PHÁT HUY MẠNH MẼ MỌI NGUỒN LỰC, MỌI TIỀM NĂNG SÁNG TẠO CỦA NHÂN DÂN ĐỂ XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ TỔ QUỐC!
Từ khóa tìm kiếm Từ khóa tìm kiếm

Một thế hệ vàng trong mỹ thuật Việt

(Ngày đăng: 22/06/2017, số lượt xem: 127)

      Lịch sử của nền mỹ thuật hiện đại Việt Nam gắn liền với vai trò của Trường Đai học Mỹ thuật Việt Nam, tiền thân là trường Mỹ thuật Đông Dương.

 

Hầu hết những người yêu thích hội họa Việt Nam đều biết đến trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông dương (L’École des Beaux-Arts de l’Indochine).

Đây được xem là cái nôi đào tạo nhiều thế hệ họa sĩ cũng như kiến trúc, điêu khắc đã đi vào lịch sử nghệ thuật Việt Nam.

Vượt xa mục tiêu một trường mỹ thuật

Năm 1925, Trường Mỹ thuật Đông Dương khai giảng khóa học đầu tiên với ba ngành đào tạo: hội họa, điêu khắc, kiến trúc. Đây là điểm mốc lịch sử quan trọng đối với mỹ thuật hiện đại Việt Nam.

Trường lấy phương pháp khoa học của nghệ thuật phương Tây kết hợp với nghệ thuật truyền thống làm nền tảng.

Sự ra đời của Trường Mỹ thuật Đông Dương tạo cơ sở khoa học để làm phong phú hơn nghệ thuật dân tộc, là cầu nối giữa nghệ thuật truyền thống với nghệ thuật nhân loại, giữa nghệ thuật phương Đông với nghệ thuật phương Tây.

Bởi vậy, lịch sử mỹ thuật hiện đại Việt Nam gắn liền với vai trò của Trường Mỹ thuật Đông Dương.

Trường Mỹ thuật Đông Dương được thành lập có tính tất yếu của lịch sử. Tuy nhiên, không thể thiếu vai trò của họa sĩ Victor Tardieu, vị hiệu trưởng (người Pháp) đầu tiên của nhà trường, cũng như sau này là vai trò của họa sĩ Tô Ngọc Vân, vị hiệu trưởng người Việt Nam đầu tiên.

Tranh họa sĩ Trần Văn Cẩn.

Tranh họa sĩ Trần Văn Cẩn.

Điều thú vị nhất, theo một nghiên cứu của ông Trần Hồng Quang, giảng viên trường Đại học Kiến trúc Đà Nẵng, tuy do Toàn quyền Pháp thành lập (chính thức ngày 27/10/1924), nhưng chính những người điều hành và học trò của họ sau này đã làm cho tên tuổi của trường thoát ra khỏi định hướng ban đầu.

“Có thể thấy, khuynh hướng đào tạo của nhà trường, dưới bàn tay của những người sáng lập, đã vượt xa những dự định ban đầu của toàn quyền Pháp, về việc chỉ đào tạo những thợ trang trí và xây dựng người bản xứ, nhằm phụ giúp công việc chính của người Pháp…

“Đây là lý do chính, khiến cho trường nhiều lần bị dọa đóng cửa bởi những làn sóng dư luận của Pháp và chính toàn quyền Đông Dương”, ông Quang viết.

Đỉnh cao của nền mỹ thuật Việt hiện đại

Ra đời chỉ trong một thời gian ngắn ngủi và bối cảnh chính trị nhiều biến động, nhưng vai trò và cống hiến của ngôi trường này là rất to lớn trong lịch sử.

Những thế hệ sinh viên đầu tiên của trường Mỹ thuật Đông Dương tốt nghiệp và tiếp tục lao động theo đúng chuyên ngành của họ với những thành tích đáng nể.

Về mảng kiến trúc, những cái tên được biết đến nhiều nhất như: kiến trúc sư Nguyễn Cao Luyện (khóa III), kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát (khóa VIII), hay các thế hệ sau như Nguyễn Bá Lăng, Tạ Mỹ Duật, Đàm Trung Phường… đều đã có những công trình kiến trúc tiêu biểu, nhiều công trình còn sử dụng đến ngày nay.

Đặc biệt, trong lĩnh vực hội họa, các họa sĩ thời kỳ đầu tiên của trường được xem là những trụ cột trụ của mỹ thuật Việt Nam sau này, như họa sĩ Tô Ngọc Vân, Nguyễn Gia Trí, Trần Văn Cẩn, Nguyễn Phan Chánh, Nguyễn Tư Nghiêm, Dương Bích Liên, Nguyễn Sáng, Bùi Xuân Phái hay các họa sĩ Lê Phổ, Lê Thị Lựu, Mai Thứ, Vũ Cao Đàm…

Tranh họa sĩ Nguyễn Tường Lân trong bộ tứ Trí Lân Vân Cẩn.

Tranh họa sĩ Nguyễn Tường Lân trong bộ tứ Trí Lân Vân Cẩn.

Theo BS Hà Quốc Thái, một nhà sưu tập tranh có tiếng người Mỹ gốc Việt, thế hệ họa sĩ tài hoa này đã tạo nên phong cách nghệ thuật đa dạng, với những sở trường sử dụng chất liệu như sơn mài, sơn dầu, tranh lụa, cùng những đề tài và phong cách riêng độc đáo, đã định hình diện mạo cho nền hội hoạ hiện đại Việt Nam.

“Họ tạo một vị trí vững chắc cho mỹ thuật mang phong cách Á Đông của giai đoạn lịch sử này, nhưng không giống Trung Hoa, Nhật Bản hay Hàn mà lại rất Việt Nam.

“Bố cục tranh của họ thoáng đãng, có sự gia công tinh tế của phương Đông kết hợp cùng sự chính xác, khoa học phương Tây, giữa diễn tả và gợi tả…”, ông Thái nhận định.

Điều mà hầu hết những người nghiên cứu về lịch sử hội họa Việt Nam đều công nhận là tuy mới ra đời và sinh sau đẻ muộn, nhưng thế hệ họa sĩ đầu tiên này ngay lập tức đã tạo nên đỉnh cao cho nền mỹ thuật Việt. Và từ đó về sau, các thế hệ kế tiếp chưa bao giờ vượt qua họ.

Ngay từ những năm 1960, công chúng mỹ thuật đã nói về hai bộ tứ của hội họa Việt Nam “Trí, Vân, Lân, Cẩn ” và “Sáng, Liên, Nghiêm, Phái”.

Ngoài ra, có hai họa sĩ sáng giá đứng “riêng một góc trời” là Lê Phổ và Nguyễn Phan Chánh.

Tranh họa sĩ Tô Ngọc Vân trong bộ tứ Trí Lân Vân Cẩn.

Tranh họa sĩ Tô Ngọc Vân trong bộ tứ Trí Lân Vân Cẩn.

Lê Phổ có sự nghiệp hội họa được thế giới biết đến như một biểu tượng của sự kết hợp Đông và Tây, các tác phẩm hội họa của ông được chào đón trên thị trường nghệ thuật thế giới từ Paris đến NewYork, điều mà chưa có một họa sĩ Việt Nam nào đạt tới.

Giới nghiên cứu hội họa cho rằng thế hệ vàng của nền hội họa Việt là một trường hợp lạ lùng hiếm hoi của lịch sử.

Vì trong bối cảnh nghiệt ngã của Việt Nam, họ là những nghệ sĩ biết bạo gan bơi ngược dòng chủ lưu.

Họ muốn tìm ra cho bằng được con đường riêng của mình trong sáng tạo nghệ thuật, làm nên những tác phẩm mỹ thuật mà ban đầu đã bị đón tiếp một cách lừng khừng, ghẻ lạnh nhưng về sau đã trở thành những giá trị được cả xã hội thừa nhận.

Ngày 30/12 Trường đại học Mỹ thuật Việt Nam, hậu thân của trường Mỹ thuật Đông Dương đã tổ chức lễ kỷ niệm 90 năm ngày thành lập trường (1925-2015) và đón nhận Huân chương Hồ Chí Minh.

Nguyễn Thị Thanh Vĩnh