Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ra sức thi đua thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2018!
Từ khóa tìm kiếm Từ khóa tìm kiếm

NHÀ VĂN VĨNH PHÚC HIỆN ĐẠI (Phần 2; Quyển 1)

(Ngày đăng: 19/01/2018, số lượt xem: 103)

 

 

 

HÀ PHẠM PHÚ

- Họ và tên khai sinh: Hà Phạm Phú

- Sinh năm 1943

- Bút danh: Hà Phạm Phú

- Quê quán: Đan Hà, Hạ Hòa, Phú Thọ

- Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam (từ 1991)

- Hội viên Hội VHNT Vĩnh Phú năm 1975

- Hội viên Hội Điện ảnh Việt Nam, Hội viên Hội Nhà văn Hà Nội.

 

- Tác phẩm chính đã xuất bản:

1. Văn xuôi:

   * Sỹ quan trung đoàn (1985)

   * Dốc Yên Ngựa (1988)

   * Em phải sống (1990 tái bản 2007)

   * Lữ quán (1992)

   * Bông hồng đen (1995)

   * Chuyện người làng Hạ Đan (2001)

   * Chiếc chìa khóa (2004)

   * Vòng đời (Tản văn, 2007)

2. Thơ:

   * Hát về nguồn (1981)

   * Cỏ yêu (1999)

   * Trăng khuyết (2004)

3. Dịch:

   * Chuyện người vợ góa (2004)

   * Đóng vai người tình (2004)

4. Kịch bản văn học các phim:

* Bác Hồ ở Vân Nam, Nguyễn Thái Học, Biển cả (chuyển thể truyện vừa cùng tên), Vượt qua bến Thượng Hải (phim nhựa).

* Giám đốc sản xuất các phim truyện nhựa đoạt giải Bông sen vàng và Cánh diều vàng: Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông và Hà Nội, Hà Nội.

- Giải thưởng văn học:

* Giải Nhì cuộc thi truyện ngắn Tạp chí Văn nghệ quân đội năm 1981.

* Tặng thưởng truyện ngắn hay Tạp chí Văn nghệ quân đội năm 1983.

* Giải Ba cuộc thi Kỷ niệm 10 năm giải phóng Sài Gòn, Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức năm 1985-1986.

* Giải Nhì cuộc thi truyện ngắn Tạp chí Tác phẩm mới (nay là Nhà văn và tác phẩm - Hội Nhà văn VN) năm 1995.

* Tặng thưởng cuộc thi truyện vừa Tạp chí Tác phẩm mới - Hội Nhà văn Việt Nam năm 1998.

* Tặng thưởng truyện ngắn hay Báo Văn nghệ 1999.

* Giải Ba (không có giải Nhất) cuộc thi truyện ngắn Tầm nhìn thiên niên kỉ mới, Báo Tiền phong năm 2000-2001.

 

 

 

A - TRONG KÝ ỨC BẠN BÈ

 

 

 

NHỮNG ĐỨA TRẺ TRUNG DU…

 Vi Thuỳ Linh

Dù gần nửa thế kỷ đã qua, nhưng mỗi khi về làng, nhà văn Hà Phạm Phú vẫn tìm thấy hình ảnh của mình trong những đứa trẻ hôm nay. Tất cả trở thành nỗi khắc khoải trong tâm trí Hà Phạm Phú. 

Ám ảnh thiếu thốn của Phú, không phải miếng ăn, mà đói sách, hết lớp 3 cậu và các bạn vẫn chưa từng được nhìn thấy, được chạm vào một cuốn truyện nào. Việc dịch chuyển từ rừng về làng khi hoà bình lập lại, là dấu mốc của một ấn tượng đẹp mãi mãi.

Trường Tiểu học Đan Hà là trường duy nhất của xã khi ấy, nhờ thầy hiệu trưởng, học trò mới biết cuốn truyện đầu đời. Thầy Hiệu trưởng Lăng đạp xe lên thị xã Yên Bái mua sách về đọc cho học sinh. Hà Phạm Phú nghe đọc, nuốt từng lời. Đó là truyện “Con nuôi của trung đoàn” (Liên Xô) và “Gương chiến đấu của thiếu nhi Việt Nam”... Một thế giới mới mở ra... Cậu thấy mình mê truyện từ khi ấy. Song, dòng họ, cả làng quê cậu, không ai ước mơ thành nhà văn.

Lên lớp 5, chú bé Phú xa nhà 10km, trọ học thị trấn Ấm Thượng - ở đó có xã, có ga mang tên này, đều nằm dọc sông Thao. Dịp hè, trở về nhà là chú phải giúp gia đình đủ việc. Rồi hết cấp 2, lớp 7, Phú định đi học trung cấp hoá chất, nhưng bố mẹ bảo cứ tiếp tục học lên nữa, bố mẹ sẽ gắng nuôi.

Mỗi lần về, lại thấy làng thay đổi cây trồng, theo các phong trào. Họ phá cọ, trồng cây sơn (nhựa sơn để vẽ tranh sơn mài), rồi phá sơn để trồng sắn, trồng chè. Bãi sông lúc nào cũng mướt ngô và những cô thôn nữ mặc váy, tắm sông mỗi chiều. Thời nào, hoàn cảnh nào, những con người Đan Hà đều sống lạc quan, yêu văn nghệ và nhân ái.

Những câu chuyện của mẹ, người phụ nữ tháo vát tảo tần 16 - 17 tuổi đã buôn vải ở Nghĩa Lộ (Yên Bái) thực sự tác động đến anh. Đi nhiều, biết nhiều chuyện, lại ở một làng có tích về "ma cà rồng" giống người Chăm ở miền Trung (vùng Phú Thọ có một số bộ tộc người Chăm di cư ra theo lệnh Vua Lý), bà mẹ đã thổi vào con trai khả năng tưởng tượng theo những chuyện ly kỳ...

Làng của văn chương

Nửa đời người, 28 năm quân ngũ, nhà văn Hà Phạm Phú có tính nghiêm cẩn và chu đáo, nhưng tâm hồn văn chương vẫn chi phối tinh thần ông khiến con người này giàu chất nhà văn hơn là nhà binh. Năm 1990, từ Vụ Hợp tác quốc tế, Bộ Văn hóa, ông về Hội Nhà văn VN làm Chánh văn phòng Hội, lúc đó ông mới vào Hội Nhà văn. Đây là thời kỳ ông viết rất nhiều những tập thơ, tập truyện ngắn truyện vừa, dịch các tác phẩm của Trung Quốc.

Mọi con đường đều dẫn tới thành Rome. Tôi nghĩ, những người nặng tình với quê hương, lại có quê đẹp, đi mãi cũng chỉ để trở về nơi chôn rau cắt rốn, trở về chính giá trị đích thực của đời người.

Làm Giám đốc Hãng phim Hội Nhà văn từ 1995 - 2008, ông là Giám đốc sản xuất của những phim truyện nhựa có tiếng vang: “Cạm bẫy tình”, “Ông cố vấn”, “Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông”, “Hà Nội Hà Nội”... Một phim truyện nhựa sắp ra mắt là “Vượt qua bến Thượng Hải” do ông viết kịch bản cùng nhà biên kịch Lê Ngọc Minh và GS Giả Phi (giảng viên ĐH Tế Nam, sống tại Quảng Châu, Trung Quốc) nói về thời kỳ 1933 - 1934, Nguyễn Ái Quốc từ Hongkong về Hạ Môn tới Thượng Hải, vượt biển bằng tàu thuỷ tới Vladivostock.

Hễ viết nhân vật, bối cảnh nông thôn, ông liền cho quê của nhân vật là ở làng Hạ Đan (gọi ngược của Đan Hà). Từ truyện có chất huyền ảo, ma quái, hay phong cảnh trữ tình, sinh động... đều là cảnh làng Hạ Đan. Quê hương trong sáng tác của Hà Phạm Phú đeo đuổi ông như món nợ ân tình, miền cảm hứng không hề vơi cạn. Năm 2001, ông ra tập truyện ngắn Chuyện người làng Hạ Đan (NXB Hội Nhà văn).

"Ngày tôi còn nhỏ, hươu còn về vườn. Nhà nuôi gà phải làm rào cẩn thận kẻo cáo bắt mất. Lâu lắm rồi có thấy bóng dáng con thú nào đâu. Đồi trọc. Làng vắng. Lâu không gặp nam thanh nữ tú, rặt người già, trẻ con" - nhà văn bùi ngùi tiếc nuối.

Năm ngoái, Hà Phạm Phú rút gia tài sách của mình 200 cuốn tặng thư viện xã. Mới đây, ông lại lái ô tô chở 500 cuốn sách về tặng Trường Tiểu học Đan Hà. Ông biết sau mình 50 năm, những đứa trẻ của làng vẫn đói sách. Báo Văn nghệ, Văn nghệ dân tộc và miền núi hưởng ứng, nhà thơ Trang Thanh xin sách NXB Kim Đồng... Vậy là báo, tạp chí, sách gom được chất lên xe. Thầy Hoà hiệu trưởng, cô hiệu phó và các giáo viên, học sinh đón nhận hân hoan.

Gọi người biết yêu...

Khi nghe nhà văn Hà Phạm Phú nói chuyện về làng cũ và ý định tặng sách cho trường cũ, tôi rất hồ hởi. Ông hẹn cuối tháng 9 này sẽ chở tôi và một hai nhà văn nữa về thăm làng ông, chúng tôi sẽ góp sách để tặng Đan Hà. 

Đường làng thơm mùi khói mùi cây quả nơi trung du bình yên, được khởi từ buổi tối ở Thanh Xuân Nam (Hà Nội), nhà của "người làng Hạ Đan" Hà Phạm Phú trồng cây dạ hương 17 năm, rực mùi hương say đắm. Mỗi lần về làng, lại có một cảm xúc mới. Cảnh đẹp, người đáng yêu, làm sao không nhớ! Thực tình, lý do lớn nhất thôi thúc tôi muốn tới Đan Hà, lên vùng trung du ấy, là vẻ đẹp lưu truyền trong văn chương. Ước sẽ lại thấy những quả đồi kín cọ, rợp quýt trĩu quả...

Về làng, để được hồn nhiên thư thả, Hà Phạm Phú giữ tâm hồn như thời 17 tuổi, mà háo hức say mê. Cả huyện hình như chỉ mình ông là nhà văn có tên tuổi. Không biết sau này, những đứa trẻ hôm nay lớn lên ai sẽ thành nhà văn viết tiếp chuyện Đan Hà và nhớ đến Hà Phạm Phú, người tặng sách cho chúng thời thơ ấu.

Tôi viết về Đan Hà từ khi chưa đến.

Nhiều văn nhân, nghệ sĩ đã đến và viết cái làng nên thơ này. Hà Phạm Phú đã và sẽ tiếp tục viết. Ông là người - đang - yêu...

 

V.T.L

 

 

 

B - MỘT SỐ TÁC PHẨM TIÊU BIỂU

 

 

 

 

SƠN NỮ

(Truyện ngắn)

                                                 

Khúc sông qua làng Hạ Đan có một cái xoáy chìm, nhìn trên mặt thì không thấy những vòng xoáy mạnh mẽ có thể hút cả những chú trâu mộng, chỉ thấy những con sóng êm đềm, mượt như nhung mời gọi. Chằm là sơn nữ xóm Chằm heo hút với những thẻo ruộng lầy, gọi là ruộng giộc ở khá xa khúc sông đó, nhưng lại quen với xoáy chìm, có thể bơi qua bơi lại như không, trẻ làng gọi là rái cá cái. Nhưng Chằm lại đặc biệt sợ sấm, mỗi lần thấy chớp nhoằng nhoằng là người như bị chuột rút, co rúm, cứng đờ, mặt không còn hột máu, trắng bệch như vôi.

Buổi chiều hôm ấy, rỗi việc, Chằm ngồi tựa cửa, ngó mông lung con đường nối từ huyện lị về, vẻ trông ngóng. Húng đi khỏi nhà, bảo đi vùng Thượng đào vàng, đã sáu tháng hơn không thấy về, y như con cá gáy (cá chép) xổng lưới mất tăm. Cái lão chủ tịch xã mặt phẹt dạo này cứ kiếm cớ lúc thì thu đảm phụ này, lúc thì thu tiền góp quĩ kia… tạt vào, cười hềnh hệch đụng chạm đến là khó chịu, từa tựa như dính phải lá han.

Lúc ấy, bỗng nhiên trời tối sầm, chớp loằng nhoằng nổi ở phía chân trời, cùng lúc có một người cưỡi xe máy rẽ xuống con đường nhỏ hướng về phía cổng nhà Chằm. Ai mà lại đi nhầm vào con đường này nhỉ?

Ùng… oàng! Tiếng sấm nổ rền như một chùm đại bác. Chằm giật nẩy mình, ngã dúi ngã dụi, đầu chúi vào xó cửa, mồ hôi đẫm hết mình mẩy, có cảm giác sấm nhằm thẳng vào Chằm mà đánh. Một lát sau nghe lộp độp những hạt mưa, lác đác mưa, rồi nặng hạt.

Mưa như trút nước, nhưng tiếng sấm ngớt dần, Chằm hoàn hồn, mặc dù người vẫn còn run. Lạ quá, nghe như có tiếng người ngoài cổng. Ai vậy? Chằm phân vân. Tiếng người bên ngoài lại vang lên, có phải nhà cô Chằm không? Phải rồi, nhà cô Chằm đây, ai lại biết tên Chằm nhỉ, cái tên xấu xí quê mùa ấy mà cũng có người biết sao? Nghĩ vậy, nhưng Chằm không vội cất tiếng. Tiếng người vang lên vào lúc mưa gió vắng vẻ thật đáng để cho người ta nghi ngờ, lo lắng.

Toe… toe, tiếng còi xe máy vang lên chậm rãi, có chút nhẫn nại. Cô Chằm ơi, mở cổng. Tiếng còi xe máy và tiếng gọi chìm khuất sau tiếng mưa ồn ào. Nước chẩy theo chỗ nóc nhà bị thủng thành dòng lớn, tồ tồ như tiếng trâu đực đái, làm Chằm mạnh mẽ trở lại. Cô vùng đứng dậy, vớ chiếc thùng tôn đưa hứng để tránh cảnh nước chẳng mấy chốc sẽ lênh láng nền nhà.

Cơn mưa rào ập đến nhanh thì cũng tạnh nhanh. Trời hửng lên. Chằm sắn quần lên quá gối, vớ con dao quắm đảo quanh vườn. Cô thấy một người đàn ông quấn áo mưa, ngồi tựa lưng vào chiếc cổng tre, chiếc xe máy Min- khơ màu sơn cũ kĩ loang lổ dựng trước mặt nom như con nghẽo lạc bầy buồn bực. Chằm nắm chắc cán dao, cất giọng lạnh lùng. Anh tìm ai, hay lạc đường mà lại ngồi đây? Người đàn ông đứng dậy, rũ áo mưa làm nước bắn tung cả sang người Chằm. Cỡ ngoài bốn mươi, trán rộng, cằm vuông, ra dáng một người đàn ông lang bạt, giang hồ. Người đàn ông nhìn chằm chặp vào Chằm làm cô vừa ngượng vừa tức. Cuối cùng anh ta toét miệng cười. Cô đúng là Chằm rồi. Chằm ngạc nhiên, sao anh biết tôi là Chằm? Anh biết anh Húng nhà tôi? Người đàn ông cười thân mật, tôi ở chỗ Húng. Cô không mời khách vào nhà?

Chằm bỗng cảm thấy lúng túng trước người đàn ông lạ mặt, không hẳn chỉ vì sự vô ý của mình. Cô rút then, kéo cánh cổng đủ lối cho người đàn ông đẩy chiếc Min-khơ vào sân. Linh tính nói với cô, chắc Húng làm sao, bị ốm hay gặp tai nạn. Nghe nói không ít người đào vàng bị sập hầm chết, nhẹ cũng bị thương, bệnh tật hành hạ thì không phải nói. Người đàn ông đảo mắt nhìn khắp ngôi nhà lợp lá cọ, vách nứa, bắt gặp những bắp ngô gác trên gác bếp làm giống, một cót thóc nhỏ ở góc nhà, mấy chiếc áo vá phẳng phiu mắc sau cánh cửa. Người đàn bà này căn cơ, chăm chỉ. Thật tiếc cho Húng.

Chằm thấy sốt ruột. Cô rót một bát nước vối còn ấm mời khách, hỏi anh Húng nhà em có việc gì phải không? Người đàn ông đón bát nước từ tay Chằm, uống một hơi cạn, dừng một lúc mới nói. Tôi với Húng cùng làm một nơi, thân nhau. Húng bị ốm nặng nhờ tôi về đón cô lên. Hai tay Chằm khẽ run, cô vội giấu vào bọc, hỏi tiếp. Từ Chằm lên chỗ các anh làm bao xa, đi mất bao nhiều thời gian. Người đàn ông đáp, quãng trăm rưởi cây số, đường xấu đi cật lực cả ngày mới đến.

Chằm nhìn ra ngoài trời. Sau cơn mưa, trời trong veo, mặt trời đã ngả hết về tây. Cô vơ quáng vơ quàng mấy bộ quần áo nhét vội vào chiếc túi vải, nói với người đàn ông, lên đường ngay. Người đàn ông thoáng một chút lưỡng lự, bảo cũng được, tranh thủ thời gian, giữa đường tìm một chỗ nghỉ tạm, hôm sau đi sớm.

Trước khi bỏ đi đào vàng, Húng làm cho xí nghiệp gạch dưới huyện, cách nhà hơn hai chục cây số, ở lán tập thể, chiều thứ bẩy mới đạp xe về. Húng vốn là một nông dân khỏe mạnh, nhưng làm quần quật cả năm cũng chỉ đủ vắt mũi bỏ mồm. Cách đây chừng ba năm, Húng “chạy” chỗ Chủ tịch xã, xin được việc ở xí nghiệp gạch dưới huyện. Mặc dù công việc nặng nhọc, thu nhập không phải khấm khá, nhưng nhà dù sao cũng có đồng ra đồng vào, hơn hẳn cái anh bán mặt cho đất bán lưng cho trời. Mỗi chiều thứ bẩy về nhà, Húng diện chiếc áo sơ mi trắng, chiếc quần bò mài, đi đôi dép Thái. Biết ý, Chằm cũng nghỉ việc sớm, nấu nồi nước lá bưởi gội đầu, mặc chiếc áo màu gụ dù đã tàu tàu nhưng rất hợp người, nhiều anh trai tơ trong làng nom thấy thèm nhỏ rãi. Nhà ở xóm vắng, cơm nước xong là Húng đè ngay Chằm ra giường, hùng hục như trâu húc mả. Nhưng Húng chưa bao giờ làm cho chằm thấy sướng. Một phần, Húng cứ như kẻ ăn đấu làm khoán, xong là lăn cái huỵch xuống giường, cất tiếng ngáy pho pho. Phần khác, do mặc cảm, mỗi lần Húng làm chuyện ấy, lại khiến nỗi cay đắng mà cô cố nuốt vào lòng trỗi dậy. Nó cũng là nguyên nhân làm cho cô sợ tiếng sấm hơn mọi thứ đáng sợ khác trên đời.

Chằm ngồi lên xe, sau lưng người đàn ông. Cảm thấy ngượng ngập, cô lấy chiếc túi vải chèn vào giữa, thế mà mỗi lần xe xóc là ngực cô lại chạm vào lưng anh ta, khiến cô đỏ mặt. Len lén một nỗi sợ hãi. Không hiểu sao cái chiều giông gió ấy lại hiện lên. Hôm đó, sau khi lấy chồng được ít ngày, do nhà Húng chậm thuế gì đó bị phạt, Chằm phải đem tiền lên huyện nộp. Trên đường trở về, thì trời bỗng tối sầm, giông tố nổi lên, sấm chớp rền rĩ. Giữa đường không biết trú vào đâu, Chằm đội mưa đi, người ướt như chuột lột. Qua đoạn đường rừng, đột ngột một kẻ bịt mặt từ trong bụi rậm nhao ra, lôi tuột cô vào, lột quần áo cưỡng hiếp. Từ đó trở đi, hễ cứ nghe sấm chớp là Chằm lại lên cơn run lẩy bẩy, không làm chủ được mình. Vụ ấy khiến Chằm vô cùng căm uất, nhưng nỗi đau phải nén sâu trong lòng, sống để bụng chết mang đi, không biết thổ lộ cùng ai.

Đường đầy ổ gà ổ trâu. Đi được dăm chục cây số, phần vì mỏi mệt, phần vì trời quá tối, không thể đi tiếp. Người đàn ông bảo phải tìm chỗ nghỉ lại, đi nữa đường núi nguy hiểm, không có chỗ trọ. Nghe đến đường núi vắng vẻ không có chỗ trọ, Chằm đành phải nghe lời. Hai người tìm được một chỗ nghỉ chân. Nhà chủ ý tứ thu xếp cho họ phích nước, chiếc màn đôi rồi lui ra. Người đàn ông bảo Chằm ngủ trên giường, còn anh ta ngủ dưới sàn nhà, ngay lối cửa ra vào. Chằm bảo, anh nên ngủ để lấy sức mai đi tiếp. Chằm không buồn ngủ. Người đàn ông nhìn Chằm đăm đăm. Chằm sợ cái nhìn ấy, sao nó nóng bỏng. Cô ôm cái túi định nhào ra cửa, nhưng anh ta tóm chặt lấy hai vai cô, ấn xuống giường, gằn giọng, định chạy đi đâu, ra ngoài cho hổ nó vồ à? Không còn cách nào khác, Chằm đành ôm chặt chiếc túi, nằm co ro trong một góc giường. Người đàn ông dường như khẽ nhếch mép cười, nhưng không nói gì thêm. Anh ta trải chiếc chăn ngay lối cửa ra vào, rồi nằm xuống. Chằm lần tìm trong túi, lấy chiếc kéo nhọn thủ thế. Cô nằm im không dám cựa mình, hai tai căng lên đón từng tiếng động lạ. Thời gian chậm hơn sên bò. Bất chợt cô nghe thấy tiếng ngáy pho pho của người đàn ông. Làm sao anh ta có thể ngủ được nhỉ? Mà anh ta ngáy mới ngon lành chứ.

Chằm nhớ lại. Lần ấy Húng đem về một chiếc đài bán dẫn cũ kĩ chỉ bắt được mỗi đài phát thanh của huyện. Đài ấy phát đi phát lại thông báo của công an về việc bắt được một gã yêu râu xanh, phạm tội hiếp dâm. Trong khi thẩm vấn, gã đã khai với công an, từng thực hiện bẩy vụ hiếp dâm. Công an điều tra được ba vụ, còn bốn vụ vẫn chưa rõ đối tượng bị hại. Công an kêu gọi những ai là nạn nhân hãy đến tố cáo với công an. Công an bảo đảm sẽ giữ hoàn toàn bí mật. Chằm nghe vậy, tin công an sẽ giữ kín chuyện khó nói cho mình, bèn một mình đi bộ lên công an huyện. Bất ngờ ở chỗ phòng tiếp dân, cô chạm phải gã Chủ tịch xã. Gã hỏi cô đi đâu lên đây. À phải rồi, tôi biết rồi. Sau đó gã cười nham hiểm rồi quay lưng đi mất.

Chằm bỏ về không vào khai báo với công an huyện nữa. Vừa đi Chằm vừa giận mình, sao ngu lại vác xác lên huyện, giờ thì khó mà giấu chuyện ấy được. Bất ngờ có tiếng phanh xe đạp, Chằm giật bắn mình, ngoảnh lại, thì ra là ông quan xã. Ông Chủ tịch dừng xe, nhìn chằm chặp vào ngực Chằm, cô về tôi kèm. Chằm vội từ chối. Chủ tịch xã đạp xe chầm chậm bên cạnh, nói tiện đường tôi đưa cô về, tôi có ăn thịt cô đâu mà cô lo. Chằm nghĩ, dù sao gã cũng là Chủ tịch xã. Gã chả lẽ không giữ cái bản mặt sao. Ngần ngại mãi rồi cô cũng ngồi lên sau xe ông Chủ tịch. Đến ngõ nhà, cô bảo dừng xe. Chủ tịch nắm lấy tay Chằm nói, thế em không mời anh vào nhà à. Chằm bảo ông thứ lỗi, thứ bẩy nhà em về, mời ông lại chơi.

Chiều thứ bẩy mưa to gió lớn, Chủ tịch xã bất ngờ đến thăm. Thấy Chằm mới gội đầu xong, mùi lá bưởi còn quấn quít, thì nuốt nước bọt ừng ực. Chủ tịch bảo, mưa to gió lớn thế này chồng cô không về, tắm gội đón ông Chủ tịch à, thật là ngoan quá. Nói rồi gã choàng tay ôm lấy Chằm. Chằm luồn qua tay Chủ tịch, nói ông đừng làm vậy, chồng tôi về bây giờ đấy. Chủ tịch xã đang thèm bèn nói, chồng cô có về cũng chẳng dám làm gì tôi. Nói xong lại nhằm lao vào Chằm. Lần này ông Chủ tịch hành động một cách quyết liệt, vồ được Chằm, hung hãn ghé miệng hôn. Chằm ngửi thấy mùi rượu nồng nặc, hôi hám. Cô gồng mình, đẩy gã ra xa, miệng la to. Ông Chủ tịch đừng làm bậy. Vị quan xã cười hềnh hệch, Chủ tịch thì là cái đếch gì, thằng này muốn… cô. Chằm dùng hai tay đấm vào mặt gã. Điên lên gã chửi, đồ đĩ thõa còn làm tàng.

Chằm cắn vào tay gã. Gã lồng lên như con hổ đói, dằn cô xuống giường, dùng răng xé rách chiếc áo màu gụ của cô. Gã nói, để tao chơi hay là để tao mách với thằng Húng chuyện mày bị thằng ấy hiếp? Bỗng nhiên Chằm muốn khóc, người tự nhiên mềm rũ ra. Chủ tịch xã dùng ngón chân cái lấy sức kéo tuột xuống chiếc quần của cô. Đúng lúc ấy hình như có một cơn lốc hất tung cánh cửa nhà Chằm. Húng xông vào, hai tay nắm chặt, hét to, chúng mày định giở…Chủ tịch xã thả Chằm, vuốt lại quần áo, chậm rãi nói, chú bình tĩnh, không có chuyện gì không nói được với nhau.

Chủ tịch bảo, cô chú nên nhớ anh là Chủ tịch xã. Uy tín của anh là uy tín của xã, bộ mặt của anh là bộ mặt của xã. Vả lại chuyện này mà vỡ lở ra thì cô chú cũng chẳng được lợi lộc gì. Nghe anh, anh sẽ đền bù danh dự cho chú, đền bằng tiền. Mười triệu nhé, hai mươi thì hơi nhiều, thôi mười lăm. Đây là tiền thuế đất của xã, đáng lẽ mai anh phải nộp lên huyện, anh vay tạm đưa chú. Đêm ấy Húng ngồi uống rượu một mình, không nghe Chằm nói gì hết. Sáng hôm sau, chủ nhật, nhưng Húng không để đến chiều như mọi khi, mà đạp xe đi ngay. Sau đó, chủ nhật nào về nhà Húng cũng say rượu, cũng lôi Chằm ra đánh. Vào chủ nhật cuối cùng, Húng bảo không làm cho xí nghiệp gạch nữa. Húng đi lên Thượng đào vàng. Chằm bảo, người ta nói đi đào vàng nguy hiểm, sống nay chết mai. Húng quát, câm miệng, biết gì mà nói. Vậy là Húng đi đào vàng, đi một mạch sáu tháng hơn rồi, không tin tức gì về.

Mệt quá, cuối cùng Chằm cũng ngủ thiếp đi. Lúc mở mắt ra thấy trời đã sáng bạch, người đàn ông đứng trước Chằm, đôi mắt đăm đắm, như là có lửa. Chằm ngượng, vội nói, mệt quá ngủ thiếp đi mất. Người đàn ông bảo, có nắm xôi lạc đấy, ăn nhanh rồi lên đường. Hai người ăn vội ăn vàng, không nói với nhau câu nào. Họ đi đến chiều thì qua một xóm nhỏ, đi một thôi đường nữa thì đến một căn nhà tuy ở nơi hẻo lánh, nhưng nom khá tươm tất. Chằm nhẩy xuống xe, người mỏi ê ẩm. Cô hỏi người đàn ông đã đến nơi rồi sao. Người đàn ông bảo đến nơi rồi. Chằm hỏi, Húng chồng tôi ở đâu. Người đàn ông bảo cứ vào nhà ngồi nghỉ rồi nói chuyện. Cực chẳng đã, Chằm bước vào nhà, cái túi xách bằng vải vẫn giữ khư khư trên tay.

Người đàn ông vớ chiếc ấm nhôm, châm lửa nấu nước pha trà, tự nhiên như ở nhà mình. Chằm kiên nhẫn ngồi đợi. Cô nhìn ra ngoài chỉ thấy núi là núi, rậm rạp, hoang vu, không rõ thuộc địa phương nào, cách quê Chằm bao xa. Đợi người đàn ông uống hết chén trà, Chằm lại hỏi, chồng tôi ốm nằm ở đâu, tôi muốn gặp chồng tôi ngay. Người đàn ông nói, cô cứ bình tĩnh, trời sắp tối rồi, phải nấu cơm ăn, có thực mới vực được đạo. Chằm không hiểu rõ anh ta nói gì, sự sốt ruột khiến cô phát bẳn, bèn quát lên. Anh nói đưa tôi lên thăm chồng tôi ốm thì chồng tôi ở đâu. Hay anh lừa tôi? Có phải anh là đồ đểu, anh lừa tôi đúng không? Người đàn ông nói, cô cứ bình tĩnh tối nay ngủ đây, rồi mai tôi sẽ đưa cô đi gặp Húng.  Hay chồng tôi chết rồi, anh hãy nói thật đi, nếu không tôi sẽ bỏ về ngay bây giờ. Người đàn ông bảo, cô không biết đường về và cô không thể về. Chằm bảo, trên đường đến đây tôi đã nhìn thấy bến xe ở ngoài kia, anh đừng coi tôi là người rừng không biết gì. Người đàn ông bật cười, cô thông minh đấy, nhưng tôi bảo đảm cô bước ra khỏi cửa là phải lộn lại ngay cho mà xem.

Chằm ôm chiếc túi vải lao ra khỏi cửa. Bầu trời tối đen như mực. Lập lòe những vệt đom đóm. Những vệt lửa ma trơi xanh lè bay là là mặt đất. Đôi lúc vang lên tiếng cú rúc, nghe thấy là rợn tóc gáy. Cô cắm đầu chạy, không biết chạy đi đâu, cứ chạy. Một lúc sau, mệt thở ra tai, Chằm dừng lại, thấy mình như một hạt cát trong đêm tối. Không biết ngôi nhà cô vừa bỏ lại ở chỗ nào. Chằm bắt đầu sợ. Cô nhìn thấy một đám lửa to, chắc là bếp lửa nhà ai đó, bèn hướng về phía ấy mà đi. Ánh lửa trông gần mà sao xa vời vợi, đi mãi không đến. Sương đêm xuống ướt đẫm hai vai Chằm. Bất ngờ có tiếng chim gì kêu như tiếng trẻ con khóc. Chằm hét lên một tiếng, phá chạy. Cô thụt xuống một hố sâu đầy bùn, không sao trèo lên được. Lấy hết can đảm, Chằm kêu to, cứu tôi với, cứu với.

Ánh sáng. Ánh sáng một bó đuốc. Một bàn tay mạnh mẽ kéo cô lên khỏi cái hố bùn. Hóa ra là người đàn ông ấy. Cái cảm giác luẩn quẩn, giống như cái kiến leo phải cành cộc, đem đến cho Chằm một thứ cảm giác lẫn lộn, vừa uất ức vừa tức giận vừa bất lực. Chằm ngán ngẩm thốt ra, lại là anh à. Người đàn ông có vẻ đắc chí, thấy chưa tôi đã nói rồi. Thôi, giờ thì tắm giặt nghỉ ngơi, mai đi gặp Húng. Quá mệt mỏi, vừa đặt lưng là ngủ, ngủ một lèo không phòng bị. Sáng hôm sau mở mắt đã thấy người đàn ông lui cui bên bếp. Anh ta múc một bát cháo đậu xanh, bảo cô ăn đi rồi ta nói chuyện. Chằm đói. Cô đỡ bát cháo đưa lên miệng húp, nghĩ bụng hôm qua đã quá đề phòng, đã quá nghi ngờ. Anh ta là bạn của Húng cơ mà. Húp xong bát cháo, anh ta tự tay lấy tăm và rót nước cho Chằm. Cô đón nhận những cử chỉ ấy một cách biết ơn, nào bây giờ anh đưa tôi đi gặp chồng tôi. Người đàn ông đưa hai tay ấn vai Chằm ngồi xuống, khi cô vừa dợm đứng lên. Anh ta lấy giọng ra vẻ thương cảm, đôi mắt chớp chớp, nhưng tránh nhìn thẳng vào mắt Chằm, nói:

- Chằm ơi! Cô bình tĩnh nghe tôi nói nhé, Húng chết rồi.

Chằm đưa hai tay ôm lấy ngực, kêu lên ơi anh Húng ơi, rồi gục xuống. Người đàn ông vội đưa tay đỡ cô, để cô tựa vào tường nhà. Một lát sau, Chằm mở mắt, nói giọng ngân ngấn trách móc, sao anh không cho tôi biết ngay từ khi còn ở dưới Chằm, họ hàng nhà anh ấy vẫn còn đông. Tôi sợ cô quá đau khổ không đi nổi. Người đàn bà chẳng còn lòng dạ nào, bèn khẩn khoản nói với người đàn ông, anh đưa tôi ra mộ để tôi thắp cho anh ấy nén hương. Người đàn ông đáp, được thôi rồi lấy mấy thẻ hương từ trong chiếc ba lô treo trên cột bếp, dẫn người vợ đau khổ của bạn ra khỏi nhà.

Hai người đi theo con đương mòn đầy cỏ chè vè sắc lẻm, rậm rạp. Sương vẫn chưa tan. Hai người đi một thôi dài. Chằm hỏi, mộ chồng tôi còn xa không. Cứ đi, gần đến rồi. Hai người đi tiếp một thôi dài nữa, tới bên một con suối. Người đàn ông chỉ một nấm đất mới đắp, mộ của chồng cô đấy. Chằm nhìn nấm đất mới đắp, vương vãi một ít hoa rừng, một ít chân hương, lạnh lẽo liền tru lên khóc. Ối anh Húng ơi là anh Húng ơi. Người đàn ông chờ Chằm khóc xong, nói lúc sáng vội đi quá không kịp bảo cô biện lễ cúng cho cậu ấy, cũng phải bát cơm quả trứng chứ để suông vậy sao. Chằm giật mình ân hận, nói phải phải.

Dọc đường về Chằm hỏi người đàn ông, chồng tôi ốm thế nào mà  chết. Cậu ấy lên cơn sốt, ngỡ chỉ sốt qua loa, nào ngờ. Cậu ấy đi nhanh quá. Đời người như chiếc lá đang phấp phới trên cành mà bất ngờ rụng xuống. Cô có tin có số mệnh không? Nếu không có số mệnh làm sao tôi lại gặp cô. Chằm tin con người có số mệnh, nhưng không hiểu làm sao việc cô gặp người đàn ông này lại là số mệnh. Cô nhớ đến ngôi mộ Húng ở nơi hẻo hút, cô lạnh. Cảm giác như ngôi mộ giả. Có chuyện gì ẩn giấu ở đây? Trong thâm tâm cô tin là Húng chưa chết. Mộ ấy là mộ giả. Mộ giả. Chằm vụt quay trở lại con đường hai người vừa đi qua. Người đàn ông giật mình quay lại theo. Cô Chằm có chuyện gì vậy? Tôi quay lại chỗ ngôi mộ. Và cô bắt đầu chạy. Người đàn ông chạy theo cô.

Chằm đứng nhìn ngôi mộ hồi lâu nói, tôi không tin là Húng đã chết. Người đàn ông trầm ngâm, chính tự tay tôi đào mộ chôn cậu ta, cậu ta bị sốt rét ác tính, chết rồi mà. Dân đào vàng nhiều người chết vì sốt ác tính lắm. Chằm không còn tin người đàn ông này nói nữa. Thế chôn họ ở đâu? Mỏ vàng ở đâu? Người đàn ông không ngờ Chằm lại lắm lí lẽ đến vậy. Vùng này là quê tôi, mỏ vàng không ở đây. Vì Húng kết nghĩa anh em với tôi, nên tôi đưa về đây chôn, cô tin chưa? Tôi không tin, tôi phải nhìn tận mặt chồng tôi, mới tin. Chằm ngồi xệp xuống, dùng hai tay bới đất, phải nhìn thấy tôi mới tin, mới tin. Người đàn ông đến bên giữ tay cô lại, phong tục quê tôi cấm chôn xuống lại bới lên, phải tội đấy. Chằm không chịu, tôi là vợ, tôi có quyền nhìn thấy mặt chồng. Vừa nói, hai tay cô không ngừng bới đất, bới như điên. Biết không có cách nào ngăn được Chằm, người đàn ông nói, cô nghỉ tay tôi có chuyện này nói với cô…

Người đàn ông ngồi nghiêm ngắn trước mặt Chằm, mở bọc ni-lông lấy ra một tờ giấy xé từ vở học sinh, chìa ra trước mặt cô. Đây là chữ viết và chữ kí của Húng, cô nhận ra chứ? Đúng rồi, nhận ra. Vậy để tôi đọc cho cô nghe, hay là cô tự đọc. Chằm chậm rãi nói, tôi đọc được, để tôi tự đọc. Đó là tờ giấy gán nợ. Tờ giấy được Húng viết sau khi thua bạc, viết rằng do thua bạc không có tiền trả, Húng đồng ý để Chằm (vợ chính thức của Húng) làm vợ Lý Ba một năm để gán nợ. Chằm tái mặt, nhưng không khóc. Cô nhìn thẳng vào mắt Lý Ba (tên người đàn ông) hỏi, đây là sự thật hoàn toàn chứ? Hoàn toàn sự thật, cô có chấp nhận không? Chằm khảng khái đáp, Húng là chồng tôi đã kí thì tôi chấp nhận. Hết một năm thì Húng đến đây nhận lại vợ chứ? Lý Ba đáp đúng vậy.

Đêm đầu tiên làm “vợ” gán nợ, Chằm không ngủ được. Cô nhớ lần đầu tiên ôm Húng, cái cảm giác kì lạ râm ran khắp người, khi thân hình một đứa con trai lọt thỏm trong lòng, ở một hoàn cảnh đặc biệt. Lần ấy, vào một buổi chiều chớm hè, đám học trò cuối cấp trung học cơ sở, rủ nhau đi bơi chia tay. Đám con gái ngồi trên bờ, chỉ có lũ con trai hăng máu vịt nhảy xuống sông. Húng liều lĩnh bơi qua xoáy chìm và bị hút chìm nghỉm. Đám bạn Húng sợ hãi, leo lên bờ kêu có người chết đuối cứu, cứu. Không có người lớn nào ở gần, thế là Chằm cởi áo, nhẩy xuống sông bơi ra giữa dòng, túm tóc Húng kéo vào bờ, cứu sống gã.

Nửa đêm, Lý Ba vén màn chui vào giường Chằm. Cô bảo không được, trước sau cô vẫn là vợ Húng. Lý Ba bảo, thời gian này cô là vợ tôi, cô phải để cho tôi… Nói rồi Lý Ba nằm đè lên Chằm. Cô cảm giác thấy sức mạnh của một người đàn ông tràn đầy khí lực với những bắp thịt rắn chắc. Nhưng Chằm lấy hết sức, co chân đạp Lý Ba ngã lăn xuống đất. Lý Ba không nói gì, làm lại động tác cũ lần nữa. Lại lãnh một cú đạp lăn xuống đất. Sau lần thứ ba bị đạp lăn xuống đất, Lý Ba phủi bụi đứng dậy, leo lên chiếc võng dù, một lúc đã cất tiếng ngáy nhè nhẹ. Sáng hôm sau, khi Chằm thức dậy thì Lý Ba đã chuẩn bị xong bữa sáng. Hai người ngồi ăn, cùng làm ra vẻ không nhớ đến câu chuyện đêm qua. Chằm nói, tôi sẽ lo mọi chuyện trong nhà, anh cần đi làm xa cứ đi. Tôi không bỏ trốn đâu mà lo. Lý Ba nói, tin là Chằm không trốn, thời gian sẽ làm cho cô hiểu.

Hai người sống với nhau nửa năm, lúc nào cũng kính trên nhường dưới, như một cặp vợ chồng hạnh phúc, duy chỉ có chuyện chăn gối là không chung. Suốt nửa năm trời, không một lần Lý Ba nhắc đến hoặc đòi hỏi chuyện đó. Một lần vào giữa mùa hè, Lý Ba đi làm xa về, sau khi tắm rửa xong, hai người dọn cơm ngoài thềm vừa ăn vừa hóng gió. Tối đó trăng sáng như gương. Chằm quan tâm hỏi, công việc có trôi chẩy không. Lý Ba đáp là công việc trôi chẩy, khoe đã mua cho Chằm bộ quần áo lụa tơ tằm đẹp lắm. Sau bữa cơm, Lý Ba bảo Chằm mặc thử coi có vừa không, có hợp không, có thuận mắt không? Chằm mặc bộ quần áo thấy vừa như in, lụa tơ tằm mát rượi. Cô hỏi Lý Ba, anh thấy Chằm mặc có hợp không? Mình ở nơi rừng núi heo hút, mặc thế này người ta cười cho. Lý Ba bảo, cười hở mười cái răng, rồi bước đến sau lưng Chằm choàng tay ôm cô vào lòng. Lâu lắm Chằm mới được đàn ông ôm, cảm thấy toàn thân run rẩy, tựa hẳn vào ngực Lý Ba. Kí ức về việc bị chiếm đoạt dường như không còn cản trở cô nữa. Cảm xúc đàn bà như ngọn sóng trào dâng, vượt qua mọi con đê ngăn giữ. Cô cảm thấy bắt đầu tin cậy anh, cảm thấy trái tim rung động như vườn cây dào lên lúc gió thoảng qua. Đôi mắt to ươn ướt của cô ngước nhìn anh chờ đợi.

Húng xuất hiện vào lúc bất ngờ nhất, cữ cuối thu. Theo thỏa thuận gán nợ thì còn những ba tháng nữa. Lúc ấy khoảng giữa trưa, chỉ có mình Chằm. Cô sững người thấy Húng khoác một chiếc áo như mượn của ai, nhăn nhúm bệ rạc. Anh đến đây làm gì? Anh gán tôi làm vợ người ta mà còn vác cái mặt đến đây sao? Giọng cô run lên vì giận dữ. Húng cười cười, giọng tỉnh queo. Thì lỡ rồi, cũng là do cô đẩy tôi đến bước đường ấy. Tôi đến đây đón cô. Hãy trốn theo tôi. Chằm đã bình tĩnh lại, nhìn thẳng vào Húng nói, tôi đã làm lụng chín tháng trả nợ thay anh. Còn ba tháng nữa. Tôi phải cầm được cái giấy gán nợ của anh trong tay, tôi mới đi. Húng kêu đói. Chằm bảo còn cơm, để rang với trứng ăn tạm. Trong lúc Chằm châm bếp thì Húng đi vòng quanh nhà, không chỗ nào không ngó ngó nghiêng nghiêng xem xét. Chằm rang xong cơm, xới ra bát, bảo ăn tạm rồi đi, kẻo Lý Ba về thì phiền phức lắm. Húng dừng lại ngó lên hốc cột chỗ gần bếp, hai mắt lóe sáng như phát hiện được cái gì hay ho. Gã bám cột thoăn thoắt leo lên khiến Chằm vô cùng ngạc nhiên. Cô nói với gã, không ăn cơm lại làm trò khỉ gì thế? Húng mặc kệ Chằm, với tay moi từ trong hốc cột ra một gói ni- lông, rồi nhẩy xuống đất.

– Đây rồi, tiền đây rồi!

Chằm ngơ ngác một lúc mới hiểu Húng vừa nói gì. Tiền nào thế, sao lại ở trên hốc cột ấy? Húng cười, mặt rạng rỡ, tay thoăn thoắt mở gói ni lông. Một cục tiền toàn giấy bạc 50.000 đồng mới cứng, được buộc bằng sợi ni-lông mầu đỏ. Húng lật đi lật lại gói tiền mấy lần nói, vẫn còn nguyên, mười lăm triệu vẫn còn nguyên. Chằm bảo, hãy đặt trả lại đi, tiền của người ta, một cắc cũng đừng động vào. Húng vẫn còn vui, nên đáp nhẹ nhàng, sao lại tiền của người ta, tiền của tôi đấy, tiền Chủ tịch xã đền danh dự cho tôi đấy, thằng Lý Ba thắng bạc lấy của tôi, bây giờ tôi lấy lại. Mặt Chằm bỗng tái đi. Cô bảo, anh hãy trả lại cục tiền cho người ta, tôi sẽ trốn đi với anh. Húng gạt phắt, vợ của tôi tôi lấy lại, tiền của tôi lấy lại. Cô lấy đồ đi ngay với tôi.

Chằm bỗng trở nên cương quyết, vậy thì anh hãy cút khỏi đây ngay. Húng cất tiếng cười, trở giọng nói, con đĩ mày thích thằng chó ấy rồi phải không, chín tháng trời đêm nào mày cũng làm ngựa cho nó cưỡi quen miệng rồi không dứt ra được phải không. Chằm uất quá, hét lên đồ mạt hạng, đồ không biết liêm sỉ. Anh có khác gì Chủ tịch xã anh không! Húng mặc cho Chằm chống cự, vơ cục tiền nhét vào chiếc túi đeo lưng, nắm chặt tay cô kéo đi. Chằm dùng hết sức không cưỡng lại nổi, đành để cho Húng lôi đi. Húng lôi Chằm đi tắt qua một cánh rừng, vòng qua một xóm nhỏ thì gặp đường cái lớn, đi thêm một đoạn nữa thì đến chỗ xe vẫn dừng để đón khách. Thế nhưng hai người chờ đến tối mịt, tịnh không một chiếc xe chạy qua. Suốt thời gian chờ đợi ấy, Húng không ngớt miệng rủa Chằm là ngựa cái, với đủ những từ khó nghe.

Bất chợt hiện ra ở chỗ ngoặt ánh đèn pha xe mô tô, rồi tiếng máy nghe rất đanh, rất quen thuộc với Chằm. Đó là xe của Lý Ba. Chớp mắt chiếc xe ập đến. Lý Ba đứng sừng sững trước mặt Húng và Chằm. Trong ánh đèn pha mặt Húng tái như gà cắt tiết, nhớ lại những đòn võ của Lý Ba hai chân gã cứ thế run lên cầm cập. Giọng Lý Ba nhẹ nhàng, sao các cậu ra đi vội vã thế, chín tháng trời nào có ít chuyện, phải uống với nhau bữa rượu, hàn huyên cho đã rồi chia tay mới chia tay chứ.

Về nhà, Lý Ba bảo Chằm thắp đèn dọn mâm bát, bày lòng lợn Lý Ba mua ở thị trấn lúc chiều. Lý Ba nói, tôi đoán hôm nay có khách, nên mua sẵn lòng lợn ở dưới thị trấn, nào ngờ khách lại vội vã bỏ đi. Chằm rót rượu cho hai người đàn ông, rồi ngồi xuống cạnh, nhưng không ăn gì. Lý Ba nhìn cô nói, tôi nhớ còn ba tháng nữa mới đến hạn, suốt chín tháng trời tôi đối xử với cô không tệ phải không? Quay sang Húng, Lý Ba vỗ khẽ lên vai. Cái vỗ vai làm cho Húng rùng mình như bị điện giật. Tôi vốn đánh giá cậu khá hơn cơ đấy. Bây giờ đến nước này, tôi xí xóa cho cậu. Cậu có thể mang Chằm đi, cậu có thể mang cả tiền cậu thua bạc mà tôi vẫn giữ nguyên đó đi. Chằm nhìn Lý Ba, việc đi hay ở của mình sao anh ta không hỏi mình một câu? Sao hai người đàn ông này lại coi mình như món hàng có thể trao đổi mua bán thế nhỉ?

Chằm lén quay mặt lau vội giọt nước mắt đang ứa ra, rồi đứng dậy rót đầy ba chén, nói anh Lý Ba đúng là quân tử, lòng dạ rộng rãi, em chưa bao giờ uống rượu, nhưng hôm nay xin uống cùng anh một chén. Lý Ba cười ha hả, lại vỗ vai Húng, cậu cùng uống với vợ cậu một chén, hả. Rượu vào lời ra, Húng cũng dần bớt sợ, nói con vợ em nó đẹp nhất làng đấy, chủ tịch xã mê nó như điếu đổ, ông anh cũng mê nó rồi phải không? Lý Ba trợn mắt nhìn Húng, thằng chủ tịch của mày đã làm gì rồi, để tao cắt mẹ cái giống của nó đi, hả. Chằm rót đầy hai chén rượu, nói rượu ngon các anh uống đi, rượu này bảo đảm uống không bao giờ say. Cả hai người đàn ông, nói hôm nay vui vui, các anh mà không say thì còn ra làm sao.

Sáng hôm sau, mặt trời lên cả con sào, Lý Ba mới tỉnh giấc. Ngó quanh không thấy bóng dáng Chằm đâu. Húng vẫn còn nằm co quắp nơi góc nhà. Lý Ba đi lại chiếc giường nơi Chằm vẫn nằm thì thấy mảnh giấy, viết mấy chữ nguệch ngoạc: Các người ức hiếp người ta đến thế là cùng…

Lý Ba biết chẳng còn hi vọng gì nữa. Riêng Húng, sau khi nướng hết số tiền Lý Ba trả lại, mò về quê, bụng nghĩ biết đâu Chằm chả về trước rồi. Đến khúc sông qua làng, Húng lại nghĩ đến Chằm bèn cởi quần áo nhẩy xuống tắm, bơi một mạch ra giữa dòng bị cái xoáy chìm hút chìm nghỉm.

 

 

 

 

 

ĐƯỜNG LẦY

(Truyện ngắn)

        Mở đầu

Cuộc tình, nếu bạn đọc thấy có thể gọi là cuộc tình, đã kết thúc quá nhanh, mang mầu sắc hình sự, với một cuộc tự thú. Anh với chị không biết ai cay đắng hơn ai. Sau khi sự việc xẩy ra, anh thấy đau, nhưng miệng vẫn lẩm nhẩm, chịu đựng, chịu đựng được. Nhưng cái đau này không phải là một cú đánh, mà là một mũi kim thuốc độc ngấm dần, và có lúc cảm giác như hồn đã lìa khỏi xác, dù vẫn đi đứng, ăn ngủ. Để gượng dậy, anh lôi tập truyện “Lỏng và tuột” của Trần Đức Tiến ra đọc, thấy từng mảng người tha hóa và tan rã, bất giác một giọt nước mắt ứa ra. Anh tự hỏi, có thật là mình khóc không và sao lại khóc nhỉ, ngần ấy tuổi đầu rồi? Anh mở điện thoại, xóa những tin nhắn mà chị gửi cho anh, toàn những lời chẳng chuộc, có đâu vào đâu, nào là cuộc hẹn đi thăm đền M, đi vãn cảnh chùa T, đi xem làng cổ L…

Nhưng như thế, anh đã làm sống lại những kí ức , những mẩu đời.

1

Một ngày chớm hè.

Chị một mình đi đến bên giếng Loan, ngắm nhìn bầu trời đầy mây và lắc thắc mưa trong đáy nước mờ xanh mầu rêu. Một người đàn ông ăn mặc tềnh toàng, nhưng có cái nhìn cứ như dính vào da thịt, gợi nên cảm giác ghê ghê, tiến lại gần chị. Người đàn ông nói:

“Trông tướng chị thật phúc hậu, hậu vận có nhiều điều đáng nói. Chị có muốn xem không?”

Chị khẽ rùng mình thoát khỏi cái nhìn như thôi miên, đáp lại một cách lịch sự:

“Cảm ơn, tôi không muốn.”

Người đàn ông mở miệng định nói tiếp, bỗng ngậm lại, lảng đi chỗ khác.

Chị thấy một cánh tay mạnh khỏe vòng qua lưng chị, tin cậy. Chị không quay lại, cũng không nói gì. Chị nhìn xuống đáy giếng, bóng chị lồng lên bóng một người đàn ông khác.

2

Người đàn ông ấy là anh. Chị nhớ lại bộ mặt anh cách đây chừng hai giờ đồng hồ, nhìn thẳng về phía trước, lạnh tanh. Từ ngày biết anh (chừng vài tháng nay), chị chưa bao giờ nhìn thấy bộ mặt ấy. Chị chỉ thấy gương mặt anh rạng ngời, sáng bừng mỗi khi cười vui, trầm ngâm (nhưng vẫn có nét cười) mỗi khi buộc phải suy nghĩ, xịu xuống như trẻ con vì lỡ phạm một lỗi gì đó khi anh làm cho chị phật lòng.

Bộ mặt lạnh tanh của anh làm cho chị bất ngờ. Lần đầu gặp anh chị vẫn nghĩ, anh thuộc loại người ham vui, trong cuộc sống luôn gặp thuận lợi, mọi thứ đều hanh thông. Chơi với loại người ấy sẽ không bền, gặp khó khăn trở ngại là dễ buông tay, là dễ quay đầu. Sau đó chị đã làm vài phép thử, thấy không hẳn như chị nghĩ, anh là người có đầu óc xét đoán, và cũng chịu chơi. Tuy nhiên anh vẫn là một thế giới xa lạ, chị nghĩ cần có thêm thời gian.

Một hôm nhân nói chuyện quê hương, anh ngỏ lời mời chị về thăm đền thờ M. Anh nói, ngôi đền ấy có từ rất lâu bên quê ngoại anh, lại nói rằng đấy mới là đền thờ chính, đền thờ các nơi khác chỉ là thờ vọng. Chị vốn thích thăm thú khám phá những nền văn hóa địa phương, thích tìm hiểu đời sống dân dã, nghe nói đến đi thăm đền thờ M là nhận lời liền. Nhưng chị là người ưa vân vi, mẹ bảo là cả nghĩ, nên sau khi nhận lời đi với anh chị cứ luôn tự hỏi mình, tại sao lại có thể nhận lời một mình đi với anh được nhỉ? Liệu anh có thể coi việc chị nhận lời đi thăm đền M như là tín hiệu đồng ý hoặc xiêu đổ của một người đàn bà trước sự quyến rũ của đàn ông? Liệu có thể vì thế mà anh coi thường chị, cho chị là nhẹ dạ? Hỏi chị có thích anh không, nói không là tự dối lòng, nhưng thích hẳn thì chưa. Chị nhận lời đi một mình với anh, là bởi hai lí do. Thứ nhất chị tin vào bản lĩnh của mình, chị có thể đứng vững trước mọi cám dỗ, chị có thể nhận rõ mọi mánh khóe của đàn ông, chị có một tình yêu chung thủy với chồng và lòng yêu con thánh thiện. Thứ hai, chị thấy anh là một người chừng mực, trong cách cư xử bộc lộ rõ sự chân thành, không có thâm ý và ác hiểm.

Thực ra đấy chỉ là logic hình thức, là cái cách chị tự thuyết phục mình. Chị vốn là một cô bé từ rừng ra, cuộc sống đô thị đổi mầu nhanh chóng như con tắc kè, từng khiến chị e ngại. Nhưng đấy là chuyện của mười mấy năm trước. Bây giờ chị đã bước sang tuổi bốn mươi, đã cụng đầu với nhiều trắc trở của cuộc đời, đã va chạm với mọi loại người, từ quan chức đến thường dân, từ nhà thực nghiệp đến lái buôn nước bọt, từ người hâm mộ đến kẻ gạ tình. Chị thuộc bọn họ như lòng bàn tay. Vì thế trong đám đàn ông vẫn lượn lờ, mời mọc, tán tỉnh chị không ai có thể khiến chị để ý. Anh có phần nào đó thuộc loại họ, nhưng cũng có phần nào đó khác họ, chị chơi với anh ở cái phần khác ấy, dĩ nhiên?

Chị chủ động gặp anh hay là anh chủ động gặp chị (bây giờ chị không có nhu cầu tách bạch, nhưng có vẻ anh chủ động thì đúng hơn) trong một buổi tiệc nhỏ dưới ánh đèn lờ mờ. Sau này khi nhắc lại buổi ấy, cả anh và chị đều không giữ được ấn tượng gì rõ rệt. Nhưng khi anh nhắn tin cho chị, một cái tin hết sức trung tính, chẳng hiểu sao lại làm cho chị chú ý. Thoạt tiên chị có ý định thử xem trí tuệ của anh ở hạng nào, có thể chơi với nhau được không? Chị mượn một đoạn của Nhã ca trong Kinh thánh. Cái phép thăm dò này chị đã dùng không phải một lần, và rất thành công. Những kẻ nhăm nhe chị đều bị Nhã ca đánh bại, tháo chạy tóe khói. Nhưng anh thì không. Anh làm cho chị bất ngờ, cũng là từ Nhã ca. Và đấy là ấn tượng tốt đầu tiên anh đem đến khiến chị mở lòng tiếp nhận. Và thế là chị bị cuốn vào một cuộc phiêu lưu tìm kiếm. (Về bản chất chị là người thích khám phá, hợp với tính cách của một nhà khoa học). Chị bắt đầu thu thập, tìm kiếm thông tin về anh, qua tất cả mọi nguồn.

Anh không phải là một nhân vật của công chúng, tuy vậy trong nghề nghiệp cũng có ít nhiều thành công. Những nhân vật trong các câu chuyện mà anh kể mỗi lần gặp chị hoặc qua điện thoại đều hiện lên như một người hai mặt, đen và trắng, tốt đấy mà cũng xấu đấy, hiền như cừu mà dữ như sói. Liệu đấy có phải là sự hóa thân của anh? Nhiều khi chị có cảm giác dường như chị đã hiểu anh, nhưng cũng nhiều khi chị không biết anh là người như thế nào. Có lẽ đấy mới chính là lí do sâu xa khiến chị nhận lời đi với anh chuyến này, đi thăm đền M, chị muốn chứng thực những suy ngẫm của mình (cũng có thể chị cũng muốn hiểu cả bản thân nữa).

3

Anh bảo, quê anh nằm ven một dòng sông, những cánh ruộng bãi mùa ngô trổ hoa tím sẫm đầy thi tứ, núi non xanh ngắt xô đuổi nhau như lũ trâu đàn, nơi ấy có đền thờ M. rất thiêng, những lời cầu nguyện về tình yêu bao giờ cũng linh ứng. Vùng quê anh mỗi buổi chiều xuống, khói lam vấn vít trên những mái cọ mòn vẹt thời gian, phảng phất đâu đó trong không gian những tiếng rì rầm của lịch sử, của huyền sử, của những truyền thuyết, của những chuyện ma quái. Quê anh như một cái kho khổng lồ lưu trữ những chuyện cười chẩy nước mắt, những chuyện hài hước sâu cay, nghe rồi đêm nằm thì khóc…

Phải thừa nhận anh biết cách lôi kéo, anh giỏi “tiếp thị quảng cáo”. Nghe anh nói xong, chị bỗng ao ước được đi đền M. được đặt chân lên mảnh đất liền với quê chị mà nghe cứ như ở xứ khác. Lúc ấy thì anh ngỏ lời mời chị, cứ như đọc được ý nghĩ của nhau vậy.

4

Chiều hôm trước mưa như vỡ bể chứa nước nhà ai.

Chị gọi điện bảo, có nên hoãn lại chuyến đi? Nói xong chị bỗng thấy hối tiếc. Nếu anh đồng ý với chị hoãn chuyến đi thì sao? Ngộ nhỡ anh vì một phút bồng bột mời chị, bây giờ chị nói vậy, có cớ để anh thoái thác thì như thế nào nhỉ? Còn thế nào nữa, chứng tỏ những nhận xét ban đầu của chị về anh hoàn toàn chính xác. Hoãn chuyến đi lần này, thì phải chờ đến năm sau, năm sau mùa xuân mới lại quay về.

Nhưng nghe chị nói xong anh liền gạt phắt, nắng mưa là chuyện của trời, đi thăm đền M. là chuyện người yêu nhau. Chị giẫy nẩy nói, cấm đấy, cấm anh nói…

Anh cười, bảo dân gian nói thế.

Sáng nay anh đến tận nhà đón chị. Nghe tiếng còi xe reo vui như một lời chào, chị khóa cửa, khóa cổng rồi nhìn trời, mây ùn lên từ phía đông, chợt nhói ngực một chút lo lắng, nhưng chị không nói gì. Anh đón chị với một nụ cười thật tươi.

5

Anh đưa chị dọc theo triền đê mới được “cứng hóa”, nhựa trải thật êm. Trời loe nắng. Chị chợt nghĩ, nếu hôm qua hoãn chuyến đi thì thật tiếc, xem chừng trời đẹp. Anh nói như đoán được ý chị, trời hôm nay sẽ có mưa.

Hai người rẽ vào một quán cà phê ven đường. Bà chủ quán tuy đẫy đà, nhưng có duyên, vừa pha cà phê vừa bắt chuyện khách, hỏi ướm, chắc anh chị đi đền M. Gớm mấy năm nay, đi đền M. sao lắm người đẹp thế, anh chị cũng…

Người khôn ăn nói nửa chừng. Anh liếc chị rất nhanh rồi đáp, đi đền M. để cầu lương duyên. Nói xong anh mới thấy ở phía trong, có một người đàn ông nửa ngồi nửa nằm trên đi văng, dáng như tình nhân hơn là ông chủ. Anh ý tứ nuốt nhanh cái câu định thốt ra, lảng chuyện, hỏi đường đi đền M. còn bao xa nữa, có tốt không?

Dĩ nhiên anh biết đi đền M. bao xa, hỏi chỉ để mà hỏi, nhưng do lâu không đi về quê, nên tình trạng mặt đường quả thật anh không rõ. Bà chủ đáp, đường lên M. đang được mở rộng, đào xới lung tung, đoạn LL mưa này khó đi lắm, chỉ có xe tải mới dám liều qua, anh chị nên quay trở lại.

Bỗng người đàn ông nằm trên đi văng góp lời, rằng vừa từ trên đền M. về, phải thuê xe tải kéo mới qua được đoạn LL, nên quay về ngày mai ngày kia đi. Câu nói của người đàn ông làm cho anh thấy nóng gáy. Anh trả tiền, cầm tay chị ra xe, không chút ngần ngừ, phóng thẳng theo hướng đền M.

6

Anh kể, mẹ anh là người có nhan sắc, được ông ngoại rất yêu chiều, mười sáu mười bẩy tuổi đã theo các chị đi buôn lên tận N, có người con trai Thổ thấy thích muốn lấy, định dùng phép chài (một thứ bùa ngải) để giữ chân mẹ, may mẹ tránh được. Biết chuyện, ông ngoại không cho mẹ đi buôn, giữ ở nhà rồi gả cho một anh trung nông khá, nhưng anh này vì ghen mà quẫn trí, đánh mẹ như cơm bữa, rồi chết đuối cái đận đi vớt củi sông. Mẹ bị nhà chồng kiện là âm mưu giết chồng, may có bà chị họ bên chồng làm chứng nên trắng án. (May mắn, ở đời lúc nào cũng có người lương thiện, không thì chả biết số phận mẹ thế nào, và liệu có anh bây giờ). Mẹ lấy bố thông qua mối mai, đẻ anh và cả một lô em mà vẫn chửa thật quen bố.

Chị không thể tưởng tượng được khi anh nói mẹ đẻ những mười mấy bận, chỉ đậu được chín. Anh bảo nhớ một trận mẹ ốm thật nặng, gọi anh đến bên, nói mẹ thương con, mẹ chết thì các con khổ. Sau trận ốm đó trở đi, hầu như mẹ không bao giờ ốm cho đến ngày mẹ đi làm về, kêu nhức đầu, đi nằm sớm và nằm bệt cả năm trời cho đến khi mất, hưởng tuổi trời chín mươi.

Chị bảo có lẽ vì thương con mà mẹ vượt qua cái chết, vì tương lai của con cái mà mẹ vượt qua bệnh tật. Mẹ hưởng đại thọ chín mươi là nhờ hồng phúc của nhà anh.

Anh chữa lại lời chị, mẹ chính là hồng phúc của lũ anh em anh.

Chị có gì đó giống anh, là con cả trong một gia đình đông con, chị vất vả hơn anh vì là con gái, mọi việc trong nhà đều dồn lên đầu chị. Ngày đó nhiều khi chị không khỏi ấm ức khi bị mẹ mắng, thậm chí bị đánh đòn vì lỗi của những đứa em. Tất cả những cái đó bây giờ nghĩ lại, giống như thể giấc mơ, không còn vị cay đắng mà toàn dư vị ngọt ngào, bởi tình yêu mẹ.

Chị kể, ngày đó cha mới đi chiến trường về, có một chiếc máy thu thanh nhỏ. Chiếc máy nhỏ vậy mà như có phép thần, có thể chứa một nhóm người nói suốt ngày suốt đêm. Cô bé năm tuổi hiếu động là chị ngày ấy, chơi với cậu em ba tuổi, thấy thương những cô cậu tí hon trong chiếc hộp suốt ngày nói mà chẳng ai cho ăn, bèn rủ em lấy bánh lương khô của bố, vẽ vụn rồi nhét vào những lỗ hở trên chiếc máy thu thanh, không nhét được thì dùng tăm đẩy vào, bảo ăn đi rồi nói, không thì chết thành ma đói.

Một người hàng xóm đi qua trông thấy kêu lên, hai đứa làm hỏng “đài phát thanh” rồi này.

Mẹ đang cuốc cuốc xới xới ở vườn chạy vào, thẳng cánh phát cho hai chị em mỗi người một phát in đỏ năm ngón tay. Hai chị em cảm thấy bị đánh một cách vô lí, khóc ầm lên, kéo nhau chạy ra cây rơm sau nhà, rúc vào mà thút thít, rồi ngủ lúc nào không biết.

Buổi tối, mẹ nấu cơm xong, tìm hai chị em, không thấy đâu, cuống lên chạy đôn chạy đáo khắp nơi. Bố ra lấy rơm cho bò ăn, chân vướng vào hai chị em, kêu lên các con tôi, tội nghiệp các con tôi.

Mẹ cảm thấy nhoi nhói nơi tim, nhưng vẫn giữ vẻ mặt lạnh lùng. Đi ngủ, hai chị em ôm nhau nằm quay mặt vào vách. Mẹ xong việc, lên giường, hai chị em cũng không quay lại. Mẹ hỏi cái hĩm thằng cu ngủ cả rồi à? Hĩm không trả lời. Cu bật lên khóc thút thít. Mẹ kéo hai con vào lòng mình, hỏi các con có thương mẹ không?

Hĩm, cô bé năm tuổi đã phải làm không ít việc mà lứa bạn cùng tuổi chẳng bao giờ phải động chân tay, cảm thấy lòng trào lên niềm thương mến vô hạn đối với mẹ. Cô bé dường như hiểu được nỗi vất vả hai sương một nắng của mẹ, suýt bật khóc, nhưng cắn môi lúng búng, con có thương mẹ.

Đứa em thấy chị nói vậy bèn nói theo, cu cũng có thương mẹ.

Mẹ vòng tay ôm chặt hai con, giọng dịu lại, hỏi tiếp hĩm và cu thương mẹ như thế nào?

Hĩm vẫn còn ấm ức, đáp con thương mẹ bằng ngón
tay út.

Cu cũng bập bẹ theo, cu thương mẹ bằng ngón tay út.

Mẹ ôm chặt thêm hai con, rơm rớm nước mắt, nói mẹ đầu tắt mặt tối kiếm gạo nuôi con lớn thế mà hĩm với cu thương mẹ chỉ bằng ngón tay út thôi.

Anh bảo, mẹ có tính cách mạnh mẽ, còn em có vẻ hay hờn dỗi.

Chị thừa nhận nhận xét của anh về mẹ có phần
chính xác.

Cơn mưa lớn ập đến cắt ngang câu chuyện của của anh và chị.

7

Cơn mưa ập đến nhanh hơn anh tưởng. Mưa to rửa sạch những đoạn đường nhựa bị đất nhây bẩn.

Chạy xe dưới mưa không thể chạy nhanh như khi trời khô nắng đẹp, nhưng trên những đoạn đường như thế anh vẫn có thể ung dung nhấn ga. Chị bảo cầu trời những điều người chủ quán cà phê nói không đúng, sẽ không có đoạn nào lầy lội đến mức xe không qua nổi.

Tiếng mưa dội ào ào. Anh vẫn nhấn đều ga, nhưng có cảm giác hình như trên đường chỉ có độc xe của anh, đặc biệt chưa hề có chiếc xe nào chạy ngược trở lại. Điều ấy đem đến cho anh dự cảm bất an. Anh hỏi chị đã khi nào gặp lở núi, tắc đường phải nằm lại cả tuần để chờ thông xe chưa? Không cơm ăn, không nước uống, màn trời chiếu đất…

Chưa, chị đáp, nhưng chị có thể hình dung ra tình huống đó. Chị hỏi thế trong xe anh có đem theo mì tôm, nước uống không, hai thứ đó có thể giúp hai người trụ được vài ba ngày đấy.

Xe vòng qua một khúc quanh, bất ngờ hiện ra một đoàn ba bốn chiếc xe tải đỗ nép bên đường, bùn đất lấm lem, lặng ngắt, chẳng có ma nào mà hỏi.

Anh vẫn cho xe chạy.

Mưa ngớt.

Trước mặt là một đoạn đường, thoáng nhìn cũng đủ biết, là đất mượn được chở từ những quả đồi phía trong về đổ, nhầy nhụa, đỏ loét; hằn lên những vệt bánh xe ngoằn ngoèo, sâu hoắm.

Anh đạp phanh, dừng xe.

Chị nhìn đoạn đường trước mặt, lo cho anh. Đường khó đi, xe tải còn nằm lại, liệu chiếc xe gầm thấp như xe của anh có thể vượt qua? Hay là nói để anh quay lại, không đi hôm nay thì đi hôm khác. Chị nhìn anh dò hỏi.

Anh hiểu ánh mắt của chị, nhưng không trả lời, ước lượng chiều dài đoạn đường lầy. Tuyến này, ngày mẹ còn sống anh vẫn thường xuyên đi, vốn được trải nhựa khá bằng phẳng, sau này do xe tải, xe siêu trường siêu trọng đi nhiều nên bị xuống cấp, lở và sụt lún nặng. Nếu thuộc, bám vào phần nhựa còn lại vẫn có  thể qua. Nhưng khó  nhất là đoạn cống ngầm đã bị phá đi chờ xây lại, chỗ ấy mà sa lầy thì chỉ còn nước gọi Cứu hộ đến cẩu lên. Nghĩ vậy, nhưng anh không nói.

Chị thấy gương mặt anh trở nên lạnh tanh, đôi mắt ngó thẳng, dường như anh không biết có chị đang ngồi bên cạnh. Sốt ruột chị hỏi, đi chứ anh? Anh gật đầu, hôm nay anh và em về đền thờ M, không đi hôm nay thì không còn hôm nào khác, không còn khi nào khác nữa.

Sao lại không còn hôm nào khác, không còn dịp nào khác? Anh thật vô lí, nhưng chị không muốn tranh cãi.

Vậy là đi. Anh gài cần số về vị trí L, nhấn ga cho xe bò lên thật chậm. Chị có cảm giác đuôi xe bị lắc liên tục, chiếc xe nhiều lúc không theo sự điều khiển của anh, tim cứ thót lại, miệng không ngừng lẩm nhẩm lạy Mẫu phù trợ chúng con.

Anh vẫn hai tay nắm chặt vô-lăng, mặt lạnh tanh, đôi mắt nhìn thẳng, như dán chặt vào mặt đường.

Xe vượt gần hết đoạn đường lầy thì đến đoạn cống ngầm bị phá, mới đổ đất lên. Đất thịt đỏ nhoe nhoét, bị xe tải quần nát, để lại những vệt sâu đầy nước.

Nhìn cảnh tượng đó chị rụt rè hỏi, có qua được không anh?

Anh như người câm điếc, không mở miệng.

Chị chẳng hề phật lòng, vì chị nghĩ chắc anh còn mải tính toán cách vượt qua.

Một lúc sau anh bảo, chỗ này không thể liều mà qua được. Phải dùng mẹo. Anh tắt máy, quay qua nhìn chị, nhìn như để xem có phát hiện ra sự sợ hãi ở nơi chị không.

Chị không biết khi xe sa lầy thì làm sao để thoát, nhưng chị biết rằng muốn thoát khỏi vũng lầy thì phải có mưu kế. Chị nhớ lại cái đận anh lái xe đến thăm chị, do tránh một con chó mà để một bánh lọt xuống rãnh thoát nước, phải gọi đội cứu hộ đến mới đưa xe lên được. Mắc lầy ở tận nơi đồng không núi quạnh này, gọi xe cứu hộ biết bao giờ mới tới?

Anh cởi giầy, vén quần thật cao, rồi nhẩy xuống xe.

Chị cũng định nhẩy xuống theo, xem có thể giúp được anh gì thì giúp.

Anh ngăn chị lại, nhẹ bảo, rằng chị cứ ngồi nguyên đấy, để anh xem xét sao đã. Rồi anh nhoẻn cười, hỏi chị có sợ không? Nụ cười làm cho chị thấy nhẹ lòng, nỗi sợ bay biến. Chị đáp, thực lòng thì có sợ, nhưng có anh bên cạnh chị không còn sợ nữa. Anh lại cười, cười thật to. Chị cũng cười, hỏi anh, giờ thì làm sao đây? Anh đáp, nếu em giúp anh thì không gì không vượt qua.

Anh mở cốp xe lấy ra một hộp các-tông trong đó có một chiếc rìu, một lưỡi xẻng, nói đây là thứ đồ chơi anh mua ở chợ QĐ, mấy năm nay chưa có lúc nào dùng, nay xem ra là có tác dụng. Anh dặn chị, ngồi trong xe đợi anh, rồi chạy tắt qua quãng đồng đến ngọn đồi bên cạnh, lấp ló mấy ngôi nhà sau lũy tre xanh.

Anh đi rồi, còn lại chị với chiếc xe và đoạn đường lầy.

Đột ngột từ hướng ngược lại xuất hiện một đám trai làng, mặc độc quần cụt, kẻ thì vác cây đòn xóc nhọn, kẻ thì lăm lăm trong tay con dao. Bọn người này dừng lại bên chiếc xe, tò mò, ngó nghiêng rồi buông những lời khó nghe, cười một cách khả ố. Một gã lấy đòn xóc gõ gõ vào nắp ca-pô.

Lúc đầu khi đám trai xuất hiện, chị cảm thấy hơi nhột. Giờ, thấy gã thanh niên gõ vào xe, chị bỗng thấy tức giận. Chị định xắn quần, xuống xe, hỏi gã trai rằng có biết làm như thế là phá hoại tài sản của công dân không? Nhưng trước khi đi anh dặn chị, cứ khóa cửa ngồi trong xe, không mở cho người lạ lên, để tránh rủi ro, bất trắc. Chị hiểu rủi ro bất trắc là thế nào, khi báo in và báo mạng hàng ngày đưa nhan nhản những tin khi đọc không khỏi giật mình.

Cửa kính xe đã được anh hạ xuống từ trước, đủ để nói chuyện với người bên ngoài, nhưng người bên ngoài không thể thò tay vào trong. Chị cố giữ giọng bình tĩnh, nói rằng anh kia, anh có biết làm thế là phá hoại tài sản của người khác không?  Gã cầm chiếc đòn xóc giật mình dừng lại. Một gã tay cầm dao, cười cợt, bà chị mắc lầy có cần chống lầy không, lũ chúng tôi đều mạnh khỏe cả sẵn sàng giúp đỡ? Chị đưa mắt nhìn cả bọn, cố đánh giá trong số đó ai là người có thể nói chuyện được. Chị nghĩ đám trai làng ở nơi hoang vắng này, có thể có những kẻ ít học, không được giáo dục đến nơi đến chốn, nhưng chị tin ánh sáng trí tuệ và lương tri vẫn hiện hữu, sự thuần phác chắc chắn còn hơn ở nơi đô hội.

Trong đám trai làng chị nhận ra một người duy nhất trên mình mặc chiếc áo lính cộc tay bạc mầu, da sạm nắng, có vẻ lớn tuổi hơn. Chị nhìn thẳng vào anh ta, nói rằng chị cần sự giúp đỡ của mọi người để đưa chiếc xe này qua khúc lầy. Người thanh niên mặc áo bộ đội nhìn chị. Đôi mắt của anh ta lộ vẻ thông cảm, không có chút gì ghen tức, hả hê khi thấy những người đi xe sang trọng bị mắc lầy. Anh ta hỏi chị, người lái xe đâu, chỗ này lầy không đi qua được.

Mấy gã trai thấy người mặc áo lính bắt chuyện với chị thì lảng ra, bảo đi thôi không mọi người ở ngoài bãi đang chờ. Rồi lục tục kéo nhau đi.

Người mặc áo lính như còn muốn nói gì nữa.

Chị mở cửa xe nhẩy xuống đường.

Người thanh niên chỉ vào gầm xe nói, thấp thế này thể nào cầu cũng bị chạm đất, phải dùng xẻng mơi chỗ đất cao đi, rồi lót tre bổi ở dưới, sẽ vượt qua được thôi. Chị không hiểu lắm, nhưng vẫn gật đầu. Chị hỏi, anh bạn có vẻ thạo về xe nhỉ? Người thanh niên đáp, rằng anh ta đã từng làm lính lái xe bộ đội biên phòng. Thảo nào! Người thanh niên mặc áo lính quay qua nói với đám trai làng đang còn có ý chờ, bảo cứ đi trước, sẽ đuổi theo sau.

Chị nói chuyện với người thanh niên mặc áo lính độ non một giờ thì anh quay lại. Đi cùng anh còn có một người chạc tuổi ngoài năm mươi, trên vai vác theo một bó bổi tre to đùng. Người áo lính chào ông  già, vì họ là người cùng làng hẳn phải quen biết nhau. Người mặc áo lính nói với chị, có bác đây giúp thì yên tâm rồi, chỉ mươi phút là xe qua bên kia thôi.

Chị nhìn hai người dân làng LL giúp anh san bớt những chỗ đất cao, thay nhau lót bổi để anh đưa xe qua đoạn cống ngầm, thấy anh quả là biết làm công tác quần chúng.

Qua khỏi đoạn cống ngầm, anh và chị không ngớt cảm ơn hai người dân làng LL. Chị muốn gửi họ một ít tiền mua rượu và thức nhắm, nhưng họ nhất định từ chối.

Khi chỉ còn lại hai người trên xe, anh nói với chị, thật may mắn, chắc Mẫu nghe thấu lời em khấn đã phù hộ. Chị hỏi sao biết em khấn. Anh trả lời do thần giao cách cảm.

Đúng là khi anh đi vào làng, chị có khấn.

Anh có thể đoán biết được ý nghĩ của chị? Chị nghĩ và nhớ lại khi bố anh sắp mất, chị cảm thấy ruột nóng như lửa đốt, gọi điện cho anh thì anh nói, bố anh vừa đi cách đây mười phút. Kì lạ thế cơ chứ. Chị nói, khiếp, lúc vượt khúc đường lầy mặt anh cứ lạnh tanh, nom mà phát hãi. Anh cầm tay chị, bóp khẽ với lòng biết ơn.

8

Lúc sắm lễ ở trước đền, chị đã mua những bông cúc vàng, những bông cúc còn chúm chím. Anh bảo ở nhà anh cũng hay mua loại cúc đó. Chúm chím thì cắm vào bình, mãn khai thì làm hoa đĩa, nom thật đẹp.

Chị biết hoàn cảnh của anh, cảm thấy ái ngại, một người như anh sao lại có thể cam sống như thế. Sự chia sẻ tình cảm của chị với anh có thể làm anh xao xuyến, cũng có thể làm anh ngộ nhận. Anh bắt đầu buông những lời tán tỉnh, không đến nỗi ngô nghê, cũng không hoàn toàn hoa mĩ giả dối, lọt tai chị. Chị tự cảnh cáo mình, hãy cẩn thận với những người đàn ông như anh.

Hôm nay cùng anh vượt qua một đoạn đường lầy, chị bỗng phát hiện ra rằng, anh có một tâm hồn trẻ và mạnh mẽ. Hình như cái khoảng cách thế hệ giữa anh và chị chưa bao giờ có, và những cái anh có thì chị lại thiếu. Vì thế mà anh lôi cuốn chị chăng?

Cánh tay anh vòng qua lưng chị rất nhẹ, chỉ trong giây lát, mặc dù lúc đầu chị định né tránh, sau thì đón đợi, nhưng anh ý tứ dừng lại.

9

Cái kỉ niệm vượt qua đoạn đường lầy ấy khiến chị cảm thấy số phận của hai người có gì đó gắn bó với nhau hơn. Từ đó những lần nhắn tin, những lần gặp nhau qua mạng nhiều thêm và dầy thêm.

Buổi sáng chị gửi một tin nhắn, sáng nay đến cơ quan, trời đẹp quá, em nhớ tới anh. Anh đang? Hoặc, em thấy thương anh, sao anh phải chịu đựng như thế!

Đúng là chị có mủi lòng khi biết hoàn cảnh của anh. Vợ anh đi xa, xa hàng chục năm, anh sống cùng một người con trai. Hai bố con, hai người đàn ông làm sao chăm sóc nhau?

Anh viết trong những lần gặp nhau trên mạng, rằng không hiểu sao, cứ nghĩ đến chị là anh trằn trọc, có cảm giác như biết chị từ lâu lắm rồi, từ ngàn năm trước, rằng ngàn năm sau vẫn còn biết chị (thật là sáo rỗng, nhưng sao chị lại nghe lọt tai). Chị bảo rất nhiều lần anh đoán đúng ý chị, nhiều lần chị định cầm máy gọi cho anh thì anh đã gọi cho chị trước, chỉ mấy chục giây, chỉ mấy giây.

10

Chị thừa nhận với mình rằng, anh nhận xét về chị đúng, chị hay giận dỗi bất chợt, chị cực đoan và vì thế không khỏi có những quyết định thiếu sự tỉnh táo của lí trí.

Hôm ấy chị cùng lũ em kéo nhau về quê thăm mẹ, thăm lại khu vườn ngày xưa chị đã cùng mẹ và các em khai phá, giờ cây xanh phủ bóng, chim chóc véo von. Cảnh quê thanh bình yên ả, mẹ con đoàn viên khiến lòng chị tràn dâng lòng yêu mến. Chị bèn nhắn tin cho anh, em về với mẹ. Anh nhắn lại, mẹ là tài sản vô giá của chúng ta, hãy nâng niu trân trọng giữ gìn. Anh cảm nhận rất rõ điều đó. Khi mẹ anh mất đi, anh thấy không có gì bù đắp được, ngoại trừ có em.

Khoảng trưa, anh nhắn cho chị, bỗng dưng anh thấy tối tăm mặt mũi, như là tụt huyết áp, con trai thì bị ốm.

Chị bỗng thấy xúc động, lo lắng. Nếu ở gần chị có thể chạy thẳng đến chỗ anh, nấu cho anh một bát cháo, mua một nồi lá xông cho con trai anh.

Đêm ấy lên mạng, chị chờ, chờ mãi mới thấy anh xuất hiện. Chị nói, em thương anh biết nhường nào, anh còn phải chịu đựng như thế đến bao giờ nữa? Một lúc sau mới thấy anh đáp lại, em không cần thương hại, em có bỏ chồng em đến ở với anh đâu, mà anh cũng không bỏ vợ mà.

Chị đọc những lời ấy, không tin là nó được chính anh thốt lên. Hai giòng nước mắt bỗng dưng ứa ra, chẩy dài trên gò má.

Đoạn kết

Anh đã yêu chị thật rồi sao? Nhã ca trong Kinh Thánh viết, em hãy về vườn xưa xem cây thạch lựu đã nở hoa chưa. Tình yêu của anh như lá cờ phất trên mình em… Nhiều lúc anh đã nghĩ, giá mà anh được sống bên chị, nhưng anh chôn chặt ý nghĩ ấy trong lòng. Chị đã có gia đình, có chồng, có con.

Hôm ấy, đúng là anh bị ốm, và anh thèm khát có một bàn tay phụ nữ chăm sóc. Liệu chị có thể lìa bỏ tất cả vì anh? Chị bày tỏ lòng cảm thông, ái ngại. Còn anh thì đã đáp lại một cách sỗ sàng. Anh đã thức gần trắng đêm đó, vẫn thấy chị trên mạng. Nhưng chị im lặng. Một chấm xanh câm lặng như tâm một cơn bão. Rồi anh thiếp đi.

Sáng ra anh mở mạng, thấy một lá thư ngắn, đêm qua em đã nói hết chuyện với chồng em…

Chị đã tự thú? Cớ gì thúc đẩy chị tự thú? Mà thực ra có gì để tự thú?

Anh phân vân nhẩm tính, vừa đúng hai tháng và mười bốn ngày…

Thứ Tư, ngày 15-6-2010

 

 

 

 

 

 

CHÙA KIM LIÊN

Chùa Kim Liên trên núi Tử Yên nằm ở sườn đông, sát kề vịnh biển.

Ngôi chùa cổ ấy xây từ đời nhà Lý lờ mờ rêu phong, được bao bọc bởi khu rừng thông cổ thụ xanh mướt, quanh năm chìm trong mây phủ. Phía trước sân chùa là vực sâu, nước từ lòng núi tích tụ thả xuống thăm thẳm một bức màn trắng xóa, dân địa phương gọi là thác Trời. Những sinh linh tội lỗi đi qua thác Trời sẽ được thanh tẩy, lại trở nên trong trắng.

Vịnh biển ở đây phong cảnh tuyệt vời, đảo đá dựng lên những tấm bình phong kì thú, mỗi khi mặt trời lên, biển tựa như có một họa sĩ khổng lồ vung bút tô vẽ muôn mầu huyễn ảo, khiến thiên hạ phải trầm trồ đệ nhất kì quan. Khách thương ngoại vực đến, đi thuyền trên vịnh biển luôn được nghe một câu chuyện do các chân sào kể lại.

Chuyện xẩy ra vào cuối thời nhà Trần.

Sau ba lần đánh thắng quân xâm lược Nguyên- Mông, đất nước yên bình, vua tôi trên thuận dưới hòa, lê dân chí thú làm ăn, đạo chích tuyệt diệt, đêm ngủ không cần đóng cổng. Vua tôi sùng Phật, thi nhau học Phật, không ít người đắc đạo. Tuy nhiên cái khung cảnh thái bình thịnh trị ấy không giữ được lâu. Dần dà, vầng hào quang sáng chói của chiến công chống quân xâm lược làm cho các vị hoàng thân quốc thích, các quan lại chức việc của trào đình dần lóa mắt, trở nên kiêu ngạo, coi việc cung tiến, cống nạp của dân chúng là lẽ đương nhiên.

Nhà vua đương triều nhiều lần cử các quan khâm sai đại thần đi tuần tra, thậm chí trao cả quyền tiền trảm hậu tấu, nhưng tham quan ô lại vẫn cứ mọc lên, nhiều như nấm sau mưa. Thời các tiên hoàng trị vì, nhà chùa được coi trọng. Các bậc cao tăng trí khí sáng láng, phật quang rực rỡ luôn được vời vào triều tham gia quốc sự, nhưng không tham chính. Gần đây nhà chùa bị gạt ra ngoài, sư sãi thường bị làm nhục. Các bậc cao tăng vì thế mà ngày càng xa lánh.

Vua Trần đương triều là người nặng lòng vì đất nước. Đêm đêm ngài chong đèn đọc sách, cảm thấy một nỗi cô đơn vô bờ bến, quốc sự canh cánh bên lòng không người chia sẻ.

Một ngày kia, đúng vào vụ gặt lúa thu, nhà vua bỗng nhớ đến lời hẹn cũ, bèn quyết định đóng giả làm một phú hào, vi hành lên chùa Kim Liên, bề ngoài là vãn cảnh, nhưng thâm tâm mong được thỉnh giáo phương trượng chủ trì. Phương trượng trụ trì chùa Kim Liên là một cao tăng tuệ nhỡn phi phàm, tuổi đời chất ngất, nghe nói các sư bên bang quốc Trung Hoa vẫn phải sang bái xin giảng kinh, nhiều lần cầu rước qua đất Thần Châu thuyết pháp, nhưng ngài đều từ chối.

Nhà vua mang theo mấy tên tâm phúc, võ nghệ cao cường, đi bộ đến chân núi Tử Yên thì nghỉ lại. Sáng hôm sau ngài phán, các ngươi dừng ở đây, một mình ta sẽ lên núi. Không ai dám trái lời. Nhà vua chọn một ít đồ nhẹ, cho vào bao phục quàng qua vai, chống gậy bước đi.

Lối lên chùa Kim Liên quanh quất, men theo những hốc đá, bò dưới những tán cây, vắng lặng, nghe rõ tiếng bước chân của nhà vua đạp lên những viên sỏi lạo xạo. Thi thoảng vua bắt gặp một chú thỏ trắng đang gặm cỏ bị kinh động, co cẳng lao vút qua. Tiếng chim vang lên từ những lùm cây líu ríu, vô tư dường như chẳng chút âu lo. Ở đây không sát sinh.

Gặp một tảng đá bằng phẳng bên đường, vua ghé xuống nghỉ lấy sức để leo tiếp. Một cơn gió thoảng. Những đám mây nương gió, dắt díu nhau bay về phía tây để lộ một khoảng trời trong xanh. Nhà vua hít một hơi dài, bất chợt thấy mình trẻ lại. Phóng tầm mắt về phía nam, ngài nhận ra con đường cái quan men theo ven biển mảnh mai, mềm mại như dải thắt lưng của công chúa út. Con đường ấy vòng ôm vịnh biển, lặng lẽ luồn lên phía bắc, đến những đồn lũy biên ải. Nhà vua nhớ lại tuổi trẻ của mình khi đang là một Hoàng tử bé, tuổi mới vừa đôi tám, trước họa xâm lăng Nguyên- Mông, đã xuất tiền riêng chiêu mộ mấy trăm trai tráng làng chài, lập nên đội thủy quân kiêu dũng, tham gia đánh đuổi chiến thuyền giặc ra khỏi hải vực nước nhà. Ngày chiến thắng trở về, giong buồm đi qua vịnh biển này, nghe tả hữu nói, trên núi Tử Yên có một ngôi chùa cổ rất đẹp, do thượng tọa Tuệ Trí trụ trì, phật pháp cái thế. Khi ấy Hoàng tử bé định bụng, sau ngày chiến thắng nhất định sẽ viếng thăm. Nào ngờ một thời gian sau, Hoàng tử bé được phong Thái tử kế vị, rồi nhanh chóng lên ngôi trị vì thiên hạ. Ngài bắt đầu thấu hiểu cái điều mà các tiên hoàng đã nói, được ghi lại trong các chỉ dụ, đời này sang đời khác, giang sơn này không tấc đất nào không của nhà vua, không người dân nào không là tôi tớ của vua.

Quân xâm lược phương bắc ba lần đem quân Nam chinh, ba lần bị đánh cho tan tác không còn mảnh giáp, bạt vía kinh hồn. Vua tôi nhà Trần không khỏi có chút kiêu ngạo, giặc Nguyên- Mông chinh phục cả thế giới còn thua ta, hỏi kẻ nào dám trêu ngươi. Trong tiềm thức của Hoàng tử bé, ngai vàng là vững bền mãi mãi. Nhưng từ sau khi tiếp thu quyền trượng, ngồi cao trên chín bậc bệ rồng, nhà vua lại cảm thấy bệ rồng đang ngầm rung chuyển. Ngày vui ngắn chẳng tày gang, thoáng chốc mười năm. Bãi biển đã thành bãi dâu. Nhà vua có cảm giác, triều đình vẫn đang trong giấc ngủ say, không có cách gì đánh thức. Lời hẹn xưa bỗng chốc quay trở lại.

Leo núi không phải chỉ cần có sức lực. Còn cần ý chí. Nhà vua cảm giác mỗi bậc đá là một bậc nặng. Cái bao phục nhẹ bẫng lúc đầu giờ như có ai bỏ thêm chì. Mồ hôi rịn trên trán, đọng những giọt lớn. Ngài tưởng như mình đang đặt chân lên đúng những dấu chân các bậc tiên vương, tiên hiền để lại. Dường như phía trên cao là Tuệ Trung Thượng sĩ. Ngài đang đợi nhà vua ở lưng chừng núi. Từ chỗ nhà vua đang đứng lên nơi Tuệ Trung Thượng sĩ là một thôi đường dài, dốc đứng. Nhà vua đã đọc những trang do viên sử quan của triều đình viết về Tuệ Trung- Trần Quốc Tung. Tiên hoàng Trần Nhân Tông nói, Tuệ Trung là con người có khí lượng thâm trầm, phong thần nhàn nhã. Thời các tiên hoàng Thái Tông và Thánh Tông, Trần Quốc Tung được cử trấn đất Hồng Lộ, hai lần lập đại công trong việc đánh tan giặc Bắc xâm lăng. Sau ngài được thăng Tiết độ sứ trấn giữ hải đạo Thái Bình.

Trần Quốc Tung là người mộ Phật, kiến văn thâm hậu. Tiên hoàng Thánh Tông khâm phục đạo học của ngài, đã xưng tụng là Thượng Sĩ. Ngày đó trong ngôn ngữ Đại Việt, Thượng Sĩ đồng nghĩa với bồ tát. Giữ chức Tiết độ sứ một thời gian, Trần Quốc Tung  lui về thực ấp Tịnh Bang, dựng Dưỡng Chân Trang làm nơi tọa thiền và tu niệm, đổi tên là Vạn Niên, tự hiệu là Tuệ Trung. Nhà vua biết, tiên hoàng Nhân Tông thực tâm hâm mộ Tuệ Trung Thượng Sĩ, coi là thầy học, mở đường cho ngài sau này đắc đạo.

Nhà vua xốc lại bao phục sau lưng, hăm hở bước lên. Văng vẳng bên tai người, thanh âm trầm vững của Tuệ Trung. Ngài hỏi, chiếc bao phục của nhà vua nặng bao nhiêu cân? Nhất thời nhà vua không thể đáp lời, khi ở chân núi chiếc bao phục dường như chỉ khoảng một hai cân, không đáng gì, nhưng càng leo lên càng nặng, đến nỗi có lúc muốn gỡ bỏ. Vẫn thanh âm trầm vững của Thượng Sĩ, cứ leo, rồi nhà vua sẽ thấy ngay quần áo vua mặc cũng trở thành vướng bận. Không sai. Nhà vua nhớ đến những bài kệ của đức Tuệ Trung Thượng Sĩ, bèn đáp nặng hay nhẹ không phải là vật tự thân. Bất giác nhà vua thấy mình có thêm sức mạnh, bước chân nhẹ tênh, chẳng mấy chốc ngài lên đến thạch bàn, nơi khi ở dưới núi từng thấy Tuệ Trung Thượng Sĩ tĩnh tọa.

Trước mắt nhà vua, thạch bàn lạnh ngắt, còn ướt sương. Tương truyền thạch bàn trên núi Tử Yên vốn là bàn cờ các kì tiên ở thượng giới mỗi khi vân du thiên hạ dừng lại so tài. Có những trận cờ kéo dài hàng tháng trời không phân thắng bại. Nhưng các kì tiên đã vắng bóng từ lâu cùng với hình ảnh Thái Thượng Lão Quân ngày càng mờ nhạt, cho dù đây đó vẫn có người mê mải luyện đan, tìm phương thuốc trường sinh. Bất giác nhà vua không khỏi rùng mình.

Kể từ khi Thiền sư Vạn Hạnh hỗ trợ Lý Công Uẩn lên ngôi vua và được phong là Quốc sư thì Phật giáo đã giữ vai trò thống lĩnh ở Đại Việt. Đến đời Trần dấy nghiệp, các tiên hoàng sùng đạo, Phật giáo không chỉ hiện diện ở chốn cung đình mà mở rộng ngay cả nơi thôn dã.  Tiên hoàng Nhân Tông xuất gia đi tu ở Yên Tử lấy đạo hiệu là Trúc Lâm Đại Sĩ, sáng lập ra trường phái Trúc Lâm thì Thiền Tông lên đến tột đỉnh cao vời. Các Thiền sư của phái Trúc Lâm tình nguyện dẫn đường Phật giáo nhập thế, nêu cao việc tạo phúc cho dân chúng.

Nhưng.

Sử chép, năm tiên hoàng Anh Tông thỉnh Trúc Lâm Đại Sĩ vào Ðại Nội xin thọ Tại Gia Bồ Tát Tâm Giới, vương công bách quan đều theo vua đi đón. Thấy tiên hoàng phát nguyện thọ giới Bồ tát, mọi người cũng xin phát nguyện thọ tam quy ngũ giới, cả triều đình trở thành Phật tử. Nhưng chắc chắn có không ít người thọ giới chỉ vì thấy tiên hoàng thọ giới mà theo. Tuy nhiên không thể không thừa nhận, Phật giáo nhập thế liên hệ mất thiết tới chính trị, phong hóa xã hội, đậm rồi nhạt dần.

Nhà vua hiểu rằng Phật giáo Đại Việt ngay trong lúc thịnh nhất cũng đã chứa bên trong mầm mống suy vi. Từ ngày Trúc Lâm truyền y bát cho đệ tử Pháp Loa rồi tịch, Thiền phái Trúc Lâm dần dà suy yếu, nhiều những phần tử bất hảo cạo tóc đi tu, núp bóng nhà chùa trốn lính. Nho giáo được nhà Hán tôn sùng độc trị phương Bắc thì đang ngày càng trở nên hùng mạnh. Ngồi trên chín tầng cao trị vì thiên hạ, nhà vua không thể không tập nhìn xa trông rộng. Kể từ thời Sĩ Nhiếp đem đạo của Khổng Tử truyền vào nước ta, không thể không thừa nhận Nho giáo giúp đắc lực việc củng cố vương quyền. Triều chính nước Nam qua các đời đều học theo các vương triều phương Bắc, các nhân sĩ lừng danh đều là các nhà nho, như Tô Hiến Thành, Trương Hán Siêu, Chu Văn An… Các vua thời Lý cũng như các tiên hoàng tuy sùng Phật, nhưng các quan lại, tướng sĩ lại được dạy dỗ theo Nho giáo. Nhà vua không thể không nhớ, cứ vào đầu năm mới, các quan văn võ  trong triều đều phải họp nhau làm lễ ở đền Đồng Cổ hay ở sân Long Trì mà phát lời thề rằng: “Làm con bất hiếu, làm tôi bất trung, thần minh giết chết”. Thế nhưng cái đạo cương thường của Nho giáo dù thế cũng không thể giúp khuôn ép được bầy tôi và bách tính trung thành, không thể giúp xã tắc được yên ổn.

Nhà vua tháo bao phục, ngồi xuống thạch bàn, bỗng nhớ đến một bài kệ của đức  Tuệ Trung Thượng Sĩ. Sắc tức thị không không tức thị sắc/ Tam thế Như Lai phương tiện lực/ Không bổn vô sắc sắc vô không/ Thể tính minh minh phi thất đắc. (Sắc tức thị không, không tức thị sắc/ Chư Phật ba đời tạm thời bày đặt/ Không chẳng phải sắc, sắc chẳng phải không/ Thể tính sáng trong, không hề còn mất.) Nhà vua tự hỏi, tại sao các tiên hoàng lại sùng Phật, tại sao tiên hoàng Nhân Tông lại xuất gia, sáng lập lên Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử? Tại sao thời nay, Phật giáo bị gạt ra ngoài rìa, văn võ bá quan mê đắm sắc dục, kết bè kết phái, chỉ biết chăm lo lợi quyền của phe nhóm, quên phắt nghĩa vụ đối với triều đình. Nhà vua ngay từ nhỏ đã lơ là nghiên cứu Phật giáo, bị các trò nịnh hót của đám hoạn quan làm cho mờ mắt. Nhà vua không hiểu, tại sao đạo Phật lại coi mọi sự  vật đều là Nhân Quả, tức mọi sự việc đều là kết quả từ nguyên nhân trước đó. Và sự việc đó chính nó lại sẽ là một nguyên nhân của một kết quả khác sau này.

Lại nhớ, sư tổ Trúc Lâm khi truyền y bát cho Pháp Loa có dạy, các sự việc tương tác Nhân Quả phức tạp trùng trùng duyên khởi. Nhân cũng còn gọi là Duyên hay Nghiệp, và một khi đã gieo Duyên hay Nghiệp thì ắt sẽ gặt Quả. Nhưng Duyên có thuận và có nghịch, ứng với thuận duyên là thiện nghiệp, nghịch duyên là ác nghiệp. Từ Nhân đến Quả là một lí trình dài, chịu sự chi phối của Duyên. Nhà vua hiểu rằng, Sư tổ Trúc Lâm muốn lưu ý Pháp Loa, Duyên là điều kiện để Quả tới nhanh hoặc cản trở trì hoãn, thậm chí triệt tiêu nó. Nhưng đấy là nói về việc tu tập đối với một con người. Còn như đối với một dân tộc, một quốc gia, một triều đình thì cái mối Nhân Quả ấy chuyển hóa như thế nào? Sự hy sinh và tu tập của các tiên hoàng chẳng lẽ lại dẫn đến cái kết quả như hiện thời sao?

Trong các bút lục ghi lại những cuộc thiền giảng của Phật Hoàng còn ghi, Nhân Quả tương tác theo luật hạt giống: hạt lê không thể sinh ra quả bưởi, hạt táo không thể sinh ra quả đào. Các Nhân cùng loại nhưng trái chiều sẽ tương tác, bù trừ nhau, cái nào mạnh hơn sẽ trổ Quả sau khi bù trừ xong, như về nghiệp thọ của một người, thiện nghiệp và ác nghiệp đã gieo sẽ bù trừ nhau, nếu ác nghiệp nhiều hơn thì người đó sẽ nhận phần ác nghiệp sau khi đã được trừ với thiện nghiệp.

Nhà vua vỗ trán. Ngài vẫn chưa thể lý giải được hoàn toàn mối quan hệ Nhân Quả là một quy luật tự nhiên. Phật Hoàng từng nói, con người dù không thể hiểu hết, thấy hết, thậm chí có thể không tin, nhưng quy luật này vẫn vận hành và chi phối vạn vật. Thời gian giữa Nhân và Quả là xuyên suốt thời gian vũ trụ chứ không chỉ trong một kiếp sống. Nhà vua nghĩ, ngài đã đúng khi quyết định viếng chùa Kim Liên. Rồi quả quyết, vươn vai đứng dậy, ngước nhìn lên cao, ước lượng quãng đường phải đi.

Đường lên chùa Kim Liên dốc đứng, nhà vua đã đi được già nửa. Bây giờ, dưới chân nhà vua mây giăng giăng. Biển ngoài xa thẳm, thi thoảng lại ánh lên những chùm tia sáng, hồi quang của mặt trời. Mỗi bước nhà vua bước là một ý nghĩ xuất hiện. Đạo Phật đi từ Nhân Quả đến Luân hồi. Tâm thức trải qua nhiều kiếp sống. Chết mới là hết một kiếp, tâm thức mang theo nghiệp đi tái sinh kiếp mới. Vẻ ngoài của một kiếp sống là khác nhau, có thể hóa chuyển giữa các loài, các cõi (cõi trờicõi ngườicõi súc sinh, cõi a-tu-la, ngạ quỉ và địa ngục). Quan hệ Nhân Quả quyết định cách thức Luân hồi, hay nói cách khác tùy theo Duyên hay Nghiệp đã tạo mà sẽ Luân hồi tương ứng để nhận Quả. Người ta nói kiếp trước của Lí Thần Tông là Từ Đạo Hạnh, liệu có khả tín?

Nhà vua tự cảm bất kính, khi trong đầu nẩy ra câu hỏi, kiếp trước và kiếp sau của tiên hoàng Nhân Tông là gì? Bất chợt thân thể ngài toát hết mồ hôi. Nhà vua thấy như có người cầm tay dắt đi. Một giọng trầm ấm độ lượng, nhà vua ngẫm nghĩ những điều quá cao xa, nhưng những điều gần gũi tầm thường lại không thấy. Người đời cứ nói, ta từ bé đã mộ Phật, sùng đạo, chỉ là tô vẽ mà thôi. Nhà vua nhận ra đó là thanh âm của tiên hoàng Nhân Tông, bèn dừng lại và quì xuống lậy một lạy. Kính cẩn lắng nghe.

Nhân Tông nói, sau khi lần thứ ba đánh tan giặc Nguyên Mông, quốc gia như một lực sĩ sau nhiều keo đấu, sức lực kiệt quệ. Khắp nơi bị chiến tranh tàn phá, trai tráng cả nước chết trận không thể đếm xuể. Ta, Hoàng đế của một vương triều, không thể vì đánh thắng giặc mà kiêu căng, vơ hết công lao về mình. Suy cho cùng, không có dân thì làm sao có nước, không có dân thì làm sao có sức, không có dân thì ai nuôi sống triều đình. Vì thế phải khoan sức dân. Vì thế phải tìm cách đem lại cho dân một nơi để tin cậy, để thuận lòng. Vì thế ta mới quyết chí xuất gia, lập nên Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử. Đạo Phật có thể ru nín những đói khát quyền lực, có thể vỗ yên sự giận dữ, cho lê dân một thứ thuốc an thần, sống vì ngày mai, hi vọng vào ngày mai.

Ha ha, nhà vua như vỡ lẽ điều gì, bật lên một tràng cười. Nhà vua không tin đạo Phật có thể ru nín được những đói khát quyền lực. Chùa Kim Liên ngự ở trên đỉnh Tử Yên cũng là một thế giới quyền lực.

Nhà vua lên đến chùa Kim Liên thì mặt trời đã gác núi. Ngôi chùa xây từ tiền triều, cổ kính thâm nghiêm. Bước qua cửa tam quan, nơi trên gác chuông vốn phải treo chuông giờ để trống, vào sân chùa nhà vua bắt gặp một cây trà cổ thụ. Nom dáng vóc cây cổ thụ, có thể đoán nó có cả trăm tuổi. Trên đỉnh Tử Yên quanh năm thời khí dịu mát, cây trà bách niên vẫn hoa, có mấy bông rụng xuống nền sân đỏ chói.

Từ dưới sân bước lên bái đường nơi bày hương án, nhà vua nhận thấy bố trí có vẻ lạ. Bên cạnh pho tượng phật A-di-đà có treo một chiếc trống lớn. Có thể hiểu được, sau ba cuộc chiến tranh với quân Nguyên Mông, đồng nguyên liệu để đúc chuông đã bị bọn lái buôn đi theo vét hết. Gác chuông không có chuông treo, đã đành. Sao bên tượng phật A-di-đà phải treo trống? Nhà vua tháo bao phục, lấy từ trong một thẻ hương, chuẩn bị đốt để lễ phật.

Vừa lúc ấy thì Phương trượng Tuệ Trí xuất hiện. Nhà vua đã biết tiếng tăm vị cao tăng, nhưng chưa hề xuống lệnh vời hòa thượng về kinh giảng đạo. Phương trượng hòa thượng nhìn cốt cách phi phàm của vị thí chủ, có lẽ lần đầu tiên đặt chân đến nơi đất thiêng này, không khỏi có chút ngỡ ngàng và nghi ngại. Vị Phương trượng chùa Thiếu Lâm nhẹ nhàng nói, thí chủ, thẻ hương này không thể đốt. Nhà vua giật mình, nhưng vẫn giữ được sự trầm tĩnh, hỏi lại tại sao không thể đốt? Phương trượng đáp, thí chủ hãy nhìn xuống chân mình.

Nhà vua đã qui y làm phật tử tu tại gia, lẽ dĩ nhiên phải tuân theo Tam qui, Ngũ giới. Nhà vua vội nhìn xuống chân, thấy đôi dép ngài mang là đôi dép được chế từ da bò rất tinh xảo. Nhà vua nhìn thẳng vào Phương trượng, nói đệ tử thật đắc tội. Phương trượng nói, trước chùa có một vực sâu có thể giúp giải thoát.

Chưa hiểu rõ ý Phương trượng, nhưng nhà vua vẫn tháo đôi dép làm bằng da bò ném xuống vực sâu, chân đất đi xuống núi, rồi ngược trở lại chùa. Nhà vua đi suốt đêm. Khi nhà vua lần thứ hai bước lên bái đường thì mặt trời đã lơ lửng treo như một trái hồng khổng lồ chín đỏ. Vầng trán đăm chiêu của Phương trượng hòa thượng giãn ra. Nói, thí chủ có thể thắp hương.

Đốt hương bái Phật xong, nhà vua chắp tay hướng về phía Phương trượng hòa thượng Tuệ Trí, nói đệ tử xin hỏi Phương trượng một câu, người có thể trả lời đệ tử? Phương trượng gật đầu, đáp xin thí chủ phương tiện. Câu hỏi vừa nẩy ra từ lòng hiếu thắng gậm nhấm trong đầu nhà vua. Nhà vua nói, đệ tử người trần mắt thịt thấy nhà chùa có treo nơi bái đường một cái trống. Xin hỏi Phương trượng, mặt chiếc trống được bịt bằng thứ vật liệu gì?

Phương trượng Tuệ Trí giật mình, không ngớt niệm thiện tai, thiện tai.

Nhà vua nói xong, có cảm giác như vừa buông cung, bắn ra một mũi tên, không có cách chi thu lại.

Bất ngờ hai tiếng “pừng, pừng” vang lên, hai mặt trống được bịt bằng da trâu của chùa Kim Liên bất ngờ nổ tung, vỡ toác. Ngay trong khoảnh khắc đó, tượng A-di-đà rỏ hai dòng nước mắt, đầu gục xuống.

Nhà vua kinh ngạc ngẩng nhìn lên, trong nháy mắt, kịp thấy Phương trượng chùa Kim Liên, đại hòa thượng Tuệ Trí đã lướt qua sân, gieo mình xuống vực sâu./.

 

Ngày 21 tháng 3 năm 2016

(Mười ba tháng hai, năm Bính Thân)


 

 

 

 

CON CÁO CUỐI CÙNG                 

Sau khi Hoạ Lang tức Lão Rừng tự dưng biến khỏi mặt đất cùng ông già rừng Trúc với vụ cháy kì lạ ít lâu, người dân Hạ Đan thấy xuất hiện một chàng trẻ tuổi làm nghề vẽ và chuyên vẽ tranh cáo. Tên chàng trai trẻ này là gì chẳng ai để ý, nhưng mọi người quen miệng, đều gọi anh ta là Hoạ Tử. Hoạ Tử là tên chữ, hiểu nôm na có nghĩa anh ta là học trò của Hoạ Lang Lão Rừng.

Hoạ Tử không vẽ gì khác ngoài cáo. Đó là những con cáo lông mầu tro, mầu nâu, mầu vàng, mầu xám, mầu đỏ... những mầu mà chàng ta tưởng tượng ra. Nhưng tranh của chàng không có hồn, bán chẳng ma nào mua. Vì thế cuộc sống của chàng thật gieo neo, có bữa hôm lo bữa mai.

Một người Hạ Đan tốt bụng khuyên chàng nên bỏ quách nghề vẽ, lên núi chặt củi, đốt than đem về bán có lẽ sống còn ung dung hơn. Chàng ta nghe rồi, cúi đầu cảm ơn về sự quan tâm. Người tốt bụng nhìn vào mắt chàng thì biết, chàng không bỏ nghề.

Giống cáo là giống mà loài người ghét cay ghét đắng, vì chúng chuyên bắt trộm gà. Người ta gán cho cáo đủ thứ tính xấu như ranh ma, xảo trá, thậm chí còn có phép thuật. Chuyện xưa kể lại rằng có con cáo cái tu luyện nghìn năm hoá thành người nữ đẹp, yêu được một người đàn ông tốt mã. Nàng yêu say đắm, móc cả hòn ngọc sinh mệnh của mình cho người tình. Nào ngờ, người tình lừa lấy mất ngọc, khiến nàng phải trở lại kiếp cáo. Thật đáng thương biết bao. Ấy thế mà loài người vẫn không chịu xoá hết thành kiến với loài cáo, cứ hễ nhìn thấy cáo ở đâu là tìm cách xua đuổi, bắn giết. Loài cáo cũng vì thế, hễ nom thấy bóng người là tìm cách lủi nhanh, tránh xa. Không biết có phải vì thế mà Hoạ Tử muốn bằng tranh vẽ của mình mà thanh minh cho loài cáo không?

Hạ Đan ngày trước cáo đông như gà, bây giờ thì không thấy một bóng. Dường như gà đã ăn hết cáo. Hoạ Tử biết tranh cáo của mình không có hồn là do không có cáo làm mẫu, vì thế chàng lặng lẽ ra rừng, phục tìm cáo để xem chúng nhẩy nhót, đùa chơi, săn mồi, trốn chạy như thế nào. Nhưng chàng chỉ hoài công vô ích.

Một bữa, trên đường về nhà, chàng gặp một người thợ săn từ xa tới, trong chiếc túi lưới khoác vai có một con cáo non bị thương. Người thợ săn khoe, anh ta đặt bẫy nửa năm mới tóm được ả cáo này, giờ định đem bán cho nhà hàng có cái tên nghịch ngợm là Kiếm sắc, chuyên môn nghiền ngẫm thịt thú rừng.

Hoạ Tử nom thấy đôi mắt con cáo như van lơn, nhìn thấy bộ lông mầu đỏ pha vàng thì như mê mụ, sẵn sàng vét đến đồng xu cuối cùng để có được nó.

Người thợ săn bán con cáo cho Hoạ Tử. Chàng sung sướng đem cáo về nhà, hoà nước sôi để nguội với muối kì khu rửa vết thương cho nó. Muối mặn xót, con cáo rên ư ử, nghe mà thương thương.

Ít lâu sau vết thương khỏi, con cáo vui vẻ và thân thiện với chàng. Hoạ Tử làm cho nó một cái lồng rộng rãi, cho nó ăn, chọc cho nó nghịch rồi vẽ.

Những bức tranh cáo của Hoạ Tử vẽ giờ đây đẹp hẳn lên.

Con cáo non lớn nhanh và dần đến tuổi trưởng thành. Mầu lông của nó sau mấy lần thay trở thành đỏ rực. Hoạ Tử nhận thấy đôi mắt của nó long lanh như có lửa.

Vào một buổi sáng, Hoạ Tử cho con cáo ăn và đùa nghịch với nó xong, tự dưng thấy lòng xốn xang. Chàng hỏi con cáo:

- Mi là cáo cái phải không ?

- Phải.

- Nghe nói loài cáo biết phép tu luyện để thành người, chuyện đó thật không ?

- Tin thì là thật, không tin thì không thật.

- Cáo có thể hoá người được không ?

- Được thì sao ?

- Ta sẽ cưới làm vợ.

- Vậy thì thả ra đi.

Hoạ Tử mở lồng thả con cáo lông đỏ. Vừa thoát khỏi cũi, nó liền phóng thẳng vào rừng, nhanh như một mũi tên bốc lửa.

Kì thực, con cáo không hề mở miệng. Nhưng Hoạ Tử đọc thấy từ trong mắt nó, nghe được tiếng nói của nó.

Con cáo đi rồi, Hoạ Tử không thấy tiếc, chỉ thấy nhớ.

Đêm hôm sau, khi chàng đang ngon giấc, bỗng nhiên nghe thấy mơ màng những tiếng động lạ, như thể tiếng thở run rẩy của đất, như của cây, như của sương, của gió. Chàng lâng lâng thức dậy, nhẹ lách người ra ngoài thì thấy một đàn cáo đủ các mầu lông đang ngóng nhìn chàng. Chàng đi thẳng về phía chúng, nhưng chúng không tỏ ra sợ hãi. Khi chàng dừng lại thì chúng vây quanh chàng. Chàng cảm thấy bàn tay ấm nóng. Nhìn xuống thì chao ôi, chính là con cáo lửa. Nó đứng hai chân sau, hai chân trước ôm lấy tay chàng, áp chặt miệng vào tay chàng. Hoạ Tử nhìn thấy đôi mắt nó ứa ra hai giọt nước mắt mừng rỡ. Chàng bèn đùa nghịch với đàn cáo. Chúng nhẩy nhót, kêu lên những tiếng dịu dàng. Dường như không phải chúng đem đến cho chàng niềm vui, mà chính chàng đem đến cho chúng sự sống. Gần sáng đàn cáo biến nhanh vào rừng. Chàng hoạ sỹ trở lại với chiếc giường tre lạnh lẽo, sau hai lần trở mình đã lại chìm vào giấc ngủ êm đềm.

Sáng hôm sau thức dậy, chàng nhớ lại chuyện hồi đêm, nhưng không tài nào nhớ được rõ ràng. Chàng chẳng thể nghĩ đó chỉ là giấc mơ.

Bây giờ tranh cáo của chàng không chỉ đẹp, mà còn rất có hồn. Người xem tranh chàng cứ ngỡ, không chừng con cáo trong tranh sẽ hiện ra.

Đêm tiếp theo đàn cáo lại về. Chàng lại cùng chúng đùa nghịch. Con cáo lửa vẫn ôm lấy tay chàng như đêm trước. Nhưng thời gian chúng ở lại với chàng ngắn hơn. Rồi cứ thưa dần, cuối cùng không thấy chúng đến với chàng nữa.

Tranh cáo của chàng vẽ ra càng ngày càng linh động, vừa như thực vừa như hư ảo, như một sự thảng thốt, như một sự nuối tiếc, nhớ nhung. Nhưng thi thoảng mới có người ghé coi, chẳng ai mua. Chàng quyết định vào các phiên chợ sẽ đem tranh lên phố bán. Chàng thuê được một góc hè để treo tranh. Người xem tranh khá đông. Nhưng vẫn chẳng có người mua. Hàng phố có người nói to cốt để cho Hoạ Tử nghe:

- Giống cáo là giống xấu xa, là điềm gở, ai rước điềm gở vào nhà làm gì.

Hoạ Tử không tin. Những con cáo đẹp và tình cảm biết bao. Chàng hi vọng rồi sẽ có người mua tranh của chàng.

Quả nhiên một hôm, có một người con gái xinh đẹp đến mua tranh. Nàng trả giá cao để mua hai tờ tranh cáo, một con mầu đỏ, một con mầu trắng. Hoạ Tử mừng rỡ, gói tranh cho khách. Khi trao tranh, chàng mới chú ý, thấy khách là cô gái tươi như thể bông hồng gai. Chàng ngắm đôi mắt trong ướt nước của nàng, ngắm làn da mịn mát như trứng gà bóc của nàng, ngắm mái tóc buông ngang vai nhẹ như làn mây của nàng. Nàng đẹp như tiên giáng trần. Chàng mê mẩn đến mức cứ giữ cuộn tranh trong tay, không trao cho nàng. Nàng thấy chàng nhìn mình quá chăm chú thì e thẹn cúi đầu, nói:

- Xin chàng cho em tranh, để em còn về.

Phiên chợ sau, người khách hàng mua tranh của chàng lại là cô gái ấy. Nàng cũng mua hai bức tranh, nhưng trả giá cao hơn hai bức tranh trước. Chàng săn đón nàng, chuyện trò thật có duyên. Mỗi khi chàng hỏi gì, nàng chỉ e thẹn đáp dạ, rồi cúi xuống, mân mê chiến khăn tay.

Lúc trời vừa sế bóng thì nàng vội vã chào ra về.

Chàng bắt đầu thấy nhớ nàng.

Phiên chợ thứ ba, vẫn nàng đến mua tranh. Nàng lại trả giá cao hơn lần trước và cũng chỉ chọn mua hai bức tranh. Chàng cất tiếng:

- Nàng tên gì và ở đâu ?  Nếu nàng không nói rõ, ta không bán tranh cho nàng.

Cô gái ngước mắt nhìn thẳng vào đôi mắt chàng, nói:

- Chàng thật oái oăm. Chàng bán tranh, thiếp trả tiền. Sao lại đặt ra cái điều kiện kì cục thế.

Chàng nhắc lại, nếu nàng không nói thì chàng nhất định không bán.

Nàng nhìn chàng ngạc nhiên, bỏ đi không đáp. Khi nàng đi xa thì chàng thấy hối tiếc. Không rõ hối tiếc vì cái gì.

Ở Hạ Đan, cứ sáu ngày mới họp chợ một lần. Hôm ấy, chưa tới phiên chợ, chàng đang ngồi vẽ ở nhà, thì bất ngờ có một khách mua tranh. Chàng ngẩng lên thì ra cô gái. Chàng lúng túng hỏi:

- Làm sao nàng biết nhà ta ?

- Khắp cả vùng này, ai chả biết chàng.

Chàng lại hỏi:

- Nàng là con nhà ai? Ở đâu?    

Nàng không đáp mà hỏi lại:

- Chàng cần biết đến thế sao?

Chàng đáp:

- Cần lắm.

Nàng mủm mỉm cười:

- Em là con cáo thành tinh. Người xưa gọi là Hồ Ly Tinh đấy.

Hoạ Tử chợt nhớ lại tất cả những chuyện đã qua. Chàng tin ngay lời người con gái mặc chiếc áo đỏ đang ngồi trước mặt chàng. Chàng bảo:

- Nàng còn nhớ lời hẹn của ta không? Ta sẽ cưới nàng.

Cô gái thoáng giật mình ngỡ ngàng trước lời nói của chàng, nhưng chàng không để ý. Chàng nói tiếp:

- Tối nay nàng ở lại cùng ta nhé.

Nàng cười nhẹ nhàng:

- Xin chàng khoan cho thiếp. Thiếp còn một số việc phải làm, rồi thiếp sẽ để cho chàng được như ý.

Hôm ấy cô gái tự xưng là cáo thành tinh hoá người giúp chàng dọn dẹp nhà cửa, nấu cho chàng một bữa cơm nóng canh ngọt. Chàng ngất ngây sung sướng. Nhưng khi bóng chiều vừa sế, nàng vội từ biệt đi ngay.

Phiên chợ ấy, Hoạ Tử không lên phố bán tranh. Chàng y hẹn ở nhà chờ đợi nàng. Nhưng nàng không đến. Phiên chợ sau chàng đem tranh đi chợ bán, hy vọng sẽ gặp nàng.

Chàng chờ cho tới gần trưa, vẫn chẳng thấy tăm hơi nàng đâu. Bất ngờ mọi người trong chợ xôn xao, hò nhau đi xem đao phủ sắp chém đầu một người con gái. Tò mò đưa chàng cuốn theo giòng người. Tiếng bàn tán không ngừng lọt tới tai chàng. Dần dần chàng hiểu ra. Người hôm nay bị đưa chém đầu ở chợ là một cô gái làm nghề cầm ca ở một thanh lâu. Nghe nói, cô ta phạm tội giết người. Một bà già đi cạnh chàng kể:

- Cái thằng công tử ấy bị đâm chết là đáng lắm. Cậy con ông cháu cha chuyên  làm hại con gái nhà lành, chết chẳng oan.

Hoạ Tử hỏi:

- Thế thì dính gì đến cô gái ở thanh lâu?

- Thằng chết đâm đến hát, hát rồi lại đòi người con gái phải chiều. Cô gái không chịu, gã xông vào như thú vật. Cô gái bèn rút trâm cài đầu chống lại, chẳng may đâm trúng tim. Gã chết lăn quay, thật là quả báo.

- Cô gái tự vệ chính đáng sao lại bị chém?

- Thì nén bạc đâm toạc tờ giấy. Làm gì có công lí.

Hoạ Tử thấy bồn chồn, lòng dạ nóng ran.

Pháp trường là một bãi đất cao chếch nơi góc chợ. Người xem xô nhau vòng trong vòng ngoài. Ngục tốt dẫn kẻ tử tù đi qua một lối nhỏ được lính canh chắn giữ. Tiếng ồn ào của đám đông như ong vỡ tổ bỗng lặng đi.

Hoạ Tử cố dướng lên cao để nhìn cho rõ. Chàng suýt ngã khuỵu.

Kẻ tử tù chính là cô gái mua tranh của chàng, người tự xưng với chàng là cáo lửa thành tinh. Thế ra chính nàng đã giết con quỉ dâm dục. Nàng là cáo tu luyện thành người, nhất định nàng có phép thuật. Nàng sẽ thoát xác, tránh khỏi cái chết. Nghĩ thế Hoạ Tử thấy tạm yên lòng.

Khi ngục tốt dẫn nàng đi qua chỗ chàng đứng, chàng cố kêu lên một tiếng cốt cho nàng quay nhìn về phía chàng, nhưng hình như nàng không nghe thấy. Mặt nàng nhợt nhạt, nhưng vẻ đẹp quyến rũ của nàng vẫn không vì thế mà phai nhạt.

Có ai đó trong đám đông kêu to:

- Ông trời sao không có mắt !

Ngục tốt dẫn nàng đến gần chiếc cọc, nàng gần như lả đi, vẫn gắng không để cho mình khuỵu xuống.

Gã đao phủ lầm lì, mặt đỏ bừng vì rượu. Cây đao trong tay gã lạnh lẽo tử khí.

Viên quan lụng thụng trong bộ áo xống mầu đen, giống như đi mượn, cố thu hết can đảm hét lên:

- Chém !

Cây đao của gã đao phủ vung lên.

Hoạ Tử nhìn thấy máu đỏ từ thi thể nàng phun ra lấp lánh ánh mặt trời.

Khi mọi người đã tản ra về, chàng chạy lên ôm lấy thân nàng. Trời ơi, thân thể nàng lạnh như nước đá.

Bên cạnh một cô gái khuôn mặt đẫm nước mắt quì ôm đầu nàng vào lòng, miệng lẩm bẩm:

- Chị ơi, lúc sống chị là chỗ dựa của em, giờ chị chết rồi, em biết dựa vào ai ?

Chàng chết lặng, hai hàng nước mắt từ từ tuôn chẩy. Chàng muốn kêu to:

- Con cáo cuối cùng đã bị giết rồi !  

Năm 2000

 

  

 

 

     


HẢI THANH

 

- Họ và tên khai sinh: Bùi Xuân Thanh

- Sinh năm 1970

- Quê quán: Xã Nghĩa Hưng, Vĩnh Tường, Vĩnh Phúc

- Cử nhân báo chí

- Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam (từ 2007)

- Hội viên Hội Nhà báo Việt Nam.

 

- Tác phẩm chính đã xuất bản:

* Bến trăng (Tập thơ, NXB Thanh niên, 1994)

* Bến thu xưa (Tập thơ, NXB Thanh niên, 1998)

* Lênh đênh những con đò số phận (Tập Ký, NXB Thanh niên, 2000)

* Tự thanh (Tập thơ, NXB Hội Nhà văn, 2005)

* Con đường không có vết chân (Tập thơ, NXB Hội Nhà văn, 2006)

* Thượng huyền (Tập thơ, NXB Văn học, 2009)

 * Tự thanh II (Tập thơ, NXB Văn học, 2012).

- Giải thưởng văn học:

* Giải Khuyến khích, Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam, 2005.

* Đồng Giải B, Giải thưởng VHNT Vĩnh Phúc 5 năm lần thứ I (1997-2000),  lần II (2001-2005), lần III (2006-2000), lần IV (2011-2015).

- Suy nghĩ về nghề văn:

Từ thuở bé, tôi đã thầm mơ ước lớn lên làm nhà văn, để được viết những gì đẹp nhất về cuộc sống, về con người. Ấu thơ tôi làm sao biết được đó là một nghề nhọc nhằn, và theo chữ của cụ Phan Bội Châu là “lập thân tối hạ”. Nhưng đã mang lấy nghiệp, tôi cứ chuyên cần khai khẩn lối đi. Và trước những cô đơn đầy ắp, tôi đã viết. Viết là một nhu cầu tự thân.

Hầu như tất cả nỗi niềm đầy vơi, ấm lạnh trong cuộc đời đều làm tôi trăn trở. Nhưng tôi nghĩ chậm và viết chậm, trong khi cái mới, cái hay luôn thôi thúc mỗi ngày.

Suốt năm tháng dài, tôi cũng chỉ quẩn quanh ở làng. Trong khoảng không nhỏ nhắn ấy, tôi luôn tự nhủ: Đi đến tận cùng của làng sẽ bước sang làng khác.


 

 

A - TRONG KÝ ỨC BẠN BÈ 

 

 

HẢI THANH VỚI MỘT CHẶNG ĐƯỜNG THƠ

            Trần Khoái

Tôi đọc thơ Hải Thanh trước khi biết anh. Nhớ được vậy bởi vì ngay những bài thơ đầu của anh đã tạo được ấn tượng đối với người đọc – trong đó có tôi. Thường thì điều gì đã ấn tượng người ta có quyền trông đợi. Và Hải Thanh đã không phụ lòng bạn đọc. Năm 1991, Báo Tiền Phong và trường viết văn Nguyễn Du phối hợp tổ chức cuộc thi thơ “Tác phẩm tuổi xanh”, Hải Thanh đã được trao giải. Rồi tiếp đó, Hải Thanh đã có mặt trong nhiều tuyển tập Thơ Việt Nam, thế kỷ XX...

Sau những lần “vượt vũ môn” như thế, Hải Thanh nổi lên là một cây bút trẻ có nhiều triển vọng.

Nhớ lại vào thập kỷ 90 của thế kỷ trước trong sự bình ổn, nền nã của đời sống thi ca nước nhà sau năm 1975, thơ bắt đầu có sự cách tân mạnh mẽ. Kẻ trước người sau, có thể là không đồng lứa tuổi nhưng lại đồng xu hướng, một loạt các nhà thơ như: Dương Kiều Minh, Nguyễn Lương Ngọc, Nguyễn Bình Phương, Nguyễn Quang Thiều, Trần Quang Quý, Lê Vĩnh Tài, Mai Văn Phấn, Inrasara, Vi Thùy Linh, Nguyễn Quyến... Tất cả như muốn tạo ra một sự cách tân đáng kể cho thi ca đương đại.

Trong không khí bồi hồi, sôi nổi đó, ở vùng quê Đất Tổ (Vĩnh Phúc – Phú Thọ ngày còn sáp nhập) xuất hiện ba cây bút thơ, trẻ trung về tuổi đời, dư sức về khát vọng đó là: Nguyễn Hưng Hải, Hải Thanh, Vũ Khánh. Rất tiếc cùng với thời gian và thử thách, bộ “tam đa” ấy chỉ còn lại Hải Thanh, Nguyễn Hưng Hải.

Nếu ở Nguyễn Hưng Hải là sự trăn trở, vật vã đến “ đau đớn lòng” về thân phận, thời thế, kiếp người thì ở Hải Thanh lại là sự cân nhắc, điềm tĩnh... Thơ anh thường nghiêng về quan sát, phản ánh một cách tinh tế đến độ tài hoa. Hải Thanh ít triết lý, dăn dạy hay lớn tiếng pha sự nhiệt tình áp đặt.

Thơ anh thường có sự đối lập ở hai cực. Một phía là những cái được, cái đáng giá. Nhưng phía kia có khi lại là cái mất, cái đang bị tàn phai. Phía này là sự cao sang, phía kia có khi lại là thấp hèn... Đề cập những khía cạnh đời sống như vậy và Hải Thanh để một khoảng trống “hút” bạn đọc cùng mình lý giải các vấn đề mà cuộc sống đặt ra. Do vậy người đọc có điều kiện suy ngẫm, đồng sáng tạo và đề xuất chính kiến. Lối tư duy này trong thi ca giúp người viết cũng như người đọc tránh được thái độ cực đoan. Tạo được tính tự thân, tự giác tiếp nhận các vấn đề đời sống dưới dạng thức tâm trạng. Và tôi cho rằng, đây chính là đóng góp đáng ghi nhận của Hải Thanh đối với thơ ca đương đại.

Thực ra cái điều thơ phải “Ý tại ngôn ngoại” không có gì mới. Vì đây là thuộc tính của thơ cổ, kim, đặc biệt là thơ phương Đông. Nhưng một khi thuộc tính này được người viết tập trung đậm đặc thể hiện, cố gắng nâng cấp để tăng tính hàm xúc, đa chiều cho thơ như một ý thức trong sáng tạo thì nó lại là một phẩm chất đáng trân trọng. Nhất là ở xứ ta đã có lúc một số nhà thơ quên mất điều này. Họ thích người khác phải theo họ, nghe họ. Đồng cảm hay không đồng cảm không thuộc về quyền người đọc. Họ phải được phát ngôn, phải được bộc lộ. Đây là sự vi phạm nghiêm trọng về quyền bình đẳng đối với bạn đọc. Nhưng chính họ đã nhầm. Khi đã có nhu cầu phát ngôn, bộc lộ điều đó có nghĩa là muốn người khác hiểu mình, đồng tình và chia sẻ với mình. Song những điều họ viết, người đọc lại không tiếp nhận được, đôi khi còn thấy phản cảm, thì đây lại là sự thất bại.

Trở lại với nhà thơ Hải Thanh. Điều mà thơ anh đạt được là ở chỗ anh biết tôn trọng và ý thức những gì mình viết ra cần đến được với bạn đọc. Được người đọc suy ngẫm.Ý thức này ngày càng diết dóng. Nó trở thành ý thức thường trực trong quá trình sáng tạo của anh.

Đạt được những điều như đã nói ở Hải Thanh không phải một sớm, một chiều mà là cả chặng đường dài. Là một cây bút trẻ, ban đầu trong những nỗ lực đổi mới anh cũng đã có nhiều tìm tòi khi thì mới lạ, khi thì xa lạ...

Cũng như nhiều cây bút cách tân, về mặt hình thức thơ Hải Thanh có những câu dài, ngắn đan xen, hoặc xuống dòng bất chợt... Hình ảnh, hình tượng thơ thường hư ảo, khói sương, nơi bãi tha ma, chùa hoang, miếu cổ...

Đi trên con đường cách tân thơ Việt, song Hải Thanh chưa đạt được sự “ồn ào”, “gằn gội” như Vi Thùy Linh, cũng chưa đến mức “mất ngủ” đạt tới độ “cú hích nghệ thuật” như Nguyễn Quang Thiều... Hình như chính Hải Thanh trên một chặng đường dài đã “ngộ ra” có gì đó còn lấn cấn, chênh vênh... và rồi anh tự tách mình, quay lại, sau khi ít nhiều đã đạt được những thành công như anh đã tự bộc lộ:

“Ta đã dựng lên một tượng đài tình yêu rực rỡ
         Ngào ngạt hương thơm những nụ môi cười”
                                                 (Những mùa đông)

Nhưng trước cái tượng đài anh dựng lên đã làm anh phản tỉnh:

“Năm tháng ồn ào
Năm tháng tốt tươi
Những yêu đương phơi trắng giữa chợ trời
Cũng nồng nàn cũng đắm say mà sao nhiều đổ nát
Cũng thơm tho ngọt ngào mà đầy đắng đót”
                                            (Những mùa đông)

Đã đến như vậy làm sao đi tiếp, làm sao mà hăm hở như ban đầu. Và điều xảy ra tất yếu phải xảy ra:

“Người cứ mải miết đi
Ta ngơ ngác tìm lối về
Nơi đã rét...”
           (Những mùa đông)

Nhìn lại hành trình thơ của Hải Thanh, từ tập “Bến trăng” (1994), “Bến thu xưa” (1998), Tự thanh (2005) đến Con đường không có vết chân (2006), Thượng huyền (2009) và Tự thanh II (2012), người viết bài này cảm thấy khá nhiều trăn trở.

Trước hết phải khẳng định – Hải Thanh là một cây bút viết khá đều tay. Trong vòng 18 năm, ra mắt bạn đọc tới 6 tập thơ liên tiếp. Tập thơ nào cũng trên dưới 40 bài. Thống kê như vậy để thấy sức sáng tạo của anh thực sự sung mãn. Song số lượng chưa hẳn là tất cả. Điều quan trọng là chất lượng qua mỗi tập thơ. Ở phương diện này phải thừa nhận thơ Hải Thanh đã cập nhật được những tiêu chí mà thơ đích thực đòi hỏi.

Nằm trong dàn các nhà thơ có xu hướng cách tân, nhưng nếu đọc kỹ thơ Hải Thanh qua các tập đã xuất bản ta dễ nhận thấy:

Những bài anh viết với bút pháp hiện đại - phóng khoáng về vần điệu, tiết tấu, số lượng câu chữ dài ngắn đan xen, ghập ghềnh nhằm gây ấn tượng trong cách biểu hiện, nhưng hiệu ứng thẩm mỹ thường không đạt được như mong muốn. Trái lại những bài thơ anh viết gần với những nguyên tắc từ chương truyền thống và đào bới vào thẩm mỹ phương Đông lại như thành công hơn. Từ đây nảy sinh một vấn đề:Có lẽ đổi mới, cách tân trong thi ca không phải ở chỗ cố gắng “lạ hóa” so với truyền thống. Cố gắng viết thế nào càng xa lạ, càng khó hiểu với người đọc, càng thành công.

Càng những gì người ta không muốn nói tới, phơi bày ra mà mình lại dám nói, dám phơi bày. Đấy mới là thành công. Quan niệm và hướng cách tân như vậy sợ không ổn. Bởi vì hình như nó vi phạm tính thẩm mỹ của văn chương.

Trong hành trình thơ của mình có lẽ Hải Thanh đã sớm nhận ra điều này. Và anh cảnh tỉnh mình:

“Sợ rằng mình cũng bê - tông
Thèm nghe cổ tích lại không còn bà
Sợ ai buộc lạt quê nhà
Bưng ra phố xá bảo là... mớ rau!”
              (Sợ rằng mình cũng bê - tông)

Tôi tin, cái mà Hải Thanh sợ là có thật. Nếu tỉnh táo một chút, cả chúng ta cũng khó tránh khỏi trầm ngâm.

Nhìn nhận Hải Thanh trên một chặng đường thơ; người viết không có ý động chạm vào sự nghiệp thơ của anh. Bởi sự nghiệp ấy còn ở phía trước. Còn gian nan và khúc khuỷu lắm. Do vậy, tôi không dám hàm hồ, ngộ nhận.Tuy nhiên với một chặng đường thơ như Hải Thanh cũng đủ ít nhiều cho ta thấy một chân dung văn học. Chí ít trên con đường mà anh từng nói “không có vết chân”, người đọc lại thấy có vết chân thi sĩ. Để từ đó theo anh và cùng anh điềm tĩnh hơn, chín chắn hơn với ước muốn cách tân thi ca đương đại Việt.

T.K

 

 

 

 

 

 

HẢI THANH LÀM MỚI LẠI THƠ LỤC BÁT

                                                                                           Nguyễn Hưng Hải 

Không ngắt nhịp, xuống dòng, không tìm thi tứ lạ nhưng Hải Thanh đã làm mới lại những câu thơ lục bát bằng thi liệu và những ý tưởng đan cài nhiều vỉa tầng thành tư tưởng đầy can dự vào thời thế và nhân thế. Khác với thơ lục bát của Nguyễn Bính nghiêng bút chủ âm về nỗi buồn, về tình yêu lỡ dở, về một nông thôn đang “trôi” dần khỏi nông thôn, thơ lục bát của Hải Thanh là tiếng lòng nhiều trắc ẩn, là một thái độ rõ ràng của một tâm thế luôn đứng ra bênh vực và bảo vệ cho cái đẹp đã và đang bị băng hoại. Sự chuyển dịch về lối sống, về quan niệm, về kết cấu làng xã, văn hóa ở nông thôn đang tiệm cận với văn minh đô thị. Nhưng hệ lụy từ nó cũng để lại nhiều vết thương, nhiều niềm đau, nhiều sự tiếc nuối. Hải Thanh đã dũng cảm dấn thân vào mảng đề tài tưởng như quen thuộc, thân thuộc mà lại vô cùng khó viết này. Và anh đã biết tìm đúng mạch, khơi đúng lạch luồng, khắc họa được một nông thôn vùng trung du Bắc Bộ đang có nhiều sự lạ và cái mới trong “Tự thanh II” xuyên suốt cả tập thơ một đề tài, một cái nhìn nhất quán, một trăn trở nghĩ suy đầy trách nhiệm. Trong tập thơ này, Hải Thanh đã “chạm” đến cái “hồn” của dân tộc, xác lập được những giá trị mới trong việc tìm tòi, đổi mới thơ truyền thống. Và qua đó, anh đã cho chúng ta thêm hiểu biết về những sự chuyển dịch trong cả đời sống và tư tưởng ở nông thôn hiện nay. Đã có rất nhiều truyện, ký viết về nông thôn – nông nghiệp – nông dân khá hay nhưng để có một tập thơ hay ở mảng đề tài này là một thử thách đối với bất cứ nhà thơ nào. Ngay cả những tên tuổi về lục bát thì “tỉ lệ” những bài lục bát hay viết về nông nghiệp – nông thôn – nông dân cũng còn  khiêm tốn. Nói như thế để thấy “Tự thanh II” của Hải Thanh thực sự là một đóng góp cho thi đàn cả nước, trong việc khắc họa chân dung những con người, tâm trạng của nhân thế và thời thế ở nông thôn trong thời hội nhập.

Sinh ra và lớn lên ở một vùng quê nghèo khó của tỉnh Vĩnh Phúc đang có rất nhiều cái mới lạ, đi đầu trong cả nước, nên Hải Thanh thấm được những sự thẩm thấu và bứt phá. Đi qua những lời du dương dễ ru ngủ những tâm hồn; đi qua những vũng ao làng đầy váng chua, bèo tấm; đi qua sáng tối những mặt người nơi đồng quê lam lũ, Hải Thanh đã đến được căn cốt của cõi người trong những sáng tạo mang tính truyền thống nhưng lại đầy can dự, bứt phá theo hướng hiện đại. Và trong sự hiện đại ấy, Hải Thanh đã lắng lọc qua chuyển dịch, để hiện rõ một giọng điệu, một phong cách biết làm lạ đi nhiều sự đã quen, làm mới lại những điều đã cũ. Nông thôn qua cái nhìn của Hải Thanh là một nông thôn đang vận động, đang chuyển dịch, đang có rất nhiều việc phải làm, nhiều điều phải nghĩ ngợi, phải quan tâm.

Tắm mình trong văn hóa làng với một tuổi thơ đẫm đầy nước mắt, ngày khôn lớn lại chịu nhiều va đập, lúc trưởng thành vẫn cô đơn (không cô đơn khó mà viết được) Hải Thanh đã “Tự thanh I”; “Tự thanh II”, nghĩa là trong chủ đích rõ ràng về sự trong xanh, trong sáng, anh luôn khát khao về cái đẹp và luôn mong muốn cuộc đời này tươi đẹp, dẫu rằng đã có lúc tự mình phải thốt lên: “Ao sâu mơ chẳng thành ngòi/ Đất nâu đổi sắc muôn thời vẫn nâu”. Ngẫm mà thấy đúng quá, ngay cả với người viết bài này cũng vậy, dù ra phố ở đã lâu mà vẫn không thành người phố được. Quê đã ngấm vào trong máu. Ngày bươn chải phố phường có thể không nghĩ đến nhưng về đêm, quê lại trỗi dậy, lại “hành xác” như Hải Thanh ám ảnh: “Vẫn là trong héo ngoài tươi/ Chợ bao nhiêu nỗi khóc cười đi qua”. Có vào chợ quê trong những ngày mưa gió mới có thể thấm được nỗi sụt sùi của trời đất, của lòng người nơi thôn dã. Và cái chợ quê ấy, hôm nay cũng đã khác trong thơ Hải Thanh, khi mà tác giả đã cho ta một trải nghiệm, đúc rút: “Vẫn đây câu chuyện làm quà/ Để anh hàng trứng trở ra hai lòng”. Cái sự thật tưởng như không thật này, đang là một trớ trêu ở nông thôn khi bước vào cơ chế thị trường. Một nông thôn thuần nhất với bờ tre mái rạ đang được bê-tông hóa, và lòng người cũng có lúc đã đông cứng lại như bê-tông: “Từ khi em nắm chính quyền/ Em nghen nghét cả láng giềng trẻ trung”. Câu thơ ngỡ như chẳng có gì ăn nhập này lại rất ăn nhập với khung cảnh nông thôn đang có nhiều chuyển dịch: “Quê già phố xá thì non/ Làm cho lũ trẻ lon ton bỏ nhà…”. Trong vô vàn cái sợ, Hải Thanh đã cảnh tỉnh: “Sợ rằng mình cũng bê-tông/ Thèm nghe cổ tích lại không còn bà/ Sợ ai buộc lạt quê nhà/ Bưng ra phố xá bảo là… mớ rau!?”

Ta vẫn quen nói với nhau “lạt mềm buộc chặt”… Vậy mà Hải Thanh lại đem đến một liên tưởng khác, liên tưởng ấy như tâm sự, như giãi bày nhưng cũng là ý thức rất rõ về mình, về người, về những sự thay đổi: “Mưa nhiều ruộng thấp thành ao/ Nắng lâu cái đám đất cao thành đồi”. Lẽ dĩ nhiên là như thế, đương nhiên là như thế nhưng vẫn không hết lạ, khi mà đâu đó vẫn đập vào mắt ta: “Bến tri âm khuất bóng rồi/ Mênh mang nước; mênh mang trời; mênh mang…”.

Trong nỗi mênh mang ấy, Hải Thanh đã bơi trong cảm giác có nhiều bấu víu như những tay tre: “Mẹ là đấu gạo ăn đong/ Con là nồi nước đợi trong đói mèm/ Cha là chút lửa đất đèn/ Hóa thân khói trắng khói đen khói gì”.

Những thân phận ấy là thân phận của nông dân một thời, cũng là thân phận của Hải Thanh ở nơi phố xá những khi nghĩ về cội gốc: “Học trò vẫn học nghề nông/ Bài văn thầy giảng lại không có cày…”.

Trong bao nhiêu cái “suông”: Trăng suông, rượu suông, tình suông – Hải Thanh đã mang đến cho chúng ta một bữa tiệc về cái sự buồn và đẹp ở quê: “Này chén chú, này chén anh/ Uống đi rồi húp bát canh cua đồng”.

Giơ đôi càng lên cũng như con cua đồng ấy, Hải Thanh không phải chỉ “dọa” đâu, mà anh cho chúng ta nhận ra nhiều sự trắng trợn: “Bây giờ lời lãi con buôn/ Mang ra giữa chợ làm khuôn cho đời”.

Cái “khuôn” ấy, có lẽ chỉ xuất hiện trong thời cơ chế mở - Hải Thanh đã nhìn thấu vào tận cùng của những cái gợi là khuôn mẫu - Và anh đã lại một lần nữa giác ngộ: “Từ khi chân chậm mắt mờ/ Con như hoa thắm chẳng sờ thấy hương”.

Vẫn biết “hữu xạ tự nhiên hương” nhưng lầm lụi như người quê dưới bóng tre bóng mít, ngàn đời nay vẫn cứ quanh quẩn mãi, liệu có ai biết được tâm trạng này: “Bếp rơm rớm lửa dầm dề/ Khói mê man khói để khê đặc chiều”.

Có cảm giác cay mắt, cay cay nơi sống mũi khi gặp nhiều những câu thơ như thế trong “Tự thanh II” của Hải Thanh. Cái lạ nhất ở tập thơ này là viết về nông thôn mà vẫn thấy bóng dáng thị thành, viết về nỗi buồn của người quê một thuở mà cảm được cái buồn muôn thuở của làng quê Việt. Lạ nữa, là trong tiếc nuối những cái đẹp truyền thống bị mất đi vẫn thấy thấp thoáng cánh cò trong ca dao, vành nón trắng trên đồng và tình làng nghĩa xóm - nơi tắt lửa tối đèn có nhau. Còn cái mới, dĩ nhiên rồi - rất mới là đằng khác - ấy là những can dự vào nhân thế thời cuộc, tuy không bạo liệt, nhưng cũng vừa đủ để chúng ta nhận ra những góc khuất, những chỗ giột, những xê dịch… Mới ở cách nhìn, cách cảm, cách lập tứ dụng câu, dùng từ. Mới ở cảm quan về một thế giới nông thôn muôn thuở đã có nhiều sự khác. Mới về ý tưởng, về ý thức cảnh tỉnh và thức tỉnh - Hải Thanh đã viết về mình, về nông thôn, về vùng quê mình gắn bó bằng cả sự nuối tiếc và trân trọng nên cho ta cái cảm giác “nhìn giọt nước thấy mênh mông biển cả”. Soi chiếu vào đó ta thấy một nông thôn không giống nông thôn ngày nào ở sự ăn đong, ở niềm tạm bợ, ở ánh trăng suông - buồn nhưng đẹp. Buồn bởi nhiều nét đẹp truyền thống mất đi. Nhưng đẹp bởi nông thôn với muôn sự va đập vẫn là nơi bình yên, ấm áp để ta đi - về những khi lòng mình có điều gì oi ngạt. Và như thế “Tự thanh II” đạt đến sự lạ, và trong sự lạ, gặp một Hải Thanh quen thuộc nhưng rất mới trong việc tự làm mới lại mình, làm mới lại thơ lục bát Việt.

 

N.H.H

 

 


B - MỘT SỐ TÁC PHẨM TIÊU BIỂU

 

 

CHỢ QUÊ

 

Vẫn là gạo, vẫn là ngô

Chợ bao nhiêu gió để khô mặt người

Vẫn là trong héo ngoài tươi

Chợ bao nhiêu nỗi khóc cười đi qua…

 

Vẫn đây câu chuyện làm quà

Để anh hàng trứng trở ra hai lòng

Vẫn đây cam quýt đèo bòng

Để cô bán rượu chán chồng, vì men…

 

Như là lạ, như là quen

Vẫn đây cay đắng hằn lên kiếp người…

 

 

 

 

 

NGƯỜI ĐÀN BÀ Ở MỘT BẾN SÔNG

  

Bây giờ chị lại ngồi thêu

Mang ra chợ bán những điều ước mong

Bây giờ chị lại ngồi hong

Những vuông lụa trắng cất trong vại sành.

 

Bao nhiêu mưa gió tanh bành

Người trong một kiếp phải đành xa nhau

Những là nước cả sông sâu

Bóng chim tăm cá biết đâu mà tìm.

 

Bây giờ chị lại lặng im

Trách đi trách lại con tim dại khờ

Bỗng dưng chị bước sang đò

Xa xăm chỉ thấy một bờ cỏ gianh.

 

Nắng về bên ấy nắng hanh

Chị về bên ấy lắm chanh

                                        chợ chiều…

 

 

 

 

 

THƠ TẶNG CHỊ

 

Chị mấy mươi năm lặn lội

Gom về được mấy cây tre

Tưởng chị dựng túp lều trên đảo nổi

Mênh mang sóng dội tứ bề

Nhưng chị đã ở trần

Chẻ tre làm củi

Cho bếp lửa sau những mẻ lưới mất mùa

                  đỡ lạnh mỗi đêm mưa

 

Chị lấy chồng xa thế

Hàng năm trời chẳng có dịp thăm quê

Em cũng chả có thời gian mà nhớ chị

Chỉ đôi lúc hình dung sóng gió đổ trăm bề

 

Giờ hằng đêm chị có còn kịp khóc

Như thuở nào ấm ức bởi đòn roi

Và mỗi ngày chị có còn dịp hát

Như ngày xưa sắc nước hương trời

 

Em tưởng tượng

Chị giống chiếc thuyền gầy kéo theo bao

thuyền con vội vã

Cập bến này lại tiếng gọi bến kia

Chị như nước hồ vơi cho mấy ngả

Biết bên nào khô quá để phân chia

 

Cứ như thế ngày nối ngày như thế

Không gì vui cũng chẳng có gì buồn…

 

 

 

 

 

 

 

XUÔI DÒNG CỔ TÍCH

 

Nội nửa đời gồng thuê gánh mướn, lúc thanh thản đôi vai nội quen gọi: ơi trời. Không biết chữ nhưng sau mỗi ngày tàu muộn, nội vẫn hay kể sự tích đất và trời cốt để tôi vui.

Cha tôi đi… xương trắng giữa trời, chiến trận nào ai hay biết. Chiếc đòn gánh lại được mẹ tôi tự đặt lên vai mình như một lời phó thác.

Tôi không rõ những gì sau mỗi ngày được - mất. Nội qua đời, mẹ vẫn thì thầm cổ tích kể cho tôi…

Quê muôn thuở chiếc đòn tre gánh những ông trời. Mẹ bảo tôi cũng chính là một ông trời con của mẹ. Mẹ dẫm dãi chăm tốt tươi hoa lá - cho một ngày tôi lớn để rồi xa…

Cứ thế hạt phù sa đắp bồi thương bên lở. Cổ tích truyền đời: Quê vẫn chỉ là quê trong thương nhớ - Quê vẫn chỉ là quê gió mưa xiêu xọ - kẽo kẹt đòn tre lặng lẽ xuôi dòng…

 

 

 

 

 

 

 

CÁNH ĐỒNG CÓ MẸ

 

       Miên man gió, dưới trời không bóng cỏ

      Người làng đi lánh khổ những phương nào

      Tôi run rẩy cầm nén hương cháy đỏ

      Gọi mẹ mình trong tiếng gió nôn nao

 

      Chẳng biết những gì sẽ tới

      Nhưng sẵn tin năm tháng đổi dời

      Có mộ mẹ nên cánh đồng bớt tủi

        Những thân cò thân vạc đỡ đơn côi… 

 

 

 

 

 

 

 

TÂM SỰ Ở QUÊ

 

Mưa nhiều ruộng thấp thành ao

Nắng lâu cái đám đất cao thành đồi

Mẹ ta tóc bạc da mồi

Khấn mây khấn gió khấn trời xa xăm…

 

Ngoài kia bao nỗi nhọc nhằn

Lại thêm bao sự cỗi cằn về quê

Quanh năm một gánh bộn bề

Người quên cả nỗi người tê tái buồn…

 

Quê già, phố xá thì non

Làm cho lũ trẻ lon ton bỏ nhà…

 

 

 

 

 

 

 

 

DÂN CA

 

1.

Chuyện kể

Một đêm thanh

Có người đàn bà gánh nước

Bắt được câu dân ca ai đẻ rơi đỏ hỏn giữa sân đình

 

Năm năm

Mười năm

Câu dân ca ấy lớn lên

Từ nước mắt của người đàn bà đêm đêm gánh nước

(Tưới vun vầng trăng khuyết)

Rồi gửi hồn cho ly biệt một mùa thương.

 

2.

Làng đã thành tên

Đêm đã đêm tròn

Rêu khỏa lấp những nét buồn xưa cũ

Cả dáng dấp những hình hài vô chủ

Trên đất gầy

Nức nở gọi yêu thương

 

Và trăng tha phương

Và đêm lên đường

Để lại đằng sau câu dân ca chinh phụ

Ôi

Xương trắng của bao người lam lũ

Chỉ để giữ một tên làng bất tử

Với dân ca…?

 

 

 

 

 

 

MẸ Ở QUÊ

 

Nhà ở quê chỉ có mẹ bảy mươi với con chó mồ côi đỡ tuổi già lẻ bóng (chỉ có hai cái bát, hai cái nồi, một đôi đũa gọi là đôi - nhưng chẳng mấy khi mẹ dùng đũa bát, chiếc thìa mòn vẹt, mẹ run rẩy xới bên này, khuấy bên kia, mỗi ngày một lần thổi lửa…).

Nhà ở quê có mẹ già như chiếc lá, bên mảnh vườn con một chiếc cuốc mòn, đất quê mênh mông luôn in bóng mẹ, phố xá phồn hoa lời mời không lẽ… mẹ quen sống nghèo đâu dễ xa quê.

Nhà ở quê có tấm áo mưa mẹ thường lăn sàn mùa hạ, chiếc chăn chiên cha để lại mùa đông; mùa tiếp mùa trăn trở, chiều nối chiều với trông, đường trơn dài dễ ngã, mẹ làm sao yên lòng…

Nhà ở quê vẫn chỉ một bếp lửa bập bùng mẹ nhóm những nhành khô cho mầm xanh lớn dậy.

Nhà ở quê một tháng có ba mươi mốt ngày thứ bảy, biết con không về mẹ vẫn đợi cơm…

 

 

 

 

 

 

  

TRÊN VAI TRUYỀN THUYẾT

 

Không phải Ngũ Hành Sơn mọc trên vai truyền thuyết

Người xưa liệu mình

Trước mờ mịt gió mưa

Hồn non nước

Nhuốm bao nhiêu tang tóc

Những màu mây thêu dệt chẳng nên mùa

 

Đất vẫn khát giữa bốn bề hoang lạnh

Biển miên man những đợt sóng thét gào

Trong hoang hoảng sắc trời u ám

Đời bắt đầu tơ tưởng đến trăng sao

 

Rồi nắng đến

Giữa một ngày êm gió

Hạt giống cựa mình hé mở mầm xanh

Rồi nhánh nước ngọt lành

Như sữa mẹ

Mang vơi đầy chia sẻ

Nghĩa em anh

 

Núi biết vươn vai giữa trời cao lộng

Biển biết lùi xa nương bóng con tàu

Như quả trứng

Như cái móng rùa thần

Như bàn tay che chắn

Như truyền thuyết nghìn đời gửi gắm lại muôn sau…

 

Rằng,

Khát vọng yên lành không thể khác

Ngũ Hành Sơn, Non Nước

Những vương triều…

Núi chở che cho người

Người chở che cho đất

Đất nước là điều thứ nhất để tin yêu.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

NỖI NIỀM BÊN ĐẦM VẠC


       Nước nguồn trong mát thế

       Cây xanh đến nhường kia

       Một chiều nào trở gió

       Những đàn chim không về

 

 

 

 

 

 

 

 VỀ  LÀNG

 

Mê mải những vần thơ có cánh

Một chút xanh đã tưởng đỉnh trời

Tôi chẳng biết đời bao nhiêu nóng lạnh

Chợt thẫn thờ trước ngàn vạn gió mây trôi

 

Ngày trở lại, gặp miệng cười vồn vã

Hỏi nhớ gì nơi xóm Hạ ươm tơ?

Tôi biết trả lời sao, em khác quá

Cứ như quê hoá phố tự bao giờ

 

Tất cả vẫn hồn nhiên như bắt được

Một sớm mai đầy những giấc mơ vàng

Tôi ngơ ngẩn nhìn đám mây sũng nước

Chợt giật mình trước bão táp mang mang…

 

 

 

 

 

 

 

 

MỘT KHOẢNG ĐƯỜNG

 

… Thế là đi

Trái tim

Khối óc

Tôi hay ai khác

Đâu là đâu

Cho đến được bây giờ

 

Tôi trở lại những miền quê cực nhọc

Cánh đồng dở mặn dở chua

Khoai sắn nối dài thay những mùa thóc lép

Những cánh rau xanh gượng mọc

Cỏ hoang cằn cọc ria bờ

 

Tôi đã trở về ngày xưa

Cái ngày xưa ở giữa vườn cổ tích

Có bà Tiên, ông Bụt

Xòe tay nâng giấc mơ buồn.

 

Tôi gặp lại dáng mẹ tôi ngơ ngác

Sau chiến chinh mòn gót tìm chồng

Như mảnh đất vắt nghèo nuôi trái ngọt

Mẹ vẫn cầm mơ ước trở về không

 

Có lẽ phút giây này

Tôi đã được làm tôi bé nhỏ

Òa khóc trước tổ tiên, thương mẹ vô bờ

Tôi

Cánh phượng tím đang thì rụng vỡ

Con ve sầu khản cổ gọi hè xưa…

 

 

 

 

 

 

 

 

 

GỌI EM

                   Cho em gái út tôi

 

Con tàu chợ đưa em tới thiên đàng

Thật rồi ư

Đừng có đùa dai như thế

Em mười bảy tuổi chưa tròn

Tay còn hơi vú mẹ

Sao đá hóa bồng bềnh trong khói mây?

 

Quà chợ mẹ mua phần cả cho em đây

Cầm lấy đi

Đừng có đùa dai như thế

Đất quê gầy dù có là ga lẻ

Chẳng nỡ nào em giận dỗi

Theo gió ngàn về vui với trăng sao

 

Tỉnh lại đi ơi chiêm bao

Em sẽ thấy một đêm đầy trăng

Một ngày ngập nắng

Mùa vàng xôn xao những trưa hạ trắng

Những cánh thu chiều ăm ắp ca dao

 

Tỉnh lại nào chiêm bao

Mưa cũng biết điều ngớt hạt

Luống khoai đã vùi xong đất

Dù gánh rạ em chưa đầy

 

Chiêm bao em ơi lại đây

Đừng đùa dai như thế

Trên cánh đồng sứt mẻ

Hạt bụi đâu làm mắt trời ứa lệ

Ô hô!

 

 

 

 

 

 

 

 

TUỔI THƠ

 

Tuổi thơ tôi có con chuồn chuồn ớt

dật dờ trên vũng nước

mang theo câu ca mặn chát:

chuồn chuồn đi cấy cho ma

ma cho bát gạo cúng cha chuồn chuồn

 

mang máng những màu sơn

nhở xíu bàn chân tôi đã đặt vào mảnh đất

có con chuồn chuồn tím đỏ

đất nước,

làng quê nào cũng có nghĩa trang

và có những ngôi chùa tháng đôi lần ngỏ cửa

 

Những người đi đã đi không về nữa

nhưng tuổi thơ tôi còn nhớ

mẹ hay dắt ngoại lên chùa

đọc kinh cứu khổ

cho mảnh đất có con chuồn chuồn tím đỏ

cho tôi lớn lên mở mắt nhìn bầu trời câm gió

chiến chinh như thể mây mù

 

Tuổi thơ tôi cứ thế đánh đu

trên cái võng là lưng con ngựa già mòn chân chiến trận

thay lời ru là những buổi lên chùa

như ngoại và mẹ tôi

và bao thế hệ đàn bà cô quạnh

đã cháy hết mình như lửa hóa chân nhang

cho những ngày sau trắng án

Những tượng đài nghĩa trang ngày một cao hơn

tượng trưng cho lá bùa giải hạn

tuổi thơ tôi,

với con chuồn chuồn ớt xa đâu

mang câu ca nào chát mặn:

chuồn chuồn đi cấy cho ma…

tuổi thơ cứ thế trôi qua

buồn thương không quay về bát gạo…

 

 

 

 

 

 

 

 

MỘT KHÚC TUỔI MÌNH

 

Kể từ cái đoạn ham chơi

Lấy nơi kín gió làm nơi hẹn hò

Em gầy như những giấc mơ

Anh đen như nhánh củi khô nhuộm dầu

Quê mình nắng gió không đâu

Bùa yêu vẫn rực đỏ màu yêu đương…

 

Rồi em buôn bạn bán phường

Anh say quên cả con đường chưa say…

 

Sau cơn tối mặt tối mày

Có con nhền nhện giăng dây mối sầu

Qua cầu trông xuống sông sâu

Thấy hình gương mặt nát nhàu như dưa…

 

Lá xanh thì trả về xưa

Người xuân xanh đã lên chùa tụng kinh…

 

 

 

 

 

 

 

 

 

TRUNG DU

 

Khi tôi lớn lên

đất đã chìm hoang vắng

cây cọ khát chìa tay xin giọt nắng

vắt đời xanh

 

Ý nghĩ loanh quanh

chân dệt bước bập bềnh mặt lộ

chia từng ngọn ghó

chắt chiu hoài chưa đủ một ngày mai

 

Gánh tình em gổng nghiêng vai

hững hờ duyên khách đùa dai chợ chiều

mái gầy bóng quán đổ xiêu

lắt lay một cánh diều kêu rợn người

 

Đất rách tả tơi

trăm ngàn hạt cát

cuộn dòng bụi bạc

mắt đường mù sương

 

Tiếng hạc cô đêm

mẹ già như ngọn đèn leo lét

em như vành môi khuyết

quay với vòng trung du…

 

 

 

 

 

 

 

 

ÁM ẢNH

 

Ám ảnh tôi đêm đêm

Là những bóng người cụt đầu

Chân đất

 

Ám ảnh tôi đêm đêm

Là những bộ xương hóa thạch

Không tên

 

Ám ảnh tôi đêm đêm

Là những cơ thể như chiếc túi vải mềm đầy vụn sắt

Lang thang dọc đường

 

Ám ảnh tôi đêm đêm

Là những cành cây xác xơ sằng sặc tiếngcười

Trong gió rét

Tất cả bước ra từ bóng đen

Bóng đen chật ních

Của thường đêm

 

Hình như đấy là dư ảnh, dư âm của ngày qua vọng lại

Sau những cuộc chiến vô tình

Những thiên tai cố ý

Sau những gỉ gì gi lý do sẵn kể

Cả những sự cợt cười qua nét mặt hồn nhiên!

 

Ám ảnh tôi là một bảo tàng

Có thời gian và bia đá

Có mặt người và dạ thú

Giữa muôn trùng bể dâu

 

Cảm giác trọc đầu

Trong khoảng không êm ả

Tôi muốn cố quên đi

Mà đêm đêm trong giấc ngủ

Cánh cửa bảo tàng rạng mở

Ở đó,

Có cả cuộc đời mà không có ai…

 

 

 

 

 

 

 

 

 

THÁNG MƯỜI, NGƯỜI QUÊ

 

Bát cơm gạo mới đầy cười

Vênh vênh khúc cá tháng Mười nằm trên

Ước mơ cũng đáng đồng tiền

Làm chi cái chức cái quyền trao tay...

 

Mưa đêm phụ bạc nắng ngày

Tháng năm thấp thỏm bát đầy bát vơi

Có đâu sẵn cỗ mà ngồi

Sẵn xôi mà nắm, sẵn trời mà kêu…

 

Liêu xiêu ngọn gió qua chiều

Sợi dây dưới ruộng cánh diều trên không

Tháng Mười bỗng chốc mênh mông

Bao nhiêu gốc rạ giữa đồng chơ vơ…

 

 

 

 

 

 

 

 

 

TUỔI THƠ BÊN BỜ SÔNG VẮNG

 

                  Tôi nghèo lắm chẳng có gì để khóc

                   Như những người nước mắt sẵn như mưa

                  Tuổi thơ buồn chỉ có những giấc mơ

                   Giờ tan biến vào mây và gió loãng.

                                                                 H.T

 

Giở tờ lịch cuối năm

Sực nhớ tuổi thơ xưa bên bờ sông vắng

Đã trôi theo con thuyền trăng đầu tháng

Sang bên kia đỉnh trời.

 

Sang bên kia đỉnh trời

Những giỏ ước mơ tôi

Có con cua, con cá

Những cánh cò chở ắp câu ca dao ngày hạ

Những ổ rơm nồng, bát cơm tấm… những đêm đông.

 

Những ổ rơm nồng, bát cơm tấm… những đêm đông

Lấm láp hương đồng

Không ai bán mua, không ai mặc cả

Thị trường không định giá

Quê nghèo, quê vẫn chỉ quê thôi.

 

Quê vẫn chỉ quê thôi

Xao xác góc trời

Tuổi thơ chết dưới vũng bùn nhão nhét

Con trâu ra khỏi làng, quên mất mình lấm lết

Vui hay buồn, nước mắt khác gì nhau.

 

Nước mắt khác gì nhau

Khác ở cái gật đầu…

 

 

 

 

 

 

MỘT MÌNH NGỒI NGẮM MÙA ĐÔNG

 

Một mình ngồi ngắm mùa đông

Mưa giăng kín mặt buồn trông thấy buồn

Ngoài kia mấy chú chuồn chuồn

Lướt đi lướt lại như buôn sự đời

 

Ao sâu mơ chẳng thành ngòi

Đất nâu đổi sắc muôn thời vẫn nâu

Thế rồi con cá cắn câu

Con chim mắc lưới biết đâu là mình

 

Em về với mộng tươi xinh

Còn tôi đổ chén rượu tình xuống sông

Một mình ngồi ngắm mùa đông

Vẫn mưa như cũ mà không thấy gì…

 

 

 

 

 

 

 

NỖI NIỀM BÊN ĐẦM VẠC

 

Nước nguồn trong mát thế

Cây xanh đến nhường kia...

Một chiều nào trở gió

Những đàn chim không về...

 

 

 

 

 

 

 

Ở PHÍA SAU NGÔI NHÀ HẠNH PHÚC

 

Ở phía sau ngôi nhà hạnh phúc

Có cánh đồng thúc giục những mùa xanh

Ở phía sau ngôi nhà hạnh phúc

Có mầm non không đủ sức lên cành

 

Ở phía sau ngôi nhà hạnh phúc

Có bức tường rêu mọc trong rêu

Có ngọn gió thoảng qua trời vẩn đục

Có con mương rữa mục những thân bèo

 

Ở phía sau ngôi nhà hạnh phúc

Có lối mòn không thẳng tắp để người qua

Có phiên chợ đủ bà già, kẻ cắp

Có người xưa đôi lúc vẫn đưa quà…

 

 

 

 

 

 

 

 

 

QUA ĐỈNH PHÙ VÂN

 

Qua đỉnh phù vân còn ngoảnh lại

Dại khờ biết hỏi những ai khôn

Ở đây mây gió trong lành thế

Bạc cả niềm vui, cả nỗi buồn…

 

 

 

 

 

 

 

SỢ RẰNG MÌNH CŨNG BÊ-TÔNG

 

Tự nhiên như bắt được tiền

Làng xây mới cả ưu phiền dáng quê

Mang câu “giấy rách giữ lề”

Mà không ngăn được lời thề gió bay

 

Thôi đành bắt tỉnh làm say

Bắt mưa thành nắng, bắt ngày thành đêm

Thôi đành làng đã thay tên

(Tại con diều sáo bỏ quên cánh đồng)

 

Sợ rằng mình cũng bê-tông

Thèm nghe cổ tích lại không còn bà

Sợ ai buộc lạt quê nhà

Bưng ra phố xá bảo là… mớ rau!?

 

 

 

 

 

 

 

 

NỖI QUÊ

 

Trời xa. Người vẫn trông sau trước

Lỗi hẹn chiêm - mùa, nỗi nước sông

Bao nhiêu trong vắt thời đâu mất

Chỉ thấy miên man khói ngập đồng

 

Chiều nay. Ngày cũ còn lưu lại

Chút nắng mơ mòng ở cuối thôn

Có người bươi rác mừng trông thấy

Một mảnh đồ chơi chửa nhuốm buồn…

 

 

 

 

 

 

 

 

HƯƠNG KHÓI MONG MANH

  

 Cái đói chỉ có ở mẹ

Những người đàn bà bây giờ không đói nữa đâu;

Cái rét chỉ có ở mẹ

Những người đàn bà bây giờ không rét nữa đâu;

Nhưng ngày xưa thì mãi trẻ

Ngày nay cứ ra vẻ mình già…

 

Ẩn khuất trên bàn thờ

Những di ảnh của mẹ, của bà

Vẫn nụ cười đôn hậu

Những đôi mắt như giếng nước mùa thu

Bát ngát như cánh đồng lúa đang thì con gái…

 

Năm tháng đi qua, đi qua mãi

Bàn thờ vẫn đứng yên

Khói hương thì đã khác.

 

 

 

 

 

 

 

 

DAY DỨT LÀNG QUÊ

  

 Mẹ ơi

Mẹ ở đâu

Phía trước là sông

Phía sau là núi

Làng quê râm ran nắng mới

Bơ vơ con

Một tiếng gọi Người

Đất làng còn đây

Tên làng giờ  đâu

Bờ tre làng đây

Lũy tre làng đâu

Con cuốc bờ ao

Xa xăm tiếng cuốc...

Những câu ca dao gầy guộc

Lang thang tìm chốn nương thân

Cô đơn đầy ắp

Năm cũ xa, năm mới cũng xa dần

 

Ngọn đèn sắp tắt

Cái bóng lắt lay như khóc

Vầng trăng lu

Cái bóng ngả nghiêng như cười

Nỗi khổ bao đời cất thành tiếng hát

Tiếng hát như chim thao thiết đại ngàn

 

Con chim khôn tìm đậu nóc nhà quan

Con khờ dại

Giữa bờ tre, mái rạ

Mẹ thương lắm vì con là con mẹ

Trong khổ nghèo người hết mực thương nhau

 

Thương nhau chẳng lọ sang giàu

Mong manh dải yếm qua cầu gió bay

Tưởng rằng tay đã cầm tay

Bến sông lại nỗi chân mây cuối trời

 

Vẳng tiếng ru hời

Xa xăm mấy thuở

Làng đây người đây

Làng đâu người đâu...

 

 

 

 

 

 

 

 

LẶNG THẦM TÂY BẮC

 

Này là núi

Chờn vờn như khói thuốc

Bản vừa xuân, ngàn ngạt cánh ong rừng

Này là mây

Bập bềnh như nhịp bước

Bậc thang chiều chênh chếch sườn hôm

 

Những cây lá hân hoan tiệc đứng

Giữa tràn trề mưa gió rùng rinh

Ai cũng mắt môi hồng lửa đượm

Rét ở đâu không rét đến bạn tình

 

Rồi phiên chợ mang người về xa thẳm

Để rưng rưng những câu ví mặn mòi

Hoa ban nở vật vờ như bướm trắng

Phiên chợ bây giờ, phiên chợ vẫn đông vui

 

Thôi chẳng nói

Nỗi mịt mờ sương lạnh

Mang chơi vơi treo vào mảnh trăng ngàn

Thôi chẳng trách

Suối nguồn xanh lễnh loãng

Đành ngậm lòng… thương bóng nắng đã xa xăm

 

Giờ gặp lại ai người, sao đến lạ?

Thương nhớ đâu rồi

Thương nhớ rồi đâu

Rượu đã một lần say, và rượu đã 

Lạc dưới trời lau

Gió trắng đầu…

 

 

 

 

 

 

 

NHIỀU GIÓ QUÁ

THỔI VỀ ĐÂU KHÔNG BIẾT 

 

Nhiều gió quá

Thổi về đâu không biết

Những thân cây xơ xác đã bao mùa

Những cánh buồm như mắc nắng vào mưa

Vẫn khô khát

Một bầu trời rỗng ruột

 

Nhiều mây quá

Trắng về đâu không biết

Những đầu non vẫn bạc phếch mỗi chiều

Những thân cò trong ký ức phiêu diêu

Trăng mỗi kiếp tròn một đêm đã khuyết

 

Nhiều người quá

Đi về đâu không biết

Những phố phường, làng mạc đã như nêm

Những con đường xa tắp chửa thành tên

Đã dưới cỏ bao nhọc nhằn ẩn ức

 

Nhiều thơ quá

Tặng cho ai không biết

Những chuyện tình sướt mướt đã đầy trang

Phía xa kia, riêng mẹ với mùa màng

Sau thất bát lại lặng thầm gieo hạt.

 

 

 

 

 

 

 

NGOÀI CỬA SỔ CÓ RẤT NHIỀU MÂY TRẮNG

  

Ngoài cửa sổ có rất nhiều mây trắng

Không biết gió đợi mây

Hay là mây đợi gió

Thế gian muôn sự đợi chờ

 

Con ta đứng bên cửa sổ 

Có rất nhiều mây gió đã ngang qua

 

Ngoài cửa sổ có rất nhiều mưa nắng

Trong ngôi nhà

Chỉ có cha và mẹ

 

Chỉ ngần ấy thôi

Mỏng manh

Một sợi dây diều…

 

 

 

 

 

 

 

TRÍ TƯỞNG TƯỢNG

CỦA CHÀNG TRAI 18 TUỔI

 

Ngày gánh gạo theo chồng đi kháng chiến

Tưởng Điện Biên chỉ có chín năm rừng

Tôi chẳng biết những nghẹn ngào sâu thẳm

Mỗi bận chong đèn

Mắt mẹ cháy như hương

Tôi bám váy câu ầu ơ còn lại

Những luỹ thành đã dầm dãi máu xương

Ru rằng:

Nhiễu điều phủ lấy giá gương

Người trong một nước thì thương nhau cùng…

Mười tám tuổi

Theo bước quân hành

Tôi hình dung

Tổ quốc

 

- Tổ quốc ở  đâu?

- Ở chính nhà này

Đấy là cha “chiến trường đi đời xanh chẳng tiếc”

 

- Tổ quốc ở  đâu?

- Ở chính nơi này

Đá chồng lên đá thành núi

Nước chảy theo nước thành sông

Những nếp nhà chụm vào nhau

                         qua gió mưa, tang tóc

 

- Tổ quốc là nước non này

Những xóm những làng

Đẻ cái sinh con

Truyền đời giữ  đất 

 

- Tổ quốc là mặt trời

Mặt trời là mẹ

Mãi soi đường cho mỗi bước con đi…

 

 

 

 

 

 

 

ĐẤT QUÊ TÔI

 

Tờ lịch cũ cuối ngày còn lưu lại

Mảnh trăng gầy tê tái tháng Giêng

Đất quê tôi thở dài hoang hoải

Những chiêm mùa vươn mãi chẳng thành tên

 

Vì yêu đất nên trồng cây đỡ nắng

Vì thương quê, nhưng… thương vụng nhớ thầm

Rồi năm ấy cây ổi đào cũng chín

Chút hương đầu gói kín tặng riêng em

 

Thì vẫn biết chợ chiều phiên đổi bán

Nơi xa xôi thành mái ấm quê người

Nhưng ngơ ngác là đồi hoa lẻ bạn

Tím một trời tím lịm cánh sim rơi

 

Đàn chim khách, thế rồi, quay trở lại

Đất quê tôi hoa trái đã thơm cành

Nắng vẫn đỏ những mùa hè thơ dại

Trong cỗi cằn, cây cứ ngẩn ngơ xanh…

 

 

 

 

 

 

 

     

 


Trần Hải