cũng chứa cả niềm thương cảm của tác giả cũng như của người đời với người phụ nữ ngóng trông chồng mà hóa đá. Nỗi đau tột cùng của người phụ nữ ấy được chứa đựng trong vỏ bọc một bi kịch của sự vô tình vi phạm giới luật hôn nhân (Người anh lấy nhầm phải em mình).

Theo tôi người xưa, mượn tích đó để nói về những người phụ nữ có chồng đi lính chiến đấu bảo vệ đất nước hoặc có chồng phải lên rừng hay ra biển tiềm kế mưu sinh rồi không có cơ hội trở về nhà để vợ góa con thơ phải mòn mỏi đợi chờ... Bi kịch của Nàng Vọng Phu đã đi vào văn thơ để hậu thế muôn đời sau luôn thương cảm và trân trọng sâu sắc với người phụ nữ có hoàn cảnh như Nàng Vọng Phu. Nhà thơ Nguyễn Đăng Sâm đã thành công khi khắc họa Một vọng phu như thế.

 

T.B.G

 

 


B - MỘT SỐ TÁC PHẨM TIÊU BIỂU

 

MỖI

  

Mỗi thời mỗi khác mỗi xa

Mỗi xưa mỗi tiếc mỗi qua mỗi buồn

Mỗi người mỗi nhớ mỗi thương

Mỗi duyên mỗi phận mỗi đường mỗi ai

 

Mỗi than mỗi gánh mỗi vai

Mỗi nhà mỗi cảnh mỗi vài nỗi đau

Mỗi cõi mỗi trước mỗi sau

Mỗi bia mỗi miệng mỗi câu mỗi phần

 

Mỗi sinh mỗi có một lần

Mỗi không mỗi sắc mỗi vẫn mỗi xoay

 

 

 

 

 

THĂM VẠN LÝ TRƯỜNG THÀNH

                                  Túy ngọa xa trường quân mạc tiểu

                                                   (Thơ Đường)

 

Câu thơ Vạn Lý Trường Thành

Người đời tuyệt bút chẳng dành cho ta

Thôi đành mượn chén quan hà

Say như phận lính xa nhà ngày xưa

Giật mình gió lạnh đầy mưa

Chạm vào câu chữ trời vừa thả theo

 

 

 

 

 

 

 

VIẾNG BẠN

                Tặng Dư Bảo Toàn nhà thơ tài hoa bạc mệnh

 

Quên làm sao được D… ơi!

Chiếu chơi lẻ chỗ, có người lẻ đôi

Đem thơ dấu biệt về trời

May sao sót lại mấy lời vì ai?

 

Sự đời đâu biết ngày mai

Bạn đi ta ở đau bài thơ xuông!

Còn đâu những buổi chiều buông

Phố xưa uống cạnh hoàng hôn cháy long…

 

Giờ tan vào cõi hư không

Nhớ nhau chén rượu đọng trong bóng người

                         Phúc Yên, ngày trở lại T7/2007

 

 

 

 

 

SỐNG LẠI

              Tiếc nhớ Lê Kim Hạt nhà văn (đã mất)

 

Đời thêm lần nữa giấc mơ

Để ta sống lại những giờ đã qua

Mê về bên mẹ cạnh cha

Xum vầy ở chính căn nhà mến yêu

 

Linh thiêng run rủi mưa chiều

Cùng anh bạn cũ phiêu riêu hôm nào

Văn chương toàn thấy tào lao

Thường quen bỗ bã “mày tao” cả cười

 

Chỉ riêng lần gặp có người

Ngày mong đêm mộng cuộc chơi trốn tìm

Bỗng đâu em cứ lặng im

Hay còn hỡn dỗi chuyện chim xổ lồng

 

Dù xa hình bóng trong long

Vẫn đôi mắt ấy buồn trông xa vời…

Tỉnh ra sáng mạn chân trời

Ngẩn ngơ nuối tiếc một thời dịu êm.

                        Trại sáng tác Đại Lải, t4/2016

 

 

 

 

 

 

KHÔNG ĐỀ

                 Tặng N.T.H

 

Nếu mà không có tình yêu

Trốn đâu cho hết những chiều nhớ quê

Trốn đâu mỗi độ thu về

Trốn đâu chóng sáng đêm hè trăng xưa…

 

Trốn tìm bến cũ sóng đưa

Trốn trong kỷ niệm gió mưa nhạt nhòa

Trốn sang bạn đã rời xa

Trốn say nhạc Trịnh tình ca nao long…

 

Trốn vào cái nghiệp long đông

Câu thơ mach bảo ai mong chốn nào?

Giật mình ngỡ tưởng chiêm bao

Có người nghe lỏm vịn rào trắng đêm…

 

 

 

 

 

                                

GIÁ ĐỪNG 

                      Gửi Thu Hà

 

Đi tìm một nửa chơi vơi

Trong đôi tri kỷ hay vời vợi xa?

Thu lang mặt nước Ngân hà

Chạm vào chỉ sợ xóa nhòa lại thôi

Giá đừng xui khiến cuộc chơi

Giá đừng thăm thẳm làm tôi nao lòng.

 

 

 

 

 

 

NGƯỜI HÀNG XÓM 

Ngày đi em chửa có chồng

Ngày về em đã con bồng con mang

                                   (Ca dao)

 

Có lần thả mấy dòng thơ

Lối sang phía ấy bất ngờ trăng lên

Tóc thơm hương bưởi trước thềm

Bóng dài nghiêng đậu sang hiên bên này

 

Hàng rào gió ghẹo lung lay

Tơ hồng bỗng héo đúng ngày xa nhau

 

Đường đời lặn lội bấy lâu

Trở về tìm lại mấy câu hôm nào

Đêm nay trăng sáng làm sao

Võng du hàng xóm chao vào lòng tôi.

                                           Vĩnh Yên, 2006

 

 

 

 

 

 

 

NGẪU HỨNG

 

Ở đây có kẻ đa tình

Nửa đêm vác bút ra rình trăng lên

Bỗng đâu thôn nữ bên thềm

Ngẩn ngơ đến nỗi bỏ quên nguyệt tà.

                                 Xóm núi Hạ Long, cuối xuân 2010

 

 

 

 

 

 

 

CHỊ ƠI

             Gửi chị Diện

 

Từ ngày biết chị má hồng

Thập thò sau cửa đem lòng ngẩn ngơ

Trời xui se lạnh bất ngờ

Khoác cho chiếc áo đến giờ vẫn thơm…

 

Chị ơi! Nay đã mấy con

Mình em tóc bạc chẳng còn như xưa

Mùa này rét đậm đầy mưa

Lửa tình ai thắp, thuyền chưa thấy về

                   Nhớ những năm tháng tản cư (1948) ở làng Diện Tam Dương

 

 

 

 

 

 

ĐÈN KÉO QUÂN

                 Tặng con trai Nguyễn Hoàng Tuân

 

Ngày nào làm đèn kéo quân

Cho con thủa bé một lần rước chơi

Vòng quanh nào ngựa, nào voi

Nào hình chú Tễu đua đồi ông quan...

 

Thu nay trăng sáng non ngàn

Đèn xưa vắng bóng, sáng choang điện đường

Nay nhìn lũ trẻ mà thương

Đồ chơi bằng nhựa phố phường có vui.

                                          

 

 

 

 

 

 

XUÂN QUÊ

  

Những chiếc lá

Úa vàng bay hối hả

Cùng mùa đông

Chạy trốn khỏi mùa xuân

 

Anh vội vã

Thả cánh thơ mùa điệp

Về phương em

Cho kịp phút giao thừa

Năm sau nữa

Hạn nhau ta trở lại

Với đào phai

Vui cái tết đồng quê

 

Phố phường đầy những đam mê

Đôi ta tìm nẻo đường về ngày xưa.

                             Vĩnh Yên, Chờ đón tết, 2007

 

 

 

 

 

 

CHỢT ĐẾN

 

Những hàng cây lá rụng

Rùng mình qua mùa đông

Bồng bềnh em chợt đến

Làm ta quên tuổi già

Hoa đào chưa kịp nở

Xuân đã vào trong thơ.

                         Hạ Long, 2014

 

 

 

 

 

 

 

 

MÙA XUÂN GẶP BẠN

                  Tặng nhà thơ Trần Khoái

 

Gặp nhau mãi có nhạt dần

Mới đi đã gọi mấy lần: cố nhân!

Lơ ngơ cỏ níu bước chân

Hay là say chén rượu xuân bạn mời

 

Mấy khi có được trong đời

Thả thơ  tâm đắc một trời tương tư…

Tiếng tiêu vọng khúc giã từ

Đường về bữa ấy hình như quá dài

 

Hợp tan liệu có một mai

Nối lời tri kỷ đào phai tương phùng?

                     Hạ Long, ngày 10/12/2011

 

 

 

 

 

 

SAY

 

Suốt đời đặt cược vào thơ

Bởi say cháy túi ngẩn ngơ lối về!

Bán trời mua cái đam mê

Trắng tay lại được bốn bề gió trăng.

                                   Hạ Long, xuân 2008

 

 

 

 

TRÙNG PHÙNG TRI KỶ

                    Tặng Phạm Bá Xứng

 

Bất ngờ gặp lại cố nhân

Kể từ ngày hắn dẫn than trời đày

Thế nào rượu mãi không say

Mấy thằng bạn cũ vừa hay bước vào

 

Văn chương còn chuyện tào lao

Mừng, lo có đưa mũ cao áo dài

Vợ hiền hì hụi nướng khoai

Lửa hồng pha ánh trăng cài song thưa

 

May còn mấy gã lơ ngơ

Chết thôi với nghiệp làm thơ tự tình…

Xóm núi Hạ Long, xuân 2010

 

 

 

 

 

 

 

 

GIẤC MỘNG TÔ CHÂU

 

Trăng cài mây nước hoàng hôn

Sao thưa mờ tỏ mắt buồn tương tư

Tô Châu ngày ấy dã từ

Nay tìm hình bóng thực hu có còn ?

 

Liễu buông mặt nước dỗi hờn

Loanh quanh đất khách bồn chồn nhớ ai!

Chạnh lòng nhỡ hẹn một hai

Đêm nay gác trọ canh dài cô đơn

 

Chuông chùa từ phía Hàn Sơn

Vọng sang tỉnh mộng cố hương mong chờ

                            Đêm Tô Châu, ngày 21/10/2011

 

 

 

 

 

 

 

NHỚ HOÀNG HỮU 

 

Hoàng Hữu ơi!

“Nửa vừng trăng” để lại

Nửa thôi em

Sao nhức nhối đến giờ?

 

Hoàng Hữu ơi!

Có một người vẫn đợi

Đọc thơ tình

Nơi ấy chốn xa xăm...

 

Hoàng Hữu ơi!

Bức tranh nào để lại

Có hẹn về

Xa ngái những ngày xưa

 

Hoàng Hữu ơi!

Xa rời trời quan tái

Thế gian này vương mãi bóng thi nhân.

                                                  Vĩnh Yên, 1999

 

 

 

 

 

 

 

CON VỀ 

 

Con về quê với rạ rơm

Nén nhang dâng mẹ thảo thơ nỗi buồn!

Chênh vênh gác tía lầu son

Vẳng nghe chim cuốc xoáy mòn lũy tre

 

Bỗng đâu nỗi nhớ theo về...

Mải chơi với ngọn gió hè qua đêm

Dạy con bằng ngọn roi êm

Từ niềm thương ấy mới nên thân người

 

Nửa đời tóc đã bạc rồi

Có còn chốn cũ một thời ấu thơ?

                                 Ân Thi quê ngoại, 1999

 

 

 

 

 

 

DUYÊN NỢ CỐ HƯƠNG

                             Tặng Hoàng Yến

 

Ta còn nợ

Mảnh đất này nhiều quá

Thuở ngây thơ

 

 

Khờ dại biết gì đâu

Khi có em

Vĩnh Yên lung linh huyền ảo

Mảnh đất đồi

Bõng nở một mẫu đơn

Ta yêu em

Với mây chiều Tam Đảo

Bao đêm buồn

Yên tĩnh bến bờ xa...

Ta còn nợ

Mảnh đất này nhiều quá

Tháng ngày qua

Giục giã đến nao lòng

 

Em ơi! Em!

Đốt cùng anh ngọn lửa

Cháy bùng lên

 

Như mặt trời rực rõ

Tỏa nắng vàng

Khắp dải đất quê hương

 

Vĩnh Yên ơi!

Ta nợ người nhiều quá

Suốt cuộc đời

Chưa chắc đã trả xong...

              Vĩnh Yên mùa hoa phượng, 1999