NHIỆT LIỆT CHÀO MỪNG NGÀY NHÀ GIÁO VIỆT NAM 20/11!
Từ khóa tìm kiếm Từ khóa tìm kiếm

VĂN XUÔI VĨNH PHÚC - Tuyển tập tác phẩm đoạt Giải thưởng Văn học Nghệ thuật 1997 - 2016, (phần 2)

(Ngày đăng: 19/01/2018, số lượt xem: 87)

 

 

 

NGUYỄN CẢNH TUẤN

  

Nhà máy tây ở làng ta

  

NHÀ XUẤT BẢN VĂN HÓA THÔNG TIN, 2004

   

---------------------------------------------------------

 

Tập bút ký, phóng sự đoạt Giải C,

 Giải thưởng VHNT tỉnh Vĩnh Phúc 5 năm lần thứ II

(2000 - 2005)

 

 

 

NƠI ĐỂ SỐNG HẾT MÌNH

 

Thăm trường. Tôi đọc những dòng thư này của anh Nguyễn Quang Kính, giáo viên toán dạy ở trường từ những năm 1964 đến năm 1973, bây giờ anh đã về Hà Nội, không rõ anh làm gì, ở đâu, nhưng những chữ này của anh thì tôi khó lòng quên được: “Tôi ở trường vào những năm chống Mỹ khắc khổ lãng mạn. Hồi đó thầy và trò đều sống hết mình và rất quý nhau. Tôi dạy ở đấy. Học rất nhiều ở đấy và để lại đấy những năm đẹp nhất. Nghĩ về trường bao giờ tôi cũng thấy chan chứa tự hào và biết ơn… ”. Ngần ấy chữ của anh đã là cọc tiêu, là định hướng cho tôi tìm đến với trường, khai thác kỷ niệm, nhìn biết những nét vẽ tạo lập nên những mùa hoa, cây trái nối tiếp sinh sôi suốt năm mươi năm qua của ngôi trường trên đất trung du – trường Trung học phổ thông Trần Phú (THPT)… Nói về lịch sử ư? Trang đẹp ấy lớp lớp thầy cô giáo vẫn nối tiếp nhau để viết, để nói cho hôm nay và cho ngày mai biết rằng: 50 năm qua là một chặng đường đẹp của trường THPT Trần Phú. Thầy Trần Sơn, giáo viên dạy Sử kể về trường như một nhân chứng sống để chúng tôi biết rằng: Ban đầu trường có tên là Nguyễn Thái Học, lập nên từ 1947, lánh mình bên chân núi Sáng (Lập Thạch). Ngày ấy trường chỉ có 3 lớp với 5 thầy giáo. Hòa bình (1954) trường chuyển về Phúc Yên và từ ấy trường vinh dự mang tên đồng chí Tổng Bí thư đầu tiên của Đảng – Trần Phú. Hai mươi lăm năm chặng đường đầu tiên, trường phải bao lần đi sơ tán, bao lần đi lánh nơi xóm núi, xóm đồi ở Lập Thạch, Tam Dương nhưng trường không có ngày nghỉ dạy và bỏ học. Từ ngôi trường Trần Phú về sau đã chia nhánh sinh cành, thêm bao nhiêu trường đồng cấp nữa cho các huyện, thị xã ở nam phần tỉnh Vĩnh Phú. Ngót bốn mươi năm nay, trường trụ lại trên đỉnh đồi Dốc Láp, Vĩnh Yên. Ngôi trường mọc lên từ đấy, tường gạch mái ngói khang trang, vẹn nguyên, êm đẹp biết bao. Bây giờ trường Trần Phú đã có thêm những ngôi nhà cao tầng. Bây giờ trường có tới 35 lớp học với 1700 học sinh, mỗi năm có 500 em ra trường. Bây giờ trường có hơn 50 thầy, cô giáo… Chuyện lịch sử của trường gợi tôi nhớ tới nét chữ chân phương của giáo sư Hoàng Thiếu Sơn, nguyên cán bộ giảng dạy Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, cựu giáo viên trường Trần Phú những năm 1950. Lời của thầy khơi gợi biết bao: “Nhớ lại những ngày học sinh học ở đình, ở chùa, rồi ở lán, ở rừng nhưng mà đời lúc nào cũng cứ tươi vui, thầy trò đều kham khổ, chịu đựng với nhau để dạy thật tốt, học thật tốt chỉ nhằm một cái đích là làm sao cho đất nước chóng giải phóng, Tổ quốc chóng độc lập”. Để rồi, sau này vị giáo sư ấy xúc động viết rằng: “Trên đường đời, gặp lại một số anh chị em tôi lại càng vui mừng vì biết bao nhiêu người đã thành đạt trong đủ mọi lĩnh vực hoạt động, họ làm vẻ vang cho trường cũ của mình… ”. Tất cả những lời ấy như là khẳng định thêm lời thơ của nhà thơ Nguyễn Bùi Vợi, thầy giáo xưa của trường, xa trường, nhớ trường anh có thơ gửi lại:

Lớp học trò đầu tiên đi mọi ngả

Các cậu cô bây giờ cũng đã… ông bà

Nét phấn vẽ nghịch ngầm áo bạn

Mắt thầy lườm như mới hôm qua…

Năm mươi năm một chặng đường, hàng vạn học sinh đã học tập lớn lên dưới mái trường Trần Phú. Trường mãi tự hào về những lớp học sinh thân yêu của mình, họ là những người luôn biết sống hết mình vì công việc. Họ là những học sinh gắn bó hết lòng với ruộng đồng, với xưởng thợ, là những học sinh như Phùng Quang Hùng, Phó Chủ nhiệm Hợp tác xã Hợp Thịnh chăm chỉ năm nào, giờ gắn quyện với địa phương đem vốn kỹ thuật làm nên mùa ngô vụ đông gọi khách bốn phương về. Sống hết mình với công việc đã cho Hùng đi tới vinh dự đắc cử đại biểu Quốc hội khóa IX, Bí thư Huyện ủy. Họ là những học sinh khát khao với nền công nghiệp của Tổ quốc như Nguyễn Văn Hòa giờ đang là Phó Trưởng phòng Kỹ thuật trên công trình thủy điện Sông Đà; là Đoàn Minh Phúc, nguyên giám đốc nhà máy giấy Bãi Bằng hiện đại. Họ là những chú học sinh thuở nào say sưa với toán học nên bây giờ trở thành Phó Tiến sĩ Viện Thông tin Hà Nội; đấy chính là Phạm Ngọc Điệp; là Nguyễn Trọng Sinh, Phó Tiến sĩ đầu tiên của ngành thủy lợi Việt Nam, từng là ủy viên ủy ban thường trực trị thủy sông Mê Kông, là Tiến sĩ Trần Phan Đạt, mới 36 tuổi đã giữ trọng trách sản xuất máy về vật lý cho các nước Đông Âu… Họ là những học sinh ngày ấy thơ ngây, tâm hồn đằm thắm, thiết tha yêu lớp yêu trường, kính trọng thầy cô, tha thiết tình đất nước quê hương để bây giờ cả đất nước nhớ tên, để lòng người gần gũi yêu thương: Như Hữu Thỉnh, Ngô Văn Phú,  Vũ Đình Minh, Vũ Duy Thông, Đăng Bảy, Bùi Đăng Sinh, Ngân Vịnh, Thái Vượng,…

Trường vẫn nhắc nhiều về học sinh Vũ Đình Minh, xa trường 20 năm đã có chín, mười đầu sách với đủ loại hình văn học. Nhắc nhiều về Vũ Duy Thông, ngày thơ dại đã nghĩ đến “khi nào chúng ta qua tuổi mơ mộng viển vông” để rồi chỉ 20 năm sau đấy anh đã thành đạt trong vở kịch “Người mơ mộng cuối cùng”. Nhắc nhiều về Hữu Thỉnh, cận học sinh của những năm đầu thập kỷ 60 đã đạt giải 3 cuộc thi thơ của trường, để gần 20 năm sau đấy anh đã có trường ca “Đường tới thành phố” giành giải quốc gia, để rồi anh trở thành Phó Tổng thư ký Hội Nhà văn Việt Nam, Tổng biên tập báo Văn nghệ. Trường yêu ca dao của Ngô Văn Phú, trân trọng những bài ký đậm tình quê của anh, và hiểu anh hơn khi anh bùi ngùi nhớ bạn:

Cái mũ tai bèo năm ấy đội

Bạn trường ríu rít chuyện Trường Sơn

Tôi về mồ bạn còn lưng núi

Mắt bỗng nhờ đi chẳng nỡ nhìn

Anh nói cho mình và cả cho bạn mình đấy chăng? Những năm 1963 ấy ai quên được tại nơi đây trung đội thiết giáp mang tên Trần Phú mà tất cả các chiến sĩ đều là học sinh của trường, khoác áo lính và vào trận dũng mãnh ở đường 9 Nam Lào những năm ác liệt nhất.

Năm mươi năm – một chặng đường. Trường nhớ trò, trò nhớ trường đằm thắm, như chim nhớ tổ, như tổ nhớ chim. Chim tung cánh đi bốn phương trời… Suốt một đời vì Tổ quốc yêu thương mà vẫn nặng lòng với mái ấm ngôi trường, với bao kỷ niệm, với biết bao chan chứa tự hào và ơn nghĩa.

Trò mỏi cánh tung bay. Thầy cô thì trụ lại với trường. Người thầy xa gửi lại:

Bạn trụ lại với vùng đồi bền bỉ

Năm ấy dạy cha giờ lại dạy con

Khoảng cách ấy bao điều phải nghĩ

Để nắng mưa không bào xói tâm hồn

Nhà giáo ưu tú Hoàng Thị Dung, 39 năm gắn bó với trường Trần Phú, 11 năm là hiệu trưởng, mái tóc đậm màu sương, cả cuộc đời vì công việc đào tạo những lớp người cho đất nước. Trên khuôn mặt hồn hậu của vị giáo già ấy đã nghỉ hưu 8 năm ấy vẫn toát lên từ ánh mắt yêu say, sống hết mình vì công việc đào tạo ra những con người ưu tú cho xã hội, gắn bó máu thịt với công việc quản lý nhà trường. Người hiệu trưởng ấy kể say sưa và rất đỗi tự hào về những thầy cô “đạo cao đức trọng” luôn biết tiếp thu đạo lý làm người của những thế hệ trước để truyền lại cho những thế hệ sau. Tôi thực sự tin yêu vào đạo đức mẫu mực, nhân phẩm thanh cao, nếp sống giản dị, phẩm chất truyền thống của những thầy giáo nơi đây ngay từ buổi mới lập trường. Đấy chính là các thầy Ngô Sỹ Doanh, Ngô Đốc Khánh, Hoàng Thiếu Sơn, Nguyễn Trọng Chân, Phạm Hữu Điền, Nguyễn Văn Phác, Nguyễn Quỳnh Cư, Lê Văn Mẫn… về những giáo viên giỏi tay nghề như Nguyễn Quang Kính, Ngọc Bảo, Cai Vĩnh, Hồ Thành Kiểm, Phạm Hoài Thủy. Về những giáo viên hết lòng vì học sinh thân yêu như Phạm Thế, bao nhiêu năm gian khổ của chiến tranh cũng như trong hòa bình, trong gian khổ thiếu thốn của đời sống, bao giờ học sinh của thầy cũng học giỏi, đỗ cao. Đấy còn là những học sinh của trường, bây giờ là giáo viên giỏi như Nguyễn Gia Thịnh, Phạm Quang Tuệ, Phạm Văn Chính…, là những cô giáo như Nhữ Thị Bích Chi, Lê Thị Hoàn, Trần Thị Hiền; là cô Lê Thị Chúc Phó Hiệu trưởng của trường… tất cả đều vượt lên chính mình, tất cả đều sống trong tình cảm yêu thương nồng ấm, sống cho nhau và biết vì nhau.

10 năm đất nước bước vào công cuộc đổi mới, cũng là khoảng cách thời gian nền giáo dục nước nhà đứng trước những thử thách mới. Cơ chế thị trường đã len lỏi, chi phối vào mọi ngõ ngách của cuộc sống, ngay cả trong trường học. Thời kỳ đầu đổi mới, nhiều mái trường có sự chững lại trong phong trào thi đua “hai tốt”, thậm chí có đơn vị đã đánh mất nét đẹp truyền thống mà công lao thầy trò từng xây dựng bao nhiêu năm.

Trường phổ thông trung học Trần Phú bước vào đổi mới ở tuổi 40 thì sao? Nhà giáo ưu tú Trần Xuân Hưng hiệu trưởng nhà trường đã giải tỏa nỗi băn khoăn của tôi.

Năm 1987 nhà trường được Nhà nước tặng thưởng Huân chương lao động hạng Ba, tạo nên chất kích thích thầy trò bước vào công cuộc đổi mới.

Điểm lại 10 năm đổi mới, chất lượng dạy và học của nhà trường đã bắt kịp với các đơn vị xuất sắc trong toàn quốc. Qua các đợt Nhà nước phong tặng danh hiệu nhà giáo ưu tú, trường có 4 thầy cô giáo được nhận danh hiệu cao quý này. Chúng tôi thầm đoán, hẳn danh hiệu nhà giáo ưu tú của trường ở bậc phổ thông trong cả nước, thì Trần Phú là đơn vị dẫn đầu về số lượng.

Kết quả thi đại học, học sinh giỏi của nhà trường luôn luôn là đơn vị xuất sắc của tỉnh. Từ phong trào dạy tốt, học tốt, một thế hệ giáo viên được khẳng định, được học trò, phụ huynh mến mộ: Thầy Trọng, thầy Long, thầy Hoàng Lương, cô giáo Hán Chung, cô Gia, Đàm Hương, Đào Lương…

Hiệu trưởng Trần Xuân Hưng là học sinh của trường từ ngày tên trường là Nguyễn Thái Học. Thầy xúc động khẳng định: “Gần 42 năm tôi học tập, trưởng thành công tác tại trường đã đúc kết một niềm tự hào. Đó là phong cách của thầy trò trong giảng dạy học tập rất rõ nét Trần Phú. Đó là mối quan hệ giữa nhà trường với cuộc sống hào hùng của quê hương”.

Khi chúng tôi thực hiện ký sự này đã có vinh dự được gặp lại thầy giáo lão thành Nguyễn Trọng Chân, người đã từng là hiệu trưởng trường trung học Nguyễn Thái Học (tiền thân là trường THPT Trần Phú bây giờ).

Thầy né tránh chuyện của bản thân, nhắc lại lời Giáo sư Nhà giáo nhân dân Hoàng Thiếu Sơn, nguyên là giáo viên của trường thời 9 năm: “Ông Chân có lên Vĩnh Yên, nhớ nhắc các ông lãnh đạo trường Trần Phú hôm nay có lập phòng truyền thống 50 năm xây dựng trường thì nhớ lưu ý thời kỳ 9 năm kháng chiến nhé! Thầy trò ngày ấy lần lượt ra đi, bản thân tôi ở tuổi xưa nay hiếm đi lại khó khăn. Kỷ niệm tuổi trẻ vào nghề dạy học ở Vĩnh Phúc làm sao quên được hả ông?”.

Thưa các thầy và các anh chị của trường Nguyễn Thái Học đặt nền móng cho trường Phổ thông trung học Trần Phú hôm nay. Thế hệ hôm nay làm sao quên được ngày xưa, kỷ niệm mãi vẹn nguyên trong lòng tuổi trẻ.

Quên làm sao được hình ảnh Bộ trưởng Nguyễn Văn Huyên (1908-1975) đi xe đạp từ khu IV ra thăm trường ngày ấy. Bữa cơm đón Bộ trưởng chỉ có trứng rán trên lá chuối, canh lá sắn và gạo đỏ. Quên sao được lời dặn dò của Bộ trưởng với thầy giáo và các học sinh lớp đệ tam đệ tứ của trường năm xưa.

Chúng tôi cũng quên làm sao được lời cụ bà Chánh Tuyến tiễn các thầy giáo, học trò về thăm nhà cụ là cơ sở của trường năm xưa: “Năm 1951, các thầy giáo đã đem tặng nhà tôi một cây dừa. Năm nay dừa sai quả, tôi xin tặng các thầy 40 quả dừa kỷ niệm 40 năm ngày thành lập trường. Xin các thầy nhận cho, đó là đạo lý uống nước nhớ nguồn”.

Một mái trường đi qua nửa thế kỷ. Niềm vui của thầy trò và nhân dân vào ngày 11-1-1997 như được nhân lên gấp bội khi mà trường Nguyễn Thái Học – phổ thông trung học Trần Phú vừa làm lễ kỷ niệm 50 năm ra đời và đón nhận Huân chương Lao động hạng Nhất.

Vinh quang và trách nhiệm khẳng định niềm tin của chúng tôi ở nơi có những thầy cô giáo đã sống hết mình vì sự nghiệp giáo dục.

 

 

 

 

 

 

 

 

NHÀ MÁY TÂY Ở LÀNG TA

 

Tròn ba mươi năm, tôi chưa có dịp trở lại Phúc Thắng (Thị xã Phúc Yên). Nhiều kỷ niệm riêng tư khiến tôi cứ phải hình dung diện mạo của làng ngày ấy. Tiếng chuông nhà thờ ở thôn Đại Phùng ngân vang. Tiếng còi tàu hỏa báo hiệu vào ga Phúc Yên lay động cả làng Xuân Mai, Xuân Phương…

Con đường quốc lộ 2 chạy qua xã Phúc Thắng dài hơn một cây số. Mỗi tuần, ít ra hai lần tôi ngược xuôi ở đoạn đường này. Ở đây giờ đã sừng sững mọc lên nhà máy sản xuất xe Toyota Honda liên doanh với Nhật. Cách đây gần một năm, tôi được nghe ông chủ quán cóc bán cháo lòng ở gần Cầu Xây cũ nổi cơn giận hờn: “Bác biết không, xây cầu mới nắn quốc lộ 2 có độ dài một cây số, công ty cầu đường ở Hà Nội làm ròng rã 4 năm chưa xong. Riêng khoản tiền đền bù đất canh tác cho dân, lèm nhèm vòng vo tam quốc. Mạnh vì cơ chế, bạo vì đôla, đúng thật. Các nhà máy Toyota, Honda của “Tây da vàng”, tốc độ thi công nhanh đến chóng mặt”.

Để cắt 41 héc ta ruộng lòng đỏ trứng gà ở xã Phúc Thắng vào việc làm nhà máy, nghe nói cũng phức tạp lắm. Tôi đảo mắt nhìn vào hai nhà máy. Những chiếc xe của hãng Toyota bóng lộn ở bãi tập kết. Nhà máy Honda, xe đờ - rim chừng để trong kho. Tôi vẫn nhận ra một vóc dáng nghèo của đồng ruộng Phúc Thắng hôm nay. Những trà lúa muộn đang thu hoạch. Cây vụ đông ở đây vẫn là khoai lang, ngô đồng. Nhiều diện tích còn bỏ không chờ cấy lúa chiêm xuân vụ tới. Tôi thèm khát bông hồng nhung Đà Lạt, cúc vàng Đài Loan sinh trưởng trên đất này. Tuyệt nhiên không thấy. Điều thay đổi cơ bản ở Phúc Thắng, là bốn công trình điện – đường – trường – trạm đã khang trang, tôn thêm vẻ đẹp của làng, của đồng ruộng.

Người trực tiếp làm việc với tôi là ông Phùng Quang Định, quyền trưởng công an xã, người nhỏ thó, cương nghị và hơi lạnh. Tôi thấy e ngại trong tiếp xúc. Đọc được điều e ngại đó, ông Định lên tiếng: “Đồng chí Bí thư hiện đang nghỉ ốm. Đồng chí Phó Chủ tịch, đã có kế hoạch trước, chiều nay tiếp dân về chuyện đất cát. Anh Đinh Quang Tuyến, nguyên Chủ tịch của xã vừa ra tòa vào ngày hôm qua 10-4-1998. Tình hình bộ máy của xã có khó khăn về nhân sự. Ông Khoát, Phó Chủ tịch huyện giới thiệu anh về làm việc, là chúng tôi yên tâm”.

Xã Phúc Thắng có 8.828 người, bình quân một khẩu chỉ đạt 8, 5 thước đất ruộng, quy ra 201 mét vuông. Hệ số quay vòng của đất trong một năm là 2, 8 lần. Bình quân lương thực quy ra thóc đạt xấp xỉ 300 kg/khẩu/năm. “Nông vi bản” vẫn xem cây lúa, cây ngô, cây khoai lang trụ cột. Thủ công nghiệp – dịch vụ mới có 5 máy xay xát, 4 lò gạch, 32 đầu công nông máy “dọc, ngang”. Một bộ phận chạy chợ, quán ăn; 30 người chạy xe ôm. Bình quân thu nhật tất tần tật mọi thức đạt khoảng 150USD/người/năm. Toàn xã hiện có 10% hộ nghèo, 3% hộ khá giả, nhìn toàn cảnh mức sống thì có thể ví “nước nổi, bèo nổi”.

- Như thông tin anh vừa cung cấp, Phúc Thắng đã làm tốt 4 công trình dùng chung. So với mức thu nhập hiện nay e dân đóng góp quá tải?

- Có đâu anh! Chuyển nhượng đất đợt I cho liên doanh nước ngoài ở đây đã cắt 41 héc ta. Giá quy định người dân nhường đất tính theo đơn vị là 360m2. Hạng một: 11.600. 000 đồng, hạng hai: 9.700.000 đồng, hạng ba: 9.600.000 đồng. Ngoài số tiền trên trả cho dân, tỉnh đầu tư về 6 tỷ đồng để xây dựng cơ sở hạ tầng. Ông Tuyến lãnh án 20 năm tù giam vì lý do đã bỏ túi riêng 500 triệu đồng ở trong khoản 6 tỷ!

- Ngoài khoản đền bù đất, tác động của các nhà máy trực tiếp đến xã có ưu tiên mặt nào?

- Có đấy, nhưng cũng lắm nẻo vòng vo.

Giọng ông Định kể góc cạnh, tận tường để người nghe kịp ghi chép.

Nghe nói, một ô tô xuất xưởng, tỉnh Vĩnh Phúc được 10 triệu đồng; một đờ-rim xuất xưởng, tỉnh được bao nhiêu chúng tôi chưa rõ.

Lòng hảo tâm của các nhà máy với địa phương, họ tính đếm lắm. Nhà máy Takachi đệm mút Hon-đa hỗ trợ 4 bộ máy vi tính cho trường học. Nhà máy Toyota ủng hộ 3 người diện chính sách của địa phương theo định suất 100.000 đồng/ người/ tháng, ủng hộ tiền an ninh địa phương 100.000 đồng/ tháng. Xã Phúc Thắng hiện nay có 63 người vào làm ở hai nhà máy, lương bình quân mỗi tháng 800.000 đồng, nghĩa là gia đình người đó có ăn có để. Mỗi tháng các công nhân người của xã lĩnh về khoản tiền 50 triệu đồng, con số đó lớn lắm!

- Ô nhiễm công nghiệp đã xuất hiện ở đây chưa?

Tôi hỏi:

- Ô nhiễm này phải xét ở nhiều góc độ - Ông Định trả lời - Phần nào của “Tây da vàng” gây ra, phần nào của ta nảy sinh.

Ngọn gió heo may lùa vào mùi asêtôn đến khó chịu. Ông Định cho biết, hàng ngày học sinh của hai trường học, nhân dân và cán bộ xã đều phải ngửi mùi asêtôn từ nước sơn của hãng Honda. Nỗi lo xa hơn, công nhân đã nghỉ việc từng bộ phận. Cả hai nhà máy, công nhân mới làm thao tác lắp ráp hệ CKD. Đến bao giờ mới nhập công nghệ sản xuất linh kiện? Ô nhiễm phía ta gây nên, xem ra nặng nề; năm 1997, trong xã có 11 người nghiện hút. Có ngày có thêm 20 đối tượng nghiện hút từ nơi khác đến hoạt động. Ở đây đã phát hiện ra hai chủ chứa gái mại dâm. Gái hành nghề từ Lào Cai, Phú Thọ, Tuyên Quang về. Xã nhà đã mất đứt 3 cán bộ vì tham ô tiền từ đất. Một thanh niên liên quan đến vụ án công nhân nhà máy Honda ăn cắp linh kiện. Tòa án huyện Mê Linh đã xử.

Ông Định thắt nút câu chuyện:

- Nỗi lo nhất là tiền đền bù đất. Một bộ phận nông dân không còn ruộng đang đứng trước ngưỡng cửa bần cùng hóa. Sắp tới lại cắt 50 héc ta đất đợt II. Phức tạp lắm. Câu chuyện ta tạm dừng ở đây. Anh nên xuống cơ sở, thực tế sẽ vỡ ra nhiều điều lý thú.

Đợt I, ở Phúc Thắng có 800 hộ nhường đất. Tính riêng ở khu 6 có 226 hộ thì tất cả đều nhường đất. Toàn xã hiện nay có 12 hộ không còn một thước đất để làm ruộng. Đồng tiền giao đất đợt trước, người già cả, người ít năng động thì gửi vào Ngân hàng để dễ bề an tâm. Song lãi suất gửi từ 1.6% tụt xuống 0.6% âm ỉ nỗi lo. So với giá thóc gạo, lại thấy vơi hụt đồng vốn. Một nồi thóc năm 1997 di động từ 50.000 đồng đến 60.000 đồng. Cũng nồi thóc ấy, vào mùa gặt năm 1998 đã lên tới 90.000 đồng - 100.000 đồng. Từ đồng tiền bán đất, một số đua nhau sắm ti - vi, sửa sang nhà cửa trong khi tư liệu sản xuất còn nghèo nàn… Ông Định khẳng định, ở Phúc Thắng chưa có một hộ nào gọi là làm ăn khởi sắc trong chuyển dịch cây con. Có người thử nghiệm trồng hoa, nuôi chim cút, gà tăng trọng. Nhưng các hộ ấy đều bất lực; họ thèm khát cảnh gặp trên đường quốc lộ 2 hằng ngày diễn ra. Đó là xe chở hoa, chở gà về xuôi lên ngược của các địa phương ở ngay trong huyện đâu phải xa xôi.

Cái lẽ đời về đất cát, ông Đỗ Văn Ngạn, 70 tuổi, cán bộ nghỉ hưu ở Xuân Mai nói ra nghe có lý có tình. Có những hộ nông dân từ đời cha chuyển sang đời con, cháu, đất là thứ bất động sản vô giá đối với họ. Nhường đất đợt II này, ở Phúc Thắng con số lên đến 50 héc ta. Vì công nghiệp hóa, hiện đại hóa cho tỉnh cho huyện, bà con thông chủ trương. Cái mắc hiện nay là giá đền bù thấp hơn trước. Cùng trên đồng đất, lý do nào đền bù lần này một sào dự kiến giảm từ một triệu đến 1.5 triệu đồng? Hẳn bác đã biết, hiện nay giá thóc gạo tăng mà đồng tiền thì mất giá dần!

Tôi “nắn gân” ông bằng mấy “đường quyền” quen thuộc: Giá trị kinh tế để làm ra của cải trên một sào đất ở đây, cũng bằng tiền đền bù tính theo từng năm đã được Nhà nước trả trước trọn gói là 15 năm! Điều thứ hai, theo Nghị quyết của Ủy ban nhân dân tỉnh, thì chỉ sau 15 năm nữa bà con lại được tham gia nhận ruộng!

Giọng ông Ngạn có vẻ tăng ga: “Điều anh nói, chúng tôi còn nắm rõ đến tận củ tỷ! Đất giao cho các nhà máy là 50 năm, chấm dứt trọn vẹn một cuộc đời thạo đường “cày vét”, 15 năm nữa lại chia lại ruộng, nhưng cái khó là lấy đất ở đâu ra? Đến năm 2010, dân số xã này, dù có kế hoạch cai đẻ triệt để cũng phải đạt tới 12.000 người. Chia lại ruộng, mỗi người may mắn chỉ được 5 thước! Người bị giả bớt ruộng e sẽ kém vui. Người nhận ruộng về, cũng áy náy tình làng nghĩa xóm”.

- Vậy điều kiến nghị của ông, của bà con ở đợt nhượng đất lần hai này nằm trong khúc mắc giá cả hay sao?

Ông Ngạn điềm tĩnh, khúc chiết lẽ lời:

- Một miếng giữa làng bằng sàng xó bếp, các cụ thường dạy. Người nông dân, họ cần sòng phẳng, công bằng trong đối xử. Đồng tiền đền bù đất chưa tương xứng, dù là một đồng thì họ cũng không thuận lòng. Gần mười năm vào “khoán 10”, chất “men” kích thích đã rõ ràng. Giờ lại nhường đất để đón công nghiệp về làng. Các liên doanh nước ngoài. Nhà nước cấp tỉnh, cấp huyện hãy định hướng cho nông dân ở đây thấy rõ sự ưu việt khi chung sống với công nghiệp! Điều lo xa ở người già cả như tôi, là trong mảnh đất chật chội, không nuôi nổi cái dạ dày khó tính thời buổi nay, túng quẫn, có người sẽ mắc vào bẫy làm ăn phi pháp!” Ông Ngạn nêu tiếp một luận điểm còn tươi rói tính thời sự: “Báo chí tôi được xem, trong cơ cấu GDP hiện nay, nông nghiệp chiếm tới 26%. Trong khi đó, vốn đầu tư cho nông nghiệp (bao gồm cả lâm nghiệp, thủy lợi) chỉ chiếm 7% tổng vốn đầu tư toàn xã hội”.

Đầu tư vào nông nghiệp ở xã Phúc Thắng, ngoài 6 tỷ bán đất để dùng chung đã có gì mới thêm nào? Thủy lợi phí, tiền điện, phân bón, thuốc trừ sâu? Thì cứ trượt giá. Tiền lúa, nhích lên một tý, thì giới ăn lương đã kêu oai oái. Cái cần của chúng tôi hôm nay, từ bình quân 8. 5 thước đất làm sao xoay sở để đạt 180USD/người, bằng mức chung của tỉnh Vĩnh Phúc.

Công bằng mà nói, 63 hộ có người nhà vào làm ở liên doanh, cuộc sống đỡ khó khăn. Cô Hạnh từng đi lao động ở nước ngoài, về nước thất nghiệp, xin vào làm liên doanh. Gia đình cô Hạnh khá giả vì lẽ có chồng hiện đang ở nước ngoài nhà lại chỉ có một con.

Ông Giá, có con làm ở liên doanh tâm sự cùng khách lạ: “Bác thông cảm, cho con vào làm công nhân cũng vất vả. Lương của cháu mỗi tháng được 800.000 đồng và một bữa ăn ca. Đồng lương của cháu đưa trọn gói về nhà, để bù sự hao hụt lo chạy trước đây và đầu tư cho sản xuất hiện tại”. Ông thông báo, công nhân cư trú trong xã là 300 người. Tiền thuê nhà ở, một người là 50.000 đồng/tháng, công ăn cơm nhà chủ nấu một bữa là 4.000 đồng. Nhiều gia đình ở gần nhà máy làm dịch vụ, nên cũng có đồng để tiêu.

Ông Giá nhìn ra hướng hai nhà máy trong nỗi lo toan. Đất khu vực nhà máy quản còn để hoang gần 50% diện tích mấy năm nay. Ở đây mới dừng lại ở khâu lắp ráp, chứ chưa xuất chi tiết máy. Toyota sản xuất cầm chừng. Honda thì sao đây? Tôi chỉ tiếc, người ta mua đất thì bỏ hoang. Dân ta thì thèm khát đất canh tác. Anh con trai của ông Giá có nỗi lo riêng: “Chúng cháu như cái máy lắp ráp theo dây chuyền. Muốn hiểu kỹ thêm nghề nghiệp cũng khó khăn. Sau này không may thất nghiệp, về nhà chữa xe máy chưa hẳn đã xong!”.

Tôi đi dọc theo trục đường quốc lộ 2 đoạn qua Phúc Thắng. Các quán nhỏ bên đường xem ra cũng tàn tạ, vài chai nước khoáng, bia chai, thuốc du lịch, cháo lòng, cơm phở bình dân.

Chị T. chủ quán cho hay: Các quan chức có máu mặt thì sinh hoạt ở Hà Nội là chủ yếu. Khách đến mua xe thì vù lên Phúc Yên hay về xuôi. Công nhân vào quán chủ yếu mua điếu thuốc, uống chén nước. Chị mở tôi xem cuốn sổ ghi tên người cắm nợ, cũng dài dài.

- Nghe nói trước đây, ở Phúc Yên có một số tư nhân làm khách sạn mini để “đón long” các ông chủ, sếp to, sếp nhỏ đến thuê nhà ở?

- Có đấy, nhưng các chủ hàng đều méo mặt: “Tây châu Á”, “kẹt” hơn các sếp của mình!

Nỗi khó khăn, lo toan ở Phúc Thắng, đang chia đều trên hai vai nông dân và công nhân.

Bài viết đã dài. Điều hiến kế mới của Phó Chủ tịch thị xã Phúc Yên – ông Nguyễn Trọng Khoát gợi ý cho tôi cứ nảy lên trong đầu khi đi trên đường làng.

Phúc Thắng đã nhường gần 30% đất canh tác để làm công nghiệp. Tiền đầu tư cho nông nghiệp bước đầu đã tạo ra 4 công trình: điện – đường – trường – trạm bề thế, nên xã Phúc Thắng vùng Mê Linh đã có 63 hộ, chỉ chiếm 3% số hộ toàn xã có người được vào làm ở nhà máy. Đồng tiền từ quỹ đất bán ra chưa đủ sức nẩy nở, thôi thúc theo từng mùa vụ phát triển. Để tăng nội lực kinh tế cho nông dân ư? Hay công việc này ta cứ mượn câu nói của người xưa “đói đầu gối phải bò”?

Ở vùng đất giao lưu thuận lợi, thương mại có điều kiện phát triển; tôi thèm khát có “vua” hoa, “vua” gà, “vua” hoa quả và “vua”  lúa đặc sản nữa! Có làm được như vậy, thì xiềng xích “8 thước” mới không níu chân bước đi.

 Ý nghĩ tôi đang miên man, bồng bềnh chợt tiếng xe ôm đua nhau nổ máy. Họ lao về phía đường tàu cắt ngang quốc lộ 2, nơi có hành khách đang xuống xe ô tô. Tiếng bà bán quán nghe chát chúa “Mật ít ruồi nhiều, đến thằng xe ôm cũng phải đua chen vất vả”.

Giọng bà chủ quán cứ day dứt tôi bao nỗi băn khoăn. Tôi chợt nhớ ra, có một ông cán bộ trưởng thành từ thực tế cuộc sống sôi động trên chính quê hương “khoán hộ” đã tâm sự: “Người Việt Nam đã nhập tiếng quốc ngữ từ người nước ngoài. Ấy vậy, từ vốn liếng hiếm hoi, ta đã làm giàu cho kho tàng tiếng Việt đến chừng nào. Ước chi sự đầu tư vốn của nước ngoài vào nước ta cũng mang lại sự giàu có cho đất nước”. Muốn vậy, theo chính ông ấy nói, yếu tố nội lực rất quan trọng. Ta có đất, ta có nhân lực dồi dào, năng động, thông minh đó là điều thuận lợi cơ bản!

Ông trấn an tôi vậy. Nhưng hai sân gold đặt ở Vĩnh Phúc tưởng chừng chắc ăn 100% thì nay đã tuột khỏi tầm tay. Và gần đây thôi, hãng Mê Kông sản xuất ô tô liên doanh với nước ngoài đã đóng cửa. Tôi nhìn về phía 2 nhà máy, cầu mong cho sự bình an trong xu thế làm ăn khó khăn của khu vực và ở nước ta. Nỗi lo của tôi chừng dịu đi phần nào trong màu vàng của thu đang trùm lên đồng ruộng có những anh công nhân đội mũ nhựa đang giúp người nhà thu hoạch lúa.

Tiếng còi tàu rời ga Phúc Yên về Hà Nội vọng lên cắt dòng suy nghĩ. Ngước lên trời tôi chợt gặp ánh sao Hôm lẫn vào màu điện cao áp sáng bừng.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

AI LÊN MƯỜNG XÉN CỬA RÀO

 

Tôi có một tuổi thơ gắn với bến Lường, tên riêng của Sông Lam, khi dòng chảy có hình lưỡi liềm qua địa đất thị trấn Đô Lương. Sóng Sông Lam, cộng hưởng những ký ức mát trong. Trưa hè, gió Lào phả lửa nóng, chúng tôi ra bến sông có 39 bậc đá xanh rêu, xem trai gái lặn hụp, cào hến. Tôi cũng đã từng níu vào tay mẹ, xuống nốc đại xuôi sông Lam về đến bến đò Cung; lại ngược sông Giăng hai bờ giàn nhót chín vàng để thăm quê ngoại.

Còn một sông Lam huyền bí, dữ tợn, ướt sũng màu rêu phong, “chảy qua” bờ rào cây mạn tàu trước mái nhà tứ trụ của cha mẹ tôi.

Nhà người bạn cận lân chung bóng mạn tàu, gốc gác quê miền duyên hải Nghệ An. Dòng họ Trần Văn độc thân ở chốn đất khách quê người. Ông Trần Văn P. làm nghề đứng mũi chịu sào con nốc(*) lớn, cho phường buôn ở Đô Lương mỗi tháng ngược Mường Xén, Cửa Rào hai lần.

Tôi còn nhớ rõ, có lần từ nhà ông P, vọng sang, tiếng đập bát chan chát, vợ ông khóc lu loa. Chờ dứt cơn nghiện của ông P, cha tôi sang chơi lựa lời:

- Ngược sông nước non hiểm trở, kiếm được đồng tiền sao không “bỏ ống” để phòng xa.

 Ông P. cho biết, cầm con sào vượt ghềnh thác dòng Nậm Mộ, Nậm Nón thượng nguồn sông Lam căng thẳng thần kinh. Có hơi thuốc người tỉnh táo, tránh được cái chết của thủy thần luôn rình rập.

Còn một lý do khác, ông cùng vợ giấu kín con cái, ví như xái thuốc phiện được bọc kín trong lá chuối già vào đáy hòm gỗ khóa kỹ.

- Trên ấy thuốc rẻ, ông chỉ được hút vào lúc canh khuya đủ tỉnh táo chống lại gái dân tộc họ “chài”. Ông nghiện hút, vợ con cũng đành chấp nhận cảnh cháo rau. Ông mặc bệnh lậu, tôi khổ thay, không đẻ được mụn con trai thì dòng họ Trần ở đây sẽ tiệt giống.

“Thuận vợ thuận chồng” nhưng nỗi đau dồn nén. Quả đúng vợ ông đã đẻ được 4 con trai. Bản thân ông nghiện ngập, lây cơn sốt rừng. Mới ngoài bốn mươi tuổi, bàn tay ông đã run rẩy, đành gác sào chống lên mái gianh, giã từ một thời vẫy vùng hơn 200 ghềnh thác lớn nhỏ trên dòng sông Lam nối Lào với biển Đông. .

Tôi cũng thường nghe ông ngâm nga để tự sám hối mình, răn đe con cái lúc đã đến tuổi lưng dài vai rộng; “Ai lên Mường Xén Cửa Rào/ Không nghiện thuốc phiện lao đao sốt rừng”.

Cuối tháng 5-1996, lúc tôi đã sang tuổi ngũ tuần, lần đầu tiên mới có dịp lên Mường Xén, Cửa Rào. Quốc lộ 7, sông Lam mạn thượng nguồn, hình như cùng chơi trò tìm bắt sau những dãy núi non biệt cách mồ côi hình khe, thế núi hiểm trở.

 Ngồi trong chiếc xe đắt tiền có điều hòa, cát-sét nhưng người luôn bị xốc nảy bởi con đường ổ trâu và những tên gọi nghe ngồ ngộ: Dốc Chó, Khe Choang, Khe Bố, Canh Tháp, Khe Tiền…

Ngồi cạnh tôi là bạn thơ trẻ Nguyễn Đình Anh phụ trách môn Văn cấp II của Sở Giáo duc- Đào tạo. Anh ghé tai tôi nói nhỏ:

- Anh đi viết cho giáo dục là yêu cầu số một ở đợt này. Có một điều, lãnh địa nơi ta sẽ đến là thủ phủ của thuốc phiện ở Nghệ An và không ngoa chiếm vị trí độc đáo của cả nước. Nhà báo làm một bài về “87”, phê phán nạn nghiện hút.

Tôi ghé tai anh đề đạt nỗi băn khoăn, đề tài ấy bản thân đã in trên báo Trung ương 3 bài. Tôi nâng âm điệu nhằm tìm sự đồng tình của người trong đoàn:

- Kỳ Sơn, Tương Dương có biện pháp “đào tận gốc, trốc tận rễ” nội ngoại nàng tiên nâu tốt, thì dứt khoát trong chuyến đi này tôi sẽ cố gắng “đẻ non đẻ già” một bài.

Phó Tiến sỹ Lê Văn Phớt, Giám đốc Sở Giáo dục-Đào tạo Nghệ An, ngoảnh lại phía sau lên tiếng:

- “Gốc, rễ” nhà báo nêu ra, theo tôi biết chưa loại hết cây thuốc phiện giữa đời thường đâu. Cái bụng người H.Mông, người Kơ Đú ở miền Tây Nghệ An dứt cây thuốc phiện hay lắm. Tôi sẽ cung cấp với anh vài thông tin khi kết thúc chuyến đi thực tế về giáo dục mà trọng tâm đề tài là cấy cái chữ vào các bản xa,

Điều úp mở của thày Phớt tôi đành chấp nhận bởi lẽ đời đã dạy “ăn cây nào thì rào cây ấy”

Công việc thâm nhập thực tế nhà trường căng đều trong 5 ngày ở các huyện miền núi  dọc quốc lộ 7. Tôi tranh thủ làm việc với chính quyền hai huyện Tương Dương, Kỳ Sơn về số phận, nạn nhân của cây thuốc phiện đem lại.

Như điều đã khẳng định với thày Anh. Tư liệu về diện tích cây thuốc phiện, số con nghiện, biện pháp chữa chạy chỉ là thứ “lãi suất” ngân hàng để tôi tham khảo có dịp so sánh hiện tại với quá khứ và tính chuyện thời tương lai.

Trưởng phòng Văn hóa thể thao Lô Văn Chiến cung cấp tư liệu về mối liên quan nội ngoại nàng tiên nâu của huyện Tương Dương. Vùng trồng cây “anh túc”  chủ yếu là người H.Mông ở Tam Hợp, Mai Sơn. Nhân Mai… Diện tích ngày xưa nhiều lắm, nay theo số liệu báo cáo cũng phải đến gần 300 ha. Số người nghiện hút điều tra đến tận bản, Nga Mỹ có 113 người nghiện, 17 xã đã báo cáo 286 người nghiện. Toàn huyện có chung biên giới với nước bạn Lào, phần địa đất cũng núi non và trồng nhiều cây thuốc phiện.

Giọng Chiến sắc sảo có định hướng tầm chiến lược.

Toàn huyện, con số hẳn còn thấp theo anh nói là 515 người, trẻ nhất là 28 tuổi, đối tượng chủ yếu là người già. Tệ nạn từ hơi thuốc dẫn đến vợ chồng bỏ nhau trộm cắp cờ bạc và không loại trừ chuyện chém giết,

Phó Chủ tịch xã Kha Thị Hoan băn khoăn đề đạt : Cây thuốc phiện đã chặt, nhưng trồng cây gì để đem lại hiệu quả thì Tương Dương đang lâm vào cảnh “múa tay trong bị”. Nuôi con dê, con bò… hiện chịu cảnh cheo leo vách đá nhưng đã thay được cảnh cây thuốc phiện. Chính sách đối với người cai nghiện đã làm nhưng còn quá ít ỏi ví như muối i-ốt chở từ miền xuôi lên pha vào dòng Nậm Na.

Điểm nóng của cây thuốc phiện, về nạn nghiện hút Kỳ Sơn giống như bản thân nó là một trong 9 huyện khó khăn nhất của nước ta hiện nay.

Đồng chí Lô Trung Thành, Tỉnh ủy viên, Bí thư Huyện ủy Kỳ Sơn khóa 1996 - 2000. Anh còn trẻ lắm, nguyên là Bí thư Tỉnh đoàn thanh niên Nghệ An, hiện nay là đại biểu Quốc hội, thành viên Ban Văn hóa Giáo dục. Anh nói về khó khăn của Kỳ Sơn ở nhiều mặt dẫn đến nằm trong nhóm 9 huyện khổ ải nhất ở nước ta: Núi non hiểm trở, thành phần dân cư chủ yếu là người dân tộc. Nỗi khó khăn Kỳ Sơn phải đương đầu, anh Thành nhấn mạnh: Chống dùng ma túy, trồng cây thuốc phiện ở Kỳ Sơn mang tính quốc tế sâu sắc. Không liên kết tốt với  nước bạn thì nửa cơ thể của Kỳ Sơn, quanh năm bị gió Lào thổi âm khí nặng nề cây thuốc phiện trên đất bạn tiếp sức cho cây thuốc phiện ở đây trổ hoa màu cánh sen.

Kỳ Sơn ngày xưa, nhà nào không có người nghiện hút, khi cứ xuống bậc cầu thang nhà sàn là gặp hoa anh túc.

Những địa danh ẩn hiện trong lửa khói mùa đốt rẫy, cứ thắc thỏm lòng tôi. Mường Tít, Mường Ải, Mường Lống. Mường Xén rồi Ka Đu, Đọc Mạc, Tà Ka… và đâu nữa từng trồng cây thuốc phiện. Tính đến nay toàn huyện còn xấp xỉ 1.500 ha, với trên 2.000 con nghiện, tính bình quân có 7 hộ có 2 con nghiện. Chương trình đầu tư UNDCP có số vốn 3,8 triệu USD mỗi năm phấn đấu giảm 300 ha cây thuốc phiện, vị chi nếu làm tốt công việc này phải đến trọn năm 2000.

Từ Mường Xén, thủ phủ huyện Kỳ Sơn cách xã Mường Lống gần 40 km. Xe u-oát mới coong lăn bánh trên con đường mòn một bên là vách núi dựng, còn một bên là vực sâu thăm thẳm. Đi trên đường như người lên cơn sốt, rùng mình nghiêng ngả, một giờ chạy được 12 km. Phà Đánh, Huối Tụ nương trồng thuốc phiện hiện nay được thay thế cây lúa mộ, ngô bi-ô-xít, cây cánh kiến… Màu hoa anh túc phớt hồng vẫn lẩn khuất tìm nơi trú chân.

Vượt qua cổng trời có độ cao 1.600 mét, khí hậu ngày hè mát mẻ, khiến ta liên tưởng tới Tam Đảo, Sa Pa. Mường Lống vẫn còn cây thuốc phiện cho dù ở đây đã đưa giống mận Tam Hoa lấy từ Bắc Hà, Lào Cai đưa về ba năm nay giờ đã có hiệu quả.

Tôi mua một ký mận của cô gái Mèo áo quần sặc sỡ, giá một cân mận cân đủ lai đủ lạng chỉ có 4.000 đ.

- Người bản mình sao không đưa mận ra Mường Xén để bán? Giá ở đó 7.000 đ/1kg.

Cô gái nhìn tôi vừa ngơ ngác vừa bẽn lẽn

- Cán bộ dưới xuôi mới lên Mường Lống hả. Đi ra Mường Xén xa lắm. Cái xe ôm. Cái ô tô nó lấy tiền của người Mèo đắt lắm. Cán bộ xem. Mận chín đầy nương, không hái kịp biết đổ vào đâu.

Trưởng phòng Giáo dục huyện Kỳ Sơn Trần Xuân Toàn gốc gác là người thành Vinh tính toán chi ly. Một tạ mận đem ra Mường Xén bán được 700.000 đồng. Tiền chuyên chở cả đi lẫn về mất 450.000 đồng. Người dân tộc đành bán câu dầm, chịu ép giá của thương gia. Quả mận Tam Hoa lòng đỏ, ngọt đấy nhưng xem ra có vị chát; ngấm lâu đến lục phủ ngũ tạng.

Trong câu chuyện với Vả Phái Tỉnh - người dân tộc Mường là Bí thư Đảng ủy xã Mường Lống, tôi mờ tỏ thêm về bước trầm luân khi có chủ trương triệt phá cây thuốc phiện. Giọng nói Và Phái Tỉnh sắc lẹm, như con dao để chẻ cây vầu. Trồng lúa ngoại, ngô ngoại ư, hiềm nỗi giống đắt quá và có chịu nổi thời tiết đông lạnh, có ngày tụt xuống 0 độ C.

Anh rung nhẹ cành mận, quả lả tả rơi xuống đất, xuống vực.

- Trồng mận Tam Hoa có hiệu quả kinh tế, Đầu vào thuận lợi nhưng đầu ra…

Thay cho điều cần diễn giải, anh lấy chiếc túi thổ cẩm bỏ vào những quả mận chín nẫu trao cho tôi.

Triệt phá cây thuốc phiện ở Kỳ Sơn có nhiều kẽ hở, khiến nhà nước phải băn khoăn tính toán.

Trong buổi “hỏa thiêu” 300 kg thuộc phiện tổ chức tại Kỳ Sơn, trước sự chứng kiến của nhiều ngành từ cấp tỉnh, huyện, xã, bản. Đồng chí Giám đốc Sở giáo dục - Đào tạo đã hỏi một già làng người H.Mông

- Bản của già làng có gia đình nào còn trồng cây thuốc phiện nữa không?

Già làng giọng nhảy cóc.

- Không trồng để lấy tiền Chính phủ. Có trồng để lấy thuốc hút một phần, bán chín phần để mua muối, quần áo…

Già làng thuộc lớp người ruột để ngoài da. Không trồng cây thuốc phiện, Nhà nước sẽ đầu tư cho 2 triệu đồng vị chi lão có 4 triệu khai trên giấy tờ. Lão làm lén lút chỉ 0.5 sào cây thuốc phiện, khi thu hoạch đem bán chui lủi cũng được 3 triệu đồng. Trồng cây ngô, cây lúa cộng tiền đầu tư một năm đầu cũng chỉ được 2 triệu, lại còn mất tiền giống, tiền thuốc trừ sâu.

- Phương thức làm ăn với Chính phủ có phổ biến ở bản của già làng không?

- Phổ biến là cái gì hả cán bộ. Chỉ biết riêng bản tôi cũng có mươi nóc nhà sàn vừa “không” vừa “có” trồng

Người Khơ Mú xưa nay không tính chuyện trồng cây thuốc phiện. Vậy mà có người vài năm nay cũng trồng cây thuốc phiện. Lý lẽ đơn giản, trồng cây thuốc phiện chăm tươi tốt, đến khai với cán bộ xin vốn đầu tư trồng cây khác. Lấy được vốn, gia đình đem đầu tư cho sinh hoạt

Phó Thủ tướng Nguyễn Khánh, cùng các bộ, ngành liên quan đã về Kỳ Sơn, Tương Dương, Con Cuông để nghiên cứu về phát triển kinh tế. Điều băn khoăn của Đoàn, cơ sở hạ tầng quá khó khăn, hệ thống điện, đường giải quyết như thế nào. Đại biểu người dân tộc H. Mông đã phát biểu. Đóng góp tiền, dân sẽ lo tại chỗ! Các đại biểu vẻ băn khoăn. Người H. Mông đã nói thẳng điều nghĩ từ cái bụng:

- Cây pơ-mu trên rừng gắn bó với người H. Mông. Chính phủ cứ cho dân khai thác, bán lấy tiền làm đường làm điện. Giao thông đi lại được, quả mận Tam Hoa, lâm sản, lương thực đem bán nơi xa sẽ dôi dư đồng tiền. Không đi lại được, đời sống khó khăn thì cây thuốc phiện dứt bỏ sao được.

- Từ ý nghĩ của người dân, hèn chi từ Mường Xén đến Mường Lống tôi thấy nhiều bãi gỗ và lắm đặc sản thú rừng.   

Tôi lên tiếng:

Và Phái Tỉnh thủng thẳng:

- Nạn khai thác gỗ dưới xuôi lên hoạt động nhiều lắm. Đời sống khổ ngăn làm sao được cảnh du canh du cư.

Anh khoát tay chỉ về dãy núi sau cổng trời. Lửa cháy, tiếng nổ tre vầu tạo nên vòng cung lửa. Đêm ở Mường Lống chừng đến sớm hơn và màu đen huyền bí cũng chừng dày đặc thêm.

Bên vò rượu cần, trên một góc nhà sàn ọp ẹp, già làng Lý Văn Khả, dáng người trông tựa chiếc lá khô đậu vào cần rượu, ánh mắt cụ đùng đục, giọng lắng sâu như như tiếng suối vỗ vào hốc đá:

- Bản bao giờ có điện hả cán bộ. Có cái đài pin, dò sóng chỉ nghe được đài của thiên hạ nói không trúng cái bụng của người làng, Trông lên trời đại ngàn ngày một còm cõi. Trông xuống nương, cây thuốc phiện vẫn có đất sinh sống. Trẻ bản muốn có cái chữ phải trèo đèo lội suối. Dân ở đây chịu cho con đi học, chịu làm lớp học, chịu nuôi thầy cô, mùa rẫy năm nay nhà mới vui tiếng trẻ học.

Cụ tiễn tôi với cái lý  đời cứng như súc gỗ lim.

- Trước đây thầy cúng, thầy mo rồi quan Tây, phìa tạo ngu muội được dân bản bởi họ cấm cái chữ, cấm đường đi lại và khuyến khích trồng cây thuốc phiện. Nhà nước muốn triệt cây thuốc phiện thì phải lo tìm cây gì thay thế chứ. Lo cho con trẻ đọc thông viết thạo. Lo con đường đi lại, lo ánh điện để xua cái tói tăm, con muỗi rừng, làn khói thuốc phiện, Cán bộ thấy có hợp cái bụng già làng nghĩ không nào?

Kết thúc chuyến đi  trở lại Hà Nội. Tôi trao đổi với giám đốc Sở Giáo dục - Đào tạo Lê văn Phớt. Thầy Phớt đồng tình và trúng ý định tâm sự và khẳng định điều nhận xét của các thầy cô cắm bản: - Diện nghiện thuốc phiện ở miền núi không có đối tượng học sinh. Tác động của nhà trường trong việc chống ma túy thời gian qua đã có hiệu quả.

 

 

 

 

 

 

PHÙNG KIM TRỌNG

 

Thuốc đắng

 

NHÀ XUẤT BẢN HỘI NHÀ VĂN, 2002

 


---------------------------------------------------------

   

 

Tập truyện ngắn đoạt Giải Khuyến khích,

 Giải thưởng VHNT tỉnh Vĩnh Phúc 5 năm lần thứ II

(2000 - 2005)

 

 

 

 

 

 

HOA HUỆ TRẮNG

  

Chiều.

Nghĩa trang vắng lặng chỉ có gió và gió mang cái lạnh từ phư­ơng Bắc tràn về, m­ưa rơi nh­ư lắc bột lên những ngôi mộ vẫn im lìm che chở những linh hồn nằm sâu trong lòng đất; những cây cỏ may run rẩy phất phơ, những chú dế mèn vẫn cất lên tiếng khóc ti… ti, ti… ti. Giữa những ngôi mộ cao thấp, trắng xanh, ng­ười ta thấy một ng­ười đàn ông đang quỳ lặng lẽ tr­ước một ngôi mộ vừa đư­ợc cải táng. Bó hoa huệ trắng của anh nằm chênh chếch trên mặt ngôi mộ vẫn trắng lên, trắng lên một màu tinh khiết. Ba nén nhang anh thắp cho ng­ười d­ưới mộ đã lụi tắt từ lúc nào. Anh xoay người chắn gió đốt cả một bó nhang lớn rồi cắm lên mặt ngôi mộ, ngay dư­ới chân bó hoa huệ trắng. Anh chắp tay vái thêm 3 vái nữa rồi quay lại nói với đứa bé gái chừng ba tuổi đang đứng phía sau anh.

- Con lại lạy mẹ đi con!

- Mẹ con nằm đây hả ba? - Con bé tròn xoe mắt nhìn ba hỏi, hai cái bím tóc của nó lắc­ lắc.

- Mẹ ơi! - Con bé kêu lên, đây là tiếng gọi mẹ đầu tiên trong đời của nó. Ba tuổi đầu làm sao nó hiểu đ­ược cái lẽ sống chết ở đời - Mẹ ơi! - Nó lại cất tiếng gọi và oà khóc rồi nằm xoài ra ôm chầm lấy ngôi mộ.

- Nín đi con! - Bố nó ngồi xuống và cố vỗ về con - Nào ngoan nào… Ba đ­ưa con về.

- Ứ… ứ… Con bé giãy nảy lên, ba nó đành phải bế nó đứng lên, nó vẫn không chịu đ­ưa cái bàn tay nhỏ xíu đấm vào ngực ba. - Không! Không, con ở đây với mẹ cơ!

- Con ơi! Ba xin con! - Ng­ười đàn ông bỗng khóc nấc lên. Con bé im bặt. Ba tuổi, thấy ngư­ời lớn khóc nó sợ, nó đư­a cái bàn tay nhỏ xíu lên lau đi những giọt n­ước mắt trên mặt ba nó.

- Ba ơi! Ba nín đi, bà bảo khóc là hư­ đấy.

- Thế sao con lại khóc tr­ước ba?

- Tại con gọi mà mẹ lại không thư­a?

- Mẹ chết rồi, làm sao th­ưa đ­ược hả con?

- Mẹ chết rồi hả ba? Thế ba chôn mẹ ở đây à?

- Ừ! Mẹ chết rồi, chết từ lúc con mới đẻ kia?

- Tại sao mẹ lại chết hả ba?

- Chuyện dài lắm con ạ. Lớn lên rồi con sẽ hiểu.

Con bé im lặng. Nó đang nh­ư cố hiểu những điều ba nó nói. Rồi bằng một cử chỉ ít ai có thể tin đư­ợc là của một đứa bé lên ba. Nó trư­ờn xuống khỏi tay ba nó, b­ước lại phía trước ngôi mộ, đúng vào cái vị trí mà ba nó đã quỳ tr­ước đó. Nó chắp hai bàn tay nhỏ xíu vào tr­ước ngực và cất lời thủ thỉ.

- Mẹ ơi! Mẹ cứ ở đây rồi con sẽ ra chơi với mẹ.

 Gió đột nhiên ngừng thổi, m­ưa ngừng rơi, những cây cỏ may đứng lặng im phẳng phắc. Những chú dế mèn cũng không cất lên cái tiếng khóc nỉ non ti ti, ti ti nữa. Bó nhang đang lay lắt cháy trên mặt ngôi mộ bỗng bùng lên thành một luồng lửa chói loè. Phải chăng, lời khẩn cầu của nó đã thấu đ­ược tới cõi âm. Huệ ơi! Con em đó. Đứa con mà em sinh ra từ một kẻ chỉ biết sống bằng những m­ưu mô, lừa lọc; đã thế lại có những tâm địa xấu xa ích kỷ và đầu óc hủ bại. Hôm nay anh đư­a con đến viếng em…

Câu chuyện xảy ra từ 13 năm trư­ớc. Duy 25 tuổi còn nàng 20 tuổi. Tổ thăm dò địa chất của anh sau nửa năm trời trèo đèo, lội suối cuối cùng dừng lại trú chân ở Lâm tr­ường bộ của nàng. Đây là một vùng đất giàu khoáng sản cần phải giành nhiều thời gian để nghiên cứu. Bi kịch bắt đầu từ bữa cơm thân mật do Hoè, Phó Giám đốc lâm trường tổ chức. Hôm đó, lão Kiên đoàn Trư­ởng của anh trong một "kịch bản" đã chuẩn bị sẵn, đã gán cho anh cái nhãn hiệu "trai chưa vợ".

- Xin giới thiệu với các bác, anh em chúng tôi ở đây đã có gia đình cả rồi. Chỉ còn có chú Duy là vẫn đang kén, các bác xem ở lâm tr­ường còn cô nào làm mối giúp một cô. Biết đâu, đất lành chim đậu.

- Vậy hả? Vậy thì tốt rồi. Xin giới thiệu lâm trư­ờng tôi đây còn cô Huệ, hoa hậu của lâm trư­ờng, con gái rư­ợu của Giám đốc đấy nhé. - Hoè hất hàm về phía cô gái đang ngồi cạnh Duy lên tiếng.

- Chú cứ nói vậy, chứ cháu xấu như­ ma thế này ai ng­ười ta thèm. - Cô gái bẽn lẽn phản ứng.

- Á! Ghê chư­a, một - không nhé. Anh Duy thế nào? Lại thua à! Thôi đ­ược để tôi làm mối cho, tôi mà làm mối thì cứ gọi là… mối chúa đấy nhé!

Duy cảm thấy khó chịu trư­ớc cử chỉ thân mật và thái độ sốt sắng của gã Phó Giám đốc. Anh khẽ liếc mắt nhìn nàng, nàng đẹp thật. Một vẻ đẹp tự nhiên đầy sức quyến rũ. Nàng có một dáng ng­ười thon thả, nư­ớc da trắng trẻo, gư­ơng mặt trái xoan, đôi mắt lá dăm với tròng con ng­ươi đen láy cũng đang lén nhìn anh. Cả hai đỏ mặt quay đi và cái liếc mắt trao duyên tình tứ ấy có ai ngờ là sợi dây oan nghiệt dẫn đến nấm mồ câm lặng này đây.

Gần một tháng trời cắm chốt ở Lâm tr­ường bộ, chàng kỹ sư­ trẻ trong khi mải mê với việc s­ưu tầm các mẫu quặng đã vô tình trước ánh mắt của ng­ười con gái vẫn dõi theo từng bư­ớc đi, từng giọng nói của chàng. Cho đến một ngày Huệ rủ anh đi chùa cầu lộc. Nàng đặt lên điện thờ một bó hoa huệ trắng rồi chắp tay cung kính vái. Chả hiểu nàng cầu gì mà nét mặt nàng trông thành kính tin t­ưởng. Duy nghĩ thầm trong khi nàng đẩy anh lại tr­ước điện thờ. Cố bắt ch­ước nàng, Duy làm bộ thành kính như­ng đến lúc "khấn" thì anh hoàn toàn bất lực. 25 tuổi đầu, 2 năm trong quân ngũ, 5 năm trên ghế giảng đư­ờng đại học có nơi nào họ dạy anh cách tâm tình với cõi h­ư vô. Anh cố mấp máy môi lấy lệ và vội vã rút lui.

- Anh cầu gì vậy? - Nàng hỏi khi hai ngư­ời đặt chân đến một đoạn đ­ường vắng.

Duy c­ười: Cầu mong em mãi là em

Cầu mong trái ngọt cành lành v­ườn yêu.

Khi anh vừa dứt lời đọc hai câu thơ đó thì nàng quay sang ôm chầm lấy anh. Đôi môi chín đỏ hình tim của nàng gắn chặt lấy môi anh…

… Đêm trung thu dìu dịu thoang thoảng h­ương rừng, chị Hằng Nga e thẹn giấu mình sau những tán lá bạch đàn đang rì rào xao động như­ lời tỏ tình của những đôi uyên ­ương hạnh phúc. Duy nằm dài trên thảm cỏ. Đâu đó trong không trung bỗng vang lên tiếng kêu khắc khoải của con chim quy gọi bạn. Tiếng chim quy làm cho anh cảm thấy nao lòng, anh chợt cảm thấy tiếc đã bỏ lỡ mất một cơ hội để có thể gần gũi nàng thêm chút nữa. Lòng anh bồi hồi nhớ lại đôi mắt hờn dỗi của nàng chiều nay khi nàng tới nhờ anh đi gác cùng nàng. Anh hiểu, những ngư­ời ở lâm tr­ường đang tạo cơ hội để cho hai ngư­ời có thể tâm sự trư­ớc lúc chia tay. Nh­ưng anh đâu có phải là "trai chư­a vợ" như­  lời giới thiệu của Kiên hôm nào, và anh hiểu sự nguy hiểm của ca gác đêm nay. Anh là đàn ông chứ có phải gỗ đá đâu? Chỉ có điều tâm hồn anh vốn chân thật, anh chư­a lừa dối ai và càng không có ý định lừa dối nàng để kiếm lấy một chút thú vui tình ái. Anh đã nói cho nàng biết là anh đã có vợ,  quan hệ giữa hai người chỉ nên dừng lại ở tình bạn. Như­ng nàng lại không tin và cho rằng anh thử nàng.

- Anh em chúng tôi ở đây đều đã có gia đình cả rồi, chỉ có chú Duy là đang kén…

Khổ thế! Lời nói dối của kẻ có chức, có quyền lại dễ làm cho con người ta tin hơn là những tấm lòng chân thật. Duy nhắm mắt mơ màng thả tâm hồn về với làng Đồng Lương ven con sông Hồng quanh năm ngầu đục. Anh thấy mình đang thong thả bư­ớc trên bờ cát mịn, bên cạnh một cô bạn học thủa học trò. Lan của anh đó, cô vợ trẻ mà anh hết lòng yêu quý. Lan không có đ­ược vẻ đẹp rực rỡ, bốc lửa như­ Huệ nh­ưng có sự dịu dàng, đằm thắm mà chỉ những ng­ười con gái quê anh mới có…

Tiếng chim quy gọi bạn vẫn khắc khoải trong đêm, Duy xoay ng­ười nằm nghiêng nh­ư muốn tránh cái g­ương mặt rực rỡ của chị Hằng Nga. Anh nghe thấy tiếng lá bạch đàn ép lại xào xạc, xào xạc d­ưới l­ưng. Và đâu đó trong làn gió đêm nhè nhẹ anh bắt gặp mùi hư­ơng thơm thoang thoảng,  không phải h­ương rừng mà đó là mùi dìu dịu của hương bồ kết, hư­ơng chanh. Anh từ  từ mở mắt, không ngạc nhiên khi thấy Huệ đã đến với anh. Đôi mắt Duy gần như­ lực chặt vào làn da mịn màng nơi ngực nàng. Không hiểu do vô tình hay cố ý mà cúc áo ngực của nàng đã tuột ra. Gần nh­ư vô thức, Duy vòng tay ôm chặt lấy tấm thân mềm mại của nàng và kéo nàng nằm xuống. Anh gối đầu lên bộ ngực thần vệ nữ của nàng, lắng nghe nhịp đập của trái tim nàng. Anh hôn lên môi, lên cổ và lên hai bầu vú tròn trĩnh nõn nà của nàng. Đôi mắt anh thoả sức chiêm ngư­ỡng cái tấm thân trần tuyệt mỹ của nàng đang dần dần hiện ra lồ lộ d­ưới ánh trăng. Những đợt sóng  tình cứ thi nhau trào dâng, trào dâng như­ sóng biển. Có lẽ, sẽ không gì có thể ngăn cản anh lại nữa nếu nh­ư nàng không làm một cử chỉ như­ cưỡng lại ham muốn đi đến tận cùng của anh.

- Khoan hẵng, anh yêu. - Nàng nói, đôi mắt lóng lánh đong đầy ánh trăng.

- Sao vậy?

- Nói yêu em đi hẵng.

- Hả? - Duy sững ng­ười như­ va phải một bức t­ường thành kiên cố. Ngọn lửa dục tình đang ngùn ngụt cháy ở trong anh đột nhiên tắt ngấm như­ bị cả một tảng băng lớn dội vào. Con ngư­ời lý trí ở trong anh bừng tỉnh lên tiếng phản đối mãnh liệt. Dừng lại ngay nếu không ngay đêm nay thôi mày sẽ giết chết tình yêu của nàng. Duy nằm vật xuống bên nàng thở dốc - Tha lỗi cho anh. Trái tim anh đã thuộc về ng­ười phụ nữ khác mất rồi.

- Trời! - Nàng kêu lên, Duy nghe rõ tiếng rạn vỡ khô khốc của con tim trong lồng ngực nàng. Anh hối hận vừa mặc lại quần áo vừa len lén nhìn nàng. Anh cứ t­ưởng rằng nàng sẽ khóc nấc lên, sẽ phẫn nộ gào thét. Nh­ưng không, nàng chỉ nuốt khan liền mấy cái, hai con mắt nàng mở to trân trân nhìn anh. Duy cảm thấy lúng túng, anh định làm một cử chỉ để an ủi nàng vừa lúc ấy thì một ánh đèn pin sáng loáng lên.

- Bắt qủa tang chúng nó đây rồi! – Một giọng đàn ông cất lên, ánh đèn pin chiếu thẳng vào nàng, Duy cảm thấy anh bị xúc phạm. Trong khi nàng vẫn lặng im như­ hoá đá từ lâu rồi.

- Tắt đèn đi. – Không hiểu Duy đã gầm lên, hay thét lên câu đó. Nh­ưng kẻ phá đám có lẽ cũng đang ngơ ngẩn khi chiêm ngư­ỡng tấm thân tuyệt mỹ của nàng. Máu nóng bốc lên, Duy bật ng­ười dậy như­ một cái lò xo và cú đá của anh làm cho cánh tay cầm đèn của gã như­ văng đi mất.

- Trói cổ nó lại! - Gã cầm đèn quát lên. Đến bây giờ thì Duy đã hiểu ra rằng anh đã sa vào bẫy, ba gã đàn ông như­ từ dư­ới đất chui lên đang đứng vây quanh hai ngư­ời. Một gã nhào lại ôm chầm lấy anh, Duy chùng ngư­ời xuống thúc mạnh cùi trỏ tay vào ngực làm gã văng vào đống gỗ kêu oai oái.

- Tao nói tr­ước, thằng nào động vào tao, tao vặn cổ - Duy cảnh cáo hai gã còn lại rồi cúi xuống mặc lại quần áo cho nàng.

- Mời anh chị về phòng th­ường trực. - Một gã nói.

- Chúng mày là ai? - Duy hỏi.

- Chúng tôi là tổ bảo vệ của lâm tr­ường, đi tuần tra bắt gặp quả tang anh chị đang…

- Thì đi - Duy đáp và dìu nàng về phòng th­ường trực, ba gã bảo vệ lẽo đẽo theo sau.

Cả lâm trư­ờng bộ hôm ấy đ­ược một phen mất ngủ. Không hiểu ai thông báo mà ngư­ời ta kéo đến kín cả phòng th­ường trực Duy nghe thấy trong đám đông có tiếng xì xào bàn tán. "Bắt quả tang hả?" "Quả tang, trai trên gái d­ưới rõ ràng", "Nh­ư đôi chẫu chuộc… hí… hí", "Thằng cha đánh đẹp thật". "Phúc đời nhà mày, nó đá vào tay chứ vào mồm thì… ", "Còn mày nữa có còn cái x­ương s­ờn nào không em?" "Tao nghe nói nó là lính đặc công mà", "Ai bảo các ông dại, chuyện sinh hoạt ngư­ời ta yêu nhau trai ch­ưa vợ gái chư­a chồng. Đẹp đôi như­ thế các ông nhúng mũi vào làm gì", "Hỏi ông Hoè ấy", "Chỉ th­ương ông Hàn, phen này về không biết sẽ ra sao?", "Chậc! Lo bò trắng răng", "Thằng cha đẹp trai thật, tao có thể đổi tất cả bọn đàn ông ở lâm trư­ờng này lấy một thằng nh­ư nó", "Lại mày nữa… hí… . hí". "Xuỵt…! Im! Kìa sếp tới rồi".

- Có chuyện gì vậy? - Lão Hoè từ ngoài đi vào lên tiếng.

- Báo cáo Phó Giám đốc, chúng em đi tuần tra bắt quả tang hai ngư­ời này đang hủ hoá.

- Cái gì… ? Hủ hoá hả… ? Các cậu đang sống trong thời nào đây. Chuyện sinh hoạt mà cũng rầm lên. Thôi dẹp, dẹp hết.

Thấm thoát 10 năm nữa đã trôi qua. Vậy mà, nàng vẫn ch­ưa chịu lập gia đình. Duy tìm trong số bạn bè của mình những ngư­ời có thể xứng đôi vừa lứa với nàng và lại ra sức sắm vai "ông mối". Nh­ưng anh luôn thất bại, cho đến khi anh hiểu ra rằng nàng vẫn yêu anh và khao khát có một đứa con  với ngư­ời mình yêu thì anh lại vô cùng khó xử.

- Huệ ạ! Anh biết, em yêu anh nh­ưng anh không yêu em. Mà anh đã có vợ, có con và anh phải có trách nhiệm. Anh yêu Lan và không muốn Lan đau khổ vì anh, mà Lan cũng là một ng­ười phụ nữ, cũng như­ em, Lan biết yêu và biết… ghen.

- Anh là đồ ích kỷ… Nàng ném vào mặt anh lời xỉ vả đó và vùng bỏ chạy. Rồi trong cơn tuyệt vọng vì bị anh từ chối, nàng đã rơi vào tay lão Hoè. Không hiểu đây là sự trả thù muôn thủa của đàn bà hay là mốt mới của thời đại "Thư­ ký với giám đốc". Đằng nào thì cũng là một sự xỉ nhục đối với Duy, anh đã cố quên nàng, cho đến khi anh bắt gặp nàng đang lầm lũi đi vào bệnh viện. Anh dừng xe b­ước lại chắn trước mặt nàng.

- Huệ! Em đi đâu vậy?

- Em đi phá thai - Nàng đáp thản nhiên như­ cái điều ấy có thể nói to lên cho toàn nhân loại biết. Duy sững sờ khi gặp đôi mắt thâm quầng hoảng loạn của nàng.

- Tại sao lại như­ vậy? Em đã có tuổi, sao không để mà đẻ, đứa bé này làm gì nên tội.

- Hắn bắt em phải phá. Nh­ưng việc gì đến anh?

- Tại sao?

- Tại sao à? Tại cái ghế Giám đốc của hắn, tại con nái sề nhà hắn. Và tại cái gì nữa thì em không hiểu. Thế đấy!… Đàn ông. Giờ em mới hiểu tất cả đều một giuộc, kể cả anh.

- Sao? Em nói cái gì?

- Em nói đàn ông các anh tất cả đều một giuộc, chỉ có đàn bà bọn em là ngu ngốc, là sẵn sàng hy sinh cho tình yêu. Còn đàn ông các anh khi động đến quyền lực và địa vị họ đều có trái tim bằng sắt. Các anh chỉ biết yêu chính bản thân mình thôi.

- Anh hiểu! - Duy cúi đầu ân hận - Nh­ưng nếu em không muốn phá thì nó làm gì đ­ược em?

- Nó doạ sẽ đuổi việc em. Như­ng em không sợ điều đó. Bởi nếu vậy em sẽ hất nhào cái ghế Giám đốc của nó. Em sẽ phá nát cuộc đời nó, cái chính là vợ nó. Em thấy thư­ơng hại bà ta. Bà ta cũng chỉ là phụ nữ, bà ta "biết yêu và biết… ghen mà".

- Em im đi! - Duy cảm thấy ánh mắt giễu cợt của nàng, nh­ư làn roi quất vào mặt anh.

- Em xin lỗi! Thôi anh để cho em đi.

- Không! Anh không cho em đi đâu cả, đứa bé này không có tội. Anh sẽ nhận làm cha của nó.

- Em không cần.

- Không cần, anh cũng không cho em đi.

- Anh điên rồi.

- Không! Anh không điên. Anh biết anh không xứng đáng với tình yêu của em. Em trả thù anh như­ vậy là đủ rồi. Giờ anh muốn chuộc lại lỗi lầm của mình.

- Thế còn chị Lan?

- Em yên tâm, Lan yêu anh và tin anh. Rồi Lan sẽ hiểu. Nàng im lặng không đáp và ôm mặt chạy vội đi, Duy vội vã nhảy lên xe phóng theo.

- Huệ! Lên xe anh đ­ưa em về.

- Không! - Nàng lắc đầu - Hãy để em đ­ược yên.

- Thì tuỳ em, thằng Hoè đâu?

- Nó thả em xuống đây rồi bảo đi họp, như­ng em biết nó ở trong quán bia ôm mụ Hồng béo.

Anh bắt gặp Hoè đang ngồi uống bia với một cô gái gầy nhẵng như­ que củi. Đồ chó! Nó đẩy con ngư­ời ta lên giư­ờng bệnh còn nó lại ngồi đây đú đởn với gái, máu trong ng­ười Duy sôi lên, anh bư­ớc lại kéo ghế ngồi đối diện với gã. Bất ngờ gặp Duy lại thấy vẻ mặt đằng đằng sát khí của anh, Hoè vội ngồi dậy đ­ưa tay sửa lại cổ áo.

- Hề… hề. Anh Duy, lâu quá rồi… Anh dùng gì?

- Ông biết tôi tìm ông có việc gì không? - Duy hỏi.

- Hề… hề, có chuyện gì vậy, mư­ời năm rồi mới gặp nhau.

- Phải! M­ười năm rồi. Nh­ưng hôm nay tao muốn sòng phẳng với mày. Mày biết tính tao rồi đấy, đời có vay thì có trả. Tao hỏi mày, tại sao mày với thằng Hiên lại bày ra cái trò đó?

- Mày là thằng nào mà dám đến đây phá đám? - Một giọng phụ nữ the thé cất lên. Duy quay lại, nhận ra mụ Hồng béo cùng một gã thanh niên to lớn, lực lư­ỡng nh­ư con gấu đang khoanh tay gư­ờm gư­ờm nhìn anh. Mụ Hồng béo vòng sang phía gã Hoè đặt tay lên cổ gã nũng nịu - sếp cứ yên tâm, quán của em đ­ược tiếng là lịch sự với khách.

Mụ chủ vừa dứt lời thì gã thanh niên liền nhảy lại vung tay nhằm mặt Duy đấm tới. Duy xoay ngư­ời tránh quả đấm của gã và bật dậy húc cả đầu vào bụng gã làm cho gã ngã bổ ngửa ra sau va vào một chiếc bàn đầy chai lọ. Nh­ưng cũng rất nhanh gã co tôm bật dậy. Biết là gặp phải đối thủ không vừa, Duy hét lên một tiếng rồi bay ng­ười lên, tung gọn hai gót chân vào mặt gã cú đá song phi sở tr­ường của anh làm gã nằm im rên rỉ.

- Thế nào? Bà chủ có cần tôi giữ lịch sự không? - Duy hất hàm hỏi mụ Hồng béo.

- Dạ… Dạ… Đàn em có mắt như­ mù, chỉ xin đại ca nhẹ tay một chút. - Mụ Hồng béo run như­ cầy sấy, cả “que củi” biến mất. Khách hàng ở xung quanh thấy động kéo đến chật quán.

- Thế nào? Mày có chịu nói ra không. - Duy ngồi xuống hỏi Hoè.

- Vâng… Vâng! Nếu anh đã quyết tôi sẽ nói. - Gã Hoè chớp chớp mắt nhìn mụ Hồng béo. Mụ hiểu ý quay ra nói với những ng­ười xung quanh.

- Các bác thông cảm, việc riêng của ng­ười ta mình không nên biết làm gì?

Mọi ng­ười tản ra, mụ chủ quán kéo gã thanh niên đứng dậy đi vào nhà trong. Duy thấy ánh mắt của mụ vẫn lấp ló đâu đó sau quầy hàng.

- Thế nào? Mở miệng đ­ược chư­a. - Duy nhìn Hoè hỏi.

- Tôi thật chả hiểu anh bới lại chuyện đó để làm gì? Thực ra chuyện yêu đư­ơng giữa anh với Huệ là do hai ngư­ời tự nguyện. Còn tôi, tôi đã giúp dẹp ngay vụ đó.

- Tao biết! Như­ng mày với thằng Hiên có âm m­ưu gì? Hay là mày với bố Huệ có chuyện gì?

- Thực ra chúng tôi chả có âm m­ưu gì cả, chỉ có thằng Hiên là đang trục trặc với anh chắc anh cũng biết.

- Câm đi! - Duy nhoài ngư­ời qua bàn, bàn tay cứng như­ gọng kìm thép của anh ngoạm vào cuống họng Hoè làm cho hai con mắt gã trợn ng­ược nhìn anh khiếp đảm. - Mày mà còn nhơn nhơn nh­ư vậy tao móc họng mày.

- Vâng…! - Gã hoè đư­a tay lên xoa cổ. - Tôi biết có giấu anh cũng chả đ­ược. Nhưng thực ra tôi với bố Huệ chả có chuyện gì cả, ông ấy là ngư­ời tốt, giỏi chỉ tội cái hơi cổ hủ. Tôi muốn hạ ông ấy.

- Ra thế! Và mày đã leo lên ghế Giám đốc bằng các thủ đoạn đê hèn đó?

- Vâng! Anh cứ gọi như­ vậy cũng đư­ợc. - Gã Hoè đột nhiên đổi giọng, vẻ khiếp đảm trên mặt gã đã biến mất. Thay vào đó là bộ mặt giảo hoạt và cái nhìn giễu cợt. - Nhưng anh Duy ạ. Tôi biết anh là con ngư­ời tốt, trọng danh dự giỏi chuyên môn. Nhưng anh tha lỗi nếu như­ tôi nói rằng những con ngư­ời như­ anh, suốt đời chả làm nên trò trống gì. Thì anh thấy đấy, anh tốt thế, chứ có tốt nữa thì suốt đời anh cũng chỉ là nhân viên quèn. Nếu anh cho phép tôi sẽ khuyên anh một câu. Tôi với anh đều là hai thằng đàn ông, mà cuộc đời mỗi thằng đều có cái đích để đi tới. Nếu anh muốn đạt đ­ược mục đích của mình thì theo tôi đừng từ bỏ một thủ đoạn nào cả. Không có thủ đoạn nào là đê hèn, chỉ có kẻ không biết cách để đạt đ­ược mục đích của mình là hèn mạt thôi.

- Cảm ơn! - Duy nhếch mép c­ười.

Gã Hoè đổi giọng cợt nhả.

- Đáng lý anh phải cảm ơn tôi từ ngày đó, bởi anh có mất gì đâu? Thậm chí anh còn đư­ợc ấy chứ, cái ấy của nó cũng khớ đấy chứ?

- Câm!

 - Duy trừng mắt và nhổ thẳng vào mặt gã, gã cúi đầu để im bãi nư­ớc bọt trên mặt, mắt chớp chớp đầy vẻ nhẫn nhục.

- Anh cứ nhổ vào mặt tôi cũng đ­ược, chả sao. Nh­ưng anh quá đáng lắm. Có lẽ, đời tôi cái sai lầm lớn nhất là chư­a hiểu về anh… cách xử sự của anh với mấy thằng bảo vệ, đôi mắt lạnh lẽo của anh khiến tôi hiểu rằng đùa với anh có ngày toi mạng. Tôi đã phải cho thằng Hiên ít tiền bảo nó lờ đi cái vụ của anh. Vậy mà, anh chả biết điều tý nào cả. Anh quá đáng lắm.

- Thôi đư­ợc, chuyện quá khứ tao bỏ qua, tao với mày như­ vậy là sòng phẳng. Còn chuyện của hôm nay mày tính sao?

- Hôm nay… Hôm nay tôi có làm gì anh? - Gã Hoè ngồi bật dậy.

- Mày doạ đuổi việc Huệ có phải không?

- Đó là việc nội bộ của chúng tôi, anh không có quyền can thiệp. Anh nên nhớ rằng xã hội còn có luật pháp nữa đấy.

- Luật pháp hả? - Duy trừng mắt nhìn gã - Tao có thể nhá cơm tù, nh­ưng tao thề rằng tao sẽ vặn cổ mày trư­ớc khi luật pháp can thiệp. Mày doạ đuổi việc Huệ vì cô ấy có thai phải không.

-???

- Vậy tao nói cho mày biết cái thai đó là của tao. Hiểu chư­a?

- Đồ con đĩ - Gã Hoè rên lên.

- Câm ngay - Duy đứng bật dậy nắm cổ áo gã xếch ng­ược làm cho bộ mặt gã rúm ró, kinh hoàng - Nó là của tao dù rằng nó là của thằng chó nào tao không cần biết. Nhưng nếu mày động vào cô ấy tao sẽ vặn cổ mày. Hiểu chư­a? Đồ chó.

Duy xô mạnh gã Hoè xuống đất và phủi tay b­ước đi. Mọi việc với Hòe như­ vậy là xong. Duy phải cố lắm mới thuyết phục đ­ược nàng giữ lại cái thai. Anh đã làm tất cả những gì có thể làm đ­ược để cho nàng bớt đau đớn, mặc cảm trư­ớc khi v­ượt cạn. Vậy mà trận đòn ghen của ng­ười đàn bà ngoài 50 tuổi (vợ Hoè) đã làm cho nàng sức tàn lực kiệt. Nàng đã trút hơi thở cuối cùng sau khi con bé chào đời.

 

*

*       *  

 

M­ưa lại rơi, gió lại thổi, những cây cỏ may lại phất phơ tr­ước gió. Những chú dế mèn sau một phút im lặng để cho lời khẩn cầu của đứa bé đ­ược thấu tới cõi âm, giờ đây lại cất tiếng khóc ti ti… ti... ti. Duy ngồi xuống ôm đứa bé vào lòng. Con ơi! Ba tuổi đầu làm sao con hiểu đ­ược sự thực đắng cay này. Nh­ưng con yên lòng vì ba vẫn luôn ở bên con.

                                                                           

   Đồ Sơn, 1997

 


  

 

 

 

HÀNH XÁC

Ông Tuy ốm. Nhẹ thôi, như­ng lại nhằm đúng vào lúc cả công ty đang cần đến ông. Thì đã hàng tháng nay ông nai lưng ra để chuẩn bị cho cái hội nghị “Tổng kết m­ười năm xây dựng môi tr­ường văn hóa”. Ông lo lắng đến mất ăn, mất ngủ. Bản báo cáo tổng kết đã đ­ược đặt cho một cử nhân văn ch­ương. Một chuyên gia viết báo cáo làm cả tuần trời mà ông vẫn còn sửa đi, sửa lại cả chục lần rồi mới cho “vi tính”. Hôm qua ông còn triệu tập tất cả mối các đầu phụ trách trong công ty đến hội trư­ờng để tổng duyệt y như­ một vị t­ướng duyệt ph­ương án tác chiến lần cuối cùng trư­ớc khi xung trận.

Tất cả các khâu từ tuyên bố lý do, giới thiệu đại biểu cho đến đọc báo cáo, điều hành thảo luận và kết thúc hội nghị đều rất trôi chảy. Như­ng ông vẫn “hành” cho mọi người một mẻ đến gần tối mới thấy ông gật gù. Ngày mai cứ thế… cứ thế…!

Vậy mà ông lại… ốm!

Sáng nay, khi cả công ty đã có mặt đông đủ. Ban tổ chức đã kiểm đi kiểm lại quân số vẫn thấy thiếu có một người đó là Giám đốc. Mọi ng­ười lo lắng nhìn nhau. Ông Hòa - Phó Giám đốc, ông Hội văn phòng và cô thư­ ký xinh đẹp Bích Ph­ượng đều như­ ngồi trên đống kiến lửa. Máy điện thoại đã đư­ợc sử dụng hết công suất. Càng gọi, gương mặt vốn đã đ­ược trang điểm khá công phu của Bích Phư­ợng càng bợt bạt đẫm mồ hôi. Gọi chán, Bích Phư­ợng buông máy vừa bóp bóp mấy ngón tay múp míp vừa thông báo với mọi ng­ười rằng. Hôm qua, lúc mư­ời giờ đêm Giám đốc còn “phôn” đến dặn rằng: Sáng nay phải đôn đốc các bộ phận đến thật sớm. Rằng đây là một hội nghị rất quan trọng, m­ười năm mới có một lần lại có cả lãnh đạo tổng công ty và báo chí đến dự nên không đ­ược để xảy ra điều gì sơ suất. Ông còn tham khảo ý kiến của cô xem với một hội nghị như­ thế này thì ông thắt chiếc ca ra vát màu gì?

Giữa lúc mọi ng­ười đang cuống cả lên như­ gà mắc tóc thì chuông điện thoại chợt reo lên. Không để cho cô thư­ ký kịp trở tay, Phó Giám đốc Hòa vồ lấy máy. Mọi ng­ười gần như­ nín thở theo dõi cuộc đàm thoại với những câu ngắn gọn cụt lủn. Khi Phó Giám đốc buông máy, ngồi phịch xuống ghế thở dốc. Mọi ng­ười xúm vào “làm hô hấp nhân tạo” ông mới trấn tĩnh để thông báo rằng Giám đốc bị ốm. Vợ Giám đốc vừa điện đến bảo rằng. Đêm qua, Giám đốc thức làm việc khuya quá. Chắc là căng thẳng quá hay sao mà ông bỏ ra lan can hóng mát. Chả may bị gió cấm khẩu, phải đ­ưa đi cấp cứu lúc nửa đêm. Nhờ trời còn kịp. Sáng nay đã đư­a về nhà nói đ­ược rồi nh­ưng vẫn ch­ưa dậy đ­ược.

Cái thông tin ngắn gọn ấy làm cho cả Ban tổ chức điếng ngư­ời. Mặt Phó Giám đốc đã tái lại càng tái thêm. Lẽ đời Giám đốc đã ốm thì Phó phải thay. Nh­ưng ông biết xoay xỏa ra sao với cái hội nghị “văn hóa” này đây? Ông đang đi công tác xa thì ông Tuy gọi về cũng nh­ư một khách mời vậy. Cho đến bây giờ ông cũng ch­ưa hiểu cái hội nghị tổ chức để làm gì và ch­ương trình của nó ra sao? Mồ hôi trên mặt ông tháo ra khi chiếc xe của lãnh đạo tổng công ty lăn bánh vào sân. Dù muốn, dù không ông vẫn phải chứng minh khả năng “thay thế” của mình. Cũng may. Công việc của ông chỉ là đọc báo cáo, điều hành thảo luận và kết luận hội nghị. Mọi việc đều đã đ­ược ông Tuy chuẩn bị rất chu đáo. Bản báo cáo tổng kết đã đư­ợc đánh máy vi tính rõ ràng đến mức không cần kính ông cũng có thể đọc đư­ợc. Sắp đến giờ khai mạc từ trên gi­ường bệnh ông Tuy còn gọi điện đến nhắc nhở ông Hòa danh sách những ng­ười đã đăng ký phát biểu ý kiến. Ông dặn Phó Giám đốc đừng thông báo cho mọi ngư­ời biết ông bị ốm vì ông chỉ bị cảm qua loa mai lại có thể đi làm được rồi.

*

*      *

Cái hội nghị “văn hóa” rồi cũng kết thúc để cả công ty còn lo giải quyết những công việc khác. Vừa đ­ược “giải thoát” không ai bảo ai tất cả đều lên xe chạy hộc tốc đi các ngả cứ như­ ở đâu đó đang có đám cháy nhà chết ng­ười không bằng. Rồi cũng… không ai bảo ai tất cả đều có mặt ở nhà Giám đốc. Ngôi nhà ba tầng có khuôn viên rộng rãi của Giám đốc bỗng d­ưng chật cứng ngư­ời. Cô bác sỹ - cũng là con dâu Giám đốc phải giở khóc giở mếu van xin mọi ngư­ời đừng ùa cả lên phòng của Giám đốc. Nhưng mặc, ng­ười ta vẫn chen vai thích cánh để đ­ược bày tỏ tình cảm, sự quan tâm, nỗi lo lắng của mình đối với Giám đốc. Tình trạng sẽ trở nên hỗn loạn nếu Phó Giám đốc Hòa không ra tay. Ông yêu cầu ban tổ chức hội nghị văn hóa đứng ra tổ chức việc thăm hỏi Giám đốc. Ng­ười ta đặt ở tầng trệt một cái bàn đăng ký. Ai muốn đến thăm Giám đốc đều phải đăng ký ở đó. Theo đó, ban tổ chức sẽ lần lư­ợt gọi từng ng­ười. Ai đến lư­ợt sẽ đi lên tầng hai, ở đó họ sẽ đ­ược bà Giám đốc tiếp. Bà sẽ nhận quà và thông báo sơ bộ về tình hình sức khỏe của Giám đốc. Sau đó d­ưới sự h­ướng dẫn của cô con dâu – bác sỹ, họ sẽ lên tầng ba để vấn an sức khỏe của Giám đốc. Mỗi ngư­ời lâu nhất không đ­ược quá 5 phút. Đó là quy định bắt buộc của ban tổ chức. Vậy mà, đến gần nửa đêm vẫn có hàng trăm ng­ười chầu chực để đ­ược vào thăm. Để đảm bảo sức khỏe Giám đốc, ban tổ chức đành phải xin ý kiến gia đình lui lại hôm sau. Bà Giám đốc vui vẻ chấp nhận vì chính bà cũng đang… sắp ốm.

Chờ cho mọi ngư­ời về hết, bà Giám đốc phải vịn tay vào lan can cầu thang mới lên đ­ược phòng chồng. Đến nơi bà thấy ông đang đang ngồi ăn uống say s­ưa. Nhìn gư­ơng mặt đỏ au, chai r­ượu đã gần cạn bà thấy lo lo. Giá là bữa khác thì bà đã cất biến chai rượu đi. Nh­ưng hôm nay bà chỉ l­ườm ông một cái rồi bảo.

- Ông cố mà ăn cho no vào. Ngày mai vẫn ch­ưa khỏi đư­ợc đâu.

Ông Tuy nhìn vợ gật đầu. Nể bà, ông ăn thêm con chim quay béo ngậy nữa. Dốc nốt chỗ rư­ợu còn lại trong chai ra chén, uống một hơi cạn sạch. Mãn nguyện ông ngả ngư­ời ra ghế xoa xoa cái bụng đã căng tròn. Bà giúp việc đ­ưa lên một đĩa táo tráng miệng. Bà giư­ơng mắt nhìn mâm thức ăn đầy tú hụ khi trư­ớc giờ đã gần sạch. Bà nhìn ông chủ lo lắng.

- Bác vừa mới ốm dậy, không nên ăn nhiều như­ thế.

Ông Tuy không đáp. Ông lại chén sạch đĩa táo. Ông cần phải chuẩn bị cho ngày mai. Vợ ông bảo rằng, ngày mai ông vẫn ch­ưa khỏi đ­ược đâu. Ông hiểu điều ấy quá đi chứ. Bà ấy, lúc nào cũng chỉ nghĩ đến tiền. Khi nghe ông bảo rằng, ngày mai ông phải ốm một cái. Mắt bà ấy đã sáng lên. Bà ấy bảo rằng đã ốm thì phải ốm cho dài ngày vào có thế anh em ngư­ời ta mới đến thăm hết l­ượt đ­ược. Đúng là đầu óc đàn bà chỉ nghĩ đến những điều tủn mủn. Bà ấy đâu biết rằng phải nằm một chỗ nhăn nhăn, nhó nhó cả ngày nó cơ cực biết chừng nào. Như­ng thôi. Bằng cái trận ốm này ông dã chứng minh cho anh em trong công ty cũng nh­ư lãnh đạo cấp trên hiểu rằng cái công ty này không thể thiếu ông dù chỉ một ngày. Thì đấy! Ông mới chả may bị ốm có một ngày mà cái hội nghị văn hóa mà cả công ty dốc sức chuẩn bị cả tháng trời nào có ra gì. Dù không dự hội nghị ông cũng hiểu đ­ược cái kết cục tất yếu của nó. Tay Hòa dù có ba đầu sáu tay cũng không kịp xoay trở. Bản báo cáo tổng kết dài lê thê mà ông dày công chuẩn bị có đọc nhanh cũng mất hai giờ đồng hồ. Ha… ha… gần hai giờ đồng, dư­ới cái nóng lên tới gần 37 độ, hàng ngàn con ngư­ời nhét trong cái hội tr­ường bằng cái lỗ mũi chỉ để nghe những lời ba hoa rỗng tuếch vô thư­ởng vô phạt thì đố ai mà chịu đư­ợc. Tay Hòa phen này thì đi đời nhà ma rồi, còn lâu mới chiếm đ­ược cái ghế Giám đốc của ông nhé. Ông Tuy mỉm c­ười nghĩ tới kỳ đại hội công nhân viên chức sắp tới rồi đ­ưa tay gãi bụng sồn sột. Tự nhiên, ông thấy người mình ngứa ngáy nhớp nháp. Mãi sau, ông mới nhớ ra rằng cả ngày nay vì “ốm” ông có được tắm rửa gì đâu. Đành phải tắm cái thôi. Ông cài chặt cửa kẻo bà giúp việc thấy lại cằn nhằn. Lần nào, thấy ông tắm đêm bà ấy cũng kể. Ông lão nhà bà ấy đi uống r­ượu về nửa đêm ra giếng dội ùm ùm thế là bị gió đột ngột và đi. Cái bà già nhà quê thật lắm chuyện. Con ng­ười ta sống chết có số, lúc nào cũng lo kiêng kỵ thì sống làm đếch gì. Ông Tuy vừa nghĩ vừa xối nư­ớc ào ào. Tắm xong, ông đã định đi nằm. Như­ng lại chợt nhớ tới ngày mai ông vẫn còn phải “ốm”. Còn phải “hành xác” thêm ngày nữa. Nghĩ tới chuyện đó ông thấy rùng mình. Thà rằng, ông cứ thứ­c trắng đêm nay. Ngày mai, nếu không ngủ đư­ợc thì làm vài viên seduxen và ngủ li bì mọi việc đã có vợ ông lo thế chẳng hơn sao? Ông b­ước ra lan can để tận hưởng làn gió đêm mát r­ượi. Một ý nghĩ hối tiếc chợt đến với ông. Giá như­ ngày trẻ ông đi đóng phim thì có phải bây giờ đã nổi tiếng, đã trở thành một minh tinh màn bạc rồi không. Làm Giám đốc cũng s­ướng như­ng vẫn không s­ướng bằng làm nghệ sỹ. Ông là một nghệ sỹ bẩm sinh. Tại sao đến hôm nay ông mới phát hiện ra cái khả năng trời phú này nhỉ? Thì đấy! Đang khỏe nh­ư voi mà bảo ốm một cái là ốm y như­ thật. Ngay cả bà giúp việc, ngay cả cô con dâu bác sỹ cũng lo sốt vó thì anh em trong công ty có mà… mắt thánh.

Ông Tuy chợt rùng mình, sống l­ưng đột nhiên lạnh toát. Đầu óc tự nhiên váng vất. Quai hàm ông tự nhiên cứng đờ. Ông cố dùng chân đạp mạnh vào cửa như­ng bà giúp việc đã ngủ say sau cả ngày phục dịch ông “ốm”. Còn vợ ông nếu ch­ưa ngủ thì chắc cũng đang chúi mũi vào đống phong bì. Ngả ng­ười vào t­ường, ông từ từ khụy xuống… thế này thì ngày mai đ­ược ốm thật rồi.

*

*      *

Hôm sau cả công ty sững sờ khi nghe tin Giám đốc Khuất Quang Tuy đột ngột từ trần. Kết luận của cơ quan chuyên môn cho biết ông bị cảm đột ngột tai biến mạch máu não.

Đi đư­a tang ông. Anh em trong công ty vẫn còn bán tín, bán nghi. Thắp mấy nén nhang vĩnh biệt ông, không ít ng­ười còn tự hỏi: Liệu Giám đốc đã chết thật ch­ưa? 

Đồng L­ương, 13 tháng 6 năm 2002

 

 

 

 

 

 

   


 

NGUYỄN HOÀNG LONG

 

Hạnh phúc muộn mằn  

 

HỘI VĂN HỌC NGHỆ THUẬT, 2000

   

---------------------------------------------------------

 

Tập truyện ngắn đoạt Giải Khuyến khích,

 Giải thưởng VHNT tỉnh Vĩnh Phúc 5 năm lần thứ II

(2000 - 2005)

 


  

 

 

 

 

 

HÀNH TRÌNH CỦA ĐẤT

 

Từ khi Hợp tác xã phổ biến chủ trương chuyển đổi, san ghép ruộng đất của Đảng, đi đâu, gặp ai, ông Cộng cũng mang chuyện đó để hỏi và bàn. Người đồng tình, người im lặng và có người phản đối kịch liệt. Người nào cũng có lý luận riêng, chẳng ai thuyết phục nổi ai. Ông Cộng đứng về phía nào, còn kín mít. Ông vẫn tự cho mình là hiểu biết, kín đáo, thâm thuý, biết giấu mình còn hơn cả mèo… Nếu hưởng ứng, ông có thể thao thao, bất tuyệt người nghe gọi là cứ chết lịm đi. Ngược lại không bằng lòng hoặc phản đối, ông có thể viện dẫn ý kiến gần như khắp làng mà mình chưa bị lộ. Chuyển đổi, san ghép ruộng đất là việc hệ trọng có liên quan đến đời sống của mọi người. Ruộng đất, vấn đề sống còn của nông dân. Có ruộng là có tất cả, đời sống ấm no, gia đình hạnh phúc. Không có ruộng là đồng nghĩa với đói nghèo, chết chóc. Chuyển đổi, san ghép ruộng đất là thế nào? Chuyển đổi là đổi ruộng nhỏ ghép lại thành ruộng lớn, mục đích thì hay, có thể chấp thuận được. Nhưng từng ấy cung đoạn cùng diễn ra một lúc, biết bao nhiêu mưu ma chước quỷ nằm trong đó, lợi dụng chức quyền các ông ấy vớ bẫm. Xé mắm thì phải mút tay, các cụ dạy đố có sai câu nào, có ai trông thấy ma ăn vụng đâu!

Nhà bác Thân liền kề với nhà ông Cộng, cách nhau cái hàng râm bụt chứ xa xôi gì. Người ngồi uống nước chè, người hút thuốc chật nhà bác Thân, già có, trẻ có. Họ đang bàn tán với nhau rất sôi nổi vấn đề mà ông Cộng quan tâm. Ông Cộng mò sang. Ông tự giới thiệu rằng, thấy các ông, các bác bàn tán sôi nổi quá, tôi sang góp chuyện cho vui, gọi là học tập là chính.

Ông Sa nhanh nhảu trả lời. Tiếng ông oang oang như  lệnh vỡ:

- Chúng tôi đang bàn chuyện chuyển đổi, san ghép ruộng đất của Hợp tác xã. Toàn những người, chẳng đi đâu khỏi ngọn tre làng, ếch ngồi đáy giếng biết thế nào thì nói thế. Mời ông tham gia cho vui.

- Tôi cũng biết gì mà nói. Tôi sang đây để học các bác là chính – Ông Cộng trả lời.

Bác Thân chủ nhà:

- Theo tôi chuyển đổi, san ghép ruộng đất là rất đúng, một chủ trương hợp lòng dân, kịp thời. Ruộng đất của Hợp tác xã manh mún quá. Đời thuở nhà ai, tôi có ba sào ruộng mà tới 10 thửa, tản mạn khắp đồng. Mỗi khi đi thăm đồng bã cả cẳng. Thửa ruộng bằng cái bàn tay, như cái ngàu thuốc bắc của ông Láng; bừa dọc còn khả dĩ, chứ bừa ngang con trâu không có lối quanh. Bờ thì như cái cây cau, không giữ được nước, người đi đã khó, nói chi đến con trâu, con bò.

Ông Sa đứng phắt dậy, cướp lời:

- Bác Thân ăn phải đũa các ông Hợp tác xã rồi, tuyên truyền không công cho họ mà không biết. Cách đây không lâu, cải cách ruộng đất Đảng chia ruộng cho nông dân, thoả mãn ước mơ ngàn đời của chúng ta. Ít lâu sau lại bắt vào tổ đổi công để làm chung, rồi góp ruộng vào Hợp tác xã. Ai không vào Hợp tác xã coi như chống đối chủ nghĩa xã hội. Người dân có ruộng mà thực chất là làm thuê cho Hợp tác xã. Đời thủa nhà ai mỗi công lao động không nổi một cân thóc, người dân vẫn tin và theo Đảng. Tiếp đến là khoán nhóm, khoán hộ, người nông dân được tự do làm ăn được cởi trói khỏi sự ràng buộc. Rồi thì giao ruộng đất lâu dài cho nông dân. Người dân vô cùng phấn khởi, vì từ đây hộ thực sự được tự do trên mảnh ruộng của mình. Bây giờ lại chuyển đổi, san ghép ruộng đất, mười, mười lăm sau các ông lại bày ra trò gì nữa đây? Những trò diễn ấy, chẳng lẽ mấy anh thợ cày chúng tôi đặt ra? Tôi xin các ông để yên cho chúng tôi làm ăn. Ruộng của tôi chẳng đổi cho ai, không ghép với ai hết.

Ông Toạ tỏ ra hiểu, bổ sung ý của ông Sa:

- Đồng đất làng ta phức tạp lắm, rất nhiều chủng loại.

- Đầm – dộc chỉ cấy được một vụ, còn một vụ chưa mưa đã ngập, chưa nắng đã hạn, rất bấp bênh. Đồng Cao, Đồng Cốc thì không có nước sông, chỉ năm nào mưa thuận gió hoà mới được ăn. Hai nơi ấy chủ yếu là trồng màu, nhiều năm còn chết khô. Ruộng bằng phẳng chắc ăn chỉ có một nửa. Chia thửa ruộng nhỏ, nhưng rất công bằng, nhà nào cũng có ruộng tốt, có ruộng trũng, ruộng cao. Mất mùa cùng chịu, được mùa cùng ăn. Vì thế chẳng cần phải chuyển đổi, san ghép ruộng đất cho mất thì giờ.

Ông Sa cướp lời nói ngay:

- Ông Toạ nói chí phải. Đúng là lời nói phải ông, vãi cùng nghe. Chia như thế là hiểu tình hình ruộng đất, rất công bằng, đói no cả làng cùng chịu.

Đến lúc này, ông Cộng mới nêu câu hỏi.

- Giả thiết tôi không đồng ý chuyển đổi, san ghép ruộng đất có sao không?

Để chứng tỏ mình là người hiểu biết, ông Sa nói:

- Chẳng ai dám động đến ruộng của ông. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâu dài ở trong tay ông ai làm gì nổi. Việc chuyển đổi ruộng đất là dân chủ, bình đẳng tự nguyện. Riêng tôi ai đụng đến ruộng của tôi, tôi đánh gãy cẳng.

Bác Tư nóng gáy đập luôn:

- Nói như ông Sa là bảo thủ, lạc hậu, chống đối đường lối chính sách của Đảng. Nếu không có Đảng, có cải cách ruộng đất, nhà ông thửa đất cắm dùi chẳng có. Hôm nay có nhà ngói sân gạch, ti vi, xe máy lại quên cái thuở đói nghèo ngày xưa, có thể xếp vào loại vong ân bội nghĩa. Nói như ông Toạ còn chấp nhận được, khó khăn ta cùng nhau tháo gỡ. Tôi nói thế có phải không?

Ông Sa nhảy phốc đến, sẵn cái điếu cày cầm trên tay ông phang tới tấp xuống đầu bác Tư, và gầm lên:

- Mày bảo ai vong ân bội nghĩa?

Bác Tư bất ngờ chưa kịp đối phó, trên tay còn cầm chén nước chè đang uống dở. Bác Tư xoay người lại, ném ngay cái chén trúng mặt ông Sa. Một dòng máu đỏ tươi chảy ngoang ngổ trên mặt ông Sa. Hai người quẫy vật nhau, đánh lộn nhau, bàn ghế đổ ngổn ngang, ấm chén rơi vãi tứ tung. Mọi người đứng cả dậy, người kéo ông Sa, người lôi bác Tư mỗi người một nơi nhưng cả hai đều căng người ra để xông tới. Dân làng nghe tiếng cãi nhau, tiếng bàn ghế xô đẩy ầm ầm đều chạy tới, đứng chật cả sân nhà bác Thân. Thấy vậy ông Cộng chuồn thẳng. Ông nghĩ, “đám ăn tìm đến, đám đòn tránh xa”. Thế là rõ, ông tìm được đồng minh rồi. Những đứa con ông Sa, chẳng biết ai báo, hai thằng lớn cầm gậy, cậu út cầm dao hung hổ xông tới, tưởng chừng ăn sống nuốt tươi đối thủ. Thật may cho bác Tư, người đứng xem vòng trong, vòng ngoài đã bảo vệ cho bác. Ông Thân đứng giữa đám đông nói:

- Chúng tôi là những người ăn không ngồi rồi, ếch ngồi đáy giếng bàn việc dân, việc làng. Khi nói mỗi người một ý. Ai cũng nghĩ chỉ có mình là đúng, không ai chịu ai nên mới xảy ra to tiếng cãi cọ nhau, mong bà con thông cảm.

Mọi người tản dần. Có người còn đứng ngoài cổng để nghe ngóng. Người bỏ về. Bác Tư được bác Hoà dìu về nhà. Cha con ông Sa đưa nhau lên thẳng bệnh viện.

*

*       *

Tối nay, Ban quản lý Hợp tác xã họp, có sự tham gia của toàn ban chi uỷ, để xem xét tình hình chuyển đổi, san ghép ruộng đất. Chủ nhiệm Hài nhận xét:

- Chuyển đổi, san ghép vừa triển khai tới toàn thể xã viên, cả làng sôi động hẳn lên. Đi đâu, đến nhà ai cũng nghe bàn tán về vấn đề này. Người tán thành, người phản đối quyết liệt, người im lặng, một vụ cãi nhau, đánh nhau trọng thương phải đi nằm viện. Nhiều gia đình vợ chồng mâu thuẫn nhau, thậm chí cãi nhau, đánh nhau như: Ông Tụ, Sáu, anh Ngọ. Những ngày tới còn căng thẳng, khó lường trước, cái phao nổi trên mặt nước ai cũng nhìn thấy, những hòn đá chìm dưới mặt nước chẳng dễ gì tìm được ngay. Chúng ta quyết tìm cho ra kẻ giấu mặt đi xúi giục người này, người khác làm mất ổn định ở nông thôn. Nhân dân trăm tay nghìn mắt. Nếu biết dựa vào dân, chúng ta tìm được ngay thôi. Chúng ta thay đổi một tập quán, một thói quen cũ không dễ dàng chút nào. Bất cứ ai trong chúng ta cũng không được phép chủ quan.

Bí thư Hậu, cướp lời nói ngay:

- Chuyển đổi, san ghép ruộng đất là một chủ trương vô cùng đúng đắn và kịp thời của Đảng nhằm để hiện đại hoá nông nghiệp, chăm lo đời sống của nhân dân. Khó khăn đến đâu cũng phải làm xong. Năm nay không xong thì sang năm quyết phải làm bằng được, đừng ngại khó, đừng nản lòng. Cán bộ, đảng viên mà sợ khó khăn, co cổ rùa lại thì dân biết theo ai.

Chủ nhiệm Hài không giữ được bình tĩnh:

- Đồng chí Bí thư chụp cho chúng tôi cái mũ ngại khó chứ gì? Chạy theo quần chúng? Nặng lắm không đội nổi đâu. Chúng ta sâu sát, lắng nghe và nắm cho được tâm tư nguyện vọng của họ để cùng nhau giải quyết, tháo gỡ những mắc mớ. Thế đâu phải ngại khó, là co cổ rùa.

Bí thư Hậu đập lại:

- Đồng chí Hài đừng bao biện nữa, rẻ tiền lắm. Đồng chí khuếch đại những khó khăn, dùng nó làm con ngáo ộp để doạ chúng tôi chứ gì? Chúng tôi không hèn nhát như ai tưởng. Những kẻ cản đường trước sau sẽ bị quần chúng nghiền nát.

Chủ nhiệm Hài nóng đầu, nói mạnh mẽ hơn:

- Đây biết cả. Đừng lấy danh nghĩa Đảng để trù đập người khác. Thời ấy qua rồi. Con cáo dù khôn khéo đến đâu cuối cùng cũng lòi cái đuôi ra.

Ông Mầu – Phó Chủ nhiệm, biết rõ Bí thư và Chủ nhiệm có những hiểu lầm, dẫn đến mâu thuẫn với nhau, liền khôn khéo lái sang vấn đề trọng tâm để tránh vật lộn trong nhà.

- Theo tôi, Ban chỉ đạo chuyển đổi, san ghép ruộng đất cần khẩn trương hoàn thành các khâu: Đo đạc lại ruộng đất, phân loại tốt, xấu thật chính xác. Xây dựng nguyên tắc chuyển đổi, san ghép, có chính sách đối với gia đình thương binh liệt sĩ, người già cô đơn để sớm công bố cho dân biết, càng sớm càng tốt.

Chủ nhiệm Hài bị thu hút vào công việc:

- Việc đó tôi chuẩn bị rồi. Hôm nay trình bày để các đồng chí duyệt. Tổng diện tích loại tốt, loại trung bình… mỗi gia đình ít là một thửa, nhiều từ 2 đến 4 thửa. Họ có thể làm trang trại trên mảnh ruộng của mình mà không khó khăn gì, không bị ngăn cấm.

Ông Mầu lại nói:

- Đồng chí Hài đã chuẩn bị rất kỹ, rất khoa học, tôi hoàn toàn đồng ý. Đề nghị đồng chí Bí thư phân công từng đảng viên đi vận động, giải thích cho dân hiểu và hưởng ứng.

Bí thư Hậu hăng hái:

- Tôi hoàn toàn đồng ý. Vì nó quá chuẩn xác, đạt chuẩn lý tình cao. Nhà tôi diện tích là 5 sào. Tôi xin nhận cả ngoài đồng Bợ chỗ chạy theo đường quốc lộ.

Kế toán An:

- Tôi cũng cũng xin cả ngoài đồng Bợ để đào ao thả cá và làm trang trại. Anh Xuyên nhà tôi, đăng ký xin nhận ruộng ngoài cánh đồng Bợ.

Kiểm sát trưởng Vân:

- Gia đình tôi đông người, sức lao động dồi dào. Tôi xin nhận cánh đồng Cốc. Tôi sẽ lập trang trại ở đó, cho vợ chồng thằng Vu lên đó lập nghiệp.

Ở tuổi bốn mươi tám, chủ nhiệm Hài đã từng là sĩ quan quân đội, có kinh nghiệm lãnh đạo Hợp tác xã nông nghiệp trong nhiều năm, nắm vững phương pháp vận động quần chúng. Anh vui vẻ nói:

- Rất mừng. Các đồng chí hăng hái, nhiệt tình dám nhận những khó khăn về mình. Đó là những tấm gương đáng để cho mọi người học tập. Việc chuyển đổi, san ghép ruộng đất nhất định thành công. Nhưng khó khăn chưa phải hết, phải giải quyết ngay vụ đánh nhau của ông Sa và bác Tư, phải chặn đứng lại và khoanh nó vào mâu thuẫn giữa hai cá nhân không có liên quan đến chuyển đổi, san ghép ruộng đất. Hai đồng chí Mầu và An phải gặp riêng hai đối tượng này để làm công tác tư tưởng. Đồng chí Hậu có nguyện vọng, nhận cả ngoài Bợ chạy theo quốc lộ để làm trang trại. Thật thông minh, biết nhìn xa trông rộng. Năm, mười năm sau đô thị phát triển mỗi mét vuông đất mặt đường cầm chắc một triệu đồng. Thái nhỏ ra từng mảnh, mỗi mảnh hơn trăm triệu, gọi là hót bạc, làm giàu một cách quá dễ mà không mất một giọt mồ hôi. Noi theo đồng chí Hậu nhiều người cũng xin nhận ruộng ngoài Bợ. Ruộng ngoài Bợ thì có hạn mà nhu cầu thì lớn. Biết làm thế nào để thoả mãn tất cả bây giờ.

Bí thư Hậu bị Chủ nhiệm Hài nói đúng tim đen. Anh như người bị rắn cắn, nhảy cẫng lên:

- Anh Hài! Bỏ ngay cái thói ăn ốc nói mò đi. Anh nói tôi thu vén cá nhân chứ gì? Nặng quá đấy. Ngày mai anh đi rao khắp cái làng này: Bí thư Hậu, cá nhân chủ nghĩa, toan tính nhận ruộng ngoài Bợ theo đường quốc lộ để bán đất làm nhà chứ gì. Tôi nói và làm theo tinh thần người cộng sản chứ không vì ba cái sào ruộng động mưa là úng đâu! Ai muốn xin mời. Đây nhường ngay!

Chủ nhiệm Hài mát nước thối đá:

- Người ta cộng sản. Chúng tôi cũng là cộng sản, nhưng cộng sản ở việc làm tất cả vì dân, vì Đảng. Chúng tôi không mang danh cộng sản để thu vén cho riêng mình. Đây biết tỏng cả rồi. Các đồng chí không có ý kiến gì, chúng ta giải tán.

Bí thư Hậu còn tức lắm.

Trời vừa sáng bảnh mắt ông Cộng đã đạp xe lên Bệnh viện thăm ông Sa.

Cái chén uống nước bác Tư ném trúng làm mặt ông Sa thủng một vệt dài phải khâu bốn mũi. Thực tình vết thương không đau lắm, chỉ cần khâu xong và băng kín lại là ông Sa có thể về nhà. Nhưng ông Sa không về. Ông cứ nằm lỳ ở bệnh viện. Ông nghĩ: Nằm viện để lấy bằng được giấy chứng thương, tiền thuốc, tiền bồi dưỡng và tiền viện phí, công người nuôi. Ông vụt nó vài cái điếu cày thấm vào đâu, tang chứng đâu? Thủng mặt phải khâu tới 4 mũi khiến ông phải nằm viện thì cả làng biết. Thêm tội nữa là người trẻ đánh già bị trọng thương, vỡ mặt. Tội lớn lắm chẳng phải chơi đâu; phải làm cho nó rũ tù mới đáng kiếp. Với ông, nằm viện chẳng khó khăn gì. Từ nhà đến bệnh viện khoảng hơn cây số, nhà ông rỗi người, hai xe máy đi lại dễ dàng như trở bàn tay. Ngày hai bữa, các con ông mang đến tận nơi, rượu thịt đều đều. Ông có thể nằm viện cả tháng. Cho nó chết!

Ăn sáng xong, ông Sa vừa chợp mắt, thiu thiu ngủ thì ông Cộng đến thăm. Bà Sa đánh thức chồng dậy. Ông Cộng để hộp sữa cân đường trên bàn, đứng nghiêm nói:

- Tôi với ông là chỗ bạn bè từ thời còn để chỏm. Chẳng may, ông bị tai bay vạ gió. Nói đúng hơn bị một kẻ ngụ cư, mất dạy, không cha, không mẹ đánh bị thương. Tôi đến thăm và chia sẻ với ông.

Ông Sa cảm thấy mát gan, mát ruột. Từ khi ông đi nằm viện tới nay, ông Cộng là người đến thăm trước tiên. Không cần phải nói ông cũng thừa biết, ông Cộng là người đồng tình, đứng sau lưng ủng hộ. Khóe mắt ông Sa ươn ướt vì xúc động quá. Ông ngoảnh đi, nhẹ nhàng đưa vạt áo lau nước mắt. Ông muốn giấu kín nỗi xúc động bất ngờ vừa ùa tới. Ông nghẹn ngào nói:

- Tôi xin cảm ơn ông, ghi sâu tấm thịnh tình này. Mặt tôi bị khâu mất bốn mũi, dài lắm ông ạ. Tuổi già, đau lắm ông ạ. Đau đớn lắm, nhục nhã quá, cái tiếng bay đi khắp làng và xa hơn nữa. Ông Sa bị thằng Tư đánh vỡ mặt phải nằm viện cả tuần nay. Ít ngày nữa, tôi ra viện, vết thương sẽ khỏi. Nhưng còn cái sẹo giữa mặt tôi phải mang suốt phần đời còn lại… Nếu cái sẹo ở vai, bắp tay, bắp chân thì sẽ được áo quần che kín. Khốn nỗi, vết sẹo nằm ngay giữa mặt, muốn quên đi, giấu đi mà không được. Đau lắm chứ.

Lời nói với ông Sa, ông Cộng đắn đo, cân nhắc suốt cả đêm qua:

- Từ xưa đến nay tôi vẫn quý mến ông. Cái tính thực thà, thẳng thắn, thẳng như cây bạch đàn, nghĩ sao nói vậy mà đã nói thì không sợ, nhất thì bét. Ông hơn hẳn tôi, cái tính dũng mãnh kiên quyết, dứt khoát. Những điều ông nói hôm nọ, tôi thấy đúng quá, cái bụng tôi sung sướng vô cùng. Thực sự, đến hôm nay tôi mới tìm được “minh chủ”, tìm được tiếng nói chung. Tôi là kẻ nhu nhược yếu đuối, nguyện xin được chạy theo ông, sát ông đến cùng trời cuối đất, đừng bỏ tôi mà tội nghiệp. Tôi hỏi thật ông.

Ông Cộng dừng lại để theo dõi thái độ ông Sa:

- Ông có run sợ không?

Cân đường, hộp sữa ông Cộng mang biếu không giá trị lớn lắm. Nhưng lời nói của ông Cộng như ngọn gió đưa ông Sa bay lơ lửng trên chín tầng mây. Nỗi đau vụt tan biến mất, tinh thần sảng khoái minh mẫn hẳn lên. Ông Sa tươi tỉnh nói với bạn:

- Ông cứ yên tâm đi! Sa này nói là làm. Chúng nó chẳng làm gì nổi tôi đâu. Tôi có 5 đứa con trai, hai thằng là liệt sĩ. Cả cái làng này, nhà nào đóng góp xương máu bằng nhà tôi. Trước hết họ phải trả lời câu hỏi của tôi “Giấy chứng nhận quyền sử dụng ruộng đất” của tôi còn đây, tới năm 2013 hẳn hoi. Nếu tôi không bằng lòng chuyển đổi, san ghép ruộng đất thách anh nào dám bước chân xuống ruộng.

- Bác thông minh lắm, lập luận rất sắc sảo. Tôi kém hẳn bác, còn phải học ở bác nhiều lắm. Tôi hỏi thật bác nhé, câu này hơi gay đây: Bác định xử lý nhà Tư thế nào?

Ông Sa không cần úp mở nói ngay:

- Nợ máu phải trả máu! Tôi thề với trời đất. Tôi không bỏ qua đâu. Nếu tôi tha cho nó thì còn dân làng và gia đình tôi có chấp thuận không?

Ông Cộng gật gật. Đột nhiên ông lại hỏi:

- Còn chuyện cháu Hải nhà ông và cái Đào nhà Tư ông tính sao?

Ông Cộng lại theo dõi thái độ và sắc mặt biểu cảm của ông Sa. Ông Sa tỏ ra ngạc nhiên hỏi lại.

- Thằng Hải nhà tôi với cái Đào làm sao?

- Còn làm sao nữa, anh chị yêu nhau say đắm, lúc nào chẳng cập kề, xoắn xuýt bên nhau. Cả làng ai chẳng biết, ông khéo vờ thế? Một lúc ông Sa trả lời:

- Tôi đòi nợ máu với thằng Tư. Thằng Hải nhà tôi không thể lấy con Đào được. Phải cắt đứt với con Đào. Dứt khoát. Để chúng nó cưới nhau tôi và thằng Tư ngồi với nhau sao nổi. Nếu cái sẹo ở mặt được xoá đi thì tôi mới quên mối thù này.

Thật trớ trêu, hai ông bố hận thù suốt đời, hai đứa con lại yêu nhau. Thấy vậy ông Cộng xin phép ra về.

 

*

*       *

 

Mặt trời lên cao bằng hai, ba lần con sào. Nắng trải vàng khắp sân. Chiếc xe máy đưa ông Sa về dừng trước nhà, bà con, anh em và con cháu chạy ùa ra đón. Cái khăn bịt kín mặt chỉ chừa hai con mắt, cái mũ lụp xụp, ông bước ngay vào nhà. Không biết ông nên buồn hay vui đây? Vui vì hôm nay ông được ra viện, người đến thăm ông chật nhà. Ai cũng tỏ vẻ vui mừng, ông tai qua nạn khỏi. Buồn vì vết sẹo giữa mặt vừa liền dấu và đang lên da non, màu hồng đỏ. Bịt mãi cái khăn ông khó chịu quá, nhưng phải cố. Ông giấu kín nỗi buồn trong lòng, ngoài miệng phải giả cười, tiếp chuyện với mọi người. Ông trò chuyện với tất cả mọi người đến thăm, cảm ơn và tiễn chân từng người một.

Bà Sa làm vài mâm cơm, mừng ông tai qua nạn khỏi. Ông dặn bà rồi, không nên bày vẽ cho tốn kém, dân làng lại cười chê. Ông buồn lắm. Bà Sa nói để giải thích cho chồng. Bày biện, cỗ bàn gì đâu, bác Mầu và chú Thuỳ là anh em trong nhà cả, cùng nhau ăn bữa cơm rau dưa và uống với ông chén rượu nhạt cho vui.

Ông Mầu hiểu tính ông Sa hơn ai hết. Khi ông bị kích động và xúc phạm là ông dễ nổi nóng, nổi khùng. Uống rượu say, ông quên cả phải trái, chỉ bản thân là tất cả, mọi người chẳng xem bằng cái rơm cái rạ, sẵn sàng cãi nhau, đánh nhau liền. Nhưng không uống rượu, lúc dịu mát ông rất hiền, ít nói, nhũn như con chi chi. Biết vậy, ông Mầu phải nói trước khi ăn:

- Gia đình ta chỉ còn ba anh em. Trong khi chờ cơm tôi xin bàn với hai ông đôi điều, gọi là đóng cửa trong nhà bảo nhau. Tôi nói có điều gì không phải hai ông cứ tham gia:

Việc chuyển đổi, san ghép ruộng đất là việc của Hợp tác xã, là của toàn dân, chẳng của riêng ai. Vì nóng nảy quá, ông Sa đã cãi nhau thậm chí đánh nhau gây thương tích phải đi nằm viện. Tất cả những việc ấy chẳng hay ho gì, nhất là ông Sa đã ngoài 60 tuổi rồi chứ ít đâu. Người xưa chẳng dạy: “lục thập thuận nhĩ” là gì? Ông đánh người ta trước, người ta đánh lại ông để tự vệ. Thế là hoà. Theo tôi, ta bỏ qua. Lỗi lầm nào cũng có từ hai phía, xử hoà là tốt nhất. Người dân người làng với nhau, còn bao nhiêu việc phải đến với nhau, ngồi bàn với nhau. Thật may không xảy ra án mạng. Ba đứa con của ông, đứa cầm dao, hai đứa vác gậy xông tới định ăn sống nuốt tươi người ta. Nếu không có người đứng xem vòng trong vòng ngoài thì điều gì xảy ra? Tất cả phải chấm dứt. Qua rồi thời cậy khoẻ, cậy đông người lấy thịt đè người, ăn hiếp kẻ yếu.

Việc chuyển đổi, san ghép ruộng đất là để xoá đi tình trạng ruộng đất manh mún, quá nhỏ bé như hiện nay, gây trở ngại cho sản xuất. Một mình ông vác nạng chống trời được không? Việc đó có lợi cho ông, cho tôi tại sao ông lại chống đối nhỉ? Dân làng thế nào mình vậy. Nếu không có lợi Đảng đề ra làm gì?

Ông Sa ngồi im thin thít như thịt nấu đông. Ông Thuỳ tham gia thêm:

- Tôi rất tán thành ý kiến bác Mầu. Việc gì đã qua thì cho qua luôn, việc đáng bàn là việc cháu Hải nhà mình với cái Đào nhà bác Tư. Tôi biết các cháu yêu thương nhau lâu rồi. Tôi thương các cháu lắm. Nhà mình muốn bỏ qua để xây dựng hạnh phúc cho các cháu. Liệu gia đình người ta có nghe không? Hai ông thấy thế nào, chứ tôi thấy khó đấy!

Ông Mầu trả lời ngay:

- Các ông định thế nào? Truyền thống từ xưa tới nay, quyền chủ động thuộc về nhà trai. Hạnh phúc của các cháu nằm trong tay chúng ta. Người quyết định trước hết là ông Sa, sau mới đến tôi và ông Thuỳ. Ông có dám vì con cháu đến xin lỗi người ta không? Ý kiến ông Sa thế nào?

Ông Sa ngồi im như pho tượng đá. Ông Mầu gọi Hải. Hải từ dưới nhà bếp chạy lên, tay còn dính đầy mỡ.

- Bác hỏi điều này cháu phải nói thật. Từ hôm xảy ra chuyện bác Tư và bố cháu to tiếng với nhau, cháu và con Đào còn quan hệ với nhau nữa không? Mặt Hải đỏ bừng bừng, đượm vẻ buồn đau.

- Khi xảy ra chuyện chẳng lành giữa bố cháu và bác Tư, cháu vác dao tới định phay cho đối thủ mấy nhát. Đến nơi, nhìn thấy bác Tư đang bị bố cháu đập cái điếu cày vào đầu túi bụi. Hơn nữa người đứng xem đông quá, không tài nào chen vào được. Họ cản cháu lại. Cháu dừng tay, giấu ngay con dao dưới áo chuồn thẳng, thất tha thất thểu như kẻ bại trận. Lúc đi đôi chân chạy nhanh thế, khi về vẫn đôi chân ấy nặng nề khó bước làm sao. Mọi tối cháu và Đào vẫn thường đi chơi với nhau, tay nắm tay dắt nhau đi dạo quanh hồ, ngồi dưới hàng cây để ngắm trăng và tình tự. Cháu thấy hạnh phúc trào dâng, không kìm được lòng, nhanh như con sóc cháu chồm tới vồ lấy Đào. Nhưng Đào đã cảnh giác và còn nhanh cả cháu, Đào thoát khỏi vòng tay cháu. Đào đứng dậy bỏ về. Từ hôm ấy Đào không đi chơi nữa, chỉ tiếp cháu ở nhà. Vợ chồng bác Tư cho phép thế mà, có khi Đào ngồi với cháu đến khuya. Mỗi khi cháu đến chơi, bác Tư pha chè mời cháu uống. Một đôi lần bác ấy có miếng ăn ngon cũng sai mấy đứa em Đào đến bảo cháu. Đến con Mực nhà bác Tư thấy cháu đến cũng chạy ra mừng quấn lấy chân. Một thoả thuận ngầm giữa hai đứa, cuối năm sẽ xin phép bố mẹ hai bên tổ chức cưới. Nhưng tối hôm vừa rồi, cháu đến nhà Đào thì Đào tránh mặt không tiếp. Bác Tư lạnh lùng hỏi: Anh có mang dao đến không? Qua thái độ và nghe câu hỏi của bác Tư, cháu biết bác ấy giận lắm, cháu buồn bã ra về. Cháu nghĩ sẽ thanh minh với Đào sau. Nhưng cháu không tài nào gặp được Đào. Gặp ngoài đường, Đào lùi lại, đi thật nhanh, hoặc rẽ trái, rẽ phải. Cháu nhờ cái Mơ giúp cháu, giải thích để Đào hiểu. Đào chỉ im lặng. Theo phán đoán của cháu, Đào vẫn còn yêu cháu. Chắc là bác Tư không cho Đào gặp cháu. Đào hành động như vậy là theo lệnh bố. Điều đó không có gì lạ bác ạ. Bố cháu cũng kiên quyết bắt cháu chia tay với Đào. Thế là hết. Thật là trớ trêu, hai ông bố thì hận thù nhau, hai đứa con lại yêu nhau. Tình thế không thể cứu vãn nổi. Thú thực mấy hôm nay cháu buồn lắm. Đường đi bằng phẳng, bỗng dưng gặp trái núi đứng sừng sững trước mắt. Trèo lên cây rồi, chỉ còn giơ tay hái quả mà lại hụt mất. Bác bảo cháu phải làm gì?

Ông Mầu cười, vui vẻ nói với Hải mà thực ra để nói với cả nhà:

- Thế là rõ cả rồi. Các cháu còn yêu nhau, cứ yên tâm đi. Cốt lõi vấn đề phải hoà giải giữa bố cháu và bác Tư. Chìa khoá để mở cánh cổng đang nằm trong tay bố cháu. Ông Sa định thế nào?

Ông Sa lại ngồi im coi như không nghe không biết. Ông Mầu tiếp:

- Nếu bố cháu đồng ý, bác sẽ đứng ra dàn xếp cuộc hoà giải này. Còn bố cháu không đồng ý thì bác cũng chịu.

Ông Sa đứng dậy giục vợ con bưng mâm lên. Suốt bữa ăn, ông chẳng nói năng gì. Thật lạ lùng, ông Sa uống rượu vào loại siêu hạng, vậy mà hôm nay lại uống rất ít, gọi là để tiếp ông Mầu và ông Thuỳ.

 

 

*

*      * 

   

 

Buổi tối, gia đình ông Toạ vừa ăn cơm xong, mâm bát trẻ con chưa kịp dọn dẹp. Ông Cộng chẳng ngại đêm tối đã lò mò đến. Ông Toạ hơi ngạc nhiên, sững sờ đứng ngây người ra. Nhà ông đâu phải là “đất” để ông Cộng đến chơi bời, chè chén, hút điếu thuốc lào bù khú. Dưới con mắt của ông Cộng, ông Toạ là tầng lớp nghèo hơn. Điều gì sẽ đến với ông đây? Ông Toạ chạy ra cổng đón. Ông tươi cười nói:

- Chẳng biết cơn gió nào đưa rồng đến nhà tôm?

Ông Cộng vừa đi vừa giải thích:

- Chẳng ai là rồng mà cũng không ai là tôm. Lâu ngày tôi đến thăm ông, bạn già với nhau cả. Hồi trẻ đi chăn trâu, mỗi khi đánh khăng bao giờ tôi cũng nhận về phía ông. Vì ông nhanh nhẹn, đánh giỏi luôn luôn thắng bên kia, luôn luôn được cưỡi ngựa. Có chút việc nhờ ông chỉ bảo, thử xem cái tài ấy còn nguyên vẹn không?

- Ông cứ dạy quá lời. Cả đời tôi chỉ theo đít con trâu, học ít, biết gì mà chỉ bảo.

Ông Toạ sai con đổ bã chè, xúc ấm pha chè mới mời ông Cộng uống.

Sau tuần chè với vài điếu thuốc lào xã giao, ông Cộng hắng giọng.

- Cách đây không lâu, ngồi chơi ở nhà bác Thân. Tôi hân hạnh được nghe ông bàn về đặc điểm ruộng đất của làng ta và vấn đề chuyển đổi san ghép ruộng đất nghe thấy sướng tai, hả lòng hả dạ. Tôi thầm nghĩ ý kiến của ông rất đúng mực, đấy mới là Khổng Minh. Suốt ngày, tôi bận bịu với đàn cháu dở, đàn lợn, đàn gà chẳng đi tới đâu. Nên tôi mù tịt, dốt đặc cán mai. Tôi đến xin bác nói rõ thêm về đồng đất làng ta, để khai sáng cho cái đầu tăm tối này.

Nghe ông Cộng nói, ông Toạ phấn chấn hẳn lên, mặt mày thêm rạng rỡ, nở ruột nở gan. Hiểu biết đồng đất làng này là kết quả của nhiều năm lăn lộn, gắn bó với nó. Ông hăng hái nói:

- Ruộng đất làng ta phức tạp lắm. Nhưng có thể chia làm ba loại, nếu muốn chia nhỏ cũng được. Loại một bằng phẳng, nước sông thuận lợi, cầm chắc một năm hai vụ. Nhưng loại này không nhiều, chiếm non nửa. Loại đất trũng, chưa mưa đã ngập úng, chỉ có vụ chiêm mới chắc ăn. Nếu vụ chiêm không mưa thuận gió hoà coi như mất trắng cả: như Đầm, Dộc Bợ. Loại đất cao, gò đồi như Đồng Cao, Đồng Cốc, Mả Mê… thì không có nước mương, chủ yếu nhờ vào thiên nhiên. Một năm cấy được một vụ lúa, trồng được một vụ màu ấy là khi mưa gió hoà thuận, còn gặp thiên tai thì không ai lường được. Trước đây các ông ấy chia như vậy là rất công bằng. Nhà nào cũng có ruộng tốt, ruộng trũng và ruộng cao. Thiên tai, hạn hán, mưa bão ngập lụt cùng chịu, được mùa cùng ăn, mất mùa cùng đói. Nhưng nhược điểm của nó chia nhỏ quá, thửa ruộng bằng cái bàn tay, trở ngại cho sản xuất. Tôi nói thế có phải không?

- Đúng quá đi chứ! Trên cả tuyệt vời. Cái hay của ông là phân tích có tình, có lý rất sâu sắc và chỉ ra những hạn chế của cách phân chia này. Lời nói phải củ cải cũng phải nghe, các cụ dạy đố có sai câu nào.

Ông Toạ tiếp:

- Bây giờ tôi xin nói về chuyển đổi, san ghép ruộng đất. Với ba loại ruộng ấy, ông muốn nhận loại nào?

Dừng lại để ông Cộng suy nghĩ, ông Toạ uống chén nước chè để lấy giọng:

- Chắc ông xin nhận loại I chứ gì. Ruộng đất thì có hạn người muốn nhận loại I lại vô hạn. Ai dại gì mà nhận Đồng Cao, Đồng Cốc, Mả Mê để chổng mông lên mà tát nước. Nếu vất vả mà được ăn còn chấp nhận được. Ai ngu đần gì mà nhận Đầm Dộc và ngoài Bợ, chiêm khô mùa thối, mỗi cơn mưa là một lần thót tim, mất ăn mất ngủ.

Ông Cộng được dịp mang miếng võ truyền thống của mình:

- Ông nói chí lý quá. Tôi đến hỏi ông quả không lầm. Nói như ông, ai nghe cũng lọt tai. Chủ trương của Đảng chúng ta không chống đối. Chúng ta chỉ đòi hỏi công bằng và dân chủ thôi. Xé mắm ai chẳng mút tay, chuyển đổi san ghép ruộng đất, mỗi ông cán bộ kiếm vài sào, ít nhất cũng chiếm ruộng tốt, rộng sào, chỉ thế thôi đã lợi lắm rồi. Vậy ông tính thế nào?

Chẳng cần phải suy nghĩ lâu la, ông Toạ nói ngay:

- Gần hai mươi năm rồi, chứ ít đâu, ruộng của nhà ai nằm yên ở nhà đó. Đào bới lên để làm gì mất thời gian, tốn công. Đào bới lên chỉ tổ đục nước béo cò, họ có cớ để kiếm ăn.

Ông Cộng gật gật:

- Phải! Phải lắm! Nói như ông trúng cái bụng của nhiều người lắm, có khi cả làng theo ông, chứ ông Sa ra mặt chống đối, quá khích, khó lọt tai thuận mắt lắm. Mình là người dân còn không chịu nổi, ngang phè phè, các ông lãnh đạo chịu sao nổi. Hôm này họp xã viên ông cứ như vậy. Tôi nguyện mang cái lý lẽ của ông tới mọi nhà, mọi người và trung thành với ông, làm bức tường thành vững chắc bảo vệ ông. Cho dù trạch đẻ ngọn đa, sáo đẻ dưới nước thì lời hứa ấy không thay đổi.

- Vâng! Vâng! Cảm ơn ông nhiều lắm.

Ông Toạ cảm thấy hãnh diện chưa từng có. Một người như ông Cộng mà cũng tự nguyện tôn ông làm “chủ soái” và nguyện vác cờ đi tiên phong. Vui quá, ông Toạ đứng dậy, tự mình đi súc ấm pha chè mới. Hai ông ngồi uống tàn ấm trà mới chia tay. Người về, người ở đều nắm tay nhau và cùng hứa giữ vững lập trường. Chúc mừng thắng lợi trước.

Ông Toạ tiễn ông Cộng đến khỏi cổng mới quay lại.  

 

 

 

*

*       *

 

Đối với Hậu hôm nay là một ngày đáng ghi nhớ, suốt đời không thể nào quên. Nếu chiều qua không được bác Hiền – Bí thư Đảng uỷ giúp đỡ thì anh đã nổi khùng lên rồi, đâu chịu ngồi lặng thinh thế này. Cũng nhờ chữ “Nhẫn” được đặt “nền móng” vững chắc nơi anh.

Vừa bảnh mắt ra, hãy còn nằm trên giường mà chị gái đã tới kéo cổ dậy. Chị ấy nói rằng: Mấy hôm nay lão Cộng hôm nào cũng tới nhà thì thầm với anh Dũng chồng chị suốt cả buổi, có khi đêm vẫn chưa chịu về, dáng vẻ gian lắm. Hỏi ra mới biết, lão vận động anh Dũng chống lại chính sách chuyển đổi, san ghép ruộng đất của Đảng. Anh Dũng là anh rể của Bí thư Hậu, không ai dám bẻ hành bẻ tỏi, không ai dám đụng đến lông chân đâu. Trước khi ra về ông còn ghé tai Dũng nói nhỏ: Bí thư Hậu lợi dụng chức quyền, bắt hợp tác xã chia cho mình toàn ruộng đẳng điền ngoài cửa chùa. Đúng thế hả cậu?

Buổi trưa, mới đi làm về, mệt đứt cả hơi đã thấy bố chống gậy tới mắng như tát nước vào mặt vì tội lợi dụng chức quyền đổi lấy 8 sào ruộng đẳng điền của Hợp tác xã. Hậu lễ phép hỏi lại: “Ai nói với bố như vậy?” Bị bố chửi cho một trận nên thân, còn định vụt cho mấy gậy. “Anh hãy tự kiểm điểm bản thân mình xem, không có khói tại sao có lửa?”.

Bố giận bỏ về. Vợ chồng vừa ngồi xuống mâm cơm đã thấy bên nhà bác Thuỳ to tiếng với nhau cũng vì chuyển đổi, san ghép ruộng đất. Chồng thì ủng hộ nhiệt liệt. Vợ lại chống đối quyết liệt. Vợ nói với chồng: “Trước đây người ta chia thửa ruộng nhỏ bé nhưng rất công bằng, nhà nào cũng có ruộng tốt, ruộng xấu, được mùa cùng hưởng, mất mùa cùng chịu. Chia lại ruộng để mỗi cán bộ xơ múi một vài sào à, “xé mắm” họ phải “mút tay chứ!”.

Buổi chiều. Vợ chồng vừa đi làm về chưa kịp nấu nướng gì, bên nhà bác Dậu đã cãi nhau om sòm cũng chỉ vì chuyển đổi, san ghép ruộng đất. Vợ bác Dậu chỉ lo có bao nhiêu ruộng đẳng điền, ruộng rộng sào các ông cán bộ chiếm cả. Nhận phải chân ruộng xấu và hẹp sào, chăm bón mấy cũng không lại, gọi là chết đói cả lũ. Tất cả những câu chuyện trên đều do giọng lưỡi của ông Toạ mà ra lại được ông Cộng đi rỉ tai khắp xóm, khắp làng.

 

*

*      * 

 

Hài vừa ăn cơm tối xong thì Hậu tới. Anh nói luôn:

- Tôi cũng định sang chú để chúng ta cùng bàn và giải quyết một số vấn đề còn tồn tại.

Sau tuần trà thuốc xã giao, vợ Hài mang trầu ra mời Hậu. Hậu rất thích ăn trầu. Vừa vê miếng trầu, Hậu vừa nói trước, vẻ thân thiện, cởi mở:

- Bác Hài ạ! Tuy là bàn công tác nhưng ở trong gia đình xưng hô thế cho thân mật – Hậu kém Hài ba tuổi – Sau cuộc họp Đảng uỷ mở rộng chiều qua, tôi thấy rất ân hận và thấm thía câu nói của bác Hiền Bí thư Đảng uỷ là: “Đồng chí Hậu và đồng chí Hài rất hăng hái và nhiệt tình với công cuộc chuyển đổi và san ghép ruộng đất, thể hiện được cái tâm của người cán bộ luôn biết chăm lo đến đời sống và hạnh phúc của nhân dân. Nhưng cũng vì thế đồng chí Hậu nôn nóng quá, không nghĩ tới đồng chí mình, cứ nói gì cũng không nghe còn quy người ta ngại khó khăn, thắc mắc làm nhụt ý chí của quần chúng”. Em thành thật xin lỗi bác.

Được lời như cởi tấm lòng, Hài nói:

- Tôi cũng có lỗi, mà lỗi lớn hơn cả lỗi của chú. Thứ nhất: Quá cường điệu khó khăn. Thứ hai: Việc chưa đâu vào đâu tôi đã phản ánh với Đảng uỷ nên mới có cuộc họp chiều qua.

Hậu cười khà khà:

- Thế là hoà bác nhá. Bài học về chữ Nhân và chữ Tâm không chỉ của riêng ai mà của chung anh em mình. Nhất trí – hoà – bắt tay. Bác Hài ạ! Hôm trước bác nói “Cái phao nổi dễ nhìn thấy, ai cũng nhìn được. Hòn đá chìm sâu dưới nước, khó tìm lắm”. Người chống đối quyết liệt, nói năng có tình, có lý lẽ lọt vào tai mọi người... điển hình là ông Sa, ông Toạ. Ông Toạ có chiều sâu, tác hại của nó lớn lắm. Người chống đối ngầm là ai, em đố bác? Riêng em, hành vi của người ấy không qua nổi mắt em.

- Chú Hậu à! Tôi với chú bắt chước Gia Cát và Chu Du viết tên kẻ ấy vào tay xem có giống nhau?

Hai người cùng cầm bút, viết vào tay mình. Rồi xoè tay ra. Cả hai cùng cười vang, hỉ hả. Vì trong tay đều là chữ: Cộng. Hậu hỏi:

- Bác Hài này, công việc chuẩn bị hoàn tất chưa? Còn trở ngại gì nữa không? Bác định đến ngày nào thì công bố toàn dân biết.

Hài đáp ngay:

- Mọi việc đều hoàn thiện rồi, rất tốt đẹp. Mười ngày nữa thì công bố trước toàn dân. Việc còn lại, chuẩn bị một số người tích cực làm nòng cốt thật hùng hậu để áp đảo những ý phá rối, chống lại.

 

*

*      *  

 

 

Hợp tác xã họp phiên toàn thể để công bố kết quả chuyển đổi san ghép ruộng đất. Sự chờ đợi đã lâu, xã viên lũ lượt rủ nhau tới hội trường, mọi lần khác Hợp tác xã triệu tập các gia đình thường cử đại diện, hoặc nhờ nhau họp đỡ. Hôm nay không vắng một ai. Hội trường chật cứng như nêm cối, nghẽn cả lối đi lại. Một số người ngồi cả ngoài hè. Đồng chí Hậu đại diện chi uỷ cũng tới dự.

Chủ nhiệm Hài đọc báo cáo kết quả chuyển đổi, san ghép ruộng đất và những nguyên tắc, quy định, tiêu chuẩn rõ ràng ưu tiên các gia đình chính sách. Chủ nhiệm trao bản đồ diện tích cho từng đội, từng gia đình. Nếu như trước đây gia đình có ba khẩu với bốn sào ruộng mà có tới 12, 13 thửa ở khắp mọi cánh đồng thì nay chỉ có hai đến ba thửa, ở hai cánh đồng là cùng; chấm dứt tình trạng ruộng đất manh mún, chia nhỏ, xé nát thành từng mảnh vụn, bờ vùng, bờ thửa bè như thân cau, trở ngại người và trâu bò đi lại, ảnh hưởng đến sản xuất.

Chủ nhiệm vừa dứt lời, ông Sa đứng phắt dậy nói như lệnh vỡ chẳng cần chủ toạ có cho nói hay không. Lời nói mạnh mẽ hùng hồn lắm, nhưng cũng chẳng có gì mới, vẫn là không tán thành chuyển đổi ruộng đất, cuối cùng là lời hăm doạ, nếu ai đụng đến ruộng của ông sẽ bị đánh gãy cẳng.

Bác Tư liền đứng dậy nói như chính thức tuyên chiến với ông Sa:

- Ruộng đất là tài sản của quốc gia, nói hẹp lại là của Hợp tác xã. Hợp tác xã chia cho ai thì người ấy được, không ai có quyền ngăn cấm. Đánh người đã có pháp luật.

Mọi người ào ào đứng cả lên và đồng thanh:

- Đúng! Bác Tư nói phải lắm, chí lý lắm. Ban quản lý Hợp tác xã cứ thế mà làm, đừng có chùn tay.

Ông Sa trong lòng tấm tức nhưng không làm gì nổi. Bác Tư được nhiều người ủng hộ, còn ông chẳng có ma nào. Ông nhìn khắp hội trường chẳng thấy lão Cộng đâu. Thì ra lão ngồi sau mấy chị đàn bà ở cuối hội trường, đầu gục xuống gối. Không lẽ mình cứ đơn thương độc mã vác nạng chống trời?

Khi ông Toạ đứng dậy xin có ý kiến, nhiều người la ó:

- Ngồi xuống! Chúng tôi không nghe ông nữa.

Nhưng ông Toạ cứ chai lỳ cố tình nói bằng được. Khi ông nói, phải nhiều lần dừng lại vì những tiếng ồn ào, thậm chí có người kêu toáng lên: Ngồi xuống! Ngồi xuống cho chúng tôi nhờ! Ông Toạ cố “tuôn” bằng hết cái lập luận cũ rích của mình.

Ông Sa, ông Toạ như lạc vào giữa đám đông. Thái độ của mọi người khiến ông Sa ân hận, xót xa vì đã chót làm đơn kiện bác Tư, bắt thằng Hải cắt đứt cái Đào. Thật tội nghiệp cho con trẻ. Ông càng căm tức lão Cộng. Ông phải vạch mặt nó trước mặt mọi người mới hả. Nhưng ngay lập tức ông nghĩ lại: Nói nó xúi giục thì ai làm chứng, mình dại thì chết. Nói ra chỉ tổ cho thiên hạ chê cười.

Tiếp đến bác Thân, bác Hoà có ý kiến đề nghị:

- Việc chuyển đổi, san ghép ruộng đất được toàn thể xã viên thông qua, coi như kết thúc tốt đẹp. Kẻ nào chống đối sẽ có công an, dân quân và luật pháp.

Hội trường đứng cả dậy nhiệt liệt vỗ tay ủng hộ. Phía cuối và ngoài hè đã có nhiều người bỏ về. Ông Toạ đực mặt ra, sức dân như nước vỡ bờ, chống sao nổi. Im lặng là thượng sách. Ông rất căm ghét lão Cộng nhưng chẳng làm gì nổi hắn. Già đời người còn dại, mắc mưu hắn. Ông thấy họ chia như vậy rất công bằng có thể chấp nhận được ruộng đẳng điền là 1 thì các loại khác là 1,1 hoặc 1,2; 1,3.

Chủ nhiệm Hài đề nghị mọi người ngồi lại. Chủ nhiệm thông báo một số quy định của Ban quản lý Hợp tác xã và tuyên bố kết thúc cuộc họp.

Ngày hôm sau, mới sáng tinh mơ, mọi người đã lũ lượt kéo nhau ra đồng. Cánh đồng nào cũng đông nghịt. Người nào, người ấy cầm dây, cọc. Họ căng dây phân chia, cắm mốc để xác định chủ quyền và làm lại bờ. Một quanh cảnh tấp nập, phấn khởi ngang tầm với hồi cải cách ruộng đất.

 

 

*

*       *

 

Năm năm sau. Cánh đồng Bợ chiêm khê, mùa thối, có cấy mà không có thu hoạch, có làm mà chẳng có ăn đã biến thành những cái ao rộng mênh mông, bờ nối bờ, chạy thẳng tăm tắp. Từng đàn cá tung tăng bơi lội. Kết hợp một vụ lúa chắc ăn, thóc người ăn, rơm rạ cá ăn nhất cử lưỡng tiện, không phải cắt cỏ mà cá vẫn lớn. Những vườn cây sum sê, xanh tươi phủ khắp cánh đồng. Những hàng cây soi mình dưới ao, toả bóng mát che chở cho cá. Đàn lợn hàng trăm con béo tròn. Đó là trang trại của gia đình các ông Thân, Tư, Hoà, Cường…

Cánh đồng Cốc ngày xưa chết khát chết khô, lệ thuộc vào thiên nhiên, năm được mùa, năm không, có làm mà chẳng có ăn. Gia đình ông Vân tự nguyện nhận cả ruộng ở cánh đồng này vì một sào ruộng loại I bằng 1,3 sào đồng Cốc. Gia đình ông tự đào mương dẫn nước về đồng trả lại màu xanh tươi cho nó và cho nó một sinh khí mới. Biến nó thành đồng hai lúa một màu ăn chắc, cũng vườn cây ao cá như mọi nhà. Cha con ông còn nuôi vài ngàn con chim cút lấy trứng phục vụ các “thượng đế”. Nhà ông Cốc thoát cảnh đói nghèo, bước đầu có của ăn của để.

Sau nhiều đêm trằn trọc, suy nghĩ đến mất ngủ, ông Sa quyết định tìm gặp ông Mầu – người anh con ông bác ruột mà ông vô cùng kính mến. Đã hết một tuần trà mà ông Sa vẫn ngồi ngây như phỗng, khó nói quá, không biết mở đầu thế nào. Ông Mầu hiểu được nỗi lòng của em, chủ động lên tiếng:

- Có điều gì, ông cứ nói, đừng ngại. Anh em trong nhà cả.

Ông Sa hắng giọng tới hai ba lần mới nói:

- Em vốn nóng tính, ngay thẳng, thật như đếm, nghĩ sao nói vậy nên xảy ra chuyện đụng độ với ông Tư dẫn đến sự chia lìa giữa hai cháu Hải – Đào. Thằng Hải suốt ngày lầm lì chẳng nói chẳng rằng, làm việc gì cũng hỏng, nhớ nhớ quên quên như người tâm thần thật là tội nghiệp. Cu cậu còn yêu thương cái Đào lắm. Em hết ngọt lại dẳng khuyên nó quên cái Đào đi. Làng này thiếu gì con gái, chết già đâu mà sợ. Bác biết nó trả lời em thế nào không: “Nếu không lấy được Đào, con chẳng lấy ai và xuống tóc đi tu hoặc nhảy xuống… ”. Làm cha ai chẳng thương con. Vì thế em tới đây xin ý kiến và nhờ bác giúp đỡ.

Im lặng. Ông Mầu đăm chiêu suy nghĩ và thở một hơi dài buồn não nuột:

- Khó đấy! Gia đình họ còn hận ông lắm. Một đời kiện chín đời thù. Quên ngay sao được. Ông là người đã đánh họ trước lại còn ngang ngược đi kiện.

Ông Sa tỏ ra bình tĩnh và khéo léo:

- Khó khăn em mới phải vào nhờ cậy anh. Em biết sai lầm của mình rồi. Em đã nhẹ dạ nghe lời xúi giục của lão Cộng nên mới ra cơ sự này. Nhờ bác tới xin lỗi và cho cháu Hải làm tôi con gia đình ông Tư. Em lạy bác!

Ông Sa định đứng dậy để lạy ông Mầu, ông Mầu can:

- Ông đừng làm thế. Anh em khó khăn phải giúp đỡ nhau chứ ơn huệ gì. Tôi sẽ lựa cơ để đến xin họ.

Mấy ngày sau, ông Mầu đến thông báo với ông Sa:

- Không ổn rồi. Ông Tư cứ vặn vẹo mãi tôi rằng: Khi ông Sa viết đơn kiện thì có nghĩ đến hậu quả này không? Ông Sa còn muốn tôi rũ tù. Ông ấy đâu muốn thông gia với một kẻ ngụ cư tứ cố vô thân, không cha không mẹ như tôi. Tôi đâu dám thông gia với các ông. Nhà tôi không xứng. Tôi phải thanh minh: Ông Sa nhà tôi vốn nóng tính, thật thà ngay thẳng lại bị ông Cộng xúi giục nên mới mang tiếng với dân làng và dẫn đến hậu hoạ này. Tôi thành thật xin lỗi ông.

Tôi nói mãi, ông Tư miễn cưỡng trả lời:

- Mình tôi không quyết định được. Tôi phải họp gia đình xem có cho xin lỗi hay không. Kết quả thế nào, thông báo với ông sau.

Ông Sa vì thương con nên nhờ ông Mầu đến xin lỗi, ông Tư chẳng lẽ không vì con mà tha thứ. Cái chính là Hải và Đào vẫn yêu thương nhau.

Đám cưới của Hải Đào được nhanh chóng tổ chức. Hai gia đình cho anh chị hơn một mẫu ruộng ngoài Bợ để làm trang trại.

Năm năm chưa phải là dài nhưng đã mở một hướng đi cho một bộ phận nông dân ở vùng nông nghiệp độc canh cây lúa, xoá đói giảm nghèo hướng tới nâng giá trị ruộng đất cho thu nhập vươn tới mức 50 triệu đồng một hecta một năm. Sự thật ấy đã nằm trong tầm tay đôi vợ chồng trẻ Hải – Đào và một số gia đình khác.

 

 

 

 

 

 

DẠI

Mặt trời chiếu sáng khắp sân. Tôi mặc quần cộc, áo may ô, ngồi tựa lưng vào ghế và say sưa đọc truyện ngắn “Bình minh huyền diệu” của nhà văn Ma Văn Kháng đăng trên báo Văn nghệ. Cũng như tác giả, tôi trăn trở và xót xa khi nghe tiếng rao run run của một em bé từ lúc trời chưa sáng: “Ai bánh mì nóng giòn đi”.

Bỗng ngoài cổng có tiếng lạch cạch. Tôi ngưng đọc, giương kính nhìn ra cổng: Một cô gái chừng 24, 25 tuổi đang đẩy cổng bước vào. Cô đội mũ vải mềm, mang kính râm gọng vàng, quần áo sang trọng, hợp thời trang, vai đeo cái túi to đùng, lặc lè bên người. Cô đã bước qua cổng đi vào sân, gần tới bậc hè thì dừng lại, nói vọng vào:

- Thưa bác! Cháu đi giới thiệu và chào hàng m phẩm.

- Mời cháu vào nhà. Cho bác xin lỗi một chút.

Tôi đi vào trong buồng mặc bộ quần áo dài. Lát sau, tôi bước ra, nhìn thấy cô ấy vẫn còn đứng dưới sân. Tôi tươi cười, niềm nở:

- Mời cháu vào nhà!

Cô gái ngoan ngoãn theo lời tôi. Đặt cái túi xuống nền nhà, cô lễ phép dịu dàng nói:

- Thưa bác! Bọn cháu là cán bộ của Công ty m phẩm cỡ lớn và có uy tín ở Hà Nội. Nhiệm vụ của cháu là đi chào hàng, giới thiệu hàng mới. Thấy bác đẹp lão và phúc hậu, cháu muốn mang niềm vui tới cho gia đình. Bác được mấy anh, chị cả thy ?

- Cảm ơn cháu hỏi thăm. Bác được hai trai và một gái. Các anh, chị đều có gia đình riêng và công ăn việc làm ổn định. Một anh ở Hà Nội, một anh và một chị ở Thị xã Vĩnh Yên. Nhà chỉ có hai ông bà già ở quê.

- Hai bác làm nghề gì ạ?

- Hai vợ chồng bác đều dạy học. Bác nghỉ hưu được 10 năm rồi. Bác gái đáng lẽ cũng được nghỉ từ năm ngoái. Chẳng biết hồ sơ sai sót thế nào nên cuối năm mới nghỉ.

- Hai bác hạnh phúc quá. Bố mẹ cháu cũng xấp xỉ tuổi bác nhưng còn vất vả lắm, vẫn phải cày sâu, cuốc bẫm để nuôi mấy đứa em nhỏ. Thưa bác! Cháu xin biếu bác chai dầu gội đầu và bánh xà phòng thơm!

Tôi vội từ chối :

- Cảm ơn cháu. Ông bà già lại sống ở nhà quê, không quen dùng những thứ này.

- Không! Bác không phải trả tiền. Đây là cháu biếu bác. Bác dùng thử rồi tuyên truyền, quảng bá giúp công ty chúng cháu.

 Em bé gái đi bán bánh mỳ lúc tờ mờ sáng trong truyện ngắn “ Bình minh huyền diệu” Của Ma Văn Kháng và cô gái đi giới thiệu hàng, chào hàng mỹ phẩm có điều gì giống nhau chăng nên tôi cảm thấy thương thương, không nỡ từ chối.

Cô gái đưa chai dầu cho tôi và nói :

- Thưa bác! Cháu xin mời bác mở nắp. Nếu thần tài lộc mang may mắn đến cho nhà ta bác sẽ được trúng thưởng một trong các thứ sau: Tivi, tủ lạnh, máy giặt, máy vi tính, nồi cơm điện và bàn là. Nếu trúng thưởng xin bác đừng quên cháu, cháu chỉ xin chút ít để lấy lộc của bác thôi. Cháu xin nói trước để bác khỏi thắc mắc. Nếu bác trúng thưởng thứ nào thì phải lấy thứ đó. Bác không được vịn vào lí do này, nọ, chẳng hạn nhà tôi có rồi, cho đổi thứ khác...

Tôi cảm thấy vui vui. Vì tự nhiên có người mang của đến tận nhà biếu, lại phải nói khó mãi tôi mới nhận cho. Nhưng cẩn thận hơn, âu cũng là đặc tính của người già, tôi hỏi lại:

- Bác không phải trả tiền thật chứ?

- Bác yên tâm đi! Cháu xin nhắc lại: Bác không phải trả tiền. Nếu trúng thưởng, cháu gọi điện báo về công ty, chỉ hai tiếng đồng hồ sau, phần thưởng sẽ được chở đến tận nhà cho bác. Chúng cháu mời bác ngồi cạnh phần thưởng chụp ảnh và mang về treo tại trụ sở công ty. Ngày 10 tháng sau, công ty sẽ mang xe tới đón bác đi hội chợ. Bác đi hội chợ lần nào chưa ạ?

- Tôi làm gì có tiền mà đi hội chợ.

Cô gái dịu dàng nhắc:

- Bây giờ, cháu mời bác mở nắp chai dầu gội đầu này.

Tay run run, tôi mở nắp chai, một mảnh giấy màu vàng nhạt, to bằng cái lá mạ hiện ra trước mắt. Tôi hồi hộp lật ngửa mảnh giấy lên và vui mừng nói thật to:

- Xà phòng thơm!

Cô gái tươi cười nhìn tôi. Nét mặt cô thật là hiền dịu, rạng rỡ và nhân hậu:

- Cháu chúc mừng bác!

Cô thò tay vào túi xách lấy ra bánh xà phòng thơm hai tay cung kính đưa cho tôi. Đoạn lại đưa tiếp cho tôi một chai nữa và nói :

- Mời bác mở tiếp chai này.

Phần thưởng tuy không lớn nhưng tôi thấy vui vui, quên đứt thỏa thuận ban đầu. Tôi hồ hởi đón chai dầu và nhanh nhẹn mở nắp rồi lại xướng to lên:

- Xà phòng thơm!

Cô gái nói :

- Số bác may thật, mở chai nào cũng trúng thưởng.

Cô gái lại đưa tôi chai nữa và nói:

- Bác được mở nắp cả thy năm chai.

Tôi ngạc nhiên hỏi:

- Sao nhiều thế? Cháu nói, biếu bác một chai. Bác đã mở hai chai rồi. Như thế là trái với thỏa thuận lúc đầu, tiền hậu bất nhất. Bác mang tiếng là người tham lam.

- Thưa bác! Đó là quy định của công ty. Cháu tưởng cháu đã nói với bác từ đầu. Khuyết điểm tại cháu, thành thật xin lỗi bác. Năm chai dầu này, bác được quyền mở nắp, nếu trúng thưởng những mặt hàng có giá trị, gia đình vừa được nhận thưởng vừa nhận cả năm chai dầu. Nhưng bác phải trả tiền năm chai dầu gội. Nếu không trúng thưởng, bác nhận hàng mà không phải trả tiền.

Đến lúc này, thực tình tôi vừa mừng vừa lo. Mừng vì tôi không mất tiền mà được của. Lo vì biết đâu đây là trò lừa bịp, gian lận mà tôi chưa lường hết. Nhưng đã cưỡi trên lưng cọp thì xuống thế nào được nữa. Tôi tặc lưỡi, thôi đành. Tôi liều mở nắp chai thứ ba, rồi chai thứ tư. Kết quả chỉ là tờ giấy không. Đến chai cuối cùng, tôi vừa hồi hộp vừa lo lắng, tay bật mạnh nắp chai. Trời ơi! Phần thưởng của tôi là chiếc bàn là. Tôi chưa tin vào mắt mình, tôi đọc lại lần thứ hai và kêu to lên:

- Bàn là!

Cô gái vỗ tay nhè nhẹ và nói:

- Cháu xin chúc mừng bác. Bác nhiều lộc quá, may mắn lắm, mở năm chai mà trúng những ba giải thưởng. Cháu làm việc này nhiều năm, đi nhiều nơi mà chưa thấy ai tốt phúc, tốt lộc như bác. Vừa nói, cô vừa lấy bàn là đưa cho tôi. Bàn là đựng trong hộp, hư thực, tốt xấu đâu có biết. Nhìn mẫu mã, tôi thấy dại lắm. Cái tên Nhật dài nhằng nhằng tôi không kịp đọc. Tôi chưa kịp nói lời cảm ơn, cô gái đã đưa tờ giấy và hướng dẫn ghi. Đại loại: Họ và tên, địa chỉ, đã nhận đủ hàng và phần thưởng.

Đến lúc này, tôi ngồi đực mặt ra. Bàn là nhà tôi có rồi còn lấy làm gì nữa. Hai ông bà già dùng đến bao giờ cho hết từng ấy chai dầu gội. Và từ xưa tới nay, vợ chồng tôi chỉ gội đầu bằng bồ kết, chẳng lẽ tôi lại bắt chước cô ấy đi bán rao ngoài đường. Nếu là hàng tốt, hàng “xịn”, tôi có thể đem chia cho mỗi con một chai. Tôi đâu có kiến thức về mặt hàng này để thẩm định nó là của thật hay của giả. Gần bảy mươi tuổi đầu, tôi chưa một lần mua những thứ này. Tôi sẽ tặng cô gái ba mươi ngàn. Nhưng với số tiền ấy mất đứt một tháng lương hưu của tôi. Hiện giờ tôi không có lấy một đồng dính túi. Nghĩ vậy, tôi càng thấy lo, đứng ngồi không yên.

Cô gái nhắc khéo:

- Bác cho xin tiền để con đi kẻo muộn!

Tôi như anh chàng cà lăm chẳng biết nói gì ngồi ngay như phỗng, đầu óc nghĩ lung tung.

Đúng lúc đó, vợ tôi đi dạy học về. Tôi liền kể hết đầu đuôi câu chuyện để mong bà ấy thông cảm và cứu nguy cho. Nghe hết câu chuyện, bà ấy thản nhiên đưa mắt nhìn tôi như muốn bảo: “ Tôi biết cả rồi, ông cứ để mặc tôi”, đoạn quay về phía cô gái nói:

- Tiền của tôi đâu phải vỏ hến mà đưa cho cô để lấy năm chai dầu gội và cái bàn là rởm. Nếu thừa tiền, tôi đi làm việc thiện như công đức để tu sửa đình chùa, giúp đỡ người nghèo và trẻ em lang thang cơ nhỡ chứ không lấy của rởm.

Dứt lời, bà ấy đi luôn vào trong buồng. Tôi đành phải đấu dịu, nói nhỏ nhẹ với cô gái:

- Cháu thông cảm! Thực tình, bác không có tiền. Vì cháu không nói trước giá cả nên bác cứ tưởng mỗi chai dầu chỉ giá mươi ngàn là cùng. Từ chỗ cháu biếu bác chai dầu đến lúc phải trả hai trăm năm mươi ngàn thật quá bất ngờ. Bác đâu biết trước mà chuẩn bị. Thôi thì, bác trả lại cháu tất tật, kể cả phần thưởng.

Cô gái nhẹ nhàng “xuống thang”:

- Cháu rất thông cảm với bác. Nhưng bác phải vay mượn đưa cho cháu một trăm năm mươi ngàn. Còn lại, cháu cho bác chịu.

Vợ tôi nói từ trong buồng vọng ra:

- Không! Một đồng tôi cũng không trả. Vì nhà tôi có lấy thứ gì đâu.

- Nếu vậy, bác đưa cho con hai mươi ngàn để mua tem dán vào nắp chai dầu gội!

- Tôi đã nói không là không. Nếu cô còn lôi thôi, tôi sẽ đi báo công an! Vẫn là vợ tôi nói từ trong buồng.

Có lẽ nghe thấy bảo đi báo công an, cô gái liền vơ tất cả mọi thứ nhét vội vào trong túi và đi như chạy.

Vợ tôi từ trong buồng đi ra và nói:

- Cô này chuyên đi lừa gạt. Nó đã lừa mấy nhà ở xóm Đông. Anh Mạnh đã mất năm mươi ngàn mà chỉ được chai dầu gội rởm, hôi mù phải đem vứt bỏ. Hàng của nó toàn là hàng giả. Nếu hôm nay tôi không về kịp thì ông mất không cho nó hai trăm năm mươi ngàn. Rõ thật già mà dại, đầu hai thứ tóc mà còn bị trẻ con lừa.

Tôi đành ngồi im nghe vợ nói. Đúng là già đời mà vẫn còn dại. Không! Nói dại chưa hoàn toàn đúng, mà phải nói là tôi tham lam. Tham quá mới hóa dại và bị lừa.

 

 

 

 

 

 

 

HẠNH PHÚC MUỘN MẰN  


 Nắng chiều nhạt dần. Một vài tia nắng yếu ớt còn vương lại ô cửa sổ. Thông đang cặm cụi làm việc. Chợt tiếng chuông điện thoại kêu: Reng! Reng... liên hồi. Thông vội đứng dậy, chạy tới nhắc máy nghe.

Từ đầu dây bên kia, tiếng em gái anh hồ hởi nói

- Bố cưới vợ! Anh chị về ngay!

Thông nhảy cẫng lên như một đứa trẻ được bố mẹ cho đi thăm ông bà ngoại. Vui quá. Điều mong ước bấy lâu nay đã trở thành hiện thực. Anh đứng ngồi không yên. Ước gì có đôi cánh bay về ngay mừng cho ông bà. Vừa khi ấy vợ anh dạy học về. Anh reo thật to:

- Em ơi! Ông chú nhà mình cưới vợ.

Vợ anh mừng quá, bỏ cả cặp sách ngoài cửa, chạy ào vào, hỏi dồn dập:

- Chú út cưới vợ khi nào? Lấy ai? Ở đâu? Bà ấy làm gì?

Thông đứng nghệt mặt ra, trả lời một câu thật ngơ ngẩn:

- Không biết! Anh chỉ thấy em Nga nói vậy và bảo vợ chồng mình đưa các cháu về ngay!

Vợ anh buồn rầu:

- Mọi ngày, ông tiến sĩ của em thông minh, sáng suốt và bình tĩnh lắm cơ mà. Hôm nay hơi tối dạ một chút.

Thông vội thanh minh:

- Anh mừng quá nên quên mất. Anh chưa kịp hỏi thì Nga đã cúp máy.

Vợ anh giục:

- Anh phải điện ngay cho em Nga hỏi xem bố cưới vợ ngày nào để mình thu xếp công việc đưa các con về mừng ông bà.

Bố mẹ anh mất sớm. Anh ở với chú khi còn bé tí tẹo, lúc anh gọi chú, khi anh gọi bố. Gọi thế nào cũng đúng cả.

 

 

*

*      * 

 

 

 

Khi bố mẹ anh qua đời, bà nội anh gọi các bác, chú đến hỏi:

- Bác cả hay bác hai nhận nuôi đứa cháu mồ côi giúp mẹ đây?

Im lặng. Một lúc lâu, bác cả ngập ngừng nói:

- Nhà con kinh tế khó khăn quá! Con còn chẳng nuôi nổi lấy gì để nuôi cháu. Chắc phải nhờ đến chú hai nuôi giúp.

Bác hai giật bắn người lên, nghĩ: Ông này thật tồi tệ. Không nuôi cháu thì thôi lại gắp lửa bỏ tay người... Rồi bác hai cũng chẳng vừa, khéo léo thoái thác và đẩy trở lại:

- Nhà em chật chội quá ở thế nào được. Em tính thế này là hợp lý nhất: Bác cả cứ nuôi cháu. Em, chú út và các cô sẽ hỗ trợ cho bác.

Bác cả cảm thấy bực tức. Nó giàu có mà keo kiệt. Nó định “bắn” sang cho mình. Bác cả cũng tìm cách “bắn” trở lại.

- Con tính thế này mẹ ạ! Các cậu, các dì của cháu cũng muốn nuôi hay là ta để cho họ nuôi. Nếu mẹ không bằng lòng thì con lại tính cách khác. Con nuôi 10 ngày, chú hai và chút út nuôi 20 ngày.

Bà nội gay gắt nói to:

- Tôi biết tỏng lòng dạ các anh rồi. Không phải du đẩy nhau nữa. Tôi có cháu thì tôi nuôi. Các anh hài lòng chưa!

 

 

*

*      *

 

Cuộc đời chú út của Thông là bài ca với những âm thanh giai điệu mượt mà về gia đình, tổ quốc. Học xong lớp 10 chú đi bộ đội. Mười năm ở chiến trường, chú đi qua không biết bao nhiêu ngọn núi, dòng sông, con suối, tham gia nhiều trận đánh mặt đối mặt với bom đạn kẻ thù. Nhiều khi cái chết chỉ trong gang tấc. Chú không hề nao núng. Rồi chú bị thương ở cánh tay trái và được chuyển về hậu phương. Chú vào học đại học sư phạm. Ra trường, dù chưa cưới vợ nhưng chú đã làm cha, làm mẹ bởi chú nhận việc nuôi dạy Thông. Với đồng lương giáo viên cấp III, chú tằn tiện nuôi mẹ và cháu.

Thế rồi chú cưới vợ. Vợ chú là cô giáo cấp II, người cùng quê, dạy tại trường làng. Năm năm sau, thím cho ra đời hai đứa con, một trai, một gái: Hậu và Nga. Chẳng may, thím đổ bệnh, rồi ra đi vì căn bệnh hiểm nghèo. Khi ấy, Thông 12 tuổi, bé Hậu 9 tuổi, bé Nga 6 tuổi. Bà tôi tuổi già sức yếu lại quá thương con nên ngã bệnh rồi cũng theo về với ông. Hai cái tang trong một năm làm chú út suy sụp về tinh thần, người gầy như con mắm. Gia đình khánh kiệt, nợ chồng chất. Vì đàn con, chú gắng gượng dậy để làm tròn trách nhiệm của người cha, người mẹ. Để nuôi bốn miệng ăn, ngoài dạy học, chú nhận làm đủ mọi việc: sửa chữa đồ điện như quạt trần, quạt bàn, bàn là, tủ lạnh, ti vi… kể cả làm ruộng. Rất may, chú học khoa vật lý nên có khả năng làm tốt các việc trên. Thông và Hậu cùng nhau chăm đàn ngan, vịt. Thông đi thả ngan, vịt buổi sáng thì Hậu làm việc ấy buổi chiều và ngược lại. Nhiều hôm cả hai anh em đều đi sinh hoạt tập thể nên không đi chăn ngan, vịt được. Chú lại đi thả ngan, vịt thay hai anh em. Ở quê Thông, chuyện ông giáo cấp III đi chăn vịt là điều chưa từng thấy. Cái Nga phải chăn trâu cắt cỏ cho hợp tác xã để lấy công điểm. Gia đình không làm nông nghiệp, hợp tác xã ưu tiên chú là thương binh, nên cái Nga mới được chăn trâu. Mùa hè, Nga còn phải đi kéo vó tôm kiếm thức ăn cải thiện. Những con ngan, vịt béo tròn đi khạng nạng, những con tôm tươi roi rói giãy đành đạch do ba anh em Thông làm ra. Buổi sáng nào cả nhà Thông có được bát cơm rang chia nhau lót lòng là hạnh phúc lắm rồi. Phổ biến là vác cái bụng lép kẹp đi học và đi chăn vịt ngan. Cả đời, chú Thông chưa có khái niệm ăn sáng. Chú thường giải thích: “Ăn sáng tức bụng chịu không nổi, đôi khi còn bị giun quấy”. Năm này qua năm khác, chú khoác trên mình bộ quân phục do bạn bè tặng hoặc mua ngoài chợ. Chú thường nói: “Quần áo bộ đội mặc mùa hè thì mát, mùa đông lại ấm vì vải nhiều sợi côtông. Mặc quần áo lính đi làm thì lịch sự gọn gàng, đi chơi lại đứng đắn, dân dã. Chú vốn là người lính, mặc quần áo bộ đội hợp quá đi chứ, biết bao nhiêu  kỷ niệm ở đó”. Chú có bộ quân phục bằng vải kaki Tô Châu, chẳng biết từ khi nào, chú chỉ dành mặc vào dịp tết Nguyên đán, ngày khai trường và ngày nhà giáo Việt Nam 20-11.

Chú đã nuôi anh em Thông ăn học đến nơi đến chốn không thua kém bất cứ đứa trẻ nào ở làng quê này. Khi Thông học lớp 6, chú thường nói:

- Nhà này con cháu cả đống, chỉ có thằng Thông là sáng dạ lại chịu khó chăm chỉ học hành. Tôi làm thầy giáo tôi biết chứ. Bằng mọi giá, kể cả phải bán nhà cũng phải nuôi nó học thành tài. Sau này thành đạt nó sẽ có trách nhiệm dìu dắt giúp đỡ các em. Có lần chú lại nói: “Nhà này, không có chỗ ở cho kẻ lười học, lười lao động”. Nhờ thế mà ba anh em Thông đều đỗ vào đại học. Thông đã bảo vệ thành công luận án tiến sĩ tại Liên Xô. Khi Thông nhận bằng tiến sĩ, chú xúc động, lau những dòng nước mắt nói: “Cháu đã làm rạng rỡ cho dòng họ và quê hương”.

Khi ba anh em Thông trưởng thành, ai cũng có công ăn việc làm, nhà cửa khang trang ở thành phố và thị xã. Chú út nghỉ hưu nhưng không về ở với con, cháu. Chú sống một mình ở căn nhà rộng rãi, vắng vẻ nơi quê nhà, để thực hiện cái “thuyết”: tự do cho mình và cho con, cháu. Từng ấy tuổi đầu, chú cô đơn, lủi thủi nấu nướng ăn cơm một mình. Bữa ăn bữa nhịn là chuyện bình thường. Hôm có thịt cá lại không có rau. Khi có rau lại không thịt cá. Thậm chí, có bữa chú lấy cơm canh, thịt đậu đổ cả vào bát , rồi ngồi trên cái sập giữa nhà vừa ăn vừa xem ti vi. Lại có bữa đứng ngay ở cửa bếp mà ăn. Bát đũa hai ba ngày mới rửa một lần. Thấy vậy, vợ chồng Thông biếu chú cái tủ lạnh. Nhưng cả mấy anh em Thông đều ngay ngáy lo cái điều: Bố ở một mình, tuổi cao, đêm hôm nhỡ trái gió trở trời chẳng ai hay. Lỡ ông thế nào, anh em Thông ân hận suốt đời. Nhiều lần vợ chồng Thông, vợ chồng Hậu khuyên chú đi bước nữa. Chú chẳng nói chẳng rằng. Ông ngồi lặng im như người đang thiền. Thông nghĩ, hay chú có mối tình nào mà chưa tiện nói ra. Không! Thông đã nghĩ oan cho chú. Tất cả tình cảm yêu thương chú đều dành cho người vợ quá cố và đàn con. Tìm hiểu kỹ những người xung quanh, Thông được biết chú chẳng có mối tình nào cả. Cuộc sống thực tại, chú thấy cần phải đi bước nữa. Nhưng lý do nào khiến chú lặng im? 

 

 

 

*

*      *

 

Mùa xuân năm ấy, trời còn rét đậm. Cành đào trên bàn thờ bắt đầu tàn. Cây quất ở chậu chỉ còn lưa thưa vài quả. Chú xuống Hà Nội thăm vợ chồng Thông và các cháu. Nhân lúc ăn uống vui vẻ, Thông mạnh dạn hỏi chú:

- Chú nghĩ thế nào mà không đi bước nữa? Hoàn cảnh của chú nên quá đi chứ. Mọi người sẽ thông cảm.

Chú thở dài. Im lặng một lúc sau chú nói:

- Cái Nga là đứa tai quái, đáo để, cứ nghe nói chú đến với ai là nó quậy phá. Đầu tiên, nó van xin người ta buông tha cho bố và anh em nó. Nếu người nào tỏ ý quyết tâm xây dựng với chú, nó tìm cách đe doạ… Thử hỏi ai dám lấy chú nữa. Nó sợ chú lấy vợ sẽ lạnh nhạt và bỏ rơi anh em mày. Nga mất mẹ từ nhỏ nay lại sợ mất bố. Nó sợ bố lâm vào cảnh vợ thêm con đèo khổ sở vất vả, con anh, con tôi, con chúng ta. Chú rất thông cảm với nó.

Thông ạ! Khi còn trẻ tuổi, việc xây dựng gia đình phải do cha mẹ lựa chọn thì mới êm thấm và hạnh phúc. Tất nhiêu các con là người quyết định, nhưng nếu bố mẹ không đồng ý gia đình sẽ lỏng lẻo, mất vui. Con, Hậu và Nga đều là theo điều dạy đó. Ngày xưa cha mẹ đặt đâu con ngồi đó. Nhưng ở tuổi chú, hoàn cảnh chú, muốn đi bước nữa phải được các con đồng ý. Thậm chí con phải đi tìm vợ cho bố, làm được như thế gia đình mới bền chặt và hạnh phúc. Vợ chồng con, Hậu đồng ý để chú đi bước nữa, trở ngại chính là cái Nga.

- Con hiểu. Chỉ cốt chú đồng tình, ưng thuận là được. Con sẽ thuyết phục cái Nga!

Tháng sau, tôi về thăm vợ chồng Nga. Buổi tối, ăn uống xong, tôi nói:

- Anh có việc bàn riêng với Nga

Nó ngạc nhiên hỏi: - Có việc gì quan trọng à anh?

- Rất quan trọng là đằng khác - Tôi hắng giọng rồi nói - Bố đã vất vả, khổ sở hy sinh cả cuộc đời để nuôi chúng ra ăn học và trưởng thành. Ba anh em mình đã có gia đình riêng, sớm tối vợ chồng hú hí với nhau. Chẳng đứa nào về hầu hạ, chăm sóc bố lấy một ngày. Bố cô đơn, lủi thủi sống đơn độc một mình, bữa ăn, bữa nhịn. Lúc khoẻ đã vậy, khi ốm đau thì sao? Ai là người cơm nước cho bố.

Nga gay gắt nói:

- Anh lại thuyết phục em để bố đi bước nữa chứ gì? Không! Một ngàn lần không.

Nói xong Nga bỏ đi.

 

*

*      *

 

Đó là chuyện ngày trước, con bây giờ chú út của Thông xây dựng với bà giáo vừa qua tuổi ngũ tuần. Bà kém chú vừa tròn một giáp. Bà chưa một lần lên xe hoa. Thuở xưa, bà là thanh niên xung phong, nhiều năm mặt đối mặt với cái đói, cái rét và bom đạn của kẻ thù. Bà bị thương ở chân phải nhưng không nặng lắm, di chứng của nó khiến bà bước đi hơi tập tễnh một chút, tinh ý mới phát hiện ra. Hết chiến tranh, gần ba mươi tuổi bà mới bước chân vào giảng đường đại học. Bà đã dạy học được hơn hai mươi năm. Bằng sự lao động cực nhọc và tiết kiệm nhiều năm, bà xây dựng được ba gian nhà nhỏ và hai gian bếp ở làng ven thị xã. Bà định khép kín phòng the, xây dựng “tượng đài phòng không” cho cả đời mình và lấy việc dạy học làm nguồn vui. Cũng đã có nhiều người đến với bà nào giám đốc, bác sỹ, kỹ sư có cả sĩ quan cấp tá nhưng không ai khiến bà rung động. Vì người được mặt này, lại thiếu mặt khác. Chú út của Thông là người đến sau cùng nhưng lại lọt vào đôi mắt đợi chờ của bà. Bà cảm thấy trời sinh ra bà là để dành cho ông. Bà thương ông tuổi trẻ gửi cả nơi chiến trận. Khi trở về đời thường, lại phải một mình vừa là cha vừa là mẹ nuôi cả đàn con khôn lớn trưởng thành. Sức lực gửi cả vào đó, dồn cả vào đó. Ông thương bà, chân yếu tay mềm, bao năm đào đắp mở đường cho các đoàn quân ra trận, trong đó có ông, gánh chịu không biết bao nhiêu bom đạn của kẻ thù. Cả tuổi thanh xuân chờ đợi người yêu ngoài mặt trận, cuối cùng là phòng không giá lạnh. Còn bây giờ buổi xế chiều của họ là mối tình tuy muộn mằn nhưng thật đẹp. Cả hai ông bà đều từng là người lính, cả hai đều là thương binh, cả hai đều là nhà giáo. Ông bà đã tìm thấy hạnh phúc của đời mình.

*

*      *

Kể từ ngày ông bà xây dựng với nhau, cuộc sống thay đổi đến không ngờ, ngoài sức tưởng tượng của con cháu. Cái ăn, cái mặc của chú út Thông không như xưa nữa. Mỗi sáng chú ăn một gói mì ăn liền còn thòm thèm cùng hai quả trứng gà hay trứng vịt lộn. Mỗi khi có việc ra ngoài ông đều ăn mặc rất chỉnh tề: Mặc com-plê, ca-vát cài ghim sang trọng, lịch sự. Quần áo bộ đội, ông chỉ mặc khi lao động. Một đôi lần về thăm nhà, thấy ông vui vẻ, hạnh phúc, Thông định hỏi trêu: “Sao bố không mặc quân phục nữa?”. Nhưng sợ bố mất vui nên thôi. Anh thấy lòng dâng niềm vui, hạnh phúc.

 

*

*      *

 

Lâu lắm chú mới đến thăm vợ chồng Thông và các cháu. Gia đình Thông mừng hết chỗ nói. Hai đứa con Thông quấn quýt lấy ông. Vợ Thông nấu những món ăn mà ông ưa thích. Hôm sau ông một mực đòi về. Các cháu đứa giữ mũ, đứa giữ túi không cho ông về. Ông phải nịnh các cháu:

- Ngoan nào! Thôi để ông về mai kia ông lại xuống. Ông còn bao nhiêu việc ở nhà, nào cắt chuối, rào vườn, trông nhà cho bà đi dạy học.

Vợ Thông nói:

- Chẳng mấy khi bố xuống với chúng con! Bố ở lại chơi với cháu vài ngày nữa. Hay sợ con không có gạo chứ gì?

- Thế là bố thoả mãn lắm rồi! Không xuống thì nhớ cháu. Ở đây lại nhớ nhà.

Thông cười, nói:

- Ông nhớ bà thì có!

Bố tủm tỉm:

- Đúng thế! Thông là người hiểu bố nhất.

Vợ chồng Thông đành để bố về. Thông đưa ông ra bến xe.

Sau thời gian bà xây dựng với ông, tự nhiên bệnh đau đầu, biếng ăn và thiếu ngủ của bà chẳng thuốc thang gì mà khỏi tiệt. Bữa nào bà cũng thấy ngon miệng và chấm dứt cái cảnh vào mâm cơm ngồi bên nào cũng lệch, bữa thất bữa thường. Bà tăng 3 , béo đẹp và tươi tắn hẳn lên. Đi dạy học về, bà thấy căn nhà ấm áp, vui vẻ. Bà mới về tới cổng, ông chạy ra đón và mở cổng. Mâm cơm ông chuẩn bị sẵn, cơm canh khói bay nghi ngút, chờ bà về là ăn. Bà lựa chọn những miếng ngon gắp cho ông. Ông lại nhường cho bà, Miếng thức ăn chạy đi, chạy lại qua hai cái bát. Bữa ăn đã tàn, câu chuyện còn thèm. Bà kể nốt tiết thực tập sáng nay. Bà đang say sưa giảng bài: “Dáng đứng Việt Nam”… thì trống báo hết giờ. Ông bảo, bài giảng như thế là chưa hoàn hảo, đáng lẽ giảng xong mới trống hết giờ. Bà thanh minh: “Say sưa giảng quá, quên xem đồng hồ”. Ông nói: “Tôi mải rào vườn quá, trưa nay nấu cơm hơi muộn, chưa kịp thay quần áo lao động bà đã về… ”. Hằng ngày bà không phải tập tễnh xách nước. Việc ấy đã có ông đảm nhiệm. Bà ngồi giặt, ông đứng kín nước. Buổi tối bà chuẩn bị nước nóng, kem, bàn chải để hai ông bà cùng đánh răng. Mỗi khi đi thăm bà con lối xóm, ông bà dắt tay nhau cùng đi, chuyện trò vui vẻ. Với số vốn liếng góp nhặt bao năm cộng sự giúp đỡ của bạn bè, con cháu, ông bà làm thêm căn nhà đổ bê-tông rộng tới 70m2, có công trình phụ khép kín và các trang thiết bị hiện đại đầy đủ. Ông bà chẳng phải kín nước giếng nữa. Chập tối, sáng mai, ông bà thường dắt tay nhau đi bộ để thư giãn và rèn luyện sức khoẻ. Đêm về, ông bà lân nhau đọc truyện cùng nghe. Ông thừa sức đọc cả buổi nhưng mê giọng đọc của bà. Xóm Đậu, có người nói: “Bà Huệ lấy chồng muộn nhưng chắc, vợ chồng trẻ chưa chắc đã hạnh phúc bằng, sướng một đời, các bà quá lứa lỡ thì, hoặc goá bụa noi gương bà ấy đi”…

Trước đây, tuần nào, anh em Thông cũng phải thay phiên nhau về thăm ông, chuẩn bị thức ăn xếp vào tủ lạnh để ông ăn dần. Từ ngày có bà, một, hai tháng an hem Thông mới về thăm ông bà mà vẫn yên tâm. Nghỉ hè các cháu đứa nào cũng muốn về ở với ông bà. Ông bà muốn cháu ở hết hè cho vui nhà. Vợ chồng Thông không dám để các cháu ở lâu sợ ông bà vất vả. Bà và Nga rất hợp tính nhau. Hai mẹ con thường hay thì thầm to nhỏ với nhau khiến các nàng dâu ghen tị.

 

*

*      *  

 

Ngày giỗ bà già, con cháu về đông đủ. Khi ăn uống vui vẻ, Nga tự bộc bạch:

- Xưa con là đứa quậy phá ngăn cản bố đi bước nữa. Nhưng sau lại chính con là người mở đường và lo từ A đến Z để bố mẹ nên ông nên bà. Bây giờ con mới thấm hiểu: “Con chăm cha không bằng bà chăm ông”. Thông nói thêm: “Mỗi thế hệ, mỗi lứa tuổi đều có nhu cầu hạnh phúc riêng, đừng ai đặt “barie” ngăn cản. Nếu em nghĩ được sớm thì bố và các anh, cả nhà ta còn vui từ trước nữa cơ...

Nga lườm Thông nói: “Em đã nhận lỗi và sửa chữa rồi. Anh còn mát nước thấu xương”.

 

 

 


 

 

 

 

LÊ THUẦN THẢO

  

Viên hồng ngọc

 

NHÀ XUẤT BẢN THANH NIÊN, 2000

 

--------------------------------------------------------- 

 

Tập truyện ngắn đoạt Giải Khuyến khích,

 Giải thưởng VHNT tỉnh Vĩnh Phúc 5 năm lần thứ II

(2000 - 2005)

 


 

 

 

 

CAM TIẾN VUA

 

Ngày ấy mới học cấp hai, chúng tôi đã phải ở trọ. Nhóm con trai chúng tôi trọ ở nhà bà Huê Nhài, ba bạn nữ trọ ở nhà bà Huê Cúc, cách nhau một bờ rào. Chúng tôi chưa đủ khôn để lý giải tại sao cái thôn gần trường, có các bà cụ hiền lành, trông giống các bà bủ nhân hậu ấy lại có tên là Huê. Chỉ biết các bủ tốt lắm, coi chúng tôi như con. Cánh con trai mỗi bữa chỉ nấu duy nhất một nồi: Nồi cơm độn sắn, độn ngô, độn khoai tùy theo khả năng của gia đình cho mang đến. Cơm cạn, chúng tôi thả vào một quả cà chua, đồng thời đặt lên vung một dúm muối trắng. Khi nhấc cơm ra ăn, dúm muối “sấy” được cho vào bát cùng quả cà chua “hấp” dằm với lưng bát nước vối, thế là có bát thức ăn duy nhất sền sệt màu hoa đào. Đó là bữa có thức ăn “sang trọng”. Còn nhiều bữa khác thức ăn là cà muối được bà chủ “úy lạo”, và cũng có khi chỉ có mỗi món muối “sấy” truyền thống. Thế mà cả bốn thằng chụm đầu vào chiến đấu, nhanh, gọn, hết veo. Bọn con gái chắc cũng ăn cơm giống chúng tôi, nhưng hình như các bạn ấy còn nấu thêm thức ăn gì nữa thì phải, vì thấy như có rửa rau, và đỏ lửa lâu hơn. Có hôm bên ấy còn bắt cua cải thiện, tụi bạn cứ xui tôi: “Chúng nó có canh cua đấy, cậu sang “ngoại giao”, kiếm tý chất tươi. Bên ấy có cái Lụa  trông khá hơn cả, nó có vẻ lúng liếng với cậu.

Hôm ấy, y như rằng vừa thấy tôi nhò sang, Lụa đã múc tặng chúng tôi một bát canh đầy, bốn thằng lại vừa ăn, vừa đùa, cười phớ lớ. Thời ấy, lạ thế, không đứa nào kêu ca vất vả, không ai bỏ buổi học nào. Cuối cấp hai đã là mười bảy, mười tám tuổi. Lũ con trai thích làm Paven, bọn con gái tất thảy muốn thành Dôia hay Ri-ta, nên đứa nào cũng ra sức phấn đấu rèn luyện mình. Đời cứ ước được “tôi” trong lửa đỏ và nước lạnh! Mỗi tuần lao động hai buổi để gây quỹ lớp, quỹ đoàn. Mỗi lớp nhận làm một ruộng lúa tăng sản theo kiểu Đại trại, cứ tin rằng lúa sẽ cho hạt bời bời, mỗi ruộng là một đống lúa vun cao, đứng lên không lún. Mỗi buổi lao động, thầy giáo, cô giáo không chỉ, hướng dẫn bằng lời mà cũng mang theo: cuốc, xẻng, quang gánh,… rồi xắn cao quần cùng làm cật lực với học sinh. Hình như các thầy, cô thời ấy muốn giáo dục chúng tôi bằng cả tấm gương lao động của mình. Nhà trường đã tổ chức làm gì là làm tới bến, cấm ai được lơ tơ mơ: học, lao động, văn nghệ, thể thao… . Tất thảy phải cật lực hết mình.

Chúng tôi đều tự giác nên các thầy cô cũng chẳng phải nhắc nhở nhiều. Có  lúc nào cần bảo ban, nhiều thầy có những động thái sư phạm đặc biệt. Còn nhớ có lần trong giờ học động vật, bạn đang lên bảng kiểm tra bài cũ, tôi mải mê kể truyện phim “Lương Sơn Bá, Chúc Anh Đài” cho cậu ngồi cạnh nghe. Thầy nhẹ nhàng đi xuống lớp, đền cạnh vỗ vai tôi:

- Cậu lên bảng vẽ xương đầu bò.

- Thưa thầy, bài ấy học từ tuần trước

- Tuần trước cũng cứ vẽ.

Tôi lên bảng, nhớ lại vẽ chính xác cái xương đầu bò, ghi chú thích đầy đủ. Thầy nhận xét, khen tôi vẽ đúng, và cho 5 điểm (mức điểm cao nhất thời bấy giờ), không nói gì thêm, rồi thầy điềm tĩnh vào bài mới. Ấy thế mà khi tự hiểu ra thì nhớ mãi…

Thời ấy học gì thi nấy, đối với tôi, cam go nhất là môn thể dục: Nam chạy 1.500m, nữ chạy.1.000m. Lũ con gái đã thi từ chiều hôm trước, có đứa lệt sệt mãi, mặt đỏ tía tai mới kéo đủ suất của mình. Cánh con trai phải chạy từ cổng trường, đến cầu Ngòi Lửa, một đoạn đường phẳng, thoáng, mỗi đợt chạy năm người, lớp trưởng đứng ở cổng trường phất cờ, thầy đứng ở đầu cầu theo dõi đồng hồ. Quãng đường này chúng tôi đã được tập, tôi đã chạy vài ba lần, được tụi bạn cho là loại khá. Lần này chạy thi tôi tự dặn mình phải cố, ít nhất cũng phải đạt bốn điểm (điểm loại khá). Tôi chạy ở tốp thứ hai. Khi  lớp trưởng phất cờ, tôi cố vượt lên phía trước. Dọc đường chạy có các bạn gái đứng bên đường, hô vang động viên: Cố lên! Cố lên! Chân tôi vẫn guồng, gấp gấp. Tôi thấy mũi nóng rực, rồi dần thấy lồng ngực bỏng rát, tôi vẫn guồng đều đôi chân. Đến lúc cảm thấy sống mũi cay xè như bị sặc nước ớt, mắt căng ra, có cảm giác nghèn nghẹt như bị bóp cổ và văng vẳng tiếng con gái hô “Đến đích rồi”! Nghe như có tiếng vỗ tay, và hình như tôi khuỵu xuống.

Cảm giác trở lại khi tôi nhận ra đôi chân mình bị kéo lê trên đất mịn. Tôi dẫm chân xuống đất, thấy hai chân dài dại, tê tê, trên mặt đất nóng rực. Tôi mở mắt và nhận ra rằng, tay phải tôi đang được khoác trên vai thầy Cảnh dạy thể dục và tay trái đang thườn thượt đung đưa trên ngực Lụa. Như một phản ứng, tôi định rụt tay về, thì Luạ nắm chặt tay tôi ghì xuống. Ít phút sau tôi đỡ hơn, tự đi được. Thầy dặn Lụa:

- Em dìu bạn đi chậm. Tuyệt đối không để bạn nằm.

Sau đó tôi nghe vẳng từ xa một hồi còi dài và tiếng thầy Cảnh hô:

- Tiếp tục…

Tôi xấu hổ, gỡ tay mình ra, và chính lúc đó, tôi thấy Lụa ràn rụa nước mắt. Tôi ngớ ngẩn hỏi:

- Sao cậu lại khóc?

- Mình lo cậu chết mất!

Rồi Lụa bóc cho tôi một quả cam. Từng múi, từng múi, tôi ăn và lạ thay: Lần đầu tiên trong đời tôi cảm nhận ra cam ngọt thế, thơm và mát vô cùng. Cam vào tới đâu mát tới đó, chén hết quả cam thì tôi tỉnh hẳn. Tôi hỏi tiếp:

- Cam Lụa lấy ở đâu?

- Cam nhà Lụa đấy, cam làng Hạ quê mình ngon nổi tiếng. Ngày trước, chánh tổng cứ phải về làng mình đặt cam tiến vua.

Tôi chầm chậm cùng Lụa trở về nhà trọ, suốt dọc đường không ai nói gì thêm. Đợt ấy, môn thể dục tôi đạt điểm 5, Lụa và tôi đều là học sinh giỏi toàn diện của trường. Thi tốt nghiệp, lớp tôi đỗ trên tám chục phần trăm, đạt tỷ lệ cao nhất trường. Khi làm đơn xin thi vào cấp ba, tôi ngạc nhiên không thấy Lụa đăng ký. Tôi hỏi, thì Lụa bảo:

- Mình phải ở nhà làm ruộng, làm vườn vì em mình năm sau đã lên cấp hai rồi. Cậu cố giữ vững mức học giỏi, rèn sức khỏe cho tốt. Còn Lụa phải ở nhà thôi. Nhà chỉ còn hai chị em, Lụa phải đi làm thì em trai Lụa mới đi học được. Cậu sẽ học cao, học nữa, học mãi, nhưng đừng quên lớp 7B, đừng quên cái Lụa quê mùa này nhé.

- Xin hứa! Mình không quên.

- Nói lời thì giữ lấy lời… - Sau một phút im lặng Lụa nói tiếp - Không hiểu sao, gần đây trên đời này Lụa lại thấy thương hai người nhất.

- Ai?! Tôi sốt ruột.

- Đó là em trai mình và cậu.

Tôi định hỏi: Cậu thương tớ như thế nào? Nhưng tôi chợt nóng tai một thoáng tự ái và im lặng. Xin đừng ai bảo “im lặng là vàng”. Đến nay tôi vẫn cho rằng cái im lặng buổi ấy của mình là sự ngu xuẩn nhất trần gian.

Thế rồi khi đang học cấp ba, thì chiến tranh như cơn lốc cuốn  lũ chúng tôi đi. Suốt những năm tháng ở chiến trường, có vài lần tôi gửi thư về làng Hạ cho Lụa mà chẳng thấy hồi âm. Khi Tổ quốc hòa bình, tôi trở về làng Hạ, thì hay tin Lụa đã vào một quân y viện ở phía Nam, thăm nuôi cậu em ruột, hiện là thương binh nặng. Ba gian nhà vắng hoe, vườn cam đã tàn, thay vào đó là vườn cải, trổ ngồng vàng rực.

Tôi chưa kịp tìm lại, thì chiến tranh biên giới phía Nam, phía Bắc xảy ra, hút tôi vào đó mất nhiều năm. Trở về làng Hạ lần sau thì dân làng đã chào tôi bằng bác! Lụa đã bán sào vườn, về Hà Nội làm công cho một nhà hàng để nuôi cháu trai ăn học, sau khi cậu em mất và em dâu đi lấy chồng.

Hà Nội! Hà Nội mênh mang gấp bội ba mươi sáu phố phường ngày trước. Hà Nội bao nhiêu triệu người, bao nhiêu nhà hàng? Bao nhiêu người làm công lam lũ? Tìm Lụa ở đâu?

Tôi ra quân cũng được ở ngay Hà Nội. Hà Nội, hòa bình, đầy hoa, đầy quả, cam Mỹ, cam Tàu, Cam Nam, cam Bắc, vàng ươm, xanh mọng, đầy chợ, đầy đường… tìm đâu cam ngọt tiến vua ngày ấy?

  


 

 

 

 

THẢO DÂN 

Chuyện xưa viết tiếp

 

NHÀ XUẤT BẢN VĂN HÓA THÔNG TIN, 2003

 

---------------------------------------------------------

 

Tập truyện ngắn đoạt Giải Khuyến khích,

 Giải thưởng VHNT tỉnh Vĩnh Phúc 5 năm lần thứ II

(2000 - 2005)

 


 

 

 

 

THÁNH GIÓNG LÊN TRỜI RỒI ĐI ĐÂU?

 

Những tên giặc Ân cuối cùng đã bị đuổi ra khỏi bờ cõi. Chàng trai Phù Đổng đang trên đường về kinh đô để tâu với vua Hùng, thì anh tiếp được sứ nhà trời.

Ngọc Hoàng ban chỉ, mời chàng trai làng Gióng về trời báo công diệt giặc nhận ban thưởng. Chàng tiếp chỉ rồi loay hoay với bộ quần áo sắt, nón sắt. ngài Thiên sứ nói:

 - Anh hãy cởi bỏ quần áo sắt, nón sắt cho bớt nặng thì mới bay lên được.

Gióng làm theo. Nhưng còn con ngựa sắt thì sao? Anh hỏi Thiên Sứ.

 - Ta sẽ có cách! Nói rồi Thiên sứ lấy tay vuốt hai bên sườn ngựa. Lập tức hai cánh của nó mọc ra. Ngựa vẫy cánh quạt gió ào ào, đưa Gióng và Thiên sứ về trời.

Đường lên trời mênh mông cao thẳm. Cánh ngựa rập rờn làm tan những đám mây trắng như bông. Nhìn xuống trần gian, Gióng thấy cảnh non xanh nước biếc, vực thẳm núi cao, lúa vàng dâu xanh, làng xóm đông vui nhộn nhịp. Bên kia là núi Tản sông Đà, bên này là sông Lô Tam Đảo. Dòng sông Hồng như tấm lụa đào vắt giữa mênh mang. Giữa hai miền núi sông hùng vĩ ấy là kinh đô Phong Châu, nơi vua Hùng đang đợi Gióng trở về báo công diệt giặc.

Quê hương! Ôi quê hương! Làng Phù Đổng hiện ra với những mái tranh nghèo, những vườn cau trĩu quả, những cánh đồng chen giữa chân đồi! Ở đó có mẹ già ta, người mẹ nghèo đã sinh và nuôi ta bằng mồ hôi nước mắt của mình. Ở đó có nhân dân đã góp gạo, góp dưa cà nuôi ta trong những ngày đói cơm thiếu muối. Ở đó có tấm lòng nhân nghĩa của xóm làng đã cho ta thêm sức mạnh diệt thù. Ôi! Quê hương yêu thương! Hãy đợi ta về chia vui ngày thắng lợi.

 Gió rít bên tai đưa Gióng trở về với thực tại. Nhìn lên, Gióng đã thấy thiên đình thấp thoáng trong mây. Đến cổng thành, Gióng đã thấy đoàn thiên tướng ra nghênh đón. Vó ngựa sắt vừa dừng lại thì đã nghe thấy tiếng loa thét lớn:

- Ngọc Hoàng truyền chỉ: Triệu Gióng vào chầu.

 Gióng theo các quan vào bệ kiến. Chàng sụp lạy Ngọc Hoàng tung hô “Vạn tuế”!

Ngọc Hoàng phán:

 - Hỡi chàng trai làng Gióng! Ta đã xem nhà ngươi đánh giặc! Thật là tài ba trí dũng chẳng kém gì các Thiên tướng của ta. Xét công lao cứu dân của ngươi ta phong cho ngươi chức Phù đổng Thiên vương, cùng với bạc vàng châu báu và một cung điện ở ngọn núi Kim Quang, gần với vườn đào của Tây Vương Mẫu. Ta sẽ gả cho nhà ngươi một trong những công chúa con ta.

Phù đổng Thiên vương tâu:

 - Tâu Thượng Đế! Người ban cho tôi chức tước, nhà cửa, bạc vàng và nàng công chúa. Người cho tôi làm Phò mã Thiên đình. Công ơn này thật cao như núi, tôi đâu dám quên. Nhưng, thưa Thượng đế, tất cả những thứ ngài gia ân, kẻ hạ thần này không dám nhận. Vì hạ thần là kẻ phàm trần, sinh ra trong nghèo khó, lớn lên trong cát bụi lầy bùn. Thần xin thượng đế cho thần được trở lại trần gian, về làng Phù Đổng. Vì ở đó, thần còn mẹ già đang mỏi mắt trông chờ. Ở đó có dân làng đã nuôi dưỡng che chở cho thần trong những ngày nghèo đói. Họ cũng đang mong thần trở về để vui vầy cuộc sống dân dã làng quê. Thần sinh ra từ cái nôi nhân dân. Thần xin được về cái nơi cội nguồn đó, Thần không thể vì giàu sang phú quý mà quên hết nghĩa tình.

Nghe xong lời cầu khẩn của Phù đổng Thiên vương, Ngọc Hoàng thấy có lý. Ngài khen:

- Ôi! Chàng trai làng Gióng! Ôi Phù đổng Thiên vương! Lời nói của ngươi đã làm xấu hổ bao kẻ quên ơn bạc nghĩa. Ta chuẩn tấu nguyện vọng của ngươi. Nhưng dù sao thì ngươi cũng nên nán lại thăm cảnh thiên đình.

- Thần xin tuân chỉ - Thánh Gióng đành chiều ý Ngọc Hoàng. Chàng đi theo quan hướng dẫn du lịch thiên cung, vãn cảnh đẹp thần tiên mà trong lòng vẫn luôn hướng về nơi trần thế. Nơi thưởng ngoạn đầu tiên của Gióng là vườn đào của Tây Vương Mẫu. Vườn đào đang độ đơm hoa, cánh hoa đào đẹp như má phấn các nàng tiên. Gióng chỉ nhìn qua, lòng hờ hững, chàng trở về lò luyện đan của Kim Quân Thái Bạch. Thấy Gióng không vui, quan hướng dẫn đưa chàng đến chốn Bồng Lai. Ở đó có biết bao nàng tiên xinh đẹp ra múa hát đón chào. Nhưng lòng Gióng vẫn lạnh băng. Chàng buồn rầu rời khỏi cung ngà trở về phòng riêng ngao ngán cho cảnh ăn ngon mặc đẹp, chơi bời lêu lổng của chốn thiên cung. Đêm đêm, chàng không ngủ, vén tấm màn mây trông về làng Phù Đổng. Hình ảnh mẹ già còm cõi vẫn vào ra, tựa cửa trông chờ. Nhìn cảnh đó, nước mắt chàng rơi lã chã. Hôm sau, chàng đến xin Ngọc Hoàng cho chàng được phép về nơi hạ giới. Cảm kích tấm lòng hiếu thảo của chàng, Ngọc Hoàng chuẩn tấu cho chàng về quê. Ngài ban cho chàng vàng bạc châu báu. Chàng nhận lấy để về phân phát cho dân. Nam Tào phụng chỉ đưa chàng về núi Ninh Sóc, Chàng từ biệt Nam Tào về quê. Trên đường về, chàng mới có dịp nhìn lại cảnh chiến trường mới xảy ra trước đó. Những làng xóm tiêu điều xơ xác, những lũy tre ngà bị lửa phun nay đã úa vàng. Những bước chân ngựa sắt giờ đã đầy nước và đã lấm tấm những cánh bèo dâu. Làng Phù Đổng đã hiện ra trước mắt. Chàng bồi hồi xúc động bước chân trên đường làng. Mọi người thấy chàng về thì ào ra đón mừng người anh hùng của xứ sở. Chàng cảm động trước tình nghĩa dân làng. Chàng đem số vàng bạc châu báu mà Trời ban thưởng, chia cho dân làng. Chàng dành cho mẹ một viên ngọc minh châu để ghi lại tấm lòng nhân hậu của mẹ đã sinh ra nuôi dưỡng chàng thành người có ích cho dân tộc. Gióng kể lại cho dân làng nghe chuyện chàng lên trời được trời ban thưởng. Nhiều người xuýt xoa tiếc của, tiếc cuộc sống thần tiên. Chàng nói với dân làng:

 - Tôi từ đây ra đi giết giặc. Giặc tan rồi thì nơi tôi về là ở đây. Nếu chỉ ham danh vọng, bạc vàng mà quên mất cội nguồn thì đâu có đáng làm người.

Dân làng Gióng mở hội mừng người con tài ba trí dũng đã xả thân cứu nước cứu làng.

Vua Hùng được tin Gióng trở về, liền triệu Gióng vào kinh đô. Vua phong ông là Phù đổng Đại vương. Khi nào trăm tuổi sẽ hiển Thánh, được các làng quanh vùng Sóc Sơn thờ phụng. Tuy nhiên, nhân dân đã tôn thờ ông Gióng ngay khi ông còn sống và gọi ông là Thánh Gióng.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

VÌ SAO NÚI TẢN VIÊN LẠI THẮT CỔ CHÀY?

 

Sau khi thắng Thủy Tinh, Sơn Tinh đưa công chúa Mỵ Nương về sống trên núi Tản Viên. Thần tuyên bố rằng: “Từ nay, ta cùng muôn dân sẽ sống cuộc đời thái bình hạnh phúc, không còn kẻ thù nào dám quấy nhiễu nước ta”

Thế là từ đấy, ngài cùng các quan chỉ chăm hưởng lạc thú ở đời. Tháng ngày yến tiệc triền miên. Nạn tham nhũng ngày càng trầm trọng. Sưu thuế nặng nề, dân tình ai oán, quân đội tan dần, tướng lĩnh già yếu. Hiểm họa mất nước bày ra trước mắt. Cũng có những trung thần nghĩa sĩ, những thảo dân sáng suốt, thấy được nguy cơ dâng sớ can ngăn, nhưng Sơn Tinh và triều thần vẫn trượt theo lối sống xa hoa mê muội. Thậm chí, ngài còn đuổi tất cả những văn thần võ tướng tài ba dám can ngăn những việc làm nguy hại của ngài.

Trong khi đó thì Thủy Tinh lại hành động hoàn toàn ngược lại. Từ khi thua trận. Thủy Tinh cảm thấy vô cùng đau đớn, tủi nhục và quyết nuôi chí báo thù. Việc đầu tiên ông ta làm là chấn chỉnh bộ máy nhà nước. Ông đuổi hết bọn quan lại bất tài, nịnh bợ, tham nhũng. Ông tuyển chọn và quý trọng nhân tài. Ông tăng cường sức mạnh cho quân đội. Những thần sông, thần biển, hà bá… đều phải nhập ngũ và luyện tập võ nghệ. Những võ tướng kiệt xuất được giao cho trọng trách chỉ huy quân đội. Các tướng đều phải giỏi binh thư và trận pháp. Việc quan trọng nhất để làm cho nước mạnh là phải làm cho dân giàu. Thủy Tinh chăm lo bồi dưỡng sức dân. Ông miễn bỏ nhiều thứ thuế vô lý. Ông lo phát triển nền giáo dục, ông tập trung nghiên cứu khoa học, đặc biệt là khoa học chiến tranh, nên đã tạo ra nhiều thứ vũ khí mới có sức mạnh ghê gớm.

Thấy mình đã có đủ sức mạnh, ông ta triệu tập văn quan võ tướng về long cung bàn việc báo thù. Cả triều thần đều quyết tâm rửa hận nên sức mạnh được nhân lên.

Thủy Tinh hạ chỉ:

“Các ái khanh văn võ của ta! Hẳn các khanh cũng như ta chưa thể quên cái nhục thua trận và luôn luôn nuôi chí báo thù. Hơn mười năm nay, ta cùng các khanh và thần dân đã cần kiệm để xây dựng lực lượng. Đến nay, ta đã có đủ binh hùng tướng mạnh, đủ lương thực dồi dào, lại được toàn dân đồng lòng dốc sức. Ta tin chắc lần này ra quân sẽ đánh bại được Sơn Tinh. Nhưng để nắm chắc tình hình quân địch, ta đã cho tướng Cua Kềnh đi dò thám nội tình sơn quốc. Nay bá quan hãy nghe tướng Cua Kềnh báo cáo chi tiết”. Thần cua tâu hết về sự sa đọa và yếu đuối của triều đình Sơn Tinh. Đặc biệt là sự mất cảnh giác, chủ quan, mê muội. Nghe xong, Thủy Tinh ra lệnh: Muốn thắng Sơn Tinh, ta phải có kế hoạch phá rừng, vì rừng là trở ngại lớn chống lại sức phá hoại của nước, đồng thời là địa bàn cư trú của dân. Muốn phá được rừng thì phải đốt rừng, chặt gỗ. Hai việc này không khó. Đốt rừng thì ai cũng có thể làm được, còn chặt cây thì chẳng phải thần dân của Sơn Tinh đã và đang chặt gỗ phá rừng đó sao? Xem ra, rừng ở Nam quốc đã bị phá đến cạn kiệt rồi mà Sơn Tinh vẫn chưa tỉnh ngộ. Đó là những thuận lợi cho ta, kế hoach đánh phá Sơn Tinh lần này cũng phải thay đổi. Ta không chỉ đánh phá ở nhiều nơi để Sơn Tinh không ứng cứu được nhau. Ta sẽ đánh từ trên núi xuống đồng bằng lũ quét, lũ sông. Mưa thật to, thật lâu làm ngập lụt đường sá, chia cắt cô lập mọi vùng. Ta lại dâng nước biển lên làm cho thủy triều lớn mạnh, dồn nước các cửa sông phải chảy ngược dòng, hình thành thế trận hai đầu kẹp lại. Kết hợp với mưa lũ là gây bão lớn để lay đổ mọi nhà cửa, cây cối, phá vỡ mọi đê điều cầu cống, đướng sá,  mùa màng làm cho đất nước của Sơn Tinh phải kiệt quệ, đói khát, tan vỡ. Về thời gian tiến công cũng thay đổi. Ta không đánh phá vào mùa hè, thu như trước kia. Vì vào mùa này Sơn Tinh đã chuẩn bị đối phó. Ta sẽ tấn công vào cuối thu, đầu đông. Mùa này đã rét, mà rét thì chỉ có lợi cho ta, có hại cho quân địch. Bị rét, quân Sơn Tinh sẽ hết khả năng chiến đấu. Để thực hiện được kế hoạch này, ta hạ chỉ cho các tướng như sau:

 - Các Thái tử con ta, chia về các vùng hút nước, từ biển lên đầy bầu trời, sẵn sàng đổ nước xuống.

 - Thần gió ở phương Bắc dồn gió mùa Đông Bắc về xích đạo để gặp dải hội tụ Đông Nam, gây mưa to rét đậm nhiều ngày.

  - Thần Biển ở phương Đông, hình thành những cơn bão biển, đem mưa từ biển vào và dâng cao thủy triều để bắt các dòng sông chảy ngược, gây ngập úng mênh mông. Còn toàn bộ quân đội do ta chỉ huy đánh nhau với Sơn Tinh ở vùng núi Tản, làm cho chúng không ứng cứu được nhau. Nhất định chúng sẽ thất bại.

Nghe xong, các quan đều nhất trí hô lớn:

          - Long Vương sáng suốt!

          - Long Vương vạn tuế!

          - Long Vương tất thắng!

Ba ngày sau, chiến dịch mở màn. Trong khi đó Sơn Tinh vẫn mải mê hưởng lạc. Những ngày đầu mùa đông lạnh giá, người ta thấy bầu trời đầy mây đen, sũng nước. Gió Bắc tràn về từng cơn buốt lạnh. Biển động ầm ầm, sóng cao hung dữ sẵn sàng nhấn chìm bất cứ vật nào dám đương đầu. Phía Đông Nam hình thành nhiều cơn bão lớn, dâng triều cường chặn các cửa sông.

Mở đầu trận đánh lớn là hàng vạn tiếng sét lớn long trời lở đất. Bầu trời như được dệt bằng những tia lửa điện giật liên hồi.

Tiếp theo sấm sét là mưa gió mịt mù. Đất trời tối đen như muốn vỡ ra muôn mảnh. Nước đổ! Thác đổ! Núi đổ! Đất đá sụp xuống, bật lên cuốn theo dòng nước hung dữ đục ngầu.

Lũ quét bắt đầu đánh miền rừng núi trơ trọi, cuốn theo các làng bản trên đường nó đi qua. Nước các triền sông dâng lên nhanh chóng. Nước lao nhanh như ngựa chiến điên cuồng phá vỡ các đê đập ven sông. Gió bão làm nghiêng trời, nghiêng biển, lật đổ, bốc đi, hất tung tất cả cây cối nhà cửa. Tất cả vũ trụ đều là nước. Tạo sức mạnh cho nước là gió. Tạo uy vũ cho nước là sấm sét đánh ngang trời dọc đất. Bốn mặt nước dâng cao vây hãm đánh vào núi Tản Viên.

Lúc này Sơn Tinh cùng triều thần mới giật tỉnh giấc mê hưởng lạc. Vua tôi cuống cuồng tìm cách chống đỡ. Nhưng than ôi! Tướng tài chẳng có, quân sĩ nát tan, dân tình phiêu bạt. Xung quanh vua chỉ rặt một lũ tiểu nhân bất tài, tham nhũng. Vua tôi dìu dắt nhau chạy dài lên đỉnh Tản Viên. Thủy Tinh đắc thắng đem quân truy quét. Nhưng vì núi cao đường hiểm, cộng với sự chống cự tuyệt vọng của Sơn Tinh, nên tiến đến lưng chừng núi thì Thủy Tinh phải dừng lại. Hai bên giao chiến hàng tháng trời ở lưng chừng núi. Sóng đánh, đá lở đất nhào, tạo nên một vòng đai nước hòng cắt ngọn Ba Vì. Nhưng sức Thủy Tinh cũng có hạn, không sao cắt nổi. Ông ta đành rút quân về, để lại trên mặt đất một cảnh hoang tàn, chết chóc. Từ đó núi Tản Viên bị thắt cổ chày ở giữa.  Ấy là chỗ giao chiến của hai thần do vòng đai nước tạo nên.

Sau trận thua đậm này, Sơn Tinh đã thấy rõ lý do thất bại. Ông thay đổi cách nghĩ, cách sống, ông cải tổ triều đình, tuyên triệu người tài, phế bỏ phường gian nịnh. Ông xây dựng quân đội, bồi dưỡng sức dân. Ông ra lệnh trồng rừng trong cả nước. Ông xử chém các quan kiểm lâm tham nhũng và bọn lâm tặc phá rừng. Ông cải tạo môi trường, sửa sang đê đập, đường sá. Bài học thua trận ông nhớ muôn đời.

Thủy Tinh vẫn không quên hận cũ. Ông ta chỉ chờ cơ hội là sẽ cho Sơn Tinh bài học tiếp theo. Ông ta mở hội mừng chiến thắng. Trong khi cao hứng, ông ta nâng cốc rượu to và tuyên bố: Sơn Tinh hãy coi chừng! Ông đổ cốc rượu xuống, khiến cả biển nước đại dương chuyển động như muốn lật nghiêng trái đất, bầu trời. Chả trách các cụ xưa đã xếp nước là loại giặc mạnh nhất trong bốn loại giặc: Thủy – Hỏa – Đạo – Tặc.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

LÝ THÔNG TỰ BÀO CHỮA TRƯỚC TÒA ÁN DIÊM VƯƠNG

 

Lại nói về chuyện: Mẹ con Lý Thông được Thạch Sanh tha tội. Chúng trở về quê, nhưng Ngọc Hoàng đã sai Thiên Lôi đánh chết ở trên đường. Hồn ma chúng bị quỷ sứ điệu về âm phủ quy án. Vào đến cửa ngục đầu tiên, hai mẹ con hắn bị bốn tên quỷ sứ đầu trâu mặt ngựa cầm đao kề vào cổ dẫn đi. Qua 18 địa ngục, cảnh rùng rợn hiện ra vô cùng khiếp đảm. Tiếng đao búa chặt đầu người chan chát. Tiếng vạc dầu sôi sùng sục. Tiếng kêu thét inh ỏi, tiếng quát tháo ầm ĩ, tiếng hổ gầm rợn óc… Mẹ con Lý Thông khiếp vía, nghĩ đến lúc mình sẽ bị tra khảo, Lý Thông muốn chết ngất. Lý Thông móc trong túi ra một ít vàng. Cười cười bảo quỷ sứ:

 - Hì hì, ông anh nhận cho chút quà! Cho em về, em sẽ hậu tạ.

Quỷ sứ trợn mắt, hất tay hắn, rồi lôi mẹ con hắn đi. Qua những ngục tối om om đầy sợ hãi, quỷ đưa hai mẹ con hắn đến một nơi rộng rãi, nhưng cũng không sáng sủa được là bao. Quỷ sứ quát:

 - Quỳ xuống!

Mẹ con họ Lý run rẩy quỳ xuống trước một cái ngai làm bằng xương người. Trên ngai, Diêm Vương ngồi bệ vệ, được che khuất bằng một tấm rèm. Bàn tay đen xì vạm vỡ của Diêm Vương đặt trên hai cái đầu lâu trắng hếu. Quanh Diêm Vương là những quan văn, quan võ và quỷ sứ mặt mày dữ tợn. Diêm Vương cất giọng hỏi lớn:

- Lý Thông! Tại sao hai mẹ con ngươi lại bị đày xuống đây? Lý Thông chắp tay, lê đầu gối đến trước Diêm Vương và bằng một giọng điệu giả dối, pha chút sợ hãi tâu lên:

- Dạ! Dạ! Thưa Diêm Vương, con bị chết oan chỉ vì thằng Thạch Sanh và ông vua ngu dốt trên trần thôi ạ! Diêm Vương “hừ” một tiếng rồi hỏi:

- Mọi việc như thế nào?

Những giọt nước mắt gian giảo của Lý Thông chảy ra. Hắn sụt sùi kể:

“Muôn tâu! Chuyện dài lắm ạ! Vua trên trần bị một con trăn tinh bắt cống nộp mỗi năm một người con trai. Lần đó, đến lượt con phải đi nộp mạng. Con đã trổ hết tài năng chém chết được trăn tinh trừ hại cho dân và được vua phong cho làm quan. Mọi người chúc tụng con rối rít, nhưng con vẫn khiêm tốn đâu có khoe khoang (Hắn ngừng kể để lau nước mắt. Diêm Vương đập mạnh vào cái đầu lâu, quát: “Kể tiếp đi!”. Lý Thông giật thót, đưa mắt nhìn mẹ. Mẹ hắn hất cằm ra hiệu. Lý Thông lại quay lên, tuôn ra những lời dối trá:

 - Dạ! Dạ! Con xin kể tiếp: “Trong triều đình có nàng công chúa Quỳnh Nga, xinh đẹp vô cùng. Một hôm, nàng bị một con đại bàng bắt đi. Con đã cất công tìm kiếm và đem được công chúa về. Con đã phải trải qua bao gian khổ nguy nan. Còn Thạch Sanh đã không làm được gì, mà lại ăn cắp của cải của nhà vua. Con bắt được đã giam hắn vào ngục. Thế mà hắn đã dùng tiếng đàn để lừa vua. Vua ngu dốt đuổi con về, và gả công chúa cho hắn… Thật là bất công…

- Câm miệng! - Diêm Vương quát - Ngươi định dùng miệng lưỡi xảo trá để lừa bịp ta chăng? Ngươi nói rằng ngươi chém chết trăn tinh và đại bàng phải không?

 - Dạ thưa đại vương, đúng là như vậy! Con đã chém được hai con yêu tinh này để trừ hại cho dân – Lý Thông hí hửng.

- Vậy, quỷ sứ đâu! Hãy cho hồn hai yêu quái vào!

 Lý Thông hoảng hốt, nhưng biết làm sao!

Đại bàng, trăn tinh quỳ trước mặt Diêm Vương.

Diêm Vương hỏi chúng:

- Hai ngươi có quen biết người này không?

Trăn tinh, đại bàng ngơ ngác nhìn Lý Thông rồi tâu:

- Thưa Đại Vương: Chúng con quả thật không hề quen biết hắn.

Diêm Vương cười mỉa:

- Thế mà người này đã khai với ta rằng: Chính hắn đã chém chết bọn yêu quái chúng bay đó!

Cả hai yêu tinh đều thốt lên:

- Ôi! Thạch Sanh! Thạch Sanh!

- Hai ngươi có nhận được mặt Thạch Sanh? Diêm Vương hỏi:

- Thưa Đại Vương – Trăn tinh tâu: Thạch Sanh là lực sĩ tài ba, võ nghệ siêu quần, hắn có bộ mặt đỏ, đôi mày xanh, hắn đã giao đấu và hạ thủ chúng con. Làm sao chúng con quên được! Nhưng tên này đâu có phải Thạch Sanh.

- Người này là Lý Thông nhưng chính hắn đã khai rằng: Hai ngươi bị chết vể tay hắn.

Đại bàng tức giận nói: Thưa đại vương, chúng con dẫu bị giết, nhưng là bị chết về tay kẻ anh hào, chứ đâu có chết về tay một kẻ hèn hạ như Lý Thông này!

Diêm Vương nói: Muốn biết sự thực, ta cho Lý Thông lần lượt giao đấu với hai ngươi. Nếu Lý Thông đánh thắng hai ngươi thì điều Lý Thông khai với ta là đúng. Lý Thông sợ cuống cuồng vội tìm cách từ chối:

- Thưa đại vương: Con từ khi bị sét đánh chết, đã mất hết sức mạnh rồi, bây giờ mà thi đấu thì tất nhiên con sẽ thua. Xin đại vương xá cho. Vả lại con không đấu với kẻ đã thua.

Diêm Vương lại phán:

- Lý Thông nghe đây! Ngươi giết chết trăn tinh và đại bàng bằng thứ vũ khí nào vậy!

- Thưa đại vương, con giết chúng bằng một con dao lớn.

Đại bàng vội hét lên:

- Tên Lý Thông xảo trá kia, ngươi nói rằng ngươi chém ta bằng dao lớn ư? Đó là điều nói láo. Ta bị Thạch Sanh bắn chết bằng mũi tên thần, rồi bị hắn chặt đầu bằng búa, dấu vết vẫn còn trên cổ ta đây.

Diêm Vương nói:

- Quỷ sứ đâu! Hãy kiểm định vết thương của yêu tinh ngay!

Sau khi xem xét vết thương trên cổ yêu tinh, quỷ sứ tâu: Thưa đại vương, trên cổ nó có dấu vết của tên bắn và dấu chém bằng búa chặt củi.

Lý Thông gào lên:

 Thưa đại vương, hai yêu quái này muốn giữ sĩ diện nên cố tình bảo bị chết về tay Thạch Sanh để báo hại con. Con mong đại vương minh xét.

Diêm Vương phán:

 - Ta hỏi Lý Thông, khi ngươi xuống hang để giết đại bàng, ngươi thấy hang động của đại bàng như thế nào, hãy tả lại cho ta nghe.

Lý Thông luống cuống, nói liều:

- Thưa Đại Vương, khi con xuống hang đại bàng, thì con thấy đó chỉ là một cái hang tối tăm, bẩn thỉu trong lòng núi đá.

 - Nói láo! - Đại bàng vội hét to. - Ngươi là tên hèn nhát nói mò. Ngươi đưa Thạch Sanh xuống hang theo dây, rồi khi kéo được công chúa lên rồi, ngươi ra lệnh cho quân lính lấp cửa hang lại định giết chết Thạch Sanh để ngươi đoạt lấy công chúa. Nhưng Thạch Sanh đã giết ta và cứu được Thái tử con vua Thủy Tề bị ta bắt nhốt trong cũi sắt. Thạch Sanh sống mà trở về dương thế được. Chính hắn là do Thái tử đưa hắn về Thủy Cung. Vua Thủy Tề đền ơn hắn nhiều thứ, nhưng hắn đã từ chối hết, hắn chỉ nhận cây đàn Tam Huyền. Và chính cây đàn ấy đã tố cáo hết tội ác của ngươi. Còn cung điện của ta mà ngươi dám gọi là cái hang tối tăm bẩn thỉu ư? Ngươi thật là một tên đê tiện dối trá. Ngươi không xuống hang của ta mà dám bịa đặt làm mất sĩ diện của ta.

Diêm Vương phán:

- Ta cho triệu Thái tử Thủy cung thì mọi việc sẽ sáng tỏ.

Một hồi sau, Thái tử thủy cung vào. Thái tử nghe hết sự việc, rồi chàng tâu rõ sự tình:

- Thưa đại vương, tôi không ưa gì đại bàng vì nó là kẻ thù của tôi, nhưng để đại vương xử án đúng sự thực thì tôi xin nói rằng: Tất cả những điều đại bàng vừa khai là chính xác. Còn những lời nói của Lý Thông là bịa đặt để lừa đại vương mong thoát tội.

 - Thế là đã rõ – Diêm Vương kết luận: - Tên Lý Thông đã lừa cả ta. Nhưng còn việc Thạch Sanh lấy trộm vàng bị Lý Thông bắt thì sao?

 - Thưa Đại Vương – Trăn tinh tâu: Không phải vậy. Hồi đó, con và đại bàng thù Thạch Sanh đến xương tủy, nên đã lấy vàng  từ kho nhà vua ra bỏ vào chỗ Thạch Sanh nằm để vu cho Thạch Sanh, mong vua giết hắn cho hả giận.

Diêm Vương gật đầu, quay ra hỏi Lý Thông:

- Ngươi còn chối cãi gì nữa không?

 Thấy hết đường dối trá, Lý Thông quay ra đổ tội cho mẹ hắn:

- Dạ thưa Diêm Vương, tất cả những việc con làm đều do bà này bày ra cả. Bà bắt con làm vậy là để bà được hưởng vinh hoa phú quý chứ con không có chủ tâm.

Mẹ Lý Thông không ngờ đứa con bất hiếu đến vậy, tức giận phản đối:

 - Dạ muôn tâu! Không phải thế ạ! Lý Thông là một tên gian ác. Nó làm tất cả, con không can dự.

Hai mẹ con họ Lý cãi nhau, đứa nào cũng mong thoát lấy thân mình. Diêm Vương quát:

 - Quỷ sứ đâu! Hãy cùm hai mẹ con họ Lý lại cho ta. Quan Thái sư! Ông hãy đọc to tờ cáo trạng.

Nghe xong, Diêm Vương phán:

- Bây giờ mẹ con ngươi muốn chọn hình phạt nào?

Mẹ con Lý Thông quỳ xuống van xin. Diêm Vương nói:

- Tội của các ngươi là bất nhân, bất nghĩa, bất hiếu không thể tha thứ được. Các ngươi sợ chết thì ta cho các ngươi được sống, nhưng sống trong dơ bẩn như chính cuộc đời của các ngươi. Mẹ con ngươi sẽ biến làm kiếp bọ hung sống trong bẩn thỉu và bị ngàn đời khinh ghét. Mẹ con Lý Thông thu mình nhỏ lại định kêu van thì bỗng trời sập tối. Sau một vài giây, mọi người chỉ thấy hai con bọ hung to tướng thay vào chỗ hai mẹ con họ Lý vừa quỳ. Bây giờ cứ gặp bọ hung thì ai cũng nghĩ: Đó là mẹ con Lý Thông gian ác.

 


 

 

Trần Hải