Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ra sức thi đua thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2018!
Từ khóa tìm kiếm Từ khóa tìm kiếm

NHÀ VĂN VĨNH PHÚC HIỆN ĐẠI (Quyển II; Phần 1)

(Ngày đăng: 19/01/2018, số lượt xem: 101)

 

 

  

NGUYỄN ĐỨC NINH

 - Họ và tên khai sinh:  Nguyễn Đức Ninh

- Sinh năm: 14.4.1950

- Bút danh: Đức Ninh, Song Toàn

- Quê quán: Thôn Yên Xuyên, xã Phú Thịnh, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc

- Hội viên Hội văn nghệ dân gian Việt Nam; Hội viên Hội Dân tộc học; Hội viên Hội Đông Nam Á học

- Giáo sư, Tiến sĩ Văn học.

 

- Tác phẩm chính đã xuất bản:

* Từ điển Inđônêxia - Việt (Chủ biên, NXB Khoa học xã hội, H. 1991)

* Văn học khu vực Đông Nam Á (NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, tái bản, H, 2000)

* Từ điển Văn học (Bộ mới, viết chung, NXB Thế giới, H, 2004)

* Nghiên cứu Văn học Đông Nam Á (NXB Khoa học xã hội, H. 2004)

* Từ điển Văn học Đông Nam Á (NXB Khoa học xã hội, H. 2004)

* Dạy và học tiếng Malaixia (NXB Khoa học xã hội, H. 2006)

* Diện mạo Văn học cận hiện đại Lào (NXB Khoa học xã hội, H. 2007)

* Về một số vấn đề Văn hóa dân gian (folklore) Đông Nam Á (Chủ biên, NXB Khoa học xã hội, H. 1991)

* Từ điển lịch sử và Văn hóa Malaixia (Chủ biên, NXB Khoa học xã hội, H. 2012)

* Xây dựng cộng đồng Văn hóa - Xã hội ASEAN (NXB Khoa học xã hội, H. 2013)

* Quá trình hình thành thể loại tiểu thuyết hiện đại trong Văn học Việt Nam và một số nước Đông Nam Á (Chủ biên, NXB Khoa học xã hội, H. 2016)

*Và gần 30 cuốn sách viết chung, viết riêng khác đã xuất bản.

- Giải thưởng văn học:

* Giải 3B tác phẩm Về một số vấn đề văn hóa dân gian (folklore) Đông Nam Á của Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam.

- Suy nghĩ về nghề văn:

 Những người cầm bút viết văn dù ở hình thức nào, thể loại nào đi nữa (sáng tác thơ, văn, nghiên cứu lý luận, phê bình, dịch văn học …) đều là những người cảm nhận tinh nhạy cuộc sống, phản xạ nhạy bén với không gian môi trường văn hóa- xã hội, với cảnh quan xung quanh, để chắt lọc ra những vần thơ, những trang văn tinh túy, “chất mật” cho Đời mang tầm tư tưởng, tri thức, tính nghệ thuật tinh hoa để CON NGƯỜI càng ngày càng NGƯỜI hơn. Đó là nghề văn và nhà văn lúc nào cầm bút cũng vì con người, cho con người.

 

 

A - TRONG KÝ ỨC BẠN BÈ

 

MỘT CÁCH TIẾP CẬN MỚI VỀ

VĂN HỌC ĐÔNG NAM Á

GS. TS. Phạm Đức Dương 

Tác phẩm “Nghiên cứu Văn học Đông Nam Á” là một tập hợp các bài viết của tác giả đã được đăng tải trong các tạp chí và sách, đánh dấu một chặng đường dài hơn 20 năm nghiên cứu văn học ở Viện Đông Nam Á bắt đầu từ khi tác giả bảo vệ thành công luận án PTS (nay gọi là TS) “Tiểu thuyết Inđônêxia nửa đầu thế kỷ XX” tại Viện Văn học đầu năm 1983.

Các bài viết được sắp xếp thành 2 phần: Văn học khu vực Đông Nam Á (7 bài) và Văn học từng nước: Inđônêxia (15 bài), Malaixia (3 bài), Philippin 3 bài), Lào (4 bài), Thái Lan (1 bài).

Trong các bài nghiên cứu về văn học khu vực, từ bài “Nghiên cứu truyện ngắn ở các nước Đông Nam Á” đi sâu vào một đối tượng cụ thể, còn các bài khác- cái chính là tác giả đưa ra một cách tiếp cận mới về văn học. Dựa trên cơ sở nghiên cứu sâu của bộ môn chuyên ngành Văn học, tác giả đã vận dụng phương pháp tiếp cận tổng hợp trong bối cảnh rộng lớn hơn: “Không đơn thuần nghiên cứu văn chương (tự thân văn học)”, “mà xem xét quá trình văn học Đông Nam Á trên cơ sở những đặc điểm văn hóa của khu vực”. Bằng cách nhìn lại một cách bao quát “Phương Đông học Xô viết với việc nghiên cứu văn học phương Đông”, “Ảnh hưởng văn học Nga- Xô viết và văn học Đông Nam Á”, rồi “việc nghiên cứu văn học Đông Nam Á ở Việt Nam”… bằng cách nhìn của mình, Nguyễn Đức Ninh đã nêu lên những “nét chung của văn học Đông Nam Á” và những nét riêng của văn học từng nước, trong đó có Việt Nam. Đó là phương pháp nhận dạng rất có hiệu quả. Người đọc sẽ tìm thấy ở đây một cách tiếp cận dựa trên quan điểm tổng thể- toàn cục và phương pháp liên ngành của bộ môn Đông Nam Á học.

Trong việc nghiên cứu văn học từng nước dựa trên bộ môn đất nước học tác giả đi từ điểm đến diện, đi từ đồng đại đến lịch đại,… Nhờ biết tiếng Inđônêxia và đã nhiều năm nghiên cứu văn học, văn hóa nước này, Nguyễn Đức Ninh có thể gọi là chuyên gia về Inđônêxia học. Tác giả bắt đầu việc nghiên cứu tiểu thuyết hiện đại Inđônêxia thông qua các trào lưu, các trường phái như tiểu thuyết tập tục, tiểu thuyết lịch sử, tiểu thuyết vô thần, tiểu thuyết với các đề tài chống ngoại xâm, đấu tranh giải phóng dân tộc… với việc giới thiệu những tác phẩm tiểu biểu, từ cuốn tiểu thuyết đầu tiên “Bất hạnh và đau khổ”, đến cuốn tiểu thuyết đạt đỉnh cao “Nền giáo dục sai lầm”. Để hiểu sâu sắc nền văn học hiện đại của Inđônêxia tác giả đã khảo sát văn học dân gian như thần thoại, Pantun (thơ dân gian), và cuối cùng dựng nên bức tranh toàn cảnh nền Văn học Inđônêxia thế kỷ XX và so sánh với Văn học Việt Nam cùng thời nêu lên được những nét tương đồng và khu biệt. Có thể nói, lần đầu tiên ở nước ta, văn học Inđônêxia hiện đại được Nguyễn Đức Ninh nghiên cứu, giới thiệu và giảng dạy một cách có hệ thống với một phương pháp tiếp cận được đổi mới.

Từ điển Inđônêxia, Nguyễn Đức Ninh nhìn sang văn học Malaixia cùng chung một cơ tầng “ngôn ngữ và văn học Melayu” với Inđônêxia, và xa hơn là bức tranh đại thể của văn học Philippin cùng nằm trong thế giới hải đảo. Tuy không đi sâu, nhưng tác giả đã thiết lập cho mình một hệ thống kiến thức từ truyền thống đến hiện đại để có thể so sánh và đưa vào tầm nhìn bao quát văn học khu vực.

Tác giả cũng có may mắn được tham gia đoàn các nhà khoa học Việt Nam sang hợp tác với các nhà khoa học Lào để biên soạn ba công trình cấp Nhà nước trong đó có cuốn Văn học Lào dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Cố Chủ tịch nước Phu-mi Vông-vi-chít một lãnh tụ cách mạng- một nhà văn hóa lớn và làm việc học hỏi với các nhà văn hóa Lào như Ma-ha-xi-la, Ma-ha-khăm Phăn, Cụ-vi-xiên, PTS. Bò-xẻng-khăm, nhà văn Bua Kẹo, nhà thơ Xôm-xỉ Đê-xa, nhà văn Xu-văn-thon, v.v… Nhờ vậy, từ cái nhìn văn học, văn hóa hải đảo, tác giả viết về văn học Lào- một nước nằm ở trung tâm lục địa có quan hệ họ hàng với Thái Lan. Tác giả đã cố gắng tìm hiểu văn học- văn hóa Lào, thử dựng lại tiến trình phát triển của văn học cận hiện đại và mối quan hệ đặc biệt Việt Nam- Lào trong văn học. Bài viết đại cương về văn học Thái Lan cũng nhằm đích hướng tới một cái nhìn bao quát.

Ngoài tập sách “Nghiên cứu văn học Đông Nam Á” Nguyễn Đức Ninh còn tham gia biên soạn các công trình: Từ điển văn học, Từ điển Inđônêxia- Việt (chủ biên), biên dịch truyện cổ Inđônêxia, Malaixia, truyện dân gian Philippin… là giảng viên kiêm nhiệm của các trường đại học về văn học, văn hóa, anh đã tham gia giảng dạy, hướng dẫn nghiên cứu sinh, xây dựng và biên soạn giáo trình  Văn học Đông Nam Á, giáo trình Văn học so sánh lý luận và ứng dụng… Anh thực sự là một chuyên gia về văn học Inđônêxia và Đông Nam Á.

Qua công trình này, cách thức nghiên cứu văn học của GS.TS. Nguyễn Đức Ninh có thể được nhận diện bởi 3 quan hệ trong quá trình nghiên cứu Đông Nam Á:

Một là, từ môn văn học (chuyên ngành) đến văn hóa học (liên ngành), từ một nước (đất nước học) đến khu vực (khu vực học). Đây là một trong nhiều con đường nghiên cứu có hiệu quả.

Hai là, văn học không được nghiên cứu biệt lập mà phải nằm trong bối cảnh với quan điểm tổng thể toàn cục, cần kết hợp biện chứng giữa đồng đại và lịch đại, dù nghiên cứu đồng đại nhưng phải khai thác những giá trị lịch đại.

Ba là, dù “đi đâu về đâu” nghiên cứu bất cứ nước nào, tác giả vẫn lấy Việt Nam là điểm tựa và so sánh với các nước trong khu vực, trên thế giới để hiểu sâu hơn Việt Nam và hiểu các nước khác để xác lập và xây dựng mối quan hệ Việt Nam với các nước trong vận hội mới.

Xin được giới thiệu công trình của GS. TS. Nguyễn Đức Ninh.

P.Đ.D

 

 

 


B - MỘT SỐ TÁC PHẨM TIÊU BIỂU

 

1. Thơ:

 

         KỶ NIỆM GẶP GỠ

 

Tình yêu đến tình yêu đi ai biết

Trong gặp gỡ đã có mầm li biệt.

                                   (Xuân Diệu)

 

Đạp xe cùng em đi dạo chơi

Con đường Thát Luổng bóng chơi vơi

Hai hình một bóng xe bon mãi

Chân trời phía trước chẳng tới nơi…

 

Quay lại đến bờ sông Mê Công

Hững hờ nước chảy chẳng cảm thông

Đôi trái tim buồn cùng rạo rực

Hỏi nhau lòng vẫn dối rằng không!

 

Anh vẫn cùng em lối nhỏ về

Cuộc đời- câu chuyện cứ mải mê

Chuyện đời để nói lòng mình đó

Bốn mắt nhìn nhau tim tái tê…

 

Sao vội rời xa câu chuyện vui

Để lòng xao xác nhớ khôn nguôi

Gửi lại đôi dòng thơ li biệt

Hồn theo mây trắng chẳng về xuôi.

 

 

 

 

 

        TƯƠNG TƯ

  

Anh viết cho em bài thơ xuân,

                     Không vần, không điệu.

Như một buổi chiều

                     Khi lá xào xạc rơi

Buông xuống quanh con người

                     Đang sâu thảm.

Anh, anh đứng trên buổi chiều ảm đạm.

Tìm gặp em trong khóe mắt tình yêu

Em ở đâu, hỡi em, em yêu?

Anh gọi mãi một trăm lần mà chưa gặp

Phải chăng đây là một bài thơ vần lặp

Lãng mạn vô song,

            như một cặp tình yêu

Xa cách đã nhiều…

Đã mấy mùa đổi lá

Mấy mùa đông đã qua

Anh, anh vẫn xa

Em, em vẫn là

            một vì sao vô tận!

Có phải sông Ngân Hà trên trời cao

Là chướng ngại vật

Cản đường anh và em gặp nhau

Hay ở một nơi đâu

            Quy chế!

Anh sẽ tìm gặp em ở một nơi tráng lệ

Trên dòng sông Ngân Hà

Em sẽ tắm mình giữa sao sa

Anh sẽ biến thành vịt trời

Cũng trên sông Ngân Hà anh tắm

Anh đến gần em, anh ngắm

Gần em

           Càng đắm say.

 

 

 

 

 

 

        GẶP NHÀ THƠ

Kính tặng hương hồn nhà thơ Xuân Diệu

 

Tôi ngồi ở dưới để nghe anh

Xuân Diệu bình thơ vẫn trứ danh

Tôi nghe anh giảng thơ Tố Hữu

Nhà thơ cộng sản cũng lừng danh…

           

            Hình tượng Bác Hồ trong nghệ thuật

            Là pha lê trong suốt thời gian

            Pha lê ấy ta nhìn càng thấy rõ

            Nhờ có anh bình, thơ Tố Hữu giỏi giang

 

Tôi phục anh tài tạo thơ bằng hình tượng

Thầm khen anh dào dạt tâm hồn

Như sóng biển có bao giờ phẳng lặng

Thơ tình yêu mãi mãi vẫn trào tuôn.

 

            Anh bình thơ người khác

            Người khác bình thơ anh

            Thơ tình yêu- Xuân Diệu

            Mãi mãi như chồi xanh.

 

 

 

 

 

 

 

         GỬI LẠI EM

              Tặng nước Nga thân thiết

 

Anh gửi lại em mối tình duyên

Nơi anh đã sống tuổi thanh niên

Tuổi đời say đắm hằng tha thiết

Anh được yêu em hết nỗi niềm

 

Anh gửi lại em cả tâm hồn

Khi về anh vẫn nhắc em luôn

Gắn em hình ảnh trong tim đỏ

Nhớ lại ngày qua những cái hôn…

 

Nhớ lại ngày qua những buổi chiều

Gửi em ở lại một tình yêu

Kẻ đi người ở thêm lưu luyện

Từ biệt em yêu, nhớ những chiều…

 

 

 

 

 

 

        VỀ HÀ NỘI

 

 Đến ở nơi em nắng đẹp trời

Lúa vào chín rộ khắp nơi nơi

Mùi rơm phơi rải trên đường nhựa

Em mãi theo anh đến cuối trời

 

Trái ngang là thế mà em đến

Để lòng nhung nhớ dạ không nguôi

Bên anh, em vẫn than em nhớ

Anh muốn cho em nốt cuộc đời

 

Mưa phùn lại rải bên cửa sổ

Nắng bừng em đến miệng cười tươi

Anh tìm thấy được em đôi mắt

Trong trẻo tình yêu của con người

 

Anh về Hà Nội mưa theo gót

Nước mắt em tràn thấm áo anh

Anh đem tất cả về Hà Nội

Cả sự chờ mong không có anh…

Mảnh trời hai ngả ở hai nơi

Ta vẫn cùng chung một khoảng trời

Niềm tin cuộc sống càng tươi mãi

Bởi giữa nhân gian có hai người.

 

 

 

 

 

 

        GỬI NGƯỜI ĐI XA

 

 Thăng Long tình nghĩa mặn mà

Vì sao em phải rời xa chốn này

Hôm qua chưa hết men say

Hôm nay em đã đi ngay xa rồi…

Hương nồng còn đọng trên môi

Em đem theo để nhớ người Thăng Long

Thương em một đóa hoa hồng

Tàn phai sắc thắm với dòng thời gian

 

Em đi có nhớ hay quên

Người Thăng Long đợi chờ em tháng ngày

Mai sau em sống đủ đầy.

Về thăm đất cũ cùng say rượu đào

Để dành đây những ước ao

Em đi có nhớ người nào nhớ em…

 

 

 

2. Nghiên cứu văn học:

 

VĂN HỌC KHU VỰC ĐÔNG NAM Á

(Trích chương I trong sách: Văn học khu vực Đông Nam Á)

 

I. ĐẶT VẤN ĐỀ VIỆC HÌNH THÀNH THUẬT NGỮ VÀ KHÁI NIỆM VĂN HỌC ĐÔNG NAM Á

 Khoa học về Đông Phương ra đời đầu tiên không phải ở các nước phương Đông, mà ở các nước phương Tây, châu Âu. Những cuộc thám hiểm của người châu Âu tới những vùng đất xa xôi, những cuộc phát kiến về địa lý ở phương Đông làm cho người châu Âu đam mê các miền đất lạ không phải chỉ do cơn khát vàng mà còn say cả thiên nhiên môi trường, con người và lối sống ở những nơi đó. Họ thấy phương Đông như một thứ ma lực, đầy bí ẩn và rất nhiều ẩn số của một bài toán lạ. Tiếp theo là những cuộc chinh phạt xâu xé thuộc địa của các nước tư bản phương Tây nhằm vơ vét tài nguyên, sức người, sức của làm giàu cho bọn tư bản phương Tây. Bên cạnh những mục tiêu kinh tế, mở rộng và duy trì thuộc địa, phương Đông đã kích thích đầu óc tìm tòi khai phá hiểu biết của người phương Tây làm cho ngành khoa học về phương Đông dần dần hình thành và ra đời. Do đó, khái niệm Đông phương học được người phương Tây sử dụng để chỉ đối tượng nghiên cứu là khu vực địa lý phương Đông. Đó là một khoa học nghiên cứu tổng hợp: lịch sử, kinh tế, ngôn ngữ, văn học, tôn giáo, văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần phương Đông…

Lịch sử phương Đông học thế giới đã trải qua gần bốn thế kỷ (từ thế kỷ XVII). Những trung tâm lâu đời nghiên cứu phương Đông nằm ở các nước Tây Âu như Pháp, Anh, Hà Lan, ở Liên Xô cũ, ở Đức và sau này ở Mỹ, Úc v.v… Ở các trung tâm đó còn lưu giữ được rất nhiều tài liệu và văn bản quí về các lĩnh vực phương Đông. Bốn thế kỷ qua đã đủ thời gian để hình thành một chuyên ngành mới về Đông phương học: đó là lịch sử ngành Đông phương học. Viết lịch sử ngành Đông phương học là vấn đề đang được đặt ra trước các nhà Đông phương học trên thế giới, trong đó có các nhà Đông phương học Xô Viết, nhằm tổng kết việc nghiên cứu Đông phương học từ trước cho tới nay.

Hãy thử đặt vấn đề lấy một trong các trung tâm Đông phương học mạnh trên thế giới là Đông phương học Xô viết (Liên Xô cũ) làm minh chứng luận giải những thành tự phát triển của ngành khoa học Đông phương.

Ở Liên Xô cũ, khoa học về phương Đông hình thành từ cuối thế kỷ XVIII. Có 3 giai đoạn phát triển của ngành Đông phương học nước Nga:

1. Giai đoạn hình thành cơ sở khoa học Đông phương (từ cuối thế kỷ XVIII- nửa đầu thế kỷ XIX).

2. Giai đoạn mở rộng và hệ thống hóa nghiên cứu khoa học Đông phương (nửa sau thế kỷ XIX- đến 1917).

3. Giai đoạn Đông phương học Xô viết (1917- nay).

Đông phương học của Liên Xô trước Cách mạng tháng Mười có những đóng góp nhất định trong nghiên cứu ngữ văn về Trung Quốc và Ấn Độ. Nghiên cứu Trung Quốc và Ấn Độ bao giờ cũng là đối tượng số một của Đông phương học thế giới nói chung, Đông phương học của Liên Xô cũ nói riêng. Thời Nga Hoàng đã có trường phái nghiên cứu về Ấn Độ và Trung Quốc (N. Bitrurin lập ra trường phái Đông phương học Nga về Trung Quốc, I.P Milaép lập ra trường phái Ấn Độ học). Tuy nhiên, Đông phương học thời Nga Hoàng dựa trên quan điểm duy tâm về lịch sử, dẫn đến thế giới quan và phương pháp luận của nó trong nghiên cứu có nhiều hạn chế. Tính khoa học trong nghiên cứu văn học nói chung còn thấp.

Từ buổi đầu hình thành Đông phương học Xô viết (1917), các viện sĩ I. Kraskovski, V. Alekseev, N. Konrát, A.P Baranikov… đã đổi mới việc nghiên cứu văn học phương Đông. Ngoài Matxcơva và Lêningrát là hai trung tâm nghiên cứu lớn và mạnh, Liên Xô còn có những trung tâm khác như Tasken, Bacu, Erevan, Kazan v.v… Trong các trung tâm này, nhìn chung đều có bộ phận nghiên cứu về Đông Nam Á. Năm 1962, Liên Xô ra Ban trung tâm phối hợp nghiên cứu văn học các nước châu Á và châu Phi, trong đó có các nước Đông Nam Á. Đông phương học Xô viết cũng trải qua 2 thời kỳ khác nhau về lượng, về chất, về hướng phát triển mà năm 1960 là ranh giới của hai thời kỳ đó:

- Trước năm 1960, việc nghiên cứu văn học phương Đông chỉ đạt tới phương pháp mô tả ngữ văn. Sau năm 1960 các công trình nghiên cứu đã có tầm cỡ khái quát, lý luận. Trước năm 1960 những vấn đề lý luận chung ít được đặt ra và được các nhà khoa học hưởng ứng, cùng nghiên cứu, tranh luận. Đặc biệt việc nghiên cứu quá trình văn học Đông Nam Á cũng như phương Đông nói chung, được coi là bộ phận không thể thiếu được trong việc tìm hiểu quá trình văn học thế giới.

- Số công trình xuất bản trong 12 năm (từ 1961-1973) nhiều hơn hẳn con số đã đạt được trong 40 năm trước.

Văn học các nước Đông Nam Á bắt đầu được nghiên cứu vào những năm 50 của thế kỷ XX. Từ năm 1960 trở về trước là thời kỳ tìm hiểu và nắm vững các nền văn học dân tộc ở Đông Nam Á. Có một số bài nghiên cứu lẻ tẻ viết về văn học Inđônêxia, văn học Việt Nam, văn học Miến Điện (Mianma), văn học Malaixia. Có thể nói rằng trước năm 1960, Đông phương học Xô viết chỉ chú ý đến việc nghiên cứu các nền văn học lớn phương Đông mà chưa có sự chú ý đáng kể đến các nền văn học Đông Nam Á. Thời kỳ này chỉ có văn học Malaixia là được nghiên cứu sớm hơn cả (những công trình của L.A.Mervart). Thời kỳ từ 1960 trở lại đây phần lớn các nền văn học khu vực Đông Nam Á được nghiên cứu nghiêm túc, công phu và có kết quả (như văn học Malaixia, Inđônêxia, Việt Nam, Miến Điện). Như vậy, từ 1960 trở lại đây các nền văn học ở Đông Nam Á được Liên Xô chú ý nhiều.

Trong thời kỳ sau này, bộ sách “Văn học phương Đông” đã ra đời (seri). Đây là những cuốn sơ thảo lịch sử văn học của các nền văn học riêng biệt. Bộ sách này gồm có 23 cuốn sách viết về 23 nền văn học dân tộc ở phương Đông, trong đó có các cuốn Văn học Inđônêxia, (1965) của V.Sicorski, Văn học Philippin (1965) của A.Santos, Văn học Thái Lan (1971) của V.Kornép, Văn học Miến Điện (1967) của G.Pôpốp, Văn học Việt Nam (1971) của N.Niculin. Đây là một cố gắng lớn của Đông phương học Xô viết về văn học. Nó đánh dấu một bước tiến bộ rõ rệt, một bước đi quan trọng trong nghiên cứu văn học Đông Nam Á ở Liên Xô cũ.

Đông phương học là một khoa học nghiên cứu tổng hợp (universan). Ngày nay, tính tổng hợp đó dựa trên một trình độ chuyên môn hóa sâu theo từng chuyên ngành. Ở Liên Xô cũ, nghiên cứu văn học phương Đông đã được tách ra thành một chuyên ngành độc lập như là một bộ phận của nghiên cứu văn học chung và nghiên cứu lịch sử văn học thế giới. Bộ “Lịch sử văn học toàn thế giới” đã ra đời, trong đó có sự tham gia, đóng góp của văn học Đông Nam Á vào quá trình văn học nói chung đó. Hướng nghiên cứu của Đông phương học Xô viết là hướng nghiên cứu chuyên ngành, nghiên cứu nhiều về hiện đại. Đông phương học Xô viết đã có những chuyên gia về từng nền văn học và có khi về từng thời kỳ văn học của một nước. Trong ngành nghiên cứu văn học phương Đông của Liên Xô cũ cũng được phân chia nhỏ hơn nữa; có những bộ phận chuyên môn sâu hơn về văn học. Chẳng hạn, từ năm 1958 ở Viện Văn học thế giới thuộc Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô có nhóm chuyên môn nghiên cứu quan hệ qua lại giữa các nền văn học phương Đông và phương Tây. Năm 1961, Viện phương Đông thuộc Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô đã lập ra bộ phận chuyên môn nghiên cứu văn học và văn bia của các dân tộc châu Á. Hơn nữa Đông phương học Xô viết có khuynh hướng ngày càng nâng cao trình độ lý luận trong nghiên cứu văn học phương Đông. Từ năm 1960 trở lại đây Liên Xô liên tiếp tổ chức các hội nghị khoa học về văn học phương Đông. Nhiều công trình đã xuất bản ở Liên Xô như “Những vấn đề lý luận về mỹ học ở các nước phương Đông” (M.1964), “Những tư tưởng của chủ nghĩa nhân đạo trong văn học phương Đông” (M.1967), “Những vấn đề phân kỳ lịch sử văn học các dân tộc phương Đông” (M.1968), “V.I.Lênin và văn học nước ngoài phương Đông” (1971) “Loại hình học và quan hệ qua lại của các nền văn học thế giới cổ đại” (1971), “Tính quốc tế và tính dân tộc trong văn học phương Đông” (M.1972), “Khai sáng trong văn học phương Đông” (M. 1973) v.v… Ngoài ra còn có nhiều vẫn đề khác được nghiên cứu ở Liên Xô cũ như: Quan hệ giữa Folklore và văn học viết trong văn học phương Đông. Các nền văn học dân tộc ở khu vực Đông Nam Á được coi là các thành viên của văn học phương Đông. Vì thế, các chuyên gia các nền văn học Đông Nam Á đã tham gia bàn bạc về văn học phương Đông cùng với các chuyên gia văn học các nước Đông Nam Á đã công bố những bài viết nghiên cứu của họ: N.I.Niculin có bài “Hình tượng Lênin trong văn học Việt Nam”; E.A.Zapadova viết về văn học Myama hiện đại, tìm hiểu mối quan hệ ảnh hưởng của văn học Nga- Xô viết đối với văn học Myanma; N.Sumurốpva nghiên cứu về “Liên minh văn hóa nhân dân”, một tổ chức văn hóa nghệ thuật tiến bộ ở Inđônêxia và nghiên cứu về nhà văn hiện đại P. Pur, nhà văn tranh cử giải Nôben vào những năm 90; E.Zapadova tìm ảnh hưởng của Goocki đối với văn học Inđônêxia, Myanmar, Việt Nam; V. Ostrôpski và B.Parnike tranh luận về từng vấn đề của các nền văn học riêng biệt đã lần lượt được công bố. N.I Niculin có chuyên đề về Kiều, Hồ Xuân Hương; A.D Burman có chuyên đề về phát triển kịch nhà hát Miến Điện; và nhiều bài viết khác của các chuyên gia Xô viết về từng vấn đề của các nền văn học riêng biệt đã lần lượt được công bố. N.I Niculin có chuyên đề về Kiều, Hồ Xuân Hương; A.D Burman có chuyên đề về phát triển kịch nhà hát Miến Điện; và nhiều bài viết khác của các chuyên gia Xô viết về từng vấn đề của từng nền văn học Đông Nam Á đăng rải rác trên các bài tạp chí “Á Phi ngày nay”, tạp chí “Đông phương học Xô viết” và các tạp chí chuyên ngành khác. Các nhà khoa học Xô viết luôn cố gắng xác nhận vị trí và đóng góp của văn học phương Đông- Đông Nam Á trong văn học thế giới. Khác với quan điểm của các học giả tư sản coi rẻ văn học các dân tộc phương Đông- Đông Nam Á, bằng những cơ sở khoa học và những công trình nghiên cứu của mình, các nhà khoa học Xô viết đã chống lại quan niệm phương Đông lạc hậu, phê phán quan điểm “châu Âu là trung tâm” của họ. Ngành văn học phương Đông của Liên Xô đã khẳng định được những đóng góp quý báu của các dân tộc “nhược tiểu” vào kho tàng văn học chung của loài người.

Đáng chú ý hơn cả là những công trình có tính chất khái quát bao trùm quãng thời gian lịch sử dài. Đó là những cuốn sơ thảo lịch sử văn học của từng nước Đông Nam Á nằm trong bộ sách “Văn học phương Đông” như đã kể ra ở trên. Những công trình đó đã trinhg bày quá trình phát triển của một nền văn học, một nước cụ thể, đánh dấu một bước tiến bộ rõ rệt, một bước đi quan trọng trong nghiên cứu văn học văn học Đông Nam Á ở Liên Xô. Hâu hết các tác giả của những công trình đó đều chú ý đến cội nguồn văn học dân gian trong sự hình thành lịch sử văn học dân tộc của các nước Đông Nam Á. Các nhà khoa học Liên Xô đã thấy rõ văn học dân gian đóng vai trò quan trọng không thể thiếu được trong quá trình văn học của các nước Đông Nam Á. Quan niệm đó đã thể hiện trong công trình nghiên cứu “Văn học Thái Lan” của V.Kornép, “Văn học Việt Nam” của Niculin, “Văn học Philippin” của A.Santos, “Văn học Miến Điện” của G.Popốp. Riêng cuốn “Văn học Inđônêxia”, vì đặc thù khách quan và quan niệm của tác giả về văn học Malaixia- Inđônêxia nên N.Sicôrski chỉ trình bày văn học Inđônêxia từ cuối thế kỷ XIX- đầu XX cho đến ngày nay.

Mở đầu cuốn sách “Văn học Việt Nam” là phần thơ ca dân gian cổ đại. Tác giả khái quát văn học Việt Nam từ thơ ca dân gian cho đến ngày nay, giới thiệu văn học trước và sau khi có chữ viết, văn học cận đại, hiện đại, văn học nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa và văn học giải phóng ở miền Nam Việt Nam. Tác giả dừng lại ở những mốc chính, những thời kỳ, giai đoạn văn học chủ yếu, làm sáng tỏ những dòng, trào lưu văn học tiến bộ ở Việt Nam.

Cuốn “Văn học Thái Lan” lại viết theo từng triều đại được V.Kornép mở đầu bằng sự thiên di của dân tộc Thái đến sự hình thành quốc gia Thái Lan. Trong phần văn học trung đại, tác giả kết hợp truyền thuyết văn học với sự hình thành quốc gia Thái để mô tả bức tranh văn học Thái Lan. Trong mỗi triều đại lớn đều được tác giả giới thiệu những bộ phận văn học theo tính chất và nội dung của nó: sáng tác thơ ca dân gian, văn học nhà chùa, văn học cung đình v.v… Tác giả nhấn mạnh tính chất, màu sắc “huyền thoại” của văn học Thái Lan. Cuốn sách cho thấy vị trí của văn học dân gian trong đời sống văn học Thái Lan thật là to lớn, bao trùm.

Cuốn “Văn học Philippin” nêu lên những nét chung của con đường phát triển văn học Philippin từ buổi đầu cho đến ngày nay. Tác giả cuốn sách gặp phải một khó khăn lớn: thành phần dân tộc, chữ viết ở Philippin hết sức phức tạp (hơn 80 ngôn ngữ khác nhau của các dân tộc). Vì thế, quá trình văn học của nó cũng không dễ thâu tóm ngay được. Gần 1/3 cuốn sách giới thiệu về folklore: thơ ca dân gian, anh hùng ca, truyền thuyết, thần thoại, cổ tích. Đây mới chỉ là bản phác thảo hết sức sơ lược về văn học Philippin…

Trong tất cả các tập sơ thảo kể trên, các nhà khoa học Xô viết đã làm sáng tỏ những di sản văn học cổ điển, văn học truyền thống, nhưng chủ yếu vẫn chú ý nhiều hơn tới văn học cận, hiện đại. Từng thời kỳ văn học, những nhà văn nhà thơ tiêu biểu đều được giới thiệu ở đây. Nhìn chung, trong các công trình đó, với tính chất của một công trình sơ thảo, các nhà khoa học Xô viết đã cố gắng khái quát về toàn bộ một nền văn học cụ thể.

Từ những năm 70, hướng nghiên cứu hiện đại của Đông phương học Xô viết càng rõ hơn. Phương Đông, nhất là Đông Nam Á càng ngày càng trở thành trung tâm chú ý của thế giới về cao trào đấu tranh giải phóng dân tộc. Ngành văn học phương Đông của Liên Xô đặc biệt chú ý trong khai thác văn học tiến bộ, văn học cách mạng ở các nước Đông Nam Á như một khu vực địa lý- chính trị- quân sự. Chỉ từ những năm 70 trở lại đây, Đông phương học Xô viết mới nhìn nhận Đông Nam Á như một khu vực văn học, tách hẳn với Ấn Độ và Trung Quốc. Vì vậy ở Liên Xô vào những năm 70 đã cho ra đời các cuốn sách “Đông Nam Á những vấn đề khu vực” trong đó đề cập tới các lĩnh vực văn học Đông Nam Á, tôn giáo Đông Nam Á, ngôn ngữ Đông Nam Á v.v… Cuốn thứ hai cũng có tiêu đề như trên, nhưng viết về vấn đề của khoa học lịch sử. Như thế, Liên Xô đã thấy giữa các quốc gia ở Đông Nam Á có mối quan hệ với nhau về địa lý môi trường, về lịch sử văn hóa và đến hôm nay, thời đương đại càng thấy rõ hơn về Đông Nam Á trong tổ chức ASEAN. Các nhà nghiên cứu văn học Liên Xô đã chú ý tìm hiểu mối liên hệ giữa các nền văn học Đông Nam Á và đặc trưng của văn học khu vực Đông Nam Á. Những công trình viết khái quát về văn học Đông Nam Á, tìm ra những đặc thù chung của văn học cả khu vực cũng như những đặc thù riêng trong nội hàm khu vực chưa có nhiều và còn ở mức sơ lược. Tuy vậy, khái niệm và thuật ngữ văn học Đông Nam Á đã được sử dụng ở Liên Xôn cũng gần ba mươi năm nay. Đối với bộ môn văn học, việc đi vào nghiên cứu từng nền văn học, xưa nay vẫn là một mục tiêu đúng đắn và khoa học nhất. Việc nhìn nhận văn học khu vực càng làm sáng tỏ nhiều vấn đề văn học của từng quốc gia trong một tổng thể.

Có thể nói, Đông Nam Á được nhìn nhận như một khu vực địa lý- lịch sử- chính trị- và văn hóa khá muộn. Nhận thức về khu vực Đông Nam Á (cũng như Đông phương) trước hết bắt nguồn từ bên ngoài Đông Nam Á. Các nước lớn, đặc biệt là các cường quốc thấy cần coi Đông Nam Á khác biệt trực tiếp với các khu vực kề cận, coi Đông Nam Á là một khu vực địa lý- chính trị- quân sự riêng. Việc coi Đông Nam Á như một khu vực địa lý- quân sự- chính trị của thế giới cũng chỉ bắt đầu từ sau chiến tranh thế giới thứ hai. Sau chiến tranh thế giới thứ hai, thế giới được phân chia thành hai phe rõ ràng, đối lập nhau là tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa. Hai vấn đề: phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc lên cao, sự phá vỡ hệ thống thuộc địa của tư bản phương Tây đã thu hút sự chú ý của cả phương Tây, cả Liên Xô cũ tới khu vực Đông Nam Á. Sau Đông Nam Á với tư cách là một khu vực địa lý, rồi mới đến Đông Nam Á với tư cách là một khu vực chính trị. Đông Nam Á xuất hiện trên bản đồ chính trị thế giới với tư cách là một khu vực chính trị riêng khi nó chỉ bắt đầu có một vị trí nhất định trong đời sống chính trị thế giới. Khi hai cường quốc của phe đối địch hoạch định chiến lược toàn câu của mình thì Đông Nam Á cũng trở thành một trong các khu vực chính trị- quân sự của họ. Còn trước đó, các nước riêng biệt ở Đông Nam Á là đối tượng nghiên cứu của các nước tư bản phươngảTay với tư cách là các thuộc địa của họ.

Nhận thức Đông Nam Á là một khu vực lịch sử- văn hóa là điều khó khăn, nhất là những người phương Tây. Khái niệm văn hóa khu vực Đông Nam Á khó được chấp nhận vì những sự kiện có sẵn để phân tích lịch sử không nhiều, vì những phức tạp về văn hóa- xã hội. Dần dần các ngành khoa học khác nhau trên thế giới đã khám phá và đưa ra những giả định về các lĩnh vực văn hóa ở khu vực Đông Nam Á. Trước khi tiếp xúc với Ấn Độ, Trung Quốc, Đông Nam Á là một trong các trung tâm của cây trồng. Thành tựu nổi bật là một nền văn minh nông nghiệp trồng lúa nước. Rồi nền văn hóa Đông Sơn với những trống đồng tìm thấy ở khắp Đông Nam Á là những hiện vật tiêu biểu của văn hóa khu vực. Những phát hiện khảo cổ học, dân tộc học, folklore học v.v… của các nhà khoa học thế giới về Đông Nam Á đã làm đổi thay cách nhìn của người nước ngoài (ngoài Đông Nam Á). Họ đã thấy Đông Nam Á là một khu vực địa lý- văn hóa.

Khu vực địa ký- văn hóa Đông Nam Á có những đặc thù riêng so với các khu vực văn hóa khác trên thế giới. Văn hóa Đông Nam Á là một quá trình “trầm tích” các nền văn hóa của  khu vực, của thế giới và quá trình biến thiên của thời gian, không gian, môi trường những lớp “trầm tích” ấy đã được bản địa hóa, trở thành những sản phẩm văn hóa riêng của mỗi dân tộc và cả khu vực Đông Nam Á. Sự giao lưu, tiếp xúc văn hóa Đông Nam Á trải qua hai lần hướng ngoại (một lần với các nền văn minh Ấn Độ, Trung Quốc và một lần với văn minh phương Tây) và hiện tại là lần hướng nội (giữa các nước trong khu vực Đông Nam Á với nhau). Lần này, các nước Đông Nam Á tự ý thức về tính khu vực của mình và một liên kết khu vực ASEAN tạo ra một mối quan hệ lệ thuộc, cho phép các nước Đông Nam Á có sức mạnh mới trong hòa bình, hợp tác phát triển và Đông Nam Á có tiếng nói, vị trí hơn hẳn trước kia trên trường quốc tế.

Từ những điều trình bày ở trên cho thấy quá trình nhìn nhận và nghiên cứu khu vực Đông Nam Á ở trên thế giới. Nghiên cứu khu vực học Đông Nam Á nằm trong Đông phương học của nhiều nước trên thế giới như Liên Xô cũ, của Pháp, của các nước Đông Âu, các nước châu Á và Mỹ … Do kết quả nghiên cứu của các trung tâm khoa học của các nhà khoa học đã dẫn đến việc sử dụng khái niệm Đông Nam Á và văn học Đông Nam Á. Các nhà khoa học đã dùng thuật ngữ văn học Đông Nam Á để chỉ các nền văn học dân tộc ở khu vực này và giữa chúng có một cơ tầng văn hóa chung, có những đặc thù đường nét chung qua quá trình giao lưu tiếp xúc như một cộng đồng lớn vậy. Đó là sự hình thành thuật ngữ và khái niệm văn học Đông Nam Á.

II. NGHIÊN CỨU VÀ GIỚI THIỆU VĂN CHƯƠNG ĐÔNG NAM Á Ở VIỆT NAM

Khoảng trên hai mươi năm gần đây, trong đời sống văn học nước nhà đã thấy xuất hiện mảng bài và sách nghiên cứu, giới thiệu văn học khu vực Đông Nam Á. Như vậy, nghiên cứu văn học Đông Nam Á đã có mặt, có vị trí và chỗ đứng của mình trên “văn đàn” của các nước. Và đó là thành tựu, là kết quả rất đáng ghi nhận của chuyên ngành nghiên cứu văn học Đông Nam Á của Việt Nam.

Trước kia, giới văn nghệ của ta vốn chỉ quen và biết đến các nền văn học phương Tây, châu Âu, Trung Quốc… mà chúng ta đã “bỏ quên” phần nào số chính bản thân mình, tức văn học khu vực Đông Nam Á. Điều mà lịch sử để lại ấy làm cho chúng ta quen thuộc những chủ nhân từ phương xa vốn xa lại với chúng ta trên nhiều phương diện, trong khi đó chúng ta lại rất “lạ” với những người bà con ở ngay bên cạnh- vốn gần gũi, có quan hệ gắn bó về mọi mặt với chúng ta trong cộng đồng khu vực mà chúng ta là một thành viên. Đã đến lúc (cũng không phải là sớm gì), chúng ta cần đẩy mạnh hơn nữa việc nghiên cứu, tìm hiểu văn học (cả văn hóa nói chung) Đông Nam Á xuất phát từ lợi ích nghiên cứu văn học (và văn hóa) Việt Nam của chúng ta.

Nói như vậy không có nghĩa là người viết ở đây có tư tưởng bài trừ phương Tây, bài trừ châu Âu và các nền văn minh rực rỡ từ cổ chí kim ở xa Việt Nam. Ngược lại, chúng ta tiếp thu và thừa hưởng tinh hoa của thế giới, nhưng trước hết chúng ta phải hiểu sâu, hiểu hơn ai hết văn học khu vực Đông Nam Á của mình.

Nhìn lại việc nghiên cứu văn học Đông Nam Á hai mươi năm qua, tuy chúng ta có những thành tựu đáng ghi nhận nhưng đó mới chỉ là bước đầu. Kể từ khi thành lập Trung tâm nghiên cứu Đông Nam Á (năm 1973- nay là Viện Nghiên cứu Đông Nam Á) bộ môn văn học Đông Nam Á như “một tiểu đội đặc công” của ngành văn học Việt Nam đặt chân lên miền đất trống để “trinh sát”, tìm hiểu, khai thác các nền văn học dân tộc ở vùng này, mặc dù nó hầu như chưa được trang bị trước những phương tiện cần và đủ. Tuy tay nghề và vốn liếng có khác nhau, từng người được phân công đi vào từng nền văn học dân tộc ở Đông Nam Á: văn học Lào, văn học Campuchia, văn học Thái Lan, văn học Inđônêxia, văn học Myanma v.v… Thế là việc tìm hiểu, nghiên cứu các nền văn học dân tộc ở Đông Nam Á được mở ra và triển khai. Sáu năm, bảy năm tìm tòi, khai thác, thu góp tư liệu về văn học Đông Nam Á, bằng nhiều con đường và phương pháp tiếp cận khác nhau, những kết quả nghiên cứu văn học các nước Đông Nam Á dần được công bố trên tạp chí văn học và các sách xuất bản ở các nhà xuất bản trung ương.

Những công bố về văn học Đông Nam Á có thể đánh giá ở hai mức hai cấp độ là:

1. Công bố nghiên cứu về các nền văn học dân tộc ở Đông Nam Á.

2. Công bố nghiên cứu về văn học khu vực Đông Nam Á (những vấn đề tổng hợp, phổ quát, những vấn đề chung của văn học cả khu vực)

Những bài viết giới thiệu cả một nền văn học (như văn học Campuchia, văn học Myanma) đăng trên Tạp chí Văn học còn rất sơ lược, hạn hẹp, thiếu hẳn cái hồn tự thân của nền văn học, một phần do khuôn khổ của bài tạp chí, phần khác do tư liệu, vốn hiểu biết, trình độ của người viết còn rất hạn chế. Những bài viết “cú đơi” về một nền văn học như Văn học Lào, Văn học Inđônêxia, Văn học Campuchia… in trong các công trình Văn học các nước Đông Nam Á, Hợp tuyển văn học Lào, Tìm hiểu văn hóa Lào, Tuyển tập văn học Campuchia, Tìm hiểu văn hóa Inđônêxia là những bài viết công phu vốn tư liệu phong phú, dồi dào, thể hiện khả năng nắm bắt vấn đề và khái quát văn học khá tốt, khá rõ ràng. Với số lượng trên dưới năm mươi trang in, các tác giả của các công trình trên đã dựng được bộ mặt lịch sử văn học của một nước, một quốc gia cụ thể. Qua các công trình ấy, bức tranh toàn cảnh của một nền văn học dân tộc mới được thể hiện rõ các đường nét, các mầu sắc, hình vẽ. Tuy còn những vấn đề học thuật cần phải bàn cãi, bổ khuyết, nhưng theo chúng tôi, những công trình dạng trên là một trong những công trình nổi bật của việc nghiên cứu văn học Đông Nam Á. Chẳng hạn, như phần viết về văn học Lào in trong Hợp tuyển văn học Lào xuất bản năm 1981 đã được một tác giả khác kế thừa, suy nghĩ lại và bổ sung sâu hơn, rõ hơn phần cơ bản về văn học đương đại Lào in trong Tìm hiểu văn hóa Lào năm 1985. Như thế, với hai công trình đó chúng ta đã dựng được, nắm bắt được những chặng đường lớn của văn học Lào cho đến ngày nay.

Vào những năm 90 này, các nền văn học dân tộc còn lại ở Đông Nam Á đã được viết và công bố. Đó là nền văn học Thái Lan, Philippin và một số bài viết khái quát ngắn về văn học Malaixia trong sách Văn học các nước ASEAN

Bên cạnh những công trình viết về một nền văn học, Tạp chí Văn học đã đăng tải những bài viết nghiên cứu theo các “chuyên đề”. Tạp chí văn học số 4/1984 là số tập trung đăng các bài viết về văn học Đông Nam Á. Nhìn vào những công bố trên sách, tạp chí thời gian qua, chúng tôi thấy các tác giả đã đi vào chuyên đề văn học dân gian (như Truyện quả bầu Lào của Nguyễn Năm, Từ Truyện quả bầu Lào đến Huyền thoại lụt ở Đông Nam Á của Nguyễn Tấn Đắc v.v…), chuyên đề về tiểu thuyết hiện đại (như Đề tài chống ngoại xâm trong tiểu thuyết lịch sử Inđônêxia của Đức Ninh). Nền giáo dục sai lầm, một đỉnh cao trong nền tiểu thuyết của Inđônêxia hiện đại của Đức Ninh (đăng trên Tạp chí văn học và công trình sách: tiểu thuyết Inđônêxia nửa đầu thế kỷ XX của Đức Ninh xuất bản năm 1983…) chuyên đề về một nhà văn (như Xum Thon Phu- nhà thơ lớn của nhân dân Thái Lan và Thử tìm hiểu ảnh hưởng của văn học dân gian qua một số sáng tác tiêu biểu của Xum Thon Phu của Dương Xuân Cương đăng trên tạp chí Văn học), chuyên đề về một thời kỳ, một giai đoạn văn học, một dòng văn học (như Văn học Campuchia thời kỳ Ăngco của Nguyễn Tấn Đắc, Thơ ca Trung cổ của Campuchia thế kỷ XIV- XVIII của Vũ Tuyết Loan, Thử dựng lại tiến trình phát triển văn học cận hiện đại Lào của Đức Ninh, Văn học cách mạng Lào của Nguyễn Năm v.v…). Đánh giá những bài viết loại này, chúng tôi thấy phần lớn các bài viết có độ sâu, có giải đáp tương đối trọn vẹn một vấn đề hoặc một khía cạnh nào đó của văn học. Có những bài trong số đó công bố trên Tạp chí Văn học được các đồng nghiệp nghiên cứu và biên tập gọi là những bài “ét xăng”, vì chúng được “rút ruột” từ các kết quả của các công trình viết trên một trăm trang.

Vào những năm 90, nghiên cứu các nền văn học dân tộc Đông Nam Á được đẩy mạnh hơn. Một số nghiên cứu sinh đã có những đề tài nghiên cứu và họ đã thể hiện kết quả nghiên cứu của mình qua các công trình luận án phó tiến sỹ như: “Từ truyện thơ đến tiểu thuyết hiện đại Campuchia” của Nguyễn Sỹ Tuấn, viết về giai đoạn chuyển tiếp cận- hiện đại của văn học Campuchia. Tác giả cho thấy sự “cách tân” của văn học truyền thống Campuchia (truyện thơ) chuyển sang thời kỳ văn học hiện đại qua thể loại tiêu biểu của văn học hiện đại là tiểu thuyết. Công trình luận án “Riêm Kê và Tum tiêu trong văn học Campuchia” của Vũ Tuyết Loan viết về ảnh hưởng của Ramayana Ấn Độ trong văn học Campuchia và những sáng tạo của người dân Campuchia làm thành tác phẩm Riêm Kê. Tác giả đi sâu phân tích giá trị của hai tác phẩm này trong văn học truyền thống Campuchia. Gần đây nhất là công trình luận án “So sánh một số kiểu truyện cổ dân gian ở Lào và ở Việt Nam của Lại Phi Hùng. Tác giả đã so sánh ba dạng nhân vật (nhân vật dũng sĩ, nhân vật bất hạnh, nhân vật người đội lốt vật) trong truyện cổ tích của Lào và Việt Nam. Qua công trình này, tác giả muốn nêu lên những nét chung của truyện cổ tích Lào- Việt và những nét riêng của truyện tích Lào để thấy tính dân tộc, đặc thù văn hóa riêng của từng quốc gia. Tiếp theo là những công trình luận án đang ở giai đoạn hoàn thành, chuẩn bị bảo vệ. Chẳng hạn, như Đỗ Thu Hà nghiên cứu ảnh hưởng của Ramayana Ấn Độ với văn học của một số nước Đông Nam Á và quá trình tiếp thu, sáng tạo văn học ở các quốc gia khác nhau ấy từ một văn bản gốc Ấn Độ. Hướng nghiên cứu so sánh làm rõ các quan hệ tiếp xúc văn hóa của khu vực Đông Nam Á và quá trình xây dựng, phát triển văn học ở các quốc gia khác nhau đang được giới nghiên cứu văn học quan tâm và triển khai mạnh mẽ. Một số bài nghiên cứu so sánh văn học đã xuất hiện làm cho nghiên cứu văn học Đông Nam Á ngày càng có đóng góp thiết thực hơn cho nghiên cứu văn học của Việt Nam

Về tác giả- tác phẩm văn học, chuyên ngành nghiên cứu văn học Đông Nam Á đã có những đóng góp tốt vào đời sống văn học của cả nước. Các tác giả- tác phẩm của các nền văn học Đông Nam Á được các nhà nghiên cứu Đông Nam Á viết gọn, rõ trong bộ Từ điển văn học, một công trình khoa học tra cứu và thông tin kiến thức đầu tiên của nước ta. Chúng ta chưa thể bằng lòng với số lượng và tỉ lệ mà Từ điển văn học  dành cho văn học khu vực này, vì tên tuổi của nhiều cây bút văn học của các nước Đông Nam Á vẫn chưa được đưa vào. Song, nếu chúng ta giới thiệu được trọn vẹn từng ấy tên tác giả, tác phẩm trong Từ điển văn học cho bạn đọc Việt Nam (bằng con đường dịch thuật) thì cũng là việc làm quá sức đối với các cơ quan xuất bản, báo chí, nhất là trong điều kiện kinh tế khó khăn như hiện nay của Việt Nam. Một điều đáng khích lệ là trong những năm qua, chúng ta đã dịch, biên soạn và giới thiệu được một số tác phẩm văn học của các nước Đông Nam Á. Tham gia vào phần việc này, ngoài các nhà nghiên cứu văn học Đông Nam Á “chính ngạch” còn có các dịch giả, soạn giả “ngoại ngạch” cũng tham gia giới thiệu văn chương của các nước Đông Nam Á. Đó là trường hợp của những cuốn Hợp tuyển văn học Lào (NXB Văn học. H. 1981), Hợp tuyển văn học Campuchia (NXB Khoa học xã hội, H. 1986), Truyện cổ Lào (NXB Văn hóa, H. 1984), Truyện cổ Inđônêxia (NXB Văn hóa, H. 1988), Truyện dân gian Philippin (NXB Khoa học xã hội,  H. 1991), Truyện cổ Malaixia (NXB Khoa học xã hội,  H. 1991) và các tập truyện ngắn Đông Nam Á, châu Á do Nhà xuất bản Lao động in như Lối thoát cuối cùng, Quà tặng hoàng hôn. Nhà xuất bản Tác phẩm mới và các nhà xuất bản khác đã in những cuốn như Tôi phải chiếm tình yêu của anh (tiểu thuyết Inđônêxia), Cuộc đời mà tôi căm ghét (Truyện vừa Myanma), Kẻ dừng lại giữa đường (tập truyện ngắn Lào). Đó là chưa kể đến một số truyện ngắn, thơ của khu vực này đăng rải rác ở các số báo của tờ Văn nghệ. Điều cần nói ở đây là việc dịch các văn phẩm của khu vực Đông Nam Á phần nào vẫn mang tính “tự phát”, chưa có sự thống nhất và hợp tác qui hoạch giữa các cơ quan nghiên cứu- xuất bản và Hội nhà văn. Do đó lẻ tẻ có tác phẩm in ra vô hình chung đã làm cho độc giả hiểu méo mó về nền văn học của quốc gia có tác phẩm ấy. Thiết nghĩ, chúng ta không nên nghĩ và làm theo “đường mòn” nhất là trong khung cảnh đổi mới tư duy và cải tổ hiện nay, song cũng phải tránh trường hợp vớ được cuốn sách nào là vội vàng đem dịch (vì “của hiểm” hoặc cần minh họa cho tình hình quan hệ mang tính thời sự). Nghiên cứu văn học, dịch tác phẩm văn học cho đông đảo bạn đọc nước nhà là những công việc không đồng nhất nhưng phải thống nhất xuất phát từ phương hướng và lợi ích khoa học, lợi ích văn nghệ của chúng ta.

2. Cấp độ thứ hai quan trọng hơn, cao hơn đòi hỏi trình độ và khả năng hơn hẳn cả về chất và lượng của người nghiên cứu là nghiên cứu văn học Đông Nam Á với tư cách là một chỉnh thể văn học. Đi vào những vấn đề chung, tổng hợp, khái quát đặc thù văn học của một khu vực không phải là một việc làm dễ dàng và không phải nhiều người nghiên cứu làm được. Vì thế, mười lăm năm qua, số lượng bài viết tổng hợp dạng này có thể đếm trên đầu ngón tay. Có được cái nhìn bao quát về văn học Đông Nam Á từ trước cho đến nay ít ra cũng phải mất hàng chục năm suy nghĩ, tìm hiểu, tích lũy kiến thức và một bài tạp chí công bố là hệ quả của mười năm mới có. Bài Thử bàn về một số nét của văn học Đông Nam Á của Đức Ninh đăng trên Tạp chí Văn học (số 5 năm 1983) là bài viết về những đặc điểm chung trong quá trình phát triển văn học Đông Nam Á. Đó là những te-zit về văn học khu vực và là thể nghiệm đầu tiên thử dựng khung lịch sử văn học Đông Nam Á. Bài Văn học Đông Nam Á của Nguyễn Tấn Đắc in trong cuốn Văn học các nước Đông Nam Á (H. 1983) và tác giả đã viết gọn lại, có chỉnh lại một chút đăng lại trên Tạp chí Văn học (số 4 năm 1984) là bài viết theo một mạch khác nhau với bài viết của Đức Ninh, mặc dù có điểm này điểm kia giống nhau. Nguyễn Tấn Đắc như một người đứng từ xa quan sát, chiêm ngưỡng và “nhận diện” khu vực văn học Đông Nam Á. Cốt lõi trong bài của anh là muốn đi tìm quá trình hình thành văn học dân tộc ở Đông Nam Á. Trong bài, tác giả đề cập tới ranh giới và quan hệ giữa văn học dân gian và văn học viết, đề cập tới sự vay mượn về đề tài, ngôn ngữ và ngôn ngữ quốc gia của các nước phát triển như thế nào trong bước chuyển mình sang thời kỳ hiện đại. Tuy bài viết có những điểm chúng tôi chưa tán thành, có những điểm cần làm sáng rõ, song đây là bài cần đọc và nên đọc, và ít nhiều trong đó có những ý tưởng hay, đáng lưu tâm. Ngoài ra còn có Truyện ngắn ở các nước Đông Nam Á của Đức Ninh, bài viết có xu hướng khái quát một thể loại truyện ngắn hiện đại ở Đông Nam Á và Từ truyện quả bầu đến huyền thoại lụt ở Đông Nam Á của Nguyễn Tấn Đắc, bài thiên về tìm những vấn đề chung của xã hội Đông Nam Á cổ xưa

Xem ra những đóng góp ở trên của chuyên ngành văn học Đông Nam Á đối với đời sống văn học cũng không phải là ít, mặc dù đội ngũ của nó còn quá mỏng và chưa trưởng thành. Trong thời gian qua, điều mong muốn mà chưa làm được là các công trình sơ thảo về văn học từng nước kèm theo công trình hợp tuyển tác phẩm văn học. Vì vậy trong ba đến năm năm tới, chúng ta phải xây dựng xong bộ sách về lịch sử văn học của từng nước Đông Nam Á và tuyển chọn được một lượng tác phẩm tiêu biểu và tối thiểu của nền văn học ấy. Nếu làm xong bộ sách này, chúng ta mới đi được một bước cơ bản trong qui trình nghiên cứu khoa học của mình. Trong thời gian qua nghiên cứu của chúng ta chưa có sự thông hiểu lẫn nhau giữa các nền văn học ở Đông Nam Á, vì thế mà không có tiếng nói chung, không có đại đồng tiểu dị. Nói một cách khác, chúng ta chưa có “mẫu số chung” về văn học khu vực Đông Nam Á và chưa cùng nhau tập trung giải quyết những vấn đề của “mẫu số chung” ấy. Đến nay, chúng ta đã có thể xây dựng được một hệ thống tài liệu cho chuyên ngành văn học Đông Nam Á. Căn cứ vào qui trình khoa học và các giai đoạn nghiên cứu, chúng tôi thấy không thể đốt cháy giai đoạn nghiên cứu và càng không thể thiếu tính hệ thống, tính ê kíp của công việc. Với phương pháp tổng hợp, liên ngành, văn học Đông Nam Á phải đặt ra những vấn đề chung, có định hướng, mang tính toàn cục để giải quyết. Theo chúng tôi nếu không kể bộ sách về lịch sử văn học của từng nước Đông Nam Á mà chúng ta cần hoàn thành, thì hướng lâu dài của mười lăm năm tới, chuyên ngành văn học Đông Nam Á sẽ giải quyết những vấn đề sau đây:

1. Con đường hình thành văn học hiện đại Đông Nam Á: trên những kết quả nghiên cứu vừa qua và những suy nghĩ tiếp tục của chúng ta đã hé mở được vài điều giả thiết khoa học của vấn đề này. Có ý kiến nêu lên con đường hình thành văn học hiện đại Đông Nam Á trải qua quá trình sao phỏng- lộn xộn- rồi mới tạo ra cái văn thực của Đông Nam Á. Có lẽ chưa đủ vì vấn đề này còn liên quan đến vấn đề sau.

2. Ảnh hưởng văn học phương Tây và văn học Nga Xô viết vào văn học hiện đại Đông Nam Á: đây cũng là những vấn đề cần làm sáng rõ trên cứ liệu nghiên cứu của văn học so sánh và loại hình học của văn học, mặc dù chúng ta biết chắc chắn khu vực văn học Đông Nam Á hiện đại có chịu ảnh hưởng từ bên ngoài và đã từng vay mượn ở bên ngoài.

3. Quá trình hình thành và phát triển tiểu thuyết- một thể loại lớn, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong văn học hiện đại Đông Nam Á (trên dẫn liệu của văn học Inđônêxia, Philippin, Việt Nam, Myanma, và văn học Đông Dương). Theo chúng tôi, một trong những căn cứ cốt yếu xác định bước chuyển mình sang thời kỳ hiện đại của nền văn học là sự có mặt của thể loại tiểu thuyết hiện đại (bằng văn xuôi).

4. Quan hệ giữa truyền thống và cách tân trong văn học Đông Nam Á: để giải quyết được vấn đề này chúng tôi thấy người nghiên cứu cần có hiểu biết tốt trên cơ sở nghiên cứu cả phần truyền thống lẫn phần hiện đại để tìm cho được dấu nối giữa hai văn học “cũ” và “mới”.

5. Quan hệ giữa văn học dân gian và văn học viết ở Đông Nam Á: đây là vấn đề lý thú và cũng là đặc thù của văn học Đông Nam Á. Muốn tìm được mối quan hệ giữa hai hiện tượng, hai sự vật chắc chắn ai cũng thừa nhận phải nghiên cứu tìm hiểu kỹ cả hai hiện tượng và sự vật. Mối quan hệ giữa văn học dân gian và văn học viết đóng vai trò không nhỏ trong toàn bộ lịch sử phát triển văn học Đông Nam Á.

6. Những nhân tố chính trị, xã hội, văn hóa, xúc tiến quá trình cách tân văn học ở Đông Nam Á: vấn đề này có thể đặt ở mục đầu tiên và cũng có thể đặt ở mục cuối cùng để xem xét xuất phát từ những chuẩn hóa nghiên cứu khác nhau.

Chúng tôi nghĩ rằng, những vấn đề trên có liên quan mật thiết và hữu cơ với nhau tạo thành những cơ sở lớn để nghiên cứu và dựng lại được Quá trình hình thành và phát triển văn học dân tộc hiện đại Đông Nam Á. Từ những nghiên cứu trên về Đông Nam Á, chúng ta hoàn toàn có khả năng nhìn nhận lại và ngày càng sáng tỏ, ngày càng chính xác về văn học Việt Nam và văn học Việt Nam đang và sẽ được đặt trong khung cảnh văn học của khu vực Đông Nam Á với tất cả các mối quan hệ giữa chúng với nhau. Do đó không có lý do gì lại không nghiên cứu song song và phối hợp văn học Việt Nam và văn học Đông Nam Á trong ngành nghiên cứu văn học của Việt Nam. Thiết tưởng điều đó phải trở thành vấn đề của phương pháp luận, phương pháp tiếp cận khoa học, phương pháp bộ môn trong khoa nghiên cứu văn học của chúng ta.

III. NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CỦA VĂN HỌC ĐÔNG NAM Á

1. Khái quát quá trình văn học Đông Nam Á trong những đặc điểm văn hóa Đông Nam Á

Nhiều năm tìm hiểu và nghiên cứu văn học Đông Nam Á, chúng ta đã và đang tạo lập một quan điểm nghiên cứu văn học riêng cho khu vực này. Nói như vậy không có nghĩa là chúng tôi hoàn toàn “từ bỏ” phương pháp nghiên cứu văn học, phương pháp bộ môn của ngành văn học vốn có từ xưa đến nay, mà ngược lại, hơn bao giờ hết càng ngày càng là chủ phương pháp bộ môn cả chiều sâu lẫn chiều rộng. Duy chỉ có điều là văn học khu vực Đông Nam Á có những đặc thù riêng, mà nếu đơn thuần nghiên cứu văn chương (tự thân văn học) thì hiệu quả sẽ rất ít, nếu không nói là nhiều khi sai lệch khi nhìn nhận quá trình tồn tại và phát triển của văn học Đông Nam Á. Vậy, vấn đề đặt ra là cần vận dụng một phương pháp tiếp cận tổng hợp, rộng lớn hơn để có một quan điểm riêng về nghiên cứu văn học Đông Nam Á. Phần viết này xem xét quá trình văn học Đông Nam Á trên cơ sở những đặc điểm văn hóa của cả khu vực.

Khác với văn học khu vực khác, văn học Đông Nam Á được “hòa tan” trong văn hóa, đan xen và “liên kết” với các loại hình nghệ thuật khác để thể hiện cảm xúc, tình cảm, tư tưởng của con người và xã hội. Do đó, không đơn thuần sử dụng phương pháp nghiên cứu văn học để xem xét, mà phải sử dụng phương pháp liên ngành, đa ngành interdisciplinary để lý giải các hiện tượng và quá trình văn học Đông Nam Á. Khác với các khu vực văn hóa khác trên thế giới, Đông Nam Á nằm giữa hai nền văn hóa Ấn Độ và Trung Quốc. Nếu đối chiếu đơn thuần Đông Nam Á với Ấn Độ và Trung Quốc ở cùng một mốc thời gian về văn học, chẳng hạn, thì văn học Đông Nam Á “non trẻ” hơn nhiều, tiến sâu hay “chậm” hơn nhiều. Cái “nghệ thuật bằng lời” mà chúng ta gọi là văn học ở thời xa xưa ở Đông Nam Á chưa được tách biệt ra khỏi các loại nghệ thuật khác, trong khi đó những sử thi lớn của Ấn Độ như Mahabharata, Ramayana đã ra đời đầu Công nguyên với tư cách là một tác phẩm văn học. Đông Nam Á hình thành chữ viết muộn hơn nhiều so với Ấn Độ và Trung Quốc. Vì thế, khi xem xét văn học truyền thống Đông Nam Á chúng ta nhìn nhận văn học trong văn hóa, trong cái nguyên sinh tổng hòa các loại hình nghệ thuật của Đông Nam Á cổ đại. Sự “muộn chậm” của Đông Nam Á hiểu theo một nghĩa nào đó, đã làm cho nhiều nhà nghiên cứu “bỏ rơi” vùng này. Nếu có nhắc tới Đông Nam Á, người ta thường nói tới ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ cổ đại và một phần văn hóa Trung Quốc. Sự thật lịch sử đã làm cho nhiều nhà nghiên cứu về Đông Nam Á lầm tưởng rằng văn hóa Đông Nam Á chỉ là cái “bóng” hoặc chỉ là vay mượn hoàn toàn văn hóa Ấn Độ và Trung Quốc, chỉ là khu vực ngoại vi của hai nền văn minh lớn kia.

1. Phải thừa nhận rằng, điểm nổi bật của văn hóa Đông Nam Á là sự phát sinh, phát triển từ xa xưa nền văn minh nông nghiệp lúa nước. Đâu là nền tảng, là cơ sở qui định sự phát triển văn hóa tinh thần, văn hóa vật chất, cơ cấu xã hội và đời sống tâm linh, tư duy triết lý của con người Đông Nam Á trong suốt quá trình vận động của xã hội Đông Nam Á từ xưa cho đến nay. Nền văn minh nông nghiệp lúa nước này có cội nguồn và bản sắc riêng, phát triển liên tục trong lịch sử. Nhiều nhà nghiên cứu gọi lớp văn hóa nguyên sơ này là cơ tầng văn hóa Đông Nam Á. Trên cơ tầng văn hóa này, văn học dân gian nảy nở, phát triển. Văn học dân gian được xem là ngọn nguồn của văn học dân tộc khu vực Đông Nam Á và đây cũng là lớp văn hóa bản địa trước khi Đông Nam Á chịu ảnh hưởng các nền văn hóa lớn từ bên ngoài. Văn học dân gian chiếm phần lớn, nổi bật, bao trùm lên toàn bộ quá trình văn học Đông Nam Á vì nó xuất phát từ một nền văn hóa nông nghiệp với cơ cấu tổ chức làng, xã (desa) ở các nước Đông Nam Á. Khi có văn học viết, văn học dân gian vẫn phát triển mạnh mẽ, phong phú và vẫn đóng vai trò chủ yếu. Vì vậy, khi nghiên cứu bức tranh văn học Đông Nam Á, đặc biệt là văn học dân gian, chúng tôi tạo lập quan điểm nghiên cứu liên ngành, đa ngành chắc chắn không phải là vô lý. Điều này tiếp tục được cắt nghĩa ở những phần dưới đây. Trở lại lớp văn hóa bản địa, chúng ta thấy rằng trước khi tiếp nhận những ảnh hưởng văn hóa từ bên ngoài, các cộng đồng tộc người ở Đông Nam Á đều có tín ngưỡng bản địa, tín ngưỡng đa thần giáo, vạn vật hữu linh và tục thờ cúng tổ tiên. Tín ngưỡng này gắn chặt chẽ với sự phát sinh phát triển của văn học dân gian (folklore) trên cơ sở của nền văn minh nông nghiệp trồng lúa. Sự ra đời các nghi lễ nông nghiệp ban đầu còn gắn với tôn giáo, mang ý nghĩa tôn giáo và dần dần trở thành các sinh hoạt văn nghệ, văn học dân gian. Văn học dân gian thời kỳ này mang màu sắc nguyên sơ của các cộng đồng làm nông nghiệp, trồng trọt, săn bắn, đánh cá. Thần thoại, truyền thuyết phản ánh rõ nét các sinh hoạt nghi lễ tín ngưỡng của các cư dân Đông Nam Á trước sức mạnh của thiên nhiên và những quan niệm cổ sơ của họ về vũ trụ, về thế giới bao quanh mình. Thần thoại về lụt, về nguồn gốc dân tộc phổ biến ở các nước Đông Nam Á. Trong thần thoại, chúng tôi chú ý tới mảng thần thoại về các nhân vật văn hóa. Nhân vật văn hóa là những anh hùng của thị tộc, bộ lạc. Họ là những nhân vật có công lao, có tài hơn người khác. Những người anh hùng ấy được quần chúng bộ lạc tôn thờ, tô vẽ, phóng đại, thêu dệt thành những thần thoại vì họ là những ông tổ giúp loài người, dạy loài người làm ăn sinh sống. Ở Đông Nam Á ta đều bắt gặp nhân vật văn hóa lên trời lấy thóc giống đem về mặt đất gieo trồng. Ở đây nhân vật dưới hạ giới lên trời bằng con ngựa có cánh hoặc bằng những cách khác, song hiện thực phản ánh vẫn là một: văn hóa nông nghiệp hình thành, con người đã biết lấy lúa để canh tác. Về sau này, những truyện còn lại đến ngày nay chung ta đều được đọc là sự tích cây lúa và cả tục lệ thờ cúng cây lúa, các sản phẩm làm ra từ lúa (truyện Bánh chưng, bánh dầy của người Việt cũng là một thí dụ). Trong ngôn ngữ hiện đại của các cư dân Đông Nam Á người ta phân biệt rất rạch ròi các khái niệm: lúa, thóc, gạo, cơm; trong khi đó ở các ngôn ngữ khác chỉ dùng một từ để chỉ lúa gạo mà thôi.

Thần thoại về nhân vật văn hóa phản ánh bước chuyển mình của cư dân Đông Nam Á từ cuộc sống săn bắt hái lượm tự nhiên chuyển sang trồng trọt, chế tác ra công cụ lao động. Trong kho tàng truyện cổ Đông Nam Á có các truyện về cách đan lưới bắt cá, và cơ sở của một loạt truyện khác sau này có liên quan tới tục ăn trầu, sử dụng trầu, cau, rễ, vôi của cư dân Đông Nam Á. Gắn với tín ngưỡng vạn vật hữu linh, trong văn học dân gian Đông Nam Á có nhiều bài mo cầu nguyện thần linh mà đến nay còn lưu lại ít nhiều (các loại mo gọi hồn để chữa bện hoặc có một sự cố gì đó thì người ta tổ chức gọi hồn). Từ quan niệm tín ngưỡng này mới nảy sinh ra các tập quán như kiêng cữ, tránh né các thần; các hồn ở trong các sự vật làm phương hại đến cuộc sống của con người. Tất cả các hiện tượng nêu trên là nền tảng của một cơ tầng văn hóa Đông Nam Á, một thứ văn học nguyên bản hỗn hợp trước khi có tiếp xúc với Ấn Độ và Trung Quốc.

2. Từ đầu Công nguyên (thậm chí còn sớm hơn) cho đến nay, Đông Nam Á là nơi tiếp xúc và chịu ảnh hưởng của các nền văn hóa lớn như Ấn Độ, Trung Quốc, Ả Rập, Ba Tư, Tây Âu. Mười thế kỷ đầu sau Công nguyên văn hóa Ấn Độ, văn hóa Trung Quốc “xâm chiếm” tới khu vực Đông Nam Á bằng những con đường, những cách thức khác nhau. Người Ấn Độ thâm nhập vào vùng Đông Nam Á đem tới đây các tôn giáo (Bà la môn giáo, Phật giáo…) và các loại hình văn hóa của Ấn Độ, trong đó có văn hóa. Các dân tộc ở Đông Nam Á đã tiếp thu một cách đầy sáng tạo các cốt cách đề tài, các phong cách nghệ thuật của Ấn Độ và nhà luyện cùng với vốn văn hóa của mình để rồi tạo nên những công trình điêu khắc kiến trúc đồ sộ như Bô-rô-bu-dua, Ăngco Vát, những áng văn học đậm đà tính chất dân gian lấy từ Jakata, Panchatantra, Ramayana v.v… Những tác phẩm văn học cổ đại Ấn Độ khi đi vào Đông Nam Á gặp ngay đời sống dân gian vô cùng sống động ở vùng này nên chúng được dân gian hóa, được “tái sinh” trong dân gian, chúng làm giàu thêm cho kho tàng văn học dân gian vùng này. Trong khi đó, thời gian này là mốc hình thành và hưng thịnh các quốc gia cổ đại ở Đông Nam Á. Những truyền thuyết khác nhau về các quốc gia cổ đại ở Đông Nam Á. Những truyền thuyết khác nhau về các ông vua của thời kỳ đầu hình thành nhà nước cũng có nhiều. Các loại truyện cổ tích gắn với đời sống xã hội, các quan hệ xã hội được phản ánh rõ nét. Đặc biệt là dân ca ca dao sau này càng phát triển. Ca dao là thơ, là nhạc, là tình của cư dân Đông Nam Á. Tình yêu quê hương xóm làng, tình cảm lứa đôi chan chứa nỗi niềm thương nhớ đề được gửi gắm trong thơ ca dân gian, một thể loại chiếm ưu thế trong văn học của các nước Đông Nam Á. Nhưng rõ ràng ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ trong văn hóa dân gian vùng này, có thể tìm thấy qua các môtíp văn học, qua kiến trúc, điêu khắc, sân khâu Đông Nam Á. Lớp văn hóa Ấn Độ để lại dấu ấn rõ nét ở các quốc gia hải đảo và để lại sản phẩm lâu dài ở vương quốc Thái Lan, một quốc gia Phật giáo phát triển ở Đông Nam Á. trong khi đó, Việt Nam là nước duy nhất trong khu vực chịu ảnh hưởng sâu sắc văn hóa Trung Quốc. Do những hoàn cảnh nhất định, Việt Nam chịu một ngàn năm Bắc thuộc. Từ đó về sau, lúc này hoặc lúc khác, Việt Nam bị trung Quốc xâm lăng. Cho dù Việt Nam không bị đồng hóa thì cũng chịu ảnh hưởng nặng nề văn hóa Trung Quốc. Đạo Phật, đạo Lão, đạo Nho được truyền bá mạnh ở Việt Nam. Cho nên trong văn học Việt Nam chúng ta có thể tìm thấy nhiều dấu ấn ảnh hưởng của văn học Trung Quốc.

Cho dù có ảnh hưởng văn hóa từ bên ngoài, nhưng các dân tộc Đông Nam Á đã khôn khéo “chắt lọc” những tinh hoa của văn hóa thế giới và dần dần các yếu tố văn hóa ở ngoài đã được cư dân nơi đây bản địa hóa văn hóa một cách tài tình. Có thể thấy các văn phẩm của văn hóa Ấn Độ, bằng con đường truyền miệng đã được dân gian hóa theo đặc điểm dân tộc phù hợp với hoàn cảnh của từng quốc gia. Chính vì dân gian hóa mà các tác phẩm văn học Ấn Độ biến dạng đi, mỗi nơi một khác chỉ còn lại cái “gốc” của Ấn Độ. Những tác phẩm ra đời ở các nước Đông Nam Á có gốc Ấn Độ trở thành sản phẩm mang tính bản địa. Con đường bản địa hóa văn hóa học Ấn Độ còn thông qua diễn xướng dân gian, thông qua sân khấu chuyên nghiệp ở các nước Đông Nam Á. Sân khấu dân gian và sân khấu chuyên nghiệp đã đưa các tác phẩm văn học lên sân khấu và tái tạo lại, đưa trả lại cuộc sống thực của tác phẩm văn học trên mọi phương diện. Ở thế giới Mã lai có rối bóng Vayang dùng để biểu diễn toàn bộ hoặc trích đoạn Ramayana và Mahabharata; ở Thái Lan có những đoàn nghệ nhân lang thang biểu diễn khắp nơi các truyện cổ về nữ thần chim Nang  Manobara, Brốttơxen. Những nghệ nhân kể chuyện dân gian trong mỗi làng xã là những người chủ yếu tạo nên sinh hoạt văn hóa tinh thần trong quần chúng nhân dân. Văn học dân gian ở Đông Nam Á đã tiếp thu một cách có chọn lọc tự nhiên để rồi tạo nên trong mỗi nước Đông Nam Á một nền văn học dân tộc độc đáo. Như đã nói ở trên, tín ngưỡng và tôn giáo làm nảy sinh ra các nghi lễ khác nhau trong đời sống tâm linh của người dân Đông Nam Á, dần dần trở thành các hội và lễ. Sinh hoạt Hội và Lễ là môi trường, là “sân khấu” phô diễn một cách sống động văn hóa dân gian.

3. Nền văn minh nông nghiệp với sự phát triển của văn học dân gian đã làm cho văn học thành văn của Đông Nam Á ra đời muộn. Mười thế kỷ đầu sau Công nguyên, các nước ở Đông Nam Á chưa có chữ viết, trong khi đó tôn giáo Ấn Độ và Phật giáo du nhập và phổ biến ở các quốc gia Đông Nam Á. Tiếng Pali, Sankrit, tiếng Hán không những đóng vai trò ngôn ngữ trong truyền giáo mà còn đóng vai trò ngôn ngữ văn học ở các quốc gia Đông Nam Á. Các nền văn học lớn phương Đông đã đem tới các nước Đông Nam Á một mẫu chữ viết và lúc đầu các quốc gia Đông Nam Á đã vay mượn trực tiếp các chữ viết của Ấn Độ, Trung Quốc. Sau đó cư dân Đông Nam Á mới dựa trên những mẫu chữ đó để sáng tạo ra chữ viết riêng của mình. Thứ chữ viết này chủ yếu dùng trong công việc hành chính ở các quốc gia cổ đại Đông Nam Á. Thời kỳ đầu của văn học thành văn (khoảng từ thế kỷ X-XIV) tiếng Pali, Sankrit, tiếng Hán đóng vai trò ngôn ngữ văn học. Thí dụ, văn học thế kỷ VII- XIII ở Mã Lai- Inđônêxia lấy Sanskrit làm ngôn ngữ thơ ca, trong khi đó tiếng Mã Lai cổ, tiếng Giava chỉ dùng trong công việc hành chính, trong sinh hoạt. Các môtíp, các cốt truyện của Ấn Độ còn tồn tại và ảnh hưởng lâu dài hơn trong văn học thành văn của Đông Nam Á. Như thế, có thể thấy điểm mốc văn học viết của Đông Nam Á bắt đầu khoảng thế kỷ XII- XIII, tuy có nước xuất hiện văn học viết sớm hơn và có nước xuất hiện văn học viết muộn hơn thời điểm này. Đông Nam Á thực sự tạo ra nền văn học viết phải tính từ thế kỷ XIV trở đi.

Văn học viết thế kỷ XIII- XVIII nói chung là văn học cung đình và ít nhiều nó vẫn còn dấu vết ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ, Trung Quốc. Riêng Inđônêxia, Malaixia thời gian này văn học chịu ảnh hưởng của văn hóa Giava và văn hóa Hồi giáo của Ả Rập- Ba Tư. Cá biệt như Philippin đã tiếp thu ảnh hưởng của văn học châu Âu sớm hơn cả (thông qua Tây Ban Nha). Vì thế về sau này văn học Philippin cách tân sang thời kỳ hiện đại sớm hơn các nước khác trong khu vực.

Văn học viết truyền thống ở Đông Nam Á bao gồm dòng văn học viết bằng tiếng và chữ vay mượn ở ngoài và dòng văn học viết bằng chữ viết dân tộc. Thời kỳ đầu của văn học thành văn, những người có học vẫn dùng Pali, Sankrit, Hán văn để sáng tác văn học. Thứ chữ viết từ Ấn Độ, Trung Quốc ấy được coi là cao siêu, có khả năng biểu đạt những tư tưởng và sự tinh tế của tình cảm. Mặt khác, các nền văn học Ấn Độ, Trung Quốc, Ả Rập- Ba Tư trở thành những khuôn mẫu, những liên tưởng văn học trong sáng tác của các văn sĩ. Cho nên, bộ phận văn học viết bằng ngôn ngữ vay mượn lúc đầu có ưu thế trội hơn bộ phận văn học viết bằng ngôn ngữ dân tộc vì ngôn ngữ vay mượn chuyển tải văn học được xem là cao quí, bác học. Dần dần văn học viết bằng ngôn ngữ dân tộc chiếm ưu thế, trở thành phương tiện biểu đạt đời sống tinh thần của dân tộc. Về phương diện nội dung, văn học truyền thống ở các nước Đông Nam Á lúc đầu còn đi vào những đề tài xa lạ với đời sống thực tế của dân tộc; những câu chuyện văn học thường nói tới những xứ sở xa xôi, những nhân vật thần thoại, hoang đường.

Văn học trung cổ Đông Nam Á phần nhiều mang tính chất nửa lịch sử, nửa nghệ thuật. Thời đại này văn vẫn là bao trùm, truyện thơ là phổ biến. Các truyện thơ phần lớn là khuyết danh (ở Việt Nam có các truyện nôm khuyết danh, ở thế giới Melayu có các Hikayat v.v…). Những thế kỷ văn học Đông Nam Á phát triển trội lên như thế kỷ XV, XVII, XVIII. Ở Inđônêxia vào thế kỷ XV văn học Giava phát triển nở rộ, xuất hiện những tác phẩm lớn hoàn toàn “đoạn tuyệt” với văn hóa Ấn Độ. Có thể lấy tác phẩm Pararaton (có nghĩa kà sách của các ông vua) viết vào thế kỷ XV làm thí dụ. Tác phẩm này viết bằng ngôn ngữ Giava trung cổ, gần gũi với ngôn ngữ sinh hoạt hàng ngày của nhân dân thời đó. Tác phẩm viết về sự cai trị của vua GiaVa, phản ánh sự hưng thịnh của nhà nước Magiapahit. Trong nội dung tác phẩm chúng ta có thể tìm thấy những phản ánh thực tế về quê hương, đất nước được suy nghĩ dưới góc độ vì quyền lợi dân tộc. trong văn học Giava còn có những tác phẩm khác rất thịnh hành ở nhà hát múa rối Wayang, môtíp văn học về những người lính phi thường, về người hiệp sĩ Panđi của Giava lan rộng khắp nơi trên quần đảo Inđônêxia. Văn học Giava gây ảnh hưởng mạnh mẽ tới văn học chung Malay- Inđônêxia. Trong văn học chung Malay- Inđônêxia xuất hiện tác phẩm nổi tiếng: “Truyện về Hang Túak” viết vào thế kỷ XVII. Tác phẩm này trở nên nổi tiếng phổ biến vì các nhân vật trong đó thể hiện nhiều đường nét dân tộc sâu sắc. Hang Tuak- đó là lý tưởng bảo vệ nền độc lập của quốc gia, của đất nước, là người lính xung trận, đấu tranh vì quyền lợi của dân tộc. Ở Thái Lan, văn học phát triển nở rộ hơn cả cũng ở thế kỷ XVII, nhất là dưới thời vua Pra Narai. Vua Pra Narai đã tập hợp các nhà thơ tài năng xung quanh mình. Họ nói về cung vua Narai vĩ đại thời đó “tất cả đều hít thở bằng thơ”. Có những nhà thơ lớn như Maharachakru, Si Mahosot… Không khí sáng tác văn học, thương thức văn học sôi nổi làm cho đời sống văn học ở Thái Lan thế kỷ XVII phong phú hẳn lên và rõ ràng là nó có những thành tựu văn học nhất định.

Tất nhiên, văn học viết thời đại này vẫn có nhiều quan hệ và ảnh hưởng bởi văn học dân gian. Các tác giả của văn học thành văn nhiều khi đi tìm nguồn cảm hứng đề tài trong các môtíp văn học dân gian. Nhờ có đời sống sôi động của văn học dân gian mà các áng văn kiểu mẫu mang tính cổ điển truyền thống như Xinxay (ở Lào), Phraphaymani (ở Thái Lan), Hikayat Hang Tuak (thế giới Mã Lai) đã từng sống qua cuộc sống dân gian, từng được lưu truyền qua các thế hệ và trở nên nổi tiếng. Qua đây cũng có thể thấy ranh giới giữa văn học viết và văn học truyền miệng ở Đông Nam Á nhiều khi không rõ rệt như ở các nước khu vực khác trên thế giới.

4. Thế kỷ XIX- đầu thế kỷ XX văn học Đông Nam Á tiếp thu ảnh hưởng của văn hóa phương Tây. Các đại biểu trí thức ở các dân tộc Đông Nam Á tiếp xúc, làm quen với văn minh phương Tây và trong chừng mực nào đó họ đã truyền bá những kiến thức khoa học kỹ thuật phương Tây vào nước họ, giới thiệu và phỏng dịch những áng văn học cổ điển phương Tây. Công việc này được tiến hành rầm rộ và phổ biến ở hầu hết các nước Đông Nam Á nhất là vào cuối thế kỷ XIX. Việc xuất hiện nhà in, các cơ quan báo chí ngôn luận trong thời gian này đã tạo thành một môi trường xã hội thuận lợi cho văn học phát triển. Văn học khai sáng và những nhân tố của chủ nghĩa hiện thực hình thành trong văn học. Thời gian này, nhiều tác phẩm sao phỏng, hay như thuật ngữ dùng trong văn học Inđônêxia là Sađuran, được in ấn công bố và phát hành rộng ở Đông Nam Á. Ở đây phải nói tới vai trò đáng kể của tầng lớp tiểu tư sản trí thức của tầng lớp thị dân trong thời kỳ chuyển tiếp này của văn học Đông Nam Á. Việc làm quen với văn học phương đóng vai trò không nhỏ trong sự hình thành những thể loại mới, hiện đại ở các nền văn học Đông Nam Á như tiểu thuyết, truyện ngắn, truyện vừa. Thời kỳ này là bước “chuyển mình” của văn học Đông Nam Á tiến tới thời kỳ hiện đại.

5. Đầu thế kỷ XX, văn học Đông Nam Á bước sang thời kỳ hiện đại. Văn xuôi chiếm ưu thế trong văn học và đó là điều mới mẻ trong truyền thống văn học, bởi lẽ nơi đây thể loại hình thành sớm nhất là thơ ca và từ xưa đến nay thơ ca luôn “ngự trị” trong văn học Đông Nam Á. Hiện tượng văn xuôi nổi lên chiếm ưu thế có thể thấy rất rõ trong văn học Thái Lan và trong một số nền văn học khác. Ở Philippin, tiểu thuyết xuất hiện rất sớm vào những năm 1877 (cuốn Urbane và Phelisa viết bằng tiếng Tagan của Modesto de Kasta) và 1887 (cuốn Đừng đụng vào tôi viết bằng tiếng Tây Ban Nha của nhà văn nổi tiếng Hose Rizal). Còn nhìn chung, những năm 10-20 thế kỷ XX thể loại tiểu thuyết ra đời hầu hết ở các nền văn học Đông Nam Á. Cuốn tiểu thuyết đầu tiên ra đời ở Inđônêxia năm 1921 (cuốn Bất hạnh và đau khổ của M.Siregar), ở Việt Nam năm 1925 (cuốn Tố Tâm của Hoàng Ngọc Phách)… Sau những mốc thời gian đó tiểu thuyết nở rộ được mùa, hàng loạt những cuốn tiểu thuyết xuất hiện làm cho tiểu thuyết trở thành thể loại tiêu biểu trong những năm 20- 30 của văn học Đông Nam Á.

Cùng với tiểu thuyết, thể loại truyện ngắn cũng ra đời vào cuối thế kỷ XIX đầu XX. Truyện ngắn ra đời muộn hơn các thể loại khác nhưng là thể loại trẻ, sung sức và phát triển mạnh từ sau chiến tranh thế giới lần thứ hai. Từ đó trở đi, truyện ngắn luôn luôn là một thể loại thường trực trong văn học hiện đại Đông Nam Á.

Văn học hiện đại Đông Nam Á phản ánh nhiều về vấn đề đấu tranh giải phóng dân tộc, vấn đề độc lập, tự do, dân chủ trong các thể loại khác nhau, đặc biệt là trong văn xuôi. Vấn đề đấu tranh chống ngoại xâm, đấu tranh vì nền dân chủ, chính nghĩa, tự do xã hội, bình đẳng để có quyền làm người là nội dung tư tưởng trong các sáng tác văn học Đông Nam Á. Ngay nay Đông Nam Á đang hòa đồng quốc tế và văn học cũng đang vươn ra ngoài quốc tế trong quá trình hòa đồng, hòa hợp.

Như vậy, quá trình văn học Đông Nam Á có sự nổi trội, bao trùm của văn học dân gian. Văn học dân gian là tất cả của cộng đồng cư dân Đông Nam Á trong suốt quá trình của lịch sử. mặt khác, quá trình văn học Đông Nam Á có sức bản địa hóa cao độ, tài tình khi tiếp nhận ảnh hưởng các nền văn hóa từ bên ngoài.

Ở trên là những đặc điểm chung của văn học Đông Nam Á trong đó có văn học Việt Nam. Như đã nói ở trên, khu vực Đông Nam Á bao gồm nhiều quốc gia, nhiều tiếng nói, nhiều chữ viết khác nhau và nhiều dân tộc với những số phận lịch sử không giống nhau. Do vậy, văn hóa Đông Nam Á cũng hình thành các tiểu khu vực văn học mang những đường nét sắc thái đặc biệt riêng trong tiến trình phát triển văn học khu vực.

2. Những đặc điểm riêng giữa các nền văn học dân tộc ở Đông Nam Á.

Chúng tôi chia văn học Đông Nam Á thành 5 tiểu khu vực do đặc thù lịch sử, văn hóa, tôn giáo và những tiếp thu ảnh hưởng các nền văn hóa bên ngoài tạo nên.

1. Văn học Việt Nam là một tiểu khu vực ở Đông Nam Á. Việt Nam là một nước duy nhất trong khu vực chịu ảnh hưởng sâu sắc văn hóa Trung Quốc. Do những hoàn cảnh nhất định, Việt Nam chịu một ngàn năm Bắc thuộc. Từ thế kỷ XI trở về sau Việt Nam giành độc lập và chống xâm lược phương Bắc qua các triều đại khác nhau và các nhà nước phong kiến Việt Nam đã lập các mối bang giao với các triều đại phong kiến Trung Quốc. Sự thật lịch sử đó, cho dù Việt Nam không bị đồng hóa thì cũng chịu ảnh hưởng nặng nề văn hóa Trung Quốc. Đạo Phật, đạo Lão, đạo Nho được truyền bá mạnh ở Việt Nam. Chữ Hán được dùng để sáng tác văn học. Tầng lớp nho sĩ, những người cầm bút vẫn lấy văn hóa Trung Quốc làm khuôn vàng, thước ngọc và trong các tác phẩm văn học cổ trung đại Việt Nam hiển nhiên có khá nhiều điển tích Trung Quốc. Những nhân tố trên tạo thành những đặc điểm riêng của văn học Việt Nam khác với các nước khác trong khu vực. (Không phải ngẫu nhiên, nhiều nhà nghiên cứu nước ngoài thường xếp văn học Việt Nam cùng khu vực với văn học Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên).

2. Hình thành một tiểu khu vực văn học ở quần đảo Inđônêxia, Malaixia. Từ thế kỷ thứ VII, nhà nước Srivitgiai hùng mạnh trở thành quốc gia cực thịnh ở Đông Nam Á. Văn hóa Ấn Độ cùng Ấn Độ giáo, Phật giáo du nhập vào quần đảo này rất sớm. Văn học cổ đại Ấn Độ đặc biệt là Mahabharata, Ramayana thịnh hành và ngày càng lan rộng khắp quần đảo suốt thời kỳ cổ trung đại thông qua loại hình rối bóng Wayang. Từ thế kỷ VII đến XIII, tiếng Pali, Sanskrit là ngôn ngữ thơ ca của văn học Mã Lai- Inđônêxia. Từ thế kỷ XIV trở đi, văn hóa Ả Rập- Ba Tư tràn tới quần đảo này thay thế văn hóa Ấn Độ. Do vậy dòng văn học mang màu sắc Hồi giáo cuồn cuộn chảy trở thành dòng văn học chủ đạo ở các vương quốc vùng hải đảo. Bức tranh văn học ở tiểu khu vực này in đậm ba màu sắc dung nạp và tồn tại là màu sắc văn học Ấn Độ, văn học Ả Rập- Ba Tư và văn học Giava. Đặc biệt là các trung tâm phát triển văn học cổ đại Mã Lai- Inđônêxia lúc thì Srivitgiai, lúc thì ở Malacca, ở Atre hoặc Đgiôkhô.

3. Hình thành một tiểu khu vực văn học ở các quốc gia hình thành sớm như Cămpuchia và Chămpa. Văn hóa Ấn Độ vào tiểu khu vực này sớm và văn học Cămpuchia tiếp nhận vốn văn học Ấn Độ- Bàlamôn, từ thế kỷ XIV trở đi văn học Ấn- Phật chiếm ưu thế. Văn bia Cămpuchia (bằng tiếng Pali và tiếng Khơ me) trở thành tài sản của văn học cổ trung đại mang đậm màu sắc tôn giáo. Ngoài ảnh hưởng Ấn Độ, văn học Cămpuchia còn tiếp thu ảnh hưởng của một số môtíp của văn học Giava, Mãlai.

4. Hình thành tiểu khu vực văn học của các “quốc gia trẻ” ở Đông Nam Á. Đó là trường hợp văn học Miến Điện, Thái, Lào. Cũng chịu ảnh hưởng của văn học Ấn Độ, song ở tiểu khu vực này sự tiếp nhận muộn hơn và nhiều khu tiếp nhận thông qua một số quốc gia khác. Có nền văn học trở thành trung gian của sự giao lưu ảnh hưởng văn hóa Ấn Độ đối với một nền văn học kgác. Chẳng hạn như văn học Lào chịu ảnh hưởng Ấn Độ thường được thông qua Thái Lan hoặc Khơme. Ở tiểu khu vực này văn học viết thường ra đời muộn hơn các tiểu khu vực trên. Văn học nhà chùa mang đậm mày sắc Phật giáo là đặc điểm nổi bật của tiểu khu vực văn học này. Phật giáo bắt rễ rất sâu ở các quốc gia này và thuyết lý Phật giáo trở thành tư tưởng chủ đạo trong nhiều áng văn học. Vì vậy, trong văn học Thái- Lào sự xung đột, nhất là xung đột đấu tranh giai cấp thường không mạnh mẽ như ở các nền văn học khác.

5. Philippin hình thành một tiểu khu vực riêng biệt. Trước khi văn hóa Tây Ban Nha du nhập vào Philippin, ngoài các yếu tố văn học bản địa, các yếu tố văn hóa Ấn Độ, Hồi giáo du nhập vào Philippin yếu ớt. Một số khu vực ở Philippin chịu ảnh hưởng văn học Ấn Độ, Hồi giáo và thường qua sự truyền bá từ Inđônêxia, Mã Lai vào. Ảnh hưởng của văn hóa Tây Ban Nha và màu sắc văn học Thiên chúa giáo trở nên đậm đặc và những dấu vết của văn hóa Tây Ban Nha cũng pha trộn ảnh hưởng ngay cả trong văn học dân gian Philippin còn lưu giữ đến ngày nay.

Ở trên là vài nét phác thảo về những đặc điểm chung và những nét riêng biệt giữa các nền văn học dân tộc trong quá trình lịch sử phát triển văn học Đông Nam Á. Bức tranh văn học khu vực Đông Nam Á được phác họa bởi năm sắc màu khác biệt nhau, nhưng vẫn thống nhất, hoàn chỉnh trên nền lịch sử- văn hóa chung của khu vực. Phần tiếp theo, chúng ta sẽ xem xét văn học của bốn quốc gia, đại diện cho bốn tiểu khu vực văn học ở Đông Nam Á (không kể văn học Việt Nam- tiểu khu vực thứ năm).

 

 


 

 

 


NGUYỄN HÒA BÌNH

  

- Họ và tên khai sinh: Nguyễn Hòa Bình

- Quê quán: Thôn Hòa Loan, xã Lũng Hòa, huyện Vĩnh Tường, Vĩnh Phúc

- Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam (từ 2011)

- Hội viên Hội Nhà báo Việt Nam.

 

- Tác phẩm chính đã xuất bản:

   * Tìm về (Tập thơ, NXB Thanh niên, 1998)

   * Hỏi mình (Tập thơ, NXB Hội Nhà văn, 2004)

- Giải thưởng văn học:

* Giải A cuộc thi Thơ tình 2006-2007 do Tuần Báo Văn nghệ -
Hội Nhà Văn Việt
Nam tổ chức.

- Suy nghĩ về nghề văn:

“Ta vịn thơ qua hết mọi ưu sầu”

Đó là một phần suy nghĩ của tôi về thơ, năm tôi  bước vào tuổi “tri Thiên mệnh”

Với tôi, thơ không chỉ là nơi tôi được giãi bày, được sẻ chia, để sau mỗi lần như thế tôi biết mình đã được sống thật là mình, biết yêu thương và trân trọng những gì là giá trị đạo đức truyền thống, đồng thời cũng biết đau để phẫn nộ với những gì đã làm băng hoại các giá trị ấy.

Nhờ thơ, tôi cũng “biết chấp nhận để đi qua đổ vỡ”, với một tâm thế “biết vượt lên tìm lại chính mình” . Để rồi, sau mỗi lần chấp nhận mà vượt lên ấy, tôi biết thơ đã vực tôi lên, cho tôi được sống trong tin yêu của bè bạn, để tôi luôn tự nhủ mình phải gắng màlàm thêm nhiều việc tốt hơn.

Và, với thơ, tôi cũng biết mình đã thật sự được thăng hoa trong cảm xúc,được sống mà yêu chân thành và hồn nhiên những gì mình say đắm.

 

 

A - TRONG KÝ ỨC BẠN BÈ

 

 “CÙNG MỘT LỨA BÊN TRỜI LẬN ĐẬN”

 Đặng Huy Giang 

Tôi gặp Nguyễn Hòa Bình lần đầu qua Bùi Việt Phong (nhà báo, nhà thơ, nguyên Phó Tổng biên tập báo Lao động), cách nay đã ngót nghét 20 năm ở một quán cóc vỉa hè phố Trần Bình Trọng. Vì cùng là “một lứa ở bên giời lận đận” (nói theo cách nói của thi sĩ Bạch Cư Dị trong Tỳ bà hành) nên chúng tôi dễ có cơ hội gần nhau…

1. Nguyễn Hòa Bình thuộc lớp người “con ngoan, trò giỏi, đoàn viên tốt” vào những năm cuối của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Bình tốt nghiệp lớp 10 năm học 1969-1970 tại Trường cấp 3 Trần Phú (Vĩnh Yên, Vĩnh Phúc). Ngày ấy, Bình đã có tên trong danh sách được tuyển chọn đi học đại học ở nước ngoài. Nhưng việc này bị ách lại, bởi người ta vin vào lý do: Nguyễn Hòa Bình đã có một người chị ruột đang là lưu học sinh tại Kixinhốp (Liên Xô).

Bình không thấy thế làm buồn. Đơn giản vì đối với một chàng trai thời chiến, việc gác bút nghiên để lên đường cầm súng, là chuyện hết sức dễ hiểu. Chưa kể, vào thời điểm ấy, cái khí thế của giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước lúc nào cũng sôi sục và có sức cuốn hút tuổi trẻ một cách mãnh liệt. Và đấy cũng là lẽ sống, là lý tưởng cao đẹp của một thời. Đôi khi, từ một câu nói cửa miệng có phần quen thuộc của nhiều người cùng thời: “Không đi nhanh, không khéo vào trong ấy (miền Nam), có khi chỉ kịp nhặt ống bơ gỉ thì… ân hận đấy”, cũng có tác động thôi thúc nhất định tới Bình.

Hồi ấy, Nguyễn Hòa Bình bị bạn bè gọi là Bình “còi”. Bình chỉ cao có 1,41m, nặng 30kg. Mỗi khi đi khám sức khỏe nghĩa vụ quân sự, Bình “còi” thường bị xếp hạng B2 hoặc B3 và thường bị loại ngay tắp lự. Vì lý do này mà cho dù rất muốn trở thành bộ đội nhưng Bình chỉ được chiếu cố gọi đi thanh niên xung phong.

Hay tin này, Bình cay mũi lắm và đem sự ấm ức của mình ra tâm sự với một người bạn: “Đi thanh niên xung phong ư? Không sướng lắm. Kiểu gì mình cũng phải đi bộ đội. Mà phải bộ đội chủ lực, ở chiến trường B (miền Nam) kia, mới được”. Người bạn này cười nói: “Nhưng người ông bé như cái kẹo, lại yếu, bộ đội nào người ta chấp nhận. Cái gì cũng phải có tiêu chuẩn, nguyên tắc của nó chứ. Ông tưởng đi thanh niên xung phong không vinh dự ư? Mà nếu có phải đi thanh niên xung phong thì cũng là góp sức mình cho tiền tuyến lớn, vì tiền tuyến lớn, chứ sao!”.

Nhưng chí đã quyết, Bình vác ba lô lên “ăn vạ” Tỉnh đội. Bình nói thẳng: “Nếu các anh không cho tôi nhập ngũ, từ nay, tôi sẽ ăn ở tại đây, không bao giờ về nhà nữa. Tôi đã hứa với gia đình. Đây là lời hứa danh dự. Tôi đã quyết một đi không trở lại! Còn các muốn làm gì tôi thì làm!”.

Cảm động trước nhiệt tâm của một người đương trai, Ban chỉ huy Tỉnh đội không biết làm gì khác ngoài việc phải phiên chế Bình vào một tiểu đoàn dự bị “thấp, bé, nhẹ cân” của địa phương.

Đó là vào cuối năm 1971, đầu năm 1972.

Rồi Bình cũng tăng cân và tăng cả chiều cao. Rồi Bình cũng trở thành bộ đội. Thời gian đầu, Bình là liên lạc viên tiểu đoàn 57, thuộc Sư đoàn 304B, sau chuyển sang một tiểu đoàn khác thuộc Bộ Tư lệnh 559 đóng ở “thủ đô” Troóc (Quảng Bình). Cuối 1972 đầu 1973, Bình trở thành lính cao xạ tại chiến trường B3 (Tây Nguyên).

Giữa tháng 3 năm 1975, khi Chiến dịch Hồ Chí Minh bắt đầu, trong một cuộc chiến ác liệt tại một cứ điểm ở sân bay Hòa Bình (Buôn Ma Thuột), một đồng đội đã hy sinh trong tay Bình. Còn Bình thì bị bom vùi kín, bị sức ép bom, chảy máu tai, đầu ong ong, người mê man và hầu như không biết gì, tưởng như không qua khỏi. Bình coi đây là một cuộc đối mặt với thần chết trong đời lính trận của mình. Tỉnh dậy, Bình chỉ còn biết lao người về phía rừng cao su mịt mờ khói súng, lòng thầm cảm ơn số phận.

Đến giờ, mỗi khi hồi tưởng những người đồng đội đã hy sinh ở chiến trường B3, lại muốn đọc lại một câu thơ của thi sĩ nổi tiếng người Nga Vưxốtxky: Hết chiến tranh/Những người lính trở về đều có tội; coi cái sự trở về của mình sau 1975, đã là “có lãi”.

2. Năm 1976, sau khi giải ngũ, Bình theo học Khoa Ngữ văn, Đại học Tổng hợp TP Hồ Chí Minh (Đại học Văn khoa cũ). Thời điểm ấy, Bình có một “pha” hành động rất ấn tượng. Có một lần, khi chơi bóng chuyền, bóng của các sinh viên nữ không may bay lên nóc sân thượng hội trường Khoa. Nổi máu lính “liều mình như chẳng có”, Bình đã không quản hiểm nguy, lên sân thượng bằng cách leo lên một cây phượng vĩ và xuống sân thượng từ một cành cây mảnh mai. Khi ném được quả bóng xuống sân bóng, Bình loay hoay mãi không biết làm cách nào để “hạ cánh an toàn”. Mãi sau, như thể “trong cái khó ló cái khôn”, Bình đã trở về chỗ cũ theo đường xuống của cột thu lôi giữa tiếng reo hò của đông đảo bè bạn.

Đến năm thứ hai, vì mê một ông thầy dạy Hán Nôm rất giỏi, Bình quyết định bay ra Hà Nội học ngành Hán Nôm tại Đại học Tổng hợp Hà Nội và học chậm một năm. Rồi Nguyễn Hòa Bình có thêm một biệt danh thứ hai là Bình “Hán” kể từ năm 1977.

Thời điểm này, Bình vừa đi học chuyên môn, vừa mày mò học bói toán và dành thời gian tìm đọc văn bia… Trong một lần về dịch ngọc phả đình, chùa, Bình có về nhà bà Cam (thôn Trần Đăng, xã Hoa Sơn, huyện Ứng Hòa, Hà Tây) đọc hộ văn bia. Sau đó, bà còn nhờ Bình đến nhà cô Mai Thị Yến dịch luôn cả một bức hoành phi “Hoa hiệu giao huy” và một đôi câu đối cổ, trong đó có một vế: “Hào phong bản tự nho lưu xuất” (hào hoa, phong nhã vốn từ nho học mà ra) mà ông còn nhớ đến tận bây giờ. Chính sự “không hiểu tình cờ thế nào” đã dẫn đến một kết quả bất ngờ: Nguyễn Hòa Bình gặp Mai Thị Yến.

Hồi ấy, Yến đang là kế toán Phòng Nông nghiệp huyện Ứng Hòa. Có một lần đi thực tập, Bình về ăn cơm muộn ở khu làm việc của Phòng Nông Nghiệp huyện và bị người phục vụ phàn nàn. Do không được thông cảm, Bình đã bực mình và bỏ cơm. Biết được việc này, Yến đã cùng một vài người bạn bảo Bình: Lần sau, nếu anh có về đây nữa thì về chỗ bọn em ăn cơm cho vui. Câu nói và sự quan tâm ấy, đã làm Bình thực sự cảm động. Đến năm thứ ba, Bình càng cảm động hơn khi Yến gửi tặng Bình một đôi nón và nói là để “làm quà tặng mẹ anh và tặng vợ anh”. Bình vừa nhận quà, vừa buột miệng vô tình: “Anh chỉ nhận một chiếc thôi. Còn chưa có gì… nên chưa nhận chiếc nón thứ hai”. Sau đó, họ gửi thư từ thường xuyên cho nhau và trở thành đôi lứa cho đến tận hôm nay.

Nhắc lại chuyện kỳ duyên này, Bình bảo: Như vậy là nhờ học Hán Nôm mà tôi không chỉ hiểu thêm cái căn bản, cái gốc rễ của chữ nghĩa, của văn hóa, mà còn lấy được vợ. Càng ngày, tôi càng hiểu “cái duyên ông trời se, cái que ông trời buộc”… là như thế nào.

3. Tôi gặp Nguyễn Hòa Bình lần đầu qua Bùi Việt Phong (nhà báo, nhà thơ, nguyên Phó tổng biên tập báo Lao động), cách nay đã ngót nghét 20 năm ở một quán cóc vỉa hè phố Trần Bình Trọng. Vì cùng là “một lứa ở bên giời lận đận” (nói theo cách nói của thi sĩ Bạch Cư Dị trong “Tỳ bà hành”) nên chúng tôi dễ có cơ hội gần nhau. Ngày ấy, có đủ tiền uống với nhau vài vại bia hơi, nhâm nhi với nhau ít hạt lạc, đã là một dịp đáng quý, đáng nhớ. Còn đáng quý, đáng nhớ hơn khi mỗi lúc gặp nhau, bạn bè còn say sưa đọc cho nhau nghe những câu thơ mới viết, vừa thật thà, vừa tươi rói, rồi hoặc gật gù hoặc góp ý cho nhau một cách chân thành, tốt bụng.

Lần ấy, tôi có một kỷ niệm với Bình, mà tôi thì không dễ gì quên, còn Bình thì chẳng bao giờ nhớ. Sau khi đọc cho bạn nghe bài thơ “Vẫn chưa là buổi chiều”, trong đó có những câu thật trong trẻo: Vẫn chưa là buổi chiều/Nắng chưa vàng mé nước/Sương thì đang đọng giọt/Hoa nở đều như khoe/ Có con chim chích chòe/ Tiếng hót rung cành trúc/ Mặt trời như vừa mọc/ Khối cầu hồng lên cao…”, Bình bảo: Bài này đăng được. Số tới tôi sẽ sử dụng trên báo tôi. Đây là số tiền nhuận bút tôi ứng trước cho ông. Coi như việc này xong nhé.

Bây giờ, chuyện này có thể chỉ là chuyện thường ngày, hoặc chuyện vặt trong làng báo, làng văn. Nhưng ngày ấy, có được chút nhuận bút đưa trước, lại có thể có ít tiền đi chợ mua rau dưa cho qua ngày đoạn tháng, thì không còn là chuyện thường ngày hoặc chuyện vặt nữa.

Chuyện này xảy ra vào một ngày cuối năm 1993, khi ấy, Bình đang cầm tờ phụ san của Báo An ninh Thủ đô.

Sau nhiều năm, Bình nhớ lại: “Từ tháng 10 năm 1993 đến tháng 5 năm 1995, Báo An ninh Thủ đô làm kế hoạch 3 bằng cách ra một tờ phụ san dày 32 trang, khổ 19x27, 20 ngày ra 1 số, số lượng khoảng trên dưới 5 vạn bản, phát hành chủ yếu tại Thành phố Hồ Chí Minh. Trong đó, đầu Hà Nội lo 1/2 nội dung, đầu Sài Gòn lo 1/2 nội dung. Hồi đó, tôi bỏ cả vợ con, đi lại như con thoi, 10 ngày ở miền Bắc, 10 ngày ở miền Nam, vừa làm thư ký tòa soạn, vừa lo cả khâu in ấn, phát hành. Vào Sài Gòn, ở nhà bạn bè thì không tiện, tôi phải ngủ trong “nhà kho” của Nhà in Báo Nhân dân để “chăm sóc” tờ báo cho đến lúc chuẩn bị ra mắt bạn đọc. Những ngày ấy tuy vất vả nhưng mà vui ra trò. Có lẽ vì hồi ấy tôi còn trẻ nên mới nhiệt tình và hăng hái như vậy chăng?”.

Đến năm 1996, Bình rời An ninh Thủ đô về Hà Nội Mới. Ở cơ quan mới, có dạo ông là Phó thư ký tòa soạn tờ hàng ngày, có dạo là Giám đốc Trung tâm Phát hành và Trưởng ban Hà Nội ngày nay (một chuyên san của Hà Nội Mới, mỗi tháng ra 2 kỳ). Thời kỳ vất vả nhất của ông là thời kỳ bị gần như là đầy ải… đi bán báo (2003-2005). Trong cương vị Giám đốc Trung tâm phát hành, hàng ngày ông phải đi lại trên chiếc ô tô mà tôi thường gọi đùa là “ô tô chở lợn” (một loại ô tô Suzuki nhỏ và dài, chuyên dùng để vận chuyển thực phẩm).

Nguyễn Hòa Bình là một nhà báo năng động. Ông có thể “tác chiến” trong bất cứ thời điểm nào về bất cứ thể loại, đề tài nào và đều có hiệu quả. Ông là một nhà thơ lúc nào cũng đau đáu nhân tình và ngùn ngụt cảm xúc. Nếu ví thơ ông là khói thì lúc nào, chúng cũng bay lên – điều này rất ăn nhập với một câu thơ nổi tiếng của Blok: Chúng ta như khói phải bốc lên. Đây là những câu thơ đầy nhân bản của ông qua bài “Hoa cải ngồng”: Anh có biết em đã chờ anh mãi/ Mọi lỡ lầm thôi đừng trách chiến tranh/ Dù anh vẫn trở về và em đã/ Cải lỗi ngồng, hoa mãi nở trong anh. Còn đây là những câu thơ đầy dằn vặt, đớn đau để tự biết vượt lên chính bản thân mình trong “Nhói đêm”: Dở mà hắt cũng chẳng xong/ Nhói đêm nghe tóc trắng lòng bàn tay và trong “Hỏi mình”: Biết chấp nhận đi qua đổ vỡ/ Biết vượt lên tìm lại chính mình.

Thêm nữa, Nguyễn Hòa Bình còn là một con người nhiều nét bè bạn. Ở ông luôn có sự xả thân vì bè bạn. Và trên nữa là sự xả thân vì lẽ phải lẫn sự công bằng.     

                                                                                                                                                                                                                                                      Đ.H.G                             

 

 

 

 

 B - MỘT SỐ TÁC PHẨM TIÊU BIỂU 

 

        THÌ VẪN BIẾT

 

Chiều sập xuống có gì hoang vu quá

mây vừa sa nghe gió đã vơi lòng

vạt nắng rớt có bùng lên chùm lửa

vẫn còn em sao ta chạm phải đông?

 

Sao ta chạm phải gì, như là rét

là heo may se sắt đất chuyển mùa

sao ta chạm phải gì, như là tiếc

trăng hồn nhiên trong sáng của ngày xưa.

 

Thì vẫn biết, ngày sẽ chiều sập xuống

cho dù em lẫn giữa triệu sao trời

thì vẫn biết, ngày sẽ chiều sập xuống

ta là đêm cho em sáng sao ơi.

                                    28/3/2006

 

 

 

 

 

 

          RU GÀY

 

Chiều rơi một tiếng ru gày

gọi ta về lại những ngày chưa xa

cháo khoai lạt muối, thơm cà

thương mùa đứt bữa, thương cha kéo cày.

 

Chiều nghiêng một tiếng ru gày

leng keng tàu điện gỡ ngày từ đêm

áo em xanh đến ngạc nhiên

xanh như cái thuở ớt thèm được cay.

 

Chiều buông một tiếng ru gày

chuông chùa Trấn Quốc lại lay tượng thờ

cánh đào rũ xuống cơn mơ

gọi từ kiếp trước câu thơ kiếp này.

 

Chiều dâng một tiếng ru gày

Mẹ còn lận đận tháng ngày cho ta

dặm dài lặm lụi xót xa

chỉ lo con, có sống ra CON NGƯỜI.

Chiều gày, tiếng Mẹ lưng trời.   

                              21/2-10/5/2009

 

 

 

 

 

         LỬA THAN

  

Ta nhận về mình cực nhọc

ta nhận về mình cay đắng thời gian

ủ thành than

mơ cháy.

 

Cuộc sống như dòng sông cứ chảy

đục - trong thôi cũng hòa cùng

ta chảy với thời gian

nếm đủ mọi điều trong - đục.

 

Vẫn biết sống làm người vô cùng khó nhọc

làm cây

gió cũng chẳng đừng

mai này về chốn không không

từ trong hư ảnhcó bùng lửa than?

                                        18/10/2006

 

 

 

 

 

 

 

        KHÔNG ĐỀ

 

Đi mắc núi

ở mắc sông

giá mình bay được

chắc không mắc gì.

Thời gian

chở tuổi tác đi

con sông

có chở nước về biển khơi?

Trăm năm

đã một kiếp người

cái lời cay đắng

là lời ruột gan.

          Tháng 12/2005

 

 

 

 

 

 

 

         PHẬN TRĂNG

  

Này em áo áo, quần quần

son son, phấn phấn mất dần màu quê

ta như trăng khuyết trong mê

cháy qua vằng vặc cháy về hư vô.

.

Này em... mấy kiếp Tò Vò

cứ lăn lóc sống cứ mơ với màng

ngỡ dầy lại hóa mỏng tang

đắp vào đã khó đập càng khó hơn.

 

Phận ta mỏng tựa trăng suông

mê hương đất cũ nên buồn trăm năm

mặc ai quên buổi quá rằm

ta yêu khổ mấy, cầm bằng ... vẫn yêu.

                                                    14/10/2006

 

 

 

 

 

 

 

       NHÓI ĐÊM

 

Nỗi đời đâu dễ sẻ chia,

thôi

đành gói lại

mang về kiếp sau.

Đừng tin quá chắc chẳng đau,

đừng yêu quá chắc chẳng sầu tái tê.

 

Phận mình

mỏng

tựa cơn mê,

sống

mà như thể

đã về hư không;

dở

mà hắt

cũng chẳng xong,

nhói đêm

nghe tóc

trắng lòng bàn tay.

               Đêm 29/01/2007

 

 

 

 

 

 

 

        LẠI THU

 

 Hương sấu thơm nhan nhát vị thu rồi

Sương như lụa choàng mặt hồ ngái ngủ

Gió lạc bước dẫn sóng về bến cũ

Bầy sâm cầm táo tác gọi tìm nhau.

 

Thì lại thu nghe tóc đã chuyển màu

Bao thế sự nhùng nhằng cơn vật vã

Chiều đùng đục lạnh tanh hơn nước lã

Những mặt ngày nham nhở dấu tay đêm.

 

Thì lại thu nước còn đẩy thuyền lên

Khi sông cạn giữa hai bờ bồi - lở

Nắng nhàn nhạt quầng mặt trời mất lửa

Lá rụng rồi mà xáo xác bờ cây.

 

Và lại thu trong tiếng gõ hao gầy

Mẹ còn lại đứa con nào hiếu-đễ

Tốt thành xấu thì chuyện gì chẳng thế

Để thu về hỏi ai biết còn ai.

                                         29/9/2012

 

 

 

  

 

 

        BẤT CHỢT

 

 Bất chợt

chớm đông mờ mịt lốc

có gì đâu

lá tìm cội lá về.

 

Bất chợt

biển cuồng lên khao khát

bời bờ xa

sóng thèm một tiếng quê.

 

Bất chợt

mây cuộn lồng lớp lớp

đất cởi hồn

nhận xối xả mưa tuôn.

 

Bất chợt

bóng cô đơn rình rập

có gì đâu

em bảo sắp hoàng hôn.

                     20/5/2006

 

 

 

 

 

 

        ẨN

 

Cái bẩn thỉu

ẩn

sau gương mặt đẹp.

 

Cái thối tha

ẩn

sau nét ngọt đằm.

 

Cái mục ruỗng

ẩn

sau màu sơn thếp

 

Giữa lụi tàn

lửa

bùng đốt nhân gian.

                    22/7/2011

 

 

 

 

 

 

 

          CỐM ƠI

           Viết cho Mạnh

 

Cốm không là cốm nữa đâu

cho con lạy mẹ kiếp sau con về

con lạy mẹ con đi

con xin lỗi hẹn thôi thì... Mẹ ơi!

 

Mẹ đừng buồn nữa cái thời

tuổi trai ra trận gửi lời lại quê

Mẹ đừng đau nữa câu thề

giặc tan... con vẫn chưa về tìm ai.

 

Mẹ ơi cốm cứ xanh hoài

như con mãi vẫn CON TRAI suốt đời.

như làng Vòng mãi thế thôi

xanh xanh cốm, trải ngàn đời vẫn xanh.

                                                          21/5/2004

 

 

 

 

 

         NGỦ YÊN BẠN NHÉ

 

Ta trở lại nơi một thời bom lửa

Cỏ đã xanh Thành Cổ tự ngày nào

Bạn nằm đó giờ lẫn vào hồn đất

Rễ cỏ ơi bám nhẹ kẻo bạn đau.

 

Thạch Hãn kìa sông chở nước về đâu

Xin đừng cuốn phù sa ra tận biển

Cốt nhục bạn trong sóng sông thao thiết

Mơ níu bờ được ôm đất quê hương.

 

Thôi ngủ yên, bạn nhé, đừng buồn

Căn nhà đất mẹ vừa mới dựng lại

Mảnh vườn nhỏ giờ đã thơm hoa trái

Mẹ cả đời mãi thương út long đong.

 

Quảng Trị chiều nay biển cũng nao lòng

Nên nghiêng đổ dâng phù sa ngập bãi

Gió như thể cứ gọi hoài  gọi mãi

Những vong hồn con Việt lạc đâu xa.

 

Yên nghỉ đi - Đây cũng đất quê nhà.

                                          02/6/2003

 

 

 

 

 

 

       VĨNH YÊN VẪN ĐỢI

 

 Mưa dầy quá

Vĩnh Yên, mờ trước mặt.

Hãy dừng đi. Thôi, ướt hết em rồi

Tàu cọ nhỏ che đủ vừa vạt tóc

Gần đấy mà, sao lại thật xa xôi.

 

Mưa dầy quá.

Vĩnh Yên. Đừng lỡ hẹn 

Đất héo mòn đến thành gạch đá ong

Thương đầm Vạc, con Tép Dầu bạc vảy

Chuyến tàu qua, dốc Láp cũng nao lòng.

 

Mưa dầy quá.

Vĩnh Yên. Chiều rất thật

Gió dùng dằng quẩn rối cả tóc tre

Ơ xóm Gạch, hương húng mà cay mắt

Bến Cầu Oai vấn víu chẳng nỡ về.

 

Mưa dầy quá.

Vĩnh Yên mà. Vẫn đợi.

                             13/3/2003

 

 

 

 

 

 

         BẤT CHỢT TAM ĐẢO

 

 Dừng lại đã, khéo lầm đường đấy nhé

Ơ kìa em, sao trốn giữa lưng trời

Mây xốp quá, mà em thì mỏng mảnh

Cả gió cũng đành, đuổi trượt em thôi.

 

Dừng lại đấy, bất chợt ngày Tam Đảo

Nghe vi vu thông thủ thỉ chuyện rừng

Cho ta được lạc vào ngăn ngắt núi

Vào suối nguồn, văn vắt đến lâng lâng.

 

Dừng lại đã, nắng ơi đừng tắt vội

Mây phù du, che kín lối xưa rồi

Rêu mấy lớp, niêm phong lầu gác đổ

Luễnh loãng chiều, ai bỗng trót buông trôi.

 

Dừng lại nhé, có theo cùng Thác Bạc

Sương vừa vương, ướt đẫm tiếng e cười

Nghe nhẹ bẫng bước chân nào của gió

Tam Đảo và em, thực đến xa vời.

                                           10/2003

 

 

 

 

 

 

        HỎI MÌNH

 

Như sự sống tồn tại luôn cần nước

Anh tự hỏi mình liệu nước có là em ?

Để anh biết nhớ, biết quên

Biết hay, biết dở

Biết chấp nhận, đi qua đổ vỡ

Biết vượt lên, tìm lại chính mình.

 

Cuộc sống bắt đầu từ sự hồi sinh

Anh có em, cũng hồi sinh như thế?

Nhận rõ hơn mọi thứ đều có thể

Còn - mất, được - không cũng tương đối mà thôi

Sau hồi sinh sẽ có lộc, có chồi?

 

Anh đã đi qua cơ hàn, đi qua mất mát

Đi qua gian lao, đi qua khao khát

Qua mặn mòi, chua chát để có em

Cho mỗi ngày càng mỗi hiểu thêm

Biết sống - biết yêu có bao giờ đơn giản.

                                              22/12/2002

 

 

 

 

 

 

        TÌM VỀ

 

Tôi về phố huyện tìm em

Cây sung, bến nước, ai quên ai rồi

Cái thời bom lửa của tôi

Con đường cỏ cháy trọn đời còn thương

Một câu kinh nghẹn giáo đường

Khói sông nhòa cả hoàng hôn mấy chiều.

 

Cái thời ấy mãi còn yêu

Lá sen đội nắng, cánh diều chân đê

Điệu chèo nghiêng cả đêm hè

Lối khuya níu bước ai về cùng ai.

 

Nghe như gió khẽ thở dài

Bóng trăng bịn rịn đưa ai sang cầu

Phải ai đã nói một câu

Xa rồi liệu nhớ, mai sau lối về.

 

Bấy năm rụng mấy tóc thề

Lời xưa bến cũ tôi về tìm ai.

                                    1995

 

 

 

 

 

          MỘT CHIỀU TRONG TÔI

 

Hơi sương lạnh mùa đông vừa chớm

Khói cay cay mấy sống rạ bếp nghèo

Gió cứ thổi vô tình quên hương cỏ

Áp mặt vào chiều thoảng mùi tóc em yêu.

 

Chiều nằng nặng hạ xuống tôi chầm chậm

Nắng nao nao chưa tắt nổi trên đồng.

Mây vơ vẩn sông Nhuệ chừng ngơ ngẩn.

Mai sẽ rồi tôi có hóa người dưng.

 

Mai rồi sẽ đâu biết không hò hẹn

Em có còn nhớ tới một chiều xưa

Tôi chẳng lẽ lại không người có lỗi

Chiều qua đi quên chưa kịp dặn dò

 

Chiều như thế sao đành lìa bỏ được

Say ngu ngơ tôi uống cả mắt mình

Gió vẫn thổi tóc em đầy hương cỏ

Chẳng bao giờ tôi lại hóa người dưng.

                                                       1991

 

 

 

 

 

 

       NGHĨA TRANG TÌM BẠN

 

 Bóng núi đè ngang nghĩa trang chiều

Gió chừng thổn thức thổi xiêu xiêu

Nén nhang bùng lửa như bật khóc

Mây khói cuốn những hồn phiêu diêu.

 

Mây khói cuộn bao hồn lưu lạc

Giờ say trận mạc ở đâu xa

Còn nhớ những lời xưa mẹ dặn

Có thương tuổi mẹ đã xế tà.

 

Sao cứ một đi không trở lại

Nẻo rừng góc suối có chồn chân

Măng ngàn rau núi xanh xao xác

Có biết cơm thơm mẹ vẫn dàn

 

Sao cứ một mang lời thề cũ

Quê hương em gái bạc tóc chờ

Bậu cửa vẹt mòn hồn Tô Thị

Thảng thốt  ai buồn những đêm mơ.

 

Ôi những linh hồn còn phiêu lạc

Xương thịt tan đi hóa đất trời

Xin được cho tôi người đồng đội

Đón hồn anh về với quê tôi.

                                         1996

 

 

 

 

 

 

         THƠ ĐỂ LÀM GÌ?

 

- Thơ để làm gì? Em chỉ thích  măn-ny*

Ta đã từng mê một người như thế

Thơ chả lẽ chỉ dành cho lũ trẻ

Sướng cũng vô tư, mà khổ cũng vô tư.

 

Thơ để làm gì? Có ai nhớ bây giờ

Cơm áo, gạo tiền, công danh, chức vị

Phải tồn tại, lại cần nhiều hơn thế

Lăn hết đời người, kiếm chác đã bao nhiêu?

 

Thơ để làm gì? Còn đâu mấy ai yêu

Ta vì người, nào người biết được

Như sự sống chẳng thế nào thiếu nước

Ta vịn thơ qua hết mọi ưu sầu.

 

       *  Money (tiếng Anh) – nghĩa là tiền

 

 

 

 

 

 

       HOA CẢI NGỒNG

 

Anh có biết

em đã chờ anh mãi

Mọi lỡ lầm

Thôi

Đừng trách…

chiến tranh.

Dù anh vẫn trở về

 và em đã

Cải lỗi ngồng

hoa mãi nở trong anh.

                             1990

 

 

 

 

 

 

 

 

         BIỂN THÁNG TƯ

 

Tháng tư

Hoa phượng như tấm khăn màu lửa

              vắt ngang trời miền Trung.

Tháng tư

          mắt gió rưng rưng

Biển vàng ệch quặn thắt từng rạn đá

          chỉ thương bầy cá

                  giận ai nỡ bỏ biển đi.

Mẹ ơi!

          nước mắt giờ mặn đắng vị gì

Biển ngộ độc hay chúng con ngộ độc?

Tháng tư

Biển khóc

            cá chết trắng rồi

Biển đâu nỡ vùi luôn.

Tháng tư

        mái chèo gác nghiêng đè trĩu mắt buồn

              mắt giàn giụa mà mái chèo khô rộp

Biển bao dung

        cũng không nuốt được

               nỗi đau này đâu chỉ có biển mang.

                                       Hà Nội 26/4 -23/5/2016

 

 

 

 

 

 

 

NGUYỄN HOÀNG SƠN

 
- Họ và tên khai sinh: Nguyễn Hoàng Sơn


- Sinh năm 1949

- Quê quán: Ngô Đạo, Tân Hưng, Đa Phúc, Vĩnh Phúc

- Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam (từ 1993)

- Hội viên Hội Nhà văn Hà Nội.

 

- Tác phẩm chính đã xuất bản:

  * Sự tích rước đèn trung thu (Truyện thơ)

   * Dắt mùa thu vào phố (Tập thơ cho các em)

   * Bài hát trăng tròn (Tập thơ)

   * Ông khách giao thừa (Tập truyện thơ)

   * Đợi mắt nhìn mới nở (Tập thơ)

   * Tranh luận văn học (Phê bình văn học)

   * Văn đàn – Thời sự & Bình luận (Phê bình văn học).

- Giải thưởng văn học:

   * Giải B Hội Nhà văn Việt Nam, 1990

   * Giải A, Hội Nhà văn Việt Nam, 1993

   * Một số giải thưởng về sáng tác và lý luận phê bình khác.

- Suy nghĩ về nghề văn:

          Một lần  nói chuyện vui, nhà thơ Vân Long nêu nhận xét: “ Trong thơ cho thiếu nhi, cậu đứng cao hơn thơ cho người lớn! ”. Thú thực, lúc ấy tôi hơi…tự ái! Khổ thế, sĩ diện mà! Trong thâm tâm, tôi thấy làm thơ cho người lớn, dường như “oai” hơn làm thơ cho “trẻ con” … Lứa bọn tôi, khối người chết vì cái “oai” hão ấy, đương là nhà thơ “có triển vọng” trong lĩnh vực cho các em, tự dưng nhảy sang viết và in rất nhiều cho người lớn, thơ rời  rồi trường ca, hết tập nọ đến tập kia…Bây giờ nhìn lại,những gì được nhất trong đời viết của cây bút ấy,hình như chỉ những bài thơ cho các em đầu đời viết là còn khả  thủ…? May mắn cho tôi là đã sớm tỉnh ngộ, không còn bám víu vào những “oai” hão nữa...Trong thơ,mọi thể loại đều bình đẳng!Chỉ có sự khác nhau giữa thơ hay và thơ dở  mà thôi!  Đó là lí do khiến  tôi chọn toàn bộ 20 bài thơ cho thiếu nhi để mong xuất hiện trong tập sách này.


 

A - TRONG KÝ ỨC BẠN BÈ

 

THƠ THIẾU NHI CỦA NGUYỄN HOÀNG SƠN

                                                                                                                        PGS. TS Vũ Nho

Nguyễn Hoàng Sơn viết truyện,làm thơ cho người lớn,viết phê bình, tranh luận văn học nhưng thành tựu nổi bật hơn cả vẫn là thơ và truyện thơ cho trẻ em.

Không kể Trần Đăng Khoa là nhà thơ thần đồng viết về các em, cho các em,nhắc đến các nhà thơ có thành tựu, sau những tên tuổi như Huy Cận, Phạm Hổ,Xuân Quỳnh ,Định Hải,người đọc thường nhắc đến Nguyễn Hoàng Sơn,Đặng Hấn,Trần Mạnh Hảo.

Nguyễn Hoàng Sơn đã in các tập tho cho các em :Mèo con để râu (1981); Sự tích rước đèn trung thu (1989);Dắt mùa thu vào phố (1992); Ù ù cạc cạc (kịch thơ hoạt hình- 1993); Bài hát trăng tròn (1990); Bức tranh của bé Hằng (2000)…

Bút danh của Nguyễn Hoàng Sơn được khẳng định khi tập truyện thơ Sự tích rước đèn trung thu được giải thưởng  của Hội Nhà văn Việt Nam 1990.

Tập truyện thơ Sự tích rước đèn trung thu của Nguyễn Hoàng Sơn là một tập sách hay hiếm hoi. Tập thơ vừa có cốt truyện gọn gàng, chững chạc , vừa hàm súc và giàu chất thơ.

Chất thơ ấy thấm đượm trong cách giới thiệu và miêu tả nhân vật.

Người đọc thích thú vì trong thế giới truyện thơ của Nguyễn Hoàng Sơn có những nhân vật giàu cá tính và ngộ nghĩnh. Chẳng hạn, con gà,một con vật nuôi hết sức quen thuộc, nhưng trong truyện của Nguyễn Hoàng Sơn, nó hiện ra với tư cách một thím mái hoa te tái, hay một chị mái nâu cần mẫn ,chăm chỉ,rất giàu tính đàn bà. Con ngan thì thành bác Ngan thạo nghề sông nước,đạo mạo,pha tí chút cao ngạo, ra dáng một đấng mày râu từng trải,lịch lãm. Một chú lợn con nhưng ngay từ những câu thơ giới thiệu lai lịch đầu tiên đã hứa hẹn nhiều chuyện hấp dẫn:

Có một chú lợn nhỏ

Tên chữ là Văn Choai

Đêm nay đêm ba mươi

Nằm mơ toàn chuyện Tết.

Những con Cáo,con Sói trong các truyện cổ tích loài vật hay truyện ngụ ngôn mọi người đều quen thuộc và chẳng lạ gì tính cách của chúng. Nhưng rồi ta vẫn bất ngờ khi gặp chúng trong những vai ca sĩ:

Cáo hát sòn la đô

Ngoáy đuôi theo điệu nhạc

Sói già không biết hát

Hú lên như phát rồ!

Con cá sông hiền lành,nhút nhát. Ai nghĩ lại có thể nổi máu giang hồ tiến hành một cuộc chu du về biển lớn. Gặp Còng Gió ba hoa, cô ả đã xử sự rất chi là theo kiểu cá:

Cá sông nghe khiếp vía

Dựng đứng hết cả vây

Không kịp chào Còng gió

Vẫy đuôi- đằng sau quay!

Nhân vật gặp gỡ nhân vật. Kẻ tốt có, người xấu có. Người vô tình ba hoa, kẻ cố ý mưu sâu hiểm độc. Mỗi nhân vật một khát vọng, một tính cách. Hoàn cảnh để các nhân vật gặp gỡ , va chạm, thử thách cũng rất đa dạng. Vì thế luôn có những bất ngờ, lí thú trong những điều tưởng chừng quen thuộc.

Điều làm cho những truyện thơ của Nguyễn Hoàng Sơn có một vẻ riêng biệt,độc đáo chính là sự tham gia của người viết vào diễn biến câu chuyện. Tác giả vốn là người thông minh,vui tính, thích khôi hài. Thường hay bắt gặp những nụ cười mủm mỉm giấu sau những dòng thơ tự sự, thấp thoáng sau những câu thơ có tí lí sự ngồ ngộ. Có khi nụ cười đằm trong nhận xét sắc sảo diễn đạt bằng lối nói dân gian độc đáo.

Nhân vật trữ tình tác giả vui tính, hóm hỉnh,in dấu ấn rất đậm trong từng ý thơ, tứ thơ.Anh luôn luôn có mặt kịp thời để duy trì nhịp hứng thú. Khi thì anh bắt chước kiểu kết thúc của một số truyện cổ tích châu Âu nhưng không uống rượu ướt đẫm râu như họ mà chỉ đưa ra chúng tích để câu chuyện thêm ý vị ( Chuyện bác rùa biết bay). Khi thì anh cung cấp cho Còng Gió-một anh chàng mít đặc nhưng thích huyênh hoang, những lời lẽ thật độc đáo:

Biển chỉ là cái chảo

Suốt đêm ngày sục sôi.

Nước biển là nước mắm

Tất nhiên,mặn ra trò!

Chị mà về dưới ấy

Lập tức thành…cá kho!

Anh có thể cảm thông với chú Rùa chậm chạp mà ôm mộng lớn: chí ngao du để ở bốn trời, nhưng lại cũng dễ dàng nhập vào đám trẻ con để mà tranh cãi, lí sự : Rùa nào rùa biết bayy?Đến bò còn chẳng nổi!

Sự hiện diện đa dạng và biến hóa ấy làm cho câu chuyện lúc nào cũng như có ánh sáng tỏa ra từ bên trong.

Tập thơ Dắt mùa thu vào phố được tặng giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam năm 1993, thể hiện môt năng lực sáng tạo khác của nhà thơ Nguyễn  Hoàng Sơn. Những nổi trội trong tập này không phải là những truyện thơ mà là những bài thơ ngăn ngắn. Bạn Chu Văn Sơn, giảng viên khoa văn ĐHSP Hà Nội đã viết lời bạt cho tập thơ này và anh cho nét nổi bật,cái duyên hơn người của Nguyễn Hoàng Sơn là lém lỉnh và tài hoa: “Một mình làm được cả một vườn bách thú, thông thạo nhiều ngoại ngữ: từ tiếng nước trâu đến tiếng nước hành mỡ, từ thổ ngữ ầm ầm của tiếng thác đến sinh ngữ ngọt ngào của loài kẹo. Xuống biển thạo muối,lên núi thạo nhà sàn”, tôi thấy qủa là đúng. Nhưng muốn bổ sung sự hóm hỉnh,tinh tế, đôn hậu. Tất nhiên , những nét này có thể có mặt trong sự tài hoa. Nhưng muốn tách ra như những nét riêng nổi trội. Nguyễn Hoàng Sơn đã góp cho thơ một chú Vện khá độc đáo bên cạnh chú Vàng trong Sao không về vàng ơi của nhà thơ thần đồng Trần Đăng Khoa :

Nhưng mà ngộ nhất

Là lúc nó vui

Chẳng hề nhếch mép

Nó cười bằng… đuôi!

Anh lí giải  rất ngộ nghĩnh về cái đuôi của chú voi:

Cuối cùng là cái đuôi

Vì ở rừng vắng vẻ

Voi cũng buồn một tị

Có đuôi làm… đồ chơi!

Những câu thơ tinh tế, hóm hỉnh có thể gặp trong nhiều bài,chẳng hạn Sa bẫy, Thư, Quả thị đii chơi,Hoa sen,Đêm qua chim chích ngủ đâu, Con vỏi con voi…

Điều quan trọng nhất là dù còn có ông bạn xấu, còn có các cuộc cãi nhau, có anh bạn thích tót đi chơi, nhưng thơ Nguyễn Hoàng Sơn hướng bạn đọc đến cái thiện, đến những quan hệ thân ái.gắn bó,nâng đỡ quan tâm lẫn nhau. Cái cách giáo dục của thơ Nguyễn Hoàng Sơn,nói như Xuân Diệu là in cái tốt đẹp, thánh thiện lên tâm hồn các em. Thơ Nguyễn Hoàng Sơn như lời chào của anh: Là cơn gió mát/Buổi sáng đầu ngày/ Như một bàn tay/Chân tình cởi mở…Chính vì thế mà các bạn đọc nhỏ tuổi,và cả người lớn nữa, đều yêu thích.

 V.N 

(Lời giới thiệu tập thơ Dắt mùa thu vào phố- NXB Kim Đồng, tháng 12/2007, từ trang 3 đến trang 8)

 

 

 

 

 

 NGUYỄN HOÀNG SƠN  VÀ THƠ THIẾU NHI

PGS. Nhà thơ Đặng Hấn

… Trong thơ thiếu nhi của Nguyễn Hoàng Sơn, mảng mạnh nhất theo chúng tôi,là mảng truyện thơ. Ông kể chuyện rất hóm hỉnh, có duyên và rất thơ! Truyện thơ với người khác thường chỉ là dung văn vần để kể chuyện. Với Nguyễn Hoàng Sơn, truyện thơ là mượn cớ truyện để phô diến tài thơ. Đọc truyện thơ của Nguyễn Hoàng Sơn giống như đến rạp hát để xem diễn Kiều hoặc Quan Âm Thị Kính: không phải đến để xem diễn biến câu chuyện ra sao,kết cục ai sống ai chết, ai lấy ai… mà để thưởng thức cái chất văn,chất đời trong từng câu ca,lời thoại,sướng với cái chua ngoa, đanh đá của mẹ Đốp, rớt nước mắt với câu cười của anh hề…

Trong năm truyện của tập” Sự tích rước đèn trung thu” thì có tới bốn truyện xuất sắc (có trong tập này). Tập thơ được giải của Hội nhà văn là rất xứng đáng.. “Sự tích rước đèn trung thu” đầy ắp chất nhân văn,nhân bản,cách kể lại rất sinh động, hợp với các em. Tôi nhớ có lần tình cờ nghe được Nguyễn Hoàng Sơn đọc trên đài phát thanh “Một cuộc du lịch”. Truyện kể chị cá sông định ra thăm em cá biển. Lúc đầu còn hăng hái “Nổi máu giang hồ”. Sau đường càng xa,càng ngại. Một lần ghé vào bờ nghỉ,gặp chú còng  huyênh hoang dọa:

Nước biển là nước mắm

Tất nhiên,mặn ra trò!

Chị mà về dưới ấy

Lập tức thành…cá kho!

Thế là chị sợ dựng cả vây, đành quay lại. Tôi phải bật buồn cười, thuộc ngay đoạn ấy. Trong “Truyện bác rùa biết bay”, khi rùa được nâng lên cao,ông viết rùa nhìn xuống thấy:

Đồng bằng tiếp núi đồi

Xanh non rồi xanh đậm

Sông đổ ra biển khơi

Một chấm đò lơ lửng.

“Một chấm đò”! Nghe thật sướng! Nghĩa là rùa đã lên rất cao.Thế đấy,trong văn học chỉ một từ dùng cũng biết tay cao thấp.

Cũng như trong thơ Trần Mạnh Hảo, thơ Nguyễn Hoàng Sơn có nhiều phát hiện rất mới mẻ, với những liên tưởng rất thông minh. Ông tả về hoa sen:

Đầu tiên là lá nổi

Thả diều lên mặt ao.

Và đến khi sen trổ hoa:

Hẳn nhà sen rất giàu

Bao nhiêu là áo đẹp!

Thơ viết vừa đẹp,vừa gần gũi cách nghĩ , cách nói của các em.Tuyệt vời nhất là ông phát hiện “Con vện”:

…lúc nó vui

Chẳng hề nhếch mép

Nó cười bằng…đuôi!

Theo cảm nhận của chúng tôi,Trần Mạnh Hảo và Nguyễn Hoàng Sơn là hai bậc cao thủ vào loại nhất trong số những nhà thơ viết cho thiếu nhi ở nước Việt.Ở hai nhà thơ cùng tuổi này,còn có một tài kiệt xuất “ người tám lạng kẻ nửa cân”là tài thơ ngụ ngôn..Cả hai ông đều là những bậc nổi danh xuất chúng nhận nhiều giải thưởng sang trọng. Việc các ông làm ngụ ngôn hay đã góp phần bác bỏ quan niệm cho rằng ngụ ngôn là  sở trường của những nhân tài bất đắc chí!

Trong cá tính,tôi đã nghe nhiều người nói:cả hai ông đều rất kiêu. Thực ra các ông cũng đủ tư cách để kiêu lắm chứ. Chúng tôi trộm nghĩ: cứ sáng tạo được nhiều thành tựu đi, rồi kiêu cũng rất đáng yêu. Còn hơn là chẳng có đóng góp gì,đầu óc rỗng không để rồi mà…khiêm tốn!

Phải chăng do hai ông cùng có nhiều tài năng và cá tính giống nhau, nên giữa họ đã có một cuộc đối thoại độc đáo làm kinh động cả làng Văn Đại (tức làng văn không chỉ cho thiếu nhi).Nhưng mọi chuyện rồi lại  êm xuôi ,bởi lẽ hai ông vốn là những người bạn.Và cũng như tất cả chúng ta,các ông là “ những người thích đùa”. Chuyện om sòm  chốc lát kia thì cũng như “ Chuyện bên bờ ao”và họ lại có thể bắt chước chị mái nâu mà cười xòa:

Thôi thì gà hay vịt

Cũng họ hàng nhà ta!

Cũng họ hàng nhà… văn!

 

Đ.H

 

 (Trích trong tập thơ “ Cây đèn thần” ,NXB  Văn nghệ TP Hồ Chí Minh, 8/1999, trang 217 đến trang 220)

 

 


B - MỘT SỐ TÁC PHẨM TIÊU BIỂU

 

        ĐỢI TUỔI

 

 Mẹ bảo “Ba mươi Tết

Đúng vào lúc giao thừa

Trời gọi từng người một

Rồi lấy tuổi ra cho!”

 

Mấy anh em đều lo:

Chẳng may mà ngủ mất

Trời gọi không thấy mặt

Là bé mãi thế thôi!

 

Nồi bánh lịch bịch sôi

Hương nếp bay thơm phức

Mẹ thức con cũng thức

Chờ lấy tuổi của  Trời!

 

Mẹ giục : “ Đi ngủ thôi!

Giao thừa mẹ sẽ gọi.”

Ai cũng sợ mất tuổi

Đùn nhau không chịu đi!

 

Lát sau là ngủ khì

Trên ổ rơm ấm sực

Chỉ còn mình mẹ thức

Bên nồi bánh đương sôi…

Sáng đầu năm tinh khôi

Mẹ gọi con và bảo:

Mẹ đã gặp ông Trời

Đựng tuổi trong …túi áo

Thấy các con ngủ ráo

Trời để tuổi một bên

Nên sáng nay mẹ thấy

Đứa nào cũng lớn thêm!”

                   Tết Bính Thìn 1976

 

 

 

 

 

 

 

 

        MÂY

 

Lúc mặc áo trắng

Lúc mặc áo xanh

Lúc choàng áo xám

Thay dạng đổi hình

 

Buổi sáng bên đoài

Chiều về bên đông

Bạn cùng ngọn gió

Tháng ngày thong dong…

 

Là con của nước

Đi học trên trời

Bỗng dưng nhớ mẹ

Liền rơi… rơi… rơi.

                         8/1976

 

 

 

 

 

 

 

        HOA SEN

 

Suốt mùa đông giá buốt

Sen ngủ say trong bùn

Mây màu chì,gió bấc

Con sóng chừng cũng run!

 

Tháng Giêng hoa đào nở

Cùng người vui đón xuân

Tháng Hai hoa gạo đỏ

Hoa xoan rơi tím vườn…

 

Nước dần dần ấm hơn

Tháng Ba về rồi đấy!

Trời cử cô mưa rào

Đến gọi sen thức dậy

 

Đầu tiên là lá nổi

Thả diều lên mặt ao

Búp non xuyên thủng nước

Nụ sen hồng nhô sau

 

Nụ chưa nở ngay đâu

Chừng như còn ngại rét?

Hẳn nhà sen rất giàu

Bao nhiêu là áo đẹp!

 

Một hôm mưa vừa tạnh

Nước dềnh lên rất đầy

Tiếng chim ca lanh lảnh

Trời xanh và mây bay…

Ông mặt trời đỏ gay

Gió qua không lạnh nữa

Sen cởi tung áo màu

Góp hương vào mùa hạ.

 

Gốc sen dầm trong nước

Nên hương sen mát lành

Vô tình đôi cánh rụng

Gió thả thuyền lênh đênh…

                                  11/1977

 

 

 

 

 

 

 

 

       CON VỆN

 

Mỗi khi nó chạy

Cái đuôi cong lên

Đuôi như bánh lái

Định hướng cho thuyền.

 

Rời nhà xa ngõ

Đuôi quắp dọc đường

Đuôi buông ủ rũ

Là khi nó buồn…

 

Nhưng mà ngộ nhất

Là lúc nó vui:

Chẳng hề nhếch mép

Nó cười bằng…đuôi!

 

 

 

 

 

 

 

 

        CHÚ

 

 Chú gà đi học

Nó đọc ó…o

Nó dậy từ sớm

Nó học cả trưa!

 

Nhưng mà buồn quá

O tròn nghe vui

Chữ viết ,eo ơi

Xấu như…gà bới!

                              5/1978

 

 

 

 

 

 

 

 

        LỜI CHÀO ĐI TRƯỚC

 

 Đi đến nơi nào

Lời chào đi trước

Lời chào dẫn bước

Chẳng sợ lạc nhà

Lời chào kết bạn

Con đường bớt xa…

Lời chào là hoa

Nở từ lòng tốt

Là cơn gió mát

Buổi sáng đầu ngày

Như một bàn tay

Chân tình ,cởi mở…

 

Ai ai cũng có

Chẳng nặng là bao

Bạn ơi đi đâu

Nhớ mang đi nhé!

 

 

 

 

 

 

 

 

        CON VỎI CON VOI

 

         Bạn sinh ở Thủ đô

Rừng là gì, chửa biết

Mời bạn đến công viên

Xem voi là hiểu hết:

 

Rừng là…cây xúm xít

Nên voi mới có vòi

Vướng cành vòi bẻ “rắc”

Trong rừng đi như chơi!

 

Đường rừng lắm loại gai

Lòng suối nhiều đá sắc

Nên da voi rất dày

Chân đạp gì cũng nát.

Tai voi là cái quạt

Muỗi rừng nhiều , quạt bay.

Rừng cũng còn kẻ ác

Nên ngà voi phải dài!

 

Cuối cùng là cái đuôi?

Vì ở rừng vắng vẻ

Voi cũng buồn một tị

Có đuôi làm… đồ chơi!

 

Voi đứng trong vườn thú

Voi là rừng về xuôi!

                              8/1980

 

 

 

 

 

 

        MỠ VÀ HÀNH CÃI NHAU

 

Mỡ và Hành cãi nhau:

- Mùi thơm là của tao!

- Không, của tao!

                         Hành hét.

 

Củi cháy nổ lép bép

Chúng chẳng nghe thấy gì

Lát sau Hành đen sì

Mỡ bay mùi khét lẹt.

Cuộc cãi nhau cũng hết!

                                 2/1979

 

 

 

 

 

 

 

        CÂY PHƯỢNG

 

Bé Quỳnh tập làm văn

Đề: tả cây phượng vĩ.

Ngồi cắn bút tần ngần

Tả cách nào đây nhỉ?

 

Bốn năm cây phượng vĩ

Bóng rợp cả sân trường

Bao mùa hoa phượng vĩ

Đỏ rực các nẻo đường…

 

Quá quen đến coi thường

 

 

 

 

 

 

 

         ĐÊM QUA CHIM CHÍCH NGỦ ĐÂU

 

Đầm sen bát ngát hồng tươi

Có anh chim chích tìm mồi ngẩn ngơ

Mặt trời lặn xuống bất ngờ

Cánh sen khép lại chẳng chừa lối ra!

Thôi đành ngủ lại trong hoa

Chật thì có chật nhưng mà thật thơm!

Suốt đêm giấc ngủ chập chờn

Bông sen gió thổi rập rờn, ngả nghiêng…

Sáng ngày sen mở cửa sen

Mừng rơn chim vụt bay lên giữa trời!

Thơm thơm từ mỏ đến đuôi

Sau đêm ngủ trọ tuyệt vời giữa hoa…

 

 

 

 

 

 

 

 

         VẼ CÁI ẤM

 

Vẽ cái ấm không khó:

Đầu tiên vẽ trái cam

(Có thể không tròn lắm)

Thế là xong cái thân.

 

Rồi vẽ thêm cái vung

Nối cái vòi cho khéo

Vung có núm dễ cầm

Quai ấm vờn thật dẻo.

 

Thân ấm vẽ hoa lá

Hoặc thêm cá thêm chim

Khéo tay thì đánh bóng

Tô màu gì tùy em…

 

Anh chỉ nhắc đừng quên:

Cái lỗ con trên nắp

Để khi bố pha trà

Rót nước ra khỏi tắc!

                          11/1980

 

 

 

 

 

 

 

 

         ỐC SÊN

 

Đội nhà như ốc

Có râu như sên

Hẳn là vì thế

Nên mới thành tên?

Sên chậm rì rì

Ốc càng ì ạch

Rõ khéo rủ rê

Hai anh làm một!

 

Hai tầng chậm chạp

Chẳng làm nhanh thêm:

Ốc vẫn là ốc

Sên cứ là sên!

                       9/1980

 

 

 

 

 

 

 

         THƯ

 

 Bạn Quý và bạn Thảo

Cùng học lớp vỡ lòng

Hôm qua bạn Thảo mệt

Bạn Quý gửi thư sang.

 

Bạn Thảo mở thư ra

Cả nhà đều tròn mắt:

Thư viết toàn chữ A

Nét bút chì nguệch ngoạc!

 

Thế mà Thảo hiểu hết

Đây là Quý hỏi thăm

Nói: Quý nhớ Thảo lắm

Hỏi: Thảo nhớ Quý chăng?

 

…Những chữ A ở cuối

Là Quý chúc chóng khỏi

Để hai đứa đến trường

Cùng học thêm chữ mới!

                                12/1980

 

 

 

 

 

 

 

       VỊT ĐÁNH VỠ TRỨNG NHƯ THẾ NÀO?

 

 Gà than: ấp trứng khó

Vịt dẩu mỏ: Thường thôi!

Đôi bên sinh cãi cọ

Dễ gì ai chịu ai!

 

Vịt về ăn nhiều thóc

Đẻ một ổ trứng đầy

Rồi tự mình ủ ấp

Ý cho gà biết tay!

 

Nhưng chị chàng loay hoay

Trứng va nhau vỡ nát!

Vịt xấu hổ với gà

Bỏ đi,kêu ‘Mặc! Mặc!”

 

Còn gà hay cục tác

Đố bạn biết vì sao?

Ấy là gà bảo nhau:

“Vịt nói khóac! Khoác! Khoác!”

                                              2/1981

 

 

 

 

 

 

         QUẢ THỊ ĐI CHƠI

 

Cây thị bên cầu ao

Suốt đời không đổi chỗ

Quả thị trên cành cao

Muốn đi đây đi đó!

 

Mùa hè nhiều mưa gió

Đâu phải mùa đi chơi?

Quả thị đành khép vỏ

Nằm mơ về xa xôi…

 

Trời bỗng dưng cao vời

Nắng hanh se ngọn gió

Mặt ao thành gương soi

Vệt sương đằm lối cỏ…

 

Mùa thu về gõ cửa

Giục thị thay áo vàng

Kịp lên đường hớn hở

Bước đi giờ xênh xang…

 

Trông kìa: Quả thị vàng

Dắt mùa thu vào phố

Mang theo câu chuyện cổ

Thị kể bằng mùi hương…

                                  8/1981

 

 

 

 

 

 

NGUỒN GỐC CÚ ĐÁ HẬU KINH HỒN CỦA HỌ HÀNG NHÀ NGỰA

 

Chú Ngựa xưa thuần lắm

Suốt đời ăn cỏ xanh

Nên tính khí hiền lành

Sừng cũng không mọc được!

 

Nhưng nhiều khi rất cực:

Hiền,nên lắm kẻ trêu

Có cái đuôi mĩ miều

Họ cũng lừa cắt mất!

 

Ngựa mất đuôi ấm ức

Về suy nghĩ ba đêm:

Hiền nhưng không thể hèn

Phải luyện chân cho khỏe…”.

 

Ấy đầu đuôi là thế:

Hoa hồng phải có gai

Vì quý cái đuôi dài

Ngựa có thêm cú đá!

                     9/1984

 

 

 

 

 

 

 

 

        VƯỜN BÁCH THÚ

  

Bố làm con vịt lội ao

Vỗ cánh kêu ầm cạc…cạc

Bố làm con nghé chiều nào

Nghé…ọ nhìn quanh ngơ ngác…

 

Bố vừa là chuột chít… chit

Bỗng lại hóa mèo ngoao…ngoao

Con ếch mừng mưa ộp …ộp

Trăng buồn chó sủa gâu…gâu

 

Con cò ở dưới đồng sâu

Con vẹt trên rừng xa ngái…

Nghe tiếng kêu cùng chạy lại

Vui vầy với bố con ta!

                            10/1986

 

 

 

 

 

 

 

       CHIẾC BÁNH LANG LIÊU

 

Gạo nếp ngon đồng bằng

Lá dong tươi trên núi

Đậu xanh nơi bãi sông

Tiêu thơm vùng đảo nổi…

 

Bao vùng quê tụ hội

Trong khoanh bánh mịn màng

Năm cũ và năm mới

Buộc nhau bằng sợi giang…

Đã qua mấy ngàn năm

Bánh vẫn rền vẫn dẻo

Tình người con chí hiếu

Bay thơm cả đất trời!

                               1990

 

 

 

 

 

 

        SA BẪY

 

Bé Mây rủ Mèo con

Đánh bẫy bầy chuột nhắt

Mồi thơm: Cá nường ngon

Lửng lơ trong cạm sắt!

 

Lũ chuột tham hóa ngốc

Chẳng nhịn thèm được đâu!

Bé Mây cười tít mắt

Mèo gật gù,rung râu…

 

Đêm ấy Mây nằm ngủ

Mơ đầy lồng chuột sa

Cùng Mèo con đem xử

Chúng khóc ròng,xin tha!

 

Sáng mai vùng xuống bếp:

Bẫy sập tự bao giờ!

Chuột không,cá cũng hết

Giữa lồng,Mèo nằm… mơ!

                                             5/1992

 

 

 

 

 

 

         TUỔI TÝ

 

Có một lớp Sáu nọ

Xuân này chợt nhận ra:

Chúng mình đều tuổi Chuột

Sao nhiều điều khác xa?

 

Cô Mây tính nhút nhát

Hơi trêu đã khóc nhè

Thôi đúng là chuột nhắt

Đẻ mười hai giờ khuya!

 

Cô Thảo thì bậm trợn

Nói cười như con trai

Có phải là chuột cống

Đến Mèo còn sợ oai?

 

Cô Quỳnh nhà giàu quá

Số  chuột bạch trong lồng

Cậu Bảo sao vất vả

Tuổi chuột đồng long đong…

 

…Dù thế này thế khác

Bọn mình hứa giúp nhau

Sang hè không ai rớt

Khỏi ngồi cùng lớp…Trâu!

 

 

 

 

 

 

NGUYỄN HUY TƯỞNG

- Họ và tên khai sinh: Nguyễn Huy Tưởng

- Sinh năm 1912

- Mất năm 1960

- Bút danh: Thao Trường

- Quê quán: Làng Dục Tú, Từ Sơn, Bắc Ninh nay thuộc huyện Đông Anh, Hà Nội

- Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam (từ 1957)

- Hội Nghệ sỹ Sân khấu Việt Nam.

 

- Tác phẩm chính đã xuất bản:

   * Đêm hội Long Trì (Tiểu thuyết, 1942)

   * Vũ Như Tô (Kịch, 1943)

   * Anh Tư (Tiểu thuyết, 1944)

   * Bắc Sơn (Kịch, 1946)

   * Những người ở lại (Kịch, 1948)

   * Anh Sơ đầu quân (Tập kịch, 1949)

* Ký sự Cao Lạng (1951)

* Truyện Anh Lục (Tiểu thuyết, 1955)

* Bốn năm sau (Tiểu thuyết, 1959)

* Lũy Hoa (Truyện phim, 1960)

* Sống mãi với thủ đô (Tiểu thuyết, 1961)

Và nhiều truyện viết cho thiếu nhi.

 - Giải thưởng văn học:

   * Giải B truyện và ký sự giải thưởng Văn nghệ 1951-1952 của Hội Văn nghệ.

   * Giải Nhì tiểu thuyết, Giải thưởng Văn học của Hội Văn nghệ Việt Nam 1954-1955.

* Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học Nghệ thuật đợt I (1966).

- Suy nghĩ về nghề văn:

           “Một nghề nghiệp cao quí biết bao là nghề viết văn. Đưa lại cho đời một bó đuốc, không to thì nhỏ. Biểu hiện những tư tưởng cao thượng, làm cho con người thương nhau, hiểu nhau, tới với nhau… Đẹp vô cùng. Và phấn khởi vô cùng.

             Nghề gì cũng đẹp, miễn đấy là một nghề. Nhưng có cái nghề nào thú vị hơn nghề văn, nó lấy nguyên liệu chính là con người, một cái gì đẹp nhất, toàn diện nhất, kỳ diệu nhất của sự sáng tao?

             Đừng viết cái gì sai với sự thực của con người, dù là dưới hình thức phục vụ. Người là thật. Phải thật với người.”

 


A - TRONG KÝ ỨC BẠN BÈ

 

NGUYỄN HUY TƯỞNG - MỘT NGƯỜI THẦY,
MỘT NGƯỜI BẠN, MỘT NGƯỜI ANH...

 Đoàn Giỏi 

Những ngày cuối tháng tư, Thành phố Hồ Chí Minh chiều nào mưa cũng ào qua một trận(1). Đường phố nóng nung, ồn ào, khói bụi, sau mưa lại hiện ra quang quẻ, mát rợi như mới tinh khôi. Mượt mà những tán lá me non xanh biếc, còn đậu lấp lánh những giọt nước trời đong đưa, loe loé chiếu như ngọc giát.

Tôi sang đất Gia Định cũ, vào quận Bình Thạnh tìm anh Nguyễn Huy Tưởng. Xăm xăm qua khỏi Trường Cao đẳng Mỹ thuật một quãng khá xa, tôi dần dần chậm bước, bồi hồi đứng lặng nhìn lên tấm biển xanh chỗ góc con đường rẽ phải, vừa mới mang tên anh.

“Anh Tưởng ơi! Bây giờ thì anh em ta đã vào cả đây rồi!” Tôi thầm kêu lên, thở dài nhè nhẹ và đưa mắt ngóng nhìn quanh quất. Tưởng như anh đang đứng trước mặt tôi, tưởng như anh từ một ngôi nhà nào đó, của những dãy biệt thự nhỏ nhắn, yên tĩnh, mát rợp bóng cây cảnh và cây ăn quả vừa trông thấy tôi, anh vội mở cổng bước ra, cười hà hà.

Một cảm giác lạ lùng như mộng ảo vừa đột ngột xâm chiếm cả tâm hồn tôi. Tôi đang đi tìm lại anh một mình, hay đang sóng bước cạnh anh, như tự những ngày đầu bỡ ngỡ, giữa “náo nhiệt kinh kỳ” lăng lắc thuở nào?

- Bao giờ giải phóng miền Nam, tôi sẽ rước anh về quê tôi chơi. Có mắm ăn mắm, có muối ăn muối, chúng tôi sẽ đưa anh đi cùng khắp! - Nhiều lần, trong các câu chuyện vui, hào hứng tán về miền Nam, tôi đã hứa với anh như thế. Anh cười hà hà. Nụ cười nở rộng, khoáng đạt hiền lành, hết sức cởi mở:

- Lo gì! Ăn chợ ngủ đình càng hay. Nhất định mình sẽ vào mà. Nam Bộ là miền đất cực kỳ hấp dẫn, đất của những con người vũ dũng, kiểu Cô-dắc sông Cửu Long... Đất của tiểu thuyết mà!

Sau này, cùng với Hoàng Trung Thông ngồi nghe Nguyễn Quang Sáng đọc bản thảo tiểu thuyết Đất lửa mới viết lần đầu, anh đã kêu lên: “Đất của tiểu thuyết! Cuộc sống ngồn ngộn, roi rói, đầy sẵn... Chỉ cần có những tay nghề vững nữa thôi! Mình sẽ theo các cậu vào mà!”.

Định mệnh khắc nghiệt và tàn nhẫn đã khiến cho mộng ước của anh và lời hứa của anh em viết trẻ Nam Bộ bất thành. Nguyễn Huy Tưởng đã mất ngày 25 tháng 7 năm 1960, chưa tròn bốn mươi tám tuổi! Chưa bao giờ tôi thấy câu: “Giai nhân tự cổ như danh tướng - Bất hứa nhân gian kiến bạch đầu” sao mà vô duyên, vô nghĩa như lúc ràn rụa nước mắt, đỡ một đầu quan tài anh lần xuống bậc thang gác của ngôi nhà 51 Trần Hưng Đạo!

*
*      *

Ngẫu nhiên nào đã xui tôi lần đến quán “Thuỷ hử” - ngõ Ngô Sĩ Liên - gặp hoạ sĩ Nguyễn Sáng, trước khi rời Hà Nội. Từ khi anh Tưởng mất, hoạ hoằn tôi mới đến đây. Có lẽ là do quán tính xưa, cũng có thể là để “cốt mua lấy một chỗ ngồi trong khi tắc khách” nói như kiểu Lỗ Tấn trong câu chuyện Trên lầu tiệm rượu.

- Ủa, ông đến bao giờ? - Nguyễn Sáng vừa từ phòng triển lãm tranh của anh ở viện Bảo tàng Mỹ thuật gần đấy, cuốc bộ vào, ngạc nhiên kêu lên.

- Ngồi khoảng nửa tiếng...

- Nghe đồn như ông tính “hồi hương” hả?

Tôi cười cười, im lặng, chẳng biết nên đáp thế nào cho phải. Nguyễn Sáng vụt cười lớn, móc ví ra mấy tờ giấy đánh máy, bên dưới đỏ nhoè dấu son:

- Mình có quyết định hưu mấy tháng nay đây. Và giấy giới thiệu về Sài Gòn đây. Nhưng mình cũng còn cứ phân vân. Đành rằng trước sau gì rồi cũng về! Huỳnh Văn Gấm đã về rồi...

Vẫn là cái không khí bình dân cố hữu, với cút rượu, vài ba món nhắm hết sức khiêm tốn như ba mươi năm về trước, cho dù bây giờ ngôi quán lụp xụp đã lên tường sáng sủa và lát bóng gạch men hoa. Quán “Thuỷ hử” chỉ còn lại cái tên, trong ký ức một số lớp người cũ như bọn tôi. Vì sao gọi là quán “Thuỷ hử”? Có lẽ phải nói qua chỗ này một tý. Xưa, đây là khu chợ giời, có trại tế bần nằm đây, nơi tập trung dân cư tứ chiếng, phu xích lô, phu bốc vác ga Hàng Cỏ... dân đánh Tây quanh khu vực đều chạy về đây. Tây say lảng vảng mò vào đây đều ăn đòn. Cụ cả Vạch chủ quán là người “chứa chấp” đám này, mật thám đều nói vậy, và cụ cũng đã vài ba lần bị điệu về bót tra khảo. Anh em phe ta hoạt động nội thành rải truyền đơn, cắm cờ trên nóc bốt cảnh sát địch cũng trà trộn ở đây, chẳng hạn như Lưu Toét là khách thường xuyên có mặt. Khi ta về tiếp quản thủ đô, quán vẫn nhộn nhịp như xưa. Nói lều thì đúng hơn, ba bề trống hoác, ngoài lá trong lợp tôn. Nền đất cũng như ngõ đất - bấy giờ còn gọi là ngõ Sinh Từ - góc che vách bếp đều trát đất. Khách mới, có thêm một số anh em văn nghệ sĩ từ các chiến khu về. Quán chỉ bán từ sáu giờ chiều, gần như sáng đêm, hầu như giờ nào cũng lai rai có khách bởi các chuyến tàu đi về. Một cút rượu một hào, tô cháo gà năm xu, hai xu đĩa lạc, ba xu đĩa đậu rán... Chỉ đôi ba hào, có thể mời bạn bữa rượu tươm tươm. Lần đầu tiên, anh Nguyễn Huy Tưởng đưa tôi đến đây vào một buổi chiều mưa rét, cuối năm 1955.

- Chỗ nào ta cũng phải biết. Khắp chốn, đủ mọi lớp người! - Anh động viên tôi rồi bước vào cười với ông chủ quán: “Giới thiệu cụ, một khách mới. Anh bạn tôi đây, người Sài Gòn!”.

Cụ cả Vạch người cao to, đậm đạp, trông dữ tướng (vốn là tay giỏi võ) nhưng lại có đôi mắt và nụ cười mỉm mỉm rất hiền:

- Rước hai ông vào! Mưa gió thế này...

Anh Tưởng vui vẻ đỡ lời:

- Thì càng thêm ấm cúng chứ sao, cụ!

Chúng tôi vừa mắc áo mưa bên cột xong, quay lại đã thấy mấy ông khách ở bàn giữa dồn lại, lấy chỗ cho chúng tôi ngồi và người nào cũng khẽ gật đầu chào anh Tưởng. Sau tôi mới biết, anh cũng chẳng rõ họ là ai, có thể quen mặt ở quán, có thể họ biết anh qua cụ Cả cũng nên.

Anh Nguyễn Tuân thỉnh thoảng cũng đến đây. Hầu như gần khắp mặt “danh sĩ Bắc Hà”, từ Nguyên Hồng, Tô Hoài, Văn Cao, Đỗ Nhuận, Nguyễn Xuân Khoát, Bùi Xuân Phái, Hoàng Trung Thông, Như Phong, Huyền Kiêu, Thanh Châu, Mai Văn Hiến...

Quán “Thuỷ hử” là do hoạ sĩ Nguyễn Sáng đặt. Anh em quen gọi, lâu ngày thành tên. Chẳng biết do ai xướng xuất, mặc nhiên Nguyễn Huy Tưởng được suy tôn thành một Tống Giang.

Khi anh Tưởng mất rồi, có lần cụ cả Vạch bùi ngùi bảo tôi:

- Con người hiền lành, đức độ, ai cũng mến cũng quý. Vậy mà Trời chỉ cho ăn có bao nhiêu lộc đó. Tạo hoá thật là bất công. Chẳng biết ngày xưa ông Tống Giang trong truyện Tàu mẹo thu phục hào kiệt thế nào, chứ tôi thấy ông Tưởng đúng là bậc hiền giả, tự cái đức nó chinh phục mọi nhân tâm, mà ông còn hơn Tống Giang về mặt tài hoa, trí lự...

Phải nói, ai tiếp xúc với anh cũng đều có cảm tình ngay. Nguyễn Huy Tưởng là người được nhiều giới trong văn học nghệ thuật yêu bằng tình bạn, tình thầy trò và kính nể, không như đối với người có chức quyền.

Ngày anh mất, giới sân khấu cải lương: Sỹ Tiến, Sỹ Hùng, Tuấn Sửu, Ngọc Dư, Kim Xuân, Lệ Thanh v.v. tác giả diễn viên đều đi đưa đám anh. Trần Văn Cẩn, Nguyễn Văn Tỵ, Trần Đình Thọ, Huỳnh Văn Thuận, Sỹ Ngọc, Phan Kế An, Dương Bích Liên, Nguyễn Tư Nghiêm... nói chung anh em hoạ sĩ đều rất quý anh. Kiến trúc sư Nguyễn Cao Luyện thì càng thân tình, rất quý mến anh. Việt Dung viết Chiếc vai cày được anh hết sức nâng đỡ, xây dựng lúc còn ở Việt Bắc (Tuyên Quang). Một nhà văn như Nguyễn Huy Tưởng gặp Việt Dung bấy giờ là người viết mới, trong tình thầy trò còn thắm thiết một tình bạn. Cho đến bây giờ, Việt Dung vẫn thường tâm sự với anh em: “Tôi rất muốn dựng được một vở kịch, hay chuyển thể một vở kịch, một tiểu thuyết của anh Tưởng ra cải lương, ra chèo để diễn ở thủ đô. Như Sống mãi với Thủ đô chẳng hạn. Nhưng còn ngại sức mình, mãi chưa dám làm. Giá được người trình độ như anh Tưởng đứng ra làm, tôi sẽ theo, góp thêm chút nào đó của phần mình. Điều tôi vẫn hằng nghĩ và áy náy, nhiều lúc đến xốn xang...”.

Anh em văn nghệ quân đội danh rạng ngày nay như Hồ Phương, Hữu Mai, Hoài An, Từ Bích Hoàng v.v. đều quý anh, ơn anh. Lớp bộ đội 308 mở ở Phúc Trìu, Hồ Phương viết Thư nhà, Siêu Hải viết Voi đi... đã được anh hết sức động viên, khuyến khích. Đường lối văn nghệ của Đảng, kinh nghiệm, kiến thức của anh có bao nhiêu, anh mang hết ra truyền lại, hướng dẫn cho lớp trẻ. Trước tiếp quản thủ đô, anh chỉn chu lo mở lớp cho đoàn văn nghệ sĩ từ trong thành ra vùng tự do học tập (trong đó có nhiều anh chị em sân khấu cải lương). Về lại thủ đô ít lâu, anh đôn đốc, đứng ra mở ngay một lớp ở Khương Thượng - vừa là lớp hướng dẫn, vừa là trại viết - cho Chu Văn, Ngô Ngọc Bội, Châu Diên, Vũ Thị Thường, Văn An... giờ đều thuộc hàng những cây bút tên tuổi của cả nước.

Tết 1955, tôi viết Đèn tôi bay về Lục Hồ Chí Minh và sau đó viết thêm bài ký Cây đước Cà Mau, anh đến chơi, tươi cười bảo tôi: “Thấy vảy thấy cựa, có mã rồi đấy. Đứng được trường chọi, cậu còn phải nỗ lực cố gắng, mất nhiều “tử công phu” đấy!”.

Khi thì anh gọi tôi bằng cậu như em út, lúc thì gọi tôi bằng ông “tớ tớ ông ông” như trang bằng vai phải lứa, chẳng kể tuổi đời tuổi nghề, chẳng hề phân biệt chiếu dưới chiếu trên. Điều anh luôn nhắc nhở tôi là “chú trọng sắc thái địa phương nhưng đừng có abuser(2) ngôn ngữ” và luôn dặn dò tôi phải chịu khó ghi chép hằng ngày (như Tô Hoài) và “khiêm tốn học tập”. Nói chuyện công việc nghề nghiệp, anh phân tích kỹ thế nào là cá tính và tính cách nhân vật, thế nào là đột phát, xếp intrigue(3) là thế nào, để làm gì... Xem cách làm việc nghiêm túc của anh, tôi không ngờ anh thận trọng, chu đáo, tỷ mỷ đến vậy. Nhân vật của anh đều có từng bản lý lịch riêng. Nhân vật phải có nghề nghiệp, anh nhấn mạnh - thậm chí địa bàn hoạt động của họ ngay trong một huyện, xã, chỗ nào nhà ở, đình chùa, sông núi cũng vẽ thành bản đồ - tất nhiên là tất cả đều do anh tạo nên, chưa nói tính chính xác của giai đoạn lịch sử thời kỳ đó phải được bảo đảm hết sức tôn trọng.

Sau đợt đấu tranh chống “Nhân văn Giai phẩm”, đã xác định, củng cố lập trường tư tưởng, Đảng chủ trương tất cả anh chị em văn nghệ sĩ miền Bắc cần thiết phải có đợt thâm nhập thực tế mới, do tuỳ thích tự chọn. Ai cũng gọn ghẽ ba lô, hăm hở lên đường. Nguyễn Huy Tưởng, Nguyễn Tuân, Văn Cao về nông trường Điện Biên. Ba tháng, từ nông trường quân đội của sư đoàn miền núi xa xôi này, ba lần anh viết thư về cho tôi kể nhiều chuyện lý thú, và lần nào cũng khuyên tôi chú trọng giữ gìn sức khoẻ, động viên tôi cố gắng “làm được một cái gì”. (Bấy giờ tôi đang ở huyện Kỳ Sơn, Hoà Bình, Bùi Đức Ái, Nguyễn Quang Sáng... thì ở cảng Hải Phòng). Anh Nguyễn Tuân còn gửi kèm cho tôi một chiếc lá ban xanh - mà anh bảo nó là con bướm xanh hay một vó câu xanh - và gạch thêm: Lenfantement de l’oeuvre commence toujours dans la douleur et se prolonge dans la joie du prochain...(4) Và nói, “Ông đừng tìm tòi, tưởng câu này là của nhà văn nước nào. Nó là của mình. Mình và Tưởng viết thư cho ông, đang hứng thì nó bậy bạ buột ra tiếng Tây như vậy đó thôi!” (Thư ngày 26 tháng 10 năm 1958). Trở về Hà Nội ít lâu, anh Tưởng viết xong tiểu thuyết Bốn năm sau nói về những con người trồng cam của một nông trường quân đội, dựa trên thực tế chuyến đi. Nguyễn Tuân cũng viết xong một truyện, một scénario, làm được một bài thơ khá hay, chưa kể thu nhiều ghi chép.

Từ những năm mới về thủ đô cho đến khi anh lâm bệnh, qua đời, Nguyễn Huy Tưởng vẫn hay rủ tôi đi ăn, đi chơi. Có khi tình cờ gặp nhau ngoài phố, có khi nhân việc gì đó tôi đến anh, mà thường là anh chủ động tìm đến, rủ tôi. Anh hay bảo anh Tuân: “Ta phải dắt thằng cu này - trỏ tôi - đi chơi, cho nó thấy qua Hà Nội, kẻo nay mai, nó về mà chưa kịp hiểu biết gì!”. Lệ thường ai rủ phải bao. Anh Tưởng giống Nguyễn Tuân chỗ hay rủ. Hôm nào, lâu không có nhuận bút, túi không xủng xoảng thì Nguyễn Huy Tưởng cười tuyên bố luôn: “Bữa nay KAMA đấy nhé!” (KAMA là không ai mời ai, là cùng góp vào, tiếng lóng các anh quen dùng hồi ở chiến khu).

Từ Đại lầu đến Hoan lạc viên của người Tàu, đến bà bún thang đeo chuỗi ngọc xanh trong chợ Đồng Xuân, bà nem chua giò chả ở chợ Hàng Da, ông kính cận canh giò sấu phố Hàng Buồm, ông Văn Phú ếch tẩm bột rán phố Ga, ông Sinh thịt chó chợ hoa Cống Chéo, bà cụ chả cá phố Hàng Lược... từ ông quán cởi trần mặc quần đùi, đến ông quán mặc Tây đeo cà vạt, đến bà quán tóc trần cuốn làn khăn nhung, mặc the tứ thân nâu, trịnh trọng đưa cơi trầu ra mời khách quen xưa (Tưởng - Tuân) giọng chậm rãi, đặc người Hà Nội cũ: “Ối dào! Các ông đã về. Thật là quý hoá quá. Chẳng hay quý ông nhậm chức đây hay rồi còn phải đổi đi đâu...”. Nói chung, hầu khắp kiểu người, kiểu quán tiệm Hà Nội còn rớt lại khi ta mới về, anh đều lần lượt đưa tôi đi khắp. Tất nhiên các khu lao động, nhà máy, bến phà, các làng hoa, thắng cảnh ngoại thành ven Hồ Tây là những nơi anh đưa tôi đến trước tiên. Đêm trung thu, anh dắt tay tôi đi Hàng Ngang - Hàng Đào - Hàng Mã - Hàng Đường xem các nhà còn giữ tục bày cỗ... Và từng chập anh dừng lại, bảo quãng này hồi toàn quốc kháng chiến, tự vệ thủ đô đã đục tường xuyên suốt cả dãy để tử thủ chiến đấu, chỗ kia đồng bào thủ đô đã lôi cả bàn ghế giường tủ ra làm vật chướng ngại, chỗ nào “Sao vuông” ôm bom ba càng đâm vào tăng địch, giữ khu chợ Đồng Xuân, v.v. Tết Nguyên đán, chiều ba mươi nào anh cũng đến thăm anh em viết miền Nam, thăm Đinh Quang Nhã, Hồ Thiện Ngôn, Hoàng Tố Nguyên... đem biếu bánh chưng, chuyện chơi cho anh em đỡ nhớ nhà. Anh thường ca ngợi Xích Liên (tức sư Thiện Chiếu) về sự uyên thâm, thán phục Trần Văn Giàu về tài hùng biện, từng “thách thức bọn Quốc dân đảng tranh luận trong cuộc mít tinh trước Nhà hát Lớn, mà chúng nó chịu im như thóc”...

Hè năm 1983, Marian Tkachev(5) sang Hà Nội, đêm uống rượu tại buồng tôi (có Nguyễn Văn Bổng, Nguyễn Quang Sáng) anh cứ nhắc mãi Nguyễn Huy Tưởng:

- Mùa đông năm 1959, lần đầu tiên từ Liên Xô sang Việt Nam, tôi cũng ngồi tại buồng này với ông, ông Tưởng, ông Tuân. Hôm đó, ông Tưởng còn mang tới thêm món tái dê... - Rồi anh thở dài, mặt buồn buồn. Trong các buổi trò chuyện về sân khấu, Marian Tkachev hay nhắc anh Tưởng, tiếc người “tài hoa mệnh bạc”, hay nhắc “Vũ Như Tô xây Cửu Trùng Đài” và anh cho đó là “vở kịch hay nhất của ông Tưởng, hơn cả Bắc Sơn, Luỹ hoaNhững người ở lại...

Những ngày ốm nặng, trước cái chết đến từng ngày, Nguyễn Huy Tưởng vẫn bình tĩnh, can đảm, thản nhiên như không. Anh em cho là anh không biết bệnh. Không đâu. Anh rất biết, nhưng vẫn làm ra vui vẻ. Kim Lân xót quá, đề nghị Hội Nhà văn cho được vào bệnh viện ở liền với anh, một phần cũng lo chị Uyên (vợ anh) yếu về tinh thần, các cháu đều còn nhỏ (bấy giờ Huy Hiền là con gái lớn đang học ở Đức). Nhiều lúc bệnh chuyển nguy, trông anh mệt mỏi rã rời, mà Nguyên Hồng vào thì anh tỉnh táo hẳn, ngồi dậy, chuyện trò hoạt bát. Nguyên Hồng lòng đau như cắt, vẫn cố pha trò, kiếm chuyện nói ba lơn cho anh vui. Và anh vui thật, cứ cười luôn.

Sổ tay tôi còn ghi tóm tắt vài dòng, hồi mới biết anh:

“Nguyễn Huy Tưởng

Trí thức - Đôn hậu - Hàng danh sĩ quốc gia. Người quê Dục Tú (Bắc Ninh) xưa là công chức ở Hải Phòng, Hà Nội - Hoạt động truyền bá quốc ngữ trước Cách mạng tháng Tám. Đảng viên. Kháng chiến ở Việt Bắc”.

Ngày đó, tôi chỉ mới biết có vậy!

*
*       *

Hôm gặp Nguyễn Sáng ở quán “Thuỷ hử”, anh vui lắm, mặt mày đỏ lơ đỏ lưởng như gà chọi, hất hàm hỏi tôi:

- Hôm mình khai mạc triển lãm, ông đi đâu?

- Ở đây... Nhưng mình quên mất. Đầu óc mụ mị thế nào ấy!

- Trời, có mặt đông đủ bạn bè. Chỉ thiếu ông Tưởng! Mình nhớ nhất Tưởng!

- Ông thấy anh Tưởng thế nào... Tôi vừa kịp nghĩ sao mình lại lẩm cẩm hỏi Sáng một câu vô duyên thế, nhưng chưa kịp biết nên nói thế nào để gỡ lại, thì Sáng đã điểm điểm ngón tay lên bàn, cười xác định:

- Artiste et écrivain émérite - Chevaleresque et bon papa!(6)

- Sao dạo này ông sính nói tiếng Tây thế?

- À, mình đang hứng, đang vui, mà Tưởng lúc vui lúc hứng cũng thường hay chêm tiếng Tây! Mà sao trông ông có vẻ buồn vậy?

- Không vui mà cũng không buồn. Nó cứ bâng khuâng thế nào ấy!

- Vậy là ông tính xa anh em chứ gì? Về gửi xương tàn ở đất quê à?

Tôi uống cạn cốc rượu để nén một tiếng thở dài:

- Ở Hà Nội thì mình nhớ Sài Gòn, về Sài Gòn thì mình lại nhớ Hà Nội! Đâu là quê? Cũng chẳng biết. Ba mươi năm vui buồn sống chết với thủ đô. Một nửa đời người...

Nguyễn Sáng có vẻ bị lây cái buồn của tôi, đăm chiêu:

- Ngồi đây, nhiều lúc mình cứ nhớ ông Tưởng.

- Có lẽ chính vì thế mà tôi mò đến đây.

- Để từ biệt một kỷ niệm?

Tôi cầm cốc rượn đã cạn lên, nhìn giọt rượu lăn lăn trong lòng đáy, gượng cười với anh:

- Thì ông chẳng đã vừa bảo tôi, trước sau gì rồi cũng phải về mà! Nhẽ đành phải vậy!

*
*     *

Chiều phương Nam, giữa Thành phố Hồ Chí Minh, tôi se thắt đi tìm lại hình bóng một con người mà định mệnh trớ trêu khiến anh chưa kịp đặt bước tới đây.

Hoa ngọc lan vườn ai xao xuyến sau mưa, đằm hương đến vậy!

Thôi thì cứ xem như Nguyễn Huy Tưởng đã có mặt ở đây, mà còn ở lại với đồng bào Sài Gòn và anh em chúng tôi mãi mãi rồi. Cứ nghĩ thế cho nó ấm lòng “kẻ dương gian, người âm cảnh”.

 Đ.G

 17 tháng 5 năm 1985

(Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh, 26-7-1985)

 

 


 

 

B - MỘT SỐ TÁC PHẨM TIÊU BIỂU

 

TÚP NHÀ TÀN PHÁ

 Tôi từ biệt anh dân quân. Đấy là đoạn cuối con đường rừng rẽ vào làng. Cách đây một tuần lễ, theo lời anh, giặc gồm một phần lớn Tây đen, Việt gian và vài chục Pháp đã qua đây. Bốn tên Tây trắng vượt lên trước, bò tới chỗ này dò xét. Men ruộng khô bên kia, một toán nữa cũng tiến song song.

Tôi theo con đường giặc vào làng, lo ngại cho một số tài liệu chúng tôi còn gửi tại đó. Buổi chiều hôm nay lạnh. Mưa phùn làm bóng những bụi dại và những đám cỏ ven chân. Xa xa, dựa bên rừng, làng N. ẩn sau những hoa lau và hoa chó đẻ rất nhiều ở vùng Tam Dương này. Không có vết tàn phá. Vì còn có hình bóng nhà. Bờ ao đầu làng, vẫn như hôm chúng tôi mới đến đây, một đàn vịt đang yên tĩnh bơi hụp, nghe như tiếng suối vàng chảy buồn buồn.

Nếp cổng tre dựng trên một cây khô không lấp như dạo trước. Im lặng. Vọng gác trống không. Bặt bóng những tự vệ ít lời, ngồi so ro sưởi bên những đống củi to cháy rực. Lòng tôi se lại không biết những nét mặt lầm lì kia đã biến đâu. Họ đã chạy hay là đi công tác.

Tại làng này, chúng tôi ở nhà một ông cụ lằm lằm, bà vợ cũng lì lì, người con dâu thì lê bụng chửa và bẩn thỉu. Người thứ tư trong gia đình này là cháu đích tôn ông cụ, tuổi trên dưới mười sáu, gầy guộc và xấc láo. Tôi không biết họ còn có người nào nữa không. Nhưng trong nhà chỉ có thế. Thấy họ chẳng buồn nói, lúc nào đối với những người mới đến ở cũng như giận dữ tôi chẳng muốn hỏi thêm về gia đình gia cảnh họ làm gì. Cả đến tên ông cụ tôi cũng chẳng muốn biết. Mỗi khi đi đâu có việc trở về, tự vệ hỏi thì tôi nói là ở cái nhà có ngần ấy người, có một ông cụ mắt kém, không râu và đầu trọc. Thế là họ hiểu. Nhiều lúc chúng tôi mời ông cụ ngồi nói chuyện cụ cũng đến, nhưng để chúng tôi nói một thôi một hồi cụ bỏ đi chẳng nói chẳng rằng, mà cũng chẳng lộ vẻ vui buồn, lo sợ, tin tưởng gì cả. Bà cụ thì hết sức là xấu nói, một hôm chúng tôi thấy cây khế ở đầu nhà nhiều quả, hỏi mua. Bà cụ đang đứng giữa sân, dắt trâu cho nó đạp lúa, cau mặt gắt:

- Ra mà trảy, ai bán mà mua!

Rồi lại lầm lì. Nhưng cái nó làm cho chúng tôi khó chịu nhất là việc mất cả một nửa bánh thuốc lào. Rồi thấy anh cháu đích tôn hút sòng sọc suốt ngày dưới bếp. Chúng tôi không tiện nói ra. Tôi càng bị anh em công kích và thầm oán những người trong nhà này. Họ đã làm giảm trong lòng tôi, lòng tin ngay chính họ.

Buổi chiều hôm ấy, giặc tấn công dữ, tiếng liên thanh tặc tặc gần. Chúng tôi đến nhờ ông chủ tịch giấu tài liệu hộ, ông ta bảo:

- Được, các ông cứ để chỗ ông cụ ấy, rồi tôi xin thu xếp.

Chúng tôi chỉ còn kịp đem theo những tài liệu quan trọng còn những thứ cồng kềnh thì đành để lại ở nhà cái người mà chúng tôi đã mệnh danh là ông già khó chịu kia...

Và hôm nay tôi lần về lấy nốt.

Vọng canh không có người. Đường làng không có người. Tôi qua cái giếng, trước kia vẫn tấp nập người đến lấy nước. Đây là giếng độc nhất của cái làng nhỏ bé, lơ thơ vài nóc nhà này, một cái xóm con thì đúng hơn, một mùi khét ngai ngái bốc lên. Một cành cây cháy bắc ngang trên mặt giếng. Lá xém ngổn ngang chung quanh bờ, phủ kín những đá ong. Bên cạnh, một nếp tường trơ trọi, ám khói, cố chống đỡ những rui mè đổ sập xuống, và một mớ rơm của mái nhà xưa. Tôi lẻn qua nách tường. Vào nhà ông cụ. Bếp đã cháy nhẵn. Chỉ còn thấy một đống gio, ghếch lên đó là một cái mâm gỗ đã thành than một nửa, chuồng trâu còn lại mấy cái cột lửa chưa đốt hết. Tôi đứng ngẩn người trước chỗ dựng mấy căn nhà trên, nơi chúng tôi ở cũ, duy còn sót lại một cái thềm thấp toàn gio than lổn nhổn. Nước mưa dầm thấm vào đen nhánh. Một vòng tròn nham nhở trước sân ghi dấu đống rơm ngày nọ. Cây khế của bà cụ ủ rũ dưới những cành khô lá héo và rơm rác. Tôi bước lên thềm, gượng nhẹ như đi trên xương máu.

Tôi đứng dậy. Dưới trời mưa. Không có nhà cản trở nên gió thổi càng thêm lạnh. Có lẽ lạnh hơn ngoài đồng. Lạnh quá, lạnh nhất là không có một bóng người, dù chỉ là một người bâng quơ nào để mình an ủi.

- Không biết ông cụ ở đâu! - Tôi tự hỏi như thế rất nhiều lần. Và tôi cười cười không ra tiếng, cười không thành hình trên nét mặt: văn minh Pháp đã qua đây!

Nhìn qua đầu đường, tôi không thấy một nóc nhà nào nguyên vẹn. Giặc Pháp đã qua đây! Cảnh vật đến tan tác!

Tôi không biết đứng lại hay đi ra. Tôi tiếc những tài liệu. Và tôi thấy thương thương pha lẫn một cái gì như hối hận. Tôi cố đưa mắt mờ vì mưa, mờ cả vì tâm trạng mình lúc ấy, cố tìm lấy một người, hay ít ra cố tìm lấy một vật. Không có lẽ nào giặc đã qua mà người ta không trở lại. Đến tôi mới ở đây vài hôm, không vui thích tị nào, mà còn lưu luyến với những cái gì không có hơi ấm của mình ở đấy, huống chi là dân làng. Họ đã gắn vào những nếp nhà tàn phá này bằng bao nhiêu vui buồn, bao nhiêu nước mắt mồ hôi của bao nhiêu thế hệ.

Tôi giật mình. Qua một lỗ tường, cái gì lay láy như một đôi mắt mở thao láo nhìn tôi. Tôi định thần nhìn lại. Mắt sợ hãi như mắt thỏ. Rồi từ sợ hãi sang hoảng hốt, mắt thỏ thụt xuống, biến đi. Tôi chạy theo. Một bóng người len lỏi qua đống cột kèo thui đen. Tôi gọi to:

- Ông ơi cho tôi hỏi một tí.

Sợ hãi trùm lên bóng người ấy. Tôi đuổi kịp.

- Tôi trước ở nhà ông cụ này đây mà. Người quen cả. Cho tôi hỏi này.

- Tôi không biết.

Hắn nhìn tôi lấm lét, rồi lại định đi. Ấy là một người dân quê đã đứng tuổi bé nhỏ ngu độn, râu tóc bơ phờ, run lẩy bẩy trong chiếc áo rách gần hết và cụt tay.

Tôi ôn tồn, gạn gùng chuyện con người duy nhất còn trộn lẫn trong cảnh tàn phá. Tôi tưởng không bao giờ ra khỏi những câu trả lời lúng túng, giấu quanh.

Cuối cùng, hắn nói:

- Nếu mục đích là ông ở cái nhà mọ ấy thì mọ ấy đi rồi.

- Đi đâu?

- Lên lán xa lắm. Trong rừng.

- Ông chỉ cho tôi đi. Chóng rồi tôi đãi cái này.

- Tôi chịu thôi.

Lại im lặng. Mãi mãi, khi thấy rõ tôi không phải là ma quỷ hiện hình ở đây, cũng không phải là Việt gian, mà chỉ là một người cùng nói những lời đau thương như hắn, hắn mới chịu ngồi bên tôi nói chuyện. Chúng tôi ngồi nép dưới một mái chuồng trâu chưa cháy hết, thân mật kề vai nhau.

Giặc qua đây đốt phá không còn để một thứ gì. Chúng đốt nhà, chúng đốt rơm, chúng gánh hàng chục gánh thóc cho ngựa ăn, rồi chúng lại đốt, cái gì không đốt được thì chúng bắn: chúng bắn lợn, chúng bắn trâu, chúng bắn bò, chúng bắn cả gà vịt, chúng đập hết trứng vịt. Trứng gà thì ăn rồi đem đi.

- Biết bao nhiêu là của! - Hắn thở dài nói tiếp. - Làng con nguyên trước đã thiếu trâu cày, đồng dân chỉ có mười sáu con vừa trâu vừa bò. Nó bắn mất chín, quá nửa.

- Anh có bị con nào không?

- Con may còn chạy được. Nhưng cái mọ nhà ông ở thì không chạy được. Nó bắn mất con trâu mới tậu, cày hay quá. Ngày còn bà mọ ấy...

Tôi vội ngắt lời:

- Bà mọ nào?

- Bà mọ ấy chứ bà mọ nào! Mấy hôm nọ, ông ở đây, bà mọ suốt ngày ở nhà, ông không biết ư?

- Tôi có biết. Thế bây giờ làm sao?

- Bây giờ gì? Nó bắn ngay từ hôm nó tiến vào. Lúc nó đi, thì đã chết cứng dưới gốc khế kia kìa.

Hắn vừa nói vừa chỉ cây khế đứng rủ bên kia tường. Tôi thấy nhói trong tim. Tôi theo tay hắn nhìn cây khế. Người bạn tôi lúc này nói như một người được cởi mở tấm lòng:

- Khốn nạn! Được tin hai con hôm trước thì hôm sau mẹ chết.

- Tôi có thấy hai ông bà cụ ấy nói chuyện đến con cháu bao giờ đâu. Tin gì hả anh? - Tôi sửng sốt hỏi.

- Biết ông là ai mà người ta nói. Ông mọ bà mọ ấy có hai con trai. Người con nhớn đi Vệ quốc, mới có tin đưa về là chết trận ở cầu Bâm. Ông có thấy thằng con trai anh ta không?

Tôi gật đầu. Hắn lại nói:

- Đấy là con trai anh ta. Còn chị vợ thì đi theo nhân ngãi từ ngày thằng bé ấy chưa đầy tuổi tôi. Anh ta chỉ có một mình nó. Thì ra cái trùng nhà này dữ quá. Bố chết con cũng chết theo.

- Chết theo, bao giờ? Vừa mới hôm nọ...

- Chứ còn hôm nào nữa. Cái hôm Tây đánh tứ tung thì nó đi giao thông sang S. Thế nào lại hỏi đường ngay một thằng Việt gian, nó giả vờ dẫn thằng bé vào vị trí Tây rồi nó lấy bay don nét nó đâm chết.

Tôi nhăn mặt. Người dân quê lặng thinh. Tôi cũng lặng thinh. Hình dung người cháu đích tôn xấc láo với nửa bánh thuốc lào, có lẽ vẫn còn trong người nó lúc chết. Thân thể nát nhừ của nó như bày ra trước mắt tôi, ngoài kia, dưới trời mưa. Tôi còn nghe rõ tiếng hút thuốc sòng sọc dưới bếp. Bất giác, tôi thở dài. Sao tôi lại có thể ghét được nó vì nửa bánh thuốc lào.

- Tôi muốn tìm ông cụ ngay. Anh dẫn tôi đi...

Tôi cầm lấy tay lạnh buốt của người ngồi bên cạnh. Cử chỉ của tôi mạnh đến nỗi hắn suýt ngã sang một bên. Hắn đứng dậy.

Tôi sửa soạn những lời an ủi, nó sẽ cảm động như tôi lúc ấy. Tôi nhẩm định một số tiền để biếu ông cụ. Tôi sẽ xin lỗi ông cụ về thái độ của tôi đối với ông cụ, đối với những người đã khuất. Tôi sẽ ôm lấy ông cụ, và nghĩ như thế, nước mắt tôi bỗng rưng rưng.

- Ta đi đi, anh ạ. - Tôi khẩn khoản. Tôi kéo mạnh tay hắn.

Hắn ngần ngại, làm tôi bực tức. Hắn nói:

- Hoài của. Hôm qua, hôm kia mọ ấy lăng xăng ở đây, chạy hết lán này đến lán nọ gọi dân về ủng hộ bộ đội đóng ở đây. Giá ông đến những lúc ấy có phải là gặp ngay không. Bây giờ lên lán, xa mà khó đi quá. Hay là con chỉ đường để ông đi... Kìa mọ ấy đây kia chứ đâu... vừa đúng.

Tôi tưởng hắn nói bừa. Và tôi tưởng là một cơn mê. Tôi quay ra thì ông cụ vừa vào. Tôi cố nhận xem ở cụ có sự gì thay đổi không, sau bao nhiêu đau khổ và tang tóc. Nhưng không. Vẫn là ông lão khó chịu, lầm lì mấy bữa trước. Đầu vẫn trọc, mắt vẫn kém, cằm vẫn không râu. Tôi rất cảm động, nhưng giữa cụ và tôi vẫn không có sự gì tự nhiên. Tôi không ôm lấy ông già. Rung rung tiếng, tôi nói:

- Chào cụ ạ.

- Ừ. - Cụ nheo mắt và nhận ra tôi.

Thấy người bạn tôi ngồi đấy cụ nói:

- Ra mà nhận lá.

- Lá gì? - Người dân quê hỏi.

- Lợp nhà chứ lá gì?

- Ở đâu đấy mọ. Thật ư?

- Huyện Lập Thạch quyên đem đến phát.

Cụ bước nặng về phía nhà cụ. Tôi lặng lẽ bước theo.

Người kia vui mừng lộ ra nét mặt, hỏi với:

- Nhận ở đâu hả mọ?

- Ngoài điếm ấy. Có cả các anh ấy cũng đến lợp nhà giúp.

Chỉ còn có cụ và tôi đứng trong sân. Tôi nói rất nhiều. Ông cụ chìm đắm trong im lặng, nhìn hết chỗ này đến góc nọ. Hình như ông lão không nhận thấy mưa rơi và gió lạnh. Trời đã sâm sẩm tối. Chợt cụ hỏi tôi:

- Ông đến lấy những cái ấy phải không?

- Vâng. Và để chia buồn cùng cụ.

Cụ quay ra. Tôi bước theo. Chúng tôi đi ngót hai cây số đường ruộng trơn. Tôi không nói nữa vì ông cụ không trả lời. Tối mịt vẫn như khuya, tôi tới lán làm trong rừng. Lán nhỏ như một chuồng lợn con. Một nhà tang không có màu tang. Bên đống lửa chập chờn, người con dâu thứ, vẫn bẩn thỉu, đang gục đầu khóc, tiếng khóc nghe ảo não từ xa:

- Anh ơi! Anh bỏ vợ bỏ con anh đi đâu. Con anh còn trong bụng đây, nó đã tội tình gì, mà nó trông cậy vào ai cho đành, anh ơi là anh ơi.

Và chị ta hừng hực khóc hết cơn này sang cơn khác.

- Đừng khóc nữa.

Ông cụ bảo con dâu. Tôi không biết đó là một lời gắt hay là một lời âu yếm. Tiếng nức nở im, rồi lại tuôn ra những lời kể lể. Tôi không khóc, nhưng lòng nức nở. Tôi đã đoán ra nguyên nhân, người con thứ hai cũng mất rồi nhưng không biết vì sao và bao giờ. Tôi chưa kịp hỏi thì ông cụ đã bò qua ổ rơm, vào một xó lán, lấy ra đống tài liệu đưa tôi. Tôi nắm lấy tay cụ cám ơn. Cụ nhìn tôi như một đứa trẻ nhìn. Cụ quay ra phía lửa. Lặng thinh. Hạt mưa rơi lộp bộp trên mái lán. Gió lùa vào, lạnh ngắt. Người con dâu thút thít rồi lại òa khóc. Ông cụ bỗng móc túi lấy ra một phong bì đưa tôi, nói hình như có vẻ lễ phép:

- Giùm ông đọc hộ cho cháu nghe.

Đấy là giấy của Ủy ban kháng chiến Vĩnh Yên khen người con thứ hai của ông cụ, du kích tỉnh, đã ném lựu đạn nổ ở phố M. giết được hai Pháp, vì thế giặc không tiến nữa và cả một vùng thuộc huyện L. được yên. Người con bị thương nặng, phải đưa vào quân y viện và vừa mất ở đấy.

Chưa bao giờ tôi nhận thấy rõ như buổi ấy sự bất lực của lời nói và lòng người trước những đau đớn lớn lao. Đáp lại những tiếng tôi đọc lên, người đàn bà càng nức nở. Ông cụ trầm ngâm, chất thêm củi cho lửa cháy, rồi dọn ổ cho tôi nằm. Tôi cố ép cụ ngủ chung chăn, vì thấy cụ ngủ không chăn chiếu. Nhưng cụ không chịu. Cụ nằm bên đống lửa. Có lẽ chỉ những lúc trằn trọc luôn luôn của con người già cỗi ấy mới tỏ rõ được sự đau khổ ngấm ngầm trong lòng.

Tôi tỉnh giấc giữa tiếng trẻ khóc. Hai người đàn bà có tuổi chắc ở lán gần đấy xúm quanh ổ rơm người con dâu. Không có tiếng khóc ai oán nữa. Đứa trẻ khóc xua đuổi không khí tang tóc và lạnh lẽo. Tôi ngồi dậy. Một người đàn bà vui vẻ khen sản phụ đẻ mau. Ngồi mép ổ rơm, ông cụ ôm cháu trong lòng. Em bé được bọc trong một cái tã nâu mỏng và rách. Cụ nhìn tôi, nét mặt tươi hẳn, chìa cháu tôi xem.

- Cháu giống cháu bố quá.

Và nói với cháu:

- Lớn lên cày khỏe cho ông, bố mày! Rồi lại đi lính.

Tôi đưa tặng chiếc áo sơ mi đem theo trong bọc:

- Để mừng cậu bé. Cụ nhận cho nhé.

Tôi giúi chiếc áo vào tay cụ. Một người đàn bà đến đón đứa trẻ. Ông cụ không nói gì. Ngoài vẫn mưa. Người sản phụ thỉnh thoảng cựa và thở dài. Tôi ngồi bên cạnh ông cụ già, trông cho lửa cháy đều và to. Chúng tôi thay phiên nhau rít điếu cày. Tiếng trẻ khóc vui vui. Một giờ sau thì sáng rõ.

 (Theo bản in trong cuốn Một ngày chủ nhật,

Nhà xuất bản Hà NộI

 

 

 

 

 

 

 

NGUYỄN HỮU HÀ


 - Họ và tên khai sinh: Nguyễn Hữu

- Sinh năm 1946

- Quê quán: Xã Cao Đại, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc

- Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam (từ 2003)

- Tác phẩm chính đã xuất bản

 * Khảng lặng (Tập thơ, 1999)

* Khúc giao mùa (Tập thơ, 2001)

 * Chiều không yên (Tập thơ, 2004)

 * Dòng sông đời tôi (Tập thơ, 2006)

 * Tản mạn cho người (Tập thơ, 2008)

- Suy nghĩ về nghề văn:

          Tôi thường ngẫm ngợi về thân phận làm người. Và thơ là phương tiện tôi chọn để giãi bày và gửi gấm quan niệm sống.

        Tôi hằng mong thơ là thứ vũ khí gìn giữ và bảo vệ cái đẹp và sự lương thiện ở đời.

Mai sau, có thể chẳng mấy ai yêu thơ, nhưng tấm lòng và phẩm hạnh của người viết ẩn phía sau những con chữ sẽ còn lại mãi.


 

 

A - TRONG KÝ ỨC BẠN BÈ

 

 

 

ĐỌC THƠ NGUYỄN HỮU HÀ, NGHĨ VỀ THƠ
VÀ SỰ CHIẾM LĨNH

                                                                                                   Nguyễn Bùi Vợi

Một buổi sáng mùa thu năm 1968, chiếc xe Volga đen chở Chủ tịch Quốc hội Trường Chinh (nhà thơ Sóng Hồng) cùng ông Kim Ngọc – Bí thư tỉnh ủy Vĩnh Phú – đi ngược Việt Trì qua đoạn đường giáp Bạch Hạc, hai bên đường lúa xanh mướt đang thì con gái, nhà thơ Sóng Hồng buột miệng thốt lên: “Trăm năm ông Phủ Vĩnh Tường ơi!” Bí thư tỉnh ủy Vĩnh Phúc chưa hiểu nhà lãnh đạo cao cấp của mình đọc câu thơ ấy với ý gì thì ông Trường Chính đã thân mật vỗ vai ông Kim Ngọc:

- Huyện Vĩnh Tường của các anh không phải là huyện lúa mười tấn, cũng không có thành tích gì đặc biệt xuất sắc, nhưng ai đã qua đây đều nhớ câu thơ nổi tiếng của nữ sĩ Hồ Xuân Hương. Thì ra văn chương có sức ghim vào lòng người những vùng đất, những cuộc đời không bao giờ quên được. Còn bây giờ huyện Vĩnh Tường có nhà thơ nào không?

Ông Kim Ngọc từ tốn:

-Thưa anh, tỉnh tôi cũng có vài ba nhà thơ ở Trung ương, nhưng Vĩnh Tường thì chưa có ai cả.

Cả hai ông đều không ngờ hai mươi năm sau, trên thi đàn Việt Nam xuất hiện một nhà thơ sinh ra cùng Cách mạng Tháng Tám tại xã Cao Đại, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc: đó là nhà thơ Nguyễn Hữu Hà, với các tập thơ đã công bố: Khoảng lặng (1988), Khúc giao mùa (2001), Chiều không yên (2004) và Dòng sông đời tôi (2006). Ngoài bốn tập thơ trên, anh có thơ in trong các tuyển tập, các tập thơ nhiều tác giả và hàng chục tờ báo lớn trong nước. Thời niên thiếu, Nguyễn Hữu Hà thích học văn, mê đọc sách, nhưng học hết cấp 3 anh lại nộp đơn thi vào Đại học Bách Khoa Hà Nội. Những năm tháng ở nhà ký túc xá dột, giường tầng, mỗi bữa ăn chỉ có một cái bánh “nắp hầm” (bột mì mốc trộn muối nắm thành nắm, bóp dẹt, luộc lên), các em sinh viên vẫn say mê nghe giảng, vẫn lạc quan làm thơ, có cả thơ tự giễu ngôi trường có cái cổng Parabol của mình là “Đại nhọc Bách khổ!”.

Tháng 2/1969, Nguyễn Hữu Hà tốt nghiệp, chưa kịp nhận bằng kỹ sư anh đã nhận giấy báo nhập ngũ cùng chiếc balô với hai bộ quân phục xanh cỏ úa, hăm hở bước vào cuộc đời quân ngũ. Nâng đỡ anh suốt những năm tháng gian lao ấy là hình ảnh mẹ hiền từ đang từng ngày, từng đêm ở quê nhà mòn mỏi ngóng tin con:

Có một lần như không thể vượt qua

Súng đã nổ bốn bề không chỗ nấp

Tuổi mươi chín lần đầu đánh giặc

Sợ mẹ buồn lại bạc tóc vì ta

(Không đề)

Trên những nẻo đường thời chiến thuở ấy, ở mỗi vùng quê anh đã sống qua, hình ảnh người mẹ Vĩnh Tường không lúc nào nguôi ngoai trong lòng. Trong bài “Bến sông ngày vắng mẹ”, anh có những câu thơ thật bồi hồi:

Những cánh buồm nâu thuyền dong ngược

Ta đứng chồn chân ngóng mẹ về

Nước lạnh sông thưa từ mẹ khuất

Bàn chân lạc bước dọc triền đê

Mẹ mất rồi, quê hương thành xa lạ biết nhường nào, cho nên:

Tôi về thăm làng tôi

Biết không người mong đợi

Rùng mình nghe gió thổi

Từ phía mộ ông bà

Và đau xót làm sao, đứa con yêu quê bỗng thấy mình lạc lõng ngay giữa làng mình:

Tôi như kẻ mộng du

Tôi như là rạn vỡ

Cánh cổng làng vẫn mở

Tôi hóa thành người dưng

(Về làng)

Chiến tranh như một cơn bão dữ quật lên những cuộc đời những số phận, ở đấy sự sống và cái chết chỉ cách nhau một đốt ngón tay, phẩm chất anh hùng và sự hèn nhát chỉ cách nhau một tầng thép gai. Gần một phần tư thế kỷ mặc áo lính, anh sinh viên quê lúa đã được tôi luyện dày dạn hơn, gan góc hơn.

Là một con người đa cảm, Nguyễn Hữu Hà không để cho tâm hồn bị chai lì trước những khổ ải, đau thương. Ngược lại, anh luôn rung động, nghĩ ngợi, nhận thức cuộc sống để bồi đắp cho tình cảm và lòng yêu thương của mình. Những kỷ niệm chiến tranh không nguôi ám ảnh anh, dằn vặt, thao thức trong anh.

Gần hai mươi năm sau chiến tranh anh trở lại thành cổ Quảng Trị, lòng chưa hết ngậm ngùi:

Lính trăm vùng đã nằm xuống đây

Tôi may mắn sống phần đời còn lại

Thành cổ như là sân doanh trại

Tôi bồi hồi đứng đợi điểm danh

(Trưa thành cổ)

Tình thương và trách nhiệm của người lính trở về sau cuộc chiến với những người đã khuất làm chúng ta cảm động (Ôi! Trong cuộc đời xô bồ này, không phải người lính sống sót nào, người sĩ quan thăng tiến hết cấp này đến cấp khác nào cũng còn nhớ đến những người lính đã che đạn đỡ bom cho mình). Anh đã làm thơ bằng tất cả tấm lòng nhớ thương và biết ơn đồng đội không được may mắn như mình:

Cái hôm nổ súng đánh Sài Gòn

Thao thức đợi dưới chiến hào Xuân Lộc

Đạn pháo quăng ta lên mặt đất

Bạn thân tàn ma dại đến giờ

Người bạn lính tâm thần ấy “mua bán hay nhầm, tàu xe hay lẫn” nhưng “đồng đội xưa nhớ không sót một ai” nửa đêm đã tìm đến với anh vì:

Mình ít chữ đành cam phận nghèo

Bạn nhờ tôi viết đôi dòng xác nhận

(Khách quê)

Nhà thơ đã có đêm “Mất ngủ ở Sa Thầy” vì:

Thoảng nghe lao xao tiếng ai hỏi đường

Lối nào Kom Tum lối nào Tân Cảnh

Chân quen cắt rừng vai quen vác đạn

Ánh đèn phố thị sao mà xa xôi!

Anh đỏ mắt đến thắp hương trên những nấm mồ của bạn mà đau thắt ruột gan:

Hồn thiêng ở lại thôi mình xa nhau!

Máu chảy một thời đất còn đỏ mãi

Cây đứng xếp hàng chờ mưa tắm gội

Tôi đứng trong này đợi lúc tàn canh

Đến đường Chín – Quảng Trị, hình ảnh các nữ thanh niên xung phong trước đây chặn xe bộ đội đòi thư, nay là:

Ba ngôi mộ xếp đội hình hàng dọc

Tán cây che chưa kín chỗ em nằm

Và đau đớn làm sao:

Vẫn biết chỉ là những nấm đất không

Chúng anh đắp vội vàng sau trận bom tọa độ

Anh ngồi lặng giữa ba nấm cỏ

Gọi thế nào để gửi chút khói hương?

(Tưởng niệm)

Có thể nói, hình ảnh quê hương và đồng đội đã trở thành gia tài tinh thần của nhà thơ. Sau chiến tranh, cuộc đời binh nghiệp lại đưa anh đến những thành phố, hải cảng bên kia trời Tây, khi ở Đức, lúc lại ở Tiệp. Những bài thơ anh viết thời ấy vẫn nguyên vẹn sự đằm thắm, chân thành.

Sự cảm hóa là sức mạnh tiềm ẩn trong thơ Nguyễn Hữu Hà. Lòng chân thành đã đem lại cho bạn đọc sự tin cậy. Có thể anh còn câu thơ này câu thơ khác vụng về, chưa hay nhưng không có câu thơ nào viết bằng “xảo ngôn, xảo thuật”. Những bài khá trong tập đều là những bài thơ động lòng như: Dì tôi, về quê ngày giỗ mẹ, Tô thị áo hoa… Người đọc tinh có thể nhận ra một điều là, qua chặng đường thơ hơn hai mươi năm, với bốn tập thơ của Nguyễn Hữu Hà, hồn thơ, tình thơ là nhất quán. Duy có điều đã thấp thoáng sự quen tay. Đó là sự hành nghề mà nhà thơ nào có quá trình cũng rất khó tránh. Nếu người viết thấy được điều ấy thì có thể khắc phục bằng cách viết ít hơn, chắt lọc hơn để giữ mãi được sự trong trẻo, rưng rưng, hồn nhiên của cái thời non tơ. Ở chặng đường mai sau, thơ anh chắc phải mở ra những bình diện mới, không thể lặp lại mãi những thành công khi viết về những ký ức chiến tranh, những kỷ niệm quê hương.

Trong thời buổi người ta đua nhau cách tân hình thức câu thơ thì Nguyễn Hữu Hà vẫn chấp nhận làm người cũ, vẫn viết được nhiều câu lục bát hay, những bài thơ với hình thức ổn định, vì anh tin thơ như là tình yêu, điều cốt tủy là phải chân thành. Bởi có chân thành mới động lòng người đọc. Thơ cũng như bóng đá. Mục đích cuối cùng của bóng đá là sút thủng lưới đối phương, còn mục đích cuối cùng của thơ là chiếm lĩnh trái tim người đọc.

 N.B.V

 

 

 

 

 

ĐỌC THƠ NGUYỄN HỮU HÀ

Anh Chi

 Nguyễn Hữu Hà làm thơ từ ba mươi năm trước, nhưng dăm năm trở lại đây, thơ anh xuất hiện nhiều trên các báo chí. Anh được bạn đọc quan tâm bởi một giọng thơ chân thành với những bài thơ chứa đựng nhiều bài học cuộc sống. Thơ Nguyễn Hữu Hà mang nhiều phong vị vùng quê trung du Vĩnh Phúc, những đồi núi, những bến bãi, làng mạc, và dòng sông Hồng… vừa rộng lớn vừa đa cảm. Năm 1999, anh xuất bản tập thơ Khoảng lặng. Năm 2001, anh cho in tập Khúc giao mùa. Và năm 2002, Nguyễn Hữu Hà lại có tập thơ mới: Chiều không yên. Một nhà thơ có uy tín đã từng nhận xét về Nguyễn Hữu Hà: “Đó là một người có trái tim không yên ổn…”. Vâng, bởi một trái tim không yên ổn, không thể yên ổn trước cuộc sống, người ta mới viết những câu thơ thế này:

Giá mà gom được lo âu

Quanh năm đổ xuống sông sâu, vẫn thừa!

(Tự vịnh)

Buồn đâu vô cớ rỗng không cả trời

(Đò chiều)

Có đêm ta về lại cánh đồng

Trăng lạnh buốt những nấm mồ bát úp

(Những giấc mơ)

Và, không yên ổn tới mức phấp phỏng lơ sợ, như bài Sợ, một tứ tuyệt khá sâu sắc:

Sợ khi thức dậy vườn vắng tiếng chim

Sợ buổi ra sông côi cút bóng thuyền

Sợ viếng người thân mà khô nước mắt

Sợ lúc bỏ đi chẳng có ai tìm…

Chúng tôi muốn nhận xét cho đủ đầy hơn về Nguyễn Hữu Hà rằng, bởi có một trái tim không yên ổn, nên sống giữa cuộc đời này, anh cứ phải tìm kiếm chốn nương tựa. Và những gì anh luôn tìm tới, là hình ảnh về người mẹ, là tuổi thơ trong trẻo, là đồng đất sông nước quê hương, là đời trai nhiều say đắm, là những ngày chiến đấu nhiều thương đau và kiêu hãnh, là những người từng sẻ chia bao buồn vui, sướng khổ, là cả sự mất mát lẫn khát vọng sống có ý nghĩa… Tất cả, đều không xa xôi, mà ở ngay trong lòng anh, trong cái cõi ký ức của bản thân anh.

Ký ức, có khoảng thật êm sâu thật đắng đót:

Cái thời ngọt bưởi chua chanh

Bởi nhiều đắm đuối nên đành trắng tay

(Thăm Vĩnh Yên)

Ký ức, có khi là thời điểm tâm hồn bỗng trở nên hoang vu, cô quạnh, như một lần về quê không kịp ngày giỗ mẹ:

Tôi hóa thành côi cút giữa làng

Đồng khói trắng hoa lau phơ phất trắng

(Về quê ngày giỗ mẹ)

Trong ký ức, có một khối đau đớn mà thời gian không thể làm tiêu tan, như một hôm anh bị mất người đồng đội. Hôm đó, "sắp sửa thay phiên gác/ Quả pháo vu vơ cướp trắng Tuân đi". Hôm đó, Tuân chưa ăn bữa chiều. Vậy nên mấy chục năm sau, thơ còn tức tưởi:

Tuân mất đi để lại suất cơm chiều

Ngần ấy năm cơn đói có còn theo?

(Ám ảnh)

Ký ức là nơi lắng đọng rất nhiều kinh nghiệm trường đời, khi cần, lục lọi ở đó những bài học thật quý:

Sống chết cách nhau một vạt cỏ xanh

Vinh nhục cách nhau tường rào dây thép

No đói cách nhau một lần khói bếp

Người xa cách người bởi chính người thôi!

(Khoảng cách)

Nguyễn Hữu Hà có con đường đi đến với thơ khá giống phần lớn các nhà văn, nhà thơ cùng lứa tuổi. Thời thơ ấu được học hành dưới mái trường xã hội chủ nghĩa và ôm những giấc mộng lý tưởng tươi sáng. Khi vừa trưởng thành thì cả nước dồn sức cho cuộc chiến tranh giữ nước, tất cả lao vào chiến đấu và lao động. Sau đó mới là việc viết văn, làm thơ. Nguyễn Hữu Hà vào bộ đội. Sau chiến tranh, anh bắt đầu viết những bài thơ của mình. Bài Qua Sibêri, bài Mùa hè đầu tiên, bài Gửi Vêra, và bài Nón bài thơ… Đó là tâm trạng của người vừa bị bứt khỏi xứ sở quê hương, luôn ngoái lại ngóng vọng. Những câu thơ dịu êm, xao xuyến. Đã thức dậy trong Nguyễn Hữu Hà con người thi sĩ, mặc dù anh sang Đông Âu để tu nghiệp về khoa học. Anh đã viết một số bài thơ trong những năm sống tại Đông Âu, nhưng đến bài Trước nền tượng đài Julius Fixích, cái tôi thi sĩ của anh mới cứng cáp:

Một phần đời tôi phiêu dạt quê ông

Con người nhất những con người Tiệp Khắc…

Đó là năm 1989, ở Thủ đô Praha:

Gió hun hút những ngày phản bội

Tôi dẫm lên những tờ rơi bang bổ

Những vụn cờ như thể những máu loang…

Lời thơ tự sự, lại như trò chuyện, khiến se thắt lòng, bởi:

Nơi ông đứng ngày xưa

Chỉ còn lại một nền đá trắng

Bài thơ có kết cấu gọn, chắc, ý tưởng nội dung và tình cảm hòa quyện, tạo được rung cảm cho người đọc. Hai câu kết ưu tư và trầm tĩnh, sâu xa hơn những lời an ủi thường tình:

Đặt bông hồng yếu mềm trên tuyết trắng

Xin được sẻ chia ấm lạnh cùng người.

Những năm cuối thập kỷ 80 và thập kỷ 90, thế kỷ XX, cuộc sống trên đất nước ta cũng đứng trước những thử thách rất lớn. Để sống được, mỗi con người phải vật lộn với gian khổ và đói rét thực sự. Để vươn tới hạnh phúc, con người phải nhận biết thêm rất nhiều những giá trị xã hội, và phải rất can đảm mới vượt lên nổi. Nguyễn Hữu Hà viết nhiều hơn hẳn thời kỳ trước kia. Có thể nói, ý thức công dân trong thi sĩ Nguyễn Hữu Hà trỗi lên mạnh mẽ với cái nhìn thẳng thắn vào cuộc sống hàng ngày. Các bài thơ Trong bệnh viện, khách quê, với em bé bán than, nhọc nhằn… là những day dứt khôn khuây trước những thân phận con người trong cuộc sống nhiều va đập, xáo trộn. Những tứ thơ đanh rắn lại, ý thơ có phần trần trụi, những câu thơ khắc khổ, nhọc nhằn. Nhưng ẩn sau tất cả, ta thấy một nỗi lòng thương đời, thương người:

Em bé bán than mê mẩm đếm tiền

Cất vào đâu cũng lem luốc mấy tờ bạc lẻ

(Em bé bán than)

Còn người nữ công nhân làm đường trong buổi chiều:

Nắng nung chín con đường

Em giấu mặt vào vuông khăn

Dáng xiêu vẹo làm sao giấu được

(Nhọc nhằn)

Về thăm lại bạn chiến đấu cũ, anh không kìm được nỗi bức bí trong lòng:

Mấy mươi năm quê bạn vẫn nghèo

Đơn xin việc chỉ biết nghề đánh giặc

Dai dẳng bám theo cơn sốt rét…

(Thăm bạn)

Cuộc đời càng ngổn ngang trăm mối, trái tim càng không yên. Đôi khi nhà thơ thở dài:

Những cánh buồm nâu thuyền dong ngược

Ta đứng chồn chân ngóng mẹ về

(Bến sông ngày vắng mẹ)

Nguyễn Hữu Hà ưu tư rất nhiều, lắm khi phải "Đốt thuốc ngồi đợi sáng"; có lúc tự trách cứ mình, "Đến bạc đầu vẫn còn nông nổi…" Thơ Nguyễn Hữu Hà giai đoạn này thật nhiều day dứt trước thực tế đời sống đang phân hóa, nhiều tầng, nhiều vẻ. Có lẽ, nỗi day dứt đến khắc khoải trong anh là khi nghĩ về những người bạn chiến đấu đã không còn được sống nữa. Thường nhật, nó ẩn khuất dưới đáy lòng, cứ gặp dịp là dâng trào. Một dịp như vậy là buổi trưa ở Quảng Trị, khi:

Lũ lượt người vào Hội thánh La Vang

Tôi một mình ngược ra Thành cổ...

Nơi đây, gió Lào và cỏ dại xác xơ trên những nấm mộ:

Những lá dừa như gươm múa quanh năm

Và:

Lính trăm vùng đã nằm xuống đây

Tôi may mắn sống phần đời còn lại

May mắn được sống, và ý thức rõ mình nợ nần những người bạn lính không trở về. Vậy nên hay mất ngủ. Mất ngủ nhiều đêm mới viết thế này:

Mất ngủ

Thêm vài sợ bạc trên đầu

Thêm một ngày sống đời nhân nghĩa

(Đêm mất ngủ)

Thấy rất rõ Nguyễn Hữu Hà là nhà thơ tả thực. Những năm gần đây, trong đời sống thơ ca nước ta, không ít nhà thơ có thiên hướng săn tìm hình thức mới cho thơ. Nguyễn Hữu Hà không chuộng hình thức, mà muốn tìm tới bản chất của nội dung thơ. Anh là người đọc nhiều, lại được sống ở châu Âu khá lâu, có điều kiện tiếp cận thơ ca của những nền văn hóa lớn. Anh chủ động chọn hình thức truyền thống, bình dị cho thơ mình. Cuộc sống xã hội được anh nhìn nhận thẳng thắn và đưa vào thơ một cách chân thực và tự nhiên. Thường là những cảnh huống đời sống với nhiều gian khổ, thậm chí còn cay cực, nhưng được anh nâng niu, trân trọng và viết thành thơ. Anh là người thật lòng gắn bó với đời sống, cái đời sống có lúc anh đã "Tìm không ra một chỗ thảnh thơi"… Nhưng, nếu gắn lòng với nó, vẫn tìm thấy chốn nương tựa:

Ta hoang mang giữa đất và trời

Đành trở lại cánh đồng xưa của mẹ

Lúa vẫn hồn nhiên xanh ngút thế

Chiếc vó bè thủng thẳng kéo trăng lên.

(Tản mạn đêm không ngủ)

Chúng tôi đọc thơ Nguyễn Hữu hà, từ những bài thời kỳ anh mới sáng tác cho đến những bài mới viết gần đây, và hình dung anh trong cuộc đi mải miết tới thơ. Một người hay tư lự, và hay buồn một mình. Trên con đường thơ ấy, chính anh cũng biết là rất dài xa, càng đi, anh càng nặng lòng với đời hơn. Đây là bài thơ Trúc Phật Bà:

Tôi trồng trước cổng khóm trúc Phật Bà

Lấy chốn bình tâm đi về sớm tối

Ban ngày từng đốt nhích lên gắng gỏi

Ban đêm chở che trai gái hẹn hò.

 

Mai sau thành đôi mai sau dang dở

Lá trúc sẽ ghi không sót một ai

Yêu thương bấy nhiêu vẫn còn chưa đủ

Phận mình thì mỏng phân cây thì dài…

Tứ thơ có sức khái quát, những câu thơ mang hơi hướng cổ điển. Tình thơ thấm thía, lời thơ nhiều thương mến. Ý tưởng bài thơ là mong ước về cõi đời này của nhà thơ, và của chúng ta nữa. Qua bài thơ trên, và một số bài khác nữa, thấy Nguyễn Hữu Hà có sức tưởng tượng phong phú và biên độ xúc cảm của anh khá rộng. Như chúng tôi đã nói ở trên, Nguyễn Hữu Hà là một nhà thơ tả thực, nhưng không có nghĩa là anh không có những câu thơ cất cánh. Anh có khá nhiều những câu thơ bay bổng, lung linh. Ngày mùa thu trở lại sông Cầu, Nguyễn Hữu Hà viết:

Sương mỏng quá người không dám nói

Sợ chim vườn đang hót rủ nhau đi

Một buổi chiều vào Văn Miếu, bỗng nghĩ về một người con gái:

Anh hồi hộp nhặt viên sỏi nhẵn

Em đánh rơi trong cỏ tự bao giờ

Và, trời xanh bên trên mộ người bạn thiệt phận thì:

Trời xanh nguyên sắc cũ

Phận bạc phải cam lòng.

Đêm ở Đồng Đăng được mô tả tinh tế và đa cảm:

Hương hồi bay thản nhiên trong gió

Tiếng thở dài đôi bím tóc đi qua

Những câu thơ sau đây trong bài Chiều đông, anh viết ở Paris:

Nắng bỗng dưng hiu hắt cả trời

Gió cũng khác màu mây cũng khác

Lá rụng tơi bời con đường đá lát

Khải Hoàn Môn đâu phải cổng làng ta!

Xét về bản chất, các nhà thơ hiện thực viết những câu bay bổng cũng để nói về những sự sống nơi mặt đất, những chuyện hạnh phúc hay khổ đau họ nếm trải trên đường đời họ đi qua. Nguyễn Hữu Hà cũng vậy, anh đi trên con đường của đời mình, nhận thức về nó và thổ lộ bằng những bài thơ của riêng anh. Một nhà thơ danh tiếng của nước Pháp và cũng là của thế giới là Valéry, có nói đến những phương pháp nhận thức của thi sĩ, trong đó có phương pháp nhận thức bằng mơ. Dùng mơ để tiếp cận cõi thực. Không biết Nguyễn Hữu Hà có quan tâm đến luận điểm đó của Valéry không? Mà anh biết hay không, có lẽ chả quan trọng. Bài thơ Những giấc mơ, anh đã viết thế này:

Có đêm ta về lại cánh đồng

Trăng lạnh buốt những nấm mồ bát úp

Nội ngoại nằm đây mà không gặp

Khói nhang lên chẳng nhắn được gì.

Chỉ trong mơ mới có thể như vậy. Tổ tiên đâu đó trong những nấm mồ bát úp dưới trăng lạnh buốt. Chẳng nhắn được gì, thật là thương cảm. Khổ thơ thứ hai là một cảnh khác trong cơn mơ:

Có đêm ta về lại rừng già,

Mặc áo lính khi mười chín tuổi

Sau trận bom cá phơi trắng suối

Đói thắt lòng nhắm mắt lội qua.

Đây chính là cái quãng đời chiến trận, khi mười chín tuổi, bước qua máu lửa, thương đau. Hai khổ thơ tiếp theo:

Có hôm ta được ghé thăm nhà

Mẹ lập cập vấp vào bậu cửa

Rạ thì ướt không cách chi nhóm lửa

Bưng bát cơm khê khét nghẹn lòng.

 

Có đêm ta về lại dòng sông

Đen đặc những người mê man là củi

Ta lặn ngụp trong lũ nguồn dữ dội

Có đen tròn đôi mắt dõi nhìn theo.

Quê hương đấy, là gốc rễ đời ta đấy. Mẹ mong ngóng rất nhiều, nên ta về là mừng lập cập vấp cả vào bậu cửa. Rơm rạ thì ướt, nên cơm mới khê khét.

Là mơ, nhưng sông Hồng là con sông thực của đời. Mùa lũ, nước cuốn về cơ man là củi, và đen đặc cả người. Anh cũng trong đám người đó, khác một chút là có đôi mắt đen tròn dõi theo… Khổ thơ tiếp theo viết về trạng thái tỉnh, từ thực tại nhìn nhận cơn mơ:

Những cơn mơ quanh quẩn bấy nhiêu

Như chiếc đèn kéo quân đêm đêm vòng lại

Quá khứ đeo đẳng thế, đêm đêm là quay trở lại. Cơn mơ vòng lại với nhà thơ. Hồn anh thì vòng lại quá khứ. Đấy là những cuộc tiếp cận chính hành trình của đời mình. Cuộc hành trình từ cội nguồn, qua nghèo đói gian truân, qua máu lửa hy sinh. Con đường một đời người trong đời sống quê hương đất nước. Câu thơ kết bình dị như một lời nói thường ngày:

Ta từng ngày mắc nợ những cơn mơ

Sức nặng của kinh nghiệm sống, khả năng truyền cảm không chỉ nằm trong câu, chữ, mà ở trong cấu trúc chỉnh thể của bài thơ. Dường như Nguyễn Hữu Hà đã đem những cảnh huống tiêu biểu trong trường đời mình để tạo dựng bài thơ, nên nó có sức khái quát thật tự nhiên. Một đời thi sĩ, có thể có nhiều bài thơ tâm đắc, nhưng những bài như thế này hẳn không có nhiều.

Như ở trên chúng tôi đã nhận xét, Nguyễn Hữu Hà là một người có trái tim không yên ổn và đã luôn luôn phải tìm kiếm trong cõi ký ức mình, đặng tìm thấy chốn nương tựa. Đó chính là cuộc tìm kiếm những ý nghĩa cuộc đời, và cũng là ý nghĩa của thơ anh. Cõi ký ức người ta, chính là tâm can trí não, nơi chất chứa mọi hạnh phúc, khổ đau, nơi ghi giữ những bài học trường đời. Vậy nên, nếu là thơ tìm được từ đó, sẽ là những bài thơ cần thiết cho đời, chí ít cũng là những bài thơ không xa lạ với mỗi chúng ta.

 A.C

 

 

 

 

 

 

DÒNG TÂM CẢM CỦA ĐỜI THƠ

 Trần Quang Quý

 Có người làm thơ, lang bang cả một đời, khi ngồi kiểm lại gia tài thơ thấy thứ gì cũng có một tý, vui mắt, nhưng chẳng cái gì thành hình hài vóc dáng, thành tấm thành món, thật khó bắt mạch gọi tên, thế thì cũng lấy làm tiếc. Có người làm thơ bút pháp đa dạng, thi lực mạnh mẽ, thi ảnh và cách nhập cuộc phong phú mà vẫn thấy hiện lên cuồn cuộn những dòng chảy tâm thế, những ký thác tâm hồn, cái tài ấy không phải nhiều. Lại có người làm thơ chầm chậm tới mình (chữ của Trúc Thông), không ồn ào tốc lực, không sa đà hái hoa bắt bướm, thơ đến như một lẽ tự nhiên, như một niềm day trở máu thịt buộc phải thốt ra, trên dòng chảy mà mình đã thuộc, đã bơi ở đó từ thuở thiếu thời, từ thẳm sâu lý ức, nó ám ảnh suốt đời, tâm thế thơ đủ để thiên hạ thấy được mạch nguồn, gọi được  tên, và thế cũng đã là hạnh phúc của một đời thi sĩ. Tôi thấy được Nguyễn Hữu Hà trong nguồn mạch như thế, qua các tập thơ trước đây, và đến tập thơ thứ 5 này nữa, Tản mạn cho người, tập mới nhất của anh.

Nói chầm chậm bởi lẽ, so với những người làm thơ, viết văn đồng hương đã nổi danh cùng thế hệ, cùng cái nôi phổ thông cấp III Trần Phú, Vĩnh Phúc những năm đầu thập niên 60 thế kỷ trước như: Ngô Văn Phú, Hữu Thỉnh, Vũ Duy Thông, Vũ ĐÌnh Minh, Hà Đình Cẩn, Ngân Vịnh… Nguyễn Hữu Hà xuất hiện muộn hơn. Anh làm thơ đã lâu nhưng mãi đến năm 1999, khi đã ngoại tứ tuần, mới in tập thơ đầu, Khoảng lặng. Có lẽ tên sách muốn nhắc tới cái khoảng lặng dài nửa cuộc đời trước của anh. Tất nhiên thơ có lặng không lại là chuyện khác.

Cuộc sống của một kỹ sư quân khí trong những ngày tháng chiến tranh ác liệt, sau đó là mười mấy năm tu nghiệp ở Đông Âu, trở về làm cán bộ kỹ thuật quân sự mới là nghiệp chính, chứ anh không sớm rẽ sang nghề báo, nghề văn một cách chuyện nghiệp như những người bạn cùng thế hệ.

Chỉ trong vòng 10 năm kể từ khi in Khoảng lặng, Nguyễn Hưu Hà viết khỏe, in đều 5 tập sách, và lại đang chuẩn bị cho tập mới. Như sức nén trong những khoảng lặng giờ mới là lúc bung ra, trên dòng chảy đồng hiện từ ký ức chiến tranh, kỷ niệm quê hương, những thức thỏm tinh thần, những trải nghiệm vui buồn của nhân tình thế thái, những lo âu về sự mai một của những giá trị là tài sản phi vật thể được nâng niu, trân trọng một thời trong tâm hồn người thơ Nguyễn Hữu Hà vốn trong sáng một cách bình dị: “Ngày xưa tôi ở rừng già/ Vẫn say đắm vẫn thật thà thế thôi/ Học bài lụy ánh trăng soi/ Đói cơm hạt gắm, quả doi cầm lòng (Sông Kỳ Cùng, ngày xưa). Thì ra, tưởng đã nhịn được thơ, nhưng cái duyên nghiệp, tấm lòng đa mang tâm sự cuộc đời, cuối cùng bóng câu hồn chữ lại là nơi ký thác của tâm hồn.”

Đã có nhiều người viết về các tập thơ trước của Nguyễn Hữu Hà (Vũ Duy Thông, Phạm Tiến Duật, Nguyễn Bùi Vợ, Trịnh Thanh Sơn, Anh Chi, Đỗ Trung Lai…). Có một sự “thẩm” anh khá thống nhất về những thành công, về thi pháp. Điều đó chứng tỏ Nguyễn Hữu Hà đã định hình danh phận. Như người ta định dạng được ngôi nhà trong nhấp nhô mái ngói, cây vườn ở làng quê mênh mông vậy. Đã định dạng được thì không lạc lối, không cần phải hỏi thăm nữa. Ở Tản mạn cho người, Nguyễn Hữu Hà vẫn tiếp mạch dài, và là mạch thơ đáng chú ý, thành công nhất, ấy là khi viết về quê hương và những người thân. Điều ấy thì rõ rồi. Nhưng tôi hay nhắc gợi về dòng chảy, nguồn mạch chính là điều khá đặc biệt này, dòng sông. Bóng dáng dòng sông luôn trở đi trở lại trong thơ Nguyễn Hữu Hà. Và người mẹ  (cũng là nguồn) chính là hình ảnh sâu đậm, luôn ẩn hiện nhớ thương, luôn thắc thỏm, đeo đẳng trong tâm hồn thi sĩ, dù sau rất nhiều năm mẹ đã yên nghỉ: “Mẹ đi mười bảy năm rồi/ một mình nằm giữa dốc đồi trung du/ trần gian vùi dập nắng mưa/ nỗi con thương mẹ vẫn chưa khác gì/ từ hoàng hôn ấy biệt ly/ chưa thôi hoảng hốt mỗi khi chiều về" (Chiều tảo mộ). Và cái dòng sông kỳ ức thân thuộc, sâu lắng mà lúc nào nhắc đến nó cũng là những hình ảnh mộc mạc, tươi rói: “Sông Cái đỏ ngầu/ vốc nước lên đục lờ máu cá/ chiều giáp tết mẹ đi đãi đỗ/ đêm trăng suông củi rều sấp ngửa/ vạn chài gõ mạn chênh chao/ thơm phức mùi cá nước" (Lại viết về sông). Những ám ảnh ấy đã cuốn tôi vào dòng chảy thao thiết con sông và tình mẹ của Nguyễn Hữu Hà, như bắt đầu một cuộc khám phá về nguồn trong thơ anh.

Như đã nói, trường độ thơ Nguyễn Hữu Hà khá rộng nhưng hồn thơ chủ đạo của anh là quê hương và người thân. Nó cũng là những điều máu thịt nhất của đời người. Thực ra hai chủ thể cảm xúc thức ấy là thống nhất. Cũng như dòng sông của anh luôn gắn với bóng hình mẹ và em. Đó là miền quê trung du với hệ thống hình ảnh thân thuộc: ruộng đồng, đồi nương, cây gạo, bầy sao mỏ vàng, dòng sông, những cây cầu, củi rều mùa lũ… mà người thơ đã không ít lần bột phát: “Nỗi nhớ nào bằng nỗi nhớ trung du". Dòng sông, nơi ký thác tâm trạng nhà thơ, có sức hút mạnh mẽ nhất, sau tất thảy những ai oán nghiệt ngã, ngày mà người cha phải gói tấm huân chương chói chang sắc đỏ để trốn một cuộc đấu tố, còn mãi ám ảnh những ngọt đắng lội qua bao lâu nữa. Có thể là dòng sông trong một lần” Đò sang quê ngoại, với quan sát tinh tế: “Con sang quê ngoại một mình/ thuyền nan ván gỗ chòng chành ngày xưa/ phù sa lóp ngóp đôi bờ/ ngô non ngậm sữa trổ cờ bồng con.” Chỉ những người thuộc về dòng sông và bãi bồi mới cảm được những bước chân lóp ngóp trên phù sa dẻo quánh, ngai ngái mỡ mẩu tươi non, mới hiểu được: “Nghiêng ngả cánh buồm/ mệt ngoài sóng vỗ/ là cách tương tư muôn thuở nước thuyền” (Lẽ đời).

Dòng sông và hình bóng người mẹ luôn song hành, khi ẩn khi hiện trong thơ Nguyễn Hữu Hà. Con sông Hồng, mà anh gọi là sông Cái, bên ngôi làng trung du ấy, như một hình tượng xuyên suốt trong sáng tác, tôi ngờ rằng nó không chỉ là vô thức từ ký ức sâu nặng, thân thuộc nhất của anh, mà nó là biểu tượng chủ ý của tác giả về những quan niệm, về đời sống mà anh đã cất giữ, về dòng chảy của thơ, thi pháp của riêng anh. Sông đã chảy nhiều ở các tập trước và bây giờ dòng sông vẫn luôn ám ảnh thi sỹ với các cung bậc tâm trạng khác nhau: “Sẽ trôi đi ấm lạnh kiếp người/ phố thị ồn ào/ bãi bờ hoang vắng/ lòng muốn hát về dòng sông hi vọng/ lại chạnh buồn côi cút cánh buồm nâu” (Vì người đổ nhớ cho sông). Thêm một lần tái khẳng định về quan niệm sống, cái tình cảm cố hữu thủy chung với quê hương, tình mẫu tử, không dễ mấy ai biết nhớ trong đời, huống hồ là người luôn vân vi, day trở bở kí ức như Nguyễn Hữu Hà: “Sâu nông còn có kẻ dò/ dài rộng mấy sẽ đo bằng bờ bãi/ chỉ trắc ẩn của ta nước không mang nổi/ cứ từng ngày neo lại đáy sông” (Lại viết về dòng sông).

Khi nhắc về mẹ, hay nhắc về góc làng trung du bên con sông Cái, nhịp thơ, trạng thái thơ Nguyễn Hữu Hà bỗng trầm lắng, kinh giác, dìu dịu thấm tháp vào ta như tiếng khóc thầm: “Đồi trung du/ người và cây không ngủ/ chân nhẹ bước lỡ đau từng nhánh cỏ/ nghe thì thào trong đất tiếng mẹ ta” (Chiều nghĩa trang). Cảm giác như mỗi khi chiều xuống, trong hoàng hồn chập choạng, bóng mẹ từ cao xanh lại hiện về: “Cõi người lẫn với cõi mê/ chẳng mấy đêm/ mẹ không về với con” (Chiều tảo mộ). Thực ra, cảm giác liêu trai ấy chính là vì mẹ vẫn sống, một đời sống khác trong tâm trí, trong máu thịt của đứa con thi sĩ thảng thốt ra. Nguyễn Hữu Hà giỏi gợi hình, gợi trạng huống ở những khoảng lặng, khoảng mờ của thời gian, không gian mà ẩn chứa niềm đau đáu của tâm trạng. Đặc biệt là những câu thơ mong manh giữa thực và mơ, giữa tối và sáng, giữa đường dây vô hình của cõi linh, hay cõi nào đó mà "đom đóm bay đi còn vòng lại/ đậu trên vai như nhắc bảo điều gì". Và khi anh nói về đồng quê, thì những thửa ruộng kia vẫn còn như có mẹ đang gieo hạt: “Mạ xanh ngút cho trời nắng dịu/ gió sông lên thổi rỗng cả chiều" sao mẹ không về với con được nữa "ruộng nhà mình qua tay bao chủ/ đất nâu sồng còn in bóng mẹ ta” (Qua ruộng nhà mình). Vẫn là cái gió của dòng sông, cái gió thổi rỗng chiều tâm trạng, cái chiều ấy mới hoang vu, trống vắng, bẫng lẫng, ám ảnh và cũng thi sĩ làm sao!

Bây giờ, mới thực là một người mẹ hiện hữu/ hay người vợ/ hay người có tên là Em/ hay cũng chính là bóng dáng quê hương khác của Nguyễn Hữu Hà. Người ấy trong anh ra sao nhỉ? Anh viết khi xa nhau: “Lần xa nhau nào cũng thể đầu tiên/ rã rượi chiều cam chịu/ bao ngờ vực trong nỗi buồn êm dịu/ tiếng thở dài theo gió dạt vào đây” (Xa vắng). Lúc đầu tôi hơi nghi ngờ về một mối tình đã bạc tóc, đã nên ông nên bà cả rồi mà lần xa nhau nào cũng thể đầu tiên như thuở yêu ban đầu thề non hẹn biển? Nói thực, nó hơi hiếm trong đời sống. Nhưng càng đọc anh tôi càng tin lời thổ lộ kia là thành thực. Chả là ông chuyên viên Ban quản lý khu kinh tế Dung Quất kiêm thi sĩ này thỉnh thoảng lại vi hành vào Quảng Ngãi, nên mới có xa cách, có cái tiếng thở dài theo gió dạt vào đây lãng mạn, cổ điển như vậy.

Ở khoảnh khắc khác, ta thấy cái nhân tình ấy thế này: “Nhớ em/ cơn đau thắt ngực/ sông cứ chảy một sắc xanh sốt ruột/ những cánh buồm không chịu xếp vào khoang” (Thơ viết ở làng).

Con sông đa mang. Con sông biểu tượng. Mẹ như là con sông Cái của dòng chảy thi sĩ Nguyễn Hữu Hà. Thơ anh hiện ra tự nhiên như thế chứ không phải nói lấy được. Khi anh chạm vào cõi thuộc nhất, thơ bỗng linh hoạt, hay lên hẳn, nhiều câu thơ bảng lảng cõi thế. Đó là trong Xây nhà cho mẹ, Chiều tảo mộ. Lời từ biệt mùa đông, Xa vắng, Nhớ tre làng, Lại viết về sông, Thơ viết ở làng, Chiều nghĩa trang, Đò sang quê ngoại… Cũng vì yêu quê, tâm hồn thuộc về quê với cái nhìn trong trẻo, thủy chung như lần xa nào cũng thể đầu tiên mà tâm hồn ấy cũng thành thực ăn năn bởi những khi mải miết rong chơi, bởi trót đánh đổi thời gian, tiền bạc/ lấy tiệc tùng/ lấy nâng cấp lên đời tiện nghi chóng mặt/ làm thước đo sang trọng con người, đến nỗi hay động lòng bi cảm, len lén thân phận quê làng cả những lúc nghe mưa: “Đêm bất chợt rưng rưng mưa gọi/ hình như mưa bay từ phía quê nghèo” (Tạp cảm). Rồi băn khoăn, rồi dày vò: “Lắm màu áo/ thiếu màu thương nhớ/ nhiều giọng nói/ thiếu lời quyến rũ/ muôn nụ cười/ thiếu ngả nghiêng say” (Thơ viết ở làng). Đứa con của làng quê, của dòng sông Cái đa cảm ấy thật khó tránh khỏi mặc cảm thị dân và lối sống đâu đó từng ngày tha hóa: “Đôi  khi lòng chợt tỉnh/ giữa thị thành bon chen/ thừa rất nhiều nghi lễ/ thiếu mặt người để tin/ cái giả được tôn vinh/ thật thà hay khuất lấp” (Đi giữa tháng ngày). Ta hiểu và cảm thông cho những mặc cảm của lòng trắc ẩn phận làng đôi lúc trào lên không kìm giữ.

Người của mảnh vườn xưa, của khói bếp tim ra tôi Nguyễn Hữu Hà là thế. Đấy là thế mạnh, cũng là hạn hữu của anh, nếu ai đó mong ở anh cái mới của giọng điệu, của các giải pháp tu từ, của những khám phá, bùng nổ về chữ… Bởi anh đã neo mình vào dòng chảy tự sự trữ tình, đằm thắm của con sông quê truyền thống rồi. Đọc anh, không đọc bằng sự dóng diết câu chữ, không lực xoáy của âm điệu, không ồn ào lý sự hoặc bí hiếm, lòng vòng ngữ nghĩa mà đọc bằng sự điềm tĩnh, trải nghiệm mới thấm hết sự chân thành, dung dị của hiện thực truyền thống, rồi cứ thế những câu thơ níu giữ, lan tỏa, khơi gợi từng vỉa lấp lánh tâm hồn. Cái đẹp của gái quê yếm thắm, với cái hiện đại của những nàng chân gày quần trễ phô phang rốn bụng, chưa biết ai ăn đứt ai. Cứ nhìn kia, sao bây giờ lắm nhân viên nhà hàng lấy áo bà ba, yếm đào làm y phục; lấy tre trúc, nơm giỏ làm tiểu cảnh kiến trúc? Sao có lúc ta thèm thế bát canh rau ngót, món cà bung, nồi rau sắn chua nấu cá mộc mạc của trung du, những ốc ếch quê mùa ngày nào bỗng lên đời đặc sản? Thế thì có gì mà phải sốt ruột. Có chăng, cái mà ta mong ở mỗi đời người viết, là khả năng luôn đi đến tận cùng nội lực và cảm xúc của mình, tận cùng cá tính sáng tạo, gọi nôm na là cái tạng của mỗi người. Lúc ấy ta sẽ chạm được vào cái hay trong cõi chính là ta nhất.

Thật lý thú, khi sắp viết xong những cảm nhận này, tình cờ tôi đọc được bài "Thêm một dòng sông chảy từ Vĩnh Phúc" của nhà thơ Pham Tiến Duật (Toàn tập Phạm Tiến Duật), mới hay, cả gia đình Nguyễn Hữu Hà cùng có tên là dòng sông (Hà): Người lần xa nào cũng thể đầu tiên là Khánh Hà (giảng viên Đại học Bách Khoa), hai con gái anh là Thúy Hà và Phương Hà, cậu con trai đang làm cho một công ty tin học ở nước ngoài là Nguyễn Việt Hà. Tôi càng thấy rõ và yên tâm hơn khi lựa chọn đi theo những suy tư sâu lắng nhất của Nguyễn Hữu Hà. Đó là dòng sông, dòng tâm cảm chân thành chưa thôi dào dạt và hăm hở chảy dọc đời thơ anh.

T.Q.Q

 


B - MỘT SỐ TÁC PHẨM TIÊU BIỂU

 

        DÌ TÔI

  

Quê mùa mộc mạc thế thôi

Dì về đám cưới con tôi lấy chồng

Không đi thì chẳng đành lòng

Đi mà vẫn ngại nâu sồng khó coi

 

Liêu xiêu tải gạo bên người

Vẫn là dáng của mẹ tôi ngày nào

Thảm êm bước thấp bước cao

Bàn chân mới khỏa nước ao lên bờ

 

Vuông khăn tần tảo từ xưa

Hết bà đến mẹ bây giờ dì mang

Ban thờ run rẩy khói nhang

Hình như tiếng mẹ sẽ sàng gọi tôi

 

Xin đừng buồn thế, dì ơi!

Ngày vui sao nước mắt rơi đắng lòng.

                                          Hà Nội, 1999

 

 

 

 

 

        MỘT CHIỀU BẠCH HẠC

 

Chiều Bạch Hạc ồn ào sông nước

Không đàn hạc trắng xoãi cánh về trời

Sông Lô trong xanh thuyền lững lờ trôi

Sông Thao ngầu đục nhập về gá bạn

 

Tìm về chợ phiên những măng cùng trám

Cá nướng khói thuyền tíu tít vạn chài

Đôi bờ nhìn nhau đắm đuối một thời

Dốc dựng nước sâu thôi đành để lỡ

 

Cúi mặt bước qua có người tựa cửa

Sao trời đang xanh mây trắng không về

Sao mặt sông lặng nỡ cắm sào tre

Bỏ sợi tương tư cho chiều Bạch Hạc.

 

 

 

 

 

 

      ĐÊM MẤT NGỦ

 

 Mất ngủ

là chẳng mất gì

Chút hương lạ lọt qua cửa sổ

Giọng nói lạ thầm thào trong gió

Đêm dịu dàng đủ để yêu nhau

 

Mất ngủ

Thêm vài sợi bạc trên đầu

Thêm một ngày sống đời nhân nghĩa

Điều có thể mà sao không thể

Người với người mùng - một - Tết với nhau

 

Đã qua giải yếm làm cầu

Đã chết hụt sau chùm bom thối

Đêm mất ngủ vẫn bồn chồn câu hỏi

Ta có là người của hôm nay?

 

 

 

 

 

 

      TỰ CẢM

  

Cốm đã vàng

cau ngập ngừng buồn quả

tàu lá héo

không gắng hơn được nữa

giữa chiều suông

trời nổi heo may

 

Đã từng xanh rút ruột từ cây

đã từng hát du dương với gió

lá đã già

không gắng hơn được nữa

thu sắp sang

phấp phỏng cả khu vườn

 

Phải rơi thôi

mắt lá rưng rưng

về đất ấm

lá không đơn độc

 

Phải rơi thôi

không thể nào khác được

cỏ đẫm sương thổn thức dưới chân người.

 

 

 

 

 

 

        TƯỞNG NIỆM

  

Anh qua cây số mười lăm

Không còn ai chặn xe đòi thư như ngày trước

Ba ngôi mộ xếp đội hình hàng dọc

Tán cây che chưa kín chỗ em nằm

 

Vẫn biết chỉ là những nấm đất không

Chúng anh đắp vội vàng sau trận bom tọa độ

Cả cánh rừng bị cày lên nham nhở

Hồn các em không mách bảo được gì

 

Như có tiếng chân khỏa nước dưới khe

Như có tiếng hát thì thào trong gió

Anh ngồi lặng giữa ba nấm cỏ

Gọi thế nào để gửi chút khói hương?

                                  Đường 9, Quảng Trị, 1998

 

 

 

 

 

       NHỮNG GIẤC MƠ

 

Có đêm ta về lại cánh đồng

Trăng lạnh buốt những nấm mồ bát úp

Nội ngoại nằm đây mà không gặp

Khói nhang lên chẳng nhắn được gì

 

Có đêm ta về lại rừng già

Mặc áo lính năm mười chín tuổi

Sau trận bom cá phơi trắng suối

Đói thắt lòng, nhắm mắt lội qua

Có đêm ta được ghé thăm nhà

Mẹ lập cập vấp vào bậu cửa

Rạ thì ướt không cách chi nhóm lửa

Bưng bát cơm khê khét nghẹn lòng

 

Có đêm ta về lại dòng sông

Đen đặc những người, mê man là củi

Ta lặn ngụp trong lũ nguồn dữ dội

Thoáng đen tròn đôi mắt ngóng theo

 

Những giấc ngủ mê quanh quẩn bấy nhiêu

Như chiếc đèn kéo quân đêm đêm vòng lại

Ta sống sót sau rất nhiều may rủi

Nên từng ngày mắc nợ những giấc mơ.

 

 

 

 

 

 

 

           TẢN MẠN CUỐI NĂM

 

 Tờ lịch cuối cùng lặng lẽ bỏ ta đi

lời từ biệt phũ phàng làm sao níu giữ

không khác được khi xuân còn quá trẻ

ta như cây thay lá kiệt cùng

 

Run rảy đầu cành giọt sương cuối đông

tinh khiết như chắt từ nước mắt

sương viên mãn sương tìm về đất

người đa tình. Người cứ việc hoang mang

 

Khóm hồng sau bão sót lại một bông

vẫn gắng gỏi thơm qua khe cửa

thôi, chẳng bận tâm vàng hay đỏ

hoa nhắc ta gan góc giữa đời!

                      Sáng 30 tết Giáp Thân, 2004

 

 

 

 

 

 

 

 

        NGẪU CẢM HỘI AN

 

Chùa Cầu mấy sải thời gian oằn vai

rêu phong gạch đá lặng nhìn nước trôi

anh dắt tay em đi tìm bến đỗ

gỗ ván chênh vênh người chen chúc người

 

em ngước nhìn lên chi chít đèn lồng

gió tự sông Hoài bung biêng quả phúc

cho anh rùng mình cho em rối tóc

bất chợt trăng chiều rụng xuống đáy sông

 

con đường mấp mô chân người thong dong

giận đấy rồi thương hết mưa lại nắng

lát ớt đỏ cay tô mì xứ Quảng

môi hồng mắt ướt ta ngồi ngắm nhau

 

dùng dằng phố cổ chẳng nỡ về đâu

chờ đèn cánh sen tay ai sắp thả

chờ cánh diều biếc nối dài trời cao

lòng anh mở hội rủ rê em vào.

 

 

 

 

 

 

 

           CHA TÔI

 

Trời cho tuổi chín mươi

Trời cũng bắt nếm nhiều cay cực

Thất bại đi qua lũ lượt

Cha tôi không khóc bao giờ

 

Ngày mẹ mất

Tóc cha rủ trắng nắp quan tài

Người ngồi vuốt ngực thở dài

Nước mắt lặn vào ướt trái tim khô

 

Dọn hết vòng hoa, trướng đỏ

Gió bay lời ai điếu não nề

Chúng tôi ra đi mỗi người mỗi ngả

 

Cha vịn vào cánh cửa

Đứng khóc một mình.

 

 

 

 

 

 

          KIẾM TÌM

 

 Tôi đi tìm tôi bốn mươi năm trước

Bím tóc mười lăm đung đưa rặng thông

Bóng người đã xa còn loang mắt ướt

Khấp khởi lòng trai toan theo đến cùng

Tôi đi tìm tôi xóm nghèo lặn lội

Phố thị quay cuồng lấn chiếm cỏ xanh

Còm cõi đá ong, oằn lưng mái ngói

Hồ lấp thành ao chân đi không đành

 

Tôi đi tìm tôi thấy toàn đầu bạc

Áo mũ xênh xang, ồn ã nói cười

Thương bạn đam mê đã thành kẻ khác

Thương mình một bóng chênh vênh đường đời.

                                                 Vĩnh Yên, 8/2002

 

 

 

 

 

 

          ĐỢI THU

 

 Chẳng mấy nữa sẽ heo may về ngõ

ta nhớ em nên bảo đã thu rồi

mây trắng quá

bàng xanh nguyên sắc lá

cốm ra sàng

chỉ đợi lá sen thôi

 

chẳng mấy nữa sẽ mùa hôn lễ

cây bên người

người say đắm bên nhau

 

môi cứ thắm

mắt cứ nhìn thiêu đốt

 

ta cứ yêu

quên nỗi bạc đầu.

 

 

 

 

 

 

        CHỢ RƯNG

 

Hăm tám tháng Chạp chợ Rưng

một câu cửa miệng mà thương suốt đời

góc nào mẹ vẫn đến ngồi

khách nào đon đả chào mời ngày xưa

 

Nhọc nhằn cái thuở bán mua

trầu cau hỏi chuyện cau khô đỡ lời

người đi thì đã đi rồi

người còn ai đến những nơi chợ chiều

 

mưa phùn lều quán liêu xiêu

mẹ giờ cắp rổ lần theo ngả nào

mồ xanh mấy đận đắp cao

vì mong gặp mẹ ta vào chợ Rưng.

                                 Vĩnh Tường, 16/1/2005

 

 

 

 

 

 

 

         VỀ QUÊ NGÀY GIỖ MẸ

 

 Tôi về quê ngày không còn mẹ

Giữa nhà mình lại hóa khách thăm

Hoa cau đầy vườn trưa nắng tãi

Tôi tựa vào cây để khóc thầm

 

Tường hoa mái ngói rêu phong cả

Đàn sẻ vân vi đến não lòng

Ban thờ bụi phủ hương khói lạnh

Giường cũ kê chân tràng kỷ long

 

Xa quê đời mẹ thành lận đận

Nửa bước theo chồng nửa bước con

Nước mắt ứa thay cho lời dặn

Tóc bạc ưu phiền những sớm hôm

 

Tôi đã thành côi cút giữa làng

Đồng khói trắng hoa lau phơ phất trắng

Mẹ ở lại với đất gò cỏ đắng

Khói nhang bay trong gió tạ từ.

                                     6/1998

 

 

 

 

 

 

          TRÚC PHẬT BÀ

 

Tôi trồng trước cổng khóm trúc Phật Bà

Lấy chốn bình tâm đi về sớm tối

Ban ngày từng đốt nhích lên gắng gỏi

Ban đêm chở che trai gái hẹn hò

 

Mai sau thành đôi mai sau dang dở

Lá trúc còn ghi không sót một ai

Yêu thương bấy nhiên hãy còn chưa đủ

Phận mình thì mỏng phận trúc thì dài

 

Tôi trồng khóm trúc thay cho lời dặn

Xin đừng nỡ phụ một vuông đất cằn

Bỏ lại cho đời tìm về với trúc

Ồn ào kẻ chợ nợ nần trần gian.

 

 

 

 

 

       GẶP GIÓ THAN UYÊN

        “Ruồi vàng, bọ chó, gió Than Uyên”

 

Than Uyên

gò lưng vượt dốc

suối Mường Hoa cạn kiệt

ngựa chùn vách đá, cá trơ vây

 

Than Uyên

em gái Thái lưng thon cõng củi

nhấp nhô đồi núi

rung rinh khuy bạc áo tròn căng

 

Than Uyên

chiều Nậm U thao thiết vầng trăng

ngột ngạt khói rừng đang cháy

những vạt đất mang hình da báo

một khoảng trời bỏng rãy không mây

 

Dưới tán Pơ Mu tay trong tay

cái nục nạc của cây tưởng không cần nói gì thêm nữa

gió bức bối mà người say đắm lạ

chỉ gió thôi đã xúi bẩy nhau rồi!

                              Than Uyên, 5/2005

 

 

 

 

 

         PHÁC THẢO VỀ MÌNH

 

Con sông đời tôi trong đục thất thường

cứ thấp thỏm tiếng gọi đò mỗi tối

khi vật vã xô bờ nghìn câu hỏi

lúc âm thầm tự hát đợi trăng lên

 

Con sông đời tôi chưa chịu lặng im

cứ lầm lũi chảy qua bao đắng ngọt

đợi mòn mỏi một người về rửa mặt

dẫu lông mày làm chết cá sông tôi!

 

 

 

 

 

 

 

          MÙA THU Ở BẮC NINH

  

Hò hẹn mãi rồi cũng về Kinh Bắc

Chưa sông Thương đã muốn thương nhau

Em ý tứ giấu cái nhìn sau nón

Lúm đồng tiền biết cất vào đâu?

 

Nắng nhẹ trời buông mành tơ mỏng

Sương như khăn lụa khoác hờ vai

Đi đón mùa thu đường phơi lá

Không được heo may lại gặp người

 

Bao nhiêu say đắm thôi gửi lại

Ta về chăm chút mảnh hồn riêng

Đường đất từ mai thành xa cách

Lòng còn líu ríu nỗi em em.

 

 

 

 

 

 

          XÂY NHÀ CHO MẸ

  

Hai mươi tuổi làm dâu họ Nguyễn

tháng tám ra đồng tháng giêng chạy chợ

được tiếng họ bên chồng bề thế

vẫn hai tay vun vén dựng nhà

 

ba mươi tuổi bỏ làng tản cư

rừng Lập Thạch* phên tre mái nứa

đêm hổ gầm ra sân đốt lửa

ôm con đợi sáng nước mắt rơi

 

bốn mươi tuổi nhà sang tay người

tuổi năm mươi lại bỏ quê chạy giặc

một đời tảo tần

một đời chắt bóp

chưa ngày yên ổn chốn nương thân

 

cỏ hoang vu đồi sỏi mẹ nằm

lòng rớm máu ngày về cải mộ

chỉ lần xây nhà này

không có nỗi lo toan của mẹ

con đứng đâu gió lạnh cũng tràn về.

                                  Vĩnh Yên, mùa đông 2006

 

         ------------------------

       * Huyện Lập Thạch (Vĩnh Phúc). Vùng tự do trong

          kháng chiến chống Pháp

 

 

 

 

 

 

NGUYỄN MẠNH TUẤN

- Họ và tên khai sinh: Nguyễn Mạnh Tuấn


 

- Tác phẩm chính đã xuất bản:

1. Tiểu thuyết:

* Những khoảng cách còn lại (NXB Văn nghệ Thành phố HCM, 1980)

* Đứng trước biển ((NXB Văn nghệ Thành phố HCM, 1982)

* Cù lao tràm (NXB Văn nghệ Thành phố HCM, 1985)

* Yêu như là sống (NXB Hải Phòng, 1988)

* Ngoại tình ((NXB Quảng Ninh, 1989)

* Nền móng (1990)

* Bốn bàn tay trắng (1991)

* Đời hát rong (1992)

* Phần hồn (NXB Thanh niên, 1994)

2. Các tập truyện ngắn:

* Người bạn tôi yêu (NXB Lao động, 1976)

*Tôi vẫn về nhà máy cũ (NXB Thanh niên, 1978)

*Năm hòa bình đầu tiên (1978)

*Người đứng gác ngã tư đường phố (1982)

* Hành khúc ngày và đêm (1984)

* Giữa bình thường (1985)

* Tất cả đàn ông đều thế (1994)

* Khỏa thân (2007)

Và nhiều tác phẩm kịch bản điện ảnh, phim truyện nhựa đã và đang được dàn dựng.

 

 


A - TRONG KÝ ỨC BẠN BÈ 

 

NGƯỜI KỂ CHUYỆN BỀN BỈ 

                                        Huỳnh Như Phương

Trước khi nổi tiếng với ba cuốn tiểu thuyết Những khoảng cách còn lại, Đứng trước biển, Cù lao Tràm vào đầu những năm 1980, Nguyễn Mạnh Tuấn đã khẳng định chỗ đứng của mình trong nghề văn bằng những tập truyện ngắn. 

Từ ấy đến nay ông là một trong số ít người kể chuyện dài hơi và bền bỉ nhất trong văn học ta.

Nhưng tập truyện mới nhất của ông - Nỗi sợ hãi mầu nhiệm - không phải truyện ngắn về những khoảnh khắc đời người, cũng không phải tiểu thuyết bốn, năm trăm trang; mà là truyện vừa, mỗi truyện độ năm, bảy chục trang in, dài lắm cũng không tới trăm trang.

Mỗi truyện là một điểm nhìn, một tấn thảm kịch đạo đức, diễn ra trong một quá khứ tưởng người trong cuộc đã lãng quên nhưng lại hiện về khuấy động nhân tâm. Quá khứ xa xôi, dưới ngòi bút nhà văn, trở thành gần gũi và chua xót.

Sự thay đổi của người thầy giáo mẫu mực, từng chỉ biết sống theo khuôn mẫu, trọng nghĩa khinh tài, đâu phải là điều khó lý giải, nhưng lòng nhân hậu của con người vẫn muốn giữ lại một cái gì tốt đẹp từ quá khứ để không làm suy suyển hình ảnh thần tượng được tôn thờ (Đường đi của hoa). Kẻ ăn cắp hai cái bánh rán ngày xưa, nhờ được người thầy bao dung và liên tài che chở, đã trả món nợ ân nghĩa với đời (Sự dối trá vĩ đại).

Vẫn là ngòi bút sắc sảo hơn 30 năm trước của Nguyễn Mạnh Tuấn, nhưng bây giờ cái xấu của con người được phán xét điềm tĩnh hơn, khoan hòa hơn và nhân bản hơn.

Thiên truyện dài nhất và có sức nặng nhất trong cuốn sách mang tên của chính nhân vật: Thằng Đấu. Đấu là một mẫu nhân vật của thời đại bão táp, vừa là anh hùng, vừa là nạn nhân của thời đại đó, hiện thân của một ý thức đấu tranh, tìm lẽ sống trong sự truy quét những gì không hợp với niềm tin bất di bất dịch của mình.

So với những nhân vật phản diện trước đây của cùng tác giả, Đấu là một chất lượng mới của loại nhân vật mà tính cách mang mầm mống của sự hủy diệt nhân danh những điều cao cả. Xã hội đã đẻ ra Đấu và từng cần đến những thằng Đấu để tồn tại, chính xã hội sẽ khổ lâu dài vì những thằng Đấu ấy.

Năm truyện ngắn độc lập khi đặt cạnh nhau trong một tập sách trở nên một bộ tranh liên hoàn, nối kết và bổ sung cho nhau. Một bối cảnh chung: quan hệ thầy trò ở Trường Chu Văn An đầu những năm 1960 và lứa thanh niên Hà Nội xung phong xây dựng kinh tế ngay trước khi diễn ra chiến tranh phá hoại của Mỹ. Một nhân vật xưng tôi, đồng thời là người chứng kiến và trần thuật từ đầu câu chuyện: Tuấn - Nguyễn Mạnh Tuấn.

Dù nhà văn có khẳng định đây là tự truyện hay không thì nhân vật đó hẳn nhiên cũng không đồng nhất với tác giả. Người mang tên Tuấn đó thật ra đóng ba vai cùng lúc: một đang sống trong câu chuyện với thế giới của mình, một đang kể lại câu chuyện với những gì còn hằn sâu trong ký ức, và một trong đời thực đang lưỡng lự, băn khoăn về câu chuyện có khả năng “gây tổn thương” đó.

Đã thành phong cách Nguyễn Mạnh Tuấn, văn xuôi của ông không nhiều trang miêu tả và phân tích. Chất bình luận thời tiểu thuyết luận đề cũng đã phai.

Sức hấp dẫn của các thiên truyện là ở lời kể và giọng kể, kể bình thản, để sự việc tự nó lên tiếng, không tô vẽ, uốn lượn, không ngậm ngùi thương xót, như món ăn không cần gia vị vì đã thấm đủ đắng cay.

Nhịp điệu kể từ tốn mà không rề rà, tình tiết đưa đầy đủ để cuốn người đọc vào câu chuyện trước khi kết thúc mà không buông rời cuốn sách.

Hẳn nhiên tính chân thực nghệ thuật của tác phẩm sẽ cao hơn nữa nếu tác giả kiềm chế những chi tiết hơi phô diễn, ví như cái rừng hoa học trò cũ tặng thầy giáo cũ nhân ngày tái ngộ hay những bữa ăn chiêu đãi học sinh nghèo của cậu học trò nay đã công thành danh toại...

Trong lúc xuất hiện ngày càng nhiều tác phẩm phi hư cấu góp vào dòng văn học “vết thương” nhìn lại và phán xét thời quá vãng, Nguyễn Mạnh Tuấn hẳn đã cân nhắc khi chọn hình thức thể hiện là sự kết hợp giữa chất liệu tự truyện và văn xuôi hư cấu.

Sự kết hợp này vừa tăng sức thuyết phục của sự thật, vừa thêm tính hấp dẫn của cách kể chuyện khi người trong cuộc cũng là người chứng kiến và trần thuật, không phải từ chỗ đứng của kẻ ở bên lề đời sống, mà là từ thân phận của một người rất đỗi bình thường đang loay hoay tìm chỗ cho mình trong một tình huống mà lòng sợ hãi đã thành phương thuốc để tự cứu chữa.

Hồi Đứng trước biển mới xuất hiện, Nguyễn Khắc Viện có viết rằng về sau nếu ai muốn hiểu lại cái thời đã qua, hãy tìm đọc tác giả tuổi đời chưa đến 40 này.

Nay sắp bước sang tuổi 70, ngòi bút nhạy bén của Nguyễn Mạnh Tuấn chưa hề có dấu hiệu xuống sức, chắc sẽ còn tiếp tục kể những câu chuyện đời đang biến hóa thiên hình vạn trạng thời nay.

 H.N.P

 


B - MỘT SỐ TÁC PHẨM TIÊU BIỂU

 

NỖI SỢ HÃI MÀU NHIỆM

 

Chuông điện thoại réo vang.

Tôi miễn cưỡng nhấc máy lên nghe: A lô!

Một giọng đàn ông lớn tuổi dè dặt: Xin lỗi! Có phải máy của ông Tuấn?

Thưa, đúng!

Ồ! May quá. Xin chào. Tôi là Thân từ Pháp về. Chúng ta là xa lạ, nhưng tôi xin phép đưa đến ông một người, với ông là chỗ quen biế , ông có thể thu xếp thời giờ đón tiếp?

Người đó là ai ạ?

Ông gặp, chắc sẽ nhận ra.

Tôi rất khó chịu. Khi đang bận làm việc, tôi hết sức tránh tiếp khách. Nhưng rồi cũng nhận gặp.

*

*       *

Hóa ra họ là cặp vợ chồng. Tôi không sao nhận ra nét quen nào ở người phụ nữ ngồi trước mặt. Họ đều khoảng sáu chục. Có lẽ do ở trời tây nhiều năm, với đời sống phù hợp, nên phong thái họ thanh cảnh, có vẻ trẻ hơn tuổi. Cả hai người với đầy đủ họ tên, nói ra, nhiều người trong giới truyền thông và khoa học đều biết.

Xin lỗi ! Chúng ta đã  quen nhau trong dịp nào?

Người phụ nữ nói :

Ông thử nhớ kỹ coi ?

Cuối cùng, người chồng cười nhẹ:

Năm 1969, ông đã từng đến khu nhà tập thể ngành giáo dục ở đường Kim Mã, gặp  một người … ?

69 , 79 , 89 … Bây giờ đã 2007 … , những 38 năm. Liệu bà có nhầm? Tôi hỏi.

Người đàn bà nheo mắt hóm hỉnh:

Nếu ông vẫn không nhớ thì tôi về vậy .

Cái nheo mắt ấy dường như tôi đã gặp ở đâu ? Đôi mắt đen âm thầm với hai quầng mắt sâu …

Tôi bắt đầu ngờ ngợ rồi giật bắn người như chạm phải điện. Dòng điện của một quá khứ vô cùng nhạy cảm.

*

*        *

  Tháng 8 năm 1963, hơn tám nghìn thanh niên học sinh lớp 7 và lớp 10, vừa tốt nghiệp cấp 2 và cấp 3 , thuộc Đoàn Thanh niên xung phong Tháng Tám Thủ Đô, rời Hà Nội đi khắp các vùng rừng núi Đông Bắc, Tây Bắc, khu 4, bề ngoài là đi xây dựng kinh tế và văn hóa miền núi, góp phần làm giàu đất nước ... Tôi ở trong đoàn mười lăm người, được chọn đến  xưởng cơ khí sửa chữa ô tô, sơ tán trong rừng Hoành Bồ, thuộc Ty Lâm nghiệp Quảng Ninh,  học nghề rồi làm thợ.  Nhưng  Mười bốn người lần lượt trở về Hà Nội bằng nhiều  con đường khác nhau: Được cử đi học đại học, chạy chọt để về,  hoặc bất mãn bỏ về bị coi đào ngũ … Sự thuận lợi hay khó khăn trong việc trở về thủ đô không phụ thuộc vào năng lực, sự tích cực trong phấn đấu, mà dựa theo bản lý lịch gia đình. Tôi là thằng bị sót lại cuối cùng khi bước sang năm thứ bảy...

  Dù vậy, tôi cũng không nản chí. Đời thợ nghĩ cho cùng, chẳng có gì là xấu. Ở suốt đời trên rừng núi, thiên hạ ở được mình cũng ở được. Nhưng từ đáy lòng, tôi vẫn luôn khát vọng và ý thức mình nhất định phải làm những công việc cao xa hơn đời thợ, mà hàng ngày và quanh năm tẻ nhạt tháo ra, lắp vào mấy cỗ máy ô tô, chưa kể đời thợ là do tôi bị chỉ định bởi sự kỳ thị thành phần gia đình, chứ không hề do tôi lựa chọn. Tôi nhất quyết phải thoát khỏi số phận để ngẩng cao đầu.

Nhưng rồi một sự cố bất ngờ xảy ra. Một lần, rồi nhiều lần đang ngủ, tôi buộc phải thức giấc khi thấy ướt lạnh nơi đũng quần. Rồi cả lúc ngủ trưa cũng bị . Vài lần đầu, tôi nghĩ do làm việc mệt hoặc trong ngày uống nhiều nước, sau ngay cả ngày nghỉ và những ngày kiên quyết không uống giọt nước nào, vẫn bị. Chết rồi. Tôi phát hoảng. Chắc chắn mình mắc bệnh đái dầm! Từ khi mắc bệnh này, khi làm việc trong xưởng, rồi khi đi ăn ở nhà ăn tập thể, thấy ai, nhất là đám thợ nữ và nữ nhân viên phòng hành chính, tôi cũng tránh nhìn , chỉ sợ họ đọc thấy căn bệnh nhạy cảm nơi mình. Và tôi bắt đầu có ý tránh nơi tụ hội.

  Cách xưởng  khoảng ba cây số , ở xã Sơn Dương , cũng nằm sâu trong rừng, có thư viện huyện sơ tán từ thị trấn Trới vào. Các ngày chủ nhật nghỉ việc, anh em thợ gốc quê  Đông Triều , Chí Linh , Yên Hưng, cách xưởng vài chục cây số, hay tranh thủ đạp xe về  nhà; số quê ở xa thì ra thị xã Hòn Gai chơi; ai không đi chơi thì ở nhà tăng gia trồng khoai, sắn, rau xanh ở mấy vạt rừng ven suối; riêng đám học sinh Hà Nội luôn dành ngày chủ nhật sang Sơn Dương  mượn sách. Mượn về cũng được. Đọc cả ngày, ngay tại chỗ cũng được. Thư viện chỉ có hai nhân viên. Nam là Sử  còn nữ là Thoa. Khi đám học sinh Hà Nội trở về “sống mãi với thủ đô” , chỉ còn một mình, tôi vẫn không bỏ thói quen đến thư viện vào ngày nghỉ . Tôi thuộc lòng ngày trực của Thoa và Sử. Chỉ những ngày Thoa trực, tôi mới đạp xe sang trả sách cũ, mượn sách mới, trò chuyện trên trời, dưới bể, có khi cả ngày. Khát thì được Thoa mời uống nước chè xanh, đói thì được Thoa luộc sắn hoặc khoai lang, khoai sọ. Thoa là dân gốc Hòn Gai, tốt nghiệp trung cấp thư viện, nhỏ người, không xinh lắm, nhưng có duyên, tính tình cởi mở, hồn nhiên. Cô rất mê đọc tiểu thuyết và thơ, nên khoảng cách giữa tôi, một thằng trai Hà Nội với cô gái tỉnh lẻ cũng gần gũi và trong sáng. Nếu có chút gì vẩn đục, thì  ở chỗ đôi khi ngồi bên nhau, hay nằm ở nhà đọc sách, vẩn vơ về Thoa, tôi  thoáng băn khoăn: Tại sao Thoa người nhỏ mà ngực lại to một cách khác thường? Chỉ thoáng thôi chứ không nghĩ xa hơn.

Từ khi mắc bệnh đái dầm, tôi chỉ sang thư viện vào ngày Sử trực. Tôi sợ Thoa đọc thấy bệnh của mình, nhưng cái chính là Thoa rất kỹ trong việc cho mượn sách, còn Sử thoải mái cho tôi  lục lọi các giá sách, lấy  ra cuốn vừa ý, chỉ cần nói miệng là mang về, chẳng cần ghi sổ sách . Nhờ vậy mà tôi lặng lẽ tìm được mấy cuốn sách đông y và cuốn Cây thuốc và vị thuốc Việt Nam của chính cậu ruột tôi: Giáo sư , tiến sĩ Đỗ Tất Lợi, có nói đến bệnh đái dầm, mang về xưởng, đọc ngấu nghiến. Cuốn nào cũng nói chữa bệnh đái dầm bằng nướng nhện đến cháy đen, rồi ăn trong một tháng là khỏi.

  Bình thường, ngày nào, đi đâu, cũng thấy nhện , nhưng mỗi ngày phải có một con để nướng ăn, thì tìm khắp nơi chẳng thấy. Tự đi lùng sục sẽ chẳng khác nào,  lạy ông tôi ở bụi này, tự tố căn bệnh đáng xấu hổ của mình. Một lần, đang rình bắt con nhện  bám trên mạng bên bờ suối , bất ngờ một con bói cá trên cành cây cao xà xuống lướt qua, con nhện lập tức biến theo cái mỏ nhọn của con bói cá. Vừa căm thù bói cá, vừa tiếc ngẩn ngơ, nhưng lập tức trong tôi nảy sáng kiến mà mãi sau này,  mới ngẫm thấy có lẽ là năng khiếu nhà văn. Chờ đến phiên chợ Sơn Dương, nơi những người Dao hay từ các vùng núi kéo về bán  lâm thổ sản, các loài chim, thú rừng, mà có lần tôi thấy họ bán cả chim bói cá, mua bằng được một đôi.

  Từ khi có lồng nuôi đôi bói cá, treo ở đầu hồi dãy nhà tranh trên núi, dành cho tổ thợ, tôi công khai săn lùng lũ nhện. Hết nhện quanh khu vực xưởng, tôi sang khu nhà tập thể của lâm trường ở gần, rồi sục vào nhà các gia đình sơn tràng người Hoa, người Dao. Tôi nói tìm nhện về nuôi chim bói cá. Nhiều người nói: Cho nó ăn tôm tép cũng tốt, việc gì phải cho ăn nhện? Tôi bảo: Người Dao họ nói cho ăn nhện nó mới nhanh đẻ trứng.

  Mấy cô gái con nhà sơn tràng người Hoa nhiệt tình bắt nhện mang vào tận xưởng cho tôi nuôi bói cá.

  Ăn nhện nướng đâu dễ . Phần thân và chân bị nướng cháy ăn bùi và thơm không khác gì châu chấu hay dế nướng, nhưng phần bụng vẫn mọng nguyên nước, nhìn thấy ghê, nhắm mắt cắn một miếng, nước nhờn và hôi phọt đầy miệng, phát ói. Để hết bệnh, ói cũng phải ăn . Ăn rồi , mỗi khi nghĩ lại, gai cả người . Cuối cùng năng khiếu nhà văn lại phát tiết,  tôi lấy một tờ lịch, cuốn con nhện, hít hà  nhắm mắt, cho vào miệng, uống theo một ngụm rượu lớn,  khi chú nhện trôi vào bụng, trong miệng chỉ còn vị rượu, sau nhiều lần, tự nhiên thấy có vẻ nghiện … nhện .

  Ăn nhện nướng suốt hai tháng, bệnh vẫn hoàn bệnh. Trong sách, cậu tôi nói: Để bệnh đái dầm kéo dài sẽ dẫn đến suy thận cấp, không chữa trị kịp thời bệnh  sẽ biến chứng, chạy vào tim, gây đột quỵ, có thể tử vong. Tôi hết hồn.

  Nếu là bệnh khác, chắc chắn tôi sẽ dễ dàng đến bệnh viện, nhưng với bệnh nhạy cảm này, đường đến với thày thuốc còn khó khăn, xa vời hơn đường phấn đấu để được thi đại học ... Chưa bao giờ tôi bi quan như lúc đó. Người vẫn khỏe mạnh, hàng ngày vẫn đi làm bình thường , nhưng nỗi lo âu canh cánh cứ ngày một tăng,  đến ăn không ngon, ngủ không yên, còn uống? Tôi sợ uống đến mức chỉ nhìn thấy nước đã hết cả khá.

Đúng lúc đó, tôi nhận được thư của thằng Na. Khi còn ở Hà Nội , tôi có hai thằng bạn thân: Đoán và Nam, thuộc loại không  giấu nhau điều gì. Ba đứa học cùng từ lớp 8E đến 10E ở trường  Chu Văn An 3A,  cùng ham mê đá “phủi” ở các sân Long Biên, Ba Đình, Quán Thánh. Khi tôi ra Quảng Ninh, thì Đoán vào Thể Công Trẻ rồi sang đội Phòng không – Không quân, còn Nam, một năm sau, cũng nhập ngũ, thuộc binh chủng công binh.

Nam báo tin bị thương trong chiến trường, được đưa ra Bắc điều trị , nay đã khỏi,  đang ở nhà nghỉ ngơi đến hết hạn nằm viện, rồi mới trở về đơn vị. Nam nói: Hoặc tao sẽ ra chỗ mày, hoặc mày về Hà Nội. Chúng mình nên tranh thủ gặp nhau được lần nào hay lần đó, nếu không tao vào chiến trường, không biết ông trời có còn cho tao sống trở về gặp mày?

Thế là tôi xin nghỉ nửa phép về Hà Nội với Nam. Hồi đó, hai đường quốc lộ từ Quảng Ninh về Hà Nội theo lối Hải Phòng qua đường 5 và lối Phả Lại, Bắc Ninh, qua đường 18 đều bị máy bay Mỹ bắn phá, các thành phố, thị xã trên đường đều tan hoang, phần lớn các cầu lớn đều bị đánh sập, thay bằng cầu phao, đi bằng xe ca đều phải tránh giờ cao điểm và rất không an toàn. Tôi quyết định đạp xe trên 150 cây số theo đường 18 qua Uông Bí , Đông Triều, Phả Lại, Bắc Ninh về Hà Nội. Bây giờ nghĩ lại, không hiểu nổi tại sao, những năm đó, đạp xe đạp một trăm, thậm chí, vài trăm cây số trên đường đầy bom đạn lại là chuyện thường .

Hai anh em gặp nhau tay bắt mặt mừng. Nhà Nam trong con hẻm ở đường Thụy Khuê, xuyên thẳng ra Hồ Tây. Nhà chỉ có mình Nam vì bà mẹ từ lâu đã sang ở nhà chị Đông của Nam. Tôi ăn ngủ ở nhà Nam ba ngày. Có chuyện vui buồn gì suốt ngày đêm, hai thằng đều trút vào tai nhau .

Đắn đo mãi, đến ngày thứ ba, lúc sắp chia tay, tôi mới  lộ cho Nam bệnh đái dầm của mình:

Mày chết ở chiến trường còn vinh quang, chứ tao mà chết vì bệnh đái dầm thì quá ô nhục.

Nam nói:

Không thể có chuyện chết vì bệnh đái dầm được .

Tôi bảo:

Sách đã viết như thế .

Đừng có tin vào sách. Nam nói: Nếu  sách viết đúng thì trẻ con trên trái đất không đứa nào sống sót, vì đứa nào cũng đái dầm từ lúc lọt lòng đến lúc 4,5 tuổi. Mày bị lâu chưa ?

Mấy tháng rồi.

Sao mày không nói từ hôm đầu,  để tao đưa mày đến gặp chị Đông?

Tôi sượng sùng:

Sao lại chị Đông ?

Tao quên chưa nói với mày, chị ấy đang là cửa hàng trưởng cửa hàng thuốc Đông y , chuyên cung cấp thuốc cho nhiều thày thuốc Đông y trong thành phố.  Chắc chắn chị ấy biết ông thày nào có thể chữa hết bệnh cho mày .

Tôi băn khoăn:

Lộ bệnh này với chị mày, tao thấy không nên.

Nam nói:

Mày đừng có sĩ hão. Khi tao bị mảnh đạn găm vào bụng và đùi, mày có tin là tao và tám thương binh cùng trần truồng trên xe tải suốt từ Quảng Trị ra đến Thanh Hóa, cùng trên xe toàn  nữ y, bác sĩ và thanh niên xung phong.

*

*        *

Chị Đông hơn chúng tôi cỡ chục tuổi . Hồi cùng học với Nam , tôi  đến nhà ít khi gặp chị, vì chị ở bên nhà chồng, song nguyên nhân sâu xa chị ít về nhà, tôi nghe phong thanh, do chị mắc tội, ngày nay được ca ngợi là nhiều tính người, nhưng hồi đó bị coi là lẳng lơ. Năm còn học lớp 10, chị đã yêu ông thày dạy thể dục. Bị bố mẹ phản đối kịch liệt, tưởng hai người chia tay, vậy mà vào năm thứ hai khoa văn, đại học Tổng Hợp Hà Nội, chị  mang thai với ông thày này, khiến trường phải buộc thôi học. Hai người vẫn lấy nhau , nên bố mẹ tuyên bố từ chị. Thời gian này, Nam cũng lạnh nhạt và ít nói về chị mình .

Để tăng độ tin cậy về chị Đông với tôi, Nam kể:

Bà ấy đẻ hai đứa con, rồi lại thi đại họ , nhưng lần này thi vào đại học Y Dược. Bà ấy muốn thành bác sĩ . Với những điểm đen trong lý lịch: Yêu sớm,  lấy chồng sớm, đẻ con  sớm ,  một lần bị đuổi học , lẽ ra  bị đánh trượt , nhưng nhờ điểm thi cao, ưu tiên phụ nữ , gia đình thành phần cơ bản, nên được cho đậu , nhưng khiếm khuyết đạo đức nặng như vậy cho học ngành dược Đông y đã là quá ưu tiên, nhờ thế , bây giờ, bà ấy thành cửa hàng trưởng của hàng thuốc Đông y .

Nam nói tiếp:

Tao về đơn vị trễ một ngà , chắc chắn bị kiểm điểm, không chừng mất cơ hội được tuyên dương anh hùng,  nhưng không đưa mày gặp chị Đông , nhỡ mày bị làm sao, tao hối suốt đời.

Tôi băn khoăn:

Tao vẫn cứ ngại lộ chuyện này với phụ nữ .

Mày an tâm. Chỉ có mình mới ngượng chứ giới y, dược, họ nói chuyện b… l…tự nhiên như người Hà Nội .

*

*        *

Sáng hôm sau , thay vì ra tàu ở ga Hàng Cỏ , lên đường vào đơn vị ở Quảng Bình, Nam đưa tôi đến cửa hàng thuốc Đông y của chị Đông ở trên đường Hoàng Hoa Thám. Thành phố đang thời kỳ sơ tán triệt để, nên cả cửa hàng lẫn đường phố đều vắng người . Phần chính của cửa hàng sơ tán ra ngoại thành, nên ở cửa hàng , ngoài chị Đông , chỉ có thêm một nữ nhân viên trẻ.

Chị nhận ra tôi ngay .

Tôi đỏ mặt bừng bừng, lưỡi như bị cứng lại.

Nam bảo:

Chuyện này tao dễ nói, cứ để tao nói thẳng cho nhanh .

Tôi nhẹ hẳn người .

Nam kéo chị Đông tách xa tôi chừng vài mét, thì thà thì thầm, rồi hai người cùng phì cười.

Chị Đông vui vẻ đi lại chỗ tôi:

Đái dầm là bệnh dễ chữa nhất trên đời. Chị chỉ cần cắt cho em ba thang là hết bệnh , nhưng để chắc chắn đúng bệnh , chị đưa em đến ông lang Quát ở Hàng Than.

Tôi lúng túng:

Có cần thiết không chị?

Chị Đông:

Chị cắt thuốc theo kinh nghiệm qua lời khai của bệnh nhân , không thể bằng thày lang Quát trực tiếp bắt mạnh ...

Nam vun vào:

Nếu vậy thì đi luôn . Có phải lúc nào mày cũng từ Quảng Ninh về đây đâu. Đi từ đây đến Hàng Than mà chắc chắn hết bệnh, còn hơn ra ngoài đó, bệnh vẫn hoàn bệnh.

*

*         *

Chị Đông đi một xe đạp, còn Nam đi một xe, chở tôi đến nhà ông lang Quát. Nhà ông ở gian mặt tiền, nhỏ chật. Chiếc tủ gỗ đánh vecni màu gụ, có các hộc đựng thuốc, cao đến tận trần, chiếm kín một mặt tường. Bàn tiếp khách của ông nằm giữa quầy giao thuốc và chiếc tủ. Đang thời kỳ sơ tán triệt để mà bệnh nhân chờ được ông bắt mạch, cắt thuốc đến gần ba chục người đủ lứa tuổi già trẻ, đàn ông, đàn bà.

Nhờ chỗ quen biết của chị Đông mà tôi được ông ưu tiên bắt mạch ngay từ khi bước chân vào nhà . Người tôi không sốt mà nóng bừng bừng, chân tay cứng ngắc, khi việc bắt mạch diễn ra trước mấy chục bệnh nhân.

Ngón tay trỏ và giữa của ông chỉ chạm vào mạch ở cổ tay tôi chừng vài giây, rồi ông hỏi:

Ai nói anh mắc bệnh đái dầm?

Tôi lúng búng:

Thưa! Tự cháu thấy ạ .

Mỗi lần bị, mùi nó khai hay tanh?

Thưa! Hồi đầu, cháu không để ý, sau thấy lúc khô thì có mùi tanh, nên cháu nghĩ mình bị rất nặng, cháu rất sợ.

Thày lang Quát đưa mắt cho chị Đông, rồi cười, lắc đầu với tôi:

Anh không bị đái dầm mà bị di tinh .

Tôi thắc mắc:

Di tinh là gì ạ?

Đang nhiều bệnh nhân chờ, nên không phải lúc giảng giải về bệnh cho anh. Giờ tôi cho anh một đơn thuốc, muốn cắt ở đây cũng được mà về cửa hàng chị Đông cắt cũng được. Chịu khó về sắc uống một tháng là khỏi.

Trở về cửa hàng, chị Đông đưa đơn cho cô nhân viên dưới quyền cắt thuốc, còn chị ra ngồi bàn nước với tôi và Nam.

Nam hỏi:

Di tinh là bệnh gì?

Tôi thầm biết ơn Nam đã hỏi thay câu lẽ ra tôi phải hỏi. Hóa ra một thằng lăn lộn nơi bom đạn chiến trường cũng không thông thái hơn thằng biền biệt chốn núi rừng.

Chị Đông giải thích bằng giọng thản nhiên:

Đó là hiện tượng sinh lý bình thường của nam giới ở tuổi thành niên, có người bị một thời gian rồi hết, nhưng cũng có người bị nhiều và kéo dài, nếu không quan tâm chữa trị sẽ thành bệnh, dẫn đến suy nhược cơ thể rồi biến chứng tiêu cực sang các bộ phận khác trong cơ thể.

Nam hỏi:

Sao em không bị?

Em thích bị lắm hả?

Nam  ngượng nghịu làm thinh.

Còn tôi chột dạ hiểu ra, so với đái dầm,  di tinh bị lộ ra sẽ kinh khủng hơn nhiều. Một thằng học sinh tiểu tư sản Hà Nội bệnh hoạn mới bị di tinh ... Tôi sợ hãi bảo chị Đông:

Vì không phải lúc nào cũng về được Hà Nội , chị cắt thuốc cho em hẳn ba tháng để phòng xa

Chị Đông:

Phải tin thày thuốc chứ. Ra Quảng Ninh, em cứ sắc uống đủ một tháng, tình hình thế nào, em thư về cho chị, nếu bệnh không hết, chị sẽ gửi thuốc cho em theo đường bưu điện.

Đang trai trẻ khỏe mạnh, làm việc cả năm, không nghỉ ốm một ngày, chơi thể thao như điên, nay đột nhiên mang cả núi thuốc về sắc như người bệnh nặng? Chưa kể những năm đầu giải phóng miền Bắc, thuốc nam kèm theo chiếc ấm đất để sắc, còn bị kỳ thị, bị coi là thuốc lang băm. Tôi đột nhiên lo sợ. Để đạt được hệ số “an toàn” cao nhất, tôi nhờ chị Đông viết vào đơn thuốc: “Bệnh áp huyết cao”, một tên bệnh có vẻ sang trọng ít nhạy cảm về đạo đức, để về xưởng, có sắc thuốc cả năm cũng không ai nghi ngờ phẩm giá.

Chị Đông phì cười:

Em đúng là gà tồ.

Sáng hôm sau, tôi tiễn Nam ra ga Hàng Cỏ.

Trước khi lên tàu, Nam bùi ngùi:

Tao vào chiến trường không biết thế nào, nhưng mày chắc chắn sống rồi . Chúc mày sớm hết cái bệnh “kim tinh” quái quỷ .

Nam nhớ sai tên bệnh, nhưng tôi cũng không đính chính:

Chúc mày chiến thắng trở về .

*

*       *

Trên đường từ Hà Nội ra Quảng Ninh, chiếc xe đạp Liên Xô Sputnic của tôi chở thêm chiếc túi du lịch giả da căng phồng, cố ý không kéo khóa phermeture, để mở miệng, lộ ra những cuốn sách mới mua: Chiến Tranh và Hòa Bình,  Đỏ và Đen, Những Người Khốn Khổ, dày cộp, đồ sộ, với những tên tác giả chỉ nghe đã thấy nể người đọc, dùng để che  bên dưới là những thang thuốc chữa bệnh di tinh, dùng cho một tháng.

Đến Phả Lại đúng lúc Mỹ ném bom nhà máy điện và bến phà . Ai nấy đều quăng xe, chạy   dạt ra hai bên đường , có hầm trú ẩn thì trú, bằng không, nấp đại xuống bờ ruộng. Nhà máy điện trúng bom , khói lửa mù mịt, nhưng con phà đang qua sông an toàn, bến phà thêm vài hố bom … Tôi chạy vội đi tìm chiếc xe. Sợ mất xe thì ít, sợ mất thuốc thì nhiều. Rõ ràng chiếc xe của mình để ở đây … Tôi ngơ ngác giữa mấy chục người đã từ những chỗ nấp trở lại đường lấy xe và hành lý bỏ trên đường .

Một con phà cập bến. Trong những ô tô rời phà lên bờ có chiếc xe ca chở khách đường Hòn Gai – Hà Nội.

Tôi buộc phải đi xe khách trở lại Hà Nội gặp chị Đông để lấy thuốc. Không có thuốc là có thể tuyệt đường con cái, hết đường lấy vợ .

Tôi đã ngồi trên xe, chiếc xe chuẩn bị chuyển bánh thì  dưới đường, có người kêu:

Chiếc xe này của ai ? Xe này của ai đây?

Nhìn xuống đường, tôi thấy hai người đàn ông, mỗi người dắt một chiếc xe cuốc Liên Xô, trong đó có một chiếc, trên giá đèo hàng buộc chiếc túi du lịch của tôi.

Tôi vội rời xe khách, cần thận nhìn tấm biển đăng ký, biết chắc xe của mình, tôi chộp lấy ghi đông xe:

Sao ông lấy xe của tôi?

Người đàn ông:

Tôi xin lỗi . Hai cha con tôi cũng đi xe Liên Xô. Lúc hết báo động, thằng con tôi lên trước lấy trước, tôi lên sau, thấy mỗi cái này, tưởng là của mình.

Tôi làu bàu:

Xe bác, hai người chở nhau, còn xe tôi có chiếc túi du lịch tổ bố, làm sao có thể nhầm?

Người đàn ông khổ sở:

Tôi xin lỗi. Bom vừa ném xong, thần hồn còn nát thần tính … Tiên sư bố thằng Mỹ, với lại xe Liên Xô cái  nào cũng như cái nào.

Cuối cùng, tôi cũng đạp xe về đến xưởng sơ tán trong Thác Cát, Hoành Bồ.

Cần phải rẽ vào phòng Tổ chức ở ngôi nhà ngói ba gian, gặp ông Bấc để báo đã đi hết phép, và sang trọng hóa những thang thuốc, nhưng phải đi đường nào không qua dãy phòng hành chính và các nhà xưởng bên đường, để tránh những con mắt tò mò của đám thợ thuyền về một thằng mắc bệnh di tinh từ Hà Nội lên.

Tôi cố làm một bộ thản nhiên  bước vào phòng ông Bấc. Thật không đúng lúc khi trong phòng đang có em Luyến thợ điện .

Anh Tuấn mang quà gì Hà Nội lên mà nặng thế ? Luyến cười hỏi .

Tôi đỏ mặt:

Toàn sách ấy mà.

Anh đọc xong nhớ cho em mượn nhé.

Ông Bấc bảo Luyến:

Việc xong rồi, cô về xưởng làm việc đi. Sách dân Hà Nội đọc toàn chuyện yêu đương lãng mạn, cô không đọc được đâu.

Luyến ra khỏi phòng, chính ông Bấc lại lúng túng, nói như thanh minh với tôi:

Phụ nữ đến tuổi, yêu rồi lấy chồng, chúng tôi luôn khuyến khích, nhưng cô này thành phần cơ bản lại đi yêu và sắp cưới một anh cùng quê con nhà địa chủ, nên tôi phải gặp riêng, làm công tác tư tưởng.

Tôi nói:

Thưa ! Tôi vừa hết phép.

Ông Bấc gật gật đầu:

Thế à ! Thày mẹ anh có khỏe không?

Thưa ! Bố tôi không ở Hà Nội, còn mẹ tôi mất từ năm tôi 3 tuổi.

Ờ , tôi quên. Thế thì anh đi phép đột xuất về Hà Nội làm gì ?

Khi xin phép nghỉ , tôi đã báo với anh , thằng bạn tôi bị thương ở chiến trường được về Hà Nội điều trị .

Ờ ! Tôi nhớ rồi. Có gặp được bạn không?

Thưa ! Có gặp.

Thế thì tốt. Còn gì nữa không?

Thưa ! Tiện đây, tôi cũng báo với anh. Lần này về, tôi có mang lên thang thuốc chữa … bệnh … huyết áp cao.

Chữa cho ai?

Thưa ! Cho tôi.

Ông Bấc nhìn tôi nghi ngờ:

Anh khỏe như voi, sao lại có thứ bệnh chỉ bọn thành phần bóc lột mới mắc?

Thực ra, những ngày đi làm, thỉnh thoảng tôi vẫn thấy người mệt mỏi … Lần này, về Hà Nộ , có lẽ do đạp xe đường dài , gặp mưa nắng thất thường, nên mấy lần bị ngất xỉu, phải đi khám thày thuốc .

Có giấy của bệnh viện không ?

Tôi hú hồn vì đã phòng xa, đưa tờ đơn thuốc của chị Đông, phần căn bệnh có ghi Bệnh áp huyết cao. Phía dưới có đóng dấu: Trung tâm Đông y dược Tuệ Tĩnh.

Tuệ Tĩnh là ai ?

Thưa là tên của trung tâm đông y, đồng thời cũng là tên một danh y .

Danh  y trời cũng là tư nhân, là lang băm . Anh là công nhân Nhà nước, không đến bệnh  viện Nhà nước mà lại lấy đơn thuốc của một lang băm, nhỡ uống vào chết người thì sao?

Lúc bị ngất, người nhà đưa đến đâu thì tôi cũng  theo đấy.

Nhưng lúc cắt thuốc, anh phải tỉnh chứ?

Ông lang Quát cắt thuốc cho tôi là thày thuốc hàng đầu Việt Nam, đã từng chữa bệnh, cắt thuốc cho cả thủ tướng, bí thư Trung ương Đảng.

Ông Bấc hạ giọng:

Theo đúng nguyên tắc , anh phải lấy giấy giới thiệu của xưởng , ra bệnh viện huyện khám, rồi điều trị theo đơn bác sĩ, nhưng thôi, lần này, tôi thông cảm … Thuốc này sẽ không được thanh toán đâu nhé. Thế anh phải nghỉ bao nhiêu ngày để uống thuốc?

Thưa! Không phải nghỉ ngày nào, vì sáng ra cho thuốc vào ấm xắc, tối về , nước bốn, cạn ba, mới uống.

 Ông Bấc:

Sao anh không nói ngay từ đầu ? Nếu không phải nghỉ ngày nào thì việc quái gì phải báo cáo với phòng Tổ chức?

Tôi kín đáo thở phào nhẹ nhõm.

*

*        *

Rời phòng ông Bấc, thay vì đi qua dãy nhà xưởng và ga ra dọc đường chính, rồi theo lối bậc thang lên khu nhà tập thể dành cho công nhân trên đỉnh núi, tôi theo con đường mòn đi tắt, để không ai thấy mình.

Khu sơ tán của xưởng sửa chữa ô tô chúng tôi cách ngã ba Đồng Đăng trên trục Quốc lộ 18, bẩy cây số vào sâu trong rừng bằng đường nội bộ của ngành lâm nghiệp, loại đường trải cấp phối đỏ này phần lớn dọc theo các bờ suối từ  rừng và khe núi chảy về Cửa Lục rồi ra biển . Sau này, hiểu rõ về bom đạn Mỹ trút xuống từ đủ loại máy bay, thì địa điểm sơ tán là quá an toàn , nhưng giám đốc xưởng, kỹ sư Lý Văn Voòng, và trưởng phòng tổ chức kiêm bí thư chi bộ Đảng Hoàng Văn Bấc, quá phòng xa, sợ xưởng ở ngay bên đường, cạnh dòng suối sẽ làm mồi cho bom Mỹ, nên chỉ những phân xưởng máy móc nhẹ, dễ sơ tán như: Nguội, hàn, ga ra ô tô mới ở cạnh đường, trong những hầm bán lộ thiên. Các máy công cụ nặng như máy tiện, máy khoan, rinh hết lên các các nhà hầm lưng  núi. Con người là vốn quý nhất , hầu hết công nhân các phân xưởng trong đó có tôi, bị đẩy lên ở các dãy nhà tranh  ựng san sát trên đỉnh núi, dưới mái rừng lim.

Suốt thời kỳ Mỹ ném bom, đến tận cuối năm 1972, chỉ có một trận bom gần nhất ném xuống cầu Thác Cát cách nơi sơ tán 200 mét và hai trận xuống cầu Đồng Ho, cách xưởng hai  cây số, bom đều trượt mục tiêu, rơi xuống các sườn và đỉnh núi, khiến  ai cũng tỉnh ngộ: may mà chúng không chọn xưởng chúng tôi, vì nếu “vinh dự” được chọn, chắc chắn bom sẽ rơi xuống sườn và đỉnh núi , hầu hết cán bộ , công nhân viên và tài sản giá trị nhất của xưởng sẽ tan thành mây khói.

Nhưng nhờ khu nhà ở tập thể của công nhân ở trên đỉnh núi mà việc  sắc thuốc chữa bệnh di tinh của tôi, chẳng mấy ai biết, không thành chuyện bàn tán, tiếng nhỏ, tiếng to, trong đám thợ thuyền.

Tôi  vừa kê xong ba hòn đá ở chỗ khuất ngoài đầu hồi dãy nhà tập thể, đang ngồi ngắm chiếc ấm đất vừa đặt lên, thì Chử Văn Long, phụ trách kỹ thuật của xưởng, tay ôm một chồng sách mấy chục quyển, thở hổn hển từ dưới chân núi lên.

Mày làm cái gì thế ?

Tao tao … tao …

Nghe cái Luyến thợ điện nói mày về, tao lên phòng tổ chức thì Mũi Khoằm nói mày lên đây rồi . Làm sao có chuyện mày bị áp huyết được ?

Tao nói dố , chứ thực ra đây là thuốc bổ. Vì hồi này ăn uống kham khổ nên  tao nhờ cắt thuốc để bồi dưỡng .

Chử Văn Long tin ngay:

Mày đi vắng, cái Thoa ở thư viện bên Sơn Dương sang đây tìm mày hai lần .

Tôi chột dạ:

Để làm gì?

Nó nói mấy tháng nay, mày cố ý tránh mặt nó để dùi mài kinh sử chuẩn bị thi đại học.

Làm gì có chuyện đó?

Vậy mày có sang thư viện gặp thằng Sử, mượn các loại sách cây thuốc ?

Có, nhưng tao ghi tên sách khác mà ?

Cái Thoa phát hiện ra, nên thằng Sử phải khai hết , thế là nó đoán năm nay mày định thi vào khoa dược trường y dược, nên nó ra tận thư viện tỉnh, lục tìm đủ loại sách thuốc sang cho mày.

Tôi nhìn chồng sách đến ba chục cuốn Chử Văn Long để trên giường, vừa cảm động vừa ngượng chín cả người.

Mày biết thừa, ông Bấc và phòng Tổ chức ty năm nay đã gạt đơn xin đi thi đại học của tao.

Long nói:

Vấn đề ở đây, chuyện đi học đại học giờ không quan trọng bằng việc nó yêu mày.

Cái gì?

Thấy nó quá nhiệt tình với mày. Thư viện tỉnh sơ tán tận Quang Hanh, Cẩm Phả, bom đạn Mỹ ném thường quyên, nó vẫn sẵn sàng hy sinh tính mạng lùng bằng được sách cho mày, không thể có chuyện nhiệt tình suông, nên tao tỉ tê hỏi han, kết quả, nó tự thú là đã để ý và yêu mày từ lâu.

Được Thoa yêu là quá bất ngờ, cũng rất cảm động , song hoàn toàn là điều tôi không mong muốn. Tôi nói với Long:

Mày biết thừa tao đang bằng mọi giá đi học đại học, để thoát khỏi đời thợ, nên không quan tâm đến chuyện yêu đương ...

Sao mày ngu thế? Yêu đương thì ảnh hưởng gì đến chuyện đi học đại học?

Không ảnh hưởng, tao cũng không thể yêu cái Thoa ...

Nó xinh như thế, lại rất gần chúng mình ở chỗ ham mê đọc sách, mày chê nó ở điểm nào?

Tôi làm thinh.

Nói thật đi, mày không thích nó ở điểm nào?

Tôi dè dặt và hơi nóng mặt:

Mày có thấy ngực nó quá to?

Trời! Ngực to thì sao?

Sác nói, đàn bà ngực to thì đa dâm.

ch nào? Sách nào nói bậy bạ?

Tôi nói:

Cuốn Nhân Tướng Học dịch của tác giả Trình Hạo, Trung Quốc, do nhà xuất bản Phổ Thông xuất bản , trang 15, nói rõ: Đàn bà lông mày rậm, mắt to đen, miệng rộng, vú to, mông cong, chân dà , nách và chỗ đó rậm lông là tướng đa dâm.

Sao mày ngu thế ? Đó là loại sách xem tướng gái lầu xanh, còn gái nhà lành những đặc điểm đó đều được coi là đẹp. Tại sao vú to lại là dâm được. Vú của tất cả các loại giống cái đều dành cho con . Vú to là biểu hiện người mẹ khỏe mạnh, sữa nhiều, con cái tha hồ bú , không phải lo đến bệnh viện xếp hàng, xin bác sĩ khám, để được phiếu cung cấp sữa hộp, nhục hết chỗ nói .

Không lẽ sách viết sai?

Không tin, mày thử nhầm chức năng, sờ  vào đấy xem chúng nó có tát vỡ mặt?

Tôi lắc đầu, vẻ chưa tâm phục khẩu phục.

Long hùng hồn nói thêm:

Những thằng nhìn vào đâu của đàn bà cũng tưởng tượng ra chuyện bậy bạ, mới chính là bọn đa dâm. Mày cẩn thận không chính mày mắc bệnh ấy.

Tôi giật thót như bị Long bắt quả tang tội nhạy cảm.

Chử Văn Long sinh năm 1942, hơn tôi ba tuổi, cũng dân Hà Nội, nhưng ra Quảng Ninh không cùng lứa Thanh niên xung phong tháng Tám Thủ Đô mà được Tổng cục Lâm nghiệp điều ra làm cán bộ kỹ thuật của xưởng , sau khi tốt nghiệp trường trung cao cơ điện.  Tuy còn ở tuổi hai mươi, nhưng Long đã có bốn con, lý do đơn giản chỉ là do gia đình cho Long đi học trung cấp, ở nhà không có người lao động trên đồng ruộng hợp tác xã, sẽ thiệt công, nên bố mẹ, ép anh phải lấy vợ vào năm mười bẩy  tuổi , trước khi đi học. Một thằng có vợ, bốn con, lại thỉnh thoảng có thơ tình in trên báo Văn Nghệ, chắc chắn phải hiểu đàn bà hơn thằng chưa có mảnh tình vắt vai,  là tôi, nhưng điều quan trọng là Long đã vô tình điểm trúng yếu huyệt của tôi, nên tôi chỉ còn cách chết lặng.

Thế nào! Long hối thúc: Nếu đồng ý thì tao sẽ vun vào. Tao mát tay vụ làm mối lắm.

Tôi gật đầu như một sự đầu hàng vô điều kiện:

Tao đồng ý.

*

*        *

Sáng nào, dù sương đêm còn ngập mờ mịt trong phòng , trời rét như cắt thịt, tôi cũng dậy sớm trước giờ anh em dậy tập thể dục, ra đầu hồi, hì hụi cho thang thuốc vào ấm, vun củi thành than cho lửa cháy âm ỉ, để chiều tối, hết giờ làm việc, anh em xuống nhà ăn bên bờ suối ăn chiều, thì tôi vọt lên núi, chắt thuốc ra bát, nhanh như chớp, uống cạn để không ai nhìn thấy. Một tháng trôi qua, bệnh không còn xảy ra trong giấc ngủ trưa, ban đêm thay vì một tuần hai lần thì giảm xuống một lần, nhưng tâm lý khủng hoảng gấp trăm lần, vì bệnh di tinh , ngay cả ông lang Quát cũng nói có thể dẫn đến tuyệt đường con cái, song ở góc độ đạo đức,    bị coi là một thứ bệnh hoạn nên suốt một tháng trời, ăn không ngon, ngủ không yên , tôi từ 64 cân tụt xuống còn 58, từ chưa bao giờ bị ốm, nay thành ốm thật. Sợ bị mất danh hiệu Lao động tiên tiến và Chiến sĩ thi đua, đồng nghĩa với việc mất điểm khi ông Bấc xét cho đi thi đại học, tôi gắng gượng đi làm nhưng không sao tập trung vào công việc, cứ làm một ngày lại nghỉ hai, ba ngày.

Ông Bấc nhìn tôi lắc đầu:

Hôm anh mang thuốc về , tôi nói cái trung tâm danh y Tuệ Tĩnh tư nhân chỉ là của lũ lang băm, nay anh thấy tôi nói đúng không?

 Bù lại với tai họa trên, tôi lại không chỉ một mà những hai em đến chăm sóc. Em thứ nhất đương nhiên là Thoa, vừa được Chử Văn Long vun vào, vừa dường như em cũng thích tôi bị bệnh để có cơ hội chăm sóc, gần như chiều nào, sau giờ làm việc, em cũng đạp xe từ Sơn Dương sang xưởng. Em thứ hai là Ly, giáo viên trường cấp 2, tận ngoài thị trấn Trới,   do Ngân , người yêu của Phạm Gia Bình giới thiệu. Tôi thích Ly hơn Thoa, vì luôn ôm mộng nếu lấy vợ, nhất định phải lấy một em to con, như Ly là phù hợp, nhưng Ly có lẽ do nhiều người săn đón, nên cô với tôi vẫn còn khoảng cách xa hơn với Thoa. Song chính tôi cũng không muốn gần hơn với cả hai em. Quan hệ giữa tôi với hai em là mối quan hệ đầy mâu thuẫn. Vài ngày không thấy hai em đến xưởng chơi thì nhớ, thì mong. Nhưng thấy hai em , trong tôi chỉ toàn những ý nghĩ vẩn đục …Từ khi bị bệnh, không hiểu sao gặp hai em , mắt tôi luôn tránh nhìn …, chỉ sợ các em đọc được căn bệnh và những điều tội lỗi mình đang nghĩ. Cả hai cùng tìn tôi bị áp huyết cao. Thoa thì đi lùng đủ cách sách về bệnh áp huyết cho tôi đọc, còn Ly đưa hẳn người anh họ là bác sĩ quân y đến khám.

Anh này sau khi khám kỹ, quả quyết:

Anh bị áp huyết thấp, chứ không phải cao.

Một ngày chủ nhật, nhân ca trực của Sử, tôi sang thư viện huyện ở Sơn Dương quyết lùng cho được cuốn sách về bệnh di tinh  Kết quả, suốt một ngày ròng, tôi và Sử tra hết danh mục 132.176 cuốn sách đủ các loại của thư viện: Khoa học, Triết học, Chính trị , Văn học, Y học, Giáo khoa, Thiếu nhi, vân vân…, không có một cuốn nào nói về bệnh di tinh. Lúc chán nản ra về, tình cờ thấy trên bàn của Sử có cuốn sách chừng 200 trang, cũ kỹ, rách nát: Nam Nữ Cần Biết, tôi cầm lên nhác qua . Trời ơi là trời . Trang 15 có mục in chữ đậm: Bệnh di tinh. Đúng là mình ở hiền gặp lành .

Sử nói:

Cuốn này em đang đọc. Toàn dạy yêu …

Tôi bảo:

Không thể tin được cả một núi sách mà chỉ có một cuốn dạy yêu . Cậu cho tôi mượn cuốn này.

Tôi mang cuốn Nam Nữ Cần Biết về đọc ngấu nghiến. Mục Di tinh chỉ có đúng nửa trang, chủ yếu là dọa không chữa kịp thời và đúng phương pháp sẽ tuyệt đường con cái, suy thận cấp, chạy vào tim, có thể gây tai biến mạch máu não, dẫn đến tử vong.

Tôi hoảng sợ viết thư về cho chị Đông : Em đã uống hết thuốc hơn tháng nay, thoạt đầu , “áp huyết” có giảm , nhưng sau lại trở lại như cũ, nhưng em sợ nhất là bị xuống sáu cân, sức khỏe rất kém.

Hai tuần sau , tôi nhận được thư chị Đông : Chị đã trao đổi với thày lang Quát. Thày bảo, nếu thu xếp được, em nên về Hà Nội để thày khám lại.

Vừa nghỉ phép hai tháng trước,  nay đi nữa làm sao ông Bấc chấp nhận ? Tôi bảo chị đánh cho tôi bức điện.

Mấy ngày sau, tôi có bức điện:  Bố ốm nặng, về ngay.

Ông Bấc nghi ngờ:

Hôm rồi , anh nói bố đi vắng kia mà?

Tôi nói:

Bố tôi bệnh ở quê.

Thế là tôi được đi nốt nửa phép.

*

*       *

Đạp xe về đến Gia Lâm gặp trận bom dội xuống nhà máy xe lửa Gia Lâm. Tôi bị một vết rạch ở cánh tay do kính vỡ văng phải, nên đến nhà chị Đông ở Thụy Khuê với cánh tay bị băng. Chị gỡ băng, rửa lại vết thương và băng lại cho tôi.

Đến nhà chị, tôi mới biết rõ  hoàn cảnh. Chồng chị, người từng là thày dạy thể dục khi chị học cấp ba , là sĩ quan cấp tá , vào chiến trường miền Nam từ năm 1963. Do Nam cũng ở trong chiến trường , nên chị phải nuôi cả mẹ mình lẫn mẹ chồng. Hai đứa con trai, đứa cuối cấp hai, đứa đầu cấp ba, một đứa trường sơ tán ở Đông Anh, đứa kia trường sơ tán ở Phúc Yên, hễ có ngày nghỉ, chị phải đạp xe khắp nơi để lo lắng chăm sóc cho hai mẹ và hai con. Khi tôi đến, hai bà mẹ đều từ nơi sơn tán về với chị. Nhìn người phụ nữ tần tảo này, tôi cứ phân vân: Liệu hồi trước, gia đình và nhà trường có quá khắt khe khi coi chị là hạng lẳng lơ, hư đốn?

Chị bảo:

Ngày mai, thày Quát hỏi gì, em phải khai thật hết . Thày ấy không tin mình bắt mạch sai và cắt thuốc không đúng.

Sáng hôm sau, tôi đến nhà thày lang Quát thì chị Đông đã đợi sẵn. Trong đầu tôi chuẩn bị sẵn lời khai làm sao không nói dối, nhưng cũng ít nhơ nhuốc nhất.

Nhưng thày không nói,  không hỏi gì . Ông lặng lẽ cầm tay tôi bắt mạch đến cả phút, rồi nói : Từ nay, anh không phải thêm thuốc thang gì hết . Nếu về lấy vợ ngay thì anh sẽ khỏi ngay, bằng không thì đến tuổi ba mươi anh sẽ hết .

Thưa ! Từ nay đến ba mươi, em vẫn bị thì …

Anh không còn bệnh lý mà mắc vấn đề tâm lý. Nếu coi cái vụ đầy thì tràn là chuyện tự nhiên thì dần dần sẽ hết .

Tôi chưa kịp nói thêm, ông đã quay ra nói với người giúp việc vốn là con gái ông:

Đến người khác .

Tôi cùng chị Đông ra về.

Tôi nói:

Em bị bệnh rõ ràng nhưng ông ấy lại nói là tâm lý .

Chị bảo :

Thày không nói sai đâu . Có điều  tâm lý nhiều khi khó chữa hơn  bệnh lý . Im một lúc, chị nói tiếp : Em cứ bình tĩnh về nghỉ ngơi, chiều đến cửa hàng, chị sẽ bàn thêm. Chị còn ở lại gặp thày để hỏi kỹ thêm.

 

*

*       *

Đầu giờ chiều, tôi đến cửa hàng thuốc. Chị Đông đang cùng  cô nhân viên bận bốc thuốc từ các hốc tủ ra những tấm giấy bản trải trên mặt quầy, rồi gói, cho những người khách xếp hàng trước quầy.

Thấy tôi đến, chị ra mời tôi đến bàn nước:

Thày Quát quả quyết, sau khi uống thuốc, vấn đề về thận gây nên di tinh không còn, nhưng do sinh lực của em quá mạnh , và ám ảnh tâm lý quá nặng,  nên chuyện đó vẫn tiếp tục. Thày khuyên em sớm lấy vợ là trên cơ sở giải quyết cả hai lý do trên.

Tôi nói :

Về tâm lý, em sẽ cố, nhưng chuyện lấy vợ ngay thì quả là khó.

Em đã có người yêu chưa ? Với chị, em cứ nói thật .

Em có hai bạn gái, một cô nhân viên thư viện thì yêu em, còn cô giáo viên cấp 2 , em có cảm tình , nhưng chưa thể tiến tới tình yêu cũng như hôn nhân , nếu chuyện học đại học chưa đâu vào đâu.

Chị Đông đột ngột hỏi:

Chị vẫn nghe nói “Gái lâm trường , giường bệnh xá “ , sự thật thì thế nào ?

Tôi nói:

Làm nghề sửa xe lâm nghiệp, em đi nhiều lâm trường, công trường, thấy nơi nào cũng có chuyện trai, gái buông thả, nhưng thực tế  rất ít, không như mồm thiên hạ đồn thổi. Tại sao tự nhiên, chị hỏi vậy?

Tiện miệng, chị hỏi thôi. Bây giờ, chị nói thẳn , em đang phải chữa bệnh, mà là bệnh nghiêm trọng. Em cũng biết thừa , nếu không thoát được tâm lý , từ nay đến năm 30 tuổi , em tiếp tục suy nhược và xuống cân thì tình hình sẽ rất xấu.

Em biết và cũng rất lo. Nếu không hết, bệnh sẽ từ thận biến chứng sang tim, dẫn đến đột quỵ, vô sinh,  có khi đột tử

Chị Đông bật cười:

Lại sách dạy phải không? Im một lúc , rồi chị nói: Chị khuyên điều này, nhưng em đừng nghĩ chị xúi em làm bậy.

Nếu hết bệnh, chị bảo làm gì, em cũng làm.

Nếu không thể lấy vợ ngay , em phải tìm cách sinh hoạt với phụ nữ . Chỉ có cách chủ động xuất tinh với phụ nữ , để âm dương trung hòa, thì bệnh em sẽ hết .

Tôi giãy nảy:

Không được đâu, chị ơ .

Chị biết tại sao em lại sợ và chính chị cũng sợ, khi quyết định khuyên em, nhưng đây là chuyện chữa bệnh.

Tôi ngồi im và phát run.

Chị Đông nói tiếp :

Đây là chuyện chỉ thày thuốc và bệnh nhân biết với nhau, nên những chuyện pháp luật và đạo đức phải gạt ra ngoài và đảm bảo an toàn tuyệt đối.

Tôi vẫn ngồi chết dí.

Chị có một chị bệnh nhân, cũng vì mất cân bằng âm dương lâu ngày mà chuyển sang bệnh tim, thỉnh thoảng lại  bị  bất tỉnh, phải đưa đến bệnh viện cấp cứu.

Tôi nói:

Ở  lâm trường cũng có các cô gái bị như thế.

Khi mấy cô đó có người yêu hoặc lấy chồng là hết, đúng không?

Đúng.

Thế là em hiểu ra vấn đề rồi. Nhưng có phải ai cũng có thể có người yêu hay lấy chồng, cũng như em không thể yêu và lấy vợ nếu như đường sự nghiệp chưa thành, trong khi các thày thuốc hoàn toàn có thể cắt cho bệnh nhân thang thuốc diệt dục hoàn toàn để hết bệnh, nhưng họ không làm vì như vậy là tội ác.

Tôi ngồi im.

Cô này, chồng đi công tác vắng cả chục năm ở nước ngoài , mấy năm nay, thày Quát vẫn cắt thuốc cho cô ấy, nhưng cuối cùng vẫn phải khuyên cách tốt nhất là vợ chồng phải gặp nhau …Nhưng em biết thừa, những người biền biệt nơi xa nhiều khi là nhiệm vụ của Đảng, bắt buộc phải hy sinh lợi ích cá nhân.

Em hiểu.

Cô ấy ở nhà một mình. Địa chỉ ở tờ giấy này. Em đến vào 9 giờ sáng mai thì cô ấy chờ.

Người tôi bủn rủn. Khó khăn lắm, tôi mở được miệng:

Cô ấy bao nhiêu tuổi?Làm nghề gì?

Cô ấy đẹp gái, hơn em hai, ba tuổi gì đó, chỉ ở nhà nội trợ thôi.

Tôi nói:

Thú thật, em rất sợ. Em chưa từng quan hệ với ai.

Em muốn khỏi bệnh. Cô ấy cũng muốn vậy. Cứ nghĩ đây là chuyện hết bệnh, em sẽ hết sợ. Chỉ lần đầu thôi. Lần sau , quen nhau rồi , có khi mỗi tháng , em lại đạp xe về Hà Nội gặp cô ta một lần cũng nên .

 

*

*        *

 

  Vì có chuyện “chữa bệnh” theo ý chị Đông mà lần về Hà Nội ấy, tôi không khác gì hoạt động tình báo. Sợ bất cứ người quen nào thấy mình cũng nhìn ra vụ hẹn hò, tôi không dám về nhà, mà ra bến xe Long Biên, ngủ ở  nhà trọ, chung chạ với hàng chục khách chờ xe , kèm theo đủ thứ cồng kềnh trong gian phòng dơ dáy, hôi hám. Nhưng đó lại là đêm, trong tôi hỗn độn đủ thứ háo hức khó tả. Về hành vi, giải thích cách nào cũng là tội lỗi, nhưng tội lỗi được đủ thứ ngụy biện, lại thấy háo hức, ham muốn. Chỉ ngày mai, lần đầu tiên mình sẽ được biết mùi đàn bà, một sự hiểu biết, thụ hưởng và khám phá vô điều kiện, trong khi những năm tháng ở núi rừng Quảng Ninh, chỉ nghĩ trộm đến bộ ngực quá lớn của em Thoa cũng thấy mình thiếu giáo dục. Rồi với những hiểu biết nghèo nàn cùng trí tưởng tưởng không mấy phong phú , tôi hình dung mình sẽ gặp người đó, sẽ nói với chị ta, mà có cần phải nói không nhỉ ? Chị Đông đã thu xếp rồi , có khi chẳng cần nói, cần bắt đầu ngay từ trên giường …Đêm mệt, ngủ thiếp đi chẳng biết gì, sáng ra thấy lạnh ở đũng quần, mới biết lại di tinh… Lại lo sợ. Rõ ràng mình không thể không chữa.

Nhà người đó ở tầng hai khu tập thể bốn tầng bên đường Kim Mã. Để đến và đi không ai để ý , tôi gửi xe đạp ở nhà trọ, đội chiếc mũ cối bộ đội sụp xuống tận trán, đeo kính râm đen, gọng lớn, xuống Hàng Giấy, đi xe điện đến ga Bờ Hồ Hoàn Kiếm, rồi chuyển sang xe điện tuyến Bờ Hồ - Cầu Giấy. Hà Nội thời kỳ sơ tán, bom Mỹ vẫn bất thần ném khắp nơi, nhưng các chuyến xe điện lúc nào cũng đông, chẳng ai để ý đến ai, sao tôi có cảm giác ai cũng đang chằm chằm vào mình. Mỗi lần xe điện sắp đến bến dừng, tiếng chuông leng leng cất lên báo hiệu, tôi đều thoáng chột dạ như thể tiếng chuông dành riêng cho mình. Đứng chen chúc ở lối lên xuống cửa xe , lòng dạ tôi tối sầm , hồi hộp nhìn các dãy phố cũ kỹ, mốc meo hai bên đường Nguyễn Thái Học lướt qua ào ào theo tiếng rền của các bánh sắt xe điện lăn trên đường ray.

Xe chạy đến khu các dãy nhà tập thể bốn tầng Kim Mã, không cần đợi đến bến, tôi đã nhảy xuống đường. Hồi còn đi học, tôi quá quen với khu vực này. Đây là khu tập thể  nằm ở dãy phố mới xây dựng, đối diện với hồ Thủ Lệ bên kia đường, nên mật độ nhà cửa chưa cao, vừa do hoàn cảnh sơ tán, vừa đang giờ làm việc, nên trong sân vắng vẻ. Tôi vừa mừng thầm trong bụng ,  đã vội giật thót người hoảng sợ khi sực nhớ , gia đình Kim Uyên, bạn cùng lớp 10 E với tôi ở một căn hộ trong khu tập thể này. Đã vài lần tôi từng đến đây học nhóm, nhưng chính xác tòa nhà nào, tôi không nhớ. Nhỡ Kim Uyên bắt gặp thì sao ?

Tôi muốn bật ngược trở ra, thì bà bán nước chè chén ở lề hè ngay lối vào khu tập thể, tỏ ra quan tâm:

  Em định tìm ai ?

  Tôi lúng túng:

  Có người ở Quảng Ninh gửi quà cho một chị ở tầng hai nhà A1 .

  Bà bán nước:

  À ! Nhà cô giáo Hoài. Khu ấy theo trường đi sơ tán hế , không biết cô ấy có nhà không, em cứ lên thử xem.

  Cảm ơn bác. Đã đi vài bước, tôi lại quay lại hỏi  Hồi trước ở đây có Kim Uyên, học cùng với cháu hồi cấp 3, không rõ bạn ấy có còn … ?

  Kim Uyên ở A4 , dạy đại học Sư Phạm, vẫn ở, nhưng cũng theo trường đi sơ tán, thứ 7, chủ nhật mới về.

  Tôi nhẹ người đi thẳng đến dãy nhà A1, nhưng mười phần háo hức giờ chỉ còn năm, sáu.

  Vừa rẽ vào chân cầu thang thì một người đàn ông trung niên vác chiếc xe đạp Thống Nhất cũ kỹ,  từ  tầng trên đi xuống. Ông ta nhìn tôi chăm chăm.

  Tôi gật đầu chào:

  Bác ạ!

  Ông ta nói:

  Anh phải tránh ra cho tôi đi chứ.

  Tôi giật mình vội nép sang một bên.

  Liệu sự vô ý của mình có làm ông ta nghi ngờ? Nhìn ông ta khuất hẳn ngoài cổng, tôi mới dám bước lên cầu thang . Niềm háo hức năm, sáu, chỉ còn ba, bốn. Cái bụng đang nóng cứng đến mức đi không hết bước chân, lưng phải lom khom, bỗng mềm xìu.

 

*

*       *

 

  Cuối cùng tôi cũng đứng trước phòng số 2 ở cuối tầng hai, bỏ mũ, gỡ kính, hít hà vuốt lại áo quần, mặt nóng bừng bừng, dè dặt gõ cửa.

  Cánh cửa phòng lập tức được mở ngay khi tiếng gõ vừa dứt.

  Trước mặt tôi đứng bên trong cửa là một phụ nữ quãng tuổi ba mươi,  gương mặt đẹp, mắt đen thẳm, với hai quầng  sâu thâm, buồn tối, mặc váy phin trắng, rộng cổ, hở nửa đùi trở xuống . 

  Mời vào. Chị vừa nheo mắt đánh giá khách, vừa nói khô khan.

  Tôi vừa bước vào phòng, chị đã đóng cửa, cài chốt, sau đó, kéo cả rèm cửa ra vào lẫn rèm cửa sổ, khiến căn phòng đang sáng trở nên tối mờ, nhưng tôi vẫn nghĩ cần phải tối hơn.

  Căn hộ chỉ chừng ba chục mét vuông , bên trong là phòng ngủ ngăn với phòng khách bên ngoài là một giá sách lớn, có chừa khoảng trống để hai phòng thông nhau. Những cuốn sách xếp chật trên giá và bày trên bàn khiến tôi chột dạ. Chị ta không phải nội trợ như chị Đông nói .

Chị đưa tôi vào thẳng chiếc giường đôi bên trong giá sách:

  Vào đi.

  Tôi bần thần ngồi xuống chiếc ghế đẩu bên bàn nước:

  Tôi ngồi đây được rồi.

  Chị nhìn kỹ tôi lần nữa, và hỏi:

  Đã sẵn sàng chưa?

  Tôi nói nhỏ:

  Chị Đông đã nói rồi.

  Chị khẽ lắc đầu:

  Tôi pha ấm chè nóng nhé?Hay là uống chút rượu.

  Uống chè cũng được.

Chị mang chiếc ấm và chiếc phích vào kệ bếp bên trong để pha chè vào ấm. Ánh sáng từ ô cửa sổ hình vuông trong bếp hắt ngược vào chị.

Chỉ lúc này tôi mới nhận ra bên trong chị cố ý không mặc đồ lót, khiến các đường cong cơ thể lồ lộ và thả lỏng. Người chị gày nhưng lẳn …

Sự rạo rực biến mất trong tôi bỗng hồi sinh. Tôi nhìn vào chiếc giường, hối tiếc, giá mình ngồi luôn vào chiếc giường theo ý chị …

Bên ngoài bỗng vọng vào tiếng chuyển động rầm rầm trên đường ray, rồi tiếng chuông leng keng của chuyến xe điện không rõ từ Cầu Giấy lên hay từ Bờ Hồ xuống. Một phản xạ lo sợ tự nhiên khiến tôi đứng phắt dậy, nhìn qua cửa sổ ra đường Kim Mã.

Chị đặt lên bàn ấm chè vừa pha, rồi hỏi: Có chuyện gì thế ?

Tôi lúng túng: Xe điện ồn quá.

Ở đây quen rồi, với lại nó ở tít ngoài đường. Chị run tay rót nước ra tách: Uống nước đi.

Sau tiếng ồn của xe điện, tôi bỗng dưng lo xa: Liệu gã vác xe đạp có bất thần quay lại? Rồi chuyện chắc chắn không bao giờ xảy ra, tôi vẫn cứ lo: Biết đâu Kim Uyên từ một chỗ nào đó trong khu tập thể tình cờ nhìn thấy mình? Nhìn giá sách đầy kín sách các loại sách trên giá, tôi tin chắc chủ nhân là một trí thức … Tự nhiên tôi sợ hãi. Chuyện này bị lộ, bị bắt quả tang, thì thật ô nhục. Rồi bao nhiêu công phấn đấu, bao nhiêu ước mơ tan thành mây khói.

Chị vào giường ngồi, làm như không để ý đến tôi, nhưng lại bất ngờ hỏi bằng giọng khàn khàn:

  Đây là lần đầu phải không? 

  Tôi lúng búng:

  Tại ở đây sáng quá.

Sự háo hức trong lòng tôi, bốn năm xuống chỉ còn số không. Bụng dạ mềm nhũn. Tôi chỉ muốn bỏ cuộc.

  Chị nói:

Không sao đâu. Nếu chưa sẵn sàng, để hôm khác cũng được.

Nói xong, chị rời giường ra mở chốt cửa.

Tôi nhẹ cả người, uống cạn hết tách chè, đứng dậy, mặt nóng bừng, lúng búng:

Tôi xin lỗi.

Ra khỏi phòng, cảm giác về sự nhục nhã nhất trong đời mới bùng bùng như lửa cháy  kèm theo sự nuối tiếc cồn cào vì để vuột mất cơ hội mà tôi biết chắc sẽ chẳng bao giờ có nữa. Lúc xuống cầu thang, sự mềm nhũn tự nhiên biến mất thay bằng xúc động căng cứng, khiến lúc ra cổng khu tập thể, tôi buộc phải cúi khom lưng và đi không hết bước. Sự bức xúc dâng trào và như muốn ngay lập tức vọt khỏi cơ thể…

Quá hoảng sợ, tôi nhìn quanh tìm lối thoát , rồi quyết định băng qua đường, lao qua bãi  cỏ công viên, ùa xuống hồ Thủ Lệ. Nước ngập đến ngực. Mọi bức xúc trong tôi được  lấp khuất trong nước cứ thế trào ra, trào ra…

Bỗng từ trên bờ có tiếng còi huýt lảnh lói.

Tôi giật mình nhìn lên.

Ngay bên bờ là gương mặt tức giận của gã nhân viên bảo vệ công viên. Gã hét:

Lên ngay.

Tôi hụt hẫng chậm rãi đi vào bờ, nước chảy ròng ròng trên bộ áo quần ướt sũng.

  Gã bảo vệ sừng sộ:

  Định bắt trộm cá hả?

  Tôi gầm gừ:

  Tao bắt trộm cá đấy, mày muốn làm gì?

  Gã nhận ra ở tôi điều gì đó khác thường nên chỉ nói:

  Đồ điên.

  Rồi gã bỏ đi.

*

*       *

 

  Sáng hôm sau, trước khi ra lại Quảng Ninh, tôi đến cửa hàng của chị Đông. Tôi nói:

  Hôm qua, em đã đến chỗ đó.

  Chị biết rồi. Chị Đông bình thản: Không sao đâu. Chuyện đó không thành có khi lại tốt hơn là thành,  vì hết bệnh này có khi lại sang bệnh khác. Chị lại đưa tôi một bọc các thang thuốc đã để sẵn trong một túi du lịch giả da cũ: Đây vẫn là thang thuốc trước, nhưng liều nặng hơn một chút. Thày Quát bảo em về tiếp tục uống thêm tháng nữa, tình hình thế nào thì thư về cho chị.

  Tôi trở lại xưởng trong rừng Thác Cát, Hoành Bồ. Vụ thất bại thảm hại trước người đàn bà nọ ám ảnh tôi rất lâu. Bất cứ lúc nào trong ngày, khi làm việc, khi ăn, khi ngủ hình ảnh người đàn bà đó lại hiện ra từng đường nét thân thể , từng lời nói, nét mặt …kèm theo sự xấu hổ và tiếc rẻ tội lỗi, đến nỗi người tôi lúc nào cũng thẫn thờ, chán ngán không thiết cả sắc thuốc. Bệnh thì chết là cùng chứ gì. Sau này,  càng ngẫm, tôi càng thấy, trong tất cả các thất bại trên đường công danh, sự nghiệp, đời sống , thì thất bại trong cuộc chinh phục đàn bà là ê chề hơn cả.

  Nhưng thật kỳ lạ . Một tháng, hai tháng , rồi sáu tháng trôi qua, hiện tượng di tinh đáng sợ không xảy ra lần nào. Nhiều lúc tôi mong nó xảy ra để kiểm chứng về sự thay đổi , tìm cho ra lý do vì sao, nó cũng không tái phát. Tôi đâm lo. Hay mình tuyệt đường con cái thật?

  Tôi quyết định đạp xe về Hà Nội. Chị Đông lên các tỉnh Tây Bắc mua thuốc cho cửa hàng. Tôi đành một mình đến nhà thày lang Quát ở Hàng Than.

  Thày lang Quát nhận ra tôi ngay.

  Đưa tay đây. Vừa cầm tay xem mạch, thày vừa hỏi : Uống hết thuốc đợt sau, anh thấy thế nào ?

  Tôi lúng túng:

  Thưa! Cháu không uống.

  Thày buông tay tôi ra, rồi lắc đầu:

  Vô lý. Vậy tại sao anh hết bệnh? Hết lâu rồi phải không?

  Tôi thành thật kể cho thày  lang Quát  nghe phương pháp chữa bệnh của chị Đông.

  Thày Quát nói:

  Như vậy chỉ có thể giải thích anh hết bệnh là do quá sợ hãi.

 

*

*        *

 

  Nhà nữ khoa học nổi tiếng ngồi trước mặt tôi nói:

  Lần đó cũng vì sợ hãi mà tôi hết hoàn toàn bệnh “động kinh”.

Tôi hỏi:

Chị sợ  những gì?

Đầu tiên là sợ chết vào cái tuổi còn bao nhiêu khát vọng, mơ ước chưa đâu vào đâu, mà  quyết định nghe lời chị Đông. Lúc chưa gặp anh, tôi cũng dũng mãnh lắm, nhưng khi anh vào nhà thì bao nhiêu nỗi sợ hãi trong tôi nổi lên: Rõ ràng mình đã không còn chung thủy với chồng đang ở trong chiến trường …

Tôi ngạc nhiên:

Tôi tưởng anh công tác ở nước ngoài?

Chi tiết chồng tôi công tác ở nước ngoài, còn tôi là nội trợ đều do chị Đông tạo dựng để an toàn cho tôi và an tâm cho anh. Thực ra, năm đó, tôi đang là nghiên cứu sinh về sinh học trường đại học Tổng hợp Hà Nội , chồng tôi dạy khoa lý, cùng trường, vào chiến trường từ năm 1963.

Tôi hỏi:

Chị có sợ bị lộ?

Bị lộ thì không. Khi quyết định chữa bệnh bằng tội lỗi, tôi đã đấu tranh tư tưởng rất nhiều và cũng tính toán kỹ, để vượt qua được hết trở ngại. Căn hộ tôi hẹn anh đến là của cô Hòa, bạn thân của tôi , đang đi làm nghiên cứu sinh ở Nga , giao chìa khóa cho tôi quản lý giùm , nên tha hồ tự do. Tôi cũng chẳng sợ chuyện lộ ra mình sẽ bị thị phi điều tiếng, hay bị nhà trường kiểm điểm, kỷ luật … Lúc đó, trong tôi bỗng nhiên lại dội lên ý nghĩ mà trước đó mình đã gạt đi: Mình đang là một nhà giáo, đang là người trong sạch, và chồng mình luôn tin tưởng ở mình …

  Tôi nói:

Lúc đó, tôi là thợ nên sợ khác chị.

  Và điều cuối cùng tôi sợ … Người khách nói tiếp: Nhìn điệu bộ lóng ngóng của anh lúc đó, tôi sợ mình sẽ làm hỏng một thanh niên còn trong sáng.

  Tôi bật cười:

  Cảm ơn chị. Có lẽ nhờ vậy mà tôi thành nhà văn.

Nhà văn chẳng phải ai cũng trong sáng. Lúc đó, tôi chẳng biết tên, cũng chẳng cần biết anh làm gì, nhưng một người bình thường cũng cần phải sạch sẽ . Chị mở chiếc túi da rất thời trang vẫn mang theo bên mình, lấy ra một cuốn sổ tay bìa bọc ni lông, khổ 13X19, loại sổ lịch, mặt bìa vẫn còn dòng chữ in màu nhũ đã bạc: Báo Quân Đội Nhân Dân 1967, đưa cho tôi : Từ ngày anh ấy vào chiến trường, tôi bắt đầu viết nhật ký. Đây là cuốn tôi viết từ khi bị bệnh đến khi hết bệnh, kéo dài hai năm bốn tháng, sau khi được sự đồng ý của chồng tôi, tôi quyết định để anh đọc .

Tại sao chị lại trao cho tôi?

Thật ra câu chuyện này với thứ bệnh kèm theo,  nên vĩnh viễn chôn vùi, nhưng những năm qua, tôi xem phim rồi đọc tiểu thuyết chiến tranh mô tả về người phụ nữ có chồng đi chiến trường, người thì nửa đêm phải ra sông giặt đồ, người thì ra đầu hồi cho thóc vào cối giã, người thậm chí, dắt trâu ra ruộng cày suốt đêm. Toàn là phụ nữ nông thôn. Trong khi người phụ nữ thành phố có chồng đi chiến trường, thì kinh khủng hơn nhiều, không thấy ai nói đến.

Người chồng bảo tôi :

Anh cần phải đọc để biết và hy vọng trong tác phẩm của anh sẽ có hình ảnh nàng chinh phụ thủ đô.

Rất cảm ơn anh chị. Nhất định tôi sẽ đọc.

Chị chuyển sang chuyện khác:

Hồi này , anh có gặp chị Đông?

Tôi ngượng nghịu:

Sau khi Nam hy sinh ở chiến trường Quảng Trị

, năm 1970 ,  tôi cũng rời Quảng Ninh chuyển về công ty ô tô lâm sản Hà Nội , theo các đoàn xe chuyên dụng hoạt động ở các tỉnh rừng núi miền trung , nên từ đó đến nay không liên hệ với chị .

Chị nói :

Nhưng rõ ràng đó là một người đáng nhớ . Nhân dịp về nước , vợ chồng tôi sẽ ra Hà Nội thăm chị , anh có đi không ?

 

*

*         *

 

Chị Đông  đã ngoài bảy mươi, vẫn ở địa chỉ cũ trong con hẻm xuyên từ phố Thụy Khuê ra bờ Hồ Tây , nhưng xây mới thành nhà ba tầng khá khang trang. Chị vẫn nhớ ra tôi và người bệnh “nội trợ". Trên bàn thờ là tấm hình người đàn ông mặc quân phục mang quân hàm đại tá .

Chị kể :

Anh ấy mất tháng 2 năm 1975 ở mặt trận Phước Long. Khi nhận tin báo tử, đau đớn quá, tôi phát bệnh, nằm liệt giường hai tháng liền, sau đó, tôi quyết định xin nghỉ hưu non , bởi không còn thiết làm việc gì nữa. Em chết, chồng chết thì còn tinh thần đâu mà nghĩ đến việc khác, nhất là chỉ đến cuối tháng 4 là miền Nam hoàn toàn giải phóng.

Chúng tôi xin phép thắp nhang cho anh.

Chị kể tiếp:

Nhưng đau buồn mãi cũng chẳng để làm . Sang năm 1976 , do có nhiều  bệnh nhân quen tìm đến, tôi quyết định mở phòng mạch khám bệnh, cắt thuốc tại nhà , nhờ trời thương và anh ấy phù hộ, nên cũng đông khách , nên có tiền, xây lại cái nhà này , rồi cho hai con học hành đến nơi đến chốn. Một đứa đã lấy chồng ra ở riêng, còn thằng con trai đang du học ở Nhật.

Cùng là người già, chẳng có gì phải giữ  tôi hỏi vui:

Như vậy, chị chờ anh từ năm 1963, đến năm 1975. Chị cũng là người yêu mạnh mẽ , lại là người khuyên bệnh nhân phạm tội để chữa bệnh …

Ý chú muốn hỏi có lúc nào tôi cũng định phạm tội để tự chữa bệnh  cho mình chứ gì? Chị cườ : Người chứ không phải là đá đâ . Nhưng là thày thuố , tôi luôn có ý thức phòng bệnh hơn chữa bện . Mẹ tôi và mẹ chồng đều có người nuôi tốt hơn tô , hai con tôi vì chiến tran , cũng đều có thể gửi các bác, các chú nuôi tốt hơn là cảnh để mẹ nuôi hai đứa hai nơi sơ tá , nhưng tôi phải ôm đủ thứ vất vả vào mình để trong nhà lúc nào cũng có bốn lính gác, và người lính gác thứ năm ở tận chiến trường lúc nào cũng ở trong lòng mình, nên ngay lúc động lòng nhất, sợ bị bắt quả tang, đến nghĩ cũng không dám.

  Chúng tôi cùng bật cười.

  Như vậy, sự trong sạch cũng nguồn gốc từ sự hãi.

  Chị Đông nói:

Sự trong sạch nào cũng phải đấu tranh mới có. Không biết sợ hãi chưa chắc đã thành anh hùng, mà biết sợ hãi chẳng hẳn đã là hèn kém .

                                                                                12/2/2014

                  

                             

 

 

 

 

Trần Hải