NHIỆT LIỆT CHÀO MỪNG 43 NĂM NGÀY GIẢI PHÓNG MIỀN NAM, THỐNG NHẤT ĐẤT NƯỚC (30/4/1975 - 30/4/2018)
Từ khóa tìm kiếm Từ khóa tìm kiếm

VĂN XUÔI VĨNH PHÚC - Tuyển tập tác phẩm đoạt Giải thưởng Văn học Nghệ thuật 1997 – 2016, (phần 3)

(Ngày đăng: 19/01/2018, số lượt xem: 18)

 



GIẢI THƯỞNG VĂN HỌC NGHỆ THUẬT

5 NĂM LẦN III (2006 – 2010)

 

 

I. Giải A:

Không có

II. Giải B: 01 giải

Tập truyện ngắn Nơi gặp gỡ hai con sông của Xuân Mai

III. Giải C: 02 giải

1. Tập truyện ngắn Hoàng hôn tím của Trương Thị Hương Nghĩa

2. Tập truyện ngắn Những lá thư màu xanh của Nguyễn Thị Minh Ánh

IV. Giải Khuyến khích: 03 giải

1. Tập truyện ngắn Bức tường ngăn của Nguyễn Hoàng Long

2. Tập truyện ngắn Quán Mãng Xà Vương của Trần Minh Thảo (Thảo Dân)

3. Tập ký Anh hùng giữa đời thường của Lê Khánh

 

 

 

 

 

 


XUÂN MAI

 

Nơi gặp gỡ hai con sông

 

NHÀ XUẤT BẢN HỘI NHÀ VĂN, 2006

--------------------------------------------------------- 

 

Tập truyện ngắn đoạt Giải B,

 Giải thưởng VHNT tỉnh Vĩnh Phúc 5 năm lần thứ III

(2006 - 2010)



 

 

 

NƠI GẶP GỠ HAI CON SÔNG 

 

Bỏ lại phía sau lưng tất cả những tiếng đàn, tiếng nhạc xập xình, náo nhiệt, những tiếng la hét, những tiếng động cơ ô tô, xe máy và phố phường ồn ã, lao ra khỏi nhà hàng “Chiều tím”, bàn chân dường như vô định đã đưa cô đến bến sông. Biết chắc rằng không còn ai đuổi theo mình nữa cô mới ngồi thụp xuống, hai tay ôm đầu và khóc nức lên.

Đêm chưa hẳn đã về khuya nhưng bến sông không còn người qua lại. Dưới lòng sông mờ trắng, sát với mép nước có một con thuyền, từ trong khoang lái hắt ra ánh đèn dầu le lói. Gió thổi xôn xao. Sóng nước vỗ mạn thuyền ì oạp…

Thoắt nhiên cô gái đứng vụt dậy, sau khoảnh khắc chần chừ, cô nhảy ùm xuống sông. Mặt sông bắn tóe lên màn nước hình phễu, màu sáng trắng, đoạn lại trở về với trạng thái ì oạp triền miên như không hề có điều gì xảy ra.

Đúng lúc ấy từ trong khoang thuyền có một người con trai, có lẽ anh ta nghe được tiếng “ùm” nên lao ra. Bằng linh cảm của người sống nghề sông nước, anh biết có ai đó vừa nhảy xuống sông. Không một chút đắn đo, anh lao xuống theo. Lát sau, anh lôi được cô gái lên thuyền.

Đầu tóc, quần áo cô gái ướt rượt. Trong ánh đèn mờ tỏ, anh thấy đây là một cô gái đẹp, tuổi chừng 19, 20. Bộ quần áo vốn mỏng lại ướt, dán sát vào người cô làm nổi lên những đường nét nở nang, hấp dẫn. Mẹ anh, một người đàn bà ngót sáu mươi tuổi, cuống quýt bên cô gái. Bà luôn miệng hỏi cô tên gì, quê ở đâu, tại sao lại phải làm cái điều dại dột này? Cô không nói chỉ khóc và mấy lần vùng vẫy đòi thoát khỏi vòng tay người đàn bà để lại được nhảy xuống sông. Lần cuối cùng thấy cô cứ khăng khăng đòi chết, đừng chẳng được, anh giang tay tát thật mạnh vào mặt cô gái một cái và quát: “Ngu! Thôi, nó muốn chết mẹ mặt xác nó”. Không ngờ cái tát “lật mặt” đó của anh con trai làm cô bừng tỉnh. Cô không khóc nữa, lặng lẽ làm theo sự chỉ dẫn của người đàn bà: thay quần áo, uống nước gừng, húp cháo nóng, rồi vào giường nằm chung với bà. Anh con thấy không muốn ngủ. Anh ngồi trên mui thuyền đốt thuốc lá liên miên. Thỉnh thoảng anh lại bấm đèn pin xem đàn cá trắm cỏ nuôi trong bè. Những con cá to bằng bắp tay đang nhao lên lặn xuống cắn mồi lao xao khiến anh rất vui. Mãi sau anh mới ngả lưng trên mui thuyền, vắt tay lên trán và thầm hỏi: “Người con gái mình vừa vớt lên ấy là ai thế nhỉ?”.

 

 

*

*       *

 

 

Người con gái lao mình xuống sông được vớt lên ấy là Nhài. Tên cúng cơm của cô là Nhặt. Quê Nhặt ở Lùng Mẳng – Một bản người dân tộc Dao, mãi trên thượng nguồn sông Lô.

Từ lâu rồi ở Lùng Mẳng vẫn có tục đẻ con ra nếu không nuôi được thì đem bỏ vào trong rừng. Nhài là đứa con thứ 9 được bố mẹ đẻ ra. Biết không thể nuôi nổi Nhài nữa, bố mẹ cô cũng đặt cô vào một cái sọt, đoạn đem cô vào rừng, treo trên ngọn cây. Máu me trên người chưa được lau, cuống rốn chưa được cắt, miệng bị nhét đầy lá rừng, vậy mà qua hai ngày trời giữa sương đêm gió lạnh và ong kiến bu đầy mình, cô vẫn không chết. Đến ngày thứ ba, may sao có một người đàn bà đi rừng chợt nghe thấy tiếng gì ọ ẹ như con mèo hen, bà dừng lại nghe và ngơ ngác tìm kiếm. Cuối cùng bà nhận ra đấy là đứa trẻ kêu. Bà vít ngọn cây xuống đoạn đuổi hết ong rừng, rồi xách cái sọt đem cô về và làm lễ nhận con nuôi. Bà đặt tên cô là Nhặt.

Thôi, khỏi phải nói đến những năm tháng bà nuôi Nhặt vất vả như thế nào, chỉ biết rằng được sống trong tình thương yêu, chăm sóc của bà, Nhặt lớn dần lên. Càng lớn Nhặt càng xinh gái. Học hết lớp 5, Nhặt ở nhà cùng bà đi làm nương được mấy năm thì một hôm có người đến bảo bà cho Nhặt ra phố làm “ô-sin”. Làm “ô-sin” tức là đi làm người ở. Nhặt, mẹ nuôi Nhặt đều biết thế. Vài năm nay con trai, con gái bản Lùng Mẳng đã có nhiều đứa bỏ đi làm thuê. Khi đi, đứa nào cũng gầy còm ốm yếu. Khi về, đứa nào cũng béo tốt, da dẻ hồng hào, ăn mặc đẹp y như người thành phố. Hình như cứ được ra khỏi Lùng Mẳng là ai cũng đổi đời? Nếu đi làm ô –sin mà đổi đời thì Nhặt cũng muốn đi. Người đón Nhặt ra phố còn nói: “Mỗi tháng ba trăm ngàn đồng tiền công. Cơm mỗi ngày ba bữa, chủ nhà ăn thế nào mình ăn thế. Tính ra, vị chi lương của cháu mỗi tháng phải năm, sáu trăm ngàn chứ không ít đâu. Mà công việc nhẹ nhàng lắm. Ngoài nấu cơm, quét nhà, giặt giũ giúp nhà chủ, còn thì suốt ngày ngồi xem ti vi”.

Nhà vốn đông người, cái ăn cái mặc còn thiếu thốn, trong lúc người môi giới, giới thiệu việc làm lại nói ngon, nói ngọt như rót mật vào tai… Thế là mẹ con Nhặt gật đầu, bằng lòng.

Nhặt đổi tên là Nhài và được dẫn đến làm ô-sin cho một gia đình ở giữa “phố quan”. Nhà cao những 4 tầng lầu nhưng chỉ có 3 người ở, gồm một ông già, chừng trên 70 tuổi, sau cơn tai biến mạch máu não, phải nằm liệt giường và hai vợ chồng ông chủ tuổi khoảng ngót 50. Nghe nói vợ chồng họ còn có hai anh con trai, nhưng đều đang du học bên Nhật. Không biết vợ chồng ông chủ làm việc gì mà sáng nào người nào cũng có ô tô con màu đen bóng lộn đến đón đi. Họ đi suốt cả ngày. Tối, đường phố lên đèn mới về. Cũng có nhiều hôm Nhài tắt đèn đi ngủ được một giấc dài mới thấy ông (hay bà) bấm chuông gọi cổng. Hai ông bà mỗi người ngủ một phòng. Hầu như họ không nói chuyện với nhau. Họ sống lặng lẽ như hai cái bóng. Làm ô-sin, Nhài biết thân phận mình là con ở, cô không tò mò hỏi chuyện nhưng bằng linh cảm của mình, Nhài đoán họ đang sống ly thân. Là Nhài đoán thế chứ chuyện nhà người ta Nhài quan tâm làm gì! Cô yên tâm với công việc của mình, miễn là họ trả công cô sòng phẳng.

Được ăn cơm thành phố, uống nước thành phố, việc làm lại không nặng nhọc vất vả như ở nhà nên chỉ có mấy tháng đi làm ô-sin mà Nhài lớn phổng lên. Mái tóc Nhài dài ra đen mượt, nước da trắng hồng, má, môi không đánh phấn tô son mà lúc nào cũng đỏ, đôi mắt đen với hàng mi cong dài sáng long lanh, hai hàm răng trắng đều chỉ hé lộ mỗi khi Nhài cười. Dân phố ai cũng khen Nhài vừa đẹp, vừa có duyên. Cô đúng là bông hoa rừng mới được người ta đem ra thành phố. Những lời bình luận ấy không có cánh nhưng đều bay đến tai ông chủ của Nhài. Cô đâu biết ông để ý đến mình từ bao giờ.

Nhài nhớ, hôm ấy cô vừa ngỏ lời xin phép ông bà chủ cho về quê thăm mẹ một, hai ngày nhưng không được vì bà chủ bận phải đi công tác xa một tuần. Bà chủ đi rồi, tối ấy như nhiều tối khác, khoảng 10 giờ ông chủ mới về. Ông gọi Nhài vào phòng riêng sai pha cà phê cho ông. Trong lúc Nhài đang hí húi với công việc thì bỗng ông chủ ôm chầm lấy cô, hôn như mưa lên mặt, lên môi cô. Quá đột ngột trước hành động ấy của ông chủ Nhài cố vùng vẫy mà không thể nào thoát khỏi hai cánh tay to khỏe, cứng như hai thanh sắt ghì xiết lấy mình. Nhài định kêu “cứu tôi với” nhưng ông chủ đã nhét cái khăn vào miệng cô, bế thốc cô lên, đặt vào giường…

Hành lạc trên thân xác Nhài xong, ông chủ mở cửa đẩy cô ra còn dọa: “Cấm không được nói chuyện này với ai. Lộ, chớ bảo tao là thằng ác”. Đau đớn quá, ê chề quá, nhục nhã quá mà Nhài không làm gì được. Nhài tấm tức khóc và cắm cổ chạy xuống tầng một. Hình như lúc bấy giờ ông cụ 70 tuổi cũng biết chuyện. Cụ ú ớ gọi đoạn lại rung chuông gọi Nhài như mọi lần nhưng Nhài đã lao ra đường phố.

Nhài đang đứng khóc một mình dưới một gốc cây xà cừ thì có một người đàn ông đến bên cô. Người đàn ông này khoảng ngoài 40 tuổi, mắt đeo kính trắng, đầu đội mũ “le”, qua cách ăn mặc có thể đoán anh ta là một người đứng đắn, đàng hoàng. Không hỏi tại sao Nhài khóc, tại sao Nhài ở đây có một mình, anh nói ngay với Nhài:

- Nhìn cô tôi biết, cô là con nhà lành ra phố làm ăn đã gặp chuyện không may. Nếu tin tôi, mời cô về nghỉ ở nhà tôi qua đêm nay rồi mọi chuyện sẽ tính sau. Nghe tôi, đừng đứng ở đây một mình, nguy hiểm lắm cô ạ.

Nhài ngước nhìn người đàn ông như muốn xác định tuổi tác để xưng hô:

- Nhà … chú ở đâu?

- Thì cứ đi cùng tôi sẽ biết, không xa lắm đâu.

Không còn cách nào khác, Nhài đành đi theo người đàn ông xa lạ có cái vẻ đứng đắn, đàng hoàng ấy. Về đến nơi Nhài mới biết đây là ông chủ nhà hàng “Chiều tím”… “Chiều tím” là nhà hàng nằm bên bờ cái hồ rộng cách đường phố chính vài chục mét. Ở đây người ta vừa cho thuê hát Ka-ra-ô-kê trong phòng kín, vừa bán cà phê vườn. Khách hầu hết là những thanh niên và những người đàn ông đầu hói, tóc muối tiêu. Có chừng hơn chục người phục vụ toàn là con gái trạc tuổi Nhài. Cô nào cũng má phấn môi son, ăn mặc hở hang, váy ngắn, để lộ cặp đùi to tròn, trắng lốp…

Người đàn ông dẫn Nhài vào nhà, bảo cô ngồi vào ghế sa – lông Đồng Kỵ, sai người pha nước mời cô. Sau đó giới thiệu vắn tắt cho cô biết về việc kinh doanh của “Chiều tím”. Với cử chỉ và giọng điệu của một ông chủ, anh bảo:

- Cô cứ nghĩ kỹ đi. Nếu có nhu cầu kiếm tiền thì ở lại đây bán hàng cho tôi. Cơm nuôi ba bữa, lương mỗi tháng sáu trăm ngàn, phục vụ tốt, khách hàng khen, sẽ có thưởng thêm.

Không thể bỏ về quê vào lúc này. Lại có người thuê làm, công xá như thế là được. Thôi thì, cứ làm thử xem sao. Nghĩ thế, Nhài đồng ý.

Làm ở “Chiều tím” phải bưng bê, phải chịu sự sai bảo của bà chủ, phải cắn răng chiều khách… Nhài không có sợ. Điều Nhài sợ nhất, ái ngại nhất là những lần phải phục vụ những người lẽ ra Nhài phải gọi bằng chú, bằng bác, nhưng họ lại cứ bắt gọi bằng anh, xưng em. Hơn thế, họ bắt Nhài ngồi cùng bàn uống bia, rượu với họ, cùng “một trăm phần trăm” với họ. Rồi không biết là họ say hay giả say để giơ tay quờ quạng ôm lấy Nhài, cấu véo vào mông, vào đùi Nhài…

Hơn hai tháng trời sống ngập ngụa trong không khí ăn chơi, tiêu tiền như ném qua cửa sổ của khách hàng bỗng một hôm Nhài nhận thấy trong người khang khác. Cô ghê mùi cơm tẻ và thỉnh thoảng lại buồn nôn. Nôn khan, ọe ra toàn nước trong. Cô rùng mình sợ hãi, nghĩ rằng mình đã có chửa. Mà Nhài có chửa thật! Cô đang ốm nghén, dẫu có cố gượng làm ra vẻ bình thường cũng không thể nào ngồi dậy được, nói gì đến đi lại.

Dưới con mắt của người phụ nữ đã có hai con, bà chủ nhà hàng “Chiều tím” chỉ cần liếc mắt qua cũng biết ngay là Nhài “bị” với thằng nào rồi. Chị ta bảo với chồng tống quái Nhài đi, dĩ nhiên sớm ngày nào hay ngày ấy.

Người đàn ông có vẻ đứng đắn, đàng hoàng, dỗ ngon, dỗ ngọt Nhài tối hôm nào bây giờ gọi cô dậy, với nét mặt lạnh như tiền, anh nói:

- Mọi chuyện xảy ra với cô trước đây tôi không cần biết. Tôi cũng không muốn nghe cô trình bày gì cả. Chúng tôi thương cô nhưng vì uy tín của cửa hàng, tôi phải xóa hợp đồng với cô, vợ tôi sẽ thanh toán công cho cô. Từ sáng mai cô không còn lý do gì để có mặt ở đây nữa.

Bà chủ “Chiều tím” rành rọt hơn:

- Tôi chỉ thanh toán những ngày cô làm, còn mấy hôm cô ốm, không phục vụ được, tôi không tính tiền ăn. Vậy là tôi đã quá tử tế với cô. Và, tôi yêu cầu cô ra khỏi nhà tôi ngay từ giờ phút này chứ không phải là đến sáng mai. Cô nghe rõ chưa?

Không ngờ họ lại đối xử tồi tệ với mình như thế này, uất nghẹn lên tận cổ, không nói được lời nào, Nhài chạy lao ra đường, bỏ mặc vợ chồng nhà hàng “Chiều tím” đang gọi đuổi theo. Nhài hòa vào dòng người, dòng xe nhằm hướng bến sông mà chạy như ma đuổi.

 

 

 

*

*       *

 

Đã lâu rồi, kể từ hôm rời bản Lùng Mẳng đi làm ô-sin, dịp này Nhài mới lại được sống những ngày hết sức yên tĩnh. Thời tiết đã sang thu. Dòng sông thu mình lại, nước sông xanh mát lặng lờ trôi. Gió thổi xôn xao suốt ngày. Trên bãi sông ngô đang trổ cờ. Buổi sáng, Nhài thức giấc bởi tiếng chim véo von từ đâu đó trên bầu trời, trong các lùm cây vọng tới. Cô lười nhác nằm rốn thêm chút nữa. Những lúc như thế này Nhài thường nghĩ ngợi lung tung…

Ngày đầu tiên ở với mẹ con người nuôi cá bè trên sông, Nhài đâu biết mẹ con bà quê ở bên kia sông và mới ra ở bến sông này được ba, bốn năm. Hơn ba mươi năm trước, tên bà là Thảo, từ ngày có con, theo phong tục của làng, người ta gọi bà theo tên con là Hiền. Hiền là người con trai duy nhất của bà. Sự ra đời của Hiền vừa là chỗ dựa cho bà sống đến ngày hôm nay, vừa là nguyên cớ xô đẩy cuộc đời bà qua bao nỗi cay đắng, truân chuyên.

Số là, ngày ấy Thảo vừa bước qua tuổi thiếu niên đã vội vã nhận lời yêu và đồng ý cho gia đình làm lễ cưới cho Đức, chồng Thảo, chuẩn bị lên đường đi bộ đội chống Mỹ, cứu nước. Hai người ở với nhau được mấy ngày thì anh nhập ngũ. Hơn một năm huấn luyện bên Hà Bắc, Đức được vào Nam chiến đấu. Trên đường đi B, đơn vị anh đã qua bến sông này. Trong lúc chờ đến lượt lên đò, Đức được thủ trưởng cho phép tranh thủ ghé thăm vợ. Muốn dành thời gian để vợ chồng “gặp” nhau, Đức không cho Thảo báo bố mẹ biết.

Không ngờ sau cái lần gặp gỡ chớp nhoáng ấy của hai vợ chồng Thảo đã có thai. Mặc Thảo thanh minh thế nào bố mẹ chồng cũng không tin. Ông bà khẳng định dứt khoát rằng, cô tằng tịu với một thằng nào đấy, rồi đuổi cô ra khỏi nhà.

Thảo về với bố mẹ đẻ. Cắn răng âm thầm chịu đựng búa rìu dư luận. Với cái tội danh chửa hoang, làm ảnh hưởng đến danh dự người phụ nữ “ba đảm đang”, tác động xấu đến tư tưởng người chiến sĩ ngoài mặt trận… Chi bộ đề nghị khai trừ Thảo ra khỏi Đảng, không cho sinh hoạt phụ nữ, dân quân. Đã đến nông nỗi này, Thảo chấp nhận tất cả. Cô nhẫn nhịn bám lấy cuộc sống để nuôi con với hy vọng đến ngày nước nhà thống nhất, Đức trở về cô sẽ được minh oan. Nhưng Đức không về. Anh hy sinh ở trận đánh Xuân Lộc trước cửa ngõ Sài Gòn năm bảy mươi lăm!

Mấy chục năm trời trôi qua, bố mẹ hai bên đều lần lượt qua đời. Cô Thảo ngày xưa giờ đã được người làng gọi là bà. Bà nhưng chưa có cháu, bởi Hiền vẫn chưa chịu lấy vợ…

Nhài cũng không thể ngờ số phận lại đưa cô đến gặp bà Thảo, anh Hiền. Cô đang định chết thì hai người lại cứu sống cô. Sau buổi tối nhảy xuống sông tự tử không thành, biết được hoàn cảnh của Nhài, bà Thảo càng thương Nhài hơn, không những bà không cho Nhài đi mà còn giữ lại, chăm sóc thuốc thang cho cô. Và, dẫu Nhài với bà Thảo đã cố gắng làm tất cả những gì có thể làm hy vọng giữ lấy cái thai trong bụng cô nhưng vẫn không thể làm được! Qua mấy cơn đau bụng dữ dội, Nhài sẩy thai. Người ta bảo “Một lần con sa bằng ba lần con đẻ”. Sức khỏe của Nhài suy sụp hẳn. Da dẻ cô tái mét. Tóc tai, mặt mũi bơ phờ, tiều tụy. Nhài phải nằm bẹp trong khoang thuyền mất mấy ngày liền.

Những lúc nhìn anh Hiền bắt cá nấu cháo, bà Thảo ngồi bón cho mình từng thìa, Nhài cảm động, nước mắt ứa ra. Cô nghẹn ngào nói: “Bà ơi, bà tốt với con quá. Sao bà và anh không để con chết đi?” Bà làm vẻ mặt giận và bảo: “Cô muốn chết lắm hả? Vậy thì để tôi nuôi cho khỏe rồi hãy chết”. Sợ Nhài hiểu lầm điều mình vừa nói, bà Thảo quay lại vỗ về khuyên nhủ: “Tuổi còn trẻ, đời con dài. Tội cái gì mà chết. Sông có khúc người có lúc. Chớ có bi quan. Cái đời tôi đây, tôi không chịu chết thì trên đời này đừng có ai dại dột nghĩ đến cái chết cả”.

Giống cánh đồng lúa qua cơn bão bị dập nát tơi bời, sau đó được hưởng khí trời và mầu mỡ trong đất, đám lúa lại từ từ gượng dậy rồi cứng cáp xanh tốt dập dìu… Qua lần sẩy thai sức khỏe của Nhài hồi phục dần. Cô bắt đầu đi lại được, má đã có màu hồng và ánh mắt long lanh sáng. Hàng ngày Nhài có thể giúp anh Hiền băm cỏ thả cho cá nuôi trong bè ăn, hay giúp bà Thảo vo gạo, thổi cơm. Mới hôm qua Nhài được đi chợ bán cá cùng với bà. Hai bà con vừa về đến thuyền bị anh Hiền quát cho một trận nên thân. Anh bảo: “Mẹ định để cô ấy chết đến lần thứ ba đấy hả? Còn cô nữa? Hai lần chết thử chưa đủ sao? Ai khiến cô đi chợ cơ chứ. Lần sau tôi thấy như vậy nữa thì… “ Anh giơ chiếc vợt cá nhứ nhứ về phía Nhài. Cô cười làm vẻ sợ hãi, ôm lấy bà Thảo buột mồm nói: “Mẹ, anh Hiền đánh con”. Tiếng “mẹ” rất tự nhiên thốt ra từ miệng Nhài làm bà Thảo lặng đi một lúc, còn anh Hiền hình như đâm ra lúng túng hai vành tai đỏ tía lên.

Ngoài 30 tuổi Hiền chưa lấy vợ. Nhài hỏi tại sao anh chỉ trả lời ngắn gọn: “Nhà tôi nghèo”. Còn bà Thảo bảo: “Anh mày là người có chí nhưng chưa làm nên. Tao bảo nó, yêu ai thì cứ lấy. Có vợ có chồng, chả ốm chả đau làm giàu mấy chốc. Mặc tao giục, nó cứ bỏ ngoài tai. Có lẽ vợ chồng là cái duyên cái số. Anh mày chưa đứng số nên chưa gặp”. “Có duyên số thật hả bà?” Nghe Nhài hỏi bà Thảo gật đầu nhìn cô. Qua ánh mắt của bà, Nhài cảm nhận được bà muốn nói điều gì với cô. Liệu cô có ngộ nhận không? Từ hôm được anh Hiền cứu sống, sự có mặt của cô trong khoang thuyền này đã làm thay đổi cuộc sống bình lặng của mẹ con bà Thảo. Có mấy lần Nhài bắt gặp cái nhìn của anh. Anh không nói mà Nhài vẫn nhận ra tất cả. Nhưng Nhài lắc đầu vì tự thấy mình không xứng đáng…

Nhài ngồi dậy soi gương, chải đầu đoạn chui ra khỏi mui thuyền. Cô giơ tay, giơ chân làm mấy động tác thể dục. Một cảm giác khoan khoái, khỏe khoắn xâm chiếm toàn bộ cơ thể Nhài. Cô đang định bê rổ cỏ để ở cuối góc bè đem cho cá ăn thì anh Hiền đã thức dậy từ lúc nào, thấy vậy anh vội can: “Cứ để đấy, Nhài mới ốm dậy đừng làm gì cả” – “Em khỏe rồi. Cũng phải cho em mó máy một tí cho đỡ buồn chân tay chứ anh”. Từ trong khoang thuyền, bà Thảo nói vọng ra: “Nhài nó khỏe thật rồi. Trưa nay anh Hiền làm bữa cơm ăn mừng nhé”. “Vâng! Con xin vâng”. Giọng anh Hiền vui vẻ hẳn lên.

Bữa cơm mừng Nhài bình phục chỉ là cái cớ, cái chính bà Thảo muốn nhân dịp này để mẹ con bà được bày tỏ tình cảm với Nhài. Hiểu ý mẹ, anh Hiền cùng Nhài đi “thị tứ” mua thêm một ít thức ăn, một số gia vị nấu với cá. Gần trưa hai người mới về đến “nhà”. Lại cùng nhau hí húi mổ cá, xào nấu món ăn. Bà Thảo đi cắt cỏ cho cá trên bãi ngô về, cơm canh vừa nấu nướng xong.

Bữa cơm được dọn ra trong gian nhà bè. Cứ tưởng là ăn tươi nhẹ nhàng, giản dị thôi nhưng khi bày lên đĩa lại hóa ra cỗ to. Ngoài hai đĩa cá rán, thịt quay còn có gà luộc, tim cật sào, rau sống và canh đầu cá nấu với khế. Anh Hiền bật nắp lon rót cho mẹ và Nhài mỗi người một cốc cô-ca-cô-la, còn anh uống rượu.

Tiếng là Nhài ở với mẹ con bà Thảo cả tuần nay nhưng đây mới là bữa cơm đầu tiên đủ 3 người cùng ăn một lúc. Vui mà không ai muốn ăn. Trong bát của bà Thảo và Nhài đầy thức ăn do anh Hiền gắp cho.

Dường như không chú ý đến bà Thảo luôn mồm giục “ăn tự nhiên đi con”, Nhài cứ ngồi chống đũa, hai mắt nhìn xuống, ngân ngấn nước. Lúc lâu sau, Nhài rưng rưng nói:

- Bà với anh tốt với con quá. Ơn nghĩa này nữa mai, sống con phải theo tết, chết con theo giỗ.

Anh Hiền nhăn mặt, xua tay:

- Thôi, thôi! Cô đừng nói chuyện ơn huệ. Gặp hoàn cảnh cô ai cũng xử sự như mẹ con tôi thôi. Chuyện nhỏ mà.

 Bà Thảo nói:

- Thế tới đây cháu định thế nào? Ở lại với mẹ con bà hay… ?

- Xin phép bà và anh, có lẽ chiều nay con về quê. Như bà biết, ở quê con còn có mẹ nuôi. Tuy con không muốn xa bà và anh nhưng trước mắt con phải về.

Trước quyết định đột ngột của Nhài, ánh mắt Hiền hơi tối lại. Ngụm rượu trong miệng anh bỗng trở nên đắng ngắt. Hiền chẳng biết nên nói với Nhài ra sao. Mấy ngày qua, được sống gần Nhài, phần nào hiểu được hoàn cảnh của Nhài, quả thật tự trong đáy lòng anh đang nảy nở một tình cảm đặc biệt dành cho người con gái đáng thương và đáng yêu này. Bây giờ Nhài đi, liệu có khi nào gặp lại? Hiền nhìn mẹ như muốn nhờ bà nói giùm hộ tình cảm của mình. Nhưng bà Thảo lại bình thản đến không ngờ:

- Điều đó tùy cháu. Ở đâu cũng phải làm phải ăn. Cứ chịu thương chịu khó thì sống được, miễn là đừng chạy theo những cái mình không có, những cái không phải của mình. Thế cháu định đi như thế nào?

- Cháu ra phố bắt ô tô khách, sau đi xe ôm. Nếu không có gì trục trặc, khoảng bảy, tám giờ tối sẽ về đến nhà.

- Thế thì được. Bà mong cháu gặp may mắn. Khi nào có tin gì vui trở lại bến sông này thăm mẹ con bà, cho bà biết với nhé.

Cơm nước xong, sợ lỡ ô tô bà Thảo giục Hiền lấy xe đạp lai Nhài ra phố. Hai người lặng lẽ đi bộ đến mặt con đê thì dừng lại. Đứng trên mặt con đê cao cao, Nhài mới có dịp phóng tầm mắt nhìn ra tứ phía. Phía sau lưng Nhài là thị xã. Cái thị xã đang phát triển, đang được đô thị hóa với một tốc độ nhanh… thế mà lại không có chỗ đứng cho Nhài. Phải chăng Nhài chọn nhầm chỗ, Nhài chạy theo cái mình không có như bà Thảo nói, nên bị nó nghiền nát quãng đời đẹp đẽ nhất của cô? Giá không gặp anh Hiền, Nhài đâu còn đến ngày hôm nay. Phía trước mặt Nhài, cô chợt nhận ra hai nhánh sông gặp nhau. Nơi hai dòng nước hợp lưu ấy, lòng “nó” phình ra rộng mênh mang. Dưới nắng trưa, nước sáng lên lấp loáng như một tấm gương khổng lồ. Hình như phía dưới hai khúc sông này, là một dòng sông đang êm đềm trôi. Mà đúng thế chứ còn hình như gì nữa. Anh Hiền bảo, nơi mẹ con anh đang nuôi cá bè là ở ngã ba sông còn dưới kia, nước đầy hơn, vạm vỡ, cường tráng hơn. Anh nói thêm, các cụ bảo, đời mỗi con người giống như một dòng sông mà trong hoàn cảnh cụ thể tôi thấy chả giống một tý nào.

Nhài ngước mắt nhìn anh. Linh tính đàn bà mách bảo cho cô biết là Hiền đang xa xôi, bóng gió trách móc cô: Cô đã gặp anh sao còn bỏ đi? Sao không như hai con sông hợp dòng kia? Không? Nhài có bỏ đi đâu. Anh Hiền ơi! Anh không nhận ra sao? Nhài đang trở về với Lùng Mẳng. Và, trở về với anh.

 

 

 

 

 

 

 

CÔ GÁI CÓ NỐT RUỒI SON

 

Cô tên là Li. Tuy sinh ở nông thôn nhưng cô lại được ông trời phú cho dáng người mảnh mai, thon thả và nước da trắng hồng. Trên khuôn mặt trái xoan nhẹ nhõm, xinh xắn của Li lại có cặp mắt đen, đôi lông mày dài và một nốt ruồi. Mà là nốt ruồi có màu đỏ như son, nhỏ bằng hạt tấm, nằm ngay ở ấn đường. Người biết xem tướng bảo, đấy là nốt ruồi chủ phú quý. Số cô sau này giàu có, khá giả, phong lưu. Chẳng biết có phải vì những lý do ấy hay vì ngay từ nhỏ Li đã tỏ ra mình là một cô gái tháo vát, khôn ngoan, lanh lợi nên so với mấy anh em trong nhà, cô được bố mẹ chiều chuộng, ưu ái hơn. Bố thường động viên Li, cố gắng học hành, lớn lên đi làm cán bộ Nhà nước chứ tạng người như Li làm ruộng thế nào được!

Đi học, Li thuộc diện có học lực khá nhưng có lẽ là học tài thi phận nên thi Đại học những hai năm liền mà vẫn trượt. Li buồn. Cả nhà buồn. Bố nói vui, sang năm cho thi lần nữa. Lần này lại không đỗ thì bố cho thi vào trường “một trăm mâm”. Thế có nghĩa là bố mẹ sẽ cho cô lấy chồng.

Giữa cái lúc đang sốt gan, sốt ruột lên vì chuyện học hành thi cử thì có người cùng làng công tác trên thị xã tìm gặp bố mẹ Li. Đó là chú Lê, nghe nói có anh em họ xa với nhà Li, về quê tìm người giúp việc. Biết Li mới thi trượt Đại học, chú muốn nói chuyện với bố mẹ cho cô ra giúp đỡ cô chú một thời gian. Chú nói: Công việc hàng ngày chủ yếu là trông em, ngoài ra, nếu có thời gian thì cơm nước, giặt giũ, lau nhà giúp cô. Thích thi Đại học nữa, cô chú sẽ tạo điều kiện cho ôn tập. Lương người ta trả mỗi tháng ba trăm ngàn, với Li, cô chú trả ba trăm rưỡi, không kể tiền ăn uống, điện nước.

Thương con ở nhà vất vả, công việc cô chú Lê nhờ xem ra chẳng nặng nhọc gì lắm, lại được tiền lương, lại có điều kiện ôn thi… bố mẹ Li đồng ý cho Li đi, nếu cô thích. Gặp riêng Li, thoáng nhìn thấy nốt ruồi son trên ấn đường của Li, chú Lê thảng thốt kêu lên:

- Ôi, cháu có nốt ruồi chủ phú quý đấy Li ạ.

Li hỏi:

- Chú Lê biết xem bói đấy à?

- Không phải là xem bói mà là xem tướng. Chú đang chiêm nghiệm. Số cháu sẽ khá. Thế nào, đồng ý ra phố bế em giúp cô chú chứ Li?

- Nếu ra phố bế em mà khá hơn ở nhà quê thì sao cháu lại không đồng ý cơ ạ!

Nhà chú Lê ở giữa phố. Đây là dãy phố mới được hình thành sau ngày tái lập tỉnh. Cái thị xã bị bỏ quên ngót ba mươi năm nay từ khi được “trả lại tên cho em”, giống như người ngủ mơ bừng tỉnh, nó vươn vai đứng dậy và hối hả đi lên. Là Phó trưởng phòng Quản lý các dự án xây dựng của thị xã, chú Lê bận tít mù suốt ngày với công việc xây dựng cơ sở hạ tầng. Cô ấy cũng vậy. Là cán bộ Phòng Tài chính, cô phải lo tiền nong, dự toán, quyết toán liên miên. Bận là một chuyện. Chuyện khác, cô đang có ý đồ riêng, bởi vậy cô chú ấy mới nuôi “ô sin”, mặc dù hai vợ chồng mới có một thằng cu hai tuổi. Cô bàn với chú về quê tìm lấy một đứa nào đấy, có học một chút, sạch nước cản một chút, có hơi hướng họ mạc càng tốt. May mà Li có đủ mấy tiêu chuẩn cô yêu cầu.

Cô Lê là người có của lại thẳng tính. Cái thẳng thắn của một người giàu có nó thẳng tưng. Chả cần tế nhị, ý tứ, cô kể vanh vách cho Li nghe những chuyện không lấy gì làm hay ho của nhiều người giúp việc ở nhà nọ, nhà kia. Nào là bà A ở nhà ông B, có tính tắt mắt, táy máy; nào là cô C ở nhà bà D hút bớt sữa của em, em quấy khóc liền cho uống thuốc ngủ… Những ngữ người ấy, chủ phát hiện ra đều bị đuổi thẳng. Li ngồi nghe mà nóng hết cả mặt nhưng vẫn lễ phép:

- Thưa cô! Cô không phải xa xôi, bóng gió. Nếu cảm thấy không đủ lòng tin ở cháu thì cô cho cháu về cũng được. Không sao đâu cô ạ.

Cô Lê cười xí xóa:

- Là cô nói chuyện để cháu biết vậy chứ nhìn mặt cháu, cô tin chứ. Cháu cứ làm tốt đi. Gái có công chồng không phụ.

Li tỏ rõ thái độ:

- Cháu không đòi hỏi gì hơn ngoài những điều chú nói với bố mẹ cháu ở quê.

- Thì cứ biết thế!

Nói rồi cô đưa Li đi thăm nhà. Vừa đi cô vừa giao việc cho Li: Hàng ngày phải làm gì, làm như thế nào. Li “vâng, dạ” luôn mồm làm như mọi việc mình đều biết cả rồi. Cô Lê dặn thêm: “Đừng dấu dốt. Không biết thì phải hỏi. Nhà cô cái gì cũng đáng bạc triệu. Làm hỏng, làm vỡ cô trừ lương”. Li lại “vâng, dạ” đoạn vội vã xắn quần, xắn áo, xách nước, lấy chổi lau nhà. Lau hết phòng khách, phòng ăn đến các phòng ngủ, phòng nào cũng đều sạch bong, Li đem bộ ấm chén Nhật cáu bẩn ra bể nước. Loáng cái, Li đã cọ rửa từ cái ấm đến cái tách, cái chén, cái nào cũng trắng xanh. Xếp đặt tất cả ngay ngắn gọn gàng, đâu vào đấy xong, Li bàn với cô Lê:

- Nhà ta chắc hay có khách. Theo cháu, cắm mấy bông hoa vào chỗ này nhìn cho ấm áp cô ạ. Nhà có lọ hoa không cô?

Cô Lê đồng ý ngay còn khen Li có con mắt nghệ thuật nhưng bảo đến mai đưa tiền Li đi mua, thấy cần gì trang trí cho phòng đẹp, sang trọng thì cứ mua. Lúc bấy giờ chú Lê cũng có mặt ở đấy, đợi Li đi ra ngoài, chú nói nhỏ với vợ:

- Con bé xem ra được đấy. Em nên cho nó mấy cái quần áo cũ của em. Anh thấy hình như nó chỉ có hai bộ.

Ngay từ buổi đầu Li ra mắt đã chiếm được tình cảm của cô chú Lê như vậy.

Nghe theo gợi ý của chồng, vài hôm sau cô Lê mở tủ lôi ra mấy bộ quần áo cô may từ thời con gái, đã lỗi mốt, đưa cho Li. Không ngờ Li chỉ cảm ơn chứ không chịu nhận. Cô làm vẻ mặt giận, mắng:

- Gớm, con bé này khái tính, “sĩ” quá nhỉ! Ăn mày còn đòi xôi gấc kia đấy.

Li thanh minh:

- Không phải thế. Tại vì cháu có đi đâu mà cần ăn diện cơ ạ.

- Được rồi. Cứ biết thế.

“Cứ biết thế” là câu nói cửa miệng của cô Lê. Điều gì chưa thật tin, cô đều nói vậy. Không chỉ nói mà cô còn bày ra khối trò để thử thách. Li biết tỏng. Li đâu phải hạng người lèm nhèm. Đi chợ về còn thừa tiền, Li đưa trả cô, nhặt được tiền cô “đánh rơi” trong nhà, Li đưa lại cô. Mua bất cứ thứ gì Li cũng mặc cả từng đồng, từng hào chứ không bao giờ mua ào ào, mua lấy được như cô. Mấy lần đang giờ hành chính, cô phóng xe về, cách nhà năm chục mét, cô tắt máy, lặng lẽ đứng ngoài cửa sổ, bí mật xem Li chăm sóc, ru rín thằng bé ra sao… không thể chê Li vào một điểm nào, nghe chú Lê khen, cô vẫn bảo: “Cứ biết thế”.

Đúng như thỏa thuận, tháng công đầu tiên cô chú Lê đưa cho Li ba trăm năm mươi ngàn đồng. Chú gợi ý, Li nên gửi về cho bố mẹ ở quê một nửa. Li thưa, cháu muốn dùng số tiền này may đo thêm một, hai bộ quần áo mới. Li nói rõ thêm:

- Nhà cô chú đông khách, cháu ăn mặc lôi thôi, lếch thếch lại chả mang tiếng cô chú sao?

Chịu cái lý của Li, chú Lê cười:

- Tùy cháu quyết định. Đấy là tiền, là quyền của cháu.

Nhà cô chú Lê nhiều khách thật. Mỗi khi nhà có khách, Li lại được chú sai pha trà, rót nước, gọt hoa quả, lấy bánh kẹo ra mời khách, sau đó thì lui vào phòng trong. Ngồi ở trong phòng ấy tình cờ Li nghe lỏm được vô khối chuyện của khách với cô chú Lê. Thì ra, dẫu không muốn giữ chức vụ to tát nhưng một người làm tham mưu duyệt đề án, một người đề xuất cấp phát tiền nên cô chú ấy vẫn là những nhân vật quan trọng và có nhiều tiền của lắm. Sao ông trời ăn ở không công bằng? Cùng là người mà sao bố mẹ Li, bản thân Li lại nghèo thế? Li có nốt ruồi chủ phú quý như nhiều người bảo, sao không có tiền? Li tự hỏi và nhiều lúc tủi thân cô vùi mặt trên tấm gối, âm thầm khóc. Khóc chán, Li thấy đầu óc, tinh thần nhẹ nhõm, khoan khoái hẳn ra. Li nghĩ, đi làm “ô sin” không còn cơ hội thi Đại học nữa thì mình phải cố làm tốt phận sự của người giúp việc. Biết đâu khi thằng cu đến tuổi vào nhà trẻ Hoa Hồng, cô chú Lê lại chả xin việc làm gì đấy cho mình, như có lần cô nói, không biết là thật hay đùa.

Vốn là cô gái ngoan ngoãn, sáng việc, càng ở nhà cô chú Lê, Li càng khôn ra. Khôn và ngoan và xinh nữa. Cô chú ấy cũng phải công nhận như vậy. Khoảng một năm sau thì mối quan hệ giữa chủ nhà và người giúp việc hình như không còn nữa. Cô chú Lê coi Li như con cháu trong nhà. Ngày lễ, thứ bảy, chủ nhật đi du lịch, đi píc – níc, đi vãn cảnh thắp hương ở các đền chùa… cô chú ấy đều cho Li đi cùng. Bế thằng cu chỉ là cái cớ, cái chính là cô chú muốn khoe với mọi người mình có cô “ô – sin” vừa xinh, vừa ngoan; mình nhân hậu, mình quý “ô – sin” như con, như cháu. Biết thế nhưng Li không bao giờ lạm dụng để đi quá giới hạn và bổn phận của người giúp việc. Vì vậy, Li càng được cô chú Lê, nhất là cô, yêu quý hơn.

Một lần, Li được cô chú Lê cho đi Sầm Sơn nghỉ mát với cả nhà. Cùng đi có bà An. Bà là khách mời đặc biệt của cô chú ấy. Cô Lê nói qua cho Li biết, bà An là cô giáo dạy cô những năm cô theo học cấp hai. Hiện bà là vợ ông Chủ tịch thị xã này. Lâu nay hai gia đình vẫn quý nhau, đi lại với nhau thân tình còn hơn cả ruột thịt. Buổi sáng, cả nhà ra bãi biển tắm nắng. Nhìn Li mặc bộ quần áo tắm màu đỏ, nằm nghiêng trên bãi cát, mặc cho sóng biển từng đợt, từng đợt trườn qua cái thân hình óng ả, trắng mịn đến nõn nà, không giấu nổi tình cảm của mình, bà An thốt lên:

- Các cụ bảo, nhất dáng nhì da. Cô bé này được cả hai. Anh nào có phúc thì lấy được nó.

Dường như chỉ đợi bà An nói thế, cô Lê sắng bảo:

- Nếu bà trẻ thuận thì lấy cho cậu Thi nhà ta. Vợ chồng con thu xếp thế nào cũng xong.

Bà An buồn rầu:

- Chắc gì nó đồng ý. Cô đã hỏi cho em nó mấy đám rồi nhưng không cô nào chịu nhận lời.

- Những đám nào con không biết, với cháu Li, đồng ý hay không đồng ý là tùy thuộc vào ông bà trẻ với cậu Thi. Li nó ngoan lắm. Bảo đảm với bà trẻ, con bảo cháu nó được ạ.

- Được vậy thì còn gì bằng. Thế Lê giúp đỡ em Thi, với vợ chồng tôi thật nhé.

Thoạt đầu Li cứ tưởng bà An với cô Lê nói chuyện về ai, khi biết hai người đang nói về mình, cô lúng túng ngồi nhỏm dậy, vác phao bơi, xăm xăm lao xuống nước. Mặt Li nóng ran lên. Bỗng nhiên cô nhớ đến anh Tư. Thi trượt Đại học như Li, Tư liền đi rửa xe thuê cho một ông chủ, nhà cách nhà cô chú Lê mấy trăm mét. Đã có mấy lần anh ấy cọ rửa xe, sửa xe cho Li mà không chịu lấy tiền công. Anh còn rủ Li tối nào hai đứa đi ăn chè bưởi, do anh chiêu đãi, nhưng Li chưa dám nhận lời.

Ở Sầm Sơn về, vẻ phấn khởi ra mặt, cô Lê nói với chú:

- Con bé Li lọt vào mắt bà An rồi. Theo em, đã đến lúc dùng Li vào việc khác. Đây là cơ hội tốt nhất cho anh trước khi đặt vấn đề với ông An đưa anh lên ngồi ghế trưởng phòng – thấy chồng ngồi im, cô Lê nói thêm – thời buổi bây giờ mọi người đều thiên về quan hệ. Mình không có mối quan hệ thân thiết như gia đình với lãnh đạo cấp trên thì cháo chưa chắc có mà húp nói gì đến thăng quan tiến chức.

Chú Lê bảo, dùng Li vào “việc” ấy chú có hai điều băn khoăn. Một là, lương tâm cắn dứt. Mình sức tài vai rộng thế này sao phải lợi dụng một con “ô- sin” mới có chức, có quyền? Hai là, chắc gì cái Li đồng ý. Thằng Thi con ông Chủ tịch thị xã chứ có là con ông Chủ tịch tỉnh, Chủ tịch nước khi biết anh chồng tương lai của mình thế nó cũng đấm thèm vào…

- “Thèm” vào chứ có ai “thèm” ra đâu – cô Lê nhại lại, rồi quả quyết: Em nói nghiêm túc đấy. Việc con Li đồng ý hay không anh để em lo, miễn là anh không được bàn ra. Còn chuyện lương tâm – Cô bĩu môi – Lúc này mà anh còn nói chuyện lương tâm thì lạ thật. Anh là người của thế kỷ mười chín sót lại hay sao thế? Em nuôi nó là có mục đích của em. Anh đừng có phá thối.

Bị vợ dồn cho một chập, chú Lê ngồi ngây mặt, cười méo mó:

- Tùy em. Mà này, cái Li lấy chồng, tìm đâu được con “ô – sin” như nó?

- Tiền tìm. Có tiền mua tiên cũng được. Anh quên rồi sao?

Cơm nước buổi tối xong, thu dọn bát đũa, bếp núc xong, Li tranh thủ ra bãi rửa xe biếu anh Tư mấy con mực khô gọi là quà đi biển về, vừa bước vào nhà thì cô Lê gọi ra phòng khách uống nước. Cô bảo, tối nay cô có chuyện quan trọng muốn nói với Li. Tưởng chuyện gì hóa ra cô gợi ý Li lấy chồng. Li bật cười vô tư:

- Lấy ai hả cô? Cháu nghèo rớt mùng tơi thế này thì ai người ta thèm lấy cơ ạ?

- Cháu nhớ bà An hôm đi Sầm Sơn không? Cháu sẽ về làm dâu bà ấy.

- Ôi thôi! Cô cứ nói đùa cháu! Cháu lấy con trai ông Chủ tịch thị xã thế nào được kia ạ? Cô đừng đùa vậy làm cháu tủi thân. Cháu biết mình ở đâu chứ cô!

- Cháu đang ở nhà cô. Cô không đùa đâu. Chuyện hạnh phúc trăm năm của cháu sao cô lại dám nói đùa. Chỉ có điều là…

Sau giấy lát đắn đo, cô Lê nói toạc ra rằng, chỉ có điều, anh con trai ông Chủ tịch là một người tàn tật. Do đua xe máy cậu ta bị tai nạn, phải tháo mất cả hai khớp đùi. Hai, ba năm nay phải đi lại bằng xe lăn nhưng Thi vẫn khỏe mạnh, điển trai lắm… Cô nói tiếp:

- Cô tính rồi, cháu lấy Thi thì chả khác gì chuột sa chĩnh gạo. Không chỉ cháu được ăn sung mặc sướng rồi bố mẹ, anh em của cháu ở quê cũng được nhờ.

Ngồi nghe cô Lê thẽ thọt, nhỏ to Li không nói gì, chỉ thút thít khóc. Không ngờ số phận lại đưa đẩy Li đến bến bờ này! Nếu lấy Thi, một chàng trai Li chưa biết mặt, lại tật nguyền nhưng là con nhà có chức, có quyền có thể Li sẽ được đổi đời, được sung sướng như cô Lê nói. Nhưng lấy Thi chắc chắn Li bị mang tiếng là con bé ham giàu, tham vàng bỏ ngãi, cho dù Li chưa hứa hẹn với anh Tư. Mà chắc gì bố mẹ Li ở quê đồng ý?

Lòng dạ Li đang rối bời như mớ bòng bong thì dường như đọc được hết ý nghĩ của Li, cô Lê vừa vỗ về an ủi, vừa phân tích, bênh vực cho Li:

- Đừng ngại gì cả cháu ạ. Trước khi đồng ý cho ông bà An có lễ ăn hỏi, cô sẽ “thông tin” đến mọi người biết, hai đứa chúng mày yêu nhau từ ngày Thi chưa bị tai nạn. Như vậy về vật chất, cháu được hưởng nhé; về tinh thần, cháu được tiếng thơm, là cô gái có thủy, có chung nhé. Còn không lấy Thi, cháu định làm gì? Bằng cấp không, tiền xin việc không. Thế cháu định đi làm người ở suốt đời sao? Mà cô nghe chú bảo, cái nốt ruồi son trên trán cháu đây là nốt ruồi chủ phú quý… Thế thì đúng là đến lúc cháu làm bà chủ rồi. Nhà ông bà An giàu có lắm cháu ạ. Mấy miếng đất mặt đường A này, ngoài hai ba cơ ngơi còn có trang trại này, có tiền gửi ngân hàng nước ngoài này. Số cháu phải về đấy mà làm bà chủ chứ. Ông bà ấy có mỗi một quý tử là cậu Thi thôi.

Lúc lâu sau, Li ngẩng đầu, mặt đẫm nước mắt ngước nhìn cô Lê như nhìn một ân nhân:

- Xin cô cho cháu về quê hỏi ý kiến bố mẹ cháu đã. Có sao cháu sẽ lên thưa lại với cô chú sau.

 

 

 

 

*

*       *

 

 

Được bố mẹ Li trả lời lưỡng mang “tùy Li quyết định” và nhất là được cô chú Lê vun vén, xếp đặt, đám cưới của Li được tổ chức thật linh đình. Hôm rước dâu, Li mặc váy cưới màu trắng nhìn xinh đẹp, thướt tha như công chúa bước lên xe hoa giữa bao tiếng khen trầm trồ, nức nở của hội hôn. Dân phố ai cũng công nhận: “Con dâu ông Chủ tịch xinh nhất thị xã”. Nhưng không phải không có người đàm tiếu, đại loại: “Con bé xinh đẹp, nết na thế kia lấy đâu không được anh chồng tử tế lại đâm đầu lấy thằng tàn tật?” – “Ôi chao, nó lấy chức, lấy quyền, lấy tiền của ông Chủ tịch chứ nó lấy gì con ông”, “Có chồng càng dễ chơi ngang. Đẻ ra con thiếp, con chàng, con ai? Chồng nó thế tha hồ mà đi “cải thiện” nhá”.

Dư luận xôn xao, ồn ào như sóng cồn lên một dạo rồi mọi chuyện lại dịu xuống, lùi dần vào quá khứ. Giờ đây, Li đường đường là con dâu ông Chủ tịch thị xã. Li đã và đang có bao nhiêu lo toan, tính toán cho hiện tại và tương lai. Đó là, sau ngày cưới không lâu, công việc đầu tiên là Li và vợ chồng cô chú Lê cùng bà An đề xuất, tham mưu với ông Chủ tịch Thị xã làm việc và tổ chức bố trí sắp xếp đưa chú Lê lên làm Trưởng phòng Quản lý các dự án xây dựng thị xã; đưa vợ Lê lên làm phó Trưởng phòng Tài chính thị. Đương nhiên việc đề bạt, bổ nhiệm này không mấy dễ dàng nhưng bằng cái tài chèo lái và quyền lực trong tay, cuối cùng họ đã đạt được mục đích đề ra. Tiếp theo đó, thể theo nguyện vọng của con dâu, ông Chủ tịch đưa Li vào biên chế, làm cán bộ Văn phòng Ủy ban thị. Cũng lại chiều theo ý muốn của Li, ông tuyển dụng cậu Tư, nghe bảo là bạn cùng quê với Li như Li nói, vào làm nhân viên bảo vệ Ủy ban thị. Lại nữa, mấy đứa em Li, được ông giới thiệu vào làm hợp đồng ở các công ty trách nhiệm hữu hạn, thu nhập cao mà không mất một xu gọi là tiền chạy việc. Còn bố Li, ông An nói vui rằng, nhờ ông thông gia đi trông nom hộ cái trang ấp trong Trại Sơn. Ông bảo: “Mỗi tháng gửi ông vãi sáu trăm ngàn uống rượu và để mắt tới mấy con lợn thả, mấy chục gà mò để thứ bảy, chủ nhật anh em, con cháu kéo nhau vào cải thiện, thư giãn cho vui”… Vậy là bắn một mũi tên trúng những mấy đích. Cô chú Lê vì mục đích mình đề ra đạt được, vui đã đành; Li và cả nhà Li cũng vui. Không vui sao được vì những gì đã đến với gia đình cô trong thời gian vừa qua, quả là có nằm mơ cũng không thấy. Hôm gặp Li ngồi trong phòng lạnh của Ủy ban thị, cô Lê cười rất tươi nói với Li:

- Li thấy cô chú nói đúng không?

Li tỏ vẻ ngơ ngác:

- Đúng cái gì kia ạ?

- Lại còn hỏi cái gì? Cái nốt ruồi son của cháu kia kìa.

Ôi, cái nốt ruồi son! Chả có lẽ cái nốt ruồi này lại đem đến cho Li nhiều quyền lực, nhiều niềm vui đến thế sao? Dẫu chỉ là nhân viên nhưng biết Li là con dâu ông Chủ tịch thị nên hầu như ai cũng nể trọng, nhất là những khi họ có công chuyện gì đó muốn thông qua Li, báo cáo lại với ông, mong ông tạo điều kiện giúp đỡ. Ý thức được điều này, Li cảm nhận thấy mình là nhân vật quan trọng hẳn lên. Niềm kiêu hãnh xóa dần đi trong Li những mặc cảm hèn mọn. Cô càng tự tin hơn trong đời sống thường nhật, đặc biệt là mỗi khi giao tiếp với khách của bố mẹ chồng.

Nhà ông Chủ tịch lắm khách thật kia. Nếu nhà cô chú Lê đông một thì nhà ông phải gấp mười. Đủ các loại khách, từ thường dân đến trưởng, phó các ban ngành thị nhưng xuất hiện nhiều nhất vẫn là giám đốc các công ty trách nhiệm hữu hạn có, Nhà nước có, liên doanh có… Mỗi lần nhà có khách, ông bà An lại gọi Li ra tiếp. Li biết, bố mẹ chồng làm thế vừa là dịp để cô có dịp giao tiếp với khách, vừa ngầm giới thiệu với người ta: Nhà tôi có phúc (chứ không vô phúc như thiên hạ rủa) nên dù con trai bị tàn tật vẫn lấy được vợ đẹp người, đẹp nết. Nhìn dáng người óng ả, thon thả với đôi mắt sáng long lanh, cặp má phớt hồng và đôi môi đỏ chúm chím cười duyên của Li, không ít người buột mồm khen: “Ông bà có cô con dâu xinh xắn, phúc hậu quá”… Ngồi nói dăm ba câu chuyện cho phải phép xã giao, ông An cáo lỗi mệt hoặc bận việc rồi đi vào phòng trong, việc tiếp khách ông giao lại tất cả cho vợ con. Đấy là cái cách ứng xử tế nhị của ông mà sau này Li mới nhận thức ra: Ông không muốn có mặt khi khách đưa quà biếu bằng phong bì. Bởi vậy, mỗi khi nhận quà của ai đó, Li đều nhã nhặn nói: “Cháu cám ơn. Xin chú (cô) yên tâm. Cháu sẽ thưa lại đầy đủ với bố cháu ạ”.

Cứ thế, vị thế của Li ở trong nhà ông Chủ tịch thị xem ra ngày càng được nâng cao. Điều đó khiến cô càng tin vào nốt ruồi son trên ấn đường của mình đã đem lại cho mình quá nhiều may mắn. Đây là số phận chứ đâu phải chuyện duy tâm như chú Lê có lần nói. Giá như Thi, chồng cô, đừng tàn tật thì chuyện đời Li quá ư hoàn hảo. Nhưng Thi lại như vậy. Cái anh chàng bị cụt mất hai chân, mất cả… chỉ có thể vày vò Li, kích thích sự ham muốn của Li chứ không còn khả năng đem lại cho Li thỏa mãn về xác thịt, nói gì đến có con! Những lúc nằm bên chồng, Li lại nhớ đến Tư. Đã có mấy lần Tư thổ lộ tình cảm với Li, ôm ghì lấy Li và đòi hôn cô ngay trong Văn phòng Ủy ban. Li từ chối mặc dù trong lòng dấy lên bao khát vọng thèm muốn. Chao ôi, từ ngày lấy chồng, chung đụng với chồng, Li mới thấu hiểu thế nào là “đồng sàng dị mộng”. Muốn thoát ra khỏi cái bi kịch này để được như con chim sổ lồng, Li bàn với chồng xin phép bố mẹ ra ở riêng với cái lý tập ăn, tập lo. Không hiểu sao, Thi không đồng ý. Mà ông bà An cũng không cho phép.

Giữa cái lúc chẳng còn hy vọng gì để được tự do đi lại thì, đùng một cái, ông bà An giục vợ chồng Li ra ăn riêng, dĩ nhiên càng sớm càng tốt. Ông An giải thích, sắp tới theo quy định của trên, ông thuộc diện phải kê khai tài sản. Không tách khẩu, ông sẽ không giải trình nổi về tài sản của gia đình đang thuộc quyền sở hữu của ông. Thế là vợ chồng Li có hẳn một ngôi nhà ba tầng với đầy đủ trang thiết bị nội, ngoại thất loại “xịn”, tọa lạc bên vườn hoa thị xã. Một lần nữa số phận lại mỉm cười với Li. Cô vừa được tự do lo liệu, vừa được ông bà An coi như một “quý nhân phù trợ”.

Ở riêng, Li thuê ngay một bà già ngót sáu mươi tuổi đến giúp việc và trông nom, chăm sóc chồng. Có “ô – sin”, Li rảnh tay lo giải quyết một loạt các công việc khác nhau: Vào Trại Sơn thăm bố. Cô thông báo cho bố biết, trang ấp này tương lai sẽ là của cô. Vì vậy đề nghị bố đầu tư chất xám, lo làm kinh tế trang trại giúp cô, rồi đến các Công ty có anh em đang làm hợp đồng xin chuyển sang các cơ quan Nhà nước, nếu không thì vào làm với các liên doanh nước ngoài; gặp Tư, Li động viên khích lệ anh phải xin đi học hàm thụ Đại học tại chức. Thiếu tiền, cô tài trợ thêm… Miệng nói, tay làm. Li đề ra, Li tổ chức thực hiện. Vào “cửa” nào Li cũng lấy chức sắc của bố chồng ra bóng gió đe dọa. Dọa không xong, Li lấy phong bì ra thỏa thuận với người ta. Với cách thức ấy, mọi việc Li định làm đều xong. Mà xong một cách suôn sẻ và chóng vánh. Cứ tưởng như có bàn tay của tạo hóa xếp đặt!

Được đà, khát vọng làm giàu và ham mê quyền lực càng bùng cháy lên trong Li. Sau khi tham mưu và được bố chồng khen làm thế là thông minh, Li tìm mọi cách tế nhị “thông tin” cho thiên hạ biết, cô được ông An ủy quyền việc tiếp khách tại nhà riêng. Được tin, người ta đến với vợ chông Li mỗi ngày một đông. Vì ai cũng nghĩ, Li làm “môi giới” cho ông Chủ tịch là khép kín một quy trình “làm ăn” của ông, vừa kín đáo, vừa hiệu quả. Nhờ thế, ông bà An và vợ chồng Li tha hồ thu hái lộc. Tạo chữ “tín” cho con dâu, hầu như ông An chưa từ chối giải quyết một trường hợp nào do Li báo cáo, trừ vụ việc của vợ chồng Lê mới đây. Bởi ông biết, lợi dụng sự thân quen với vợ con ông, tay Lê đã qua mắt ông nhiều chuyện, lâu nay lại không thấy “hương bái” gì, bây giờ “sắp chết đến nơi” hắn ta mới cầu cứu đến ông, ông phải cho nó một bài học. Ông An bắn tin qua con dâu nhằm rung cây dọa khỉ: “Việc này đã ngoài tầm tay của tôi. Có thể các cơ quan chức năng họ sẽ chuyển lên thanh tra tỉnh xem xét”.

Nhận điện Li báo: “Việc cô chú nhờ, bố cháu bảo không can thiệp được”, vợ chồng Lê tái mặt, tức tốc phóng ngay đến nhà Li. Từ ngày Li lấy chồng, mối quan hệ giữa cô chú Lê với Li hoàn toàn bình đẳng. Lúc này họ đối xử như những người ăn ở biết “luật” và biết điều với nhau. Vì thế, đặt gói quà xuống trước mặt Li, cô Lê rưng rưng nói:

- Một lần nữa cô chú nhờ Li báo cáo lại với ông cụ, mong cụ nói với thanh tra một câu, cháu mà không giúp, cho khéo chú Lê phải đi tù mất.

Đẩy gói quà mà Li biết chắc trong đó có phong bì, ba ngàn đô sang một bên, Li nhăn nhó:

- Khổ quá! Việc của cô chú cháu đã thưa với bố cháu hai, ba lần rồi nhưng ông cụ cứ bảo hồ sơ người ta đã đưa lên thanh tra tỉnh. Bỗng Li thở dài, trách móc - Mà chú tham quá cơ. Có rút ruột công trình thì rút in ít thôi, đằng này chú rút nhiều thế thì bố ai mà cứu được.

Chú Lê làm ra vẻ thân tình và cười méo mó:

- Li giúp được. Cái nốt ruồi chủ phú quý của cháu giúp được, nếu cháu không từ chối.

Cô Lê khẩn cầu thêm:

- Giúp cô chú đi Li. Qua khỏi cái hạn này, cô chú không bao giờ quên ơn cháu đâu.

Thấy cô chú Lê nằn nì lại có quà cáp tử tế, Li đút gói quà vào tủ rồi nói:

- Thôi được rồi! Nể cô chú quá, cháu gọi điện xin ý kiến bố cháu. Ông cụ đồng ý, cô chú sang bên ấy trình bày trực tiếp nhé.

- Li có đi cùng cô chú được không?

- Rất tiếc là không. Cháu rất bận. Tối nay cháu có hẹn.

Nói đoạn, Li lấy chiếc máy điện thoại di động Nokia loại đắt tiền trong túi ra, với động tác thành thạo, vừa bấm bấm máy, vừa đi ra ban công, vừa a-lô… Lát sau, Li trở vào bảo và giục rối rít:

- Ông cụ đang có nhà. Cụ đang rỗi. Cô chú sang ngay đi kẻo mất mất cơ hội.

Cô chú Lê vừa phóng xe đi khuất sau rặng cây ô-rô phía ngoài cổng thì, đúng giờ hẹn, Tư đến. Đây là lần thứ ba Tư đến nhà theo lời hẹn của Li. Anh chàng rửa xe thuê nay đang theo học tại chức Trường Đại học Kinh tế quốc dân nhìn cao to, đẹp trai lồng lộng. Vừa bước chân vào căn phòng sang trọng và mát lẹm, nhìn trước nhìn sau không thấy ai, Tư ôm ngay lấy Li. Hai cặp môi lập tức gắn vào nhau chặt đến nghẹt thở. Đá quá quen với cái tính vội vàng, tham lam của Tư nhưng lần này Li chưa chiều vội. Đẩy Tư ra, cô hỏi:

- Ơ kìa! Anh không biết sợ sao? Chồng em và người giúp việc đang ở trên tầng ba ấy.

Tư nói:

- Kệ! Em là con dâu ông Chủ tịch thì việc gì anh phải sợ. Vả lại, có biết chuyện của chúng mình, ông bà ấy cũng không dám nói với ai đâu mà em lo.

Dứt lời, anh ta sấn tới ghì riết lấy tấm thân nõn nà, chắc nịch và nóng rực của Li. Li hổn hển:

- Đóng cửa vào đã anh.

Tư như bừng tỉnh. Buông Li ra, anh ta hấp tấp làm theo việc Li nhắc. Đúng lúc ấy tiếng nhạc từ chiếc Nokia rung lên. Li cầm máy nghe và trả lời:

- Thưa mẹ! Con đang bận tắm cho nhà con ạ. Việc cô chú Lê con nhờ bố nhận lời chạy giúp rồi phải không ạ? Thế thì may cho cô chú ấy quá. Phong bì của cô chú Lê gửi, con nhận đủ rồi mẹ ạ. Vâng, vâng! Con cám ơn bố mẹ nhiều. Con chào mẹ.

Quẳng máy điện thoại xuống giường, Li giang cả hay cánh tay trần ngà ngọc của mình ra đón Tư đang nhào tới.


 

 

 

 

 

BẠN CŨ 

Tôi vừa đi làm về đến cổng, đứa cháu nội của tôi đang chơi ở ngoài sân vội chạy phóng ra, khoe: “Ông ơi, nhà ta hôm nay có khách”. Tôi chưa kịp hỏi khách là ai thì trước khung cửa sắt đã xuất hiện một người đàn ông. Ông ta khoảng ngoài sáu mươi tuổi, tóc muối tiêu, dáng người nhỏ thó, ăn mặc xoàng xĩnh. Nét mặt khắc khổ nhìn rất quen nhưng tôi chịu không nhớ nổi tên. Tôi “a” lên một tiếng làm ra vẻ mừng rỡ cũng đúng lúc ông ta nói gần như reo: “Chào sếp! Sếp rời công sở muộn thế?” Hai chúng tôi nhào tới bắt tay nhau, đoạn ông ta ôm chầm lấy tôi, vỗ vỗ vào lưng tôi. Vừa làm những động tác hết sức thân mật, suồng sã như thế, ông ta vừa nói to: “Lâu quá anh em mới có dịp gặp nhau. Tối nay xin sếp bữa cơm và có việc nhờ sếp giúp một tay đây”. Tôi ậm ừ vâng dạ cho qua chuyện và cầm tay ông đi vào nhà.

Đã ngồi đối diện với ông trên bộ bàn ghế sa lông nan, rót mời ông chén nước mà tôi vẫn chịu không nhớ ra tên ông, mặc dù nhìn ông rất quen. Tôi lựa lời hỏi:

- Bác mới ở quê lên hả? Chắc nhà ta có ai đi viện?

Tôi phỏng đoán vậy vì nhà tôi ở gần Bệnh viện đa khoa tỉnh, ngoài anh em họ mạc, còn có bà con ở quê, nếu nhà nào có người đi viện họ thường hỏi thăm đến để nếu không mượn cái ấm, cái phích thì cũng xin tắm gội, giặt giũ nhờ, hoặc xin ngoại trú một vài hôm. Cái việc luôn bị người khác gây phiền hà này, lúc đầu vợ con tôi có vẻ khó chịu nhưng lâu dần thành quen. Vả lại, toàn anh em phi nội tắc ngoại, họ có gặp khó khăn mới cần đến sự giúp đỡ của mình. Mình mà từ chối, mà tỏ thái độ lạnh nhạt thì đừng có vác mặt về quê nữa. Về, người ta lấy xẻng xúc dấu chân đổ đi. Với ý thức như vậy cho nên bất luận thân hay sơ, hễ ai là người cùng làng tìm đến, nhờ vả hay không nhờ vả, đều được tôi và vợ con tôi đón tiếp chân tình. Nhưng còn ông khách nhìn rất quen này là ai?

Có lẽ không quan tâm đến điều băn khoăn của tôi, ông khách vẫn vô tư, tự nhiên như người nhà:

- Không! Nhà mình không có ai phải đi viện cả. Mình lên tìm gặp chú là vì việc khác. Một việc nằm trong tầm tay của chú.

Từ gọi tôi là “sếp” như vừa tôn sùng, vừa giễu cợt lại chuyển sang gọi “chú mày” như vừa trịch thượng, vừa thân mật. Sao ông ta nói năng, xưng hô lung tung thế? Thầm hỏi vậy và tôi đã thấy hơi khó chịu. Toan đánh bài ngồi im để tỏ thái độ không hài lòng của mình thì vợ tôi đi chợ về. Đặt cái làn mua thức ăn xuống nền nhà, vợ tôi giới thiệu:

- Bác Năm, chồng cô Dung, trước dạy cùng em ở cấp 2 đấy, anh còn nhớ không?

“Ồ, tưởng ai hóa ra là ông Năm, chồng cô giáo Dung, tôi nhớ ra rồi”. Tôi reo thầm ở trong đầu, còn ông Năm lại nói:

- Cô giáo làm động tác hơi bị thừa rồi. Anh em quên nhau thế nào được, phải không sếp?

Tôi gật đầu, ngượng ngùng công nhận “phải, phải” và thú thật:

- Có điều bác thay đổi nhiều quá nên lúc đầu em cứ ngờ ngợ.

Vợ tôi tay xách làn, miệng bảo:

- Thôi, hai anh em uống nước. Em nấu ù một lúc để ăn cơm kẻo muộn.

Tôi nhắc thêm:

- Kiếm cái gì cho hai anh em nhậu lai rai một chút nhé.

Ông Năm vội xua tay: “Khỏi! Khỏi! Vẽ vời kích rích. Có sẵn rượu ta làm một chén “xếch” cho ấm bụng”.

Tôi mở tủ lấy ra hũ rượu ngâm thuốc bắc, rót đưa ông một ly, tôi một ly. Sau khi chạm ly một cái “cạch”, ông Năm ngửa cổ uống cạn một trăm phần trăm, rồi khà một tiếng. Nhìn cái cách uống rượu ấy của ông tôi bỗng nhớ lại những chuyện hơn mười năm về trước.

Dạo ấy vợ tôi và vợ ông cùng dạy một trường. Chúng tôi chưa ai có nhà riêng. Mỗi cô giáo được nhà trường bố trí cho ở một gian trong khu tập thể. Đấy là tổ ấm và là chỗ đi về của tôi và Năm. Tôi công tác phòng Văn hóa huyện, Năm nghe nói trước là giáo viên sau chuyển sang làm cán bộ ở Sở Văn hóa chuyên về chụp ảnh. Cùng là “dân” văn hóa, hai “nhà” lại sát vách nhau nên thường chủ nhật nào về với vợ con chúng tôi cũng chén chú chén anh với nhau, tuy không cơm gà cá gỡ nhưng là tửu lạc vong bần, chuyện trò với nhau cứ vui như tết. Một thời gian sau, mỗi lần về vẫn thấy anh ở lì ở nhà, hỏi anh sao không đi làm, anh bảo: “Chú mày còn lạ gì. Nhà nước xóa bao cấp. Các cơ quan co bé lại. Từ hai bộ phận chiếu bóng và chụp ảnh, Sở gộp lại thành một “Công ty chiếu chụp”. Anh thuộc diện quân số dôi ra bị người ta cho về một cục. Về thì về chứ tao cần quái gì. Cần câu cơm của anh mày là cái này này”. Anh vỗ bồm bộp vào chiếc máy ảnh đeo lủng lẳng trước ngực.

Vợ tôi cho tôi biết thêm, dạo mới thôi việc ở cơ quan, anh khoác máy ảnh, đạp xe đi lang thang khắp trong làng ngoài xã. Đi đến đâu anh cũng “gạ” người ta chụp ảnh. Ai trả bao nhiêu tiền một kiểu anh đều xong. Ai không trả anh vẫn vui. Ai mời anh một, hai chén rượu trừ vào tiền ảnh, anh cũng không có “ý kiến” gì. Anh ấy sống nghệ sĩ lắm. Ấy là vợ tôi và mọi người bảo thế.

Anh Năm có bốn đứa con, ba trai, một gái, chúng nó đều choai choai kiểu trứng gà trứng vịt. Chị em giáo viên trong trường thì thầm với nhau rằng, thằng con đầu lòng của anh là con của người khác. Số là anh tìm hiểu, yêu rồi cưới cô chị nhưng hôm đón dâu nhà gái lại gả cho anh cô em. Cô này, tức là cô giáo Dung đấy, xinh đẹp hơn chị, duyên dáng hơn chị nhưng lại có chửa với một người đã có vợ, có con… chuyện này không rõ anh Năm có biết không, hay biết mà anh im lặng cho qua? Cái tính nghệ sĩ của anh lạ lắm. Anh chỉ quan tâm đến những chuyện trên trời, dưới biển. Anh sẵn sàng giúp đỡ mọi người công nọ, việc kia và anh luôn lấy thế làm vui. Còn chuyện vợ con, cơm áo, gạo tiền anh cho là chuyện vặt.

Còn nhớ hồi tôi được điều lên tỉnh công tác, trước hôm chia tay, anh Năm ngồi nói chuyện với tôi rất khuya. Ôi chao, có ngồi tâm sự mới biết anh Năm là một người giao thiệp rộng. Các vị quan chức ở tỉnh, từ Giám đốc Sở đến Chủ tịch, Bí thư tỉnh, ai anh cũng biết, ai anh cũng quen. Ông nào anh cũng kể vanh vách về lý lịch, về cá tính của họ. Nghe anh nói tôi đâm ra nể anh quá. Tiếc là sao hiểu anh quá chậm. Giá hiểu anh sớm hơn, biết đâu tôi lại chả nhờ vả anh được một việc gì đấy.

Anh hỏi tôi:

- Chú lên tỉnh là về chỗ thằng Hữu chứ gì – Tôi chưa kịp trả lời, anh lại nói – Thằng này là bạn bè chiến hữu của anh, từng đi vẽ phông cảnh cho đoàn chèo của tỉnh với anh. Nó vô học nhưng được cái tốt bụng. Nó mà không dính chuyện gái gú, chắc phải ngoi lên đến hàng Phó Giám đốc Sở. Gặp nó, chú cho anh hỏi thăm nhá.

Tôi lắc đầu bảo là, tôi không về đoàn văn công mà là làm lính Văn phòng Sở.

- À, thế thì làm lính thằng Quảng rồi. Thằng này là học trò của anh. Tốt nghiệp Đại học nó về làm thư ký cho ông Kiểm, Phó Chủ tịch tỉnh. Bây giờ nó làm Giám đốc Sở. Cha này chẳng có tài cán gì đâu. Nó lên được chẳng qua là sống lâu thì lên lão làng. Được! Hôm nào lên tỉnh, anh vào chơi sẽ bảo nó phải quan tâm đến chú mày.

Tôi lên tỉnh công tác đã được hơn mười năm, nghĩa là tôi xa anh Năm từng ấy năm trời rồi. Thời gian ấy không thấy anh lên tỉnh chơi lần nào, hay là lên mà tôi không gặp? Còn tôi vì mải mê với công việc của một công chức và bươn chải trong cuộc sống đời thường nên chả mấy khi nhớ đến anh, tệ hơn, quên bẵng mất anh. Thế là một lẽ; lẽ khác, anh thay đổi quá nhiều. Trước anh nho nhã, thư sinh, không đẹp giai nhưng ưa nhìn; nay anh cóc cáy, già nua, lại có nét gì như người chán chường và mệt mỏi. Vì vậy phải đợi đến lúc vợ tôi nhắc anh là chồng cô Dung, tôi mới nhận ra anh, âu cũng là điều dễ hiểu…

Hai chúng tôi cụng ly rượu “xếch” đến lần thứ ba thì vợ tôi lễ mễ bưng mâm ra đặt lên bàn, đoạn xoa xoa hai bàn tay vào nhau và có lời:

- Lâu lắm rồi anh em mới có dịp gặp lại nhau. Mời bác uống với nhà em chén rượu nhạt.

Ông Năm cảm ơn rồi nói: “Thế các cháu đâu cả”? Tôi bảo: Hai thằng con trai lớn đều lấy vợ, đều đã có con và đều ở riêng. Còn cô út đang theo học dưới Hà Nội. Thời buổi bây giờ không anh chị nào muốn ở chung với bố mẹ. Cháu gái đây là con đầu của thằng bố cả. Bố mẹ nó cho ở với ông bà, cho ông bà vui.

Ông Năm khen, vợ chồng tôi thế là sướng. Tôi nói, đời biết sướng là sướng, biết đủ là đủ, chứ tham vọng của con người thật là vô cùng, đoạn quay sang hỏi:

- Thế cô giáo với các cháu nhà bác…

Không đợi tôi nói hết câu, ông Năm khề khà, vẻ đầy tự mãn:

- Cô giáo hưu một năm nay rồi. Thằng Long, thằng Li học hết cấp 2 đều ở nhà làm nghề “ba toa”. Hai thằng này đều đã có vợ, có con. Tôi có bốn cháu nội, hai trai, hai gái rồi đấy nhé. Thằng Quy vào làm thuê trong Nam, hắn bảo khi nào đủ tiền mua xe máy mới ra. Còn con Phượng, cháu mới tốt nghiệp trường Lưu trữ - Văn phòng chưa xin được việc làm. Hôm nay lên tỉnh tìm gặp cô chú cũng là vì việc của con Phượng chứ cô chú tính thời gian đâu mà đi chơi.

À, hóa ra một việc nằm trong tầm tay của tôi như ông Năm bảo là việc xin việc làm cho cháu Phượng”. Ông ấy cứ nghĩ đơn giản vậy chứ chân trưởng phòng phọt phẹt như tôi lo công ăn việc làm cho con cháu lúc này đâu có dễ. Nhưng chả lẽ chối toẹt ngay. Làm thế nếu không thông cảm ông Năm sẽ nghĩ về mình là người như thế nào? Tôi thật thà nói:

- Hơn mười năm anh em xa nhau mà bác vẫn nhớ đến vợ chồng em, ăn bữa cơm với vợ chồng em là em cảm động lắm rồi. Còn việc xin việc cho cháu Phượng em xin thưa với bác một thông tin: Lâu nay, người ta vẫn bảo là nhận người vào cơ quan hành chính sự nghiệp, đại thể chỉ có 4 trường hợp: Một là, con cháu của những người có chức, có quyền. Hai là, giải quyết mối quan hệ giữa các sếp với nhau. Ba là, phải có tiền, có nhiều tiền; bốn mới xem xét đến cái tình. Cháu nhà ta học Lưu trữ - Văn phòng, theo em hiểu là làm hành chính, chứ không thuộc sản xuất kinh doanh. Vậy bác xác định mình ở vào trường hợp nào em vừa nói?

Nghe tôi nói tách bạch quá, rành mạch quá, khuôn mặt vốn đã ngắn của ông Năm giờ càng như ngắn tũn lại và nghệt ra! Ông xoay xoay chén rượu trên tay và trầm ngâm một lúc mới trả lời tôi, giọng trầm hẳn xuống:

- Mình chức quyền không. Tiền bạc không. Chỉ có mỗi cái tình. Các cụ nhà mình dạy: Phúc đức tại mẫu, ở hiền gặp lành. Chả lẽ cả đời mình đi theo cách mạng, con mình lại thất nghiệp? Này, thế thằng Hữu, thằng Quảng bây giờ làm gì chú?

Tôi hỏi lại:

- Hữu với Quảng nào bác nhỉ?

- Hai thằng ở văn hóa ấy, chú không nhớ à?

- À, hai ông này một ông đã hưu, một ông bị chuyển sang ngành khác, từ lâu rồi.

Ông chẹp chẹp miệng rồi thở hắt ra:

- Tiếc quá! Giá hai thằng ấy còn đương nhiệm chắc chắn mình được nhờ. Chúng nó sống có tình lắm.

Tôi ậm ờ, gật gù tỏ ý đồng tình với nhận xét chủ quan, trong sáng ấy của ông Năm chứ không nỡ nói cho ông biết, từ khi có kinh tế thị trường hai nhân vật ông vừa nhắc tới ấy đã bị “tha hóa”, có rất nhiều chuyện không lấy gì hay ho về họ. Vả, tôi không thuộc hạng người nói xấu người khác khi người ta vắng mặt, nên tốt nhất là cứ để ông ấy nhớ về bạn bè của ông với ấn tượng tốt đẹp như vậy.

Thấy thức ăn gắp đầy trong bát mà ông Năm hầu như không đụng đũa, vợ tôi giục:

- Hai anh em uống rượu, nhắm thức ăn đi bác.

Ông Năm bảo “Cô cứ cho tôi tự nhiên”, rồi như chợt nhớ ra điều gì đấy, ông hỏi tôi: “Hiện nay anh nào làm Giám đốc Sở giáo dục, chú?”

- Ông Tụ! Bác có biết ông Tụ không?

- Tụ ở Hoàng Hoa chứ gì?

Tôi xác nhận:

- Đúng Tụ ấy đấy! Ông này trước kia là giáo viên cấp hai, sau lên dạy cấp 3, rồi làm Trưởng phòng G

iáo dục. Trước khi điều lên giữ chức Giám đốc Sở là Phó Chủ tịch huyện.

- Thế thì đúng là thằng Tụ dạy cùng tôi ở Hoàng Hoa rồi.

Hai mắt ông Năm sáng ra, vui vẻ hẳn lên. Ông nhấp thêm một ngụm rượu đoạn khề khà kể cho vợ chồng tôi nghe những kỷ niệm của ông với ông Tụ. Cứ theo lời ông Năm kể thì Tụ thuộc thế hệ đàn em của ông. Ít tuổi hơn ông, vào nghề dạy học sau ông, lại được ông dìu dắt, cưu mang như một đứa em. Ông bồi hồi nhớ lại:

- Thời bao cấp cô chú còn lại gì. Những năm ấy mới khó khăn, thiếu thốn làm sao. Mua cái gì đều phải xếp hàng mà nhiều khi đâu có được. Thằng Tụ mới ra trường tem phiếu chưa có, tôi phải cho nó ăn chung hàng tháng trời. Vợ nó sinh con đầu lòng, không đủ sữa cho con bú, thương tình, có cái phiếu đường, phiếu sữa, phiếu thịt nào tôi cho vợ chồng nó tất. Khi vợ chồng nó làm nhà thiếu xi, thiếu vôi tôi lại chạy xin cho nó được mua theo giá cung cấp…

Vui chuyện, cứ thế ông Năm nhắc lại bao nhiêu là kỷ niệm “ngày xưa”. Thì ra ngày xưa ông Năm có một thời “oanh liệt” lắm. Ông là người quảng giao lại tốt bụng, quan hệ với ai cũng không tính toán vụ lợi gì, nhất là đối với vợ chồng Tụ. Đã có một thời tình cảm của họ với nhau “bát cơm xẻ nửa, chăn sui đắp cùng” là vậy, bây giờ nếu ông cần đến sự giúp đỡ, chắc chắn Tụ không nỡ lòng nào từ chối. Nghĩ thế, tôi nói:

- Theo em, bác nên nhờ ông Tụ lo giúp việc cho cháu Phượng. Em biết giáo dục, y tế là hai ngành luôn được ưu tiên về chỉ tiêu biên chế.

- Tôi cũng định thế. Nhưng lâu quá không gặp nhau, lại không biết nhà…

- Thì em đưa bác đi.

Vợ tôi đồng tình:

- Phải đấy, tối nay hai anh em nên đến chơi với ông Tụ. Biết đâu vì tình, vì nghĩa giữa hai ông bố mà con cái được hưởng lộc.

Cơm nước xong, tôi lấy xe lai ông Năm đến nhà ông Tụ.

Nhà ông Tụ ở “phố quan”, nơi mà nhân dân thị xã vẫn mát mẻ, bóng gió gọi là “phố tình nghĩa”. Ở đây toàn là nhà ba, bốn tầng. Nhà nào cũng kín cổng, cao tường, muốn vào được trong nhà phải bấm chuông điện, phải qua 2, 3 lần cổng, cửa. Sau khi bấm chuông đến lần thứ tư, ngoài con chó béc-giê to bằng con bê vừa hộc, vừa nhảy chồm mãi lên phía trong cánh cổng sắt, chúng tôi không thấy có ai ra đón. Ông Năm phán đoán hay là chú nhầm nhà. Tôi tin và trí nhớ của mình nên không cãi lại mà ngửa cổ ngước nhìn lên tầng hai.

Trong quầng sáng của ánh đèn nê-ông hắt ra tôi nhận thấy ông Tụ mặc bộ quần áo pi-gia-ma đang thò cổ ngó xuống. Thoáng cái, ông vội quay ngay vào phòng. Ánh đèn vụt tắt. Lát sau, có người đi ra, tôi đoán đó là người giúp việc. Chị ta khoảng 40 tuổi, dáng người đẫy đà. Không mở khóa cổng, chị ta hỏi:

- Hai bác đến có việc gì?

Ông Năm vồn vã, không giấu nổi vui mừng:

- Tôi là bạn Giám đốc Tụ. Chị cho tôi vào gặp nó một lúc. Bảo nó là có bạn cũ đến chơi thôi, không có việc gì quan trọng đâu.

- Nhưng Giám đốc đi Hà Nội vắng bác ạ.

- Thế à! Thế bao giờ nó về, cô?

- Cháu cũng không được biết.

Ông Năm nhìn tôi, vẻ thất vọng hiện trên nét mặt. Còn tôi, tôi không tiện nói ta, Tụ đang có nhà nhưng ông ta không muốn tiếp khách, nhất là khi nhìn thấy khách đi xe đạp như tôi và ông Năm, nên mới bảo người giúp việc nói rằng mình đi vắng. Có lẽ Tụ biết khách cỡ này đến nhà, nếu không nhờ vả chuyện nọ, việc kia thì chỉ có đơn từ tố giác lằng nhằng.

Dọc đường về nhà, cố giấu đi nỗi buồn đè nặng trong lòng, tôi làm ra vẻ vô tư, bàn với ông Năm sớm mai, hai anh em lại tiếp tục đến.

- Nó đi Hà Nội vắng đã về đâu mà đến?

Cứ để mặc ông Năm tin vào lời nói dối của người giúp việc, như vậy ông sẽ không thấy mình bị xúc phạm, đồng thời lòng tin yêu ở bạn bè của ông sẽ không bị sứt mẻ. Tôi động viên:

- Biết đâu đêm nay ông ấy về. Các sếp bây giờ đi, về cứ như con thoi. Mình cần thì phải trường kỳ mai phục, may ra mới gặp được bác ạ.

Nghĩ không còn cách nào khác, với lại, vì công ăn việc làm của con hối thúc, không thể không nhờ đến bạn bè một thuở… Tôi hiểu vậy, nên ông Năm phải “gồng mình” lên, đồng ý với gợi ý của tôi.

Sốt ruột chờ gặp Tụ một phần, phần nữa, lan man nghĩ ngợi về cái tình người mà tôi trằn trọc cả đêm. Chúng tôi thức dậy trước Đài tiếng nói Việt Nam báo nhạc hiệu và đạp xe đến nhà Giám đốc Tụ đúng lúc kết thúc nhạc tập thể dục buổi sáng. Chợt thấy chúng tôi thấp thoáng phía ngoài cổng sắt, Tụ đang tập dưỡng sinh trong khuôn viên trước cửa liền bỏ vào nhà. Tôi vội vã bấm chuông điện và đứng đợi. Lúc lâu sau chị giúp việc tối hôm qua lại xuất hiện. Chắc nhớ mặt chúng tôi, chị ta nói luôn:

- Giám đốc vẫn chưa về đâu hai bác ạ.

Tôi thấy mặt mình nóng ran lên trước sự nói dối trắng trợn của chị, liền bóc mẽ:

- Ông ấy vừa ở đây, sao chị cứ bảo là Giám đốc không có ở nhà là làm sao nhỉ?

Ông Năm nở nụ cười méo mó, nói khó thêm với chị giúp việc:

- Nhờ cô vào bảo với Giám đốc, tên tôi là Năm, bạn dạy học cùng với ông ấy ở Hoàng Hoa ngày trước, tìm đến chơi, nhờ tí việc.

Đừng chẳng được, chị giúp việc đành quay vào nhà chắc là để xin ý kiến ông chủ. Tôi vội nhắc ông Năm: “Các sếp bận nhiều việc lắm. Gặp, bác nên đặt vấn đề ngay kẻo mất cơ hội”. Với cái vẻ suồng sã, vô tâm vốn có, ông Năm vỗ vai tôi: “Chú yên tâm đi. Gặp, tôi bắt nó phải chiêu đãi anh em mình một bữa lo-lơ-ti-ca-vi-na (Lòng lợn tiết canh Việt Nam) mệt nghỉ.

Ông Năm vừa nói dứt lời, chị giúp việc bình bịch bước đến. Chị mở khóa, mời chúng tôi vào nhà ư? Không phải. Chị đang kiểm tra lại ổ khóa rồi vẫn đứng trong cánh cổng sắt, nói ra:

- Bác ấy bảo, không quen ai là Năm cả. Có việc gì, đến giờ hành chính, hai bác lên Sở, đăng ký qua phòng tiếp dân.

 

 

 


HƯƠNG NGHĨA

 

Hoàng hôn tím  

 

NHÀ XUẤT BẢN QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN, 2008

   

 --------------------------------------------------------- 

 

Tập Truyện ngắn đoạt Giải C,

 Giải thưởng VHNT tỉnh Vĩnh Phúc 5 năm lần thứ III

(2006 - 2010)


 

 

 

 

 

 

NGÕ XƯA  

 

             Tùng đến nhà tôi đường đột, bệ vệ bởi cái bụng có phần quá cỡ nhưng không mất đi vẻ sang trọng.

- Thùy này! Tôi đã nói với các ông các bà cùng ngõ rồi. Sắp tới tôi cho mở rộng cái ngõ này ra, lát một con đường rộng rãi để ô tô có thể phóng thẳng vào nhà tôi, phải bồi thường cho các ông các bà ấy bao nhiêu tiền tôi sẽ lo chu đáo.

- Thế còn? Tôi mở to mắt ngỡ ngàng không phải vì bất ngờ trước quyết định của Tùng.

- Còn nhà Thùy phải không? Thùy chỉ cần cắt cho tôi lẻo đất sát mép giếng kia là được. Tiền nong khỏi lo. Ai chứ Thùy, tôi sẽ trả cao gấp ba lần người khác.

- Không! KhôngTôi gần như thét lên bởi nỗi thấp thỏm trong lòng.

- Tôi muốn hỏi Tùng, mở rộng ngõ ra có nghĩa là cây bằng lăng đầu ngõTôi hồi hộp e dè.

- Chặt, chặt hết, để làm gì cho ám. Người ta đang công nghiệp hóa, hiện đại hóa từ nông thôn đến thành thị. Bây giờ hè phải thông, đường phải thoáng. Nhà cao tầng mọc lên như nấm. Sắp tới nông thôn hóa thành thị, có gì phải lăn tăn.

- Ám ưTôi lắp bắp. Tai tôi ù đi. Trong khoảnh khắc, trước mắt tôi là một thằng Tùng đen nhẻm, cao lêu đêu tay cầm chùm hoa màu tím và tôi - con bé Thùy gầy quắt queo với mái tóc đỏ quạch, ngọn chẻ xác xơ. Còn kia nữa lũ trẻ con xóm tôi lốc nhốc đứa thấp, đứa cao, đứa gầy, đứa béo đang nhảy tâng tâng với cái bài vè đã khiến tôi bao lần phải khóc:

            “Ve vẻ vè ve

            Cái vè nó hát

            Anh Tùng cũng tốt

            Chị Thùy cũng xinh

            Hai bên rập rình

            Gia đình đồng ý

            Đi xin chữ ký

            Ủy ban không cho

            Tùng bèn hét to

            Không cho cũng lấy

Và lúc nào bị lũ trẻ hát vè tôi cũng khóc. Tôi khóc vì tức lũ trẻ chỉ là cái cớ mà khóc để cho Tùng phải dỗ, bởi mỗi lần tôi khóc Tùng lại lăng xăng chạy ra đầu ngõ, nơi có cây bằng lăng phủ đầy hoa rồi hái đền cho tôi một chùm thật đẹp. Cây bằng lăng ấy còn là nơi tôi và Tùng thường thơ thẩn đợi nhau đi học về vì tôi học buổi sáng, Tùng học buổi chiều. Khi tôi mười lăm tuổi và Tùng cũng đã ra dáng một chàng trai không còn gầy nhẳng nhơ như trước. Lũ trẻ con xóm tôi cũng đã lớn, bài vè ngày xưa không được chúng ngân lên nữa. Nhưng một hôm, thoáng thấy bóng tôi với Tùng trước ngõ, chúng đồng thanh hét toáng lên “Anh Tùng yêu chị Thùy! Chị Thùy yêu anh Tùng” rồi hò nhau chạy. Mặt tôi đỏ bừng, trán Tùng lấm tấm mồ hôi. Không nói gì Tùng cầm tay tôi kéo ra phía cây bằng lăng rồi thoăn thoắt trèo lên bẻ cho tôi một nhành hoa rực tím và hỏi :

- Sao Thùy không khóc?

- Để làm gì?

- Để Tùng dỗ

Tôi bảo :

- Lớn rồi ai còn khóc

- Tùng nhớ hồi xưa mỗi lần lũ trẻ hát vè về chúng mình Thùy lúc nào cũng khóc. Bây giờ chúng nó hét toáng lên : Tùng yêu ThùySao ThùyHay là Tùng yêu Thùy nhé. Tùng sẽ thể trước cây bằng lăng này.

Nói rồi Tùng ngẩng lên những tán bằng lăng phủ dầy nói đủ để tôi nghe:

- Tùng yêu Thùy. Lớn lên Tùng sẽ lấy Thùy.

Tôi ngỡ ngàng. Trái tim tuổi mười lăm của tôi đập rộn rã. Cứ thế tôi và Tùng lớn lên bằng những kỉ niệm từ cái ngõ nhỏ thân thương, từ những chùm hoa màu tím tưởng khó có thể phai mờ

Thời gian trôi đi, tôi theo học trường sư phạm. Sau bao năm tình nguyện lên miền núi dạy học, tôi có quyết định về dạy học tại quê nhà, còn Tùng hiện đang làm việc ở một thành phố lớn. Tôi và Tùng rất ít khi gặp nhau bởi giờ đây Tùng đã là con rể của một vị làm chức sắc gì đó to lắm. Nhà Tùng năm tầng ở mặt phố chính, nhìn chung Tùng rất giàu có. Lời thề năm xưa chỉ là trò chơi trẻ con mà tôi chẳng thể nào quên

- Tôi chẳng thiết về quê để làm gì Thùy ạ! Nhưng ngặt một nỗi ông bà già “ đi” rồi, tôi lại là con trưởng. Tôi thì tôi muốn bán quách cái nhà này đi nhưng mấy cụ “ khốt” trong họ lại không chịu. Thật cổ hủ hết mức. Gia với phảTổ với tiênMệt quá đi mất.

Giọng Tùng xoang xoảng kéo tôi về thực tại. Tôi choáng váng trước những gì Tùng nói. Con người ta đổi thay nhanh chóng thật. Mới ngày nào Tùng còn hứa : “ Mai này dù có đi đến đâu Tùng sẽ không bao giờ quên Thùy, quên cái ngõ nhỏ có cây bằng lăng tím đỏ

Từ cái chiếc đài nhà ai chợt vang lên câu hát “Người ơi! Đành quên sao ngõ xưa rắc đầy hoa tím” Tùng cười khẩy, điệu cười đầy khinh bạc:

- Đồ lãng mạn dở hơi. Thời buổi này

Tôi biết Tùng định nói gì. Tùng nói thế mà đúng. Có khối kẻ được quê hương nuôi nấng lớn khôn, học hành thành đạt, có cuộc sống sung túc rồi thì đến gia đình, đến nơi chôn rau cắt rốn còn không muốn nhớ, nói gì đến cái ngõ nhỏ ngày xưa.

Tùng đi rồi lòng tôi trĩu nặng. Ngày mai tôi sẽ phải nói với các em học sinh thân yêu của tôi, những cô bé, cậu bé của cái làng quê nhỏ bé này hiểu được cái điều mà mỗi con người ai sinh ra cũng cần phải hiểu :

         “… Quê hương mỗi người chỉ một, như là chỉ một mẹ thôi

Và :

Quê hương nếu ai không nhớ, sẽ không lớn nổi thành người... ”

Đầu ngõ, cây bằng lăng đang rung lên trong gió. Sắc hoa nhuộm tím cả khoảng trời.

 

 

 

 

 


 

 

 

CUỘC CHIA TAY KHÔNG LỜI

 

Sắp đến sinh nhật lần thứ 25 của mình. Nàng nhắc trong tiềm thức và thật buồn, nỗi buồn sâu thẳm. Trong thâm tâm nàng mong Quảng đừng đến. Nàng thương những bông hoa bẽ bàng trước sự hững hờ của nàng. Biết vậy xong không thể nào khác. Nàng thực sự lo sợ sự có mặt của Quảng sẽ làm cho nàng khó tỉnh táo. Đứng trước Quảng, nàng không tự chủ được mình. Sự hào hoa, vẻ phong nhã của Quảng sẽ lấn át lý trí của nàng. Nàng biết Quảng yêu nàng, yêu đến ngây dại. Còn nàng, nàng yêu Quảng, yêu đến si mê cái vẻ ngoài rất đàn ông của một kẻ vừa giàu có, vừa có sự quyến rũ mạnh mẽ không chỉ riêng đối với nàng. Vóc dáng cao to, khuôn mặt vuông vức, cặp lông mày lưỡi mác, cùng hàng ria con kiến rất đẹp vẫn là nỗi ám ảnh trong trái tim nàng.

Nàng bước đi ven hồ như một người vô thức. Ánh tím hoàng hôn lẫn trong làn sóng làm mặt hồ sẫm lại. Những con sóng vô tình cứ lăn tăn đùa giỡn. Vài cánh lá mỏng manh theo gió rời cành, rơi xuống mặt nước rập rờn trôi xa. Biết bao nhiêu lần nàng dạo bước ở đây bên Quảng. Kỷ niệm lúc đầy, lúc vơi cứ ùa vào tâm trí nàng: Mai Lan! Tiếng reo khẽ làm nàng sực tỉnh: Đức! Nàng mấp máy môi bởi sự gặp gỡ không ngờ. Anh tưởng Lan không còn nhớ anh? Đức vừa nói, vừa nhìn nàng, đôi mắt vẫn ẩn chứa một nỗi buồn. Nàng cười, nụ cười nhỏ nhẹ, rồi trả lời nhanh dù trong thâm tâm nàng biết đó là điều không thật: Quên làm sao được, chỉ sợ anh quên em thôi! Câu nói đùa của nàng vô tình cứa vào nỗi đau trong trái tim Đức. Anh nhìn nàng, đôi mắt không giấu nổi điều sâu kín trong lòng mình: Đức luôn mong ước có một ngày được gặp lại em, mặc dù anh biết… Đức bỏ lửng câu nói:Thì hôm nay anh đã gặp em rồi đấy thôi. Nàng cười, nụ cười đẹp tuyệt vời xua hết vẻ ưu tư còn đọng trên gương mặt: Mình ghé vào trong quán uống nước, nói chuyện một lát được không Lan? Được thôi, lâu lắm rồi mình không gặp nhau, có khi phải ba năm rồi anh nhỉ? Với anh thì khoảng thời gian còn dài hơn thế rất nhiều.

Ngồi đối diện với Đức, nhâm nhi ly nước cam, bây giờ nàng mới ngắm nhìn anh. Quả là Đức chững chạc hơn rất nhiều, xong tính chân thật, mộc mạc vẫn còn nguyên trên dáng vẻ. Uống nước đi Lan, em nghĩ ngợi gì thế? Không. Em có nghĩ  gì đâu. Anh Đức dạo này làm gì, vợ con ra sao? Còn em? Em như thế nào, anh muốn biết? Em vẫn như xưa thôi. Giọng nàng chợt chùng xuống bởi nghĩ đến những điều đang diễn ra. Anh là lính, đóng quân ở tận Hà Giang cơ. Đợt này anh được nghỉ phép. Còn vợ con thì có lẽ anh không có duyên với phụ nữ nên chót  đem lòng yêu mãi một người, nhưng người ta chưa bao giờ nghĩ đến anh. Có lẽ anh phải sống độc thân thôi. Câu trả lời của Đức nghe buồn da diết. Dù doán trước được câu trả lời của anh, xong khi nghe anh nói ra điều ấy vẫn khiến nàng giật mình, vì nàng hiểu rất rõ người con gái mà Đức vừa nhắc tới là ai.

Cuộc gặp gỡ bất ngờ với Đức làm tâm hồn nàng bị xáo trộn. Quãng thời gian nàng dường như quên hẳn, giờ lại được nàng lục tìm… Ba năm trước, Đức là một trong những người con trai đến với nàng. Anh yêu nàng say đắm, nhưng tình yêu đơn phương của anh không được nàng đáp lại. Đức là người có học. Không thuộc diện đẹp trai, nhưng Đức là người mộc mạc, trung thực, tốt tính, sẵn sàng hy sinh vì người khác. Ai cần là giúp liền. Diễn - bạn thân của nàng thấy anh cứ đeo đuổi nàng mãi, nó nói: Mày “cắt băng” ngay đi. Đừng để anh ấy hy vọng vào điều gì cả. Đàn ông như anh ấy lấy làm chồng thì chỉ khổ thôi, bởi suốt ngày chỉ thích “ Ôm rơm rặm bụng”. Không hẳn vì nhận xét của cô bạn thân mà nàng không nhận lời yêu Đức, mà thật ra nàng còn quá nhiều hòai bão mà chưa cảm nhạn được tình yêu là gì. Nàng chưa hề rung động trước một người con trai nào kể cả với Đức. Lần đầu tiên gặp Quảng trong bữa tiệc sinh nhật của một người bạn, nàng đã bị choáng ngợp trước một Quảng sang trọng, đẹp trai, nụ cười luôn thường trực trên môi cùng với những lời nói lịch thiệp. Suốt bữa tiệc, Quảng đến từng bàn nâng cốc chúc tụng. Tới bên nàng, khi hai cái ly cụng vào nhau cũng là lúc tim nàng rung lên bẩn bật khi ánh mắt Quảng thôi miên nhìn mình. Nàng lúng túng, ly rượu tuột khỏi tay rơi xuống đất. Một sự trùng hợp, cả Quảng và nàng cùng cúi xuống, hai vầng trán vô tình chạm vào nhau. Mùi hóa mỹ phẩm loại sang từ phía Quảng cùng lời nói kiểu cách, ngọt ngào: Xin lỗi, có lẽ tại tôi. Không sao đâu, em đừng ngại… khiến nàng run rẩy. Cử chỉ của nàng bỗng nhiên vụng về, ngượng ngập. Cả bữa tiệc hôm ấy nàng ngồi im, tâm hồn xáo động, choáng váng, nụ cười của Quảng luôn thường trực trong tâm trí nàng. Mọi suy tư trên nét mặt nàng được Quảng để ý kỹ lưỡng. Tan bữa tiệc, nàng đứng dậy mà như vừa mơ, vừa tỉnh, mắt dõi tìm ai. Nàng giật bắn người, mặt đỏ hồng khi Quảng đứng ngay phía sau: Tôi có thể cùng em đi dạo được không? Nàng không còn có thể cất lên lời từ chối bởi tiếng sét ái tình đã gõ cửa trái tim. Tình yêu đến với nàng thật chóng vánh như có sự sắp đặt. Làn môi xinh tê dại, đờ đẫn, vừa ngại ngùng, vừa khát khao đón nhận hương vị ngọt ngào của tình yêu mà lần đầu tiên nàng cảm nhận được. Nàng tự hào mỗi khi bước bên Quảng. Sự đam mê cuồng nhiệt, sự giàu có, lịch lãm, khéo chiều chuộng của Quảng khiến nàng kiêu hãnh. Quảng tỏ ra hết mình vì nàng. Được tắm mình trong sự si mê của Quảng, nàng nghĩ, có lẽ mình là người hạnh phúc nhất, nếu như thời gian không vô tình cho nàng chứng kiến sự vô tâm, lạnh lùng đến tàn nhẫn trong con người Quảng. Lần đầu tiên khi hai người cùng nhau đi chợ. Nàng ngơ ngác và quá ngượng ngùng khi thấy Quảng xua đuổi một người xin tật nguyền với lời lẽ khinh bỉ: Tránh xa ra, hôi như cú, làm lấy mà ăn, ai có mà cho. Rồi Quảng quay sang nâng lên, đặt xuống chùm nhãn của một bà già nhà quê, mặc cả năm lần, bảy lượt. Khi trả tiền thì thiếu 500 đồng lẻ. Quảng đứng chờ 15 phút đợi cụ già đi đổi. Không đổi được, Quảng nhặt nhanh mấy quả nhãn bỏ vào bọc nilông. Nàng im lặng bên Quảng, lòng man mác buồn. Nhìn ánh mắt và đôi bàn tay nhăn nheo của cụ già lập cập bó từng chùm nhãn. Nàng ái ngại, tần ngần lấy ví định trả thêm tiền. Tim nàng chợt nhói lên khi Quảng thản nhiên kéo tay nàng, nói với nàng bằng âm điệu nhẹ nhàng mà nghe sao tàn nhẫn: Em lên xe đi. Kệ bà ấy, việc gì đến mình. Thương người như thế chỉ tổ thiệt thòi. Không hiểu sao lúc ấy nàng giận Quảng đến run người. Lần đầu tiên nàng nói với Quảng lời nói đầy trách cứ: Anh vô tâm đến thế ư? Quảng quay lại, vẫn nụ cười sở hữu và cái nhìn đầy âu yếm. Sự bình thản của Quảng làm nàng tê tái: Thời buổi này mình chỉ biết mình thôi, quan tâm đến người khác làm gì cho mệt hả em? Không đáp lại Quảng, song trong sâu thẳm tâm hồn, nàng  cảm  thấy hụt hẫng. Rồi nàng đi đến một quyết định dứt khoát. Rồi từ một ngày, nàng hầu như không đứng vững khi vô tình chứng kiến cảnh Quảng hào hứng dạy cho một lũ trẻ dùng súng cao su săn tìm những con chim đang ríu rít trên cành. Một con chim không may trúng đạn rơi xuống, chới với đôi cánh cố sức bay lên. Quảng gạt mấy đứa trẻ bước đến, nhấc con chim bị thương trên tay, thản nhiên: Chúng mày ngu bỏ mẹ, bẻ gãy cánh nó đi. Dứt câu nói, bàn tay Quảng làm một động tác hết sức nhanh chóng. Nàng tái mặt khi con chim bỗng nhiên rũ xuống, đầu ngoẹo sang một bên. Trái tim nàng đập liên hồi muốn vỡ ra từng mảnh. Cơn giận dữ khiến môi nàng tím lại. Nàng đứng ngây người, mắt mở to nhìn Quảng như nhìn một vật thể lạ. Quảng hốt hoảng trước thái độ của nàng, vội chạy tới: Có việc gì thế em, em làm sao thế? Anh thật độc ác. Nàng hét lên rồi bỏ chạy thật nhanh mặc cho Quảng chạy theo réo gọi.

Ngày hôm sau. Quảng đứng trước sân với bó hồng nhung đỏ thắm. Nàng không hề bước ra khỏi phòng. Kỷ niềm về mối tình đầu tiên cứ chập chờn. Nàng đau đớn trước sự giằng xé của con tim và lý trí. Dáng vẻ bề ngoài của Quảng vẫn làm trái tim nàng thổn thức, nhưng bản chất con người Quảng khiến nàng ghê sợ. Quảng không có lỗi gì với nàng, anh ta yêu và chiều nàng hết mực, nhưng thời gian và năm tháng xuân sắc của nàng phôi phai, cuộc sống thực tế với miếng cơm manh áo khi nàng đã thực sự làm vợ anh ta rồi, thì cuộc đời của nàng sẽ ra sao khi sống với một người đàn ông như thế. Hôm ấy từ sáng đến trưa, bó hồng nhung vẫn buồn bã trên tay Quảng, đến chiều, nó được đặt lặng lẽ trước cửa phòng nàng. Những ngày sau vẫn vậy, những bó hoa, bó héo, bó tươi xếp lần lượt y nguyên chỗ cũ trước cửa căn phòng khép kín…

Sinh nhật. Nàng đứng lặng im, suy tư một lúc rồi mở cửa ra khỏi nhà. Lần đầu tiên nàng tự mừng sinh nhật của mình bằng lời chúc mà chỉ có trái tim và lý trí nàng mới hiểu. Mưa rồi. Tiếng của ai đó thốt lên. Nàng nhấc chân lên phía hành lang, nhìn lại căn nhà của mình, chợt thấy bóng Quảng với bó hoa tươi thắm, nàng vội quay lại, đưa chân bước xuống đường, trời mưa mỗi lúc một nặng hạt: Mai Lan! Em đi đâu mà đi trong mưa vậy? Anh Đức! Nàng mở to mắt ngỡ ngàng. Đức đến bên nàng với bó hoa hồng trên tay: Anh đến chúc mừng sinh nhật em. Quá bất ngờ và xúc động, nàng lắp bắp: Anh vẫn nhớ ngày sinh của em sao? Chưa bao giờ anh quên. Nàng tròn xoe mắt vì nàng đã đoán được người đã ba năm nay vẫn gửi điện hoa đến chúc mừng sinh nhật củả nàng mà không ghi địa chỉ. Nỗi xúc động trào dâng làm nàng nghẹn ngào. Thấy nàng đứng thẫn thờ. Đức cầm tay đưa nàng bước lên hè phố: Em lên đây kẻo mưa, lát nữa anh đưa em về. Em không về đâu. Nàng hốt hoảng. Sao thế? Sinh nhật của em kia mà. Rồi em sẽ nói để anh hiểu lý do. Tạnh mưa mình cùng nhau đi dạo, rồi em sẽ tâm sự với anh nhiều.

Lời nói còn vương vấn nỗi buồn khiến Đức hiểu rằng, anh không cần hỏi thêm gì nữa. Mưa ngớt dần rồi tạnh hẳn. Chân trời phía xa rạng sáng. Những tia nắng vàng bắt đầu rắc lên từng hàng cây bên hè phố.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

TIẾNG GỌI MIỀN SƠN CƯỚC

 

Ngồi im!

Gã lái xe ôm gằn giọng, ghì tay lái. Chiếc xe nhảy chồm chồm rú rít trên con đường cheo leo. Hiền nhắm nghiền mắt, gió quạt vào hai bên tai ù ù. Chiếc xe nghiêng ngả khiến đầu Hiền chếnh choáng. Mở mắt ra, Hiền sa sầm cả mặt. Con đường nhỏ ngoằn ngoèo. Một bên là vực sâu hun hút, một bên là rừng âm u sương mờ đặc. Tiếng ùm ùm vọng từ đâu đó nghe rờn rợn.

- Gì thế anh?

- Đá lở.

Gã xe ôm cộc lốc. Tim Hiền đập thình thịch. Cô nín thở cầu mong cho chóng đến nơi mà cô đang đến.

- Sắp đến nơi rồi.

Gã xe ôm thủng thẳng. Chiếc xe lại gồng mình lắc lư rồi khựng lại ở con đường thoai thoải, phía trước thấp thoáng mấy dãy nhà thọt lỏm giữa núi rừng.

- Đến rồi.

- Cảm ơn anh!

 Hiền lập cập bước xuống xe mà vẫn như người trên mây, trên gió. Thấy Hiền đứng như trời trồng, mặt xám ngoét, mắt vô hồn, gã xe ôm cao giọng:

- Ngơ ngẩn cái gì? Trả tiền đi chứ.

Hiền bừng tỉnh, luống cuống mở túi lấy tiền. Bây giờ cô mới có dịp nhìn kỹ gã lái xe ôm. Hiền rùng mình thầm nhủ: Gã này còn trẻ, nhìn bặm trợn, phong trần vậy mà cả một chặng đường dài âm u đến cô tịch mà anh ta lại không giở trò gì. Chắc anh ta cũng là một người tốt.

- Cảm ơn! Chúc cô nhiều may mắn.

Hiền mỉm cười đón nhận lời nói tử tế nhất của gã xe ôm từ lúc Hiền đánh liều ngồi trên chiếc xe Min khơ to kềnh càng, khật khưỡng leo dốc. Chiếc xe quay đầu, rú ga quẩn theo một làn bụi hình mắt xích. Hiền nhìn theo chiếc xe và con đường dài heo hút phía dưới khẽ lắc đầu.

Hiền mỏi nhừ, hai bắp chân tê cứng sau một buổi sáng thăm lại ngôi trường mà cách đây hai năm cô mới trở lại. Giờ thì Hiền nằm thật yên trên giường lắng nghe tiếng đêm. Đêm của núi rừng đầy những âm thanh hòa trộn. Gió va vào vách núi rít uuTiếng lóc tóc của dòng Nậm Khuổi giữa rừng Bản Phìa nghe như tiếng gõ của hàng ngàn cái bát. Con khỉ nào tách bầy trong đêm kêu những tiếng khẹc akhẹc athảm thiết. Đêm mênh mang, heo hút. Mùa thu ở đây lạnh hơn nhiều Hà Nội của cô. Đêm mùa thu đầu tiên ở nơi này khiến cho Hiền nhớ Hà Nội đến nôn nao. Hà Nội mùa này nồng nàn mùi hoa sữa, rực rỡ ánh điện đêm và xôn xao bầy chim vỗ cánh trên Hồ Tây những chiều gió nhẹ. Một lát nữa thôi, giấc ngủ chập chờn sẽ đưa Hiền về Hà Nội, về với những kỷ niệm bên Phú và cả cái dự định tương lai đầy tươi sáng.

- Ra trường, mình cưới xong em sẽ dạy học giữa trung tâm thành phố. Bố đã dự tính hết cho chúng mình rồi.

Phú đã nói cùng cô bao lần và cũng không biết bao lần Hiền ngả đầu vào ngực Phú tận hưởng sự ngọt ngào của tình yêu và hạnh phúc trước tương lai tốt đẹp. Vậy mà, Hiền đã quyết định một điều như đã sắp sẵn.

- Em điên à?

Phú trừng mắt quát vào mặt Hiền rồi quay gót. Cái quay gót dứt khoát, chấm dứt một cuộc tình năm năm đầy kỷ niệm, bỏ lại Hiền với nỗi đớn đau và cả cái quyết định “điên khùng” mà Hà - cô bạn thân của cô đã có lần phồng mồm, trợn mắt: “Gái thành phố, tương lai đầy hứa hẹn mà mày lại tự “xung phong” lên cái đất “khỉ ho cò gáy”. Ông Phú ông ấy chào lui mày là phải”.

Hiền trở mình, giọt nước mắt lăn xuống. Hiền khóc cho kỷ niệm tình yêu hay ân hận cho sự “dở người” của cô với mảnh đất cô đã đến. Đêm khắc khoải. Trong mênh mang núi rừng, ánh mắt của người con trai xứ sở này trở về bên cô đăm đắm.

- Cô giáo à! Có phải thế không hay miệng cô giáo thì xinh như bông lan rừng mà lại nói điều không thật?

- Không! A Páo tin tôi đi. Tôi nói thật bụng mà!

 

 

*

*     *

   

 

 

Ngày ấy cách đây hai năm Hiền đã xin lên vùng núi thực tập chỉ vì muốn thỏa tính tò mò xem khó khăn vùng dân tộc ra sao. Và rồi cô, đứa con gái mảnh mai người Hà Nội chính gốc đã phải khóc nhè mấy đêm vì nhớ nhà, nhớ người yêu. Rồi thời gian trôi đi, những ánh mắt trong veo của những cô cậu học trò len rừng, lội suối đến lớp và tấm lòng của bà con dân bản khiến cô cảm động. Cô hiểu rằng, đợt thực tập này đã cho cô bao điều bổ ích, rèn luyện cho cô quen dần với những khó khăn, vất vả ở đây. Hiền đã có những kỷ niệm không thể nào quên để cô thêm yêu mảnh đất và con người nơi rừng sâu núi thẳm này.

Một lần cô cùng lũ học trò ra bờ suối, đứa học trò của cô trượt chân ngã, dòng nước sâu lai chảy xiết khiến nó chới với rồi chìm nghỉm. Cô cuống cuồng la hét, hú gọi, chỉ có tiếng rừng âm u vọng lại khiến cô muốn ngất xỉu thì một chàng trai ào xuống. Đứa học trò của cô bình an và cô có thêm một người bạn mới.

Giàng A Páo, chàng trai người dân tộc có nước da ngăm nâu và vồng ngực căng đầy. Sau này cô mới biết A Páo là cán bộ hạt kiểm lâm Na Ngần bên kia dòng sông Nậm Khuổi. Rồi chính A Páo đã gieo vào lòng Hiền tình yêu những cánh rừng, những dòng suối, tiếng khèn tìm bạn tình vọng xa xuống núi cùng với những câu chuyện huyền thoại về tình yêu gắn với từng vạt rừng, từng dáng núi nơi đây. Lòng Hiền nao nao. Cô cảm thấy như mình đã gắn bó từ rất lâu với mảnh đất nơi này.

Sau lần thực tập ấy, Hiền mang theo về xuôi bao nhiêu kỷ niệm của mái trường, tình cảm của đám học trò miền ngược và những lời nói cùng ánh mắt của chàng trai người dân tộc.

- Về xuôi rồi, cô giáo có nhớ rừng không?

- Nhớ nhiều lắm A Páo à!

- Nhớ rồi cô giáo có trở lại nơi này không?

Hiền lặng người trước ánh mắt buồn thăm thẳm và lời nói như khẩn cầu:

- Cô giáo trở lại đây đi. Rừng xanh cần cô giáo lắm đấy! Rồi cô giáo sẽ dạy con em dân bản biết cái chữ, biết ghét cái sai, biết yêu cái đúng. Biết quý mảnh rừng, thương con suối, nhớ tiếng khèn lá, khèn môi, biết đi con đường thẳng, đừng theo bọn người xấu chặt cây, phá rừng. Cô giáo thấy đấy, rừng bị bọn xấu phá hoại nhiều lắm, một mình kiểm lâm không giữ được đâu mà phải có cả bà con dân bản nữa. Nếu không cứ mãi thế này, rừng sẽ chết mất thôi.

Hiền mỉm cười rồi trêu:

- A Páo nói hay quá! Có phải A Páo đang làm công tác tuyên truyền của cán bộ kiểm lâm cho tôi nghe không?

- Ồ không đâu! A Páo là con của đất rừng nên yêu rừng mà nói vậy thôi chứ A Páo biết mà, cán bộ miền xuôi không ai muốn lên đây đâu, nhất là cô giáo người Hà Nội lại xinh như hoa núi thế kia thì rừng nào gọi được cô giáo về.

Giọng A Páo chùng xuống.

- Nhưng tôi sẽ về thì sao?

- Thật không?

Mắt A Páo sáng lên

- Thật đấy! Con gái Hà Nội không nói sai đâu.

Hiền quả quyết.

 

 

*

*     *

   

 

 

Mới đấy mà đã hai năm rồi. Nhớ lại Hiền chợt thấy lòng mình xôn xao một cảm giác rất lạ. Ngày mai cô sẽ một mình băng qua dòng Nậm Khuổi sang trạm kiểm lâm bên kia suối để gặp một người và cô sẽ nói với người ấy rằng:

- A Páo à! Tôi đang đứng trước mặt A Páo đây. A Páo thử đoán xem tôi lên đây vì giữ đúng lời hứa của người con gái Hà Nội hay vì tiếng gọi quá thiết tha của miền sơn cước?

 

 

 

 

 

 

 

 


NGUYỄN THỊ MINH ÁNH

 

Những lá thư màu xanh 

 

NHÀ XUẤT BẢN CÔNG AN NHÂN DÂN, 2006

   

--------------------------------------------------------- 

 

Tập Truyện ngắn đoạt Giải C,

 Giải thưởng VHNT tỉnh Vĩnh Phúc 5 năm lần thứ III

(2006 - 2010)


 

 

 

 

 

CẠM BẪY  


Dì Dung về. Na hớn hở thông báo tin đó cho Ngoan, đứa bạn thân cùng xóm rồi quay xe tong tả đi chợ mua thức ăn. Na mua rất nhiều mà vẫn còn tiền: Thịt, cá, giò, chả, măng… Na đi ngang qua chỗ hàng tạp hóa. Mắt nó bừng sáng khi nhìn thấy chiếc kẹp tóc hình nơ bằng vải màu xanh. Na vẫn ao ước có một cái kẹp nơ như thế. Cả thỏi son màu hồng tươi. Năm đứa con gái trong xóm của Na mới có chung một thỏi son để tô môi mỗi khi đi văn nghệ, hoặc là Tết. Na ngần ngừ mãi. Phiên chợ trước, Na đã hỏi mua nhưng chiếc kẹp đắt quá, tận những bảy ngàn đồng. Cả gánh rau của Na cũng không được nổi bảy ngàn đồng. Lần này thì Na có sẵn tiền ở đây, nhưng là tiền của dì Dung. Na bối rối quá. Nó dừng lại trước sạp hàng, ngắm nghía, đắn đo hồi lâu. Dì Dung đã bảo Na cứ tự do sử dụng số tiền mà dì đưa, nhưng… Dù sao Na thấy mình không nên dùng tiền dì cho đi chợ để mua đồ cho riêng mình Na như thế.

 

 

*

*       *

 

 

  Dì Dung là dì họ của Na. Năm dì sáu tuổi, bà trẻ của Na nhặt được dì khi dì đang nằm còng queo trong một cái lều ở chợ lá. Vì bà chỉ có một mình nên bà mang dì về nuôi. Bà nuôi dì Dung đến năm dì mười bốn tuổi thì một hôm dì bỏ đi đâu không về nhà nữa. Một vài người làng bảo nhìn thấy dì đi theo một người đàn bà lạ cổ đeo đầy vàng. Bà của Na khóc hết nước mắt. Rồi bà ốm lăn lóc. Và chết. Khi tim bà chỉ còn đập rời rạc, từ trong hố mắt khô khốc lăn ra hai giọt nước đặc quánh. Bà nghèn nghẹn trong cổ họng: “Dung ơi, con cũng chê mẹ nghèo mà bỏ đi hả con”. Khổ bà thế. Chồng bà cũng vì nghèo mà bỏ đi theo một người đàn bà nung núc thịt từ trên huyện về làng buôn lợn.

  Bố mẹ Na giận dì Dung ghê gớm. Cả làng giận dì Dung là con người bạc nghĩa cạn tình. Người ta rủa xả dì, cầu cho dì đi tàu chết tàu, đi xe chết xe, đi ngược chết ngược, đi xuôi chết xuôi. Người ta tiên đoán rằng cái thớ người như dì đời sẽ chẳng ra cái gì… Vân vân và vân vân. Rồi người ta cũng dần quên đi vì chẳng thể cứ nói mãi một câu chuyện từ ngày này sang tháng khác.

  Vậy mà đột ngột dì Dung trở về. Khi đi, dì là một con bé nhếch nhác có khuôn mặt cấm cảu và đôi mắt ma mãnh. Bây giờ, dì là người đàn bà sang trọng vui vẻ. Đồ đạc trên người dì thật đẹp. Quần áo, son phấn, đôi giày cao gót mảnh dẻ. Bàn tay trái của dì có bốn chiếc nhẫn vàng lấp lánh ở bốn ngón. Trên cổ là sợi dây chuyền vàng. Và mùi nước hoa thơm nức. Khi dì bước từ trên chiếc xe ôtô màu vàng xuống, Na đang đứng ở cổng bên mẹ và mấy người đàn bà cùng xóm. Không ai nhận ra dì. Tất cả mọi người dán mắt vào người đàn bà sang trọng. Bất ngờ, dì chạy xô tới ôm chầm lấy mẹ Na: “Chị, chị không nhận ra em ư. Em là Dung, Dung con bà Tèo đây”. Rồi dì quay sang những người đàn bà khác vồn vã: “Em chào các chị… Ô! Chị Sen đã có cháu rồi ư, lớn quá rồi nhỉ. Đây, cô có quà cho cháu này”. Dì Dung cúi xuống vuốt ve đứa cháu nhỏ của cô Sen và mở túi xách lấy một gói kẹo đưa cho nó…

  Cả nhà Na ai cũng có quà của dì Dung. Của bố là một bộ cờ tướng bằng gỗ được chạm khắc cầu kì. Những con cờ bóng lộn màu đồng. Dì Dung tài tình thật, còn nhớ cả niềm đam mê của bố. Phần của mẹ là một chiếc quần sa tanh hoa chảy mượt; bọn em Na đứa nào cũng được một bộ quần áo bò mới cóng. Riêng Na được nhiều nhất: Một chiếc áo phông, một chiếc quần bò, một bộ đồ trang điểm có đủ cả son, phấn, chì kẻ mắt và rất nhiều kẹp tóc. Na hoa hết cả mắt trước những món quà dì tặng. Cứ như thể dì Dung đi guốc trong bụng Na hay sao mà tặng toàn những thứ Na ao ước bấy lâu. “Dì biết con có nhiều bạn gái nên dì mua cho con đi tặng bạn. - Dì Dung nhìn Na âu yếm - Ngày bằng tuổi con, dì cũng chỉ ước ao có được một chiếc kẹp tóc thế này”. Trái tim Na đập rộn ràng. Cả một túi nhựa kẹp tóc là của Na. Kẹp hình nơ, hình con bướm, lại có cả kẹp hình hoa làm bằng tóc thật. Đỏ, xanh, tím, vàng, rực rỡ lấp lánh. Na sẽ đem chia cho bọn cái Ngoan, Bưởi, Thơm, Nhung. Mỗi ngày Na sẽ cặp tóc bằng một chiếc kẹp khác nhau. Na sẽ không búi tóc nữa. Mái tóc dài mượt mà của Na càng thêm đẹp. Na nghĩ đến Quân, người yêu của Na, tự nhiên mặt nóng bừng. Chắc hẳn Quân hãnh diện vì Na lắm.

 

 

*

*      *

 

Dì Dung ở quê đến ngày thứ ba thì đi, khi những câu chuyện về sự trở lại của dì chưa thôi xôn xao làng trên xóm dưới. Người ta bảo nhà Na có phước, kiếp trước chắc bố mẹ Na phải tu nhân tích đức nhiều lắm thì kiếp này tự nhiên mới có người dưng đến cho của. Đấy là họ cạnh khoé, bóng gió ganh tị khi thấy bố Na vác về chiếc ti vi màu, là thứ hiếm hoi ở làng. Tiền dì Dung cho cả. Bố mẹ từ chối thế nào cũng không được. Từ chối quá thì dì nói dỗi: “Anh chị coi em là người ngoài ư? Thân em bơ vơ may gặp được mẹ cưu mang, nhưng vì hoàn cảnh mà em phải bất hiếu với mẹ, bây giờ chỉ còn anh chị để em chuộc lỗi. Anh chị nỡ từ chối tấm lòng thành của em sao?”. Bố mẹ Na nghe, rớt nước mắt và đành phải nhận tiền của dì.

Dì Dung nắm tay mẹ bịn rịn rồi chui vào trong chiếc xe màu vàng. Trước khi giục người tài xế nổ máy, dì hướng đôi mắt âu yếm về phía Na: “Cháu gái dì ngoan, rồi dì kiếm cho công việc nhàn hạ trên phố để thoát khỏi cảnh nghèo con ạ. Xinh đẹp như con ở đây phí đi”. Chiếc xe lao vút đi, để lại phía sau làn bụi đỏ mờ mịt và hai gò má Na ửng hồng.

 

 

*

*       *

 

Cả nhà đã tắt điện đi ngủ. Na nằm yên lặng nhưng tai giỏng lên nghe bố mẹ nói chuyện về dì Dung ở nhà ngoài. Mẹ chép miệng:

 - Rõ thật đời con người ta có số. Ai mà ngờ được. Chỉ tiếc bà Tèo chẳng còn sống mà nhìn thấy con Dung bây giờ.

Tiếng bố Na:

 - Bà đã giận con bé lắm. Cứ tưởng nó là đứa bạc bẽo, không ngờ con bé có chí.

- À, bố nó này - Tiếng mẹ Na - Dì ấy bảo định mở một cửa hàng ở thủ đô nên muốn xin con Na nhà mình lên trông hàng cho dì. Dì cứ tấm tắc khen con Na ngoan, xinh gái, nhanh nhẹn, bán hàng thì rất có duyên.

- …

- Hay là nhà mình cho con Na lên bán hàng với dì hả ông?

- Cái bà này, đi làm sao được. Thủ đô xa xôi thế. Với lại nhà người ta đã định cuối năm nay cưới.

- Ôi dào, cưới với xin, cái thằng Quân ấy à. Tôi là tôi không ưa cái ngữ ấy.

- Bà bảo sao, không ưa là không ưa thế nào. Bố nó là bạn của tôi. Nhà nó cũng có bát ăn bát để. Nó thì khoẻ mạnh, ngoan ngoãn, bà còn định không ưa cái gì?

- Bát ăn bát để - Mẹ Na dài giọng - Có khá thì cả đời cũng chẳng thoát khỏi cái lò gạch, chân lấm tay bùn. Mà con Na nhà mình xinh gái trắng trẻo thế… Dì Dung cam đoan với tôi, dì ấy sẽ chọn cho con bé một đám khá ở phố.

- Bà đừng có mà tham vàng bỏ ngãi.

- Vâng, tôi đàn bà bụng dạ hẹp hòi. Còn ông cứ quảng đại cho con gái ông suốt đời bán mặt cho đất, bán lưng cho giời, kiếp này kiếp khác không ngóc đầu lên được. Cứ quảng đại mãi đi, để rồi phải ngửa tay cầm tiền của một đứa con hoang…

- Bà im đi… Con Na ở nhà, không đi đâu cả.

Bố Na gầm lên giận dữ. Thằng Nam đang ngủ bên cạnh Na giật mình choàng dậy. Na cũng giật thót, cô kéo vội em nằm xuống: “Ngoan nào, ngủ ngoan nào”. Trái tim Na đập thình thịch. Cô ôm chặt thằng Nam vào lòng trong mớ ý nghĩ lộn xộn. Thật vậy ư, dì Dung muốn Na ra thủ đô bán hàng à. Thủ đô lộng lẫy và nhộn nhịp. Một lần Na đã được ra thủ đô cùng đoàn thanh niên của xã. Lần ấy đoàn đi thăm lăng Bác Hồ, đến vườn bách thú và cả hồ Hoàn Kiếm. Toàn người là người. Họ ăn mặc đều sang trọng đẹp đẽ như dì Dung. Những cửa hàng ngồn ngộn quần áo, son phấn, vòng vàng… và rất nhiều thứ lạ mắt hấp dẫn. Na đi lần đó rồi nhớ mãi hình ảnh về thủ đô như một thế giới thần tiên xa lạ. Cô chưa bao giờ dám có ý nghĩ mình sẽ được hoà nhập vào thế giới ấy. Vậy mà dì Dung bảo… Bán hàng ở thủ đô, một người chồng giàu có… Na mở to mắt nhìn lên trần nhà tối om. Cô len lén ngồi dậy, khẽ khàng mở cửa sổ. Ánh trăng ùa vào. Trăng mười sáu tròn vành vạnh. Trời trong cao vời vợi. Những làn mây mỏng lướt thướt trôi. Na lấy chiếc gương nhỏ đặt lên bậu cửa sổ nhìn kĩ đôi mắt mình lóng lánh, đôi môi mọng ươn ướt. Na lấy thỏi son trong cái hộp trang điểm dì Dung cho và quệt vụng về. Na đánh phấn trắng lên khắp mặt, bôi phấn hồng lên hai gò má và kẻ mắt bằng chiếc bút chì màu xanh. Cô tẩy tẩy xoá xoá, và ngắm mình mê mải trong gương. “Người thành phố là thế này”. Na mỉm cười, sung sướng khi nhớ lời dì Dung nói Na còn đẹp hơn con gái thành phố.

Bất giác Na thở dài. Na sẽ lấy Quân. Gia đình Quân chỉ đợi đến hết năm là làm đám cưới. Hai gia đình đã thoả thuận như thế. Cả mẹ Na cũng đã đồng ý. Vừa nãy mẹ nói vậy chỉ vì dì Dung tự nhiên trở về, tự nhiên mở ra một tương lai sáng lạn cho Na nên mẹ có ý chắc lép. Nhưng… không thể được đâu. Bố Na sẽ chẳng đời nào đồng ý thế. Cả Na nữa. Na và Quân yêu nhau đã hai năm trời, lại là bạn chơi cùng hội ở làng, không mặt mũi nào bỏ Quân được. Tụi bạn sẽ nghĩ Na thế nào đây…

Na nằm xuống, mông lung nghĩ về cuộc đời của mẹ, của những người đàn bà xóm Đồi. Họ chưa một lần được mặc “đồ Tây”, quanh năm suốt tháng chỉ là áo nâu và quần đen nhuộm đi nhuộm lại. Như mẹ Na, lúc nào cũng tất bật. Buổi sáng dậy từ lúc gà gáy, lụi cụi nấu cám cho lợn ăn, rồi đi làm đồng. Buổi trưa mười hai giờ về, ăn vội vàng bát cơm rau muống với cà ghém rồi lại đi. Tối mít mẹ mới về, rửa cái chân, ăn cơm xong, ra đầu ngõ nói chuyện với mấy người đàn bà hàng xóm những câu chuyện vụn vặt rồi về ngủ. Và tinh mơ ngày hôm sau lại dậy, lại mò mẫm lụi cụi... Ở vào tuổi bốn mươi, những người đàn bà ở xóm Đồi đã già hết. Không như dì Dung, còn son phấn vòng vàng…

 

*

*       *

 

Dì Dung trở lại. Dì vẫn đi chiếc xe tắc xi màu vàng. Bố Na không có nhà. Dì kéo mẹ và Na vào trong buồng thủ thỉ:

- Gấp quá rồi, tuần sau em sẽ khai trương cửa hàng. Nếu chị đồng ý thì cho Na ra giúp em.

- Sao vội thế hả dì - Mẹ Na hấp tấp - Dì phải thư thư để tôi còn thuyết phục bố cháu.

- Không thể chậm trễ được chị ạ, hỏng hết việc của em. Mà chị làm gì phải bàn với anh. Cứ cho con Na đi, lúc ấy đặt anh vào việc đã rồi, ai làm gì được chị. Nếu cần thì chị bảo là không biết, do con Na nó tự ý trốn đi. Với lại chị sống với anh ngần ấy năm, chẳng lẽ chị lại không hiểu bọn đàn ông. Chỉ là sĩ hão thôi. Chẳng qua anh không muốn cho con Na đi vì còn lăn tăn chuyện dư luận hàng xóm, quan hệ bạn bè. Vớ vẩn, thời buổi bây giờ mà còn cứ bám vào mấy cái đấy thì bao giờ mới khá được…

- Thì dì bảo, sống đâu âu đấy.

- Thôi chị nhé, em rất bận. Em về đây. Nếu chị và cháu Na đồng ý thì rằm này em quay lại đón. Còn nếu không thì thôi, em đành phải thuê người ngoài vậy. Nói thật, vì là chỗ người nhà, lại thấy cháu Na xinh đẹp tháo vát nên em muốn giúp cháu đổi đời, chứ ở mãi cái đất chó ăn đá gà ăn sỏi này, đến bao giờ mới mở mày mở mặt được. Tiện đây em cũng nói luôn tiền công cho chị đỡ băn khoăn. Cháu Na lên thủ đô, ăn ở cùng dì, dì nuôi như con gái, nhưng hàng tháng dì vẫn trả công năm trăm ngàn đồng. À, Na này, cháu hỏi bạn bè xem có đứa nào thích đi bán hàng không. Dì phải thuê ít nhất là bốn người, dì mới tìm được một, thêm cháu nữa là hai. Cháu hỏi bạn bè cho dì thêm hai cô nữa. Nhớ nhé, dì tin cháu lắm đấy. Thôi dì về, em về chị ạ. Rằm em quay lại.

Dì Dung nói xong vội vã ra xe, sau khi dúi vào tay mẹ mấy tờ mười ngàn đồng mới cứng.

 

*

*      *

 

  Đúng hẹn, trưa hôm rằm dì Dung trở lại. Mẹ đã bố trí để bố đi sang làng bên mua ngô giống. Ngoan, Bưởi và Na hấp tấp trèo lên chiếc xe màu vàng của dì Dung. Chiếc xe lao vút đi, để lại phía sau ba người đàn bà đang phấn khởi nghĩ về tương lai sáng lạn của những đứa con gái.

 

 

*

*       *

 

 

 

- Con gái dậy rồi à?.

Na còn đang ngơ ngác không hiểu tại sao lại ở một mình trong căn phòng sang trọng, trên chiếc giường nệm êm ái thì cửa bật mở, một người đàn bà lạ có khuôn mặt hình mỏ cày bước vào, đôi mắt ti hí lấp liếng nhìn Na cười cười.

- Cô là… Na rụt rè. - Dì Dung đâu rồi ạ, Ngoan đâu, Bưởi đâu?

- Dì Dung đưa các bạn của con đến làm ở chỗ khác, cũng gần đây thôi. Còn con thì ở lại với dì. Dì sẽ chăm sóc con còn chu đáo hơn dì Dung ấy chứ. Con thích gì đều được, miễn là giúp được việc cho dì.

- Sao lại như thế ạ. Na hoảng hốt. Dì Dung bảo rằng là…

- Có gì mà sao với giăng. – Người đàn bà không để cho Na nói hết. Dì với dì Dung là chỗ chị em thân tình. Con ở đây làm việc cho dì thì cũng như làm việc cho dì Dung cả thôi.

- Con… con phải làm gì ạ?

- Được rồi, cứ từ từ rồi dì bảo, bây giờ con đi tắm rửa, ăn uống cho lại sức. Sen đâu, vào giúp chị Na đi con.

  Người đàn bà ưỡn ẹo đi ra, sau khi tát nhẹ vào má Na âu yếm và cười khanh khách.

 

*

*       *

 

- Tối nay con giúp dì bán hàng cho một vị khách nhé. – Người đàn bà  ngắm nghía Na, vẻ mặt lộ rõ sự hài lòng. Sau khi được tắm rửa, trang điểm, mặc vào người một bộ quần áo hồng mỏng tang, trông Na như vừa lột xác từ cô lọ lem thành nàng tiên nữ. - Chỉ một người thôi, nhưng là khách sộp đấy. Con làm được cho ông ta hài lòng thì dì thưởng cho cả một tháng lương.

- Bán cái gì hả dì?

- Được rồi, con vào đây, vào đây rồi khắc biết.

 Người đàn bà mở cửa một căn phòng, đẩy Na vào bên trong. Na không hiểu gì hết. Tất cả trống trơn, chỉ có một chiếc giường nệm giống hệt chiếc giường Na đã nằm khi tỉnh dậy. Trước mặt cô, một người đàn ông ngắn ngủn có bộ râu rậm rạp ngồi chồm hỗm. Đôi mắt gã hau háu, miệng cười khì khì lùi lũi tiến về phía Na. Na hoang mang đến cực độ. Cô phải làm gì bây giờ. Có lẽ ông khách sộp là đây. Nhưng cô phải bán gì cho ông ta. Gã đàn ông vẫn lừ lừ tiến đến. Hắn đưa hai bàn tay múp míp với những ngón tay dùi đục đặt lên vai Na, rờ rẫm xuống vùng cổ áo mở rộng lấp ló khuôn ngực trắng ngần phập phồng. Na co dúm người lại bất động. Trong một phút kinh hoàng, cô chợt hiểu ra thứ hàng mình phải bán cho người khách sộp là cái gì. Cô vùng ra, hất ngã ngửa gã đàn ông xuống nền nhà rồi cuống cuồng chạy.

Cửa khoá rồi. Na chạy vòng quanh căn phòng hẹp. Gã đàn ông lồm cồm bò dậy, liếm mép nhìn Na rúm ró trong góc phòng sau khi đã bất lực đạp phá mọi cánh cửa. Na oà khóc nức nở nhìn gã đàn ông van nài:

- Bác, bác tha cho cháu. Cháu đã có người yêu, cháu sắp… Dì Dung ơi, dì Dung… Cứu cháu… Dì Dung…

- …  

 

 

 

 

 

 

 

CUỘC ĐỐI THOẠI TRONG NẮNG CHIỀU


- Tại sao lại như vậy? Thực ra hai việc đó về bản chất đâu có gì khác nhau?

- …

Đó là câu hỏi thứ X của cuộc thẩm vấn. Người hỏi là một Thiếu tá cảnh sát mặt vuông chữ điền, mắt hơi xếch và có màu nâu ấm áp. Lúc này, đôi mắt ấy rất bình thản, nhìn xói vào người đối diện gần như không chớp. Còn người bị hỏi, phải trả lời là một đàn ông chừng bốn mươi lăm tuổi, vẻ  mặt lạnh lùng, mái tóc cắt cao ngang tàng. Cuộc thẩm vấn bắt đầu lúc tám giờ sáng, bây giờ là bốn giờ chiều. Họ chỉ có một tiếng để nghỉ ngơi, ăn trưa. Ngoài trời lúc này đang ba mươi bảy độ xê, nắng chói chang, căn phòng hai người ngồi ở đúng hướng Tây hứng trọn vẹn những tia nắng nghiệt ngã. Chiếc quạt máy kêu ken két chỉ càng làm cho không khí bức bối hơn. Thỉnh thoảng lại có tiếng nổ lách tách của thân tre trên mái ngói nhà bên cạnh, còn phòng của họ thì lợp bloximăng. Tóm lại họ giống như hai con tôm trong một cái lò nướng. Họ đang chảy mỡ.

- Anh trả lời đi chứ. Tại sao lại như vậy? Người cảnh sát lặp lại.

- …

Vẫn im lặng, không có câu trả lời.

 

*

*       *

 

Đầu đuôi câu chuyện là thế này: Tối hôm kia, lúc hai mươi mốt giờ, một thanh niên nhà ở gần đầm Dưng bị bắn chết. Cái đầm Dưng ấy là đầm nuôi cá do người đàn ông đang ngồi đây làm chủ. Ông ta tên là Đáng, Nguyễn Hữu Đáng. Vì cái đêm xảy ra án mạng, ông Đáng cũng có mặt ở đầm để trông cá nên lực lượng công an mới mời ông đến làm việc, hỏi ông một số vấn đề giúp cho việc truy tìm thủ phạm đã bắn chết thanh niên kia. Nói thẳng ra ông là đối tượng bị tình nghi. Ngay sau khi lực lượng công an biết sự việc, hai mươi tư giờ đêm hôm ấy, ông đã được mời lên trụ sở công an xã. Rồi cán bộ công an tỉnh về, ngồi đối diện cả chiều hôm qua, buổi sáng nay đến bây giờ, nhưng ông đều trả lời suôn sẻ mọi câu hỏi của họ. Ông kể rất rõ ràng và rành mạch đến từng chi tiết cả buổi tối ông làm gì, ở đâu, và ông hoàn toàn không biết về chuyện đã xảy ra với người thanh niên xấu số.

- Nhưng mà việc anh Tùng bị chết trong khu vực đầm của tôi, tôi thấy mình cũng có trách nhiệm nên tôi sẵn sàng chi trả tiền đưa Tùng đi cấp cứu, tiền mai táng cho anh ta.

Cuối cùng, có lẽ do trời nóng bức quá, Đáng quyết định hào phóng để kết thúc sớm mọi sự.

- Ồ, rất tốt. - Người công an mỉm cười. - Thế nếu giả sử ngày mai, ngày kia, có một em bé chăn trâu gần khu vực đầm cá của ông, trong lúc mải vui đùa sảy chân rơi xuống đầm của ông chết đuối, ông cũng sẽ chi trả tiền mai táng cho gia đình người ta chứ?

- Không đời nào. Đáng kêu lên. Làm sao có chuyện vô lý như vậy được. Anh ta không giấu được sự phẫn nộ. Có lẽ một phần do ánh nắng chói chang nghiệt ngã đã làm Đáng không kiềm chế được.

- Ô, sao vậy ông Đáng? Người cảnh sát ngạc nhiên. Tại sao ông đồng ý chi trả tiền cho cái chết của Tùng mà lại không trả cho cái chết của em bé kia. Thực ra hai cái chết đó về bản chất đâu có gì khác nhau?

Đó, đầu đuôi câu chuyện là như vậy. Đến lúc này Đáng vẫn im lặng. Người cảnh sát đã lặp câu hỏi đến lần thứ bao nhiêu không biết:

- Mà xét cho đúng, nếu giả sử có việc một ai đó bị ngã chết thì đã rõ ràng là tai nạn rủi ro, còn việc Tùng bị bắn chết thì là có bàn tay của người khác dẫn đến hậu quả đó, cho nên người có trách nhiệm phải bồi thường cho cái chết của Tùng phải là thủ phạm đã bắn Tùng chứ.

Người cảnh sát nói chậm rãi từng từ một, ai nghe cũng thấy rõ ràng, dường như anh ta không cảm thấy là đang ngồi trên một cái chảo rang, dù mồ hôi cũng đọng từng giọt trên trán, cổ và ướt đầm lưng áo.

- Tôi nhận.

Đáng đột ngột lên tiếng sau những phút dài im lặng. Không gian như ngưng đọng lại trong một tích tắc.

- Tôi đã bắn Tùng.

Đáng nhắm mắt, thở một hơi dài nặng nhọc.

 

*

*      *  

 

Đáng cắm cúi viết bản tường trình sự việc. Lúc này mặt trời đã xuống rất thấp, ánh nắng yếu ớt chỉ còn le lói đằng chân trời. Vài ngọn gió phe phẩy len lỏi vào căn phòng làm cho không khí dịu hơn hẳn. Chuyện xảy ra không có gì gay cấn hay ly kì. Tối hôm đó Đáng chèo thuyền đi tuần xung quanh đầm cá, khi đi có mang theo khẩu súng săn mua của một người miền ngược, đến cuối đầm thì thấy một người có biểu hiện đang bắt trộm cá. Đáng bắn, người đó trúng đạn, bỏ chạy. Sau này Đáng biết người đó là Tùng, và anh ta đã bị chết dù ngay sau đó được đưa đi bệnh viện cấp cứu.

Đáng viết xong, chưa vội kí tên mà đưa bản tường trình cho người cảnh sát. Trong lúc người cảnh sát đọc thì anh ta ngồi nhìn chăm chú. Rồi bỗng anh ta nói bâng quơ:

- Vợ anh chưa chắc đã xinh bằng vợ tôi.

Người cảnh sát rời mắt khỏi tờ giấy nhìn lên, hiểu ra Đáng vừa nói gì, anh tủm tỉm:

- Có thể là như vậy. À, đúng là như vậy đấy. Tôi đã gặp vợ anh rồi mà. Cô ấy xinh thật.

- Thế nhà anh ở đâu, vợ anh làm gì?

Đáng được thể hỏi tiếp. Giọng điệu anh ta cứ như không, như  thể bản án giết người đang treo lơ lửng trên đầu không làm anh ta bận tâm. Người công an cũng không hẹp hòi gì mà không trả lời, vì từ hôm qua chính anh cũng đã hỏi Đáng những câu tương tự.

- Nhà tôi ở Tam Đảo, vợ tôi là giáo viên.

Đáng nghe, ngẫm nghĩ, nói:

- Thế thì nhà anh chẳng giàu. Hai vợ chồng công chức, ăn lương nhà nước, cùng lắm chỉ đủ ăn.

Người cảnh sát không chú ý những lời Đáng nói, anh xem xét lại hồ sơ để chuẩn bị kết thúc cuộc thẩm vấn. Nhưng Đáng vẫn tiếp tục:

- Nếu anh cho tôi qua vụ này, tôi sẽ không để anh thiệt…

- Cái gì cơ? - Người cảnh sát nhìn lên - Tôi chưa nghe rõ?

- Anh cứ ra giá. Bao nhiêu cũng được. Tôi đủ sức.

Đáng có vẻ tự tin vì thấy người cảnh sát chăm chú lắng nghe.

- Tôi biết công an các anh vừa được phân đất. Chắc là anh chưa có tiền để trả. Tôi có thể trả cho anh gấp năm lần giá trị tiền ô đất ấy.

Người cảnh sát im lặng nghe Đáng nói, khuôn mặt chữ điền chẳng hề động đậy, đôi mắt màu nâu nhìn chằm chằm vào Đáng như thôi miên làm Đáng chột dạ:

- Có thể hơn, gấp mười lần… Đáng ấp úng.

Người cảnh sát gật gật đầu, mắt vẫn không rời khỏi Đáng.

- Tôi sẽ đưa tiền cho anh ngay. Chỉ trong ngày mai thôi.

Người cảnh sát lại gật gật. Đáng chừng đã bình tĩnh trở lại.

- Anh không phải viết hay ký nhận cái gì. Chuyện này chỉ có tôi và anh biết.

- Anh nói hết chưa? Người cảnh sát chậm rãi hỏi Đáng. Hầu như anh không biểu lộ trạng thái cảm xúc đặc biệt nào trong giọng nói. - Cái giá của tôi là mười lần giá trị một ô đất tám mươi mét vuông à? Mười lần… -  Anh gật gật đầu,  - không nhiều, cũng không ít, nhưng mà rẻ quá, anh bạn ạ.

Đáng tỏ vẻ không hiểu.

- Tôi nói như thế là rẻ quá. - Người cảnh sát tiếp tục bằng cái giọng đều đều - Kể cả gấp đôi, gấp ba, gấp nhiều lần số ấy thì vẫn rẻ ông Đáng ạ. Bởi vì cho dù tôi có nhận vài trăm triệu đồng để tha tội cho ông thì có nghĩa là tôi đã bán lương tâm của tôi, tư cách cán bộ Công an của tôi, bán niềm tin của quần chúng nhân dân vào Đảng, vào pháp luật của Nhà nước để lấy vài trăm triệu đồng.

Anh dừng lại, lắc lắc đầu: - Như thế thì tôi thiệt thòi quá, vì vài chục triệu, vài trăm triệu hay nhiều hơn thế cũng chỉ là con số hữu hạn, còn những cái mà ông muốn mua của tôi thì đều vô giá. Ôi, ông thật là quỷ quyệt, tôi biết là ông làm ăn rất tài nhưng không ngờ ông còn định mua rẻ bán đắt với cả tôi.

Đáng ngẩn ra. Hình như anh ta không tin hoặc là không hiểu những điều người cảnh sát nói. Nhưng anh ta không phải động não lâu vì người cảnh sát đã đột ngột đứng dậy, bằng một giọng nghiêm khắc hơi chút gay gắt, anh nói từng tiếng rành rọt:

- Ông Đáng, tôi cảnh cáo ông, nếu ông còn đặt vấn đề  này ra lần thứ hai thì tôi sẽ lập biên bản ông về hành vi gợi ý đưa hối lộ nhằm chạy tội. Ông nên biết rằng không có tiền nào có thể rửa tội được cho ông đâu, chỉ có một cách là ông hãy thành khẩn khai báo, tích cực khắc phục hậu quả, thực lòng ăn năn hối cải mà sửa đổi cái suy nghĩ coi trọng đồng tiền hơn sinh mạng  và cả tư cách con người đi.

Đáng ngồi ngẩn ra, hai tai dần đỏ ửng lên. Có lẽ sự việc xảy ra đã làm anh ta bất ngờ. Anh ta bối rối đưa cả hai tay đón tờ tường trình người cảnh sát đưa, lúi húi ký tên, líu ríu cho tay vào còng số tám. Hai chiến sĩ cảnh sát trẻ măng từ phòng bên cạnh đi sang áp giải anh ta ra xe về huyện. Người thiếu tá cảnh sát đã ra trước, anh sải từng bước dài trên con đường đất đỏ, đầu ngẩng. Hai bên đường, gió đuổi nhau rộn ràng trên cánh đồng lúa đang ngậm hạt. Mùi hương sữa ngọt ngào thơm mát.

  

Tháng 5/2005

 

 

 

 

 

 

NHỮNG LÁ THƯ MÀU XANH

Mặc dù tôi kiếm tiền không đến nỗi nào và rất tán thành việc phụ nữ làm đẹp song Hương Thảo vợ tôi hầu như không thích may sắm quần áo, đồ trang sức, cũng không bao giờ đến các trung tâm thẩm mỹ như mấy nữ đồng nghiệp và đám con gái thời nay.

Nhưng cô ấy lại có một hứng thú đặc biệt là viết thư…

Tuần nào cô ấy cũng viết thư vào các ngày thứ ba, năm, chủ nhật. Mỗi ngày một lá. Có khi cô ấy dành cả buổi chiều chủ nhật để viết thư. Một năm là ba trăm sáu mươi lăm ngày, là năm mươi hai tuần, trung bình mỗi tuần ba lá, vị chi là một trăm năm mươi sáu lá thư một năm. Cô ấy duy trì việc viết thư một cách đều đặn như một nề nếp, như một nỗi đam mê, không bao giờ vì bất cứ lý do gì mà quên viết thư, và cô cứ tự đạp xe ra bưu điện cách đó một kilômét để gửi thư…

Cô ấy còn có một thói quen đặc biệt nữa là rất chăm đến nghĩa trang liệt sỹ. Hầu như ngày rằm, mồng một, ngày lễ nào cô cũng đến đó lần lượt thắp hương cho hàng chục ngôi mộ trong nghĩa trang, mặc dù họ hàng nhà chúng tôi không có ai là liệt sỹ cả.

Nói thật, tôi không quan tâm là cô ấy viết thư cho ai và tại sao lại đến nghĩa trang liệt sỹ. Vì những cái đó không ảnh hưởng gì đến cuộc sống của tôi. Cô ấy vẫn chu đáo và không quên điều gì làm cho tôi hài lòng. Về việc viết thư thì tôi có thắc mắc, một vài lần tôi để ý liếc những lá thư cô ấy đặt trên bàn chuẩn bị đem đi gửi và thấy đề: “Con gái gửi bố mẹ… ”. Thế là ổn. Tôi chẳng dại gì đả động đến chuyện đó vì chính tôi đã khiến cô ấy phải xa bố mẹ, xa gia đình cô ấy. (Trước khi cưới tôi đã thoả thuận sẽ không bắt cô đi đâu rời xa cái thị trấn nhỏ bé của cô. Nhưng mới được một thời gian ngắn thì tôi đột ngột phải chuyển công tác vào Nha Trang. Tất nhiên là cô ấy phải đi theo tôi).

 

 

*

*        *

 

Mãi đến mùa hè năm nay, tôi mới có điều kiện đưa vợ con về quê ngoại. Nghe tin ấy, mắt cô sáng lên nhìn tôi đầy biết ơn. Cũng  đã gần bốn năm. Mặc dù xe cộ sẵn song công việc cứ cuốn đi, phần nữa vì Hương Thảo bận sinh con nên đến năm nay tôi mới thực hiện được lời hứa là mỗi năm đưa cô ấy về thăm quê ít nhất một lần. Tuy nhiên 3 năm qua tôi không thấy Hương Thảo nhắc nhở, cũng không giận dỗi gì. Quả thực tôi đã rất biết ơn vì điều đó chứng tỏ cô hiểu và thông cảm với tôi.

Vừa nghe tin vợ chồng tôi về, họ hàng đến chơi rất đông. Cả hàng xóm và bạn bè. Dù thực lòng không hứng thú và mệt mỏi vì sự quan tâm thái quá ấy, song chứng kiến cái cách mọi người vui mừng khi vợ tôi trở về, tôi cũng phải thầm nể phục cô ấy, và trong lòng dâng lên một cái gì giống như là tình yêu, hoặc là cảm giác hãnh diện.

Đến buổi tối thứ hai thì cô ấy để tôi ở nhà, còn cô bế cu Bi đi chơi. Buổi tối thứ ba, thứ tư cũng vậy. Tôi hài lòng và lấy làm biết ơn vì điều đó chứng tỏ vợ tôi vẫn luôn hiểu tôi. Trừ khi là những cuộc giao tiếp bắt buộc vì công việc, tôi chỉ thấy hứng thú khi đi chơi cùng với những người bạn, còn với họ hàng thì quả thực… tôi thích ngủ hơn. Và tôi thường đền đáp sự tế nhị của Hương Thảo bằng cách chủ động đưa cho cô ấy số tiền đủ để cô giao tiếp họ hàng và bạn bè.

Có một lần, tôi buột miệng nựng thằng con khi bế nó đi dạo ở bên bờ sông:

- Bi đi chơi với mẹ có vui không?

Thằng bé hồn nhiên đáp: - Có ạ.

Tôi vui miệng hỏi tiếp: - Vui như thế nào nào?

Cu cậu tỏ vẻ rất hứng khởi:  - Nhà ông bà có nhiều con chim đẹp lắm. Nó kêu chích chích chích.

- Ông bà nào cơ?

- Ông bà ở đằng kia kìa. -Thằng bé hồn nhiên chỉ tay qua bên kia sông. - Đấy, nhà ông bà đấy.

Tôi nhìn theo tay thằng bé chỉ và thấy lạ là chưa bao giờ Hương Thảo kể cho tôi nghe về một người họ hàng nào ở bên kia sông. Tôi tò mò hỏi tiếp cu Bi:

- Tối nào mẹ cũng đưa Bi sang nhà ông bà chơi à?

- Vâng ạ.

- Thế hôm nay Bi đưa bố sang nhà ông bà chơi đi.

Thằng bé nghe thế thích quá trườn khỏi tay tôi chạy lon ton về phía trước dẫn đường.

 

 

*

*       * 

 

 Một bà già ra mở cổng cho chúng tôi vào. Bà tỏ vẻ mừng khi nhìn thấy cu Bi còn cu Bi thì  chạy lại ôm chầm lấy bà như là quen thân lắm. Bà già nắm tay cu Bi ngẩng lên nhìn tôi, như lạ, như quen, nửa mừng vui nửa e ngại. Tôi không biết phải nói gì đành chào một câu xã giao rồi theo bà vào nhà.

-  Anh là… Bà già ngập ngừng rót nước mời tôi … bố cu Bi…

- Dạ, vâng ạ. Tôi lễ phép đáp, vẫn chưa biết phải bắt đầu như thế nào.

 - Thật quí hoá quá. Ông nhà nó ơi. Bà quay ra cửa gọi vọng ra vườn. Ông ơi, nhà có khách này, bố thằng Bi đến nhà mình chơi này.

 Tôi thật sự bối rối không hiểu tại sao mình lại được tiếp đón nhiệt tình như vậy. Từ ngoài vườn cây xum xuê, một ông già đi vào, dáng chậm rãi và điềm đạm.

- Con chào ông. Dạo này ông có khoẻ không ạ? - Tôi cố nhớ một câu mà Hương Thảo hay nói khi gặp người già để nói trong hoàn cảnh này cho đỡ ngượng.

- Ơn trời, nhờ thằng Nam nó phù hộ nên ông bà già vẫn khoẻ. - Bà già nhanh miệng trả lời. - Nhưng công lớn nhất phải kể đến con Thảo, nó làm cho ông bà già này nếu ốm là thấy có lỗi với nó.

- Dạ…

- Anh cũng đỡ rồi chứ. Con Thảo bảo mấy hôm rồi anh mệt.

- Dạ… - Tôi ngơ ngác.

- Con Thảo ăn ở hiền thảo nên trời phật cũng thương, lấy được anh là người hiểu biết, rộng lượng, là phúc cho nó, cũng là an ủi hai ông bà già này. - Bà già đưa tay chấm mắt, giọng nói xúc động.

Quả thực là tôi không hiểu gì. Thấy bà khóc tôi vô cùng bối rối, đành nói bừa: - Dạ, có gì đâu ạ.

- Hôm nghe tin anh với con Thảo về, tôi có định bảo ông nó sang cảm ơn, nhưng hôm sau con Thảo sang nó gàn mãi nên lại thôi. Anh thật đức độ quá, vẫn còn mệt mà đã sang thăm.

- Dạ, con có làm được gì cho hai bác đâu ạ. - Tôi nói rất thật trong sự ngỡ ngàng.

- Cũng xin được thưa lại với anh, - Ông già từ khi bước vào nhà lúi húi pha chè, chậm rãi và cẩn trọng rót đầy ba cái chén hạt mít cho ba người xong mới bắt đầu  nói- lần đầu con Thảo gửi tiền về, tôi đã khó nghĩ quá. Bà nhà tôi nhất định không nhận, bảo nó là phận gái theo chồng phải toàn tâm lo cho nhà chồng, tiền nong ở đâu mà gửi về.

- … Khi viết thư về nó doạ ông bà già không nhận thì nó sẽ… Bà già nói xen vào. - Nó doạ thế nhưng ông nhà tôi vẫn nhất quyết không, phải đến khi anh gọi điện về thì ông nhà tôi mới xuôi xuôi… thì thôi, cũng là tấm lòng của các con, mình từ chối quá phải tội.

- Dạ… vâng… Tôi càng lúc càng trở nên như một kẻ mơ ngủ. Hai ông bà vẫn mỗi người một câu lần lượt kể cho tôi nghe câu chuyện lạ lùng, như tôi là người rất quen, thậm chí là một nhân vật trong câu chuỵên đó, trong khi thực sự là tôi chưa bao giờ gặp, mà cũng chưa bao giờ nghe Hương Thảo kể chuyện về họ. Song tôi ngờ rằng không phải là họ nhầm lẫn gì mà là tôi đã và đang bị Hương Thảo giấu giiếm một chuyện gì. Song chuyện ấy là như thế nào, thật giả, tốt xấu thì chưa thể rõ được. Không muốn sa đà quá vào câu chuyện để nhỡ vô tình bị lộ là tôi không hề biết gì về họ, tôi lựa lời nói những câu vô thưởng vô phạt dựa theo câu chuyện:

- Có gì đâu ạ, chúng con là phận làm con, làm được gì cho ông bà những lúc còn khoẻ là chúng con vui.

- Cảm ơn anh. Nhưng… - Ông già tỏ vẻ ngập ngừng. -  Hai người già thì ăn tiêu đáng bao nhiêu mà tháng nào anh chị cũng gửi ra. Thôi thì chúng tôi cũng không biết phải làm thế nào, đành cũng nhờ người làm cái sổ tiết kiệm, mỗi tháng gửi vào đấy một ít, gọi là để dành cho cu Bi, bao giờ nó lớn, nó đi học…

- Nói thực chúng tôi cũng không dám thở chuyện này cho con Thảo - Bà già tiếp lời ông già - Vẫn định bụng khi nào gặp anh mới nói… Không phải là chê gì tiền của anh với con Thảo, nhưng mỗi tháng tôi có tiền của thằng Nam, rồi cóp nhặt vườn quả đã đủ lắm. Nhà cửa thì Nhà nước lo cho rồi. Cái nhà này, hồi đầu năm bà con chòm xóm và các anh chị Uỷ ban xây cho đấy. Thế thì phải lo gì nữa. Mà anh với con Thảo thì cũng phải vất vả… cho nên…

- … Tôi xin gửi lại anh sổ tiết kiệm này… - đến lượt ông già nói- … mỗi tháng, thay vì gửi cho tôi, anh gửi số tiền ấy vào đây, cứ coi là của chúng tôi cho thằng Bi.

Tôi bất ngờ quá đỗi. Không biết phải xử sự thế nào. Cuối cùng, tôi nghĩ ra kế hoãn binh, nói rằng việc này tôi không quyết được, phải về hỏi lại Hương Thảo. Rồi tôi vội vàng xin cáo lui.

Cả hai người cùng đứng dậy tiễn tôi. Ra đến cửa, tôi quay lại nói họ không phải tiễn nữa thì thật bất ngờ, nói chính xác là lại thêm một bất ngờ nữa khi tôi nhìn thấy trên ban thờ nhỏ mé đầu nhà bên trái có ảnh một thanh niên trẻ, chỉ chừng hai mươi lăm tuổi. Trong trang phục sĩ quan Công an, trông anh ta chững chạc và nghiêm nghị, song đôi mắt rất sáng và ánh nhìn có vẻ hiền hậu. Tôi chưa bao giờ biết về người con trai này, và điều khiến tôi ngạc nhiên là ở chỗ trên ban thờ đang phảng phất khói hương đó có một cái đĩa gỗ, trên đĩa gỗ đặt một chồng thư…

Bạn có thể hình dung được không. Đó là những bức thư của Hương Thảo, vợ tôi. Tôi có thể dám chắc điều đó vì những bức thư của Hương Thảo không thể lẫn vào đâu được. Suốt ba năm qua từ khi theo tôi vào Nha Trang, Hương Thảo luôn víêt thư đều đặn một tuần ba lần, và tất cả những lá thư ấy đều được đặt trong phong bì do cô ấy tự làm bằng giấy pơluya màu xanh. Tôi cũng đã một lần hỏi về những chiếc phong bì màu xanh ấy và Hương Thảo bảo đó là một ý thích nho nhỏ từ thời học sinh. Thế mà hôm nay tôi lại thấy những phong bì thư màu xanh, cái ý thích nho nhỏ của vợ tôi ở đây, trong ngôi nhà của hai ông bà già xa lạ, trên ban thờ một chàng trai trẻ. Có lẽ nào lại thế được.

Bà già là người tinh tường. Nhìn thấy vẻ ngỡ ngàng hiện rất rõ trên mặt tôi, bà mới bảo:

- Thư con Thảo gửi về, chúng tôi đọc xong lại để lên trên đấy, cho thằng Nam về thấy để nó yên tâm là chúng tôi vẫn được con Thảo chăm sóc chu đáo.

-…

Không biết nói gì, tôi cúi đầu, vâng một câu rất nhỏ và đi về. Mặc dù ra đến bờ sông, tôi đã hít một hơi thật sâu và thở mạnh song vẫn cảm giác rất rõ ràng máu đang dồn lên nóng rát trong huyết quản. Rõ ràng đây không phải là chuỵện đơn giản, không phải là một ý thích nho nhỏ nào hết. Hương Thảo đang giấu giếm, thậm chí lừa dối tôi. Là chuyện gì và như thế nào thì tôi vẫn còn chưa rõ ràng, song đúng là suốt ba năm qua cô ấy đã lừa dối tôi. Cái vẻ kín đáo và thầm lặng của cô ấy, ánh mắt dịu dàng và đượm buồn của cô ấy, nụ cười mỉm thường trực của cô ấy… không phải là một đặc tính tốt đẹp nào hết, mà là để che giấu sự lừa dối bỉ ổi. Càng nghĩ, tôi càng thấy đau đớn và giận giữ, một cảm giác gần giống như của một thằng đàn ông bị cắm sừng. Tôi sẽ hỏi cô ấy mọi chuyện ngay bây giờ.

Nhưng Hương Thảo đã đi vắng từ sáng. Cô ấy không nói rõ ràng là đi đâu, chỉ nói tôi ở nhà đợi cô ấy về để đi ăn cơm mời ở nhà một người bạn. Chỉ ngày kia là chúng tôi sẽ trở vào Nha Trang.

Tôi không thể ngồi đợi Hương Thảo về để hỏi. Câu chuyện có quá nhiều mờ ám mà tôi muốn biết ngay bây giờ. Nhưng biết tìm cô ấy ở đâu?. Đang quay cuồng trong những sự ức chế ghê gớm, bất chợt một ý nghĩ vụt sáng trong đầu và tôi tin chắc mình sẽ tìm được cô ta ở đâu.

 

 

*

*       * 

 

Nghĩa trang liệt sỹ thị trấn nằm ở chân đồi thông. Đó là một nơi yên tĩnh và cách biệt hẳn sự ồn ào của phố xá. Tôi thận trọng quan sát để giành thế chủ động theo dõi Hương Thảo mà không để bị phát hiện. Quả đúng như dự đoán, vừa bước chân vào cổng nghĩa trang tôi đã nhìn thấy Hương Thảo. Cô ấy mặc một chiếc áo màu thiên thanh đã lỗi mốt từ lâu mà có lẽ đây là lần đầu tiên tôi thấy cô ấy mặc nó. Tôi bỗng thấy ngạc nhiên rằng tại sao sáng nay khi cô ấy đi tôi đã không nhận ra sự đặc biệt ấy. Rõ ràng đây không phải là sự vô tình mà lại là một ý thích nho nhỏ. Dù không nhiều óc tưởng tượng và sự lãng mạn song tôi đã lờ mờ nhận ra thực chất của vấn đề. Thì ra cô ấy không hề yêu, chưa bao giờ chung thuỷ với tôi suốt bao nhiêu năm qua. Lúc nào, trong tâm tưởng của cô ấy cũng chỉ có một người đàn ông nằm kia, mà chắc chắn là người tình cũ của cô ta. Dù  anh ta có là liệt sỹ thì cô ta cũng không có quyền lừa dối tôi như vậy. Việc phát hiện sự thật muộn màng cùng với việc mục sở thị cảnh cô ta đang tình tự với người tình trong quá khứ làm tôi đau đớn và giận giữ còn hơn khi nhìn thấy chồng thư giấy pơluya màu xanh. Với suy nghĩ độc ác theo cách đầy bản năng của một thằng đàn ông bị phụ tình, tôi lặng lẽ đi về phía cô ta để bắt quả tang, lột mặt nạ giả dối của cô ta.

Hương Thảo giật mình quay lại, thảng thốt và hoảng sợ khi nhìn thấy tôi. Đúng là ánh mắt của một kẻ phạm tội. Tôi đắc thắng, không nói không rằng nhìn thẳng vào bộ mặt tội lỗi của cô ta. Hương Thảo lắp bắp: - Anh, làm sao anh biết…

- Đúng là tôi biết hơi muộn. – Tôi cảm giác rất rõ hai hàm răng mình xít lại -  Có sự giả dối bỉ ổi nào mà cuối cùng không bị phơi trần ra ánh sáng đâu. Chỉ là trước hay sau mà thôi.

- Anh hiểu nhầm rồi - Mặt Hương Thảo tái đi.

- Nhầm, nhầm cái gì hả - Tôi cười khẩy - Kể ra thì ghen với một thằng đàn ông dưới mồ cũng là chuyện không bình thường,…

- Anh không được xúc phạm anh ấy. Hương Thảo đột ngột đanh giọng, khuôn mặt từ tái chuyển sang đỏ hồng lên. Tôi bất ngờ quá đỗi, lại còn đến mức ấy, thật quá sức chịu đựng, tôi cũng không cười nữa mà quát vào mặt cô ta:

- Được lắm, cô cứ ở đây với mối tình chung thuỷ của cô. Ở đây, mãi mãi. Cô không cần phải quay về Nha Trang nữa. Tôi sẽ gửi đồ đạc của cô qua đường bưu điện. Cô yên tâm, sẽ không thiếu một cái phong bì thư nào đâu.

Nói xong, tôi hầm hầm đi thẳng về nhà lấy hành lí, mang theo cu Bi ra sân bay về ngay Nha Trang.

 

*

*       *

 

Tôi về nhà chưa lâu thì Hương Thảo cũng đến nơi. Có lẽ cô ấy đi chuyến bay ngay sau đó. Điều đó làm tôi vừa thích thú một cách độc ác trong suy nghĩ cô ấy phải chạy theo tôi nhưng lại làm tôi bực bội vì không có cơ hội trả đồ đạc cho cô ta với những phong bì thư màu xanh.

Hương Thảo bước vào nhà một cách bình tĩnh và điềm đạm, dù đôi mắt thâm quầng, má có hơi tóp lại và da mặt thì sạm đi. Có lẽ cô ấy đã khóc nhiều. Nhưng tôi chưa kịp thưởng thức sự thích thú vì đau khổ của cô ấy thì cô đã chủ động nói:

- Tôi cần nói chuyện với anh, nếu anh muốn thì là lần cuối cùng cũng được, nhưng chúng ta cần nói chuyện với nhau như hai vợ chồng một lần này nữa, anh cứ coi như tôi cầu xin anh cũng được.

Mặc dù cô ta nói là cầu xin, song nghe giọng lạnh và đầy quyền uy. Tôi tò mò xem cô ta định bày trò gì.

- Được, tôi nghe đây.

Tôi mệt mỏi nằm ngả trên xa lông, và bất chợt thấy mắt cay cay. Không phải là khóc, song cổ họng chát đắng và một cảm giác mệt mỏi chán chường, trống rỗng ùa đến làm cho từng tế bào trong người như rời ra. Chao ôi, người phụ nữ hoàn hảo, niềm tự hào của tôi… Trong một phút, tôi nghĩ đến ngày mai, khi tất cả những đồng nghiệp, bạn bè của tôi biết câu chuyện này, chắc chắn họ sẽ vỗ vai an ủi, song trong lòng họ… Kẻ bị phụ tình, thằng đàn ông bị cắm sừng… họ sẽ xì xào và nhìn tôi thương hại, hả hê… như thỉnh thoảng tôi vẫn vậy với những kẻ bất hạnh khác…

- Anh cần phải hiểu hai điều quan trọng - Hương Thảo bắt đầu nói bằng cái giọng quen thuộc, rành rẽ và chừng mực. - Thứ nhất, số tiền tôi gửi cho hai bác mỗi tháng là tiền tiết kiệm của cá nhân tôi. Cũng không nhiều nhặn gì, chỉ một trăm ngàn đồng. Hàng tháng, tôi đều cố gắng làm việc xuất sắc và được một khoản tiền thưởng nho nhỏ. Tôi nghĩ tôi có quyền sử dụng vào mục đích của cá nhân tôi số tiền đó. Tôi cũng tiết kiệm bằng cách hạn chế may sắm…

Tôi nói rõ thế để anh yên tâm rằng anh không bị tôi lấy cắp một xu nào hết.

Thứ hai, tôi chưa bao giờ phụ tình anh, dù chỉ là trong tâm tưởng. Anh là người yêu đầu tiên và duy nhất của tôi, ít nhất là cho đến lúc này. Còn người thanh niên trong nghĩa trang là ân nhân cứu cuộc đời con gái của tôi. Tôi kính trọng, biết ơn, và nợ anh ấy rất nhiều. Chỉ thế thôi.

Tôi bật ngồi thẳng dậy, vội vã nhìn vào mắt cô ấy. Hương Thảo vẫn ngồi ngay ngắn ở chiếc ghế đối diện. Cô không để ý đến thái độ của tôi mà tiếp tục dòng hồi tưởng, giọng cô nhỏ đi và mềm hơn, có cả hơi nước.

 

*

*       *

 

“Mùa hè năm tôi mười sáu tuổi. Mẹ cho tôi về quê ngoại chơi.  Đó là một vùng trung du heo hút và hoang sơ... - Hương Thảo khóc, hai giọt nước mắt lăn dài trên má cô. - Một hôm, tên thanh niên mới quen ở cùng làng rủ tôi đi chơi. Hắn dẫn tôi đi loanh quanh ra đằng sau một quả đồi vắng, bảo là ở đó có hoa mua rất đẹp… . Tôi mê mải hái hoa mua, rất nhiều hoa mua tím ngắt… Trời tối lúc nào không biết, thế rồi bỗng nhiên, cả một đám chục thằng thanh niên gớm giếc lù lù xuất hiện, quây quanh tôi…

Khi hiểu ra bọn chúng định làm gì, tôi hoảng sợ vùng vẫy, nhưng chỉ kịp hét một tiếng thật to rồi ngất lịm đi.

Tôi tỉnh lại vì nghe thấy những tiếng động rất mạnh. Một thanh niên trẻ đang đánh nhau với những tên côn đồ vừa định xâu xé tôi. Anh ấy rất trẻ, và chỉ có một mình anh giữa vòng vây của bọn côn đồ. Anh ấy đã đánh cho một vài tên không dậy được. Nhưng vẫn còn những tên khác. Chúng nó quây anh ấy đằng trước, đằng sau, một tên chạy đi vác hòn đá rất to… Tôi hoảng sợ và hét lên định báo cho anh ấy biết…

Thế là tôi đã giết anh ấy. Chỉ trong một tích tắc anh ấy quay nhìn về phía tôi vì tưởng rằng tôi bị làm sao, tên côn đồ đã choang hòn đá vào anh…

Anh ấy là một cán bộ công an. Nhà anh ở thị trấn nhưng anh đã tình nguyện lên công tác ở vùng quê heo hút ấy. Chỉ còn một ngày nữa là sinh nhật lần thứ 26 của anh. Anh ấy vẫn chưa có người yêu. Thế mà tôi đã giết anh ấy. Đáng nhẽ khi vừa tỉnh dậy, tôi phải chạy đi tìm người kêu cứu, hoặc phải giúp anh ấy đánh lại những tên côn đồ, hoặc ít nhất cũng cứ câm lặng, và đừng kêu tiếng kêu tội lỗi ấy… Nhưng tất cả đã muộn. Anh ấy mới 26 tuổi, và bố mẹ anh chỉ có một mình anh… Đó chính là hai bác buổi sáng anh đã gặp.

Hương Thảo nghẹn ngào, nước mắt ràn ướt đẫm khuôn mặt cô ấy.

Tôi sẽ không bao giờ quên anh ấy, không bao giờ quên được tội lỗi của tôi. Thấy tôi luôn bị ám ảnh, nhiều người đã an ủi rằng đó là nhiệm vụ của anh, vì anh là công an nên anh có trách nhiệm phải làm như vậy.

Anh có cho phép mình nghĩ thế không. Còn tôi thì không, không bao giờ. Sau lần đó tôi đã định bỏ học đến ở chăm sóc bố mẹ anh ấy. Tôi đã xin được làm vợ anh, làm con dâu của hai bác. Nhưng hai bác không cho. Bác gái ôm tôi khóc, bảo rằng nếu tôi thương hai bác, thương anh Nam  thì tôi phải tiếp tục đi học, và bác chỉ nhận tôi là con gái.

Tôi nghe lời bác tiếp tục đi học nhưng đã nguyện là không lấy chồng, để được suốt đời thay anh Nam chăm sóc bố mẹ anh. Nhưng cả hai bác đã mắng tôi, giận tôi, thậm chí nói sẽ không nhận tôi là con, sẽ cấm cửa không cho tôi vào nhà nếu tôi còn giữ ý định đó.

Và tôi đã gặp, đã yêu và lấy anh

… .

- Tôi yêu anh thực lòng. Hương Thảo đã bình tĩnh trở lại. Vì thế tôi mới lấy anh. Song tôi cũng nhận ra rằng anh rất rộng lượng trong giao tiếp vật chất, nhưng lại không phải là người quảng đại trong vấn đề tình cảm. Đó cũng là đặc điểm tâm lí thường thấy ở đàn ông các anh. Đã nhiều lần tôi muốn kể câu chuyện của tôi với anh, để thanh thản vì không phải giấu anh điều gì, và mong muốn được anh chia sẻ, nhưng anh đâu phải là một người đủ kiên nhẫn để nghe tâm sự của người khác…

Hương Thảo đã nói toạc ra thói ích kỉ của tôi làm tôi phát khùng:

- Thế còn những lá thư?

- Khi anh thông báo về việc chuyển nhà vào Nha Trang, tôi đã phải đấu tranh tư tưởng rất nhiều. Tôi chưa bao giờ muốn xa quê, và sau chuyện đó, tôi đã tự hứa dù có đi lấy chồng cũng vẫn sẽ luôn ở bên cạnh hai bác. Nhưng cũng lại chính là bác gái đã hiểu lòng tôi, khuyên tôi về cái đạo làm vợ. Bác ấy tốt như thế càng làm cho tôi khổ tâm hơn. Tôi chỉ còn một cách chăm sóc hai bác từ nơi xa xôi này là viết thư để hai bác không cảm thấy đơn độc…

… Có lẽ anh còn thắc mắc tại sao tôi lại luôn gửi thư bằng phong bì giấy pơluya màu xanh. Đó là một ý thích từ thời nhỏ của tôi. Tôi yêu màu xanh và luôn tự làm phong bì bằng giấy pơluya để gửi thư cho bạn bè. Nhưng thời đó chỉ là một ý thích, còn khi gửi cho mẹ anh Nam bằng những phong bì thư ấy, là tôi mong ước về một xã hội yên bình, và hứa với anh ấy sẽ luôn sống tốt…

Thôi, tôi xin anh nghe tôi chỉ ngần ấy. Tôi không làm phiền anh nữa.

Cô ấy đứng dậy đi thẳng, lặng lẽ như một dấu chấm than, không kịp để cho tôi có sự phản ứng nào.

 

*

*        *

 

Phải một tuần sau tôi mới đủ can đảm đến khu tập thể tìm vợ. Một tuần, đêm nào tôi cũng nghĩ về câu chuyện của cô ấy, nửa tin nửa ngờ. Tôi không ghen với Nam, nếu quả thực câu chuyện là đúng như thế. Nhưng có thực là có một câu chuyện như thế không, chuyện một người con gái mỗi tuần viết ba lá thư cho bố mẹ của một người đã cứu sống mình trong suốt bao năm qua… Cuộc đời nhiều năm lăn lộn trong thương trường và từng trải trong đời thường, tôi đã nghe đủ thứ chuyện, những chuyện tưởng như phi lí nằm ngoài óc suy đoán của người thường. Nhưng chuyện tương tự như của Hương Thảo thì tôi chưa bao giờ thấy, cũng chưa được nghe. Nếu chỉ để trả ơn thì cô ấy đâu cần phải vất vả như thế? Vậy thì vì sao, chỉ có thể vì cô ta đã quá nặng lòng với người con trai nọ, chẳng phải cô ấy đã muốn làm vợ anh ta rồi đấy ư? Nhưng Hương Thảo đâu phải là người có thể dối trá, nếu đúng có thế thì cô ấy không thể nồng nàn với tôi đến vậy. Thế là vì sao, lẽ nào... những phòng bì thư màu xanh…mong ước về một xã hội yên bình… sẽ luôn sống tốt… phải chăng là như vậy, là như vậy ư, hành động dũng cảm của người con trai trẻ đã làm cho cô ấy xúc động, và nhận ra trách nhiệm của mình trong việc sống xứng đáng với sự hy sinh của anh… Là vậy ư, tôi thở ra, thấy nhẹ bẫng, nhưng cùng lúc ấy, một cảm giác gần như là sự ngượng ngập, cảm giác của một kẻ có lỗi cũng âm ỉ bò lan trong ngực. Bao nhiêu năm qua tôi làm việc chỉ để kiếm tiền cho cuộc sống của tôi, tôi đã nghĩ rằng chỉ cần kiếm tiền và hưởng thụ cuộc sống, còn lại tất cả đều không quan trọng, và tôi đã làm thế, bàng quan trước tất cả những cái không động chạm đến quyền lợi của tôi, trước cả cuộc sống của vợ tôi… Liệu tôi có xứng đáng với cô ấy, có đủ can đảm xin cô ấy tha thứ không?…

… Hương Thảo đang lúi húi dạy cu Bi viết chữ. Tôi đứng trong bóng tối ngắm hai con người thân yêu của cuộc đời tôi. Lần đầu tiên tôi thấy lòng đau thắt khi nhìn dáng cô mảnh mai đến khiêm nhường. Tôi bước đến, lặng lẽ từ đằng sau vòng tay ôm lấy cô, ôm chặt cô vào lòng, tựa cằm trên mái tóc dài thơm mát của cô. Cu Bi vẫn cắm cúi tô chữ. Hương Thảo không quay đầu lại, nhưng cô ấy ở yên trong vòng tay tôi, và tôi có cảm giác một giọt nước ấm nóng rơi trên tay. Nghĩa là cô ấy đã tha thứ. Tôi run run ôm chặt cô hơn nữa, và nôn nóng nghĩ ra những từ thật nồng nàn để xin cô ấy tha thứ, để bày tỏ tình cảm yêu thương của tôi, tôi muốn nói với cô ấy là từ bây giờ trở đi, tôi sẽ cùng cô ấy làm tất cả những công việc trước kia chỉ mình cô làm, sẽ cùng cô đến viếng nghĩa trang liệt sỹ vào những ngày lễ, và gấp những phong bì thư màu xanh…

 

       Vĩnh Yên, ngày 1/7/2002


 

 

 

 

 

 

NGUYỄN HOÀNG LONG 

 

Bức tường ngăn

   

NHÀ XUẤT BẢN HỘI NHÀ VĂN, 2006

   

---------------------------------------------------------   

 

Tập Truyện ngắn đoạt Giải Khuyến khích,

 Giải thưởng VHNT tỉnh Vĩnh Phúc 5 năm lần thứ III

(2006 - 2010)


 

 

 

 

 

 

CHUYỆN TÌNH CỦA ÚT

 

Nhà ông Đậu thuộc diện có máu mặt và đông con. Các con ông đứa nào cũng to lớn, khỏe mạnh, đẹp trai, xinh gái. Chỉ riêng cô út nhỏ bé, quắt quéo nhất nhà. Ông bà đặt tên là Út. So với những người cùng chà cùng lứa ở làng, gương mặt Út không đến nỗi nào. Nhưng tiếc là cô bị dị tật khiến lưng cong gù từ nhỏ. Có người độc mồm độc miệng gọi luôn là “Út gù”.

Bù lại, Út có khuôn mặt đôn hậu, thanh tú, và thông minh, sắc sảo. Ai nhìn cũng tấm tắc khen. Nước da cô trắng hồng, mịn màng như trứng gà bóc. Lạ là má Út luôn hồng, môi luôn đỏ. Riêng chuyện này cũng là một đề tài hấp dẫn với các trai làng. Thanh quả quyết Út phải dùng son phấn mới đẹp đến thế. Toại là người gần nhà Út, thanh minh rằng Út không báo giờ dùng son phấn. Thật oan cho Út quá. Cuộc tranh cãi không có điểm dừng, không phân thắng bại.

Giàu con út, khó con út. Ông bà Đậu rất yêu thương và chiều chuộng cô. Các anh, các chị cũng dành tất cả và sẵn sàng hi sinh cho Út. Từ bé đến lớn, Út sống khá đầy đủ và sung sướng. Thương con tật nguyền, sức yếu, ông bà Đậu tập trung mọi nguồn vốn, mọi khả năng, mua đất xây nhà ngoài phố cho Út. Út mở cửa hàng bán tạp hóa. Ngày đêm Út ngoài cửa hàng, chỉ trưa, tối cô mới đoảng về nhà ăn cơm. Hôm nào cô bận hàng họ, ông Đậu phải ra ngủ trông hàng cho con.

Út buôn bán ngày một phát triển, hàng hóa ngày một nhiều, cô phải ở hẳn ngoài cửa hàng. Trưa tối, ông bà Đậu hoặc cháu phải mang cơm ra cho Út. Út bán hàng rất có duyên. Người đến mua hàng luôn được cô gửi tặng nụ cười tươi rói và lời nói dịu ngọt. Cửa hàng lúc nào cũng đông khách, cô bận bịu, tất bật suốt ngày. Tiền bạc cứ thi nhau kéo về nhà cô. Giờ đây không thiếu tiền, cô chỉ thiếu tình yêu.

Vậy nhưng, chưa có chàng trai nào đến với cô. Bạn bè hồi cùng học cấp III như cái Hoa, Đào, Huệ ở cái tuổi của Út đều có chồng cả rồi. Muộn mằn như cái Liên là bác sĩ cũng vừa cưới chồng. Cô đứng chờ ai? Có ai đến với cô không? Út sẽ trở thành bà cô và chết già mà chưa biết tình yêu là gì? Chưa biết đàn ông là thế nào? Khép cửa lại, cái vắng vẻ, lạnh lẽo làm cô thấy ghê sợ. Đêm nào cũng vậy, kiểm tiền, hàng xong Út mới đi ngủ. Cô nằm trằn trọc mãi mà không tài nào nhắm mắt nổi, tiếng thở dài não ruột tràn ngập, đầy ắp căn phòng vắng lạnh đến phát sợ.

Mỗi khi vào buồng tắm, nhìn thấy tấm gương, Út thấy mãn nguyện bởi cơ thể nõn nà con gái của cô. Bắp tay thon thả, đầy đặn, cân đối, tròn lẳn. Đôi bờ vai rắn chắc dâng cao. Ba đường chỉ kẻ đậm, hài hòa trên cái cổ trắng ngần. Tạo hóa ban tặng cô cái kiều diễm, rất quý phái chưa từng có. Bộ ngực căng đầy trắng mịn, đôi bông hồng đỏ chót duyên dáng, hấp dẫn đến kỳ lạ. Bắp chân thon thả trắng ngà. Nhưng  mỗi khi kỳ cọ, đưa tay về phía sau đụng vào cái lưng gù, cô vẫn run bắn lên, cảm giác buồn tủi dâng lên nhấn chìm Út xuống dòng sông buồn sâu thẳm. Cô oán trách tạo hóa bất công, độc ác, bắt cô đeo cái lưng gù.

Một buổi tối, Út vừa tắt điện lên giường nằm. Thì bỗng có tiếng gõ cửa dồn dập. Cô vùng dậy, bật công tắc điện, Út nghĩ bao nhiêu tiền bạc, hàng hóa đầy nhà, một mình cô thân gái, chân yếu tay mềm. Phải cẩn thận, cảnh giác, Út hỏi lớn:

- Ai gõ cửa?

Tiếng trả lời vọng vào:

- Tôi! Tôi đây mà!

Đúng rồi, bà Mai. Bà ấy ở gần nhà Út. Bà vẫn thường qua lại miếng trầu câu chuyện với mẹ. Bà Mai còn dạy mẹ kể hạnh. Hai bà vẫn thường ngủ với nhau. Bà ấy đến giờ này chắc có việc cần lắm. Nhìn qua khe cửa đúng là bà Mai rồi. Bà ấy đi có một mình. Út mở cửa thật mạnh, để đánh động với hai nhà bên cạnh. Cô ngọt ngào, đon đả:

- Chào bà! Có việc gì mà bà lận đận, mò mẫm tới khuya thế này?

Vừa bước vào nhà, bà Mai giải thích luôn:

- Cô thông cảm, ban ngày lúc nào cô cũng tíu tít, không ngơi tay bán hàng. Tôi phải chờ buổi tối vắng vẻ đến gặp cô.

Rồi bà vừa cười vừa nói:

- Tôi có tin vui tốt lành mang đến cho cô đây! Tôi quý ông bà bên nhà hiền lành, đức độ. Tôi thương cô nhân hậu, khéo ăn khéo ở, buôn bán giỏi. Tôi muốn giới thiệu cho một người.

Bà Mai dừng lại, vứt bỏ miếng bã trầu trong miệng. Tay bà lần vào túi áo lấy miếng trầu khác đưa vào miệng. Bà nhai bỏm bẻm để thăm dò Út. Rồi bà lại tiếp tục:

- Chẳng biết cô có ưng không?

Bất ngờ, Út chột dạ. Lần đầu tiên trong đời được nghe chuyện chồng con. Út vừa mừng vừa lo. Người ấy là ai? Già hay trẻ, tốt hay xấu? Người ấy có thông cảm với mình? Tại sao người ấy không tự đến tìm hiểu mà phải nhờ bà Mai? Từ chối ngay mang tiếng kiêu kỳ, đỏng đảnh. Tốt hơn hết là im lặng và lắng nghe. Bưng nước mời bà Mai, cô ngọt ngào, dịu dàng thưa:

- Có điều gì mong bà hết lòng dạy bảo.

Bà Mai lấy giọng phấn chấn nói:

- Chả là thế này. Ông Bình làng Yên, tuổi chừng sáu mươi. Ông là bố vợ thằng cả nhà tôi. Tóc muối tiêu nhưng còn khỏe lắm. Thằng An nhà tôi, chạy dài thua xa. Bà ấy xấu số qua đời. Ông ấy, nhà cửa khang trang, rộng rãi, tiện nghi đầy đủ. Nhà trên áo dưới, vườn tược rộng thênh thang, cây trái mùa nào thứ ấy chẳng thiếu gì! Tiền thu nhập từ ao, vườn mỗi năm hơn chục triệu. Cửa hàng của cháu còn thua xa, chạy mỏi chân mà không kịp. Hai đứa nhỏ, không phải bế đâu mà sợ, đứa học cấp 2, đứa học cấp 3. Ông Bình thấy cô được người được nết lại buôn bán giỏi. Ông ấy muốn kết bạn với cô. Theo tôi đám ấy nên quá, thật là sướng một đời.

Một nỗi buồn, lòng tự trọng ập tới, tràn ngập lòng Út. Giấu thật kín, cô khéo trả lời:

- Ông Bình đã biết cái lưng gù của cháu chưa?

Bà Mai đáp ngay:

- Biết quá đi chứ! Người ta quý nhau vì nết, yêu nhau vì tình, đâu vì hình dáng bên ngoài. Đẹp! Mài cái đẹp ra mà ăn à?

Út thủng thẳng nói:

- Khó quá! Con rể sáu mươi, bố vợ sáu mốt, gọi là bố thì không được rồi. Anh anh, em em thì ngang tai chướng mắt quá.

Bà Mai hăng hái, sổi nổi giải thích:

- Già trẻ thây kệ. Vợ chồng thì cứ là vợ chồng. Yêu nhau, thương nhau, tuổi tác già trẻ không quan trọng, không cản nổi.

- Cháu và ông Bình chưa biết nhau. Các con ông có chấp nhận? Tí tuổi đầu mà cháu phải làm lẽ?

Gia đình ông Bình nề nếp tốt lắm. Các con ông đều có học, rất biết điều. Làm lẽ mà như cả. Cô cứ nghĩ kĩ đi! Theo tôi, đám ấy nên quá. Đừng bỏ mà lỡ dịp may hiếm có.

Út tìm cách rút lui:

- Cháu cám ơn bà. Việc trăm năm bà để cháu suy nghĩ, cháu sẽ thưa lại với bà sau. Cháu còn phải thưa chuyện với bố mẹ, bàn bạc với các anh, các chị.

Bà Mai chẳng còn gì để nói. Bà xin phép ra về.

Hôm sau lời khước từ đến tai bà Mai. Bà giận Út, giận ông bà Đậu không biết dạy con. Hai nhà trở nên bất hòa, không ai đến nhà ai, thường xuyên xảy ra điều này, tiếng kia, nhiều khi chỉ vì con gà, con lợn, hai nhà xô xát, to tiếng với nhau.

Gần đây, có một người khách thường xuyên đến cửa hàng Út. Rất khó đoán tuổi, chừng bốn mươi. Nhưng qua cử chỉ, đi đứng, lời ăn tiếng nói, hơn bốn chục tuổi là cái chắc. Khi người đó đi ô tô bóng lộn sang trọng và đắt tiền. Lúc người đó đi Dream II mới cứng. Quần áo lúc nào cũng mới cóng, trang nhã lịch sự. Các đường li thẳng đừ, sắc như lưỡi dao, sờ tay không chừng đứt da thịt. Người ấy chắc phải là quan chức cao cấp. Đẹp trai, khỏe mạnh, phong thái rất đàn ông, mạnh mẽ dứt khoát và đầy bản lĩnh. Tiếng nói người ấy nhỏ nhẹ, ấm áp và rất có duyên. Khi nói to độ âm như chuông khánh. Lời nói vừa cởi mở, gần gũi lại vừa nghiêm trang đến lạnh lùng. Người ấy cất tiếng nói cứ như đổ mật vào tai. Cái miệng tươi như hoa, môi đỏ như con gái. Đôi mắt đen như hạt nhãn, trong như nước mùa thu. Mỗi khi chiếu mắt nhìn Út, khiến cô ngượng phải cúi gằm xuống và muốn cháy thành than. Dáng đi oai vệ, từ khuôn mặt bước đi, khiến Út vừa sợ, vừa mến yêu. So với Út, người đó hơi nhiều tuổi, Được, chẳng sao.

Mỗi khi đến mua hàng, người đó chỉ để ý, quan sát Út. Đôi khi Út liếc nhìn trộm, bắt gặp mắt chàng đang nhìn mình. Cả hai lại vội vàng quay đi và cảm thấy luyến tiếc. Cái nhìn như biết nói, đầy ắp những tình cảm. Người ấy như cánh chim vụt đậu, vụt bay đi.

Một chiều thu, anh đến mua hàng và nán lại nói chuyện cùng Út. Người bạn hàng ở bên nhà sang rủ cô đi Hà Nội lấy hàng. Út còn chần chừ chưa quyết định và trả lời:

- Tối nay, em sẽ trả lời chị Thục nhé. Nếu nhờ được bố em trông hàng, em sẽ đi cùng chị.

Chị Thục về khỏi, anh nói với Út:

- Ngày kia anh đi Hà Nội, anh sẽ đón em đúng sáu giờ sáng.

Út vui vẻ nhận lời ngay. Ngày hôm ấy, hai người rong ruổi khắp Hà Nội và đến những nơi cô cần. Trưa, anh lại đãi cơm cô. Anh mua tặng cô những món quà mà cô yêu thích.

Thời gian càng trôi về sau, anh và cô trở nên thân quen và gắn bó về mặt tình cảm. Như đã thỏa thuận, anh đi xe máy đến thăm cô. Anh chuẩn bị đầy đủ rượu và thức ăn. Khi ngồi xuống mâm, anh ép mãi cô mới uống rượu. Út nghĩ nhiều người con gái uống rượu say đã xảy ra những điều chẳng lành, làm hại cả cuộc đời. Phải cảnh giác. Nhưng chẳng lẽ để chàng mời mãi, nể tình, Út cũng đưa chén rượu lên môi rồi lại đặt xuống.

Rượu có sức mạnh làm anh hăng hái, sôi nổi hẳn lên. Anh nói:

- Em đẹp lắm. Đẹp hơn tất cả những người con gái mà anh đã gặp. Anh rất yêu em.

- Em đẹp vì cái lưng gù phải không anh?

- Em đẹp hơn người là nhờ nó. Cái lưng gù của em tạo thành một đường cong duyên dáng, uyển chuyển. Những người con gái khác cái lưng thuồn thuỗn, xấu mù. Lưng trời, lưng phật ban cho. Lưng vàng, lưng bạc em giàu sang nhờ cái lưng đó.

Nghe anh nói, Út vừa buồn cười, vừa tức giận. Cô nghiêm nét mặt trả lời:

- Anh nịnh em vừa thôi. Anh yêu em chỉ vì cái lưng gù? Anh dùng nó để chế giễu, khinh miệt tôi chứ gì?

Anh vội thanh minh:

- Anh xin lỗi. Cho anh xin lỗi. Có thể vì uống nhiều rượu, say quá, anh nói không chuẩn. Anh rất yêu em. Đó là sự thực, chân lý, như ánh sáng ban mai.

Cái gì đến thì phải đến. Con cáo không thể giấu mãi cái đuôi, lâu dần cái đuôi cũng phải lòi ra. Anh nói:

- Anh tốt nghiệp đại học tại Liên Xô, hiện nay làm giám đốc một công ty lớn. Gia đình anh có mấy đời “độc đinh”. Đến đời anh chẳng còn cái “đinh” nào. Vợ anh đẻ một mạch liền “ba con vịt giời”. Rồi đây, anh phải kế chức vị trưởng họ của bố anh. Dòng tộc nhà anh lớn lắm, nhiều người thành đạt, danh giá lắm. Gia đình thúc ép. Anh khát nước đi tìm dừa. Qua nhiều nguồn anh tìm hiểu rất kỹ về em. Bố mẹ anh đã đi xem nhiều thầy danh tiếng. Thầy nào cũng nói chỉ em mới giúp anh qua được cơn khát, mới cho anh được một “thằng cu”. Tiền anh chẳng thiếu. Tình, anh lại càng dư thừa. Anh chỉ thiếu người nối dõi dòng tộc. Anh xin em, em sẽ là bà hoàng của dòng họ danh giá nhất ở một địa phương.

Út im lặng, cô tìm câu trả lời thật thích đáng. Lợi dụng khi ấy, anh nắm tay Út. Anh chồm tới, vồ lấy cô. Cô đẩy mạnh anh ra bằng giọng nói đanh thép, kiên quyết trả lời anh:

- Anh nghe rõ đây. Nếu đầu óc tôi mù quáng, trái tim yếu ớt, chắc tôi sa lưới của anh rồi. Anh chiếm đoạt cả đời con gái của tôi và được đứa con. Anh chẳng mất gì, đúng hơn là mất công thả lưới, giăng câu bấy lâu nay. Nếu tôi đẻ con trai. Nó là đứa con hoang, nhận hay không là quyền của anh. Nó đẹp trai thông minh, tôi nuôi lớn khôn, anh đón về làm cảnh cho ngôi biệt thự. Chẳng may tật nguyền như mẹ nó. Anh nhận làm gì cho xấu mặt. Nếu tôi đẻ con gái, anh sẵn sàng quên luôn. Mẹ con “nhà vịt giời” tự do bay. Nếu tôi vô sinh, bông hoa đã hiến dâng hương sắc, mật ngọt cho ong, ong vày nát, ong bay đi. Tôi và vợ anh nhảy vào cuộc chiến không cân sức, không cân thế. Tôi thua cả về pháp lý và đạo lý. Tôi cầm chắc cái chết trong tay, anh đứng ngoài cuộc. Anh khôn lắm, đỉnh cao của sự tính toán, tột cùng của sự lừa gạt. Nhờ anh tôi hiểu thêm bài học về cuộc sống.

Anh tỉnh lại sau cơn say cơn mê, miệng lắp bắp:

- Anh xin lỗi em. Anh xin lỗi…

Út cướp lời:

- Chắc anh nghĩ, người con gái lưng gù, tật nguyền, xấu xí như tôi, được người con trai đẹp, giàu có và đầy quyền lực vuốt ve, âu yếm thì chiếm đoạt dễ như trở bàn tay? Anh nhầm to rồi. Anh đánh giá mình quá cao, nhìn tôi quá thấp. Với đồng lương của anh, nuôi bố mẹ già và vợ nông dân cùng ba đứa con nhỏ đã đủ mệt rồi. Anh còn mang tiền bạc để mua chuộc dụ dỗ tôi. Tài thật, tôi xin bái phục anh.

Bộ mặt nhân đức, hiền từ, lời nói êm dịu, ngọt ngào biến mất. Người ấy thét lớn:

- Thôi đủ rồi! Im đi!

Người đó tức giận, đứng dậy, dắt xe bỏ về. Út mở cửa bình tĩnh dịu dàng nói:

- Cảm ơn anh đã tới thăm.

Vào buổi sáng chiều cuối đông, trời rét đậm, gió bấc thổi vù vù. Ngồi bán hàng trong nhà kín, Út mặc áo ấm mà như muốn cắt da, cắt thịt. Một chiếc ô tô sang trọng dừng lại trước cửa hàng. Từ trên xe bước xuống, người đàn ông trạc bốn mươi, vẻ ngoài bảnh bao, lịch lãm. Người đó tự giới thiệu tên là Doanh, bạn học cũ của Cẩm. Út tạm đóng cửa hàng mời anh ta ngồi uống nước.

- Thời giờ đối với anh là vàng bạc - Anh ta vào chuyện ngay - Chắc Cẩm đã nói kỹ với em rồi, anh đến gặp em để bàn việc đó. Anh là Phó Giám đốc một ngành của tỉnh. Đường công danh còn rộng thênh thang. Nhưng vì gia đình riêng, vợ mắc bệnh vô sinh. Anh chỉ cầu xin Út một đứa con. Sau này tất cả nhà cửa, tài sản của anh thuộc về em hết.

- Còn vợ anh thì sao?

- Cái bà già ấy thì nói làm gì. Bà ta hơn anh những ba tuổi. Hôn nhân là do hai bên bố mẹ sắp đặt. Bà ấy ngửi thấy mùi bùn đất rồi, không lâu nữa sẽ ra đi.

- Cẩm cũng nhiều lần nói với tôi. Nhưng anh lầm to rồi. Người con gái lưng gù, xấu xí nhưng không dễ dàng lừa gạt và chiếm đoạt. Đàn bà, con gái không phải là cái túi đựng những toan tính của đàn ông?

Người ấy tức lắm, hằm hằm, đằng đằng sát khí đứng dậy bỏ về.

- Cô và Cẩm đã lừa dối tôi.

- Khi Cẩm nói, tôi chỉ cười. Vì nể Cẩm là chị dâu con ông bác - Út nhìn thẳng vào mắt anh ta, từ tốn nói.

Út buồn lắm. Cô không xấu, không hèn, không đần độn. Chỉ vì cái lưng gù, mà cô phải chịu đựng bao nhiêu nỗi đau. Chính nó là cái cớ để những đấng mày râu giàu có và quyền lực dùng để lợi dụng nhằm thỏa mãn những mục đích riêng. Vì cái lưng gù mà duyên phận cô hẩm hiu và bị coi thường. Tạo hóa không công bằng với Út. Cô không làm gì nên tội mà chịu khổ cả đời. Nếu nước mắt có thể làm tiêu tan cái lưng gù, Út sẽ vắt kiệt để khóc. Nếu tiền bạc, vàng mà chữa được cái lưng gù, cô xin đánh đổi tất cả. Cô quyết không để bị lừa gạt, làm nhục và khinh bỉ bởi cái lưng gù bẩm sinh.

Ba mươi tuổi đã toan về già, Út cảm thấy lo lắng và sốt ruột. Năm tháng qua đi, căn phòng vẫn trống vắng lạnh lẽo. Chỉ có hàng hóa bày la liệt trong nhà, tiền bạc kiếm được nhiều hơn.

Thế rồi Tân - chàng thiếu tá bộ đội “duyên phận nghịch chiều” đóng quân gần đó đến với Út. Anh không đẹp trai, hào hoa, lịch lãm và dẻo miệng bẻm mép như bao người khác. Bù lại, Tân khỏe mạnh hiền lành, thật thà, rất yêu thương cô. Anh mồ côi cha mẹ từ nhỏ, phải ở với ông bà ngoại. Ông bà cưới vợ cho anh, rồi họ lần lượt đi vào cõi vĩnh hằng. Người thân yêu duy nhất còn lại của Tân là vợ anh. Đơn vị ở xa, ít có dịp về thăm nhà. Sức dài vai rộng, vợ anh làm không đủ ăn, hàng tháng chờ chồng gửi tiền về. Chị mắc “căn bệnh” khó chữa, như các cụ nói: “Muốn ăn ngon” nhưng lại chỉ “tìm việc cỏn con mà làm”. Thường mỗi năm Tân về phép một lần. Cá biệt có khi hai năm anh mới về phép. Về tới nhà, anh chỉ mong được gặp vợ. Thế nhưng, một lần Tân về phép, vợ anh vác cái bụng bằng cái rá mẹ đến gặp chồng. Chị ta trơ tráo, ngang nhiên nói:

- Đứa con trong bụng tôi là con người ta. Nếu anh không về thì tôi cũng sống với người ta. Nhân dịp anh về, may quá chúng ta làm đơn ly dị. Tôi đến ở với người ta, anh đi lấy người khác.

Tân đưa mắt nhìn vợ, nhìn cái bụng cô ta. Anh ký đơn ly dị liền và vác ba lô về đơn vị. Chị ta phản bội Tân để chạy theo người đàn ông đã luống tuổi, giàu có, đã có vợ với mấy con.

Từ đó Tân căm ghét đàn bà, khi nghe bạn bè nói đến chuyện vợ con, anh lặng thinh, coi như không nghe, không biết. Nhưng khi gặp Út anh đem lòng yêu thương. Út cũng rất yêu anh. Tình yêu của Tân - Út được xây dựng trên nền tảng thông cảm và yêu thương nhau. Vậy nhưng khi họ sắp làm đám cưới, các ông “phó ngang” quê Út liền dựng chuyện Tân lấy Út vì hám tiền của. Út dùng tiền bạc để mua chuộc anh. Anh Tân thuộc dạng “vợ bỏ, lỡ làng” mới phải lấy Út. Nhưng cả Tân và Út bỏ ngoài tai tất cả, không ai ngăn nổi, cản phá nổi tình yêu của Tân với Út. Họ là đôi vợ chồng hạnh phúc.

Hằng ngày, sau giờ làm việc, Tân vội chạy về nhà với vợ. Anh khuân vác, dọn dẹp hàng hóa để Út lo cơm nước. Quần áo anh không bao giờ để Út phải giặt với cái lí: “Quần áo bộ đội nặng, dày, khó giặt, nhân tiện anh giặt luôn cho em có sao đâu”. Xuất thân trong gia đình nghèo khổ, Tân rất chịu khó lại tiết kiệm, việc gì cũng biết làm.

Út có thai, vợ chồng vui sướng tự hào. Cái thai làm thay đổi dáng đi của chị. Nếu như trước đây chị hơi cúi người về phía trước. Thì bây giờ, đứa con giúp mẹ ngả người về phía sau. Thân hình Út trở nên cân đối đẹp đẽ duyên dáng hơn. Ông bà Đậu, các anh chị cả khu phố đều mừng cho Út.

Đêm nào Út cũng kéo tay chồng đặt lên bụng mình:

- Anh có thấy con của chúng ta đạp không?

Tân nhẹ nhàng đặt tay lên bụng vợ. Anh ngồi dậy, áp tai để nghe:

Nghe tiếng con đạp, anh khẽ nói:

- Cu cậu sau này nghịch phải biết, chứ không như bố.

- Anh muốn đẻ con trai trước à?

- Con nào cũng được.

Anh nói: “Cu cậu sau này nghịch phải biết, chứ không hiền như bố”. Anh muốn em đẻ con trai phải không?

- Đẻ con trai vẫn sướng hơn

Vào buổi chiều. Nắng thu nhạt dần, những cành bàng lá vàng rực trước cửa. Từ sáng tới giờ Út thấy máy mắt liên tục. Chị đứng ngồi không yên và cảm thấy lo lo. Nhưng chẳng hiểu vì sao?

Bỗng đơn vị cử người đến thăm. Người ấy, vừa kín, vừa hở nói cho Út biết. Sáng nay, Tân đi truy lùng bọn tội phạm nguy hiểm, không may bị thương nhẹ thôi. Tân được đưa về Hà Nội. Thay mặt đơn vị tôi cho xe đến đón chị tới thăm anh. Như một tiếng sét đánh giữa trời quang mây tạnh, Út ngất gục giữa sân nhà, mặt mày xanh như tàu lá.

Tới nơi, chị chạy tới ôm choàng lấy Tân. Miệng kêu gào, than khóc đến lạc cả giọng: “Anh Tân ơi! Anh đừng chết. Anh phải sống với em và con. Anh Tân ơi anh còn chưa thấy con kia mà. Em cứ nghĩ, duyên phận chúng ta phải chiều thì được sống mãi mãi bên nhau”. Miệng gọi, tay Út lay mạnh vào người chồng. Anh lạnh dần, anh đi thật rồi, Út vội vàng vuốt mắt chồng.

Út vật vã, than khóc thảm thiết, chị ngất đi, tỉnh lại nhiều lần. Mọi người xúm vào cấp cứu cho chị.

Ông bà Đậu thương con đến đứt ruột đứt gan. Ông vừa khóc vừa nói:

- Tân là người tốt, thật hiếm có, con và Tân sống hạnh phúc bố mẹ rất mừng. Nhưng số phận của Tân chỉ thế thôi. Nó hy sinh vì dân, vì nước, vì sự bình an cho mọi người. Tân ra đi, phận nó đã đành. Trách nhiệm của con lớn lắm. Cái thai trong bụng, giọt máu Tân để lại, con phải vượt lên đau khổ, cố gắng ăn uống giữ gìn sức khỏe để nuôi con. Con cứ khóc mãi và không ăn uống gì, đứa nhỏ sống bằng gì.

Thời gian trôi đi, nỗi đau lòng Út nguôi dần, như nồi nước sôi lâu dần cũng phải nguội. Út nghĩ đến trách nhiệm làm vợ, làm mẹ, chị gượng đứng dậy.

Ba tháng sau chị sinh con trai. Thằng bé khỏe mạnh, kháu khỉnh. Nó giống Tân về vóc dáng, sức khỏe, nhất là cái mũi thẳng, đôi mắt xếch. Nó giống mẹ cái miệng và nước da. Cả nhà, cả tổ dân phố đều mừng cho Út. Thằng bé được mọi người chuyền tay nhau bồng bế.

Ôm con vào lòng, niềm vui tràn ngập trong lòng chị, chị càng thương nhớ chồng khôn nguôi. Chị thầm hứa với anh: “Anh yên tâm, em sẽ nuôi con khôn lớn trưởng thành để kế tục sự nghiệp của anh”.

 

 

 

 

 

 

 

LỜI TỪ BIỆT TRƯỚC CỬA THIỀN

 

Từ ngày về nước và đứng trên bụng giảng được hơn năm năm, Hoà có dịp tiếp xúc, làm quen với nhiều cô gái, với hàng trăm nữ sinh viên. Nhưng không người con gái hay nữ sinh nào lọt vào “mắt xanh” của anh. Mỗi người một vẻ, được mặt này lại hỏng mặt khác. Nhưng có lẽ, cái chính là anh còn nhớ tới Ngọc, mối tình đầu ở quê nhà, nơi có dòng kênh xanh thắm, nhẹ nhàng trôi với bao nhiêu kỷ niệm đẹp. Vậy nhưng gần đây, cuộc gặp gỡ với Minh Hương đã làm anh xao xuyến, như bị hút hồn. Hương có đôi mắt đen lay láy và sâu thăm thẳm, thật quyến rũ. Thoáng nhìn hơi buồn, nhìn lâu thấy đẹp và thông minh lạ thường. Cái mũi dọc dừa, cao như mũi người châu Âu. Cái miệng xinh tươi, đôi môi đỏ mà chẳng cần thoa son. Hàm răng trắng tinh đều đặn như hạt lựu. Nước da trắng mịn như hoa lan, hoa huệ. Mười ngón tay như búp măng non, đẹp như ngón tay tượng phật bà. Minh Hương không chỉ đẹp người mà còn đẹp nết. Đối với bạn bè, nàng luôn cởi mở, gần gũi và sẵn sàng giúp đỡ. Nàng có giọng nói êm dịu, ngọt như mía nướng, cứ như rót mật vào tai người nghe.

Ở Minh Hương có gì đó như là khiêm tốn, biết tự trọng và cẩn thận mỗi khi giao tiếp với thầy và người lớn tuổi. Một đôi lần anh gặp nàng ở cổng trường, trước cửa lớp, nàng khẽ cúi đầu, tươi cười nhỏ nhẹ: “Em chào thầy” rồi lặng lẽ bước đi. Nhưng nhiều lần ở trên lớp, anh thấy đôi mắt nàng thường chăm chú nhìn anh, vẻ đắm say. Đôi mắt ấy như muốn nói với anh bao điều thầm kín. Nhưng ngay lập tức, anh phản đối chính mình: “Ngồi trên lớp, đã là sinh viên đều phải có ý học tập, tai lắng nghe, mắt nhìn thầy giảng bài là chuyện quá bình thường”. Cẩn thận hơn, liên tiếp ba bốn giờ sau, Hoà cố ý dừng lại để nhìn nàng. Quả nhiên, anh bắt quả tang nàng nhìn trộm anh. Không những thế, đôi mắt còn gửi tất cả tình cảm trìu mến của nàng. Nhưng anh cứ lờ đi như không nhìn, không biết.

Khuya lắm rồi, Hoà trằn trọc, suy nghĩ mãi không tài nào chợp mắt nổi. Đôi mắt này đã thuộc về anh? Anh quên Ngọc rồi sao? Anh đã chờ nàng gần 20 năm chứ ít đâu. Bao nhiêu người cùng thời với anh đều đã lấy vợ sinh con. Chiến tranh mà… Trái tim anh rộn ràng hẳn lên, đầu óc phấn chấn và quyết tâm.

Buổi học kết thúc, anh dặn nàng ở lại gặp riêng để bàn biện pháp nâng cao chất lượng học tập của lớp, vì nàng là lớp phó phụ trách học tập. Hôm đó, anh đã tỏ tình với nàng. Nàng e ấp đón nhận tình cảm của anh.

Mưa dầm, lâu dần ướt áo, Hoà và Minh Hương yêu nhau tha thiết. hai người dự định khi nàng ra trường sẽ làm lễ cưới. Lúc này nàng đã là cô giáo, mối tình của hai người không bị quan hệ thầy trò ràng buộc nữa. Anh bốn mươi, nàng ngoài hai mươi. Tuổi tác chênh lệch nhưng đã yêu nhau, điều đó sẽ dễ dàng vượt qua.

Mạ già ruộng ngấu, cưới nhau vừa trọn một năm, nàng sinh cho anh một “hoàng tử” thật khôi ngô, khoẻ mạnh. Giống anh về vóc sáng, đôi mắt trong veo và sắc sảo. Giống nàng ở nước da và cái miệng xinh xinh.

Hai năm sau, Hương lại cho ra đời một “công chúa”. Cả anh và nàng đều mãn nguyện và hạnh phúc. Đúng khi ấy, miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất, Hoà được điều về quê công tác, anh hồ hởi lên đường. Minh Hương vui buồn lẫn lộn. Mừng đất nước hoà bình, thống nhất, anh được trở về quê hương công tác nhưng nàng lại lo sợ sự cách xa... Hoà dặn vợ:

- Em cứ yên tâm nuôi con. Anh về quê sẽ chuẩn bị nhà cửa và mọi điều kiện. Khi nào ổn định anh sẽ trở ra đón em và con.

Minh Hương khóc thút thít, nghẹn ngào nói:

- Về tới trong đó, anh nhớ biên thư ra ngay để em yên tâm. Anh nhớ kể cho em biết về hoàn cảnh gia đình, người thân. Ai còn, ai mất? Anh cố gắng giữ gìn sức khoẻ và cẩn thận trước mọi quan hệ để thoát khỏi những viên đạn bọc đường. Ổn định rồi phải đón em và con vào ngay.

Anh vỗ về vợ và hứa:

- Từng này tuổi đầu, anh biết mình phải làm gì. Xin nhớ lời em dặn.

Về tới Sài Gòn, với tấm bằng phó tiến sĩ, Hoà được bố trí làm phó giám đốc một ngành. Mặc dù bận bịu, xong anh cũng thu xếp về thăm quê ít ngày.

Về tới quê, anh được biết ba anh hy sinh từ hồi Mậu Thân, má anh theo Hồng Ngọc lên Sài Gòn ở. Tại sao má lại theo Hồng Ngọc lên Sài Gòn? Chẳng lẽ má phải sống nhờ nàng? Ngọc lấy tư cách gì để nuôi má? Từng ấy câu hỏi trong anh mà chưa có lời giải đáp.

Anh và Hồng Ngọc cùng quê. Anh hơn nàng một tuổi. Anh cùng học một lớp với Hồng Ngọc. Ba má Ngọc buôn bán ngoài chợ, thuộc diện có máu mặt. Nàng có khuôn mặt tròn đầy như vầng trăng, đôi mắt bồ câu hiền từ, nhân hậu, dáng người tầm thước, khoẻ mạnh, hoạt bát. Với nước da đen giòn và rắn chắc. Thủa học trò, hằng ngày, Hoà chèo xuống ghé qua chợ đón Ngọc đi học. Nhiều buổi, tan học, mải mê hái hoa, tìm trái cây bên bờ kênh mãi tới trăng lên mới về nhà. Nàng bị ba má rầy la và đe không cho đi học nhưng Ngọc rất thông minh nên ba má chỉ nói vậy thôi. Một lần khác, hai đứa mải nói chuyện, đùa rỡn làm xuồng chòng chành, chao đảo, xoay chong chóng rồi lật úp hất cả hai xuống kênh. Hồng Ngọc vùng vẫy mãi mới thoát ra được. Hoà phải dùng hết sức lực để lật xuống trở lại và dìu Ngọc lên xuồng. Ngọc hốt hoảng, mặt mày xanh lét, cắt không còn giọt máu. Hoà mệt nhoài, thở như kéo bễ. Cả hai ướt như chuột lội nước, Ngọc mặt đỏ bừng nhớ lại lúc Hoà nhấc mình đưa lên xuồng. Tự nhiên Ngọc có cảm giác vừa sung sướng lại vừa e thẹn. Hoà nhìn thẳng vào mắt Ngọc nói: “Ước gì được ôm em mãi mãi”. Cả hai đều bối rối và nhớ mãi kỷ niệm này.

Thế rồi, một hôm Hoà nắm tay Ngọc thủ thỉ:

- Anh rất yêu em! Em đồng ý làm vợ anh nhé!

Ngọc để yên bàn tay nhỏ nhắn trong bàn tay ấm áp của Hoà. Nàng nhìn anh trìu mến. Hoà lắc lắc tay Ngọc, giục:

- Em trả lời câu hỏi của anh đi.

Ngọc lặng lẽ bỏ đi. Hoà đuổi theo và giữ Ngọc lại. Anh ôm choàng lấy Ngọc. Ngọc phải khẩn khoản:

- Buông em ra, nhỡ ai trông thấy thì khốn.

Hoà đánh bài liều, ghì chặt lấy Ngọc và ra điều kiện:

- Nếu em không trả lời, anh không buông.

Im lặng. Một lúc sau, Ngọc e thẹn, ấp úng trả lời:

- Yêu! Nhưng chờ đến khi học xong mới tính chuyện hôn nhân.

Hoà liều mạng, đặt nụ hồn nồng cháy đầu tiên lên má Ngọc. Nàng cúi mặt thẹn thùng, hai tay đấm vào ngực Hoà: “Em cấm, cấm ngặt!”.

Gia đình Hoà là gia đình cách mạng. Ba anh đi thoát ly. Má anh hoạt động ở địa phương. Hoà được ra Bắc tập kết. Trước khi đi, Ngọc tặng anh chiếc khăn rằn, gửi vào đó lòng chung thuỷ. Chuyện tình cảm của Hoà và Ngọc được cả hai gia đình chấp nhận tác thành.  

 

 

*

*      *

 

 

Hoà lên Sài Gòn tìm Hồng Ngọc. Nhưng tìm nàng như thể tìm chim, mò kim đáy biển. Hoà dò hởi gần khắp hàng ngũ giáo chức mà vẫn bặt vô âm tín. Một buổi chiều, Hoà tới thăm người bạn xưa. Thấy tấm hình của vợ anh bạn chụp chung với một phụ nữ. Hoà dừng lại nhìn kỹ tấm hình. Càng nhìn, anh càng thấy giống Hồng Ngọc. Bỗng anh cất tiếng reo khe khẽ: “Nàng đây rồi”. Anh hỏi bạn:

- Người này là ai? Bây giờ ở đâu?

Bạn anh trả lời:

- Cô ấy là Nguyệt Nga cùng dạy một trường với bà xã mình. Nàng ấy đúng là Nguyệt Nga. Hai mươi năm có lẻ chờ người yêu, chẳng kém Nguyệt Nga chờ Vân Tiên. Hơn thế nữa, Nguyệt Nga còn nuôi má người yêu hàng chục năm trời. Khi bà cụ mất, nàng chôn cất tử tế và thờ cúng như nàng dâu hiếu thảo. Xúc động và khâm phục quá phải không?

Hoà bộc bạch:

- Người này mình rất quen. Tên của nàng còn đẹp hơn thế nữa. Anh có thể đưa tôi đến gặp nàng? Biết đâu chẳng là người thân mà tôi đang tìm kiếm.

- Hôm nay thì không được rồi, bà xã mình đi vắng, mình không biết nhà cô ấy.

Vào một buổi chiều nắng đẹp, rực rỡ, chan hoà ánh sáng, Hoà đem theo sự hồi hộp cùng niềm vui đến nhà bạn. Anh được vợ bạn dẫn đến nhà Nguyệt Nga. Qua nhiều đường phố, rẽ vào ngõ ngách, Hoà chuẩn bị tâm lý sẽ được gặp Nguyệt Nga chính là Hồng Ngọc của anh thì vui sướng biết bao. Nhưng nếu Nguyệt Nga là một người xa lạ, anh sẽ đối xử với cô ấy như thế nào? Mải nghĩ, anh và vợ người bạn đã dừng lại trước cửa căn nhà bé nhỏ, đơn sơ.

Cánh cửa vừa mở, chủ nhân vừa cất tiếng chào khách, Hoà đã bật kêu to: Hồng Ngọc. Nàng cũng thốt lên: Anh Hoà!... rồi khuỵu xuống trước cửa. Hoà và người bạn chạy tới dìu nàng dậy.

- Vì sao em phải thay họ, đổi tên và chuyển lên Sài Gòn? Anh đã tìm em suốt từ ngày giải phóng đến nay!

- Chuyện dài lắm anh à! Hồng Ngọc nhẹ đáp.

Người bạn kiếm cớ bận việc rút lui để hai người được tự do. Hồng Ngọc kể:

- Anh đi được hai năm, em trở thành cô giáo làng, đêm ngày mong chờ anh trở về. Nhiều đêm, mơ thấy anh ôm em như ngày nào. Em để mặc cho anh hôn đến ngạt thở. Em ao ước, chúng ta được hiến dâng cho nhau. Em sẽ sinh cho anh một đàn con. Vợ chồng mình cùng dạy học, nuôi con và chăm sóc cha má già.

Hoà cắt ngang lời Ngọc:

- Bây giờ anh cũng cùng nghề với em. Em dạy tiểu học, anh dạy đại học. Thế là ước mơ của em thành sự thật rồi nhé!

Hồng Ngọc kể tiếp:

- Giấc mơ chẳng thành sự thật, càng chờ, càng chẳng thấy và cứ dài dằng dặc. Nhưng em vẫn tin ở ngày mai anh sẽ trở về. Ở quê tụi nó làm khó hoài. Vì chúng biết em liên quan đến người phía bên kia. Tên sĩ quan đồn trưởng thường xuyên đến nhà ve vãn, dụ dỗ, mua chuộc, đe dọa em. Vì muốn giữ danh tiết khỏi bị vấy bùn, em thay họ đổi tên rồi bí mật chuyển lên Sài Gòn dạy học. Sở dĩ em đổi tên Nguyệt Nga là để luôn nhắc nhở mình chung thuỷ, đợi chờ anh cả đời theo gương Nguyệt Nga chờ Lục Vân Tiên. Còn lý do hết sức quan trọng nữa, ba anh hy sinh từ hồi Mậu Thân, má bị bắt giam đày ở Sài Gòn. Em lên đó kiếm sống và triệu thăm nuôi má. Đến khi má được trả tự do, đòn tra của giặc khiến má thành tàn phế. Em đón má về nuôi, em là người thân duy nhất của má. Lương giáo viên tiểu học, ít ỏi em còn làm đủ nghề để có tiền sinh hoạt cho hai má con. Tiền thuốc thang cho má. Em phải dậy từ bốn giờ sáng đi đưa hàng thuê bằng chiếc xe đạp cũ kỹ, cọc cạch. Có buổi xe hỏng, đến trường muộn, bị bà Hiệu trưởng quở trách hoài. Buổi tối, em đi bán thuốc lá ở rạp hát, bến tàu, bến xe. Khuya về mệt nhoài ngủ thiếp đi. Bệnh tật của má ngày một nặng, vì những đòn tra tấn dã man của kẻ thù. Em được má giác ngộ cách mạng và trở thành đầu mối giao liên bí mật trong thành...

Năm 1970, má qua đời. Em phải vay mượn tiền của bạn bè để chôn cất mồ yên mả đẹp cho má. Từ đó đến nay, em là người đèn nhang, giỗ tết cho má. Đây là bàn thờ má. Anh đến thắp cho má tuần nhang, báo với má anh đã trở về.

Hoà đứng dậy vội vàng đến bàn thờ má. Anh xúc động, nước mắt giàn giụa. Chắp tay trước ngực anh khấn:

- Thưa má! Con đã về. Má và con mãi mãi biết ơn Ngọc.  Ngọc đã thay con nuôi dưỡng, chăm sóc má rất tận tuỵ. Khi má quy tiên, Ngọc chôn cất má mồ yên mả đẹp và thờ cúng má suốt những năm qua. Con xin phép má làm lễ cưới tạ ơn Ngọc.

Ngọc cắt lời Hoà:

- Tất cả những gì anh nói với má, em xin ghi lòng tạc dạ, khắc cốt ghi xương. Nhưng anh muốn cưới em để tạ ơn thì xin cho em thêm một thời gian suy nghĩ đã.

Hoà vội thanh minh:

- Kìa em! Anh rất thật lòng. Anh muốn chúng ta làm lễ cưới ngay ngày mai.

Hai mươi năm có lẻ chờ đợi còn được, đi đâu mà vội vàng thế anh. Xin anh nghe nốt đoạn sau khi má qua đời. Hồng Ngọc vừa khóc vừa kể:

- Má ra đi để lại cho em niềm tiếc thương vô hạn và nỗi trống vắng cô đơn. Đêm nào, em cũng mơ thấy má. Má ân cần, an ủi em mỗi khi em đi làm về. Má đi rồi, em chồng chất những khoản nợ lo chôn cất cho má. Túng quá, em phải bán máu, bán tóc để lấy tiền trả nợ. Ngày xưa, tóc em dài chấm gót, mỗi khi gội đầu phải đứng trên ghế chải tóc. Bây giờ tóc em chỉ còn ngắn cũn cỡn vậy, xấu lắm phải không anh? Gặp lại anh là em mãn nguyện và bõ công đợi chờ rồi.

Ngọc dứt lời kể, cả hai người cùng khóc.

Vào một buổi sáng chủ nhật, Hồng Ngọc đến thăm Hoà. Ngọc mặc bộ áo dài màu vàng nhạt. Nàng thoa chút phấn lên mặt và tô môi đỏ cho tươi tắn, móng tay, móng chân tô màu bạch kim dịu dàng. Lần đầu tiên sau ngày giải phóng, nàng trang điểm. Hồng Ngọc vừa bước vào nhà, Hoà sửng sốt reo lên:

- Trời ơi! Hôm nay em đẹp quá.

- Đẹp như bà già phải không anh? Em đã ngoài bốn mươi tuổi rồi mà. Cả tuổi thanh xuân dành để chờ anh...

Hoà lên lầu lấy những tấm ảnh hồi du học ở Liên Xô cho nàng coi:

Bỗng có tiếng chuông: Reng! reng! reng!... Hồng Ngọc ra mở cửa. Trước mặt chị, một người phụ nữ trẻ đẹp, tay bế con nhỏ, tay dắt con lớn. Người lái xe ôm đang đỡ đồ đạc, hành lý xuống:

Hồng Ngọc tươi cười, lịch sự hỏi:

- Chị tìm ai? Có việc gì?

- Em là vợ anh Hoà. Đây là hai con của anh ấy!

Hồng Ngọc tối sầm mặt lại. Mắt nhoà đi. Đầu óc quay cuồng, choáng váng. Chị có cảm giác ngôi nhà ba tầng như sụp đổ, gạch bắn tứ tung. Tim chị đập liên hồi như trống trận. Nhưng vốn là người từng trải nên Ngọc trấn tĩnh được ngay. Chị dịu dàng:

- Em bế cháu vô nhà đi!

Nói xong, chị chạy tới dắt con trai Hoà vô nhà, miệng khen:

- Ồ cháu trai xinh quá. Giống cha như đúc, giống mẹ như tạc. Đoạn chị quay ra bảo người đạp xích lô chuyển đồ vô nhà. Đưa vợ con Hoà vào nhà xong, Ngọc quay trở ra, lặng lẽ gọi xe ôm ra về, bỏ lại chiếc xe đạp.

Hoà trên lầu bước xuống, anh ngạc nhiên, thẫn thờ trước sự xuất hiện của ba mẹ con Minh Hương. Tuấn Minh chạy lại ôm chầm lấy cha. Hương trao đứa con gái nhỏ cho Hoà để bác lái xe mang các thứ vào nhà. Bỗng Hoà sực nhớ tới Ngọc. Anh sững sờ, hốt hoảng hỏi:

- Nguyệt Nga đâu em?

- Nguyệt Nga nào?

- Nguyệt Nga vừa tới thăm anh đấy thôi.

- Chị ấy vừa dắt Tuấn Minh vào nhà. Chị ấy đi đâu mà nhanh thế nhỉ? Chị ấy là gì với anh?

- Chị ấy là giáo chức chế độ cũ. Chị ấy vừa tới thăm anh.

- Vậy sao! Anh chạy ra ngoài cổng, mời chị ấy ở lại liên hoan với gia đình mình.

Hoà lật đật chạy ra ngoài. Anh nhìn trước, ngó sau mà chẳng thấy Hồng Ngọc. Anh hỏi thăm mấy bà bán quán ven đường. Họ đều trả lời: “Chị ấy gọi xe ôm đi rồi”. Lòng Hoà dâng đầy nỗi ái ngại về Hồng Ngọc, nhưng anh không nói cho Hương biết.

Kể từ khi Hương đột ngột dẫn con vào, thái độ Hoà không được vui. Anh cố giấu vợ con. Hoà giúp Minh Hương dọn dẹp nhà cửa, ổn định cuộc sống gia đình. Hai đứa con cứ quấn quýt, không rời anh nửa bước.

Chiều hôm sau, hết giờ làm việc, anh tới thăm Hồng Ngọc. Vừa tới cổng, bà hàng xóm nhà Ngọc chạy tới đưa cho anh một bì thư dày cộm, dán kỹ. Hoà vội vàng bóc thư. Bì thư gồm lá thư ly biệt, giấy chuyển nhượng nhà đất, chìa khoá cổng, chìa khoá nhà, chìa khoá tủ của Ngọc cho anh. Thư viết:

Anh Hoà muôn vàn yêu thương!

Tình nghĩa giữa em và anh sâu nặng như biển cả, núi cao. Em là người đến trước nhưng lại chưa danh chính, ngôn thuận. Mặc dù, em có công nuôi dưỡng, chăm sóc má suốt mấy năm trời. Với tình yêu ấy, với công lao ấy, em đáng được hưởng hạnh phúc chồng vợ cùng anh. Nhưng, Tuấn Minh và Hương Thu ràng buộc, níu kéo anh quá bền chặt, không một sức mạnh nào có thể thay đổi nổi.

Trước tình cảm ấy, em không có lý do gì để chia rẽ gia đình anh. Vì thế, em tự nguyện ra đi vĩnh viễn. Anh cứ coi như em đã chết rồi và mang theo mối tình sâu nặng, nồng thắm, đặc biệt này. Anh đừng đi tìm kiếm em mà mất công, vô ích.

Chúc anh và Minh Hương cùng các con mạnh khoẻ, hạnh phúc mãi mãi.

Vĩnh biệt anh.

Tái bút: Em để lại căn nhà nhỏ bé và đơn sơ cho con trai Tuấn Minh.

Những ngày sau, lương tâm Hoà dày vò và cắn dứt không nguôi. Anh bỏ công sức đi tìm Hồng Ngọc mà chị biệt vô âm tín. Anh kể lại cho Hương nghe câu chuyện tình sâu nặng của anh với Ngọc cũng như công lao to lớn của Hồng Ngọc đối với má anh, tấm lòng cao thượng của chị với vợ chồng anh. Minh Hương thật sự xúc động và thương xót cho Hồng Ngọc. Suy nghĩ một hồi lâu, nàng nói:

- Chị Ngọc có thể vượt biên, hoặc nương nhờ cửa phật để chạy trốn nỗi bất hạnh, đau thương. Chị nhường lại hạnh phúc cho chúng ta. Nếu chị vượt biên thì thật khó tìm kiếm. Hy vọng, chị nương nhờ cửa phật, may mắn có ngày chúng ta sẽ tìm thấy chị. Chúng ta sẽ đón chị, chấp nhận là em của chị. Nghe Minh Hương nói vậy, Hoà xúc động ứa nước mắt. Anh cảm ơn nàng.

Từ đó, cứ vào chủ nhật, Hoà và Hương thường đi lễ chùa vừa để cầu phúc, cầu tài cho gia đình, vừa đi tìm Hồng Ngọc. Cứ nghe nơi nào có chùa, có sư là Hoà, Hương lần tới. Nhưng chỉ tốn công, tốn sức…

Năm vừa rồi, vợ chồng anh ra Hà Nội chịu tang cha Hương. Trước khi về Sài Gòn, Hoà và Hương sang lễ chùa ở Bắc Ninh và đón sư đến nhà làm lễ cầu siêu cho bố. Tình cờ, hai người gặp lại Hồng Ngọc. Hoà sửng sốt kêu to:

- Hồng Ngọc! Ngọc!

Hồng Ngọc vụt chạy biến vào trong chùa, bỏ mặc Hoà và Hương đứng ngây ra đó. Ngọc lúc này đã có tên là Diệu Linh. Hoà và Hương phải nói khéo với sư cụ trụ trì, nhờ nói với Diệu Linh để vợ chồng anh được gặp.

Khi gặp, Diệu Linh chắp tay, lạnh lùng nói:

- Mô phật! Cảm ơn thí chủ có lời hỏi thăm. Mọi việc đã được an bài, theo sự sắp đặt của Phật tổ, không thay đổi gì được nữa. Cầu chúc hai người mạnh khoẻ, hạnh phúc. Cầu chúc cho hai con Tuấn Minh, Hương Thu mạnh khoẻ, học giỏi. Ta yên phận nơi cửa phật rồi. Nếu các thí chủ nhớ tới kẻ tu hành này thì hằng năm vợ chồng đưa các con đến thăm là ta mãn nguyện.

Nói xong lời từ biệt, Diệu Linh thanh thản bước vào trong chùa. Bỏ mặc Hoà, Hương nước mắt nhạt nhoà nhìn theo.

 

 

  

 

 

 

TRẦN MINH THẢO

 

 Quán Mãng Xà Vương

 

 

NHÀ XUẤT BẢN HỘI NHÀ VĂN, 2008

 

 

 --------------------------------------------------------

 

 

Tập Truyện ngắn đoạt Giải Khuyến khích,

 Giải thưởng VHNT tỉnh Vĩnh Phúc 5 năm lần thứ III

(2006 - 2010)


 

 

 

 

 

 

BÀI KHÓA LUẬN CHÉP TỪ MIỆNG NGƯỜI LÀNG VŨ ĐẠI

 

 Khúc dạo đầu

Truyện Chí Phèo của nhà văn Nam Cao đã khép lại sau cái chết của hai nhân vật chính. Mọi người đều tin là như vậy, nếu như không có lời kể tiếp của ông Hợp, người mà tôi gặp trong một hoàn cảnh không ngờ.

Hồi đó (1965) do Mỹ đem máy bay đánh phá miền Bắc, nên các trường ở Hà Nội phải sơ tán, Trường Đại học Sư phạm của chúng tôi phải chuyển lên vùng Đại Từ tỉnh Thái Nguyên. Sinh viên phải ở nhờ nhà dân. Dân ở đây đa số là người Tày, sống trong các ngôi nhà sàn, bám theo con suối vòng vèo theo chân dãy núi. Tôi và cậu Bùi được đưa vào ở nhờ nhà ông Hợp. Một gia đình nông dân nghèo, gồm bốn “khẩu” - Hai ông bà và hai con, một trai một gái, đứa trai độ 10 tuổi, bé gái độ 8 tuổi. Ở cái tuổi 50 mà con ông còn nhỏ như vậy là hơi muộn, chắc phải có lý do. Riêng vợ ông nhìn bề ngoài còn rất trẻ, lại đẹp gái nữa, thế mà chị cũng đã bốn mươi chín cái xuân xanh. Tôi và Bùi vốn xuất thân từ nông dân nên cũng “nhẹ sẹo”, sẵn sàng giúp gia đình những công việc lặt vặt. Sinh viên nghèo với nông dân nghèo nên cũng dễ cảm thông, dần dần vợ chồng ông Hợp coi chúng tôi như người nhà. Có lẽ vì vậy nên ông Hợp mới cảm thông và bộc bạch thân phận để có câu chuyện này.

 

   *

    *      *

 

Một chiều tháng Mười, sinh viên khoa Văn năm thứ ba được nghỉ lên lớp để tập làm Đề cương luận án tốt nghiệp. Tôi được giao đề tài có tính chất giả định, đòi hỏi óc tưởng tượng: “Làng Vũ Đại sau vụ án Chí Phèo - Bá Kiến”… Suốt cả buổi, tôi chẳng nghĩ ra được ý tứ gì, cứ vò đầu bóp trán mãi, người như muốn phát sốt. Thấy tôi ngơ ngẩn không yên, ông Hợp hỏi: Chú Thảo nhớ nhà hay sao đấy? Chắc lại nhớ “mẹ hĩm” chứ gì! Ngày tôi còn tại ngũ cũng có lúc nhớ vợ đến “nhức nhối cả cái sự đời” nhưng cũng phải cố mà nhịn. Biết làm sao! Tôi vội cười thanh minh:

- Không đâu! Em gặp cái đề Văn “hóc” quá! Nghĩ mãi mà chẳng được chữ nào.!

- Đề thế nào mà khó quá vậy? Chú cho tôi nghe, biết đâu lại “gỡ” được cái khó cũng nên. Tôi đọc đề cho ông nghe mà trong lòng vẫn nghĩ: Mấy trăm sinh viên khoa Văn mà còn chẳng “nhằn” được, dễ gì ông ấy giúp được mình! Không ngờ nghe xong ông cười rồi bảo tôi: Tưởng thế nào thì anh chịu, chứ chuyện có liên quan đến làng Vũ Đại thì anh có thể giúp chú được! Nhưng bây giờ chú giúp anh đi quảy gánh nước đã!

Việc quảy một gánh nước có đáng gì. Cái lớn vẫn là đề văn, không biết  nó nặng bằng bao nhiêu gánh nước!

 

 

*

*       *

 

Mùa Đông! Buổi chiều ở Việt Bắc rất ngắn, có lẽ do sương mù và bóng núi che mất mặt trời. Mới 6 giờ chiều mà mọi nhà đã phải lên đèn. Giữa nhà sàn bếp đã rực lửa. Sinh viên thường vây quanh để bổ sung cho cái dạ dày còn lép kẹp thêm khoai sắn nướng, mặc dù đã được ăn bữa chiều. Trời rét ngọt, ai không có việc gì thì đã lên giường đắp kín chăn bông. Cậu Bùi thì đã sang nhóm nữ ở nhà ông Lê để tán gẫu. Ông Hợp cùng tôi ngồi bên bếp với ấm chè đặc sản và chiếc điếu cày dài. Đã qua mấy tuần trà thuốc mà ông Hợp vẫn chưa động hề gì đến cái việc giúp tôi như lời ông đã hứa ban chiều. Tôi nóng ruột đành phải “ngỏ nhời”:

- Bác giúp được em giải cái đề văn thực chứ?

- Thực chứ sao không? Ông đáp: Sở dĩ tôi chưa nói ngay được là vì còn phải sắp xếp các sự kiện sao cho đúng với quá trình diễn ra ở làng Vũ Đại từ sau vụ Bá Kiến - Chí Phèo, vì đây là những chuyện có thực.

Kể cả chuyện Chí Phèo mà ông Cao đã viết cũng là câu chuyện hoàn toàn có thực, ông chỉ đổi tên làng, tên người cho đỡ rắc rối thôi. Năm 1950, gặp ông Cao ở Tây Bắc, tôi có hỏi ông: Vì sao tên tôi là Hợp mà trong chuyện ông lại gọi tôi là Năm Thọ? Ông vừa cười vừa giải thích: Vì cậu làm phu cao su ở miền Nam nên phải thêm chữ Năm vào cho hợp với cách nói của người nam. Hơn nữa cậu đang bị truy tố về tội giết người, nếu không đổi tên cho cậu thì Tây nó sẽ “làm dưa” cậu, hiểu chưa, hả ông Năm Thọ? Tôi hiểu ra vấn đề, và thán phục nhà văn cao kiến.

Ông Hợp nói: Tôi thì dốt, chữ nghĩa “ngắn”, chẳng rõ giúp được cái đề văn của chú bao nhiêu. Tôi chỉ kể câu chuyện thực. Còn chú muốn đưa “nó” vào chỗ nào thì tùy. Chuyện dài đấy! Chú phải ghi lại thì mới không bỏ sót.

Chẳng phải nhắc, tôi cũng đã sẵn sàng “nghiên bút” trong tay. Dưới ngọn đèn Hoa Kỳ khi mờ khi tỏ, quá khứ làng Vũ Đại hơn hai mươi năm trước lần lượt hiện về theo lời kể của ông Hợp.

Làng Vũ Đại sau ngày ấy

Tôi xin báo cái tin có thể làm cho chú sửng sốt:

Thứ nhất: Tôi là Năm Thọ, nhân vật chỉ lướt qua câu chuyện bằng câu nói của Bá Kiến

Thứ hai: Chí Phèo không chết như ta vẫn tưởng. Anh ta đã “tái xuất giang hồ” và hiện nay cũng ở cách đây không xa. Điều này thì đến cụ Nam Cao cũng bị bất ngờ. Lần gặp cụ ở chiến trường, tôi nói chuyện Chí Phèo còn sống, cụ cứ há hốc mồm ra mà không tin. Tôi phải xuống tận nhà bếp của đơn vị dẫn điệu Chí Phèo gặp cụ. Nhà văn nhìn nhân vật của mình như nhìn một thây ma, mắt cụ mở trừng trừng. Cụ sờ tay vào từng vết sẹo ăn vạ trên mặt Chí như để kiểm định nhận dạng. Cụ lấy tay giằng tóc Chí, thấy anh kêu oai oái, bấy giờ cụ mới tin là thực. Nhà văn nói với tôi và anh Chí: Chuyện này hay đấy! Để khi kháng chiến thành công, ta sẽ viết tiếp phần hai: “Làng Vũ Đại sau ngày ấy”. Nhưng thật đáng tiếc, ông Trí (tên thật của Nam Cao) đã hi sinh năm 1951, không thực hiện được ý nguyện.

Nghe xong, tôi giật thót tim, còn ông Hợp thì cũng ngừng kể, để nhắp chén trà nóng rồi kéo một hơi thuốc lào thật dài để “giải tỏa ký ức” đã dồn nén từ mấy chục năm nay.

Khói thuốc lào cùng với sương đêm luồn vào nhà làm cho không gian mờ ảo, đưa chúng tôi về với câu chuyện như mơ như thực, thoắt ẩn thoắt hiện như nước suối sau nhà loang loáng dưới ánh trăng lu. Khi đã thỏa mãn về cái thú thuốc lào, ông tiếp tục kể:

- Về đời tôi, tôi sẽ kể sau. Bây giờ ta hãy nói về việc Chí Phèo sống lại đã. Phần này tôi không được trực tiếp chứng kiến, mà chỉ được nghe mấy anh tuần phiên đi chôn Chí Phèo sau này kể lại. Hôm ấy Chí Phèo đâm Bá Kiến nhiều dao thí mạng. Nhát dao hận thù mà, nên Bá Kiến chết ngay. Còn nhát dao Chí tự đâm vào cổ mình thì do một phần vì sợ hãi, một phần vì luống cuống nên dao tuy đâm vào cổ mà không trúng họng. Máu ra nhiều làm anh ngất đi. Khi khám nghiệm tử thi, bọn chức dịch chỉ nhìn qua, lập biên bản trình quan rồi cho tuần phiên đem chôn. Mấy anh tuần khiêng Chí đi trên một chiếc võng rách khi trời đã nhập nhoạng.

Đến bãi tha ma, họ đặt cái xác xuống để còn đào huyệt. Huyệt đào chưa xong thì trời đổ mưa to. Họ vội đưa xác Chí xuống cái hố vừa đào nham nhở. Nhưng khi họ vừa cầm hai chân, hai tay Chí định đưa xuống hố, thì bỗng nhiên họ hết hồn vì thấy cái xác kêu rên và giãy giụa. Họ vội đặt anh trên bờ và cẩn thận quan sát. Rõ ràng Chí Phèo còn sống. Thật lạ! Sao đã chết rồi mà lại còn sống? Có phải do nước mưa xối vào mặt, hoặc giả bọn khám nghiệm tử thi biết rõ anh còn thoi thóp nhưng cứ đem chôn quách đi cho rảnh nợ? Họ nghĩ vậy và bàn nhau cách giải quyết. Một anh nêu ý kiến: Chúng ta được sai đi chôn Chí Phèo, nhưng anh ta chưa chết nên không thể chôn được. Không thể làm cái việc tàn ác ấy, còn phải để phúc cho con cháu sau này. Chúng ta đây cũng như anh Chí đều bị Bá Kiến bóc lột ức hiếp. Chí đã thay chúng ta đương đầu với Bá Kiến cũng là giúp ta rửa hận. Bây giờ chúng ta phải giải quyết việc này ra sao, xin các anh cho biết? Sau một hồi bàn bạc, ba tuần phiên thấy ý kiến của người vừa nói là có tình, có lý. Họ bằng lòng để cho Chí Phèo sống rồi tìm cách mà trốn đi. Họ đắp một cái mộ giả để che mắt mọi người. Họ cùng thề giữ kín việc này. Ai phản lời thề sẽ bị trừng trị. Chí Phèo được đưa xuống chiếc thuyền câu ở mép nước. Họ đắp cỏ rác lên trên rồi chở ra giữa cánh đồng chiêm đang mênh mông nước, cách xa hẳn làng Vũ Đại.

Trong những ngày Lý Cường và dân làng đang bận bịu với đám tang Bá Kiến, thì trên chiếc thuyền câu ở giữa đồng, Chí Phèo bới được trong cái bị cói của người chủ thuyền câu một ít cơm nguội trộn với cám, một gói muối, hai cái nồi đất đựng khoai lang, vài que củi và một hòn đá đánh lửa. Anh ta sống nhờ vào mấy thứ đó, rồi trong một đêm trăng, Chí xuôi thuyền theo dòng Hoàng Long về phía Ninh Bình, vào rừng Cúc Phương nương náu. Chuyện của anh ta còn dài. Để sau này tôi đưa chú đến gặp, ông ấy sẽ kể cho mà nghe. Còn bây giờ, chú hãy nghe tôi kể về tôi đã.

Tôi ghi theo lời ông Hợp cũng đã toát cả mồ hôi, tay cầm bút đã mỏi nhừ. Được ông cho giải lao để cùng hút thuốc lào, uống nước trà nóng thì còn gì khoái hơn!

   

 

*

*       *

 

Chuyện của tôi cũng “gai góc” lắm đấy chú Thảo ạ. Tuy nó không nhiều chất bi hài như chuyện của ông Chí, nhưng cũng không ít thác ghềnh. (Ông mở đầu câu chuyện của ông như vậy, làm cho tôi khỏe hẳn ra vì sắp được nghe những bí mật của nhân vật Năm Thọ, mà Nam Cao đã hé mở nhưng chưa ai biết gì cụ thể). Tôi hăm hở ghi theo lời ông:

Theo lời người làng kể lại, thì tôi sinh ra trong một gia đình nghèo “không tấc đất cắm dùi” ở làng Vũ Hạ, cùng một xã với Chí Phèo, Bá Kiến. Cha mẹ tôi đều là những người tha phương cầu thực trôi dạt đến từ đâu không rõ. Họ đến Vũ Hạ để làm thuê, ở đợ cho các nhà giàu. Cha tôi cầm đầu một nhóm thợ cày, đào ao, nhổ mạ, gánh phân. Mẹ tôi sắm vai chị cả cầm đầu một nhóm thợ cấy, làm cỏ, gặt hái thu lượm… Nghe nói một lần trên đường gánh lúa từ ngoài đồng về, cánh thợ của cha tôi gặp cánh thợ của mẹ tôi đi từ làng ra. Cánh đàn ông giăng hàng ngang chắn đường không cho cánh con gái đi qua. Họ quấn lấy nhau “cãi vã” và chơi trò “lỡm”. Cha tôi nhìn mẹ tôi chằm chằm rồi hát một câu rất chây chả:

Cô kia cô kịa cô kìa

Cái người xinh thế, “cái kia” thế nào?

Thấy cánh đàn ông hát “đểu”, mẹ tôi quan sát thấy “tay nào” cũng lún phún râu, liền hát trả lời: Người xinh “cái ấy” cũng xinh. Nó giống anh mình, nó đã có râu!

Cha tôi và cả bọn con trai đều “chết điếng” vội lấy tay sờ lên cằm, mặt đỏ tía tai, hò nhau chạy cho nhanh về làng. Cánh con gái đắc thắng cười reo như phá, vội nhặt quang đòn chạy mau ra đồng, kẻo chủ nhà biết thì “rách chuyện”. Cũng nhờ trận “đấu” văn chương này mà cha mẹ tôi yêu nhau theo kiểu “duyên bèo nước” rồi sinh ra tôi chứ cũng chẳng có cưới cheo gì! Quanh cây rơm, xó bếp là nơi tình tự. Của nả trao cho nhau chỉ là những lời ngọt ngào ong bướm, thề thốt trăm năm. Lấy nhau rồi mà vẫn không có đất, có nhà. Ban ngày, mỗi người tự đi kiếm cho mình một công việc làm thuê đủ để nuôi sống bản thân. Đêm khuya, sau công việc của chủ, ăn bát cơm rau muống xong, ra về, đôi vợ chồng hờ mới lại gặp nhau quanh đống rơm, đụn rạ. Nhiều khi họ phải tranh nhau với mẹ con đàn lợn sề để có được “cái giường hạnh phúc”. Những ngày mẹ tôi mang thai, ốm yếu, cha tôi phải cố kiếm để nuôi cả hai người. Buổi trưa, ông đội mưa nắng xuống đồng, mò thêm cua ốc, để mẹ tôi đem đổi lấy bát gạo củ khoai. Không ai mướn mẹ tôi làm nữa, vì người vừa yếu lại sắp đến ngày “nằm ổ”. Cha tôi đành đến nói với lão Lý Cựu làng Vũ Hạ, xin một thẻo đất dựng “nhà” bên bờ đầm cá, với điều kiện phải canh đầm không công cho ông ta. Có túp lều, dù đất mượn, lều tranh, vẫn hơn nhiều cảnh ngủ bờ ngủ bụi. Đêm đêm đôi vợ chồng trẻ quên hết sự đời. Họ đùa nhau bằng những câu ví von “ác khẩu”:

Mẹ tôi hát:

Chồng em hôi nách em thương.

Quanh năm chẳng phải mua hương xông nhà.

Cha tôi vặc lại:

Thân em như quả mướp non.

Nằm bờ nằm bụi rồi cũng đến sớm con muộn chồng.

Thế là huề, anh chị lại cười và ôm nhau chặt hơn cho đến gà gáy sáng thì cha tôi lại vào làng làm mướn, còn mẹ tôi ở nhà trông đầm cá nhà Lý Cựu… (Ông dừng kể để hút thuốc lào và chiêu giọng một chén trà đặc).

Tiếng cậu Bùi đã vang ngoài cửa: Anh Thảo ơi! Chuẩn bị nướng sắn nhé! Nhà có “khách” đấy! Tôi nhìn ra thấy bóng Phương Lan theo sau. Ông Hợp bảo: Thôi ta nghỉ chú ạ! Tối mai ta “làm tiếp”. Bây giờ các chú nướng sắn mà vui với nhau. Anh đi nghỉ đây, mai còn cuốc cho xong cái nương sắn.

 

 

*

*      *

 

 

Tối hôm sau, tôi lại ngồi nghe đoạn đời tiếp theo của ông Hợp. Lời ông kể hòa lẫn trong tiếng mưa rơi tầm tã và tiếng gió hú từng cơn lạnh buốt của núi rừng Việt Bắc:

“Cuộc sống cơ cực nghèo nàn của gia đình tôi nơi ven đầm cá kéo dài được 15 năm, thì tai họa lớn ập tới. Mẹ tôi qua đời vì bệnh hậu sản do thiếu ăn, thiếu thuốc. Cha tôi đau buồn già tọp hẳn đi, tóc bạc, mắt mờ.

Ông sống cảnh “gà trống nuôi con”, gắng gượng nuôi tôi thêm được 5 năm nữa thì mất. Lão Lý cựu chôn cất cho cha tôi và bắt tôi phải trông đầm cá và chăn trâu suốt đời để trừ nợ. Từ đây, nhà Lý cựu cho tôi ăn rồi bắt tôi học cày bừa, nhổ mạ, gánh phân làm đủ mọi việc… Để bù vào bát cơm thừa canh cặn ấy. Ở tuổi 20, tôi ăn khỏe, làm khỏe và ngủ cũng rất khỏe. Tôi đã trở thành một thanh niên cường tráng, đẹp trai, hát hay, đàn giỏi. Trong làng có nhà ông Đào Thắm, nhà rất nghèo, lại chỉ sinh có một lần được một cô con gái. Thắm kém tôi một tuổi và là bạn chăn trâu cắt cỏ với tôi từ hồi còn nhỏ. Chúng tôi thương yêu nhau như người ruột thịt. Vào lứa tuổi dậy thì, Thắm vụt đổi thay như người lột xác. Tất cả vẻ đẹp khỏe mạnh, dịu hiền, kiêu sa đều tập trung vào thể hình của cô gái quê mùa này nhanh chóng như được trời ban tặng. Thắm yêu tôi và ông bà Đào cũng thuận cho tôi ở rể để nhờ cậy tuổi già. Hạnh phúc đã như cầm chắc trong tay, ai ngờ lại tan vỡ. Lý Kiến cưỡi ngựa đi đốc thuế, gặp Thắm trên đường. Hắn thấy cô gái đẹp lộng lẫy liền nảy thói dâm tà. Hắn hỏi đầy tớ, được biết cô gái là con ông Đào Thắm ở làng Vũ Hạ. Hắn cười khoái chí nhưng không nói gì. Về nhà, hắn gọi đầy tớ đến rồi ra lệnh: Chúng bay mang theo văn tự vay nợ này, xuống nhà lão Đào Thắm ở làng Vũ Hạ đòi trả cụ Bá 300 đồng, tiền chịu thuế đất thổ cư từ mấy năm nay. Nếu không có tiền trả, chúng bay hãy bắt đứa con gái của lão về đây cho tao để trừ nợ. Bọn đầy tớ thi hành mệnh lệnh nhưng không bắt được Thắm, vì cô biết tin, đã bỏ trốn. Ngay tối hôm ấy Thắm ra ngủ với tôi ở lều cá. Cô nói trong nước mắt đầm đìa: “Em rất yêu thương anh, nhưng tình thế này mà chống lại Lý Kiến thì cha mẹ em sẽ bị chúng hành hạ cho đến chết, thân xác em cũng không thoát khỏi hắn đâu. Chi bằng đêm nay, em sẽ hiến dâng tuổi xuân của em cho người mà em thương yêu nhất. Dù chỉ được một đêm hưởng hạnh phúc trọn vẹn với tình yêu cũng còn hơn trăm năm sống bên cạnh cái thằng khọm già khốn nạn ấy”. Nghe Thắm nói, tôi không cầm được nước mắt, hai chúng tôi ôm choàng lấy nhau, nước mắt người này ướt đẫm áo người kia. Qua một đêm hưởng hạnh phúc của tình yêu trọn vẹn, hôm sau thì Thắm phải về cứu cha mẹ cô đang bị bọn người nhà Lý Kiến hành hạ. Thấy Thắm xuất hiện, bọn “quỷ dữ” liền tóm lấy cô, lôi thẳng về nộp cho Lý Kiến. Mặc dù lúc này hắn đã có hai vợ và vẫn thường đi ngủ lang với vợ mõ, vợ lính nữa. Bị cướp mất người yêu, tôi như người phát cuồng, rất căm thù Lý Kiến, ngày đêm nghĩ cách chống lại hắn. Tôi tụ tập một số bạn trai, chuẩn bị sẵn đá và gậy, chỉ đợi Lý Kiến xuống Vũ Hạ sẽ cho hắn một trận. Nhưng hắn biết được nên không bao giờ dám dò xuống Vũ Hạ nữa. Để loại trừ tôi, hắn vu cho tôi liên quan với bọn cướp, rồi vận động bọn quan lại thân cận cho tôi vào tù. Ở tù hai năm, khi ra tù, tôi không về làng nữa, mà vào Nam làm phu cao su ở Đồng Nai. Cũng vào dịp này thì Bá Kiến đã thăng chức Bá hộ. Chức Lý trưởng làng Vũ Đại thì con trai hắn nắm giữ thay cha, tức Lý Cường.

Kể đến đây, ông Hợp lại nghỉ để hút thuốc và “chiêu” giọng một chén trà.

Vài phút sau, ông bảo tôi: Phần sau đây diễn ra ở nhà Bá Kiến thì tôi chỉ được nghe qua lời thuật lại của Thắm sau này:

“Lão “dê già” nhìn Thắm mê mẩn rồi cao hứng tuyên bố trước mặt cả hai vợ và con trai hắn là Lý Cường: Cô Thắm đây là bà ba của nhà này chứ không phải thân phận kẻ ăn người ở. Cấm không ai được hỗn với bà ba. Bà bảo gì thì phải nghe, cả ta cũng vậy, đứa nào không “tuân” sẽ bị trị tội. Hai bà vợ lớn và cả Lý Cường chỉ còn biết cúi đầu cam hận, bĩu môi nguýt dài rồi bỏ đi như kẻ thất bại.

Ngay chiều hôm ấy, Bá Kiến cho mời hội đồng hương chính đến nhà nhậu nhẹt và lập tờ giá thú, Thắm chính thức trở thành vợ ba của hắn. Đêm đầu tiên, thấy Thắm đã “thất tiết”, hắn tra hỏi nguyên nhân, Thắm trả lời thẳng vào mặt tên dê già “cái đó” tôi đã giành cho người yêu của tôi rồi. Ông là người “đến sau”, có thế nào thì hưởng thế, quyền gì lúc đó mà đòi, của tôi, tôi cho ai, ông hỏi làm gì? Bây giờ ông cướp được “nó”, ông hãy lo mà giữ, đừng để bị “cắm sừng” là may rồi!

Nếu ông còn tra hỏi, hành hạ tôi về việc này thì tôi sẽ tự tử. Tôi chẳng thiết gì cái kiếp vợ ba của một lão khọm già như ông đâu!

Bá Kiến nghiến răng trèo trẹo, rồi sụp xuống như quả bóng hết hơi, tập tễnh lê ra khỏi buồng bà ba về nằm trên sập gụ như con mèo hen, thở khò khè cho đến sáng”.

 

 

*

*       *

 

Nói thật với chú Thảo, trên đời này không có gì đau đớn và uất ức bằng bị cướp mất người yêu. Tôi làm cao su đã một năm, gặp nhiều cô gái, nhưng không cô nào thay thế được hình bóng Thắm ở trong tim. Nỗi đau âm ỉ kéo dài làm cho đầu óc tôi phát khùng, chỉ muốn tìm đến cái gì đó để đập phá cho hả giận. Và dịp ấy bỗng xuất hiện. Một đêm tháng 5. Trời sáng trăng nhưng nóng bức không sao ngủ được. Tôi rời khỏi túp lều lán lè tè đi dạo một mình trong rừng cho khuây khỏa. Bỗng nghe thấy bên lán chị em nữ có tiếng kêu cứu. Tôi vội phi tới nhòm vào thì thấy mấy thằng tây lai đang đè cô Liễu trên sàn. Tôi nổi máu điên, rút ngay con dao mủ cài trên vách, xông vào móc cổ thằng Tây lai, giật mạnh một cái, hắn văng xuống sàn, máu ộc ra từ họng, chết thẳng cẳng. Nhận thấy thế nguy, tôi bảo Liễu: Em hãy trốn biệt tăm đi. Anh cũng không thể ở đây được nữa. Nghe đâu Liễu chạy về vùng rừng U Minh, còn tôi cũng chuồn nhanh về Bắc. Lệnh truy nã tôi và Liễu được bọn tây gửi đi khắp nơi. Bá Kiến cũng đã có “tờ trát” trong tay, nhưng trong trát ghi một cái tên khác - cái tên mà tôi đã cải để vào Nam.

Kể đến đây, ông ngừng lại để trút một hơi thở dài cho hả bớt phần nào nỗi uất hận ở đời. Tôi nhìn thấy đôi mắt ông rớm lệ. Tôi cũng bùi ngùi chia sẻ cảnh bế tắc của ông.

Trên đường chạy trốn từ Nam về Bắc - ông kể tiếp. Tôi nghĩ: Phải có giấy tờ hợp pháp để đi biệt tăm mới có thể sống ở cái đất Bắc Kỳ này được. Nhưng lấy đâu ra giấy tờ hợp pháp? Ai là người cấp giấy cho mình? Bất chợt tôi nghĩ đến Bá Kiến. Hắn “phải” là người cấp giấy tờ hợp pháp cho tôi. Khoảng 10 giờ đêm, tôi về đến làng Vũ Đại và đến thẳng nhà Bá Kiến. Nhìn vào nhà, tôi thấy hắn đang xem những giấy tờ gì đó trên bàn. Tôi trèo qua tường, bò vào đứng ngay sau lưng hắn, lật đầu hắn ngửa lên kề dao găm vào họng và nói: Ngồi im! Kêu một tiếng là ta cắt họng! Ta chỉ cần một thẻ thuế đinh công nhận ta là người lương thiện để đi làm ăn nơi xa. Nếu từ chối nửa câu, ngươi sẽ mất mạng! Hai mắt Bá Kiến trắng dã như mắt người chết. Hắn sụp xuống lạy như bổ củi, không nói được nửa câu. Hắn rút trong tráp ra tập thẻ thuế đinh, rồi ú ớ hỏi:

- Thưa …! Ông muốn điền tên gì ạ?

Tên tao là Bác, Trần Văn Bác, tức là anh bố đẻ ra mày đấy, hiểu chưa? Sau việc này mà mày dở trò báo cho tây thì bác mày sẽ cắt cổ mày, nghe chưa? Hắn run lập cập rồi hý hoáy viết: Trần Văn Bác, 22 tuổi, quê quán làng Vũ Đại… Là lương dân đã nộp đủ thuế cho Nhà nước đại Pháp. Hắn ký tên, đóng triện rồi dâng lên cho tôi, miệng lắp bắp:

- Thưa ông Bác, việc này hở ra thì con chết trước, xin ông Bác yên tâm.

Tôi giật lấy giấy rồi ra lệnh: Quân của tao còn phục ở đây, mày mà lừa tao thì chúng nó sẽ cắt cổ. Tôi ra khỏi nhà lão Kiến, đi về phía rừng Cúc Phương sang Hòa Bình tìm kế sinh nhai. Với hai bàn tay trắng, tôi dùng số tiền nhỏ mọn kiếm được khi làm phu cao su, mua một con dao rừng, một bộ quần áo, rồi dựng một cái lán bên dưới Thác Bờ để làm nghề săn chàng. Ở đây tôi gặp một số anh em nghèo đã thông thạo nghề này hướng dẫn. Tôi theo họ vào rừng chặt bương, lấy măng, lấy nấm hương, mộc nhĩ, củ nâu đem bán cho lái buôn. Tôi khỏe, trẻ nên thường lấy được nhiều. Tiền kiếm được đủ để nuôi thân, còn dư ra một ít, tôi cóp dần đủ để mua một chiếc thuyền. Khi đã mua được thuyền, tôi không vào rừng săn chàng nữa. Tôi trở thành “lái buôn” mua lại những thứ của anh em, chở về các chợ miền xuôi bán cho các sạp hàng bán lẻ.

Qua hai năm làm ăn, tôi kiếm được số vốn kha khá và quen biết nhiều khách hàng. Qua khách hàng tôi biết tin Bá Kiến bị Chí Phèo đâm chết. Tôi thở phào nhẹ nhõm, yên chí sẽ được sống tự do, và có ý định trở về Vũ Đại đón Thắm đi trốn. Từ khi Bá Kiến chết, Thắm trở thành nạn nhân của các cuộc trả thù của bà cả, bà hai và cả của vợ chồng Lý Cường nữa. Họ xúm vào đánh mắng, đuổi cô ra khỏi nhà. Thắm phải chạy về ở với bố mẹ ở Vũ Hạ. Việc đón Thắm đi diễn ra không có gì khó lắm. Tôi nhờ một khách hàng đến nhà ông Đào Thắm đưa cho ông một món tóc bảo ông đưa cho con gái. Nhận được món tóc của mình đưa cho tôi khi trước, Thắm lập tức theo người bạn hàng đến gặp tôi…

 

 

*

*       *

 

Tôi nhận thấy lúc này, mặt ông Hợp tươi hẳn lên, các nếp nhăn trên trán giãn ra, ông thở một hơi dài để trút đi cái “gánh nặng” của những bất công xã hội đã đè trên người ông trong bấy nhiêu năm. Ông cười cười rồi vỗ vào vai tôi, kèm theo cái “nháy mắt” đầy ngụ ý. Tôi cũng vui lây, cười theo hì hì và tán một câu rất thừa, rất vô duyên: Chắc tối hôm anh chị gặp lại nhau sau bao năm xa cách hẳn phải “khoái” lắm nhỉ?

- Còn phải nói! Còn khoái hơn cả đêm “tân hôn” ở lều cá đẫm nước mắt của hai người. Nói xong, ông biết mình “lộ bí mật” liền véo tai tôi một cái, miệng quát: Thôi đi ngủ! Cái thằng quái này, chỉ giỏi thóc mách. Tôi cũng cao hứng hét lên: Còn phải nói! Rồi vào ổ đắp chăn. Đèn tắt! Đằng đầu hồi - nơi bà Hợp ngủ, sàn nhà cựa quậy mạnh. Tôi đoán ngay ra: Chắc “bố già” đang diễn lại vở cũ do câu chuyện vừa kể “xúc tác” nên gây “phản ứng”. Tiểu đệ xin chúc mừng.

Sáng hôm sau, không thấy ông Hợp dậy sớm uống trà như mọi ngày, chỉ có bà Hợp ngồi nấu cháo. Tôi cũng rời khỏi ổ rơm ra bếp sưởi ấm. Bà Hợp hỏi tôi: Anh em nhà chú “bới” đã hết chuyện chưa? Cái lão “phải gió” tài nhớ lâu, nhớ mới. Đem hết cả chuyện “ông bà ông vải” ra kể rồi. Chú nghe chắc chán tai lắm phải không?

- Không! Chuyện của ông hay lắm, em đang “khoái nghe” tiếp thì ông “đến cơn” đi ngủ. Tối nay, em xin ông cho nghe nốt phần cuối, để kịp làm cho xong cái đề văn.

- Sao lại liên quan đến đề văn của chú? Ông ấy thì biết gì mà văn với chả võ?

Tôi vội thanh minh: Chuyện ông kể về  làng Vũ Đại sau vụ án Chí Phèo - Bá Kiến, chính là nội dung bài văn mà nhà trường yêu cầu em phải tưởng tượng ra mà làm. May quá! Em gặp ông nhà là người trong cuộc, cho em nghe toàn chuyện có thực. Em chỉ việc ghi lại mà chẳng cần tưởng tượng “phịa phọt” tý nào, đã có “tác phẩm” cực hay.

- Những chuyện ấy mà giúp được chú làm văn thì tôi không phản đối. Tôi đã nghe hết những đoạn lão ta kể với chú mấy tối qua rồi! Nếu cái đề văn của chú cần gấp vậy, thì tôi tranh thủ kể tiếp cho chú nghe. Tôi cũng là người “trong cuộc”, chắc kể không sai đâu! Chứ đợi được cái lão đang “phờ râu trê” kia khỏe lại thì e rằng muộn văn của chú mất!

Nghe bà Hợp nói, tôi đoán được phần nào về “nhân vật” này, nhưng muốn được nghe nhân vật tự giới thiệu về mình cho “khoái”, tôi lễ phép hỏi: Thưa bà chị. Thế bà chị có phải là nhân vật Thị Nở không? Tôi hỏi để “khích tướng”.

- Phải gió cái chú Thảo! Mặt mũi tôi thế này mà chú bảo là mặt Thị Nở à? Tôi là cô Thắm, là bà ba của lão Bá Kiến, lại là vợ của cái lão Hợp còn đang nằm chết dí trong buồng kia! Bây giờ thì chẳng cần bí mật gì nữa, nhưng tôi cấm chú không được đưa tôi vào bài văn của chú đấy nhé! Vì chuyện đời tư của tôi có hay ho gì đâu.

Tôi cười ré lên, khoái chí vì đã khích tướng thành công, rồi nói rất lễ phép: Thưa bà chị, em trêu tức chị chút xíu để chị phải tự giới thiệu về mình, chứ người đẹp như “tiên” thế kia, đã bao lần cho Bá Kiến ăn quả đắng mà hắn chẳng dám động đến mảy lông thì đủ biết khi còn trẻ chị có sức mạnh đánh bại mọi gã đàn ông trên đời.

- Cái chuyện cho Bá Kiến ăn quả đắng, không phải do tôi thiếu đứng đắn. Chị nói có vẻ gay gắt. Mà xuất phát từ ý định trả thù. Hắn đã phá vỡ hạnh phúc của chúng tôi, thì tôi phải cho hắn nếm đủ mùi cay đắng.

Nói thật với chú, Bá Kiến gần như “nhốt” tôi trong nhà, không bao giờ hắn cho tôi ra khỏi cổng để tránh bị “cắm sừng” như tôi đã nói với hắn trước. Nhưng tôi đã có cách. Cứ lâu lâu tôi lại gọi anh Chí đến bóp đùi. Tội nghiệp cho anh ta vừa bóp vừa run như cầy sấy, toát cả mồ hôi, bảo bóp lên phía trên, thì bóp xuống phía dưới. Tôi tức mình đạp cho một đạp, anh ta ngã lăn xuống đất rồi vội lổm ngổm ra về. Có một lần, Bá Kiến rình và bắt được quả tang anh Chí đang nặn bóp cho tôi. Hắn xông vào dùng dao chém anh Chí, nhưng Chí gạt được rồi chạy bán mạng. Lão khọm già mất đà, ngã sấp mặt xuống nền nhà. Lão bò dậy ướm dao vào mặt tôi, nghiến răng kèn kẹt, miệng sùi bọt, quát: Ai bảo mày dám làm cái việc hạ tiện này? Đường đường là một bà lớn hàng tổng mà lại đi tằng tịu với một thằng đầy tớ, thì còn gì danh giá nhà tao nữa. Hả con kia?. Tôi vẫn nằm ngửa, dõng dạc trả lời: Nếu ông có gan thì cứ chém tôi đi! Tôi có thiết gì sống với ông đâu? Tôi làm việc mệt mỏi, gọi đầy tớ nặn bóp chân thì đã làm sao nào?. Ông thì vợ lớn vợ bé, mà vẫn chưa thỏa mãn, lại còn đi ngủ thêm với vợ lính, vợ mõ, bị người ta bắt được quả tang, phải đem tiền ra chuộc lấy cái thân về, thì giữ được danh giá nhà ông à? Đây, của ông vẫn đây! Ông có giỏi thì làm đi! Máu dê nhưng dê đã hết máu, miếng thịt bò ngon quá, nhưng khốn nỗi con sói chẳng còn răng. Ông mà không “làm” cho tôi thỏa mãn hôm nay, thì tôi cứ gọi chúng nó bóp chân. Nếu ông không muốn chúng nó bóp thì ông đến đây mà bóp cho tôi. Thế là chắc ăn nhất, khỏi phải cử người canh gác, rình rập mà vẫn lo ngay ngáy bị cắm sừng.

Bá Kiến đau hơn hoạn, nhưng không có gan giết tôi, lại không muốn vỡ lở chuyện xấu xa, nên đành hậm hực ra khỏi phòng. Hắn lập tức cho tìm bắt anh Chí, quàng vào cổ anh mấy sợi dây chuyền, gọi tuần phiên vào lập biên bản, rồi đưa anh Chí đi tù để trừ hậu họa.

Chợt chị nhớ ra phải kể nốt phần cuối của vợ chồng ông Hợp sau khi gặp nhau, để giúp tôi hoàn thành luận văn. Chị cười rất tươi rồi nói: Thôi chết! Kể lan man mãi mất cả thì giờ. Bây giờ chú hãy nghe nốt “khúc đuôi” nhé!:

“Khi gặp lại, hai chúng tôi cứ ôm nhau mà khóc. Không ai chịu buông tay, chỉ sợ người mình yêu lại biến mất. Được mấy ngày, hưởng hạnh phúc say đắm, Chúng tôi nhận ra nguy cơ bị lộ. Lý Cường vẫn có thể cho người đến bắt về. Thế là chúng tôi quyết định bỏ các bến của Sông Đà để chạy lên đây. Vì khi đó vùng này đã có Việt Minh bảo vệ.

Vợ chồng tôi vừa dựng xong ngôi nhà này thì nổ ra cuộc cách mạng tháng Tám. Chúng tôi theo mọi người đi cướp chính quyền Nhật ở Thái Nguyên. Xong đâu đấy ông Hợp để tôi ở nhà để theo quân Giải phóng cướp chính quyền ở miền xuôi. Rồi ông ấy tham gia kháng chiến, 9 năm sau mới về phục viên. Năm 1955, tôi mới sinh cháu Hòa, năm 57 tôi cố đẻ mới được con Huệ. Thành thử đến bây giờ vẫn phải nuôi con mọn.

Đúng lúc này thì ông Hợp xách điếu cày từ trong buồng dò ra bếp. Ông nháy mắt cho tôi và nói: Người hơi mệt đành phải hoãn đến mai mới đi cuốc sắn vậy. Chú Thảo chuẩn bị giấy bút, ta tranh thủ làm nốt cái khúc cuối.

Bà Hợp lên tiếng:

Khúc cuối, khúc đuôi còn đợi ông đến bây giờ thì văn của chú ấy đến thiu ra mất. Tôi tranh thủ kể cho chú ấy nghe rồi, vì hạn nộp bài của chú ấy gấp lắm. Nếu nộp chậm thì được ăn ngỗng ăn ngan gì đó. Sao lạ vậy? Hay ta cứ nộp chậm để lấy con ngỗng về làm nồi cháo cải thiện?… Tôi không nhịn được cười, vội giải thích:

“Ngỗng” là cách gọi điểm 2 đó bà chị ạ. Điểm 2 thì em trượt vỏ chuối chứ chẳng có ngỗng với ngan đâu mà nấu cháo.

Bà Hợp cười:

- Phải gió nhà các chú, tôi cứ tưởng được nhận ngan ngỗng thật kia chứ.

Ông Hợp nghe xong liền lên tiếng:

- Nếu hạn nộp bài văn gấp vậy thì hôm nay ta phải lên gặp bác Chí, nghe bác ấy kể về quãng đời từ khi bác sống lại cho đến nay, để cái đề văn được hoàn hảo, không thì chậm mất.

Tôi mừng cuống cả lên, ăn vội bát cháo với ông bà Hợp rồi cùng “ông Năm Thọ” đi gặp ông Chí Phèo. Lần trước, nghe ông Hợp nói ông Chí cũng ở gần đây, tôi cứ tưởng hai nhà chỉ cách nhau vài cây số. Ai ngờ phải lội suối trèo đèo, băng rừng vượt núi gần hết cả ngày mới đến nơi. Trước mắt chúng tôi là một khu trang trại rộng lớn. Giữa khu đất bằng phẳng, màu mỡ là ngôi nhà sàn với những cột cái to và đỏ au. Trước cửa nhà có con suối nhỏ chảy qua, nước trong vắt, nhìn rõ từng đàn cá núi. Thân hình chúng trong như thủy tinh, phô bày ra bộ xương như được dệt bằng những sợi tóc. Chúng tôi dừng lại bên suối rửa chân. Thấy có người lạ, mấy con chó đã sủa vang cả khu rừng. Nhìn lên sân nhà sàn, một ông già tóc bạc, tay cầm con dao rừng, đang đứng nhìn chúng tôi. Ông Hợp vội lên tiếng: Bác Chí ơi! Anh em tôi lên thăm bác đây! Nhận ra tiếng ông Hợp, ông Chí vẫy tay: Lên nhà đi! Chó tôi xích cả rồi! Trời rét thế này mà ông đến thăm tôi thật là quý hóa quá!

Qua mấy bậc cầu thang, cả chủ và khách đã vây quanh bếp lửa. Ông Hợp giới thiệu tôi với ông Chí: “Đây là chú Thảo, sinh viên khoa văn trường Đại học Sư phạm Hà Nội, đang tạm trú tại nhà tôi. Hôm nay cùng tôi lên thăm bác, và muốn nhờ bác giúp cho một việc”. Ông Chí nhìn tôi có vẻ thăm dò, rồi ông nói: Việc gì thì việc, hãy để sau. Để tôi bảo anh em nó làm cơm ăn đã. Ông Hợp và cậu em hãy nghỉ ngơi cho đỡ mệt, lúc nữa ăn cơm, tối nay ta sẽ bàn công việc. Cũng đã lâu lâu rồi không được uống rượu và nói chuyện với ai. Tối hôm nay sẽ nói cho thỏa ông Hợp ạ!...

Trong khi chờ làm cơm, tôi và ông Hợp ra suối xách nước về đun để tắm. Tắm xong thì cơm rượu cũng đã được bày. Khách và chủ quây quanh mâm cỗ đặt ngay cạnh bếp. Cùng ngồi mâm ăn có thêm ba người. Hai nam, một nữ. Ông Chí giới thiệu: Báo cáo với Thủ trưởng Hợp, đây là chú Bình, đây là chú Tam, đều là chiến sĩ nuôi quân cùng tiểu đội với tôi trong chiến dịch Tây Bắc lại cũng là hàng xóm của tôi. Còn đây là bà xã của tôi, tên là Bầu… Cũng xin giới thiệu với bà xã và hai chú: Đây là Thủ trưởng Hợp, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn Phủ Thông nổi tiếng anh hùng thời kỳ chống Pháp, còn chú nhỏ này là sinh viên trường Đại học Sư phạm Hà Nội đang sơ tán chỗ nhà ông Hợp. Tên chú là gì, ông Hợp đã nói mà tôi lại quên?

- Tên em là Thảo ạ!

- Ừ đúng rồi, con trai mà có cái tên của con gái.

Tôi thật ngạc nhiên hết mức khi nghe ông Chí “mở màn” tiệc rượu bằng bài giới thiệu các nhân vật. Từ ngữ, câu cú ông dùng rất chuẩn mực, không khách sáo mà cũng không thô kệch, chứng tỏ là người có văn hóa. Làm sao để một ông Chí Phèo xưa kia chỉ biết uống rượu, chửi tục, ăn vạ mà bây giờ lại ăn nói nho nhã như thế này được? Khác gì vừa lột xác? Tôi hoang mang và quan sát gương mặt ông một cách kín đáo.

Ông có khuôn mặt chữ điền, đôi mắt to và sáng, đôi lông mày rậm nằm ngang hình lưỡi mác. Trán rộng và cao, nước da mịn màu bánh mật, đôi môi dày, che kín hai hàng răng to, đều chằn chặn. Còn sót lại một vài vết sẹo ở trên mặt nhưng đã chuyển sang màu vàng mờ. Chỗ cổ ông còn lưu một vết sẹo dài và lớn. Đến lúc này thì tôi không thể nghi ngờ được nữa. Đúng là ông Chí 100% rồi! Còn chuyện thay đổi trong con người ông thì chắc phải có lý do. Với tất cả những nét nhận dạng trên, chứng tỏ ông Chí là con người chân thực, cương nghị, dũng cảm, có văn hóa, có trình độ, đặc biệt là có lòng nhân hậu sâu sắc và cũng là người không thể tha thứ cho bất cứ hành động tàn ác, bất công nào ở trên đời. Trong tiệc rượu, bốn ông chỉ toàn nói về những chuyện hồi còn tại ngũ. Nào là chuyện ông Hợp chỉ huy tiểu đoàn đánh chặn đoàn xe địch trên đường số 4, nổi tiếng đến mức sau này bọn Pháp phải phong “quân hàm” cho ông là Hổ Xám rừng xanh. Rồi đến chuyện ông Chí dẫn đầu tiểu đội anh nuôi, đội bom đạn đem cơm đến từng chiến hào tiếp tế cho quân ta trên đồi A1 trong chiến dịch Điện Biên Phủ. Chuyện ông Tam, ông Bình vào rừng lấy mật ong, lấy măng, hái rau để cải thiện cho thương binh và đơn vị. Bị địch phục kích, hai người liền lấy đòn đập vỡ tổ ong vò vẽ và tổ ong khoái rất to ngay cạnh mình, rồi nằm dán xuống đất. Ong bị phá tổ, hung hãn xông ra đen cả vạt rừng, nhằm vào bọn giặc đang xông đến mà trút giận. Bọn giặc bị đòn đánh bất ngờ và rất vũ bão của hai đàn ong, liền hoảng loạn, quăng cả súng mà chạy bán tử. Bình và Tam nhẹ nhàng chuồn ra khởi nơi ẩn náu, nhặt lấy mấy khẩu súng đặt vào quang rau măng cùng với mấy bọng mật ong vàng mọng, gánh về đơn vị kèm theo những tiếng cười khúc khích. Bà Bầu và tôi thì vừa ăn nhóm nhém vừa nghe chuyện. Có lúc mải nghe, quên cả ăn, để ông Chí phải nhắc…

Mâm thịt lợn lửng luộc đã vạt đi quá nửa, mấy cái vỏ chai đã vứt lăn lóc xung quanh, quân ta xem chừng đã líu lưỡi, ông nào cũng khoe: Tôi ấy à! Còn lâu đã “thay” nhá! Ba “say” cũng “không chai” nhá! Anh nào “thay” là “thoàng”… Oàng! Nói xong được câu ấy liền nằm ềnh ra, chân đạp cả vào mâm bát, rồi ngáy như sấm.

Bà Bầu bảo tôi: Các lão ấy chết cả rồi, chưa biết đến bao giờ đã tỉnh. Cháu uống nước rồi đi nghỉ, để cô thu cất mâm bát. Tôi giúp bà Bầu dọn dẹp, rồi vào ổ đắp chăn. Thế là đêm nay bác Chí “ăn no ngủ kỹ”, còn tôi thì lo ngay ngáy về cái đề văn.

Sáng hôm sau, bốn ông ngồi uống nước, lại rót bốn chén rượu đầy, uống chia tay để ông Tam, ông Bình ra về. Còn lại ba người, ông Chí nhìn ông Hợp và tôi rồi hỏi: Hôm qua ông Hợp bảo muốn nhờ tôi giúp một việc là việc gì vậy?

Ông Hợp chỉ tay vào tôi rồi trình bày: Bác Chí ạ! Chú Thảo đây được nhà trường phân công viết một bài văn về làng Vũ Đại từ sau ngày xảy ra trọng án. Cái việc bác sống lại và trốn vào rừng Cúc Phương thì tôi đã nghe và kể lại cho chú ấy nghe rồi. Bây giờ bác làm ơn kể tiếp cuộc sống của bác từ bấy đến nay, để chú ấy hoàn thành khóa luận. Tôi cũng biết bác chẳng muốn giở lại chuyện xưa, nhưng từ cái xấu của ngày xưa mà ta cải tạo nó để trở thành cái tốt ngày nay thì cũng đáng kể lại cho các đời sau nghe lắm chứ?

- Tôi cũng có ý định giấu kín chuyện này “sống để bụng, chết mang đi” nhưng nay bác Hợp đã nói là chuyện của tôi có thể giúp cho chú Thảo, giúp cho đời được chút gì đó, thì tôi xin kể. Biết đâu kể xong lại nhẹ người đi, chứ bao nhiêu năm chất chứa trong mình nỗi uất ức ở đời cũng mệt lắm rồi…

Bác Hợp và tôi mừng vì thấy ông Chí vui lòng kể:

- Khi tôi tỉnh lại thì thấy mình nằm trên chiếc thuyền câu, quần áo đầy máu. Dần dần nhớ lại sự kiện mà tôi đã gây ra. Do mất máu nhiều nên tôi mệt quá, lại còn đói và khát nước nữa. Thấy có khoai lang sống và cơm nguội trộn với cám ở trên thuyền, tôi cố ăn để lấy sức, rồi xé chiếc mùng câu tôm buộc chặt vết thương ở cổ, gắng sức dùng sào đẩy thuyền đi ngay trong đêm. Trên đường chở thuyền ra sông Hoàng Long, tôi gặp rất nhiều chiếc lờ cá rô đã đầy cá mà chủ lờ chưa nhấc. Tôi rút cả lên thuyền chở theo. Trời đã sáng và nắng rất to. Tôi cắm thuyền lại giấu vào ruộng cói, cởi quần áo ra giặt cho sạch máu. Khi quần áo khô, tôi mặc vào, rồi ghé thuyền, đem số cá rô lên chợ bán. Xong tôi chở lại thuyền thu nhặt tất cả những thứ cần thiết đem theo, bỏ lại chiếc thuyền nơi mép nước. Tuy số tiền bán cá chẳng được là bao, nhưng cũng giúp tôi đủ tiền mua con dao dựa, có được bữa cơm hàng, mua được gói muối, bát gạo, tạm sống để có sức vượt đoạn đường từ núi Non Nước đến rừng Cúc Phương bằng đôi chân rã rời của mình. Vào đến rừng, tôi mới chắc mình còn sống. Theo một lối mòn vào sâu rồi rẽ ngang, tôi gặp một hang đá. Trong hang thấy sẵn có mạch nước nhỏ, rất tiện cho việc ăn uống tắm rửa. Tôi quyết định trú ẩn tại đây, liền thu dọn lấy một chỗ nằm, rồi bắc bếp nấu nước sôi để rửa vết thương, vì tôi cảm thấy có hiện tượng nhiễm trùng. Cây thuốc thì quanh hang chẳng thiếu. Tôi rửa vết thương, rịt thuốc thì cảm thấy đỡ đau. Tôi đặt nồi cháo, ăn xong, ngủ một mạch cho đến sáng.

Với số khoai lang lấy ở trên thuyền cùng với bát gạo mua được, tôi quyết định hãy nghỉ một hai hôm để dưỡng sức. Sáng ngày thứ ba, thấy người đã dẻo, tôi cầm dao ra rừng để kiếm cái ăn. Rừng Cúc Phương quả là của quý trời ban. Ong mật, ong khoái, chim thú, hoa quả, củ mài, củ khắc rất nhiều. Lại còn cây, lá làm thuốc cũng mọc tràn lan khắp chốn. Mộc nhĩ, nấm hương, linh chi… Mọc dày các cây gỗ mục. Có tiếng hổ gầm và tiếng nai giác ở phía xa. Tôi vội lấy bọng mật ong, một ít hoa quả, một ít linh chi rồi trở về hang, chặt cây rừng làm cửa chắn lối vào để phòng thú dữ. Được bồi dưỡng bằng các vật quý của rừng, tôi khỏe lên nhanh chóng, Thu hoạch được một số lâm sản, thang thuốc quý. Tôi quyết định rời hang, đem về Ninh Bình bán lấy tiền sinh sống. Phiên chợ đầu tiên trong đời, tôi thấy cũng lạ. Tôi nói giá bao nhiêu, là người ta trả bấy nhiêu, không ai mặc cả. Chỉ một lát đã bán hết hàng. Sau này mới biết rằng mình bán quá rẻ. Chỉ bằng một phần mười giá thực, nên các nhà buôn họ tranh nhau mua hết. Dù vậy, số tiền hàng kiếm được lần đầu cũng đủ nuôi tôi vài tháng. Cuộc sống ấy kéo dài được hơn một năm thì trong một lần ra chợ, tôi gặp đoàn người đông đến hàng vạn, cầm cờ đỏ sao vàng, mang theo gậy gộc giáo mác đổ về phía Ninh Bình nói rằng đi cướp chính quyền Nhật. Tôi lập tức gửi hàng vào nhà người quen, nhập vào đoàn người ấy và trở thành lực lượng chủ lực của cuộc biểu tình, bắt tên tri phủ phải đầu hàng cách mạng, rồi tôi được tuyển vào nấu bếp cho cơ quan. Năm 1946, kháng chiến bùng nổ, tôi được cơ quan giới thiệu đi bộ đội. Thấy tôi khỏe và chịu khó, ban chỉ huy cử tôi làm tổ trưởng tổ nuôi quân, chuyên trách vào rừng tìm kiếm các thứ lâm sản để cải thiện bữa ăn và lấy các cây thuốc về chữa vết thương, chữa bệnh cho anh em trong đơn vị, nhất là chữa bệnh sốt rét. Trong những năm này, tôi đã được các anh chỉ huy dạy cho biết đọc biết viết, biết làm tính cộng trừ nhân chia. Rồi sau lần gặp ông Nam Cao và ông Hợp ở Tây Bắc, tôi được cấp trên cho đi học lớp cán bộ giảm tô và cải cách ruộg đất - chắc do ông Cao giới thiệu. Sau thời gian làm thí điểm giảm tô, cải cách ở Thái Nguyên, tôi được điều động trở lại đơn vị để tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ. Sau chiến dịch, tôi được khen thưởng và được tặng Huân chương về thành tích nuôi quân và tinh thần dũng cảm phục vụ chiến dịch. Miền Bắc được giải phóng, tôi lại được điều đi làm cán bộ giảm tô, cải cách ở các tỉnh trước đây bị địch chiếm. Tôi được cử về cải cách ở Ninh Bình, trong một xã toàn đồng bào công giáo. Phải đương đầu với bọn phản động chuyên dụ dỗ đồng bào đi Nam và chống phá cải cách ruộng đất quyết liệt, nên đầu óc tôi khá căng thẳng. Để giải tỏa tinh thần, tôi cải trang rồi đáp ô tô về thăm làng Vũ Đại. Tình hình làng xóm có nhiều thay đổi. Lý Cường làm xếp bót, chống lại ta quyết liệt, và đã bị ta bắn chết.

Hai cô cháu nhà bà Thị Nở thì đã nghe địch dụ dỗ chạy xuống Hải Phòng để di cư vào Nam. Ông Tự Lãng thì chết vì say rượu trúng gió còn cô con gái thì đã bỏ làng theo trai… Mọi chuyện cũng chẳng có gì đặc biệt nếu như không có hai sự kiện liên quan đến bản thân tôi khi được nghe người làng kể lại. Việc thứ nhất là chuyện mẹ tôi về tìm mả tôi sau ngày ta cướp được chính quyền năm 1945. Bà nói với người làng rằng, nếu cậu bé được bọc trong chiếc váy cũ mà người đi đặt ống lươn nhặt được ở trong cái lò gạch đổ từ năm ấy, thì có thể nó là con trai bà. Vì khi đọc truyện của Nam Cao, bà thấy nhà văn nhắc đến chi tiết “cái lò gạch cũ”. Nếu đúng như vậy thì người đâm chết Bá Kiến, rồi tự tử chính là con bà. Nhưng muốn khẳng định sự thật, cần phải tìm ra “người đặt ống lươn”, để từ đó tìm ra “chiếc váy cũ” đã bọc đứa bé. Bà hỏi những người già trong làng và biết được “người đi thả ống lươn” là cụ Khả, nhưng cụ Khả đã mất từ lâu, nay chỉ còn con cháu. Bà đến gặp con dâu cụ Khả và đã nhận ra chiếc váy của mình dùng để bọc đứa con trai đem bỏ trong lò gạch khi xưa. Trên váy còn có hai chữ cái X-M thêu bằng chỉ màu tím ở góc. Bà nói với con dâu cụ Khả: “Đây chính là chiếc váy của tôi. Hai chữ này do chính tay tôi thêu. Đó là tên tôi: Xuân, con gái cụ đồ Xương, và tên bố đứa bé là Mai- Ông ký Mai. Hai chúng tôi yêu nhau nhưng chưa được phép của cha mẹ, nên phải bỏ đứa con để tránh vạ. Sau này chúng tôi được phép lấy nhau, thì lại vô sinh. Nhiều lần vợ chồng tôi muốn đi tìm cháu về, nhưng không dò ra manh mối. Đến khi biết thì cháu đã không còn. “Bà không tìm được  mả tôi, vì không ai biết. Có mấy người tuần phiên biết, nhưng không dám hé răng.

Sự kiện thứ hai: Nghe người bạn đồng ngũ, làm đội trưởng đội cải cách ở làng Vũ Đại sau này nói lại: Họ đã cho dẫn chúng đến trước “mộ tôi” để truy điệu, vì tôi là một cố nông dũng cảm dám tiêu diệt tên cường hào địa chủ và “hy sinh” oanh liệt. Tôi nghe mà hổ thẹn, nhưng không dám nói ra sự thật. Tôi tự an ủi: Chính vì mình đã chôn được cái quá khứ đen tối ấy, nên cuộc đời mình mới có ngày nay. Bới ra nữa phỏng có ích gì!

Hoàn thành cuộc cải cách ruộng đất, tôi được cấp trên cho đi học chính trị một năm. Đến năm 1957 thì tôi xin phục viên theo chế độ quân đội. Cậu Bình và cậu Tam đưa tôi lên đây lập nghiệp. Được làm hàng xóm, lại được làm anh rể của cậu Bình thì thật là “nhất cử lưỡng tiện”. Bây giờ thì tôi yên tâm mà làm giàu. Nếu không phải lo thằng Mỹ phá hoại, thì cơ ngơi của tôi thật cũng đáng nể đấy chứ? Nói đến đây ông Chí đập tay vào đùi ông Hợp, cười khà khà để kết thúc câu chuyện. Rồi ông nhìn sang tôi mà bảo: Đấy, chú Thảo nghiên cứu, xem chỗ nào dùng được thì lấy. Chỗ nào không được thì để tôi đút bếp. Nói xong câu này, ông lại cười to hơn. Tôi lễ phép cảm ơn ông và khẳng định: Chuyện ông kể hấp dẫn người nghe từ đầu chí cuối, chẳng có khúc nào thừa để “đút bếp” cả. Vì đó là câu chuyện có thực kể về quá trình lột xác của một con người.

Bây giờ thì tự tôi đã hiểu vì sao một ông Chí Phèo năm xưa mà đến nay lại nói năng chuẩn mực, có văn hóa, có trình độ ứng xử văn minh như vậy? Rõ ràng đây được coi là một cuộc “lột xác”. Loài rắn thì lột xác theo bản năng tự nhiên, còn những người như ông Chí, ông Hợp, bà Thắm… Muốn thay đổi đời mình thì phải nhờ vào môi trường xã hội. Một chế độ xã hội mà bản chất của nó là phản động, thối nát thì tất nhiên nó sẽ đẩy những con người lương thiện vào vòng cùng cực, tội lỗi. Một xã hội có bản chất chính trị tốt đẹp thì tự nó sẽ cứu vớt những con người đau khổ, tội lỗi ra khỏi bùn nhơ để làm nên sự nghiệp. Trong thuyết Âm Dương Ngũ Hành của Kinh Dịch cổ đại có vẽ một vòng tròn lưỡng cực, trong vòng tròn ấy chia ra hai phần bằng nhau, phần màu đỏ là dương, phần màu đen là âm. Khi phần dương phát triển đến cực đại thì trong bản thân nó đã xuất hiện mầm mống của phần âm. Đời một con người cũng vậy, nó là một thực thể thuộc thế giới vật chất, luôn luôn vận động theo quy luật tự nhiên và quy luật xã hội. Con người sinh ra, bản chất là “thiện”. Họ chỉ trở thành người lương thiện khi không gặp phải một chế độ xã hội tàn ác, thối nát bất công. Và một con người dù đã bị đẩy đến cùng cực của nỗi khốn khổ, xấu xa nhưng trong con người ấy vẫn còn một phần tốt đẹp. Chỉ cần gặp môi trường xã hội thuận lợi thì cái phần tốt đẹp ấy sẽ phát triển mạnh mẽ, thay thế phần khốn khổ xấu xa kia. Ta gọi đó là sự Đổi Đời.

Sau này nghe nói lại, khi chấm đến khóa luận của tôi, Hội đồng Giám khảo cũng đã tranh luận nhiều. Chẳng biết các thầy cho mấy điểm, chỉ biết rằng tôi tốt nghiệp loại bằng đỏ. Như thế thì chắc chắn bài văn của tôi (Tuy chỉ là chắp bút) không phải “húp cháo ngỗng”.

                                        Việt Bắc, tháng 12/1996


 

 

 

 

 

 

TRƯỞNG BAN NGỘNG NGHỆNH

 

Làng quê tôi có tục gọi tên ghép để phận biệt những người trùng tên. Tên bố ghép với tên con. Tên vợ ghép với tên chồng. Cũng có khi lại ghép tên người với cách nói hoặc một vật sở hữu đặc trưng nào đó của người ấy, ví như ông Hàn Vị Chi (bởi ông nói câu nào cũng có từ “vị chi”), hay ông Thân Bao La, ông Dân Hoành Tráng, ông Thất Coi Như Là, ông Quang Điếu (đi đâu cũng xách điếu cày), ông Kiệm Cối (lúc nào cũng ôm mũ cối) v v… Lại còn cái chức Trưởng ban nữa. Người ta sẵn sàng phong ông này làm Trưởng ban Bốc phét, ông kia làm Trưởng ban Hủ hóa, ông nọ làm Trưởng ban Tát vét… mà không cần chạy vạy, hối lộ tiền bạc gì cả. Nhưng riêng cái chức Trưởng ban Ngộng nghệnh, một cán bộ về hưu ở làng tôi. Theo như mồm ông Ngộng nói thì ông về hưu. Nhưng ông không thèm nộp quyết định và sổ lương hưu ở UB xã, mà cứ để lĩnh ở cơ quan cũ cho “tiện”, khỏi phải chuyển đi về cho khỏi “lích kích”. Có lúc ông lại nói: “Lương để ở chỗ cô bồ già giữ hộ, khi nào thích thì lại xuống chỗ bà ấy hú hí vài ngày, “cơm no bò cưỡi” rồi lấy tiền cả cục về tiêu”. Thôi thì cũng mặc. Chuyện hưu, chuyện lương của ông như thế nào thì cũng chẳng mắc mớ gì đến ai, nếu như ông không ăn chịu, mua chịu ở tất cả các quán trong làng, mà không bao giờ có ý định trả tiền cho họ. Vì vậy, những chủ nợ của ông, mới bảo nhau quyết định làm một cuộc điều tra cho ra nhẽ. Đoàn “Thanh tra” này xuống cơ quan cũ của ông hỏi, thì được trả lời rành mạch “ông Đái Văn Ngộng, trước có làm giám đốc ở đây, nhưng do ăn cắp vật liệu, tài sản của nhà nước, nên bị kỷ luật bị thải hồi. Cơ quan cũng cảm thông, cho ông một cơ hội: Nếu ông Ngộng trả đủ số tiền đã tham nhũng thì được cấp sổ hưu, bằng không thì ông phải rời cơ quan với hai bàn tay trắng, kể cả khai trừ khỏi đảng. Ông Ngộng không chịu bồi thường, đập tay xuống bàn, chửi “vung tứ mẹt” rồi ngất ngưởng ra về.

Thế là mọi chuyện đã bị tung hê. Thảo nào hồi ấy ông ta chở gạch, chở xi, sắt về làm nhà hai tầng, xây vườn, xây ao, xây cổng cao to như cổng làng lại còn ốp gạch men đỏ choét, trong khi cả cái làng này còn nằm co trong tường đất mái tranh. Ngoài ra, ông còn mua được hai suất đất ven quốc lộ và chiếc xe con cũ nhãn hiệu Ru ma ni. Nếu tính theo kiểu “tép kể đầu, râu kể mớ” thì ông đã thực hiện được giấc mộng có “xe hơi nhà lầu” làm cho nhiều người vào thời đó phải “lác mắt”. Tiện đà ông tự phong cho mình chức Tổng Giám đốc bằng cách cho mẹ, cho vợ, cho em đi rêu rao khắp làng cái chức Tổng Giám đốc giả của ông cho oai. Ai đánh thuế thằng nói khoác? Hơn nữa ở cái vùng quê này, vào hồi đó đã mấy ai phân biệt được cấp bậc cao thấp ở cơ quan. Họ cứ thấy tay nào có chữ “đốc” gắn vào tên riêng là phục sát đất rồi! Quản đốc, Tổng Giám đốc hay Giám đốc thì chắc cũng đều có quyền có tiền nhiều như nhau. Cho nên cái việc ông Ngộng xây cơ nghiệp bao la, hoành tráng cũng là “phải nhẽ”! Có chức thì có quyền, có quyền thì có lợi, có lợi thì có lộc, lộc tất là tiền thắc mắc gì? Nhưng rồi cái xe hơi cũ Ma-de-in Ru-mà-nị chết tiệt ấy đã làm sụp đổ cơ đồ của ông, đưa ông trở về cái kiếp “khố rách áo ôm”. Đầu tiên là vụ tai nạn đổ xe do chính tay ông cầm lái, trên xe lại toàn vợ con ông. Vợ ông, con trai thứ ba của ông chết tại chỗ, hai đứa khác bị trọng thương. Bản thân ông cũng gãy tay, què cẳng. Lo xong vụ này thì ông đã gần trắng tay. Hai suất đất ven đường bán vội chỉ thu đủ vốn. Không đủ chi, ông phải cắt thêm hai ô đất thổ cư mới đủ tiền trả nợ ngân hàng. Cái xe con đã nát bét, bán cho hàng sắt vụn, chả đủ tiền cho ông nhậu hai tuần. Dân làng xôn xao bàn tán: “Chắc là của thiên trả địa. Cái của ăn cắp như đám phù vân, có bao giờ bền! Tinh tướng gì, toàn những đi vay ngân hàng để mua của “đểu” rồi về ngộng nghệnh với dân. Đã vỡ mộng “xe hơi nhà lầu rồi chứ? Hết ngộng nghệnh chưa?”.

- Chưa! Nếu ông Ngộng nghe ai hỏi như trên thì ông vẫn trả lời là “chưa” vì ông  vẫn còn ngôi nhà hai tầng kia mà! Đất thổ cư cũng đâu đã hết?

Nhưng ở đời thường gặp cảnh “họa vô đơn chí”. Cái ngôi nhà hai tầng xây vội vàng chắp vá bằng vật liệu ăn cắp lại không chuẩn mực về kỹ thuật cũng có thể không sụp đổ nếu như ông Ngộng không a dua chồng thêm tầng thứ ba để đối mặt với các ngôi nhà ba bốn tầng trong thôn, đang ngày ngày mọc lên nhan nhản. Trong một ngày mưa to tầm tã, nước tiêu không kịp, ngấm xuống, làm nhão nền móng, các bức tường tầng dưới hẫng chân, chúng đồng loạt ngửa ra như bông hoa nở, làm cho 2 tầng trên rơi tõm xuống như trái núi vừa tuột khỏi chín tầng mây. Cũng còn may không chết ai vì từ khi ông xây thêm tầng ba thì không một đứa nào đủ “dũng cảm” như ông dám chui vào ngôi nhà lầu ấy. Còn ông thoát chết do đang nằm ngoài trạm xá cấp cứu vì say rượu ngã cầu thang từ hôm trước. Hú vía!

Những tưởng sau vụ này nữa thì ông hết ngộng nghệnh. Nào ngờ chứng nào tật nấy, ông xoay sang “chủ đề” ngộng nghệnh về tinh thần. Ông thường tự phụ: “Làng này cóc thằng nào bì được với tao (ông nói với con cháu ông)”.

Thử hỏi đã có mặt thằng nào làm đến chức Tổng (à quên), Giám đốc công ty Vật liệu xây dựng, nổi tiếng hống hách một thời, mà đến cả gia đình liệt sỹ muốn mua vài trăm viên ngói cũng còn chưa được duyệt. Thế mà tao có cả nhà lầu, xe hơi… tòa ngang dãy dọc. Cho dù vận hạn hết tất cả, tao vẫn đáng mặt “anh hùng nhất khoảnh”. Cho nên từ khi về làng, ông không thèm quan hệ với ai. Ai ông cũng coi dưới tầm con mắt, đáng khinh!

Làng xã có đám khao, đám cưới đám giỗ, đám hiếu nào mời, thì ông nhận lời, nhận thiếp nhưng rất ít khi ông đến dự. Đám nhà giàu mời thì ông chê “ông cha hắn ngày xưa làm địa chủ”. Những gia đình trí thức mời, thì ông chê: “Gốc nhà nó là bọn tiểu tư sản không vững lập trường”. Còn các gia đình nghèo mà mời thì ông trả lời một cách sống sượng: Nhà chị cỗ có to không? To thì ta mới đến, chứ đến để xơi cơm rau muối như chị nói thì ta xin “kiếu”. Đôi khi có những đám là họ hàng ruột thịt, thân thích không thể bỏ được thì ông đến ăn cỗ, vừa ăn, ông vừa hạch toán trong đầu mâm cỗ đáng giá bao nhiêu? Chia cho sáu người ăn, mỗi người chịu bao nhiêu? Thái độ phục vụ của gia đình có tốt không? Ông ngồi mâm với người có đúng “vai vế” không? Xong đâu đấy, ông mới rút tiền cho vào phong bì đưa cho gia chủ. Một vài lần, gia chủ kiểm tiền còn thấy thêm cả tờ giấy bạc 500 hoặc 200 đồng “kem” trong phong bao của ông. Chắc hẳn đó là tiền chi trả những điếu thuốc lá Vi-na hoặc Du lịch. Thật chính xác như máy tính điện tử!

Hội trưởng hội Người cao tuổi đến vận động ông vào hội, ông ậm ừ cho qua chuyện. Khi ông hội trưởng về rồi, ông nói với con cháu trong nhà:

- Hội Người cao tuổi là cái thá gì mà ta lại vào đấy cơ chứ? Đó là một tổ chức xã hội, tập hợp mấy ông bà dốt nát ở cái tuổi sắp chết, ta vào đấy thì được lợi lộc gì?

Mấy đứa con khuyên: “Ông nên vào hội để khi ốm thì có các cụ đến thăm, khi qua đời thì các cụ đem vòng hoa đến viếng, rồi đưa đón đến nơi mồ yên mả đẹp”. Ông cười khẩy, rồi nói thẳng: “Tao cần gì những thứ quà cáp bèo bọt ấy? Tao thiết gì vòng hoa rẻ tiền ấy? Tao cóc cần họ đưa đám để được mồ yên mả đẹp! Bạn bè tao ở khắp nơi, chúng đều là “đệ tử” của tao, tao đã duyệt cho chúng mua “cửa sau” bao nhiêu là gạch ngói xi măng sắt thép. Tao mà chết, thì chúng sẽ đến đầy nhà chỉ sợ không đủ chỗ để dựa vòng hoa. Các con ông nghe mà không dám cãi, nhưng trong đầu chúng không tin là có cảnh đó diễn ra. Vì chúng đã quá hiểu bản tướng ngộng nghệnh và trống rỗng của ông rồi!

Nói rằng ông Ngộng không giao du với ai là hơi quá. Điều đó chỉ đúng với người ở trong làng thôi. Thực ra ông cũng có một số bạn bè ở các nơi khác, những người mà ông đã ban ơn và chịu ơn khi ông còn đương chức. Ngoài ra còn có các bà góa chồng, một số bà bán quán, một số ông buôn bán đất phát tài, vài ông về hưu non nhàn rỗi hay đánh cờ tướng và hay nhậu nhẹt ở quán thịt chó đầu làng. Có điều trình độ cờ tướng của các vị này thì vịt phải gọi bằng cụ. Còn trình độ ăn thịt chó thì chó phải lạy các vị bằng cha. Khi đã say sưa hết cả mấy chai và độ gần nửa con chó, các ông mới bày cờ ra, mắt nửa nhắm nửa mở, quân xe xếp vào chỗ quân tốt, quân mã xếp vào chỗ quân tịnh, hành binh thì bất kể luật cờ, mã cản, pháo không ngòi vẫn cứ chém tướng như chơi. Và tất nhiên là không tránh được chuyện cãi nhau, văng tục khắp nhà. Đến khi rượu và thịt chó đã “đẩy cao nhiệt độ” thì các “kỳ thủ” mỗi người chỉ còn một chiếc quần xà lỏn trên thân. Cờ ngoài bài trong, ông đánh, ông “gà” đều đã “hăng” hết cỡ, chẳng ông nào còn để ý đến “quân trang”, chim chóc “nhốt” trong các “lồng” đã nhiều con thò ra hóng chuyện nhưng các ông không thèm để ý, vẫn cứ miệng hô, tay chém ầm ĩ như giữa cảnh chiến trường trong phim Tam Quốc. Chủ quán ngó qua, thấy cảnh đó, liền loa lên cảnh báo bằng đoạn văn hài hước nhưng tế nhị: A lô! Xin thông báo để toàn thể nhân dân biết. Hiện bây giờ, tại cửa hàng Hương Cẩu Nhục đang có cuộc thi chim. Và đây là tiết mục thi chim của các cụ, tất cả sáu “lồng chim” đã mở cửa, nhưng không thấy con nào bay lên! Đọc đến đây, chủ quán sặc cười không nói được nữa. Sáu kỳ thủ lúc này mới để ý kiểm tra đến “lồng” của mình thì thấy nó đều đã “vô tác dụng”. Các ông vội khép cửa “lồng” rồi cười trừ, nói chữa thẹn: Hì hì… Chủ quán thông cảm, nóng quá mà, “tụi nó” khát nước đấy! Mấy bà đi gặt nghe “loa” tưởng thật vội đặt gánh chạy vào xem, thấy chủ quán đang ôm bụng cười lăn và mấy lão già chết tiệt đang “gia cố” các “lồng” xà lỏn thì hiểu ngay vấn đề, vừa quay ra vừa chửi: Mấy lão già phải gió, chim với chả cò, tọng cho lắm rượu vào mà dửng mỡ. Chả bù cho mấy gái già này đói khát phơi nắng đội mưa cả đời làm ra thóc gạo để đổ vào mồm lũ khỉ.

Không ai ngờ được rằng đây là bữa nhậu cuối cùng của ông Ngộng nghệnh. Hôm ấy, sau khi rời quán nhậu về nhà, nóng quá, ông vào ngay nhà tắm, xả nước tắm ào ào, huyết áp tăng lên đột ngột, mạch máu não đứt tung, ông ngã xuống mà không ai biết. Khi phát hiện ra thì ông đã “hai năm mươi về theo tiên tổ”… Nhưng tiên tổ ông Ngộng như thế nào? Xin hãy nghe một cụ già đang ngồi kể cho cánh phu đào huyệt nghe về dòng dõi ông Trưởng ban Ngộng nghệnh:

“Tổ tiên nhà ông ta không ở làng này, chỉ có đời bố ông ấy, nghe đâu ở dưới xuôi, lên đây làm thợ cày cho nhà Bá Trụ. Do ông lành hiền, chịu khó, lại giỏi hát ví và đánh đàn bầu nên nhiều cô trong làng ta có cảm tình. Về hình dạng thì vào loại điển trai, thêm nữa được cái mồm ngọt ngào lễ phép. Vì vậy chỉ sau một vụ cày, thì cô Nhâm, con gái nuôi của ông Bá Trụ đã “úp rá vào bụng”. Ông Bá không giận dữ mà lại thu xếp cho hai người thành vợ thành chồng, rồi cho ở rể luôn trong nhà, mãi cho đến khi anh chị đã sinh được 2 đứa con, ông Bá mới cho họ ở riêng kèm theo ngôi nhà và ba sào ruộng. Từ đấy trở đi, họ làm thuê buổi nào thì ông Bá trả công ngày đó, rất sòng phẳng. Ông Bá còn giúp cho cháu Ngộng học đạt được cái bằng Sơ học yếu lược thời Tây khi mới 12 tuổi. Thế mà hồi cải cách, Ngộng vất bỏ cái tình ông cháu, đấu tố ông Bá Trụ hăng hái nhất, với lý do ông Trụ đã bóc lột cha mẹ ông ta bao nhiêu năm trời. Ông Trụ đi tù rồi không thấy trở về nữa. Do có thành phần cốt cán, đấu tranh mạnh mẽ với giai cấp địa chủ, lại có văn hóa nên Ngộng được đội cải cách lấy đi làm cán bộ. Vì vậy chỉ sau 15 năm, Ngộng đã leo lên chức Giám đốc xí nghiệp Vật liệu xây dựng, một mặt hàng rất hiếm, còn khó mua hơn cả cao hổ bây giờ. Ông Ngộng nhờ thế mà giàu lên nhanh chóng vì những vụ làm ăn bất chính. Nhưng xem ra trời gần chứ chẳng xa đâu. Làm ác thì gặp ác. Của thiên trả địa, đó là lẽ đời mà cũng là luật trời.

Trái hẳn những lời tuyên bố của ông Ngộng với con cháu về viễn cảnh đám tang khi ông “nằm xuống”. Con cháu ông chẳng biết bạn ông là những ai, ở nơi nào để báo tin buồn. Có vài người thường đến,  nhưng để đòi nợ nên khi được tin dữ này, họ lại quay lưng chửi đổng: Chẳng sống nữa mà lừa tao, đáng kiếp! Cơ quan cũ của ông thì đã thay đến bốn đời giám đốc, trong danh sách cán bộ, nhân viên sau này cũng không lưu tên ông vì lý do ông bị thải hồi từ lâu. Họ nhận tin buồn nhưng không ai đến. UBND xã thì viện cớ ông không nhập hộ khẩu, nên không thể lấy quỹ nào để chi vòng hoa.

Trưởng khu cũng viện cớ không phải người của khu hành chính của mình nên không viết “điếu văn” và cử hành tang lễ. Thế này thì bi đát quá!

Ban chấp hành hội Người cao tuổi nhóm họp khẩn cấp để “chữa cháy”. Ông hội trưởng báo cáo rằng: Hôm tôi đến vận động ông Ngộng vào hội thì hình như ông ấy có hứa là rồi đây sẽ vào. Nhưng không ngờ ông “đi” nhanh quá chưa kịp trở thành hội viên. Thôi dù sao ông ta cũng đã có lời hứa. Cái nghĩa tử là nghĩa tận, các cụ ta cũng lượng thứ, đứng ra cử hành tang lễ và viếng một vòng hoa, cho đỡ tủi vong hồn người quá cố. Chủ trương này được cả hội thông qua. Rồi tang lễ được cử hành theo đúng nghi thức và tục lệ địa phương. Các cụ đi đưa tang rất đông, hoàn thành công việc “mồ yên mả đẹp”. Nếu ông Ngộng có khôn thiêng chắc phải nhận ra sai lầm của mình khi được phong chức Trưởng ban Ngộng nghệnh chứ, còn tình cảm cao thượng nhân từ của các cụ trong Hội Người cao tuổi thì chắc ông phải ân hận mà làm lại cuộc đời của mình, nếu có kiếp sau?!

 

 

 

 

 

 

 

 

 

VỤ TRỘM ĐÊM GIAO THỪA

 

Còn ba tiếng nữa mới đến giao thừa. Tôi đến thăm cụ An, chúc Tết trước, để kịp về đón xuân cùng gia đình. Tôi bước vào nhà, chào gia đình và nói những lời chúc Tết. Cụ An đón tôi niềm nở. Cụ sai cháu pha ấm trà mới, bày bánh kẹo, pha cà phê, mở chai sâm panh hảo hạng.

- Xin mời thầy giáo nâng chén! Tôi cũng xin chúc gia đình thầy những lời tốt đẹp nhất, hạnh phúc nhất mà thầy vừa chúc cho gia đình tôi.

Cụ vừa nói vừa nâng chén rượu tôi đưa với tấm lòng ngưỡng mộ. Tôi cảm ơn đón chén rượu màu vàng nhạt, chưa uống mà đã thấy “say” vì tình cảm của một cụ già giành cho người còn ít tuổi… Phòng khách lúc này chỉ còn tôi với cụ. Cụ bà đã đi ngủ. Các lực lượng trẻ thì đã biến đi tìm thú vui ngoài nhà văn hóa. Sau ba lần cụng chén, cụ An nói: Tôi xin lỗi được tắt ti vi để ông con mình nói chuyện.

- Thầy giáo ạ! Câu chuyện này, tôi giữ trong lòng đã 60 năm. Thực ra sự việc cũng chẳng tốt đẹp gì đâu. Thậm chí còn xấu xa nữa. Nhưng chính vì nó mà tôi đổi đời, nên nó trở thành kỷ niệm sâu sắc mà tôi không dám quên.

- Thưa cụ, chuyện gì thế ạ? Tôi hỏi với ý tò mò.

- Chuyện ăn trộm, tôi đi ăn trộm vào đêm giao thừa Ất Dậu - năm bốn nhăm. Nói ra thì xấu hổ, mà không nói ra thì cứ canh cánh trong lòng.

- Thư cụ, cháu nghĩ cái xấu chỉ còn xấu khi ta cứ khư khư giữ nó, chứ có khi cái xấu lại là sự mở đường cho cái tốt đi lên.

- Đúng thế! Vâng nếu được thầy giáo thông cảm như vậy, tôi xin kể thầy nghe (và câu chuyện được tái hiện qua trí nhớ tuyệt vời của cụ An, làm cho tôi như đang được xem phim trên màn ảnh).

“Bấy giờ, chưa ai có đồng hồ, nhưng có lẽ cũng vào tầm này đêm giao thừa năm bốn nhăm, tôi vẫn đang nằm trong chuồng trâu nhà cụ Bá Béo trên thôn Thượng. Mà lại nằm dưới bụng con trâu mộng mới cực chứ. Nhưng không thế thì không thể vào nhà người ta mà ăn trộm được. Chịu cực đến đâu cũng chưa khổ bằng cái đói nó cào xé ruột gan. Lớp người từ sau năm Dậu ấy, chưa phải trải qua nạn đói, chết đến hai triệu người nên chưa thấy giá trị của những cái ăn sống người. Bây giờ, giò nem ninh mọc, lớp trẻ họ cũng gẩy đũa kêu chán. Sướng thế đấy! Chẳng bù cho ngày xưa… “Thế cụ làm sao mà vào được chuồng trâu nhà cụ Bá? (tôi hơi sốt ruột, muốn nghe vào câu chuyện chính).

- A! Làm sao vào được chuồng trâu hả? Khó đấy. Vì nhà này có đàn chó dữ, mặc dù chúng đã quen hơi tôi. Nhưng nếu trèo tường, chui rào mà vào thì nhất định vẫn bị chúng phát hiện, sủa rống lên, tất sẽ lộ. Tôi nghĩ ra một mẹo, bám theo đàn trâu để vào.

- Thế cụ cưỡi trâu để vào à?

- Không! Cưỡi trâu thì còn ăn thua gì. Nguyên tôi vốn là người ở chăn trâu  nhà cụ Bá, quen cả trâu và chó của chủ nhà. Nhưng đã 30 Tết rồi thì còn ai chứa mình nữa. Trâu hôm ấy do bà vợ thứ ba của cụ Bá đi chăn. Trâu nhiều mà người chăn thì ít. Chúng chui vào rừng, mãi chập tối mới chịu ra. Tôi đã chuẩn bị sẵn một chiếc bao tải, bốn góc buộc bốn sợi dây. Cả bao và dây đều đã nhấn bùn để lẫn với màu của trâu, không để ai phát hiện. Tôi luồn vào rừng, tìm đến con trâu mộng đầu đàn mà tôi vẫn thường cưỡi. Tôi buộc cái “võng” vào dưới bụng nó, bốn dây treo nên lưng trâu. Tôi chui vào nằm ngửa trên võng, mặt áp vào bụng trâu. Lúc đầu chưa quen, nó cứ lấy chân sau mà đá vào tôi. Tôi phải gãi cho nó để nó khoái để nó quên đi cái “của nợ” đeo dưới bụng. Nhưng có lẽ vì khoái quá nên nó vãi đái ra. Thầy giáo biết rồi đấy, trâu đực mà đái thì dai lắm. Phải đến 5 phút nó mới dừng. Tôi vội dạng chân ra, nên nước tiểu chỉ chảy qua võng rơi xuống đất. Sẩm tối đàn trâu được dồn về chuồng. Chúng chen lấn nhau. Mấy con trâu cà còn dửng mỡ đuổi “gái” chạy tứ tán. Vào đến cổng nhà chủ, tôi run như gà cắt tiết. Đàn chó đánh hơi được tôi, chúng cứ chạy theo mà mừng, mà ư ử. Cũng may, con trâu mộng lấy sừng lia một vòng đuổi được chúng vào nhà. Còn tôi đã nằm gọn trên võng giữa chuồng trâu. Hình như đã mỏi, con trâu mộng bỗng nằm ềnh ra. Thế là tôi hết chỗ ẩn, vội trèo lên gác rơm vùi mình, thở những hơi dài để trút bớt nỗi sợ hãi và sự mệt mỏi. Tôi phải cố giữ cho mình khỏi ho và đừng ngủ quên. Đợi mãi đến sau giao thừa, mọi người đã ngủ say, tôi mới mò xuống nhà bếp, rồi mở khóa cửa lách, lên buồng kho, vào nhà trên. Lối đi này thì tôi đã thuộc làu, cả chỗ để chìa khóa tôi cũng đã biết. Tôi chui vào nằm dưới gầm giường cụ Bá để quan sát. Cụ Bá đã ngủ. Cụ thở nhè nhẹ, đầu gối lên chiếc gối mây. Cái tráp nhỏ để bên cạnh. Tay đè lên tráp như có ý bảo vệ. Chiếc tráp này đựng gì? Tôi nghĩ trong ấy phải đựng của quý, trên bàn thờ chỉ thắp ngọn đèn con, vặn nhỏ. Bánh chưng, mứt kẹo, trà rượu chất đầy, lớp nọ chồng lên lớp kia. Nhưng tôi đã đổi ý, không lấy các thứ đó. Tôi chỉ mơ cái tráp nhỏ kia thôi. Có nó sẽ có tất cả. Tôi nhẹ nhàng, nhắc tay cụ Bá ra khỏi tráp. Nhưng bỗng cụ giật mình và từ từ ngồi dậy. Tôi vội chui vào gầm chiếc sập. Cụ đến bên bàn thờ vặn cho đèn sáng trưng lên. Cụ trở lại ngồi trên sập, rót nước trong ấm ủ, uống hai chén nhỏ. Uống xong, cụ lấy ngọn giáo dựng tại bức thuận, cầm trong tay, rồi lên tiếng: Có phải thằng An nằm dưới gầm sập thì ra ngay. Nếu không ra thì tao đâm chết. Tường rào, cổng cửa nhà này không dễ gì chạy thoát đâu. Ra ngay, ông sẽ tha chết cho. Nếu không, ông gọi bọn chúng dậy thì mày no đòn. “Đến nước này chỉ còn cách ra mà nộp mạng, van lạy thì họa may còn sống. Tôi chui ra, miệng van lạy lắp bắp: Con xin cụ, con lạy cụ… Con ra ngay!”.

- Tao đoán không sai mà, chỉ có mày mới dám vào nổi nhà này. Kẻ khác thì tan xác với đàn chó kia rồi.

- Con cắn rơm, cắn cỏ lạy cụ. Vì đói quá. Vợ con con đói khát sắp chết, nên con mạo phạm làm càn. Mong cụ gia ân, sinh phúc tha cho tội chết. Tôi nói xong, phủ phục xuống đất, nước mắt chảy ướt cả nền nhà, sẵn sàng đợi cụ đâm cho một nhát, hoặc trói gô lại giao cho chức dịch hành tội.

Cụ Bá nói:

- Thôi, đủ rồi. Hãy ngồi dậy nghe ông nói đây. Ông nghĩ giờ này đã sang ngày mùng một Tết. Nhà mày đói quá nên mày phải làm liều. Năm mới, ông cũng chẳng muốn giết,  muốn hành hạ mày làm gì. Ông ở lấy phúc lấy đức cho con cháu. Ông tha tội cho mày, coi như không có sự kiện hôm nay. Mày đứng lên! Lại đây, ông cho chén rượu đầu xuân, uống đi cho đỡ sợ rồi về. Ông sẽ cho vài thứ mà ăn Tết.

Tôi tưởng tai nghe nhầm, nên vẫn cứ quỳ mà van lạy cụ tha tội. Cụ nhắc lại câu nói với giọng hơi gắt: “Khe khẽ chứ!” Tôi nghe rõ, lạy cụ lần nữa. Đứng dậy đón chén rượu. Hai tay run run, làm cho rượu đổ đi quá nửa.

Cụ bảo:

-  Bây giờ mày ra cổng, tao sẽ mở cho. Ngày mai, tao sẽ bảo chúng nó đem xuống cho vài thứ mà ăn Tết.

- Tôi quỳ xuống nói:

-  Thưa cụ, con được sống là nhờ cái ơn tái sinh của cụ. Xin cụ cho phép con nhận cụ làm cha, sống tết, chết giỗ. Cụ cho con được toại nguyện để con yên tâm mà về.

- Được! mày có lòng như thế, ta không từ chối. Từ nay ta sẽ chăm lo cho mày. Nói rồi cụ thắp thêm hương, khấn vái tổ tiên. Cụ bảo tôi lễ ba lễ trước bàn thờ mong tổ tiên chứng giám, tiếp nhận tôi là con cháu trong nhà. Tôi vái cụ Bá - Bây giờ là cha tôi lần nữa, rồi ra về, tay xách chiếc bị cói, trong đó đựng hai cái bánh chưng, một gói mứt, hai cái chân giò lợn do cụ Bá cho. Về đến nhà thì trời đã gần sáng, vợ con tôi đói lả vẫn ngồi trong đêm đen chờ đợi. Tôi thắp đèn, đốt mấy nén nhang, đặt mấy thứ lên bàn thờ, khấn vái ông bà cha mẹ đã khôn thiêng phù hộ cho tôi thoát khỏi nạn này… Lát sau, tôi hạ “cỗ”. Cả nhà ngấu nghiến ăn. Tôi chỉ ăn cho qua, rồi vào ổ rơm, đắp cái bao tải. Tôi vã mồ hôi, người như phát sốt. Tôi nằm khóc thầm cho đến lúc thiếp đi. Pháo nhà giàu nổ, làm tôi giật mình choàng dậy. Trời đã sáng! Ánh bình minh đầu xuân Ất Dậu đang xé những đám mây đen để chiếu sáng chân trời.

Kể đến đây, giọng cụ An như nghẹn lại. Hai khóe mắt đã rớm lệ. Chắc cụ đang sống lại những ngày đau khổ năm xưa. Tôi cũng không cầm nổi xúc động. Tôi vội nhìn lên bàn thờ xuân Ất Dậu 2005 của nhà cụ An, thấy chất đầy của ngon vật quý. Nghĩ tới những điều cụ An vừa kể, mới thấy hết sự đổi đời của nhân dân ta. Càng biết ơn Cụ Hồ và cách mạng như núi cao biển rộng. Chắc cụ An cũng nghĩ như tôi. Qua cơn xúc động, cụ kể tiếp: Chiều ngày mùng một Tết, cụ Bá cho cô Ba gánh xuống cho một gánh nặng vừa gạo nếp, gạo tẻ, thịt lợn, dưa hành và hai gói mứt. Tôi thắp hương, ngoảnh về thôn Thượng lễ vọng cụ Bá ba lạy rồi nhận lấy gánh đồ tết. Cô Ba còn đưa cho mấy đồng bạc mà bảo: Đây là tiền cụ Bá cho để mừng tuổi các cháu. Thầy giáo ạ! Không biết là ông bà cha mẹ tôi ăn ở phúc đức đến đâu, mà tôi gặp được người nhân hậu như vậy. Tôi nguyện sẽ làm một việc gì đó thật tốt đẹp để xứng đáng là con cháu của cụ. Sau cái tết, cụ Bá cho vợ con tôi lên làm công cho nhà cụ. Vợ tôi cắt cỏ chăn trâu và phụ việc đồng áng. Hai con tôi chỉ chuyên việc quét sân, lau nhà, cọ rửa ấm chén, đun nước và châm đóm để cụ hút thuốc lào. Tôi yên tâm về phần gia đình và nói: Con được ông cứu sống, lại trông nom gia đình cho con. Kỳ này con sẽ đi xa, làm một việc gì có ích cho dân cho nước để đền lại ân sâu của ông bà. Ngày mai con đi, chưa biết đến bao giờ trở lại. Mọi việc con xin nhờ ông bà thương mà cưu mang mẹ con nó.

- Con không phải nói nhiều (cụ gọi tôi bằng con), ta đã biết cả rồi, con đừng băn khoăn khách sáo nữa. Con ra đi, ta chỉ dặn một điều: Làm người phải giữ lấy chữ nhân làm đầu, nghĩa là phải thương người, cứu người, giúp đỡ người khác. Nhưng làm ơn chớ mong người đền ơn. Thế mới gọi là người có nghĩa. Nếu vội trả ơn, thì chính là kẻ vô ơn. Ta chỉ dặn con có vậy.

Bây giờ con xuống bếp, cùng bà Ba làm bữa cơm chia tay, để ta thắp hương cầu các cụ phù hộ cho con làm ăn được “thơm tay may miệng”.

Tôi vâng lời, cùng bà Ba giết gà, đồ xôi… Được lễ, cụ đặt lên bàn thờ khấn vái. Tan tuần hương, cụ cho hạ cỗ, cả nhà ăn uống vui vẻ, nhất là cụ bà thì mừng lắm, vì tự nhiên cụ được thêm một thằng con trai, đứa con dâu và hai cháu nội. Điều mà cụ mong mỏi mãi ở người con trai ruột mà chưa được. Khi tôi về, hai cụ còn cho hơn chục bạc để cơm nước đi đường. Vài ngày sau, tôi đến tìm nhà anh Hòa ở chân dãy Tam Đảo. Anh Hòa cũng cảnh nghèo như tôi. Tôi nói rõ lý do và rủ anh Hòa đi làm phu khuân vác ở Hải Phòng. Anh Hòa bảo: Đi đâu bây giờ được nữa. Tây Nhật bóc lột dân mình, còn có chỗ nào sống được đâu. Bây giờ chỉ có một con đường là đi theo Việt Minh để đánh Pháp đuổi Nhật mà giành lấy độc lập cho nước nhà, giành lấy cuộc sống cho chính mình. Cậu có đi thì cùng mình mai sang Thái Nguyên. Ở đó bây giờ đã có quân Giải phóng, ta sang đấy mà theo họ.

Nghe anh Hòa nói, tôi biết là đã tìm được người cùng chí hướng. Sáng hôm sau, hai chúng tôi ăn bữa cháo sắn để chia tay quê hương. Vừa vượt qua ngọn Tam Đảo, xuống đến dốc Quân Chu thì bị bắt. Ba thanh niên mặc áo chàm, đeo súng săn, cầm mã tấu giải chúng tôi vào sâu trong rừng  trình với chỉ huy của họ. Đến nơi, anh Hòa nhận ra anh Long, bạn cũ - Người chỉ huy đơn vị du kích. Sau khi nghe nguyện vọng của chúng tôi, anh Long nhận cho hai người vào đội du kích quân Giải phóng và phát cho mỗi người một thanh đao với hai trái tạc đạn, một cuộn dây thừng (để trói giặc). Sau một vài ngày tập bắn súng, ném lựu đạn, đánh mã tấu, chúng tôi trở thành lính Cụ Hồ thật sự. Hạ được đồn binh Nhật ở Tam Đảo đấy, thu được một số vũ khí hiện đại của Nhật, đơn vị tôi trở thành lực lượng quan trọng trong cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945…

Sau chiến thắng Thu Đông 1947, đơn vị tôi được biên chế vào Sư đoàn 308 rồi sang Trung Quốc tập huấn. Năm 1950, Sư đoàn tôi về giải phóng Đông Khê, Thất Khê, khơi thông biên giới phía Bắc, bắt sống Lơ-pa, Sac-tông và mấy ngàn tù binh. - Cụ An dừng kể, vẻ mặt tươi hẳn lên, có lẽ cụ đang sống lại những ngày hào hùng nhất của một đời làm lính Cụ Hồ. Cụ uống chén trà dấp giọng. Tôi rót hai ly rượu nói: Cháu xin được chúc mừng sự đổi đời của cụ! Cụ cạn chén, giọng rất vui: Thầy giáo ạ! Tôi mong mãi có ngày về giải phóng quê hương, nhưng khi ngày ấy đến lại làm tôi lo lắng, hồi hộp đến cao độ. Đầu năm 1951, quân ta mở chiến dịch Trần Hưng Đạo. Sau một đêm công đồn mãnh liệt, chúng tôi đã nhổ sạch các căn cứ ngoại vi như Ba Huyên, đồn Thứa, bốt Thằn Lằn. Chúng tôi tràn về Vĩnh Yên, nhưng gặp phải mấy binh đoàn tinh nhuệ của Pháp chặn lại ở vùng Núi Đinh, Hữu Thủ.

Hai bên tác chiến. trung đội tôi vào thôn Thượng đang rực lửa, thì gặp bọn Ma-rốc đang bắn giết nhân dân, hãm hiếp phụ nữ. Chúng tôi dùng tiểu liên quét sạch bọn giặc, cứu được dân làng, nhưng không thấy gia đình cụ Bá đâu cả. Tôi vội đưa cả tiểu đội đến nhà cụ, thì thấy bọn giặc đã gom cả nhà cụ ra sân, sắp dùng lựu đạn sát hại. Tôi lia hết cả băng tiểu liên. Bọn giặc đứa chết, đứa bỏ chạy. Tôi cũng vội dẫn tiểu đội truy kích địch ra khỏi làng, cùng với đại quân, dồn tàn binh giặc chạy tháo thân về phía Vĩnh Yên.

Quân ta bao vây căng(*) Vĩnh Yên một đêm, nhưng có lẽ thấy chưa thể giữ được đất và mục tiêu chiến dịch là đánh đồn - diệt viện nên chúng tôi được lệnh rút lui về phía núi Đinh. Ngày hôm sau, Bộ Chỉ huy Quân đội Pháp đưa một lực lượng lớn từ Hà Nội lên phản công, và đã kịch chiến suốt một ngày với quân ta quanh ngọn núi Đinh này. Chúng đã mắc mưu quân ta, sa vào trận phục kích đã giăng sẵn, để nhận thêm một thất bại nữa. Sau trận này, chúng tôi rút lên Việt Bắc, củng cố lực lượng chuẩn bị cho chiến dịch sau. Thế là tôi vẫn chưa gặp lại được cụ Bá và vợ con. Rồi chiến dịch nối tiếp chiến dịch, tôi cũng chẳng làm sao về được để thăm nhà. Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, tôi lại được điều đi tiễu phỉ, mãi đến đầu năm 1955 mới về qua nhà được, lại gặp đúng dịp cải cách ruộng đất đang diễn ra quyết liệt. Gia đình cụ Bá bị quy là địa chủ. Họ lấy cớ: Cụ Bá đã bóc lột vợ con tôi suốt 10 năm trời, và vận động vợ con tôi đấu tố cụ. Vợ con tôi trình bày rõ nguyên do, nhưng họ dứt khoát không nghe, rồi quy cho tội bao che địa chủ. Tôi tìm gặp Đội trưởng Cải cách, nói hết đầu cuối câu chuyện và lý do vợ con tôi đến ở nhờ nhà cụ Bá, được cụ cứu sống, chứ không có chuyện bóc lột nhân công. Cũng may, tay đội trưởng là bạn chiến đấu cũ, hắn tin tôi và đã hạ thành phần cụ Bá thành phú nông. Thế là một lần nữa, tôi lại cứu sống được gia đình ân nhân. Tôi đến thăm cụ và gặp vợ con. Cụ ôm tôi mà khóc. Sau đó, cụ tuyên bố: Gia đình ta có phúc lớn, nên mới gặp được anh An. Nếu năm 45, tôi bắt tội anh ấy, thì lấy ai để cứu gia đình ta thoát khỏi hai lần họa lớn.

Gia đình tôi được chia ruộng đất. Tôi xin cụ Bá cho về quê. Hai cụ cho vợ con tôi một số vốn để làm ăn. Tôi yên chí trở lại đơn vị, rồi sau đó vào Nam chiến đấu suốt hai mươi năm. Mãi sau ngày thống nhất đất nước, tôi được quân đội cho nghỉ hưu với quân hàm Thượng tá. Và bây giờ thì thầy giáo biết đấy! Tôi thực sự đã đổi đời!

Cụ An dừng kể, nở nụ cười mãn nguyện. Tôi nhìn đồng hồ, thấy sắp đến giao thừa, vội xin phép cụ ra về. Cụ bắt tay tôi và tiễn ra khỏi cổng. Tôi về đến nhà thì vừa lúc xuân sang. Trên màn hình rực rỡ những bông pháo hoa muôn màu muôn sắc tỏa khắp bầu trời.                                                   

Giao thừa Ất Dậu – 2005  

 

(*)Căng: Trại tập trung (dưới thời thực dân Pháp) để giam giữ nhiều người.

 

 

 

 

 

 

 

Trần Hải