Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ra sức thi đua thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2018!
Từ khóa tìm kiếm Từ khóa tìm kiếm

VĂN XUÔI VĨNH PHÚC - Tuyển tập tác phẩm đoạt Giải thưởng Văn học Nghệ thuật 1997 – 2016, (phần 4)

(Ngày đăng: 19/01/2018, số lượt xem: 57)

 

 

 

LÊ KHÁNH

 

Anh hùng giữa đời thường

 

NHÀ XUẤT BẢN HỘI NHÀ VĂN, 2010

 

-----------------------------

 

Tập ký đoạt Giải Khuyến khích,

 Giải thưởng VHNT tỉnh Vĩnh Phúc 5 năm lần thứ III

(2006 - 2010)

 

 

 

 

 

 

ANH HÙNG GIỮA ĐỜI THƯỜNG 

 

  Cách đây gần 3 năm chúng tôi đã vào nhà anh. Khi đó tìm được anh thật khó, bởi cuộc sống anh phải bươn chải giữa nền kinh tế thị trường sôi động và khắc nghiệt. Kiếm được bát cơm ăn cho gia đình không dễ chút nào cả. Sẵn cái bằng bác sĩ thú y, về hưu, lại mang trên mình thương tích của những trận chiến đấu ác liệt ở miền Tây Nam Bộ nên không thể xốc vác hết công việc nặng nhọc. Nhờ có cái “cần câu cơm” anh đem ra chưng giữa bàn dân thiên hạ. Ấy là nghề hoạn lợn. Dù kiếm được chút đỉnh, nhưng cái tên “hoạn lợn” đã làm nhụt chí anh nhiều lần. Họ chế giễu, đùa cợt, nhiều khi ác ý, nếu không vững vàng quyết tâm, có lẽ anh cũng phải bỏ nghề lâu rồi.

  Được cánh báo chí “khui” ra anh. Đơn vị cũ mới sực nhớ rằng: Anh được đề nghị xét tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang từ lâu rồi, chẳng hiểu vì lý do gì mà đến giờ anh vẫn chưa được công nhận. Nhờ sự quan tâm của các ngành, các cấp từ xã đến tỉnh nên danh hiệu cao quý đó đã đến tay anh. Niềm vui lớn lao khôn tả, song nỗi buồn lại đan xen. Anh than thở từ khi được Nhà nước trao tặng danh hiệu Anh hùng, đi đến đâu làm nghề anh cũng bị bà con từ chối. Bởi bà con quý mến anh và tôn vinh anh. Ai lại Anh hùng mà đi làm nghề hoạn lợn! Trời ạ, các vị cứ nghĩ rằng: Người Anh hùng thì phải đạo mạo lắm, đi đứng tác phong, công việc phải cao sang, chứ ai lại đi làm nghề thấp kém như thế này?

Từ ấy, "cái cần câu” của anh tưởng như phải gác. Nhưng anh vẫn kiên trì, với tấm lòng yêu nghề nghiệp và thái độ hoà nhã, khiêm tốn dễ gần nên bà con dần hiểu anh hơn. Điều đó càng tôn thêm phẩm chất anh hùng giữa đời thường.

Năm nay chúng tôi về quê anh, xã Cao Đại nơi mảnh đất nửa bãi sa bồi, nửa nội đồng trồng lúa ba vụ. Một vùng quê là đỉnh tam giác của vùng lúa châu thổ sông Hồng. Lúa hè thu đã xanh mượt trời quê. Con lũ đầu mùa đang dâng đỏ phù sa, cuồn cuộn chảy xiết. Anh Minh, phó chủ tịch xã dẫn chúng tôi đến thăm nhà anh. Trên đường đi, anh Minh khoe:

Hôm nay đưa các anh đến trang trại nhà Anh hùng Nguyễn Văn Thoa ở ngoài cánh bãi xã đã cho mượn 2 mẫu đất để làm trang trại chăn nuôi bò và trồng cỏ. Đường dây điện trị giá 1,6 triệu, xã cũng đầu tư cho anh, tất cả mong và dành cho anh mọi thuận lợi để rồi cái trang trại ấy sẽ làm điểm nhân điện rộng lớn hơn.

Khi đoàn cán bộ đến cổng, anh Thoa vừa vệ sinh chuồng trại xong. Đàn bò 12 con, bụng căng tròn đang nhởn nhơ nhai trầu, vung tít cái đuôi theo bản năng của chúng.

Vợ anh Thoa tất tả cho gà ăn. Đàn gia cầm đủ các màu sắc hòa trộn kín sân.

 Căn nhà hẹp 2 gian, nơi anh chị ở và điều hành công việc. Đứa con út của anh chị, năm nay học lớp 11, đang kỳ nghỉ hè cũng bận rộn phụ giúp bố mẹ. Việc cứ bộn bề khiến anh luôn chân luôn tay, như người bận con mọn. Tôi hỏi:

- Công việc này so với đánh giặc anh thấy thế nào?

 Anh cười, để lộ hai hàm răng trắng muốt, nét mặt vui tươi dù vẫn có phần ưu tư:

- Đánh giặc phải đối mặt với gian khổ, hy sinh, mất mát. Giữa chiến trường người lính chẳng có toan tính gì ngoài mục đích đạn đã lên nòng là nhằm thẳng địch mà bắn, bắn trượt là mình thua. Ấy vậy nên phải tập trung cao độ tinh thần quyết chiến và lòng căm thù giặc. Còn ngày nay làm kinh tế lại khó khăn hơn nhiều so với đánh giặc.    

Anh dừng giây lát, rót nước mời mọi người uống như tạo ra khoảng cách để có câu trả lời chuẩn xác và hợp lý hơn. Vẫn ánh mắt hiền từ, anh nhìn chúng tôi chậm rãi tiếp:

Khó khăn ở chỗ, nếu không tính toán chi li, đầu tư không đúng trọng điểm, sử dụng đồng vốn không sinh lời, thì coi như thất bại. Mà đã thất bại trong kinh tế thì gia đình sẽ trở về sự khốn cùng nghèo khổ.

Anh thổ lộ: UBND huyện và xã đã rất ưu ái tạo cho anh mọi thuận lợi, đặt niềm tin ở anh nên đã hỗ trợ gia đình anh 50 triệu đồng không tính lãi 2 năm; lại còn đang điều kiện về cơ sở hạ tầng, cho anh mượn đất đai để anh tạo dựng nên một điển hình trong một đề án tổng thể nhằm phát triển đàn bò thịt cho giá trị kinh tế cao, tạo nên bước bứt phá xóa đói giảm nghèo, nâng cao đời sống cho nhân dân”.

Vinh dự là như vậy, ưu ái là vậy, nếu không có kế hoạch lấy ngắn nuôi dài, có bước đi cụ thể, dần dần đồng vốn cạn kiệt, nợ nần chồng chất, uy tín và danh dự sẽ sụp đổ theo.

Suy nghĩ trăn trở hàng tháng bàn đi tính lại, vợ con góp ý và ủng hộ, nên anh trút đi được một gánh nặng. Anh càng yên tâm khi có người vợ hiền tần tảo, cần cù cùng kề vai san sẻ trách nhiệm của công việc; cùng tính toán kỹ lấy ngắn nuôi dài, trồng cây gì, nuôi con gì để có được đồng vốn sinh lời.

Hôm chúng tôi về, trang trại của anh hùng Nguyễn Văn Thoa có 12 con bò lớn nhỏ, lứa nhỏ nhất 6 -7 tháng tuổi, lứa lớn đã gần một năm.

Kế hoạch của anh thật rõ ràng: 6 con bò trong 2 năm sẽ cho đẻ ra giống bò lai sind, để từ thế hệ F2 sẽ tạo nên bò sữa. Từ lứa thứ 2 trở đi, anh cho phối tinh giống bò cao sản, mà mục tiêu vừa cho bò thịt, vừa nhân ra bò sữa. Dự kiến sau 2 năm anh sẽ thu hồi vốn để trả cho ngân hàng. Nếu vay tiếp anh đủ sức để “gánh” lãi với ngân hàng.

Trước mắt, anh đầu tư thật thận trọng, số tiền “đổ” vào trang trại đã “vênh” gần trăm triệu. Là bác sĩ thú y nên anh càng cẩn trọng ở khâu chăm sóc, thức ăn nước uống, công tác vệ sinh chuồng trại, môi trường và dự phòng tủ thuốc bệnh. Khi có đàn bò, là anh đã hoàn thiện hệ thống giếng khoan, hầm biogas nhằm thu gom toàn bộ nguồn dư thải từ thức ăn, phân, nước thải vào hầm ủ, để các thứ đó lại phục vụ cho tưới chăm đồng cỏ. Khí mê-tan cho anh đun nấu thả phanh.

Bên cạnh việc đầu tư chiều sâu, anh thực hiện chương trình “lấy ngắn nuôi dài”. Ngoài việc trồng cỏ cho bò, anh gieo xen các loại cây ngắn hạn như đậu tương, vừng, ngô, lạc... những thứ cây này vừa cho thu hạt vừa làm thức ăn cho bò.

Đàn gia cầm như vịt, ngan, gà, lợn trên ba tháng xuất chuồng một đợt. Nguồn thu này đã cho anh đủ lương “nuôi” 3 người phục vụ trang trại.

Cánh bãi phù sa màu mỡ, cây cối mọc xanh tươi, tạo nên phong cảnh mát mẻ đẹp đẽ. Chỉ cần xua đàn bò đi trên các nẻo đường cũng đủ cỏ cho chúng gặm no nê. Chính vì vậy mà Cao Đại, nhà nào cũng nuôi bò. Nhà ít một con, nhà nhiều có tới 4 - 5 con. Anh Đặng Quốc Phương, Chủ tịch UBND xã nói với mấy “nhà đài”:

- Dân Cao Đại có hơn 4 ngàn khẩu, mà đàn bò có tới hơn ngàn con. Chúng tôi xây dựng trang trại điển hình như hộ anh Thoa để năm tới nhân rộng toàn xã. Chắc chắn số bò thịt và bò lai sind cho sữa sẽ nâng lên nhiều hơn dân số quê tôi.

Như để chứng minh cái luận chứng có sức thuyết phục ấy, anh Phương giải thích kỹ hơn.

- Nếu bò thịt được giá như hiện nay, chắc chắn đầu tư nuôi bò thịt có hiệu quả cao và không bị rủi ro. Nhất là thịt bò lại là thực phẩm sạch, ngon, đang được thị trường mến mộ.

Chúng tôi hỏi cắt ngang:

- Chăn nuôi mở rộng, môi trường sinh thái ảnh hưởng, bệnh của gia súc phát triển. Đây là vấn đề lớn xã có tính đến không?

Anh Phương cười, đáp nhanh:

- Chúng tôi đã có quy hoạch cả rồi. Nhất thiết phải lo vệ sinh môi trường luôn trong lành. Nhà nào cũng phải xây hầm biogas, hệ thống thoát nước vệ sinh đúng với quy hoạch. Còn cán bộ thú y từ xã xuống cơ sở phải đủ người, đủ thuốc dự phòng. Chúng tôi đã cử hàng chục cháu đi học rồi, tương lai còn phải đào tạo thêm, về vấn đề này đã có anh Nguyễn Văn Thoa là bác sĩ thú y phụ trách.

Khi chúng tôi đem điều này trao đổi với anh Thoa. Anh cười không giải thích, đưa chúng tôi xem quầy thuốc kê chật gian nhà. Ở trong tủ thuốc ấy chẳng thiếu thứ gì. Giống bò mà cũng có cả thuốc cảm cúm, ho, tiêu chảy... Nghe anh kể, chúng tôi tròn mắt nhìn nhau. Hóa ra con người quan tâm chăm lo từng bữa ăn, giấc ngủ, liều thuốc cho chúng để rồi chúng cứ lớn phổng phao, lại sinh sôi nảy nở, trả ơn cho người. Âu đây cũng là quy luật của muôn thuở: Có dưỡng mới có sinh. Người Anh hùng trong đời thường, đang gieo mầm cho dự án đàn bò của vùng quê Cao Đại ngày càng cho tín hiệu vui.

Khi chia tay, anh Nguyễn Văn Thoa nói vui với chúng tôi một câu rất lính:

- Dự án chuẩn, người lính chỉ biết đến chiến thắng.

Chúng tôi tin anh làm được điều đó.

 

 

  

 

 

SÁNG MÃI VIÊN NGỌC RUBY

 

Y hẹn, tôi đáp chuyến bay ATR72 xuống sân bay Tân Sơn Nhất lúc chín giờ sáng. Đón tôi là tài xế của Tổng Giám đốc Công ty thuốc thú y Việt Nam Ruby. Anh mời tôi ngồi, rồi chuyện trò hồ hởi, tạo nên không khí đầm ấm, dễ chịu, làm cho tôi quên đi mỏi mệt sau chuyến bay qua biển.

Chạy mười lăm phút ô tô, chúng tôi đã về đến trụ sở công ty quận Phú Nhuận – Thành phố Hồ Chí Minh. Cả hai vợ chồng Tổng Giám đốc công ty đang đợi tiếp tôi ở phòng khách.

Trong lúc chờ làm việc, ngắm trụ sở công ty bề thế, tôi hỏi người lễ tân:

Trụ sở này hoàn thành lâu chưa?

Anh đáp nhanh:

- Dạ, hoàn thành năm 2008.

Rồi anh cao hứng khoe:

- Từ khi động thổ đến lúc hoàn thành trụ sở tính đúng 3 năm 12 ngày. Tổng chi phí hết ba triệu mỹ kim, quy ra tiền Việt Nam cỡ năm tư, năm lăm tỷ.

Quả thật, khuôn viên công ty có mặt bằng khá đẹp và bề thế. Các phòng ban, nơi làm việc, hội trường, phòng truyền thống, bể bơi, phòng tắm xông hơi, sân chơi… đều có cây cảnh cùng ríu ran tiếng chim hót... ví nôm na như một thế giới thu hẹp, tạo nên không khí ấm cúng, thân thiện. Ai bước vào nơi đây đều có cảm giác như vào thiên đường nguy nga, tráng lệ

Tôi mải ngắm nhìn tấm biển sơn son thiếp vàng mà lòng còn đang vương vấn với cái tên nghe khá lạ: “Tổng công ty thuốc thú y Việt Nam Ruby”.

Bỗng có tiếng gọi từ phía sau, tôi quay lại, thì ra Tổng Giám đốc Cao Văn Triều cùng vợ là Lê Thị Hồng. Hai ông bà mời tôi vào phòng khách.

Bỏ qua nghi thức xã giao, chúng tôi chuyện trò như người thân trong gia đình. Ông Triều mời:

- Ta uống nước, ăn nhẹ rồi mời anh tham quan trụ sở, sau đó làm việc theo lịch.

Nói “theo lịch” là bởi điều hành một công ty độc quyền thuốc thú y Việt Nam có mạng lưới phân phối trên một ngàn đại lý trong toàn quốc, có quan hệ buôn bán với 25 nước, có doanh số hàng ngàn tỷ đồng... thì việc tiếp bất cứ ai cũng phải qua trợ lý xếp lịch, bởi thời gian đối với người lãnh đạo công ty là vàng, là ngọc.

Riêng với tôi, vợ chồng Tổng Giám đốc công ty có “ưu ái” đặc biệt, đó là dành trọn vẹn một ngày để dẫn tôi tham quan tổng kho, khu trang trại dự định xây nhà máy, khu du lịch sinh thái... nghĩa là đáp ứng yêu cầu tư liệu cho bài viết này.

Trong câu chuyện, tôi đặc biệt chú ý đến những tâm tư, suy nghĩ và cách làm việc của Công ty Ruby.

Khi tiếp xúc với những doanh nhân, hầu như ai cũng nghĩ: “Phi thương, bất phú” nghĩa là muốn làm giàu thì đi buôn. Mà buôn bán thì phải cạnh tranh, phải giành giật và bằng mọi cách, kể cả “luồn” luật để trốn thuế. Có thế mới giàu. Nhưng với vợ chồng ông Cao Văn Triều vốn sinh ra và lớn lên bên luỹ tre làng với cánh đồng lúa xanh mượt trời quê vùng trung du Vĩnh Phúc. Bao kỷ niệm của thời ấu thơ, ăn miếng cơm thơm với bát canh cua đồng, nghĩ về người nông dân hai sương, một nắng làm ra sản phẩm nuôi sống con người, nhưng phải gánh chịu nhiều rủi ro thua thiệt nhất. Mùa màng phụ thuộc vào trời đất. Chăn nuôi thì quảng canh, nếu chẳng may xảy ra dịch bệnh thì con lợn, con gà, con vịt và các loại gia cầm của người nông dân đành chịu chung số phận phó mặc cho trời, cho đất... Thế nên ông mới bàn với bà: Phải mở công ty chuyên thuốc chữa trị bệnh cho gia súc, gia cầm mà hơn 80% hộ nông dân Việt Nam đang ngóng đợi.

Là bác sỹ thú ý chuyên ngành chăn nuôi, bà Hồng càng hiểu cặn kẽ từng loại bệnh của lợn, của trâu, bò, ngan, và vịt. Nhưng bán thuốc nào phù hợp, giá rẻ, lợi ích cho nông dân. Tư vấn nhóm thuốc nào cho khách về chăn nuôi phòng là chính, chữa là phụ. Riêng xây dựng giá cũng nhất quán từ các đại lý xuống đến cơ sở, không “phết phảy”,  không cho phép nâng giá cả nằm trong hoá đơn đỏ, bất kỳ ai mua, dù nhiều, dù ít đều phải có hoá đơn, để giám sát trách nhiệm và nghĩa vụ thuế của công ty.

Hai ông bà mở rộng quan hệ quốc tế để trao đổi, học tập nhằm hội nhập với thị trường chung, giúp tốt nhất cho người nông dân Việt Nam cập nhật mọi tin tức về phát triển giống, cách chăm sóc, bảo vệ giống cho năng suất cao.

Là một doanh nhân phục vụ hai phần ba dân số đất nước, nên niềm vui và nỗi buồn của người nông dân đều được ông bà chia sẻ và chung chịu.

Nghe tin một vùng quê có dịch trâu bò lở mồm, long móng, tỉnh A có dịch lợn tai xanh, tỉnh B xuất hiện dịch gà, dịch vịt thì trên công ty từ Tổng Giám đốc đến nhân viên đều tập trung vào việc làm sao để cân đối thuốc, điều tiết thuốc, quan hệ với nước bạn để có loại thuốc đặc trị nhanh nhất, đưa về các vùng dịch kịp thời chữa chạy, dập tắt mầm dịch, đem đến niềm vui cho mọi nhà, đó cũng là niềm vui của doanh nghiệp.

Kinh doanh bằng cái tâm, cái thiện và bằng trách nhiệm công dân cao nhất, bởi ông Triều luôn quan niệm: “Là nhà khoa học, để lại cho đời kho báu kiến thức, trí tuệ, những thành tựu khoa học giúp con người chinh phục thiên nhiên, nâng cao đời sống cho nhân loại, Vậy thì là doanh nhân cũng phải để lại cho xã hội của cải, vật chất”.

Vậy chỉ có làm giàu chân chính, làm giàu từ giọt mồ hôi đổ ra, để đóng góp của cải cho xã hội, làm nghĩa vụ cộng đồng, ở trong trái tim ông bà không có loạn nhịp kiểu kinh doanh gian lận.

Đi thăm phòng truyền thống, những bằng chứng nói lên tất cả: Mười năm thành lập công ty (2000 - 2010) ông bà đã vinh dự 2 lần được vinh danh là doanh nhân thành đạt trong tốp 10 doanh nhân tiêu biểu.

Ông là còn liên tục là doanh nhân đóng thuế cao nhất trong khối doanh nghiệp tư nhân. Bình quân mỗi cán bộ, công nhân viên trong công ty Ruby một năm nộp thuế từ một tỷ đến hai tỷ đồng. Năm 2009, trong tình trạng suy thoái chung của toàn cầu, nhưng công ty Ruby vẫn nộp thuế trên 50 tỷ đồng. Dự kiến năm 2010 mức thuế đóng cho Nhà nước của Công ty Ruby sẽ tăng lên 100 tỷ đồng.

Khi chúng tôi thực hiện bài viết này, Công ty Ruby đang tấp nập chuẩn bị tổ chức lễ đón nhận Huân chương Lao động cho thành tích 10 năm xây dựng và phát triển.

Ở bất kỳ tổ chức nào, bộ phận nào trong công ty như chi bộ, đoàn thanh niên, công đoàn, phòng kinh doanh, phòng tiếp thị, đội xe, tổng kho... không khí làm việc cũng đều sôi nổi, hào hứng như một cỗ máy vận hành trơn tru, nhịp nhàng.

Công ty Ruby luôn duy trì nề nếp làm việc tự giác, nghiêm túc. Tổng Giám đốc quy định: Mỗi cán bộ, công nhân viên, từ Tổng Giám đốc trở xuống, đều phải hoàn thành chỉ tiêu pháp lệnh là đóng thuế cho nhà nước. Thuế từ mức giao doanh số, trong đó có tỷ lệ giá trị gia tăng của thuế. Vì thế, khó có ai gian lận mà trốn thuế được.

Đó mới thực sự là điều lạ. Bởi trong khi có những doanh nghiệp quốc doanh vẫn còn có tư tưởng “luồn” từng kẽ hở của luật để lập “quỹ đen”, bỏ ngoài sổ sách những nguồn thu để bớt xén... cho riêng mình; thì ở công ty Ruby này lại sáng lên tinh thần yêu nước, sản xuất, kinh doanh chân chính để “được đóng thuế”.

Tôi hỏi một trưởng phòng làm việc trong công ty được biết mức lương của anh hưởng là trên ngàn đô, nhân viên có thu nhập thấp nhất trong công ty cũng đạt 5 - 6 triệu đồng/tháng. Bình quân, có mức lương trên 10 triệu đồng/tháng. Hằng năm, cán bộ, công nhân viên còn được công ty thưởng tiền, thưởng phép. Nhân chuyến đến thăm và làm việc với công ty, chúng tôi được chứng kiến một công nhân của công ty cưới chồng. Hai ông bà Triều – Hồng đã bố trí hơn mười anh em cán bộ nhân viên công ty có thành tích, mua vé máy bay đi và về từ thành phố Hồ Chí Minh sang Phú Quốc để dự lễ cưới đó. Cô dâu được Phó Tổng Giám đốc tặng 5 chỉ vàng và một số món quà quý giá khác. Quyền lợi người công nhân được đảm bảo, ai cũng tình nguyện làm hết năng lực, làm suốt đời để vì tình yêu công ty, vì thương hiệu của Ruby.

Mỗi khi nhắc đến Công ty Ruby thì từ đồng chí Uỷ viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành uỷ Lê Thanh Hải đến các đồng chí trong Thường vụ Quận uỷ quận Phú Nhuận đều dành những lời tốt đẹp nhất, đánh giá về hoạt động của công ty.

Mười năm thành lập, năm nào Chi bộ công ty cũng đạt danh hiệu “Chi bộ trong sạch vững mạnh”. Kinh doanh lành mạnh, với mục tiêu phục vụ nhân dân là trên hết, đóng góp của cải cho xã hội, quan tâm đến đời sống cán bộ, công nhân viên, chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật và tích cực tham gia hoạt động xã hội. Với những đóng góp đó, công ty Ruby đã được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Lao động, nhiều bằng khen các loại.

Gần đây nhất, tháng 10/2009, Giám đốc Công ty Rubi đã vinh dự được Nhà nước vinh danh là doanh nhân "Tâm - Tài".

Tôi gặng hỏi vì sao ông bà lại được nhận phần thưởng đó?

Ông Triều nhìn tôi, tươi cười giải thích:

- Được vinh danh cúp "Tâm - Tài" trước hết phải đạt 2 yêu cầu: Một là kinh doanh thành đạt, đóng góp của cải cho nhà nước tốt nhất. Thứ hai làm từ thiện và tham gia đóng góp lợi ích cho cộng đồng.

 Bà Hồng tiếp lời chồng:

- Nhân dịp 27/7 "Uống nước nhớ nguồn", thành phố tổ chức đêm thơ “Màu hoa đỏ”, chúng tôi ủng hộ 500 triệu. Làm hơn trăm sổ tiết kiệm tặng các bà mẹ Việt Nam anh hùng, các gia đình liệt sỹ, các nạn nhân chất độc da cam, mỗi sổ trị giá ba triệu đồng và xây gần 30 căn nhà cho các hộ nghèo

Trong câu chuyện, tôi được biết, ông bà Triều - Hồng còn nhiệt tâm đóng góp công sức cho quê hương. Dịp về thăm quê ở làng Vân Ổ, xã Vân Xuân, huyện Vĩnh Tường, ông bà đã ủng hộ trên hai tỷ đồng để làm đường và xây chùa thờ các vị thần linh noi gương sáng cho đời.

Chẳng cứ gì quê, bất cứ nơi nào trên đất nước, nếu hai vợ chồng ông bà Triều - Hồng từng đến, thì dù to hay nhỏ ông bà đều có chút gọi là đóng góp. Ví như đóng góp 50 triệu xây dựng chùa ở đất mũi Cà Mau...

Bà tâm sự: Nhờ có đường lối đổi mới của Đảng, như ngọn đuốc soi đường để ông bà nhìn rõ lối đi, mở ra cuộc đời như hôm nay. Nhớ lại ngày đầu về nghỉ hưu, hai vợ chồng có mỗi tài sản quý giá nhất là tấm bằng Tiến sĩ của ông, và bằng Bác sỹ thú y của bà. Ông thì chuyên ngành bò sữa, lăn lộn ở nông trường Ba Vì cùng anh hùng Hồ Giáo, rồi lại vào nông trường Bến Cát. Cuộc đời bươn trải đã cho ông tầm nhìn xa để tìm bước đường cho riêng mình. Vốn liếng là kiến thức, là trường đời. Khi nghỉ hưu, tiền không, nhà không, hai vợ chồng phải lo chạy mối hàng để kiếm sống rồi ông mạnh dạn xin thành lập công ty. Kể ra cũng liều, bởi lúc thành lập trong tay ông bà chỉ là con số “4 không”: Không vốn, không nhân viên, không nhà, không trụ sở.

Nhà phải thuê, rồi đi ở nhờ dưới chân cầu thang nhà một người bạn. Nhờ vốn ngoại ngữ của ông từ những năm làm luận văn tiến sĩ ở Ấn Độ, Cu Ba, nên công việc giao dịch, kinh doanh của ông bà cũng thuận lợi. Bà thì sống giản dị, chất phác, ngay thẳng, dễ gần nên ai cũng quý mến.

Có một cái tết bà nhớ mãi, vì mải bươn chải, lo toan, nên tận chiều 30 tết mà ông bà vẫn chưa có Tết. Thôi thì lấy niềm vui an ủi là chính. Ông nghĩ phải cố vươn lên, đây là thời cơ cho phép mình “bung ra”, sẽ có ngày mở mặt. Còn bà thì lang thang kiếm những cành hoa người đi chợ muộn vứt bỏ, chau chuốt lại thành một bó hoa tươi đem về nơi trọ cắm vào bình mừng xuân. Mười năm xây dựng công ty, mười năm vật lộn với thương trường, bây giờ nhìn lại cơ ngơi của công ty, ông bà có thể thở phào và nở nụ cười rạng rỡ. Toàn bộ vốn liếng, ông đã đầu tư mua hơn 40ha đất. Ở Sa-na-uy Lâm Đồng là 12ha. Đó là khu du lịch sinh thái mang nét văn hoá và hồn Việt của 4 ngàn năm đọng lại. Rồi vài chục ha đất thành phố Hồ Chí Minh, nơi ông bà đang quy hoạch để xây nhà máy thuốc thú y lớn nhất khu vực. Ngoài đảo du lịch Phú Quốc ông bà cũng có dăm ha đang trồng cây cảnh, tương lai sẽ xây dựng khu khách sạn khang trang bề thế.

Bây giờ tôi mới có dịp thắc mắc về cái tên Công ty Ruby.

Bà Hồng cười tươi giải đáp: Đó là tên ghép của mẹ con em đó. Cháu trai em tên là Ngọc. Em tên là Hồng, cái tên ghép Hồng - Ngọc là chỉ viên đá quý Ruby. Đá Ruby phải kỳ công mài giũa, chế tác mới thành quý hiếm. Em đặt tên công ty như vậy là để đặt niềm tin cho mọi người phải giữ tiếng cho công ty thật trong sáng, không có tì vết, mãi mãi trở thành thương hiệu cho đời...

Thì ra tiêu chí bắt đầu từ cái “mỹ từ” đẹp nhưng mang sức sống mãnh liệt của nó.

Trên đường từ tổng kho ở Biên Hoà trở về công ty, chia sẻ với tôi, bà Hồng luôn đau đáu nghĩ về quê hương Vĩnh Phúc thân yêu. Bà không biết làm thơ, nhưng yêu thơ lắm, mở cặp, bà lấy tặng tôi bài thơ bà viết khi về dự lễ khánh thành chùa Vân Ổ ở quê hương Vĩnh Tường. Bà nói với tôi:

- Em muốn dọc hai con đường từ Vĩnh Tường đi Vĩnh Yên được trồng những cây cọ Malaixia, cây xoè tán rất đẹp, cho ta quả để ép dầu, thu nguồn lợi to lớn. Không làm được phí lắm anh ạ.

Khi chia tay, ông bà còn níu kéo tôi:

- Anh gắng lại thêm một ngày nữa. Bởi ngày mai bọn em đón đoàn cán bộ huyện Vĩnh Tường do anh Lê Chí Quang - Bí thư Huyện uỷ dẫn đầu vào thăm công ty. Mục đích chính của bọn em đưa đoàn đi thăm chợ đầu mối ở thành phố Hồ Chí Minh. Chắc chắn các anh sẽ tích luỹ được nhiều kinh nghiệm để xây dựng khu thương mại Thổ Tang bề thế và hiệu quả hơn.

Chuyện về vợ chồng doanh nhân Cao Văn Triều và Lê Thị Hồng làm giàu từ hai bàn tay trắng, tới nay đã có số vốn liếng cơ ngơi lớn rất đáng khâm phục, có được bạn hàng ở gần 30 nước trên thế giới kính trọng, chắc phải viết hàng trăm trang. Cuối bài viết này, tôi xin mạo muội được nhắc lại lời bà Hồng thường nói khi làm từ thiện, khi đóng góp cho xã hội hàng tỷ, hàng chục tỷ đồng, để mong sao ai cũng cố gắng vươn lên, tuỳ sức của mình đóng góp cho quê hương, cho đất nước ngày càng giàu đẹp hơn, đó là ông bà luôn quan niệm: “Cho tức là nhận”...

 

 

   

 

 

 

NGƯỜI BƯU TÁ XÃ

 

Ông vốn là người dễ dãi, vui tính, nên lũ trẻ con trong làng, ngoài xã hễ nhìn thấy là chúng đồng thanh reo:

- Chúng cháu chào ông Ngọ!

- Ông cho cháu mượn tờ báo!

Lại có tiếng nhao nhao cướp lời:

- Cháu có thư không ông?

Dù có bận mấy đi nữa, ông cũng dừng lại cười đáp:

- Hôm nay báo Thiếu niên Tiền Phong chưa có!

Rồi ông nhìn mặt từng đứa trẻ ngộ nghĩnh ngây thơ, bảo:

- Tốp các cháu không có thư đâu!

Ông trả lời vậy và hứa nếu cháu nào ra điểm Bưu điện văn hóa của xã sớm nhất, ông sẽ ưu tiên cho đọc các loại sách báo trong ngày.

Cứ vậy, ngày lại ngày, ông Lê Văn Ngọ - người bưu tá xã Trung Kiên có cái tên rất hợp với cái nghề chạy thư cần mẫn với công việc được giao.

Chẳng biết có phải ông sinh năm ngựa hay không, nhưng với tuổi 59 vừa bước sang, người ta cũng đoán ông sinh năm 1942 đúng năm Ngâm Ngọ rồi. Các cụ nhà ta thời xưa hay đặt tên cho con đúng vào năm con giáp là vậy.

Nhiều lúc vui tếu ông thường bảo: "Tôi cầm tinh con ngựa, nên số tôi cứ phải chạy suốt ngày, mà cái nghề chạy thư cho xã, thôi thì thập cẩm thứ đều trút lên vai anh bưu tá. Nào là công văn, thông tri của xã, thông báo tiêm phòng, kế hoạch hóa gia đình của Trạm Y tế, thư, báo của các đoàn thể Hội Cựu chiến binh, Hội nông dân, Hội phụ nữ, Thanh niên. Thậm chí cả giấy báo thuế của khu nhờ đưa đến từng hộ gia đình…

Quê ông Lê Văn Ngọ thuộc vùng bãi ven sông Hồng huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc nên cứ vào mùa lũ bão, cái khổ của người đưa thư là phải lội nước, đội mưa, vượt bão để đưa từng loại công văn, chỉ thị đến từng vùng dân cư, kịp thời xử lý các tình huống xảy ra khi "thủy tặc" hoành hành.

Ngồi trò chuyện với tôi, ông nhẩm tính "Tôi đã có thâm niên 28 năm trong ngành rồi đấy. Nếu được cộng 6 năm làm lính thông tin trong quân đội, vị chi cũng có 34 năm công tác rồi. Thôi thì gắng thêm 1 năm nữa. Nếu vết thương thỉnh thoảng trở trời trái gió nó không hành hạ thì tôi sẽ gắng thêm…".

- “Vết thương” mà ông Ngọ nói tới đó là cái chân cà nhắc của ông bị thương trong một trận đánh địch ở vùng đồng bằng Quảng Ngãi, Trung Bộ. Trận đánh ác liệt, pháo bầy và bom địch cắt đứt đường dây hữu tuyến giữa Sở chỉ huy tiểu đoàn với cấp trên. Chiến sĩ Ngọ khi ấy được lệnh cầm thư chạy bộ để truyền đạt mệnh lệnh chiến đấu kịp thời. Vượt qua làn bom dày đặc của địch, ông hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Nhưng trên đường trở về Sở chỉ huy ông bị bom giặc trải thảm chặn đường, mảnh bom cắm vào chân ông gây thương tích. Sau đó, ông được ra Bắc điều trị, an dưỡng. Vết thương lành, ông được phục viên trở về địa phương với thương tật xếp hạng 2/4.

Người thương binh ấy không nghỉ ngơi lấy một ngày. Ông cầm quyết định nộp cho xã, đồng thời cũng xin nhận nhiệm vụ ngay. Bởi giữa năm đó, năm 1972 đất nước ta đang tăng cường mạnh công tác tuyển quân cho tiền tuyến. Ở hậu phương càng cần lực lượng xung kích phục vụ cho các trận địa pháo bảo vệ miền Bắc. Thấy đề nghị của ông hợp lý, xã hoan nghênh và giao luôn cho ông chức bưu tá xã, vừa là hợp với việc trong quân ngũ, vừa hợp với sức khỏe của ông.

Trong 28 năm thực thi công việc, có nhiều kỷ niệm in đậm trong đời ông thật khó phai nhòa.

Đó là kỷ niệm đợt lũ năm 1996, vỡ đê chống tràn mạn Vĩnh Thịnh, Vĩnh Tường. Lũ đổ ập vào 6 xã ven sông, trong đó có xã Trung Kiên quê ông.

Hồi đó, hệ thống thông tin điện thoại và loa truyền thanh chưa có, nên nhiệm vụ của người bưu tá là phải nhanh chân chạy bộ truyền mệnh lệnh của ban chống lụt bão đến từng khu dân cư. Địa thế xã dài dằng dặc, từ đầu xã đến cuối xã có tới hơn 6 cây số.

Suốt đêm đội mưa, đường trơn như mỡ, xe đạp không thể đi được. Ông Ngọ lội bộ bám đường chạy xuống Phần Xa, sang Mai Khê, lên Trung Giang, Tân Bồi.

Đường ngập bùn vữa, mấp mô ổ gà khiến ông nhiều lần ngã đau điếng, nhưng với trách nhiệm nặng nề được giao phó, ông phải chạy trước lúc lũ tràn vào quê, để bà con kịp sơ tán người và tài sản.

Khi những chỉ thị, mệnh lệnh được truyền đến từng cụm dân cư, bà con kịp chạy lương thực, thực phẩm lên nơi cao ráo, kịp đưa gia cầm, gia súc vào đồng, cũng là lúc ông mệt nhoài, bởi sau 2, 3 giờ lo tròn công việc chung, ông mới nghĩ đến việc nhà.

Nhưng thật oái ăm, khi ông về đến nhà thì nước đã đổ ập lưng nhà. Đàn lợn nái không kịp chạy đã bị nước cuốn trôi. Con bò nái bụng chửa kềnh càng nước dâng chấm bụng. Bà vợ ông hoảng hốt cứ chạy đi chạy lại lo thu xếp chổi cùn, rế rách, quần áo cũ xếp nơi này không yên tâm, lại quẳng chỗ kia. Ông thật cảm thông với tâm lý người phụ nữ trước cảnh tượng hãi hùng này, nên bình tĩnh, nhẹ nhàng cùng bà đưa vội lương thực và đồ thiết yếu lên bè chống lụt. Ông dặn bà ngồi tạm, che vải mưa, đợi ông đánh bò vào nội đồng gửi bà con.

Bà giục ông thúc bò nhanh lên, vì "Con trâu là đầu cơ nghiệp" đấy. Hai vợ chồng ăn dè, tích cóp kể cả phụ cấp thương tật của ông mới kiếm được con giống mong ngày mong đêm hy vọng đỡ cho con bê nhỏ thì nay lũ ập về…

Mệt nhoài nhưng ông quên tất cả, ông dặn bà xã "Nhớ cẩn thận đấy".

Nước lũ xối xả chảy ầm ầm. Trời thì mưa giông, gió giật, từng đợt sóng gối nhau như muốn nhấn chìm tất cả.

Trên cánh đồng Miêu Cốc nước lũ đỏ au, cuồn cuộn chảy. Phía xa có chiếc thuyền bị lật úp, có tiếng kêu í ới, có bàn tay chới với mong cầu cứu. Không chần chừ, ông buộc vội thừng bò vào gốc cây ven đường, mặc cho nước xiết dưới chân như muốn xô đẩy tất cả cùng dòng lũ. Trước mặt ông, con người còn quan trọng gấp vạn lần, ông lao nhanh về phía bàn tay chới với lúc nổi, lúc chìm kia. Và thật may, ông luồn tay xốc nách người bị nạn, dùng lực đẩy họ lên khỏi mặt nước. Ông và nạn nhân cùng ngoi ngóp trong dòng nước sôi sục và ông gắng hết sức mình đưa ông già lên mép đường, cũng là lúc ông kiệt sức. Nhưng linh tính mách bảo ông nếu không nhanh chân, nguy hiểm sẽ ập đến tức thì. Nghĩ vậy ông gắng đứng dậy, dìu cụ già cùng xóm, tay dắt bò đi trong mưa giông, nước lụt.

Bây giờ ngồi ngẫm nghĩ lại mà giật mình. Ông cũng không lý giải nổi, lúc lâm nguy con người vươn lên mạnh mẽ, phi thường đến thế.

Nhớ lại một lần ở chiến trường, ông đã từng cõng đồng đội nặng hơn mình tới hai chục cân, băng qua pháo bầy và rốc két từ máy bay địch bắn xuống, vượt qua vài cây số nguy hiểm mà không thấy nặng nhọc, mệt mỏi. Khi đến nơi an toàn, mới thấy hoa mắt, chân tay bủn rủn, người lả đi vì mệt.

Cái cảm giác cứu đồng đội ở chiến trường cũng giống như cảm giác cứu cụ già bị nạn trong lũ bão. Khi hoàn thành công việc, cái mệt nhọc mới đua nhau kéo về bắt tình bắt tội ông.

Trở về đời thường, ngoài công việc của người bưu tá ra, ông cùng vợ con bươn chải vượt bao khó khăn trong cuộc sống để trụ vững giữa thời mở cửa. Lo cho năm đứa con yên bề gia thất, có cuộc sống no đủ quả là một nỗ lực phi thường của người thương binh này.

Trong cuộc đời đưa thư, có lẽ còn một kỷ niệm nữa mà ông không bao giờ quên, ấy là trong tay ông có một lá thư mà phần người gửi ghi toàn chữ Trung Quốc, còn người nhận là ông Lý Cúc ở Trung Kiên.

Cả xã ven sông này, với hơn 6 ngàn dân và 7 thôn, địa giới kéo dài hơn 6 cây số, nhưng chẳng có ai là ông không biết. Dẫu có ghi nhầm thôn, ông cũng dò tìm ra nhưng thực tế cái họ Lý này, cái tên lạ hoắc này, dù có tra soát hàng tuần cũng không thể có. Vậy thì ai đây?

Ra công thăm dò, suy nghĩ ông cố lần tìm cho ra người nhận, bởi ông linh tính ra rằng lá thư này chắc có điều gì hệ trọng lắm. Người nhận hẳn khắc khoải đợi chờ tin người thân từng giây, từng khắc. Hay là… ông chợt nhớ đến chuyện một cô gái bị bán đi Trung Quốc. Chắc bây giờ gặp may đã "yên bề gia thất" nên có tin về. Dẫu sao cũng là nguồn tin mà người thân mong ngóng bao ngày.

Lân la, tìm kiếm ông biết ở khu hành chính số 5 có một cô gái lấy chồng xa, anh chồng vốn ốm yếu, bệnh tật, nên cô gái không chịu được cảnh sống có chồng cũng như không ấy, nên đã nhẹ dạ bị một tú bà lừa đi Lạng Sơn, từ ấy bặt tin.

Ông lại mất công tìm hiểu các cụ già am hiểu Hán Việt được biết âm tiết họ Lý cũng là họ Lê vậy thôi. Thế rồi ông đoán đúng người nhận là cụ Lê Văn Chúc chứ không phải Lý Cúc.

Cụ Chúc cầm lá thư từ tay người bưu tá tận tụy này, khi bóc thư ra, nước mắt cụ chảy giàn giụa vì cảm động, cụ đọc được vài câu, rồi dừng lại nói: "Tôi cảm ơn anh! Đúng là thư của con tôi rồi".

Ngày ngày trên nẻo đường quê. Lúc nắng hạ đổ lửa như rang, khi mùa đông rét cắt thịt, người ta vẫn thấy bóng dáng người bưu tá nhỏ thó, chân đi cà nhắc, nét mặt tươi vui yêu đời, luôn hết lòng vì dân, đem đến niềm vui và hạnh phúc cho mọi người. Thật ít khi thấy ông nói về thành tích của mình  - một con người rất đáng yêu quý. Ông là Cựu chiến binh, thương binh – bưu tá Lê Văn Ngọ.

 

 

 

 

 

 

 

THĂM LẠI GIA ĐÌNH ANH HÙNG LIỆT SỸ

 

NGUYỄN VIẾT XUÂN

Đường về thôn Thượng, xã Ngũ Kiên, một địa danh quen thuộc đối với mọi người. Vẫn dải đồng xanh bát ngát viền quanh khu đầm Dưng mênh mông sóng nước. Lớp lớp nhà cao tầng vươn giữa khoảng trời xanh bao la. Tiếng hát ngân nga trầm bổng vang vọng một thời "Qua núi, qua sông, qua đồng lúa chín… " của một nhạc sĩ nổi tiếng đã khái quát bức tranh quê của người anh hùng. Dẫu ai chưa một lần qua đây, chắc hẳn cũng phải thầm yêu, thầm khen một vùng quê trù phú đã sinh ra anh hùng Nguyễn Viết Xuân, người đã hô vang khẩu lệnh "Phản lực Mỹ không có gì đáng sợ. Hãy nhằm thẳng quân thù, bắn!".

Vốn quen lối cũ, đường xưa, tôi "bon" thẳng về nhà anh. Bởi mảnh đất này, nơi sinh ra anh, tôi đã có dịp gắn bó hàng tháng trời để viết về anh, để hiểu về chị, về cả một gia đình đang trao cho chị trọng trách chăm lo bố mẹ già mù lòa, ốm yếu với con đầu lòng hai tuổi và bụng đang mang thai cháu nhỏ thứ hai, với một ý nguyện mong anh cứ yên lòng giữ trời, giữ đất của Tổ quốc thân yêu.

Thế nhưng khi đến nơi, mọi thay đổi làm tôi không còn nhận ra chốn cũ, cảnh xưa nữa.

Gặp một thanh niên trong làng, anh ta nhanh nhảu mách lối:

- Gia đình bà ấy đã chuyển ra khu đất đầu làng rồi chú ạ!

Sợ tôi phải hỏi thăm nhiều, anh bạn nhiệt tình nhấn mạnh:

- Chú đến lối đường rẽ, nơi có ngôi nhà xây lợp ngói xi măng ấy!

Nhìn ngôi nhà ngói khang trang trên mảnh đất khá đẹp, lòng tôi vẫn bâng khuâng nhớ về cảnh cũ, người xưa. Mặc dù đó chỉ là "Nhà anh đây vẫn mái gồi đơn sơ. Hàng cây mọc bên bờ dậu cổng. Cành nhãn xòe thơ mộng làm sao". Những cảnh vật ấy có sức sống mãnh liệt bởi còn đầy ắp kỷ niệm của một thời, nơi hai cụ sinh ra anh, nơi anh lớn lên và trưởng thành tại đó. Bây giờ chị có ra nơi ở mới rộng rãi, khang trang đẹp đẽ mấy cũng không thể phai mờ những dấu ấn đẹp đẽ, thiêng liêng sống động một thời.

Đang dòng suy nghĩ, chị Thanh từ phía sau nhà trở về, thấy tôi đang mải ngắm ngoài sân, chị nhã nhặn mời:

- Anh đến chơi, vào nhà uống nước!

Chị vừa nói, vừa phân trần như thanh minh:

- Nhà neo quá. Cháu Lai vừa có điện nên đã lên trường. Chẳng biết có việc gì mà chủ nhật cũng đi.

Vừa pha nước, chị vừa tiếp:

- Tôi phải trông hai cháu nhỏ, với mấy con lợn, vài con gà. Có vậy thôi mà quay không nổi!

Vốn là phụ nữ chất phác, chị chuyện trò tự nhiên như người trong làng, ngoài xóm. Rồi như sực nhớ ra, chị nhìn tôi hỏi:

- Chú ở đâu ta nhỉ?

Tôi cười bảo chị:

- Có lẽ lâu rồi, nên chị quên em chăng?

Và tôi gợi lại một chi tiết cũ để chị đoán:

- Năm 1965, em về ở tại nhà ta hàng tháng trời đấy. Dạo ấy, mùa khoai sọ luộc ăn thơm, bùi lắm!

Chị Thanh mắt sáng lên, nhoẻn miệng cười hiền hậu, để lộ ra hai hàm răng đen nhánh hạt na:

- A tôi nhớ rồi. Tác giả "Anh - con người Vĩnh Phúc" phải không?

Không khí trở nên thân tình cởi mở như chị em trong nhà lâu ngày mới gặp nhau. Chị bảo:

- Thoáng thế mà đã hơn ba chục năm còn gì?

Thế là chủ và khách chẳng còn khách khí gì nữa. Chuyện cũ, chuyện mới chẳng ăn nhập vào nhau cứ nở ròn. Chị thì nhớ gì hỏi nấy. Tôi cần gì thì lại gợi hỏi. Câu chuyện cứ đan xen không đầu không cuối. Thôi thì đủ các loại chuyện. Có những kỷ niệm của riêng chị kể từ ngày anh hy sinh đến nay chị đều bộc bạch hết cùng tôi. Nào là khi chú ở đây cháu Lâm còn chưa sinh, khi đó tôi mới mang thai cháu 5 tháng. Khi cháu lớn lên chẳng may bị bệnh viêm khớp, chữa trị chẳng lành, cháu mang bệnh, nên chỉ học hết cấp hai, rồi chị chạy vạy cho cháu vào học trường văn thư lưu trữ. Khi ra trường, vác hồ sơ đi xin việc mới khổ làm sao? Ngay cơ quan lao động cũng không chấp nhận người yếu sức khỏe như cháu. Chị phải chạy hàng chục cửa để xin bảo lãnh. Thế rồi trên cũng biết, quan tâm tiếp nhận và xếp cho cháu chân văn thư ở Ủy ban kế hoạch tỉnh.

Chị dừng lời, đưa miếng trầu vào miệng, nhai giập giạp rồi tiếp:

- Các bác biết cháu là con anh Xuân nên thương lắm. Cháu được “cắm” một ô đất ở Việt Trì, tôi cố lo để cháu có một mái ấm!

Rồi chị hỏi:

- Chú thấy chỗ này thế nào?

Tôi cười:

- Rất tốt chị ạ. Nhà nhìn ra cánh đồng bát ngát, bốn mùa đón gió Đông  Nam, nhà lại cạnh đường lớn sạch sẽ, không như nơi ở cũ.

Chị kể:

- Ấy, tôi chuyển ra đây là thế này…

Ngẫm nghĩ giây lát, chị chậm rãi:

- Cách đây gần chục năm, nhân chuyện tôi và ông Chủ tịch xã được đơn vị anh Xuân mời đi dự hội nghị mừng công. Thấy nhà cửa xuống cấp quá lại ở heo hút mãi giữa xóm, ông ấy bảo: đợt này về, tôi báo cáo thường vụ và đề nghị với trên cấp cho chị 300 mét vuông đất đẹp, tiện lợi nhất để chị làm ngôi nhà khang trang.

Tưởng ông Chủ tịch nói vậy thôi, chứ làm được điều đó đâu có riêng ông, còn phải qua nhiều khâu lắm. Nhưng không như tôi nghĩ, chỉ sau thời gian ngắn ông hoan hỷ thông báo việc cấp đất cho gia đình tôi đã được trên phê duyệt. Thế rồi xã lại quan tâm giúp đỡ một phần kinh phí. Kết quả nhà tôi có ngôi nhà mới khang trang trên mảnh đất mới này là nhờ ở tấm lòng của bà con chòm xóm, của xã, của huyện chú ạ.

Chị còn kể lại một kỷ niệm suốt cả đời, có lẽ chẳng bao giờ quên. Ấy là dịp chị được cử làm thủ quỹ tín dụng xã.

Xuất thân từ một phụ nữ nông thôn, nhà nghèo nên được học ít. Chính cái vốn kiến thức nghèo nàn ấy lại làm hại chị. Do sơ suất nên chị đã chi nhầm cho khách 500 đồng. 500 đồng hồi ấy lớn lắm. Chị lo sốt vó. Thôi thế là hết, chị sẽ bị kỷ luật, sẽ bị nghỉ việc. Đối với chị việc khai trừ khỏi Đảng có lẽ đương nhiên rồi, mình không ân hận, vì mình yếu kém về trình độ, mình thiếu trách nhiệm. Nhưng chỉ khổ tâm ở chỗ nếu người đời hiểu lầm cho chị là tham ô, biển thủ, ảnh hưởng đến uy tín của Đảng, làm phụ lòng cả một tập thể đã hết lòng dìu dắt, bồi dưỡng chị trưởng thành, bồi dưỡng chị thành một phụ nữ đảm đang, xứng đáng với danh hiệu vợ người anh hùng liệt sỹ. Chị lại càng tủi hổ hơn, day dứt hơn với hương linh anh. Liệu anh có hiểu cho chị không?

Nhưng mọi việc diễn ra không như chị nghĩ. Lại một lần nữa tổ chức rất sáng suốt đã phân tích, đánh giá đúng sai từng sự việc. Vốn bản chất thật thà, không vụ lợi, tư túi mà chỉ có khuyết điểm do chị trình độ hạn chế dẫn đến sai lầm, thất thoát tài sản. Âu đó cũng là điều dễ hiểu để lý giải một điều muôn thuở: đúng là "cán bộ nhiệt tình có dư trăm lần, nếu kiến thức yếu kém thì công việc khó mà đạt hiệu quả". Sau vụ việc đó, chị được chuyển sang làm công tác phụ nữ đến khi nghỉ hưu.

Chị dừng kể, cầm miếng trầu nhai khô kiệt chỉ còn bã, bỏ vào thúng rác cạnh nhà. Tôi gợi hỏi chị:

- Lâu nay đơn vị ở trong Quảng Bình có hay thăm hỏi gia đình không?

- Cũng có, nhưng ít thôi, vì các chú ở xa quá mà!

Như không muốn tôi khơi lại quá khứ máu lửa, nên chị chuyển mạch:

- Được cái từ ngày tái lập tỉnh đến nay, năm nào các bác cũng quan tâm. Tết nguyên đán đưa xe về mời lên tỉnh ăn tết. Rồi những ngày lễ, ngày tết khác như ngày 27/7 đều có thăm hỏi, tặng quà. Riêng ở huyện, ở xã, các anh ấy lại càng quan tâm.

Chị tiếp:

- Tôi già rồi, chẳng còn sức để phục vụ Đảng, phục vụ nhân dân nữa. Tôi luôn nhắc nhở cháu Lai, cháu Lâm phải nỗ lực hơn, làm tốt hơn nhiệm vụ được cơ quan giao, gắng đền đáp công ơn trời biển mà Đảng và Nhà nước quan tâm đến gia đình chính sách như mẹ con tôi.

Có lẽ điều chị nói trên đã bao hàm đầy đủ ý nghĩa chân thành của người vợ Anh hùng liệt sỹ Nguyễn Viết Xuân. Điều đó khẳng định tính đúng đắn của đường lối và đạo lý "Uống nước nhớ nguồn" của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta, luôn chăm lo những gia đình có công với nước để Tổ quốc mãi mãi độc lập, tự do, nhân dân luôn được ấm no, hạnh phúc.

 


 

 

 

 

GIẢI THƯỞNG VĂN HỌC NGHỆ THUẬT

5 NĂM LẦN IV (2011 - 2015)

 

 

I. Giải A:

Không có

II. Giải B:

 Không có

III. Giải C: 01 giải

Tập truyện và ký Bách hoa tửu của Nguyễn Nhuận Hồng Phương (Nguyễn Văn Nhuận)

IV. Giải Khuyến khích: 04 giải

1. Tập truyện ngắn Lời hứa lúc cầu hôn của Ngô Mai An

2. Tập truyện ngắn Vũ khúc thiên đường của Nguyễn Thị Minh Ánh

3. Tập truyện ngắn Nước mắt thánh nhân của Đỗ Hàn

4. Tập truyện ký Lai láng tình quê của Lê Tốn (Lê Thuần Thảo)

 

 

 

 

NGUYỄN NHUẬN HỒNG PHƯƠNG

 

Bách hoa tửu

 

 NHÀ XUẤT BẢN HỘI NHÀ VĂN, 2011

 

---------------------------------------------------------

 

 Tập Truyện và Ký đoạt Giải C,

 Giải thưởng VHNT tỉnh Vĩnh Phúc 5 năm lần thứ IV

(2011 - 2015)

 

 

 

 

BÁCH HOA TỬU

           Không hiểu sao từ hôm lên đây tôi lại tìm tới cái quán nhỏ này để thỏa mãn thói nghiền cà phê và thả hồn tìm thi hứng? Hình như nó sinh ra để dành cho những kẻ lãng đãng, mù mờ, luôn thích sống trên mây, trên gió như tôi. Tôi không lý giải, nhưng chắc hẳn lý do đầu tiên phải bắt nguồn từ cái nhìn đầu tiên, thể như một mối tình được bắt đầu từ cái nhìn sét đánh?

Đúng vậy! Đó là cách đây ít ngày, tôi cùng một số anh em văn nghệ sỹ đi thực tế tìm cảm hứng sáng tác. Khi chiếc xe du lịch ì ạch bò lên dốc rồi quẹo tới chỗ ngoặt. Bất ngờ, một thung lũng tràn đầy mây, tràn đầy nắng, tràn đầy gió hiện ra trước mắt. Giống như một bức tranh khổng lồ với những nét chấm phá do tạo hóa và bàn tay của con người cùng tôn tạo. Thấp thoáng giữa núi non, mây ngàn trùng điệp, những ngôi nhà cũ, mới, mang nét riêng, cao, thấp, nằm lô xô, lếch xếch lúc phơi trong nắng, lúc đằm trong mây, lúc in hình giữa màu xanh ngút ngàn, chạy dọc theo con đường trải dài, uốn lượn quanh co.

Một số người cùng đi tỏ ra thờ ơ, vì họ tới đây đã nhiều lần. Còn tôi, đây là lần đầu. Tôi hạ kính chắn gió, ngó đầu hẳn ra ngoài để ngắm trời, ngắm đất, hà hít tận hưởng cái không khí lành lạnh, rười rượi thấm dần vào da thịt.

Xe lượn lên một khúc cua vừa dốc, vừa gấp, vừa hẹp. Tôi bỗng nhìn thấy em. Không, không phải vậy. Hình như lúc ấy tôi và em cùng nhìn thấy nhau thì đúng hơn. (Có lẽ nên nói như thế mới phải cho một cuộc gặp gỡ tình cờ).

Em mặc áo thun đỏ, tay vịn lan can. Ngôi nhà của em hai tầng, lợp lá cọ, nhỏ nhắn, xinh xắn nằm tựa sát chân núi, bên cạnh là giàn bìm bìm dại, buông dây leo xanh mướt mát, từng chùm hoa tím biếc xòe năm cánh nghiêng nghiêng dáng đợi. Tôi nhìn em như ý hỏi, ánh mắt em như muốn nói sẽ chờ…

Ngay chiều hôm ấy tôi đến, từ trong quán vẳng ra một giọng ca tiền chiến. Thấy tôi, em tắt máy ra cửa đón: “Anh muốn nghe nhạc gì?”. Tôi cố tình trêu: “Nhạc Bethoven, bản giao hưởng số 5 mang tên Định mệnh”. Không đáp, em quay lại đi về phía quầy, một phút sau, tiếng nhạc thánh thót da diết vang lên.

0-1. Tỉ số nghiêng về em, trái tim thi nhân của tôi bị khuất phục. Tôi bưng tách cà phê nhấp để chữa ngượng. Vị đắng dìu dịu tan nhanh trong khoang miệng, mơn man trên lưỡi như nhắc cà phê còn thiếu bạn đồng hành. Tôi quay lại định gọi nhân viên đứng quầy mang cho mình bao thuốc lá, thì thấy em đã cầm ra chính bao thuốc mình muốn. Tôi hơi ngạc nhiên nhưng không nói gì. Em ngồi xuống ghế đối diện, lấy móng tay gảy băng bao thuốc, vỗ ra một điếu: “Anh hút thuốc”. – “Sao em lại biết tôi thích hút loại thuốc này?”. Tôi hỏi. Em mỉm cười, mắt nhìn vào gạt tàn. Cái cán thuốc tôi bỏ vào lúc nãy nằm cong queo dưới đáy đã mách em. Tôi hiểu ngay và chấp nhận.

Tỉ số đã 0-2.

“Em là chủ nhà hàng này?”. Hỏi xong tôi mới thấy câu hỏi của mình thật vô nghĩa. Em hỏi lại: “Vâng, thế có gì không anh?”. “Không”- Tôi đáp, nhưng rồi không hiểu vì sao tôi lại tiếp tục hỏi thêm một câu còn vô nghĩa hơn: “Cô gái đứng trong quầy kia là nhân viên của em à?”. – “Cứ cái đà này chắc anh sẽ còn lục vấn cả chuyện chồng con của em mất!”- Em liếc nhìn tôi, mỉm cười, nói tiếp – “Có cần thiết phải đặt ra những câu hỏi như thế không anh? Theo em, anh chỉ nên biết những người ở phố Núi, được sinh ra để phục vụ cho các du khách mọi miền tới đây, tìm về những dư vị hoang liêu của vùng đại ngàn cổ xưa này. Còn em, chỉ cần biết anh là người thứ một trăm… ”. – “Sao lại thứ một trăm?” – Tôi ngắt lời em. “Đấy, lại hỏi rồi! Anh không nhớ câu ngạn ngữ: Đừng hỏi để khỏi phải nghe nói dối ư? Anh muốn biết, cần có thời gian. ”

0-3. Tôi lại thua, tỉ số được nâng lên. Nhưng trái tim gàn dở của thi nhân vẫn cố chấp: “Thời gian ư? Anh còn ở đây đến hết kỳ Uôn cúp mới về. Liệu thời gian như vậy có đủ không em?”. “Thế thì được!”- Em nói- “Nhưng anh đã bao giờ cá độ bóng đá chưa?”. “Chưa. nhưng nếu em muốn, anh chiều”. Tôi cảm thấy thinh thích: “Được, cho anh nhận một đội, còn của em là bất kỳ!” - “Nghĩa là sao?”- “Nghĩa là anh chỉ được chọn nhận lấy một đội, còn tất cả là của em”- “Sao em khôn thế?”- “Anh không dám nhường phụ nữ à?”. Em nói, lông mày nhướn cong như hai dấu ngã. Máu sỹ diện của tôi nổi lên: “Dám! Nhưng thắng, thua ra sao?”- “Anh thắng, muốn gì em cũng chiều. Còn em, có một điều kiện”. Em nghiêng mặt chờ đợi. “Điều kiện gì?”. “Nếu thắng, em sẽ trả lời!”. “Nhỡ… ”- Tôi ngập ngừng vì chợt nhớ tới cái túi lép kẹp của nhà thơ… Em như đọc được ý nghĩ của tôi: “Không dính tới tiền nong đâu mà anh lo!” - Có thể đó chỉ là một bông hoa bìm bìm thôi chẳng hạn… - Nếu là hoa, anh sẵn sàng hái một rừng hoa mang về đặt dưới chân em” - Tôi buông một câu có cánh. “Vậy nhé! Ngày mai khi đến đây uống cà phê anh phải đưa ra ứng cử viên vô địch của anh”. Nói xong em đứng dậy vì có khách vào.

Tôi ra về, gọi mấy nhà văn nhà thơ am hiểu và máu mê bóng đá đến hội ý. Sau một hồi cãi vã, tất cả quyết định bỏ phiếu cho đội Bra-xin sẽ vô địch, kèm theo bao nhiêu lời chú dẫn về cách tán tỉnh làm sao để khuất phục được “cô hàng cà phê”.

Hôm sau, tôi mang tập thơ cùng với đội bóng đặt cược tới nhà em. Em đẩy ly cà phê và bao thuốc cho tôi, nói: “Anh đã chọn đội bóng mà cả thế giới nghiêng về phe họ, chắc là em sẽ thua mất!”.

Đáp lại, tôi tặng em tập thơ và cố nặn ra một câu đầy cảm ý: “Tặng em, với tất cả thành ý… ”. Cầm tập thơ, em tỏ ra bối rối. “Thế ra anh là thi sỹ?”. Nhìn vào mắt, biết là em chưa tin, tôi đáp lại em bằng cái gật đầu xác nhận. Cứ ngỡ em sẽ dỗi hờn, trách móc khi biết tôi giấu em thân phận mình. Nhưng không, em đứng dậy, đi tới tủ rượu, bê ra một cái bình màu cà phê, sóng sánh một chất lỏng màu xanh dịu, cùng hai chiếc ly đặt lên bàn. “Rượu bách hoa đấy!- Em giới thiệu: Nâng cốc chúc mừng mỹ nhân gặp thi nhân! Chúc mừng uôn cup, chúc đội bóng Braxin với niềm hi vọng chiến thắng của anh”.

Tôi nhăn trán, nhíu mày, căng óc, cố kiểm chứng trong tự điển các loại rượu mình đã uống, đã biết, đã gặp, xem có loại rượu nào là “rượu Bách hoa” không? Thì mỹ nhân đã nghiêng bình rót. Tôi như bị thôi miên, cổ tay mỹ nhân trắng hồng, mịn màng, nổi ngấn, mỗi lần xoay xoay rất điệu, thao tác thành thạo, không rớt ra ngoài đến một giọt, hai thang rượu rót ra ly bằng nhau chằn chặn.

Mỹ nhân lùa đôi ngón tay điệu nghệ nâng ly lên: “Trăm phần trăm nghe anh!” - Câu nói từ miệng mỹ nhân toát ra mỏng như hơi sương bay là là từ khe núi phía xa. Tôi luống cuống cầm ly đứng lên, mỹ nhân lắc đầu: “Nâng ly theo kiểu của em nghe anh!” Tôi chấp hành theo cái lệnh ngọt ngào ấy: xòe kẽ tay, kẹp chiếc ly nâng lên ngang mặt: “Xin mời!” Mỹ nhân lại lúc lắc cổ, nũng nịu ra chiều chưa đồng ý: “Tráo tay rồi mới uống cơ!” Nói rồi mỹ nhân chủ động vòng cánh tay mình vào cánh tay tôi kéo sát lại gần. Hai thành ly chạm, đầu mỹ nhân và đầu tôi chụm vào nhau, có đôi sợi tóc óng vàng, loăn xoăn rũ xuống vương thành ly.

Tôi ngước nhìn, bắt gặp đôi hàng mi cong vút chớp chớp; trong nhãn quan, một màu tro dìu dịu, đôi con ngươi tròn xoe, đen láy, long lanh; xung quanh viên dạ ngọc, chùm tia hình dải quạt lấp lánh phát quang đến kỳ lạ. Tôi đờ đẫn, ngây dại mê man như Đường Tam Tạng bị thứ hào quang ma lực đầy quyền uy của Bạch cốt tinh hút hồn, quyến rũ…

Tôi nghiêng ly định uống, mỹ nhân lại thì thầm: “Ngâm nga từng ngụm nhỏ nghe anh!” Chảy theo âm thanh, hơi thở của mỹ nhân phảng phất một mùi hương lạ. Tôi cố nín thở vì sợ mùi oi nồng, khê khú của kẻ nghiện thuốc lá làm mất đi cái mùi thơm dịu dàng kia, và bỗng nhiên tôi vô thức bắt chước mỹ nhân nhấp nhấp từng ngụm nhỏ…

Tôi bị khuất phục hoàn toàn bởi sự tế nhị của em. Em dành cho tôi một khung trời riêng biệt, một đặc ân riêng biệt, một đặc ân đặc biệt. Cái bàn nhỏ nơi góc nhà, dù tôi chưa đến hoặc đông khách vẫn không có ai ngồi. Rồi như hẹn trước, khi tôi xuất hiện, bản giao hưởng Định mệnh vang lên. Đêm về, tôi cân nhắc, cảm thấy sự ưu ái của em đối với tôi hơi thái quá. Toi trở nên ngốc nghếch khi mang tình em ra cân, đo, đong, đếm. Tôi buồn cười sự huyễn hoặc của mình. Với một người làm thơ thì có gì để mất mà lo! Tách cà phê 7 ngàn, bao thuốc 15 ngàn, có đắt hơn một chút so với miền xuôi, nhưng phù hợp với cái phố Núi cao hơn mặt biển gần hai ngàn mét này. Uống xong, tôi trả tiền đầy đủ, em sòng phẳng không kém, bởi tiền thừa em kiên quyết trả lại, rồi em tiễn tôi ra về kèm theo ánh mắt lưu luyến cùng một câu cảm ơn nhẹ hơn sương núi. Nếu so sánh kiết cùng, tôi thấy mình là kẻ hơn lòng, nếu không muốn tính thành lỗ, lãi.

Kể từ sau ly rượu mừng người đẹp gặp thi nhân, cùng với sự hồi hộp của những trận bóng đá, em và tôi nhích lại gần nhau hơn. Đội bóng Bra-xin “của tôi” lần lượt vượt qua vòng ngoài, tuy khá vất vả khiến nhiều lúc làm tôi lo lắng đến nghẹt thở. Nhưng rồi cũng qua, trên màn hình đội bóng yêu quý “của tôi” bắt đầu bước vào vòng bán kết, còn tôi đang nhâm nhi những giây phút gần kề chiến thắng. Tôi không sợ phải đi hái hoa đặt dưới chân em, mà tôi sợ nếu thua, mình sẽ chẳng được gì. Phần thưởng em tuyên bố “Anh thắng, muốn gì em cũng chiều” kích ứng cho lòng tôi háo hức. Và tôi tin tôi sẽ thắng, cũng như đội “bóng đá ngoài hành tinh” kia tin mình sẽ trở thành vô địch thế giới. Rồi… trong khi họ nâng cao chiếc cúp vô địch, thì ở đây, dưới chân phố Núi, trong căn nhà xinh xắn, bên cạnh mỹ nhân, tôi có quyền chọn phần thưởng cho mình… Dẫu rằng tôi chưa biết sẽ đòi em cái gì? Nhưng chỉ nội những ý nghĩ ấy thôi, đã len lỏi, xuất hứng khiến tình thơ trong tôi dạt dào muốn kết thành tứ, thành câu.

Phố Núi vào chiều, bóng hoàng hôn tím ngắt dần bao trùm lên thung lũng, mây lãng đãng bay, ngàn thông rì rào, ngân nga khúc nhạc… Thiên nhiên thật sự lãng mạn, tự nhiên tôi thấy tâm hồn sao thư thái. cảnh núi rừng nên thơ lại được ngồi cạnh giai nhân, lòng tôi bỗng lâng lâng, tứ thơ dần dần tiết mạch… Tôi hiện nguyên hình là một thi nhân. Với trái tim bi lụy, cảm hứng tuôn trào, dồn nén, nôn nao hy vọng tình thơ phát sáng thăng hoa, câu chữ bật ra những lời châu ý ngọc.

Cũng chẳng dối lòng đâu. Là thi nhân, tôi có nhiệm vụ biến tình yêu cuộc đời thành sự sống trong thơ. Và, ngoài việc làm thơ dâng tặng em, tôi sẽ còn mang về cho anh em văn nghệ sĩ trong đoàn cùng thưởng thức. Tôi mường tượng ra những khuôn mặt ngây ngô như muốn nuốt lấy từng lời, từng chữ, từng ý, từng câu. Có người nghe xong lặng đi, xuýt xoa khen ngợi, rồi so sánh thơ tôi với thơ Hàn Mặc Tử; xếp bài thơ tình của tôi ngang với những vần thơ tình nổi tiếng của cố thi sỹ Xuân Diệu…

Như vậy, em đã không chỉ là cô chủ quán xinh đẹp dịu dàng, mà còn là nàng tiên mang nguồn sáng chiếu rọi vào tâm hồn thi hứng để tôi tha hồ ngụp lặn…

Nhưng tất cả hy vọng đã tan tành, khi đội bóng “ngoài hành tinh” vỡ trận, kéo theo sự vỡ mộng của tôi. Ngày thất trận, đúng giờ như mọi khi tôi tới, quán cuối chiều thưa khách, giọng ca buồn của Duy Khánh lịm tắt, thay vào đó là bản nhạc Định mệnh nhẹ nhàng, thánh thót, ngân nga. Tôi ngồi xuống chiếc ghế nơi góc vắng. Em vẫn đón tôi như mọi khi, dẫu biết rằng mình là người chiến thắng.

Vâng, tôi đến để chờ đợi sự phán xét cuối cùng của người thắng cuộc.

Tôi liếc nhìn “đối thủ”: Em vẫn thản nhiên như người chai sạn, dạn dày trong làng nghề cá cược. Đôi hài cỏ trôi lướt tới quầy tủ, em mở bình, bỏ vào đấy một cánh hoa bìm bìm màu xanh dịu, cánh hoa tím rập rờn.

Em trao ly: “Thành thực chia buồn với thi nhân”.

Tôi run rẩy đỡ, bờ ly nghiêng, rượu sóng sánh tràn ra vài giọt rơi xuống mặt bàn. Em đặt ly của mình xuống, lặng lẽ lấy mảnh khăn lau thấm nhè nhẹ những giọt rượu vừa rơi. Xong, em nâng ly lên chạm nhẹ vào thành ly của tôi: “Uống đi anh”. Thoảng trong tôi là men hương dìu dịu, nhưng vị rựou nhấm vào lưỡi tôi không còn cảm giác.

Còn có vị gì nữa khi chính mình là kẻ bại trận? Trên màn hình ti vi, tiếng người dẫn chương trình đang diễn lại cảnh vũ điệu sam ba của người Bra-xin gẫy cánh, tiếng trống giữ nhịp câm bặt, những giọt nước mắt ố hoen, chảy thành vệt trên những khuôn mặt buồn rượi…

Còn tôi, tin chắc lúc đó mặt tôi cũng nhàu nhĩ không khác chi cái khăn lau trong bàn tay mỹ nhân vừa đặt xuống.

“Anh thua rồi!” - Em uống cạn rồi úp ly xuống mặt bàn. Tôi gật: “Anh chấp nhận mọi điều kiện của em”. “Anh muốn ngay lúc nay?”. “Tùy em, em là người chiến thắng!”. “Không? Đâu dễ vậy? Trước khi hành quyết, em muốn tội nhân của mình được ban hưởng một bữa tiệc cuối cùng” . “Giống kiểu hành quyết thời trung cổ?”. “Rồi anh sẽ biết! Bằng giờ này, mai mời anh đến”.

Thế đấy, thi nhân trở thành “tội nhân”

Hôm ấy, trong bữa tiệc dành cho “tội nhân”, em dẫn tôi lên gác, nơi có chiếc màn hình 29 inch. Chỗ ngồi của tôi là chiếc ghế gỗ đa năng; chếch sang bên cạnh, không quá xa và cũng không quá gẫn là chiếc ghế mây màu ngà. Khi em thả người xuống, những đường cong của chiếc ghế nhún nhẩy đỡ lấy thân hình óng ả, mềm mại chứa đầy khêu gợi. Không hiểu vô tình hay cố ý, em mặc chiếc áo thun cổ tròn màu đỏ, cái áo gợi cho tôi nhớ tới lần đầu tiên tôi và em gặp nhau.

Em là người chu đáo, bữa tiệc khá thịnh soạn, có thịt rừng miền sơn cước, có rượu bách hoa với màu xanh dìu dịu. Nếu không có chuyện cá cược kia, và tôi không là kẻ thua trận, tôi sẽ tin đây là bữa tiệc của mỹ nhân dành cho hiệp khách thắng trận trở về.

“Uống đi anh - Em nói - Kẻ tội đồ của em”. Kẻ tội đồ nhìn em: “Anh uống rượu kém lắm, em ra điều kiện đi?” Em thì thầm: “Đừng vội anh”.

Em chuốc cho tôi uống tiếp. Men say lan tỏa, khiến tôi chòng chành như con thuyền lạc giữa hai dòng nước. Tôi quên đi mình là kẻ bại trận, trở về với dòng máu thi nhân.      Tôi nhìn em đắm đuối, em đáp lại tôi bằng bản ngã trần gian. Tôi mê muội, hồn lâng lâng… Trong men say tôi nhận thấy men tình. Lời phán quyết cuối cùng của người chiến thắng, quyến cuộn nhục thể. Tôi hiểu ra tôi đang đến cùng em bên bờ vực của mọi điều cám dỗ… Tôi chấp nhận “hình phạt cùng em “tên đồ tể ái tình”.

Hình như men rượu Bách hoa không chỉ kích thích cho cảm hứng của thi nhân muốn buông lời nhả chữ, mà còn cho bổn phận khát khao tìm về với bản năng hoang dại, sơ khai. Bản ngã tôi muốn đòi thèm từ em một cái gì không rõ nghĩa. Trong đầu tôi vần điệu thơ thanh thoát trào dâng, còn thể xác tôi lại vô cùng trần tục, ảo giác cho tôi nguồn hứng thi ca, thực tại thúc ép tôi đào bới những khoái cảm siêu phàm. Tôi lâng lâng mặc cho tâm hồn bảng lảng, mặc cho sự thèm ước trỗi dậy râm ran.

Tôi nhìn em, em nhìn tôi, giữa chiều hẹp không gian, khoảng cách mong manh xuất hiện một ma lực vô hình cuốn gợi. Tâm hồn tôi thăng hoa, thân thể tôi bốc lửa… Chiếc áo thun màu đỏ trở nên mỏng mảnh vô nghĩa, thể như bức rào cách ngăn cần gỡ bỏ cho sự tự do siêu thoát… Như bức tường tù túng cần phải đập bung cho không khí ngập ùa. .

Ta sẵn sàng làm kẻ “tội đồ”. Cùng ý nghĩ, tay tôi vung, lòng thổn thức, miệng lảm nhảm van xin. Một lối xin van không ý thức mà tràn đầy sự mê lú mong giải thoát. Nếu không có lẽ tôi sẽ trở nên loạn điên vì bức quẫn… Đôi mắt tôi lờ đờ, vô vọng, cái nhìn cháy bỏng thiêu đốt nhưng cũng tràn ngập khẩn cầu. Niềm phức cảm vật lộn giành giật giữa con người và con thú. Sáng láng minh triết là phần người, giông bão mãnh liệt là phần thú. Nửa nào cũng đòi hỏi cho riêng mình một thỏa mãn khát thèm…

Tôi đang mung lung trong cơn mê muội không cùng thì em nhổm dậy. Chiếc áo thun thấp thoáng, tha thướt, lúc gần, lúc xa, lượn lờ, rập rờn, níu vẫy. Tôi chới với, em chìa tay cho tôi ấp lên đó một bàn tay.

Ai dắt ai, ai dìu ai lúc này còn có ý nghĩa gì đâu. Cả hai riết róng quấn lấy nhau, cùng cố vươn tới nơi có mạch nguồn cho kẻ khát, nơi có ngọn gió hoang vu xoa dịu nỗi oi nồng.

Rạo rực và đê mê, tôi ngoan lành làm con thiêu thân lao vào bóng hoa đăng trong đêm kinh trập. Dục vọng hóa thân thành sự cuồng nộ, thè lưỡi liếm, nhe nanh gào, kích hứng, bung phá cho đòi hỏi cuối cùng…

Bỗng có tiếng động rồi tiếng mâm bát rơi loảng xoảng. Em hổn hển: “Mặc!” Sau câu nói bất cần, em chà lên tôi, lăn tròn trên sàn nhà, những hoa văn trang trí dưới tấm thảm lót nền xoắn vòng kéo theo hai thân xác cuồng si, bạo liệt…

Bóng đêm ngoài trời ập xuống nhưng không gian gác hẹp, bình minh của ái tình vụt sáng. Vội vàng hấp tấp, tôi đưa bàn tay mở cánh cửa cuối cùng…

“Thôi anh! Thế đủ rồi!” – Tiếng em nói kèm theo hành động chối đẩy tôi ra khỏi thân xác. – “Dậy đi anh” – Em nói tiếp.

Tôi lóng ngóng đứng lên. Thái độ của em làm tôi hẫng hụt. Mọi thứ trong người tôi đang căng cứng bỗng trở nên nhão nhoẹt, chùng mềm như dây đàn tuột phím.

“Sao thế em?” -  Tôi hỏi, giọng tiếc nuối.

Em không trả lời, đi tới mở tủ, lấy ra chiếc áo măng tô choàng lên người. “Đi với em”.

Tôi định hỏi nhưng rồi ghìm lại được. Mặc! Tôi nhủ thầm, muốn đến đâu thì đến!

Phố Núi, đêm chìm sâu, tĩnh lặng, những ngọn đèn trên mái nhà dưới thung lũng lấp ló ẩn hiện trong màn sương dày bao phủ, khiến cho tôi cảm tưởng như vạn ngàn tinh tú nằm ngay dưới chân mình. Tôi ngửa mặt nhìn lên, bầu trời đen thẳm, trăng hạ tuần lơ lủng mảnh như chiếc lá rơi vào khoảng không bao la.

Lên tới đỉnh dốc, em dẫn tôi rẽ vào đường mòn. Lối hẹp không thể đi sóng đôi, ánh trăng yếu ớt xuyên qua tầm lá thưa rải nhẹ trên mặt đường. Em quen lối nên bước khá nhanh. Tôi lẽo đẽo theo sau, đôi giày “lười” lúc lúc chực tuột khỏi chân. Tới một cánh rừng lá kim. Gió thổi từng đợt, rừng cây xao động, âm thanh u ơ, rin rít nấc nghẹn từng chập, từng chập, như tiếng cô hồn nỉ non lúc xa, lúc gần, vòng vọng theo gió đưa.

Vừa đi tôi vừa tự hỏi: Không biết em dẫn tôi đi đâu và định làm gì? hay em là … ma? Thứ ma lai, ma xó, ma cà rồng… chuyên dẫn rủ những người ưa thích vào rừng sâu để cắn cổ hút máu? Chắc không phải - Tôi tự nhủ - Là ma thì làm sao lại có thể hữu hình như vậy. Tôi chẳng đã cùng em bạo liệt, cuồng si, mê dại đến thế rồi sao? Hay em muốn dẫn tôi vào một bãi cỏ êm, giữa thiên nhiên kỳ thú, nơi hoàn toàn thanh tĩnh để thỏa mãn cơn đam đắm của dục tình?

Bỗng nhiên, rất nhiều những giả thuyết sáng, tối nảy sinh trong đầu tôi. Trong khi đó, cái bóng mờ ảo của em như ma trơi, lúc ẩn, lúc hiện, thấp thoáng trong rừng cây phía trước.

Tới một triền dốc, em dừng lại. Trước mắt tôi, ven trảng núi trống trơn, một bãi tha ma hiện ra. Dưới ánh trăng, những nấm mồ lạnh lẽo, chơ vơ, lạc lõng, cao thấp, lô xô, lếch xếch ngổn ngang nằm dọc theo triền núi, từng đợt gió hoang từ thung sâu thổi ràn rạt, khiến những phiến lá tầm ma thanh mảnh mọc trên đỉnh mộ phơ phất, vẫy lùa như làn tóc rối bời chưa kịp chải.

Tôi rùng mình hỏi: “Sao lại tới đây? - “Đây là thế giới của em!”

Trời ơi! Câu nói lạnh lùng toát ra từ cửa miệng em làm tóc gáy tôi dựng đứng. Dẫu từng là chiến binh, dẫu từng bao lần gần kề cái chết trong chiến trận, nhưng quả thực chưa bao giờ tôi gặp cảnh này.

“Đây là nghĩa địa dành cho những người mắc bệnh ết(*) -Vừa nói em vừa kéo tôi đi vào giữa lối hẹp của những nấm mồ “Anh có biết lần đầu tiên khi biết mình bị mắc căn bệnh ấy, em nghĩ gì không?” Tôi chưa biết trả lời ra sao, em nói tiếp: “Chán chường và tuyệt vọng. sau bao đêm mất ngủ, em thề sẽ phải trả thù, trút phẫn uất vào đủ một trăm thằng đàn ông. Và… và đêm nay anh chính là người cuối cùng. Khi em bỏ cánh hoa vào bình rượu, anh đã là người thứ một trăm, phần kết cho một nỗi căm hờn… ”

Toàn thân tôi ớn lạnh! Cũng may tôi chưa kịp…

“Nhưng sao em?... ” – Câu hỏi tôi nghẹn nấc.

“Xin anh đừng nghĩ em thánh thiện. Chẳng qua, đó là vì những vần thơ anh đã tặng cho em”. Tôi ngỡ ngàng: “Vì thơ cuả anh?”. “Đúng!” Em khẳng định - Suốt một đời bán hoa, đây là lần đầu tiên em được một người tặng thơ mà không phải tặng tiền” - “Anh không hiểu?”… - “Anh có biết không? Suốt đêm em đã đọc những bài thơ của anh. Em không nghĩ bây giờ trên đời này lại có thứ người ngây ngô, ngốc nghếch đến vậy. Tình yêu quê hương và tình yêu đôi lứa trong những vần thơ anh viết làm cho em xúc động. Anh đã cho em trở lại đứa bé con ngày xưa khi cắp sách tới trường, anh cho em về với cô thôn nữ lần đầu tiên hẹn hò với người trai làng bên bến sông quê… Lâu lắm rồi, lâu lắm rồi em mới lại tìm thấy cảm giác thèm muốn hiến dâng trọn vẹn. Ôi, giá chi phần người trong em đừng trỗi dậy… Ôi, giá chi anh là thằng đàn ông khốn nạn như bao thằng đàn ông khốn nạn khác, ném tiền rồi vấy lên thân xác em những gì cần giải thoát. Còn em, hân hoan cùng cảm giác là niềm vui đắc thắng được trả thù”.

Em dừng lời, bàn tay em cầm tay tôi nóng rực, có lẽ em quá phẫn cảm. Chợt em buông tay tôi ra, quay lại đứng đối diện với tôi: “Em vốn là gái quê mà anh. Năm mười sáu tuổi em theo gia đình lên đây khai hoang. Lúc ấy, cái phố Núi này mới có dăm nóc nhà, vài chục hộ sống quây quần. Không đông đúc, náo nhiệt mà thanh bình, êm ả làm sao… ”

Giọng của em bỗng dưng thật nhẹ, thật nhẹ, âm thanh rên rả khuất chìm vào những vùng tối lịm… Bỗng tôi nhìn thấy nhòa trong màu chết, dưới ánh trăng hạ tuần, phía vực sâu trước mặt, một dải mây bềnh bồng, mỏng tang, hình chiếc khăn phu la theo gió vẫy đùa…

“… Anh nhìn đi, anh nhìn đi… ” - Giọng em trở nên nghẹn ngào, khắc khoải: “Những người nằm nơi đây, đa phần là gái làng chơi. Khi sống, họ là những thiếu nữ xinh đẹp, đoan trang, thùy mị. Họ muốn có một cuộc đời thật đẹp, nhưng vì hoàn cảnh và số phận trớ trêu không cho họ sống theo ý muốn. Cũng như em!... Cũng như em!...

Vạt mây hình chiếc khăn phu la tan loãng, lời em nghẹn tắc, chới với, em chực ngã, tôi vội vàng bước tới, dang tay đỡ tấm lưng thon thả, một cảm giác ấm nồng từ người em lan sang, xua đi cái lạnh giá run rẩy từ nơi tôi…

 

(*) Nhân vật nói tắt, chỉ căn bệnh HIV/AIDS

 

 

 

 

 

 

 

TRUYỆN VIẾT Ở ĐẦM CÒ

 

Gọi Tùng cò, bởi  ngày đầu tiên gặp nhau ở kí túc xá sinh viên trường Đại học, tôi chưa gõ mà hắn đã xưng: Tôi tên Tùng, nhưng vì nhà ở Đầm Cò nên mọi người gọi vậy để phân biệt với những người trùng tên.

Không biết có phải vì sinh ra ở Đầm Cò mà cái biệt hiệu “cò” lại rất đúng với phong thái bề ngoài của Tùng : khuôn mặt dài, lưỡng quyền nhô, xương cằm bạnh như hàm rắn; người cao, dáng mảnh khảnh, “đầu gối quá tai” bước cà nhắc theo đúng nhân gian thường ví: “Trông như cò hương”.

Tùng cò và tôi trọ chung phòng và học cùng khoa Tài nguyên và Môi trường. Tính Tùng cò hiền lành nếu không gọi là nhút nhát. Nói năng nhỏ nhẹ, ít giao du, học bài xong ngồi lì trong phòng đọc sách; thứ bảy, chủ nhật, ngày lễ không ở lại thành phố mà vội vội, vàng vàng ra bến leo tót lên xe khách về quê, tối mịt chủ nhật hoặc mờ sáng thứ hai mới có mặt ở trường. Một lần tôi hỏi đùa: Có em nào bỏ bùa mê thuốc lú cho cậu hay sao mà tuần nào cũng về? Mặt Tùng cò đỏ ửng, đưa tay gãi đầu: Không về người ta lại tưởng mình ra thành phố quên người nhà quê, phiền phức lắm.

 Như vậy đích thị Tùng cò đã có người yêu và hai đứa chắc phải yêu nhau lắm lắm. Tôi đoán vậy và mặc dù rất thân, nhưng nói theo cách nói của bọn sinh viên không “xắn quần lội vào đời tư” của người khác nên tôi không hỏi. Nhưng học dở năm thứ ba thì đột ngột Tùng bỏ học cùng với tin bố Tùng phạm tội bắn chết người phải đi tù. Bặt tin từ ngày ấy, đột nhiên sau gần mười năm, tôi nhận tin Tùng mời về nhà chơi với lí do đơn giản: Nhớ hồi cùng học, tôi có hứa sẽ mời anh về ăn một bữa “lẩu cò”.

Cưỡi xe máy hơn trăm cây số về tới ngã ba phố huyện quê Tùng. Tôi hỏi một em bé chăn bò. Đứa bé nhìn tôi suốt lượt như kiểm chứng rồi hỉ hả: “Vậy chú không phải là dân câu rồi. Chắc chú đến để học tập cách làm kinh tế của chú ấy chứ gì? Tôi ừ hữ, chú bé chỉ tay về dãy núi xa xa nói tiếp - Chú cứ theo dọc con đường kia, khi nào nhìn thấy vết cứt cò là đến cơ ngơi của chú Tùng cò. ”.

Đúng như lời chú bé chăn bò nói, ngoặt vào lối rẽ tôi bắt gặp những bãi phân cò trắng như vôi rắc. Trước cổng vào có một chiếc lán rộng và một tấm biển ghi rõ: “Khách đến Đầm Cò làm ơn để xe có động cơ ở đây và tránh gây tiếng động cho cò. ”. Tôi tắt máy dắt xe vào; trong lán đã có mấy chiếc ô tô bốn chỗ và hàng chục chiếc xe máy dựng thành hàng. Quanh bờ đầm, dưới những chiếc lều nhỏ lợp lá cọ nằm xen kẽ giữa hàng cây ăn quả lâu năm, các “đệ tử của Lão Vọng” mắt đắm đuối theo dõi phao câu, im phắc như tượng gỗ trong chùa; tay cầm cần theo tư thế sẵn sàng… giật.

Vậy ra đây là nguồn sống chính của Tùng. Tôi lẩm nhẩm rồi mở cổng đi vào. Đầm Cò rộng mênh mông ngoài trí tưởng tượng của tôi. Mặt đầm trải tít đến gần chân dãy núi. Từng làn sóng nối nhau vỗ bờ ì oạp. Giữa đầm một bãi nổi với cánh rừng bát ngát rời rợi màu xanh. Gió thổi lộng, rừng cây đu đưa, nhấp nhoáng ẩn, hiện trong những cánh cò trắng phau rập rờn giữa màu xanh tinh khiết. Không khí trong lành và cảnh quan thơ mộng gợi trong tôi về với miền cổ tích...

Đang ngất ngây ngắm phong cảnh, đột ngột một con chó to bự, lông xù xồ ra kèm theo tiếng sủa vang. Tôi giật mình nghiêng người thủ thế. Con chó nhe nanh gầm gừ… Một tiếng quát giật giọng từ trong lều ném ra: Lu, hỗn nào, vào! Con chó cum cúp quay lại. Tùng từ trong nhà bước ra.  

Tôi không tưởng tượng nổi sự đổi thay của Tùng: Cái dáng “Trông như cò hương” biến đâu mất, trước mặt tôi là một thân hình vạm vỡ, da cháy nắng, đầu húi cua, bước đi nặng chịch chắc chắn đích thực một tráng nông chi điền.

Tùng mời tôi vào lều. Gọi “lều” bởi vách được ốp bằng những thân cây sậy, lợp cỏ gianh xuôi mái. Trong lều, ngoài chiếc giường, là cái sạp nứa, vật đáng giá duy nhất là cây đàn ghi-ta treo trên vách cạnh bức ảnh một nam, một nữ đứng sóng đôi, cả hai đều mặc đồng phục Thanh niên xung phong thời chống Mỹ. Như đọc được ý nghĩ của tôi, Tùng rót bát nước mời tôi rồi nói: Tôi mua được mảnh đất hơn một trăm mét vuông ở khu giãn dân rồi; gạch, ngói, gỗ lạt, tre pheo, tiền công thợ cũng đủ rồi. Nhưng đợi khi nào bố tôi được ra tù thì sẽ khởi công. Tôi hỏi: Thế ông cụ bao giờ mãn hạn? Ngày mai - Tùng đáp - Bố tôi bị kết án mười năm, nhưng ông cải tạo tốt nên được hưởng chính sách ân xá tha trước thời hạn hai năm. Nhưng thôi, chuyện đâu bỏ đó, bây giờ ta đi ăn đã, chắc đi xa như thế anh cũng đói rồi.

Tùng kéo tôi ra ngồi ở bộ bàn ghế được đẽo gọt thô sơ từ những gộc cây còn nguyên rễ và sẹo mắt xù xì kê dưới tán một cây khế cành lá sum sê, lúc lỉu quả và những chùm hoa tím sẫm. Ngay sát bờ đầm nơi chúng tôi ngồi là chiếc thuyền thúng được neo bằng sợi dây thừng bồng bềnh rỡn đùa cùng sóng nước...

Dường như đã chuẩn bị, trên mặt bàn bày sẵn bát đũa, vò rượu và mấy thỏi cơm lam. Tùng nhấc chiếc lò chứa than củi đặt lên mặt bàn, nhóm lửa, bật quạt thổi cho than hồng rồi xuống rệ đầm xách giỏ cá lên - Tôi mời anh lên ăn lẩu cò nhưng đó chỉ là nói đùa thôi - Tùng mở giỏ bắt ra những con cá rô mình vàng ươm - Từ ngày bố tôi đi tù, tôi thề không bao giờ ăn thịt cò nữa. Thay lẩu cò, tôi đãi anh món cá rô đồng nướng than củi dành dành nhắm rượu và ăn với cơm lam. Cơm lam tay tôi làm, rượu tự nấu, cá bắt dưới đầm, cây dành dành mọc ven bãi nổi ở Đầm Cò lúc nào cũng sẵn.

Tùng xiên cá gác lên bếp than hồng, tiếng than reo tí tách, vẩy cá nở như hoa, Tùng lấy lông gà tẩm nước gừng phết lên từng lượt rồi lật đi lật lại, cá bén lửa tỏa mùi gừng thơm lựng. Cá chín, Tùng bóc, gỡ ruột bỏ đi rồi đặt vào bát tôi: Cá này phải ăn nóng mới ngon. Uống rượu xong thì ăn cơm lam. Các anh ở thành phố thiếu gì đặc sản, nhưng bảo đảm ăn xong bữa này anh sẽ nhớ đời.  

Tùng rót rượu ra bát đưa cho tôi - Anh thông cảm, ở trên này chúng tôi có lệ uống rượu bằng bát. Nào mời anh - Tùng nâng bát rượu cụng vào bát của tôi. Cứ uống xong một ngụm Tùng lại chìa tay ra: Anh thông cảm, trên này có lệ cứ mỗi lần cụng là phải “giật giật, lắc lắc”. Nói rồi Tùng cười, nụ cười như tự giễu với cái “văn hóa nửa mùa” ấy.

 Tôi vừa nhâm nhi vừa nhìn Tùng. Quả thực tôi không tài nào nhận ra chàng sinh viên Khoa Tài nguyên và Môi trường ngày xưa nữa. Hết cả sự rụt rè, e nép; hết cả tiếng nói, cười nhỏ nhẹ. Thay vào đấy là một Tùng lanh lợi, tháo vát, vẻ bụi bụi của một người từng trải. Sau ba tuần rượu, Tùng kể:

 - Bố mẹ tôi cùng đi thanh niên xung phong một đợt - Tùng ngả người tựa vào gốc khế, nhìn về phía bãi nổi - Lúc ra quân thì ông bà làm đám cưới. Nhưng vì cả hai đều nhiễm chất độc màu da cam, nên chữa chạy thuốc thang mãi mới có tôi. Hồi ấy khu vực này làm gì có người chỉ là khu đầm hoang mà anh. Theo lời kêu gọi vỡ đất hoang hóa, phủ xanh đồi trọc, bố mẹ tôi xung phong ra đây. Mới đầu là vượt bờ, thưng ruộng, cấy lúa. Nhưng anh tính, đất ở đây ngập phèn, chạt váng vàng như đồng thau, bong bóng sủi tăm nổ như rang ngô, không khau nước được, lúa đến thì con gái úa rực như tơ tằm, gặt về những rơm là rơm. Sau mấy lần thất bại, bố mẹ tôi bàn nhau chuyển hướng. Bố tôi bảo: Các cụ ta có câu “Thứ nhất thả cá, thứ nhì gá bạc” Mình không có gan gá bạc thì chịu khó làm đầm thả cá. Thế là bố mẹ tôi ngày ngày xì xụi khơi dòng, vạ đất đắp bờ. Không có tiền mua cá giống, mẹ tôi ra chợ mua những mớ cá ế mang về; con sống thả đầm, con chết để ăn. Nhưng ông trời không thương bố tôi. Lúc tôi lên bảy tuổi thì mẹ tôi qua đời...

Tùng nhấp thêm ngụm rượu, mặt không còn lựng đỏ mà dài dại, tinh mắt đờ đẫn như gánh nặng quá khứ đang đè nặng lên tâm hồn. Tôi lo lắng sợ Tùng quá chén, nhưng Tùng lắc đầu: 

- Anh an tâm đi. tôi không phải là kẻ mượn rượu giải sầu. Hôm nay có anh nên tôi muốn trở về với những điều từ bao lâu nay ấp ủ trong lòng. Ai cũng có quá khứ, dẫu đó là niềm vui hay nỗi buồn. Và ai cũng muốn được thổ lộ, trần tình cho nguôi ngoai hoặc sẻ chia. Nhưng cuộc đời đâu giản đơn như ta nghĩ. Có những nỗi niềm ẩn khuất không thể thốt thành lời. Phải chăng đó là số phận? Mà sao số phận ấy lại đến với bố con tôi? Bố tôi suốt một đời tận tụy. Một thời tuổi trẻ hiến dâng cho đất nước; về già muốn vượt qua nghèo khó thì lại mắc vòng lao lý. Có đứa con duy nhất thì bỏ trường đại học về đây làm ông chủ hồ câu và trông nom một bãi cò hoang.

- Vậy ra ông cụ vẫn nghĩ anh đi học đại học? – Tôi hỏi.

- Đúng là bố tôi vẫn nghĩ tôi học xong đại học và đi làm rồi. Vì vậy tôi lo sợ cái ngày mai. Cái ngày bố tôi biết sự thật về đứa con mà ông đặt hết niềm hy vọng vào. Bằng cả tình yêu phụ tử và trách nhiệm máu thịt...

Đang nói Tùng dừng lời vì có người tới. Người khách là dân câu vì cái  túi đựng đồ câu khoác trên vai nói lên điều đó. Tùng xởi lởi: Được con nào chưa mà anh về sớm thế? Ngồi làm với bọn em tợp rượu đã. Người khách câu gật đầu chào, hạ túi đồ, ngồi xuống, giọng tiếc nuối: Chán quá, tớ phải về vì vợ điện nhà có việc đột xuất. Hơi tiếc, mồi thả vừa chín, cá lượn vòng quanh, tăm nổi ùng ục... Anh ta vừa nói vừa móc túi lấy tiền ra. Tùng xua tay: Em không lấy đâu. “Luật” rồi mà anh, ai đến câu ở Đầm Cò “bị móm” em không thu tiền, mồi thả xuống coi như để nuôi cá.

Người khách nhét tiền vào chỗ cũ: Đã là “luật” thì phải chấp hành thôi. Nhưng Tùng này - Người khách câu cầm bát rượu Tùng vừa rót chạm đánh “keng” vào bát của tôi, rồi ngửa cổ dốc “ực” một cái vào cổ họng - Cậu có cách kinh doanh khác bọn hồ câu dưới xuôi. Bọn dưới ấy, đã ném mồi, buông cần là nộp hết, được, hay “móm” không “oong, đơ” gì hết. Kiểu kinh doanh như cậu, thiệt trước mắt nhưng được cái về lâu dài - Kết luận xong người khách câu đứng dậy - Thôi, chúc các vị ngon miệng, “bai” nhé! 

Chờ người khách đi khuất, tôi hỏi: Mỗi hôm quân bình thu được bao nhiêu hả Tùng? Tùng cười: Cũng tùy, nhưng vào thứ bảy, chủ nhật hay ngày lễ thì khá hơn. Dân câu thích câu ở Đầm Cò vì cảnh trí ở đây đẹp, môi trường sạch, có dòng đối lưu nên nước sạch, cá không bị ô nhiễm.

Tôi hỏi: Tiền thu thế nào? Tùng mân mê chén rượu: Tôi thu theo ca mà anh. Bốn tiếng gọi là một ca, mỗi ca năm mươi nghìn. Nửa tháng thả thêm cá một lần, loại bé nhất cũng trên cân một con. Đầm Cò sẵn phù du nên cá nhanh lớn. Anh tính, ngồi ôm cần câu cả ngày, không giật được con nào chán lắm. Mà tiền câu, tiền mồi tính ra nhiều hơn cả tiền mua cá ở chợ. Nhưng đã nghiện câu rồi, tuần không ngồi được một lần là không chịu được. Chả thế dân câu thường nói đùa với nhau: Nhìn phao câu nhiều hơn nhìn mặt vợ.

Tôi hỏi: Thế còn đàn cò, thu hoạch khá không? Tùng xiên thêm mấy con cá nữa đặt lên lò than: Không! Cá và cây ăn quả là nguồn thu chính của tôi, còn đàn cò là tôi làm theo ý nguyện của bố tôi. Anh biết không, tôi nhớ hồi còn nhỏ, một lần bồ bơi từ bãi nổi về, ông bế thốc tôi lên chạy ra bờ đầm, chỉ tay vào rừng cây trên bãi, reo: Tùng ơi, có cò tha rác về làm tổ trên cây rồi. Kia kìa... con có nhìn thấy không?

Tôi bé biết gì đâu, vả, những con cò với tôi chẳng là gì hết. Tôi chế súng cao su rình bắn, kiếm nhựa dính giăng bẫy bắt cò. Bố biết, không giận mà bắt tôi ngồi xuống trước mặt giảng giải: Theo cố nội kể cho bố biết, trước kia đây là nơi trú ngụ của các loài muông thú, nhưng nhiều nhất vẫn là đàn cò, vì thế nên mới gọi là Đầm Cò. Sau đợt Tây càn, bãi nổi bị đạn đại bác bắn vào cháy rụi nên muông thú, chim muông bỏ đi hết. Bây giờ tự nhiên có đàn cò về làm tổ, đó là điềm lành cho bố con mình. Con chim có tổ cũng như con người có nhà. Vậy nên con đừng phá, giữ yên ắng cho cò có nơi có chốn...

Những điều bố nói cộng với hành động của ông thấm dần vào tôi. Tôi nhớ mỗi lần đàn cò về muộn, bố không ăn cơm mà ra bờ đầm trông ngóng, cho đến khi những cánh cò như dải chớp trắng theo hình mũi tên bay về tổ ông mới thở phào nhẹ nhõm... Với ông, dường như đàn cò là tất cả. Tôi bị lây tình yêu của bố, nên khi thi đại học tôi quyết định thi vào Khoa Tài nguyên và Môi trường.

Cho đến khi tôi vào đại học, đàn cò ở bãi nổi đã có trên một nghìn tổ. Bố tôi vui lắm. Ông thường ra ngồi ở đây, nhấp chén rượu ngắm đàn cò, gảy đàn và hát những bài hát nói về một thời thanh niên xung phong.

- Vậy sao anh không làm theo ý nguyện của ông cụ? – Tôi hỏi. Tùng nhìn tôi với ánh mắt đượm một nỗi buồn khó tả: Anh còn nhớ hồi còn ở kí túc xá không? - Thứ bảy, chủ nhật nào tôi cùng về. Thú thực với anh, lúc ấy tôi về vì tôi đang yêu. Nàng tên là Khế, học sau tôi hai lớp, nhà ở phố huyện, con út một chủ thầu bất động sản. Tôi bị nàng cuốn hút, nên yêu cả cái tên mà theo bạn bè không xứng với sự xinh đẹp của nàng. Tuy là con nhà giàu nhưng nàng không kênh kiệu. Có lần nàng nói với tôi: Em thích cái Đầm Cò của anh hơn cái biệt thự mà bố em xây làm của hồi môn cho em. Để chứng minh tình cảm của mình, nàng mang đến cho tôi một cây khế non và bảo: Anh trồng và chăm sóc cẩn thận và hãy coi đây là tấm lòng của em... - Tùng vỗ tay vào thân cây khế - Cây khế này chính là cây khế nàng mang cho tôi đấy, đã mấy mùa trổ hoa, đơm quả rồi mà mọi thứ vẫn còn dang dở...

Ngừng một lát Tùng nói tiếp: Chính tình yêu của nàng đã cho tôi vượt qua sự mặc cảm thân phận của mình. Nhưng sự đời thường không như ta nghĩ. Vào một buổi chiều ở trường về, lúc đến đường rẽ tôi gặp anh trai nàng đi từ trong nhà tôi ra, anh ta đỗ xịch xe lại trước mặt tôi, nét mặt hằm hằm: Này thằng Tùng kia, từ nay tao cấm mày gặp em gái tao, nếu không đừng trách tao nói trước. “Đũa mốc lại chòi mâm son”. Buông xong câu thành ngữ anh ta rồ ga phóng vút đi.

Về đến nhà, tôi thấy bố tôi ngồi dưới gốc cây khế mặt buồn rượi. Tôi hỏi: Có chuyện gì đấy hả bố? Bố tôi thở dài: Bố con ông chủ thầu bất động sản muốn bố nhượng lại quyền thuê khu vực Đầm Cò để xây biệt thự mi ni. Trong thời gian ấy bố tôi lo lắm. Ông sợ khu Đầm Cò về tay người khác thì đàn cò sẽ mất. Bố tôi lên tỉnh đưa đơn yêu cầu. Thật may Ban Bảo vệ Tài nguyên và Môi trường cử cán bộ xuống xem xét. Họ đánh giá cao việc cải tạo môi trường và gây lại đàn cò của bố tôi nên làm văn bản đề nghị địa phương cho bố tôi kí lại hợp đồng.

Không chiếm được khu Đầm Cò, anh trai nàng tức giận, ngoài việc ngăn cấm hai đứa tôi gặp nhau, thi thoảng anh ta đi xuồng cao su vào bãi nổi bắn chim. Bố tôi bực lắm, nhưng sức yếu, người bảo vệ không có, mà bố tôi lại sao được với những kẻ cố tình phá phách. Sau mỗi lần như vậy, bố tôi lại đi thuyền thúng ra bãi nổi nhặt cò mang về, con chết thì chôn, con bị thương thì chạy chữa, lành lặn lại thả về bãi. Có nhiều lần, tôi thấy ông vừa chôn xác cò vừa gạt nước mắt...

Kể đến đây, dường như xúc động về những hồi ức được nói ra, đôi mắt Tùng đẫm lệ. Tôi dứt tờ giấy lau đưa cho Tùng. Tùng thấm nước mắt rồi lật tờ giấy nhặt những cánh hoa khế tím biếc rụng trên mặt đất để vào. Anh nói tiếp:   

- Vào cái hôm định mệnh ấy, tôi chèo thuyền thúng sang bãi nổi với mục đích gặp anh ta nói chuyện. Khi đến nơi, tôi thấy anh ta đầu đội mũ nồi đỏ, mặc bộ quần áo rằn ri, miệng phì phèo thuốc lá; súng hai nòng lăm lăm trong tay. Thấy tôi nhưng anh ta coi như không có, giương súng lên ngắm bắn. Một tiếng nổ vang, đạn ghém tỏa thành vầng, khói bay mù mịt; lũ cò xáo xác; những con cò trúng đạn rơi xuống như sung rụng. Không kìm được, tôi kêu lên: Không được bắn! Bất cần, khẩu súng nhả thêm một phát nữa; những con cò đang bay lơ lửng trên bầu trời trúng đạn táp cánh rơi xuống ngay trước mặt. Nhìn những con cò máu chảy đầm đìa, giãy đạp, nhoai nhóp, đôi cánh non tơ vãy vãy, vươn cần cổ, há mỏ ra kêu cứu... lòng tôi quặn đau như chính mình trúng đạn...

Tôi thảng thốt, nghẹn ngào, rên rỉ: Dừng lại đi, tôi cầu xin anh đấy, xin hãy để cho đàn cò được yên. Nhưng anh ta không một chút động lòng, ung dung nạp thêm đạn và tiếp tục giơ lên ngắm. Không chịu được nữa, tôi lao đến chộp khẩu súng. Anh ta khỏe nhưng tôi nhanh, tôi giằng được khẩu súng, giương nòng súng chĩa thẳng vào ngực anh ta: Anh mà còn làm thế tôi sẽ cho anh một phát. Anh ta cười nham nhở, lấy chân di di những con cò đang giãy giụa dưới đất: Bắn đi! Bắn đi! Tao thách cả bố con mày đấy! Nói rồi anh ta vung chân đá những con cò bị thương nằm dưới đất như người ta đá bóng.

Tôi nhìn anh ta, nỗi tức giận ùa lên nghẹn đứng. Tôi cố kìm vì nghĩ dù sao đó cũng là anh trai của người yêu mình. Tôi lấy giọng ôn tồn: Anh đừng vào đây phá phách. Tôi hứa từ nay sẽ không gặp gỡ với em gái anh nữa. Anh ta cười sằng sặc: Mẹ kiếp, cha con mày là hạng “cứt nát có chóp”. Mày về bảo thằng bố mày đừng cậy có vài năm mặc quần áo thanh niên xung phong mà tưởng đã to. Còn mày thì có thè lưỡi liếm gót chân cho tao như một con chó thì cũng đừng có mơ chui vào nhà tao…  

Tôi trừng mắt nhìn anh ta: Anh nói tôi thế nào cũng được, nhưng đừng xúc phạm đến bố tôi. Anh ta kéo mũ lệch về phía sau, cười khẩy: Bố mày là “cái đinh” gì với tao. Cơm không ăn lại muốn ăn cứt. Thằng nào chê tiền của tao thì thằng ấy phải chịu phạt. Tao thề sẽ phá nát cái khu Đầm Cò này. Nói rồi anh ta xông vào tôi cướp lại súng. Theo phản xạ tức thì, tôi bóp cò. Một tiếng nổ vang lên chát chúa, trong màn khói, tôi thấy anh ta gục xuống như cây chuối đổ, viên đạn ghém bắn ở cự li gần xé toang lồng ngực, máu chảy tràn mặt đất...

Tôi đứng sững như trời trồng. Vừa lúc ấy bố tôi từ dưới đầm chạy lên, ông chạy tới cái xác lật lên rồi gào: Tùng ơi, con giết chết người ta rồi. Rồi bố tôi lao đến giằng lấy khẩu súng và nói như một sự tính toán sẵn: Tùng, con trốn ngay đi, mọi việc cứ để mặc bố. Tôi nghe theo chạy đi được một đoạn nghĩ thế nào quay lại: Bố, việc con gây ra cứ để con chịu. Bố tôi quỳ xuống chắp tay vái tôi: Tùng ơi, nghe bố đi ngay về trường, coi như việc này là do bố làm. Tôi cúi xuống nâng bố dậy: Bố ơi, bố già rồi, vào tù bố chịu sao nổi. Bố ôm lấy tôi giọng van vỉ: Tùng ơi, bố có mỗi mình con. Hãy nghe bố, trả lại Đầm Cò đừng bám ở đây nữa. Hãy cố gắng học cho xong rồi tìm nơi khác mà sống. Tôi dùng dằng không nỡ, chợt bố quay ngược súng tì vào ngực, giọng đanh cứng: Nếu con không nghe lời, bố sẽ chết tại đây. Tôi hoảng hốt thất thanh: Bố... bố... bố đừng làm thế, con... con... con sẽ nghe theo bố mà...

Tùng dừng lời, đăm đăm nhìn sang phía bãi nổi. Tôi bàng hoàng về những chi tiết Tùng vừa kể. Không gian như nghẽn lại sau sự thật phũ phàng; gió lặng, bóng cây rừng in hình trên mặt đầm sâu thẳm... Một lát sau, tôi hỏi: Vậy từ trước đến nay Khế vẫn nghĩ người bắn anh trai mình là ông cụ?

- Đấy chính là bi kịch của đời tôi - Tùng nói sau khi bóc thỏi cơm lam để vào bát cho tôi - Anh biết không - Suốt một thời gian dài, cái chết của anh trai nàng luôn đeo đẳng, ám ảnh tôi như một sự trừng phạt. Tôi sợ phải sang bãi nổi, run rẩy đi qua nơi anh trai nàng trúng đạn. Ánh hoàng hôn tãi trên lá cây rừng như màu máu chảy ra từ thân xác ấy. Mỗi khi màn đêm buông, hơi sương bàng bạc trộn màu tăm tối như chiếc khăn tang khổng lồ trùm kín cả không gian. Đầm Cò hoang lạnh, cô độc, tiếng ếch nhái rên rỉ, từng đàn đom đóm chập chờn bay lẫn trong ánh lân tinh nhấp nháy... Tôi cô đơn, nỗi cô đơn làm thân xác rã rời, tâm thần hoảng loạn. Đã không ít lần tôi muốn bỏ Đầm Cò mà đi. Nhưng hình ảnh người cha thân yêu lại hiện về trong giấc ngủ. Người nhìn tôi trìu mến, nắm tay dắt tôi đi từng bước... Xung quanh, cánh cò, cánh vạc chao nghiêng, lượn vòng, ríu rít dưới vòm trời xanh biếc...       

- Thế từ hồi ấy đến giờ Tùng có gặp lại Khế không?  Tôi hỏi. Tùng nhặt những cánh hoa rụng dưới đất để lên lòng bàn tay ve vuốt: Tôi làm gì còn tư cách để gặp nàng. Nhưng lối đời đâu chỉ là oan nghiêt, mà còn trớ trêu, cay đắng biết bao nhiêu. Thà rằng nàng đi lấy chồng, có một cuộc sống êm ả trong ngôi biệt thự của ông bố để lại thì có lẽ tôi cũng được an ủi phần nào. Nhưng không, sau khi tốt nghiệp sư phạm, nàng xin lên vùng cao dạy học, từ chối mọi lời cầu hôn và thề suốt đời không yêu ai nữa... - Tùng buông tiếng thở dài - Người đời thường nói: “Nếu con người còn sống thì vết thương lòng tự nó sẽ lành thôi”. Nhưng với tôi, vết thương ngày càng khoét sâu, chà xát, nhức nhối, còn lương tâm thì luôn day dứt như một kẻ tội đồ trốn chạy, chui lủi trong một nấm mồ hoang lạnh...

Tôi định tìm lời an ủi Tùng, nhưng chưa biết nói sao thì Tùng bỗng đứng phắt dậy, vẻ mặt đanh cứng, bàn tay siết chặt những bông hoa, giọng quả quyết: Tôi nghĩ rồi anh ạ. Dẫu sự thật cay đắng, tàn nhẫn đến thế nào vẫn là sự thật, chờ bố tôi về xong tôi sẽ đến gặp nàng thú nhận. Cho dù tôi nhận từ nàng sự tha thứ hay nỗi hận thù còn hơn suốt đời tôi làm kẻ dối trá...

Đã cuối thu, hoàng hôn xuống nhanh, những tia nắng xuyên qua tán lá quanh bờ, hơi sương bàng bạc bảng lảng trên mặt đầm; một đàn cò từ trên cao sà xuống, chao nghiêng, lượn vòng, những đôi cánh rập rờn, cài xen, nhấp nháy... Để tồn tại những chớp trắng tinh khiết trên vùng Đầm Cò, có những kiếp người phải vượt qua số phận cùng với một cuộc tình mang hương vị đắng đót đến tận lòng...

 


 

 

 

 

HÀNH TRÌNH VÀ SUY NGẪM

                                                             Bút  ký

 

 Khởi động

Nhận được giấy mời từ Ba Lan gửi về, tôi bảo thằng con cả: Thu xếp công việc, đưa  bố về Hà Nội làm thủ tục. Lãnh sự quán nước Cộng hoà Ba Lan nằm trên con phố nhỏ mang tên nữ sĩ nổi tiếng của dòng thơ nôm Việt Nam: “Bà Huyện Thanh Quan”. Lúc hai cha con tôi tới, ngay cạnh bốt gác trên hè phố, cách cổng Lãnh sự quán một quãng, có hơn chục công dân Việt Nam xúm quanh một chiến sĩ công an. Tôi đoán những người đó cũng đang chờ làm thủ tục, hai cha con tôi liền đi thẳng đến.

Chợt có tiếng gọi giật giọng từ hè phố bên kia: Này, này, có phải bác làm thủ tục đi Ba Lan lần đầu phải không? Tôi nhìn sang, thấy một chàng thanh niên miệng cười toe toét, cao tay vãy vãy. Tôi đang chưa hiểu thì chàng thanh niên gật đầu - Đúng rồi, bác sang đây, sang đây! Thái độ vồn vã và câu hỏi của anh ta tỏ ra rất quen biết. Tôi nhíu trán, cau mày cố lục tìm trí nhớ, nhưng tuyệt nhiên không tìm nổi một chút nào hình ảnh quen thuộc của anh ta dù bất cứ ở đâu.

Đang lưỡng lự, con tôi kéo tay: Kệ! “cò” đấy mà bố!  Nghe, ý thức cảnh giác tràn đầy, tôi rảo bước về phía người chiến sĩ công an, lễ phép: Thưa đồng chí, tôi muốn làm thủ tục đi thăm người thân ở nước Cộng hoà Ba Lan. Người chiến sĩ công an chỉ tay vào kệ bốt gác: Bác xếp giấy vào đó rồi chờ.

Tôi lấy tờ giấy ra định xếp vào, một giọng nữ thanh vang lên: Xếp hàng bằng chứng minh thư nhân dân! Tôi hiểu ngay, quay sang nhìn cô gái trẻ: Cảm ơn cháu. Đáp lại lời cảm ơn của tôi, cô giải thích thêm: Bác nhớ xếp lên trên, để lát nữa người ta còn lật. Nghe cô gái nói, ý thức xếp hàng trật tự từ hồi còn bao cấp trở lại, tôi đặt tấm chứng minh thư lên trên cùng và đáp: Dạ, tôi hiểu rồi.

Thấy tôi quanh quẩn ở đấy, người chiến sĩ công an nhắc khéo: Bác ra chỗ kia mà chờ, hôm nay đông, còn lâu mới tới lượt. Tôi đang định quay ra, một thanh niên cầm tập hồ sơ đưa cho người công an, hỏi: Anh làm ơn xem giúp trường hợp của em... Chưa dứt câu, người công an gạt phắt: Anh làm cái trò gì đấy? Đứng xê ra! Anh có biết xung quanh đây toàn là camera không? Anh sán lại gần tôi, nhỡ người ta không hiểu lại tưởng anh đưa tiền hối lộ cho tôi thì sao?

Chà chà... tôi thầm nghĩ. Quả thật là quan trọng, đưa hồ sơ sợ nghi tội ăn hối lộ, hỏi gầm trời này có bao người dễ mắc “oan Thị Kính” như vậy(!). Anh thanh niên định mở miệng nài nỉ, người công an rời khỏi chỗ đứng, tay khoát rộng: Đề nghị tất cả mọi người sang bên kia, chờ!

Sang bên kia, tức là đứng cách xa bốt gác khoảng... 5m và vẫn là hè đường.  Đứng lẫn trong đám người đến làm thủ tục, có một phụ nữ bụng chửa hây hây, cô so vai, rụt cổ, ngọ ngoạy một cách khổ sở, miệng ngáp một cái rõ to: Khổ, mang tiếng đến Lãnh sự quán mà chẳng có chỗ nào ngồi. Thế này nắng đã đành nhưng còn mưa thì sao? 

- Em đừng kêu ca, sắp đến lượt em rồi! - Chàng thanh niên mà con tôi gọi là “cò” đi từ bên kia đường sang, nhăn nhở cười- Đến đây không phải chờ mới là chuyện lạ. Mình cần họ chứ họ đâu có cần mình! Nhưng em yên tâm, hôm nay đúng là lịch giải quyết các trường hợp của em đấy! - Nói rồi anh ta quay sang tôi, lặp lại câu hỏi ban đầu: Có đúng bác đến làm thủ tục đi lần đầu phải không? Tôi bối rối: Vâng, nhưng sao... - Sao gì! - Anh ta cướp lời - Nhìn bác là tôi biết ngay. Nhưng hôm nay đâu phải ngày mà bác đến?

Tôi chỉ vào cổng Lãnh sự quán, nơi có hai người đang đứng chờ: Họ đang chờ đến lượt đấy thôi! Anh ta gật đầu thừa nhận: Thì đúng rồi! Hôm nào họ chẳng làm việc. Nhưng là việc khác chứ hôm nay không phải là ngày nhận giấy tờ của bác - Nhìn vẻ mặt tiu nghỉu của tôi, anh ta nói thêm - Thấy bác là người thật thà thì cháu bảo, chứ bác có chờ cũng chẳng được.

Tôi phân vân hết nhìn thằng con trai rồi lại nhìn anh ta. Cứ tưởng có giấy mời cộng với hộ chiếu hợp pháp là chắc ăn, ai ngờ... Như bắt được trúng mạch của tôi, chàng thanh niên đến gần ghé tai: Bác muốn nhanh chóng, sang bên kia cháu “tư vấn” cho. Tôi lưỡng lự, nhìn anh ta suốt lượt nhằm kiểm chứng tư cách với con mắt của người từng trải: Khoảng trên 30 tuổi, cao, gầy, mặt dài, da sạm, nổi nhiều nốt sần kiểu mụn nhân, mũi tẹt, lưỡng quyền cao, tóc chải ngôi giữa, lông mày nhỏ, mắt sáng, tinh con ngươi đảo hoạt. Anh ta mặc một chiếc quần bò cũ, áo khoác màu đen, hở ra viền cổ áo sơ mi màu trứng sáo, sạch nhưng hơi nhàu nếp. Phong cách tổng thể vẻ bụi bụi. Bề ngoài giống người lái xe ôm, nhưng cách nói trơn tru, bẻo lẻo, thành thạo; đi, đứng nhanh, hoạt, đẩy vẻ tự tin của một kẻ có nhiều thâm niên trong quan hệ giao tiếp.

Hiểu được sự phân vân của tôi, chàng thanh niên tung ra chiêu thức kiểu võ lỡ: Tuỳ! Bác không tin thì cứ ở đấy mà chờ! Thằng con cả của tôi nói nhỏ: Bố cứ để đấy con. Nói rồi con tôi cùng chàng “cò” rảo bước sang bên kia đường. Qua vài ba phút, tuy không nghe tiếng, nhưng nhìn thái độ  hể hả, mời thuốc lá nhau rất lịch sự, vẻ “tình thân ái ngập tràn núi cao”, tôi đoán con tôi và “nhà cò” đã nhanh chóng đi đến hồi kết. Quả vậy, thằng con giơ tay vãy: Bố ơi, sang đây. Tôi nhìn chồng giấy xếp hàng trên kệ bốt gác, phân vân không biết nên đi hay ở... Người chiến sĩ công an nói giọng cảm thông: Còn hàng chục người nữa mới tới lượt bác. Tôi thì thào hỏi: Liệu anh ta có giúp được không hả đồng chí? Đầu chiến sĩ công an gật nhưng nghĩa của câu nói nằm ở vị trí hai luồng: Tôi cũng chẳng biết, nhưng bác cứ sang đấy xem thế nào. Thời đại tư vấn mà bác! Lời nói của người chiến sĩ công an như tiếp sức mạnh, tôi cảm ơn rồi bước sang bên kia đường gặp hai nhà thương thuyết.

- Bố đưa giấy mời cho anh ấy xem - Con tôi bảo. Tôi móc túi, tờ giấy chưa kịp hở chữ, chàng “cò” đã xua tay: Thôi! Khỏi! Lạ gì nữa mà phải xem. Đây! - Chàng “cò” mở yên xe máy, lấy ra một xấp giấy, đếm cho tôi mấy tờ - Biếu bác,  mang về khai, thứ hai tuần sau đến sớm mà nộp.

Tôi tá hoả nhìn tệp giấy in toàn chữ nước ngoài. - Thế này thì... - Tôi lắp bắp, hết nhìn tệp giấy lại nhìn chàng “cò”. Chàng “cò” rít một hơi thuốc, thổi khói lên trời Thủ đô, nói tiếp: Ngoài tờ khai bác còn phải lấy giấy chứng nhận tài chính cá nhân, sổ đỏ nhà ở, bản kê nguồn gốc thu nhập đã được dịch ra bằng tiếng Ba Lan…

Ối giời ơi là giời! Tôi thầm kêu trong bụng. Thế này thì đến bao giờ mới xong? Hiểu được binh tình, con trai tôi hỏi chàng “cò”: Nếu anh giúp chúng tôi thì hết bao nhiêu? Chàng “cò” đáp tưng tửng: Hai trăm! Tôi giật mình thốt lên: Tận hai trăm đô la? Miệng chàng “cò” nở rộng, cười phớ lớ, hở ra quầng lợi thâm và những chiếc răng ám vàng khói thuốc, rồi đột ngột thay đổi nhân xưng: Lấy đâu ra mà “mượt” thế hả “cụ”! Được “lĩnh lương” như “cụ” nói thì con đã bỏ hẳn nghề “xe ôm”! – Vậy ra anh làm nghề lái “xe ôm”? - Tôi bật ra một câu hỏi. Chàng “cò” hiện nguyên hình, tay đập đập vào yên chiếc xe Đờ-rim- Việc giúp “cụ”  là “nghề tay trái”, nhân thể trong khi chờ khách. - Chàng “xe ôm” kiêm “cò” kết luận - Nói tóm lại, con giúp “cụ” cho đến khi nào “cụ” nhận được “vi sa”, “cụ” và anh cho con xin hai trăm ngàn Việt Nam đồng!

- Xong! - Con tôi đáp lại chắc nịch. Sau một tuần thuốc nữa, hai bên “kí kết hợp đồng”. Văn phòng là yên xe máy, chàng “cò” điền vào tờ khai bằng tiếng Ba Lan như người Ba Lan vậy. Con tôi nhìn anh ta viết, hỏi: Này, anh tốt nghiệp trường Đại học Ngoại ngữ năm nào? Chàng “cò” vừa viết vừa đáp: “Đói đầu gối phải bò” chứ đại học đại hiệc gì thứ tôi. Làm mãi quen hết! Nói xong thì anh ta cũng đã “khai” xong. Đưa cho tôi tệp giấy anh dặn: Đây là tờ khai mẫu, “cụ” về theo đó mà “mần”. Các giấy tờ cần thiết, con đã liệt kê hết trong tờ giấy này rồi. “Cụ” cứ căn cứ vào đó; giấy tờ nào cần công chứng thì công chứng, giấy tờ nào cần phô tô thì phô tô; loại nào một bản, loại nào hai bản, con đánh dấu cả rồi - Nói xong chàng “cò” đưa cho tôi tệp giấy, tôi định cầm, bỗng anh ta giật phắt lại đưa cho con tôi - Thôi, “cụ” để anh ấy cầm cho chắc, “cụ” lớ ngớ để rơi mất lại công toi. Trước khi chia tay cha con tôi, anh ta dặn thêm: “Cụ” về nhớ làm khẩn trương! Thời gian lâu đấy. Riêng từ khi nộp giấy tờ vào lãnh sự cho đến khi được phỏng vấn phải mất 20 ngày. Còn chưa tính ngày chờ đợi lấy vé máy bay. Căn cứ vào thời hạn trong giấy mời là gấp đấy! 

Và bây giờ thì tôi đã chễm chệ ngồi ở khoang hành khách của chiếc phi cơ Bô-inh 767 vào bậc hiện đại nhất của Hãng Hàng không Ba Lan. Ghế đôi, tôi ngồi sát cửa sổ. Ngồi cùng hàng là một chàng thanh niên trẻ người Ba Lan, có khuôn mặt dễ thương với cái nhìn thân thiện. Tôi chủ động gật đầu chào, chàng thanh niên Ba Lan nở một nụ cười hào phóng đáp lại và giúp tôi cài dây an toàn rồi sau đó chúi mũi vào cuốn sách. Tôi tò mò liếc nhìn cuốn sách anh ta đọc và nhận ra đó là một cuốn truyện tranh thiếu nhi.

Yên vị, tôi đưa mắt quan sát xung quanh để tìm hành khách người Việt cùng đi. Nhưng ở khoang tôi ngồi toàn người ngoại quốc. Tôi quay ra áp mặt vào cửa kính, vũ trụ bao la, nền trời thăm thẳm, từng chòm sao lấp lánh, nhấp nháy ẩn, hiện trong những đám mây màu sáng. Tiếng động cơ rít gió à à đưa tôi về với một kỉ niệm cách đây đã gần hai mươi năm...

Đó là một ngày hè năm 1994, trong bữa cơm chiều, đứa con trai thứ hai của tôi đột ngột hỏi: Bố có biết ngày nay ước mơ của bọn thanh niên chúng con là gì không? Tôi nhìn nó vẻ chưa hiểu. Vợ tôi dừng tay xới cơm: Vậy con nói xem con ước mơ gì? Thằng bé đưa mắt nhìn ra cửa: Mơ ước của chúng con là “đầu híp, đít béo”. Tôi và vợ tôi còn đang chưa hiểu “đầu híp, đít béo” nghĩa là gì, thì đứa con út chỉ tay ra cửa: Đầu híp đít béo kia kìa bố! Tôi nhìn theo tay thằng bé và nhận ra bên kia đường, trước ngôi nhà hai tầng có một chiếc xe TYOTA mầu nòng súng, cả hai đầu béo múp míp bóng loáng đang đỗ. À, ra vậy, thằng con tôi ước mơ có nhà lầu, xe hơi...

Tôi định vác bài học thường nhật ra để “trình bày hoàn cảnh” nhân đó uốn nắn tư tưởng cho cả bầy con thì nó nói luôn: Bố mẹ cho con đi Tây. Bây giờ chỉ có đi Tây mới đổi đời được. Nghe giọng con, vợ chồng tôi nhìn nhau. Tôi đưa ra chiêu cuối: Thế con không thi đại học à? Nó đáp rất nghiêm túc: Con không học đại học, con muốn “đốt cháy giai đoạn”. Thằng bạn con gửi thư về rủ con đi Ba Lan. Nghe nó nói ở bên ấy dễ kiếm tiền lắm!(!). Lý lẽ của nó làm tôi không sao nuốt nổi miếng cơm đang nhai trong miệng.

Trong ba đứa con trai của vợ chồng tôi, nó là thằng khó nuôi nhất. Lúc sinh, nó chưa đầy 3 kg, vợ tôi lại thiếu sữa, phải nuôi cạn. Ngày ấy thời tem phiếu, thằng bé còm nhom lại mắc bệnh đường ruột. Nó sống quặt quẹo, thiếu thốn đủ mọi bề. Có lần đưa nó đi cấp cứu vợ chồng tôi đã tưởng không nuôi nổi, nhưng may sao, số nó được làm người, qua cơn vận hạn, dần dần cháu khoẻ ra tuy so với thằng anh và đứa em, nó là đứa “thấp bé, nhẹ cân”, ăn uống lại kiêng khem đủ kiểu, vì vậy vợ chồng tôi không muốn cho cháu xa nhà.

Suốt một thời gian dài vợ chồng tôi vận động nhưng không sao ngăn được. Và càng không ngăn nổi vì vào những năm 90 cuối thế kỉ trước phong trào đi Tây rất rầm rộ. Và quả thực, nhiều gia đình ở thị xã miền trung du này đã thay đổi khi trong nhà có người sang Tây làm việc. Ở phố tôi, thi thoảng xe lớn, xe bé chở các kiện hàng to, nhỏ từ cảng Hải Phòng về lại càng củng cố hơn cho ước mơ “đầu híp, đít béo” của nó. Vợ chồng tôi đành “thua”.

Hôm tiễn con đi, ở nhà ga sân bay, vợ tôi cứ ôm chặt thằng bé vào lòng và khóc nhiều lắm. Tôi không hiểu có phải đó là điềm báo trước không, nhưng 5 năm sau khi cháu đi Tây, vợ tôi đột ngột qua đời. Và phải mất 8 năm nữa, cháu mới có điều kiện đưa vợ, con về thắp hương chịu hiếu với mẹ. Đôi khi tôi nhớ lại và có ý nghĩ liên tưởng hôm tiễn con, vợ tôi đã khóc bằng những giọt nước mắt của người mẹ lần cuối cùng vĩnh biệt con...

… Những kỉ niệm quá khứ về đứa con đang lộn xộn trong đầu thì đèn trong khoang hành khách bừng sáng. Đến giờ ăn, xe lăn chở đồ ăn tới. Nhân viên phục vụ người Ba Lan tươi cười chỉ tay vào xe đồ ăn và đưa ra một câu nói mà tôi đoán: “Ngài xơi gì?”. Tôi cười ngượng vì vốn ngoại ngữ của mình rồi nhanh trí, chỉ vào suất ăn của chàng thanh niên Ba Lan ngồi cạnh ra ý: “Tôi cũng xơi như thế”.

Một suất ăn theo kiểu Tây. Tôi loay hoay xoay ngang xoay dọc bộ thìa, nĩa trên tay và đang tính sẽ ăn như thế nào? Xơi gì trước, ăn gì sau? Tôi quay nhìn vào cửa kính, bóng chàng thanh niên Ba Lan cùng suất ăn của anh ta hiện ra. Tôi chợt nhớ bộ phim mà vua hài người Anh Rowan Atkinson thủ vai “Mr Bean” đang chiếu trên truyền hình cáp Việt Nam. Vậy là tôi học theo luôn, kín đáo theo dõi và bắt chước “ăn theo” anh chàng người Ba Lan. Anh ta bóc giấy lấy miếng pho mát đặt vào ổ bánh mì, phết bơ, đặt rau, rắc muối tiêu, cuộn bánh mì lại chấm nước sốt rồi đưa lên miệng. Vậy là tôi cũng làm y thế. Anh ta nhấc cốc nước màu cà phê lên nhấp một ngụm, tôi cũng nhấc cốc của tôi lên nhâm nhi. Cứ như thế, qua hình ảnh phản chiếu, tôi hoàn thành suất ăn theo đúng kiểu Tây không chê vào đâu được.

Ăn uống xong, tôi bật đèn bàn, ngả người trên ghế, mở báo ra đọc rồi thiu thiu ngủ lúc nào không rõ nữa. Cho đến khi tỉnh dậy, nhìn qua ô cửa kính máy bay, trời sáng như dát bạc, một vùng tuyết trắng hiện ra. Tôi nhìn đồng hồ: Bây giờ là 24 giờ, giờ Việt Nam, vào khoảng 6 giờ sáng Ba Lan, theo đúng lịch trình, nửa giờ nữa tôi sẽ đặt chân lên đất Ba Lan. Một xứ xở cách đây mấy chục năm tôi đã được nghe tên qua bài thơ nổi tiếng “Em ơi Ba lan” của nhà thơ Tố Hữu.

Cuộc du hí đến xứ bạch dương bắt đầu.        

“Em ơi Ba Lan mùa tuyết… ”

Đón tôi ở nhà ga sân bay Warsaw là vợ chồng đứa con trai và hai đứa cháu gái. Đứa lớn Sara, mười tuổi, học ở trường Năng khiếu Âm nhạc và đứa nhỏ Maija, bập bẹ tập nói. Thấy tôi, cả nhà reo lên mừng rỡ. Anna - con dâu tôi bế đứa nhỏ ùa đến. Tôi cảm nhận sự ấm áp lan trên gò má, và nhận ra ngấn nước xúc động từ khoé mắt của đứa con trai đang trào ra. Tôi hiểu những giọt nước mắt ấy bao gồm cả tình thương và trách nhiệm làm con, cùng với ước mơ dồn nén bao năm muốn được đón bố sang nơi mình sống và làm việc.

Sau giây phút ban đầu, con tôi ra bãi lái xe vào. Tuy chưa phải là một chiếc ô tô “đầu híp, đít béo” nhưng cũng là một chiếc xe thuộc dòng hiện đại. Xe 4 chỗ, của Đức, thiết bị khá hiện đại.

- Con chỉ sợ máy bay không hạ cánh được vì tuyết rơi nhiều quá! Anna nói khi cả nhà đã ngồi ổn định trên xe - Mùa Giáng sinh năm nay có tuyết sớm -  Con trai tôi nói đế vào - Sáng hôm qua chúng con lên đây, nắng còn ấm và thời tiết rất đẹp, đến nửa đêm tuyết mới rơi. Qua đó tôi mới biết: Vì tuyết rơi nhiều, trời mù, đường băng sân bay tuyết phủ dày nên đã có mấy chuyến máy bay phải quay lại ga xuất phát. Như vậy là tôi gặp may. Tôi thở phào nói vui: Thì mục đích của bố sang Ba Lan là để được biết tuyết rơi đẹp như thế nào mà! Nghe tôi nói cả nhà cùng cười. Vì hạn chế ngôn ngữ, đứa cháu gái lớn tỏ tình cảm với bằng cách đưa tay ve vuốt vai tôi, còn đứa cháu nhỏ ngồi trên một chiếc ghế dành riêng mắt tròn xoe nhìn ông nội.

Ngoài trời tuyết rơi mỗi lúc nhiều hơn. Những bông tuyết đáp lên mặt kính gặp hơi nóng tan chảy thành dòng, chiếc gạt nước ngoáy tít, cả bầu trời âm u, mù mịt. Hai ven đường tuyết vun cao, đóng băng; dưới lòng đường tuyết nhão nhoẹt như bùn, nhày nhụa, đen xịt, lầy lụa, trơn trượt. Con trai tôi dặn vợ lái xe cẩn thận. Nhìn con dâu ngồi lái xe, tôi chợt nhớ tới ngày đầu tiên con về quê chồng. Trước ngày đó, khi nghe con trai báo sẽ đưa vợ, con về Việt Nam ăn tết, cả nhà tôi vừa mừng vừa lo. Mừng, vì đã 13 năm cha con, anh. em chưa gặp nhau. Lo, vì không biết đứa con dâu người Ba Lan tính tình ra sao. Liệu sự sinh hoạt của nó có hợp với người Việt không?

Mọi nỗi lo quẩn quanh nhưng rồi cái gì đến vẫn phải đến. Hôm ra sân bay Nội Bài đón cháu, nhìn thấy con từ xa, tôi cố ghìm tình cảm và tự nhủ: Đừng khóc. Nhưng khi con trai tôi quỳ sụp xuống chắp tay lễ tôi cùng tiếng nói nghẹn ngào: Bố ơi, tha tội cho con, con là đứa con trai bất hiếu. Thì tôi không nén nổi nữa, tôi quàng tay kéo riết nó vào lòng: Con ơi… Thấy vậy con dâu tôi tế nhị dắt con gái đến gần, nói bằng tiếng Việt rất rành rẽ: Con chào bố. Con mang cháu gái Sara về cho bố đây này. Rồi cả hai mẹ con cháu hôn lên má tôi. Tôi ghì chặt lấy hai mẹ con cháu khóc nức nở…    

Và điều không ngờ nhất là thái độ của Anna. Ngoài nói sõi tiếng Việt, Anna là một phụ nữ hiểu biết, khá thông thuộc lễ nghĩa, phong tục, tập quán và tình cảm của người Việt. Ban đầu tôi tưởng đó là do chồng dạy, Nhưng khi nói chuyện tôi mới biết, khi học ở trường đại học, Anna học khoa tiếng Việt. Để nâng cao kiến thức, Anna đến xin làm thuê ở cửa hàng của người Việt vừa kiếm sống vừa học tiếng. Vì vậy Anna hiểu cả những câu thành ngữ, tục ngữ trong dân gian Việt Nam. Thậm chí cả tiếng “phủi”- một thứ ngôn ngữ tự phát của người đời. Có lần nói chuyện, khi nghe tôi nhận xét về bản chất một con người, Anna nói: Theo người Việt nói thì đó là một kẻ “ăn tục, nói phét” hay là “mõm chó, vó ngựa” phải không bố? Làm cho tôi khá ngạc nhiên và thú vị.

Ngay những ngày đầu, Anna đã gây được cảm tình của mọi người trong gia đình. Trong sinh hoạt, Anna mặc quần áo giản dị, không cầu kì, đồ trang sức thì ngoài chiếc nhẫn cưới, trên cổ đeo chiếc dây chuyền có cây thánh giá thể hiện tôn giáo mình theo. Ngày ngày Anna lau dọn nhà cửa, giặt giũ, chăm sóc chồng con; vào bếp nấu ăn với các chị em và dành nhiều thời gian tâm sự, sẻ chia, cảm thông với nỗi nhọc nhằn, vất vả của phụ nữ Việt.  

Trong những dịp đi du lịch đến các thắng cảnh ở Việt Nam, ngoài chuyện lo ngại cảnh ùn tắc và tai nạn giao thông, Anna thường có nhận xét rất sâu sắc, ví như khi nhìn thấy những quả núi bị khai thác nham nhở, Anna nói với tôi: Ở Ba Lan, muốn có núi, sinh viên chúng con phải đi kiếm đất về để đắp. Tôi hiểu ý của con, nhưng thật khó giải thích.

Những kỉ niệm về đứa con dâu tràn về cho đến lúc xe ô tô rẽ lên đường cao tốc. Đường cao tốc thẳng, phẳng, hai chiều, mỗi chiều 3 làn, mặt đường trải bê tông nhựa cao cấp; mùa nắng có xe hút bụi, rửa đường; mùa đông có xe gạt tuyết và rải muối chống tuyết đông; giữa dải phân cách và hai bên đường có đèn chiếu sáng và các loại biển báo hiệu bằng hệ thống điều khiển tự động bằng năng lượng mặt trời và điện lưới. Mặc dù trong xe  gắn thiết bị dẫn đường từ vệ tinh, nhưng ở mỗi độ đường cần thiết, hoặc gần các nút giao thông… người ta dựng những biển chỉ dẫn lớn, chữ nghĩa rõ ràng, rành mạch, sơn phản quang, cách hàng trăm mét người điều khiển phương tiện đã phát hiện ra. Đặc biệt, ở những nơi đi qua khu vực dân sinh, đều có tường chắn âm thanh để giảm tiếng ồn.

Việc phân luồng và quy định cho khả năng các loại xe tham gia giao thông ở Ba Lan rất nghiêm ngặt. Xe tốc độ cao chạy trên làn đường ngoài cùng; làn đường thứ hai dành cho xe có tốc độ vừa phải; làn xe thứ ba dành cho xe chạy tốc độ thấp. Những lái xe vừa học ra trường thường chạy trên làn đường này, và rất dễ nhận ra vì kính hậu của họ có dán hình vẽ một cành lá như ngầm báo: “Thông cảm nhé! Tay lái của tôi còn non. ”. Điều này là tự phát chứ không phải quy định của luật. Thật là một cử chỉ đáng yêu, lịch sự, có văn hoá. Một hình ảnh nữa cũng rất đẹp, đó là ở những địa điểm xảy ra tai nạn giao thông chẳng may có người chết. Người ta dựng cột, treo vòng hoa, vừa tưởng nhớ người thiệt mạng và cũng là nhắc nhở những người tham gia giao thông hãy cẩn thận.

Dọc đường, kể cả trên đường cao tốc lẫn đường dân sinh trong thành phố, lưu lượng ô tô và các phương tiện khác tham gia giao thông khá đông. Nhưng tuyệt nhiên tôi không thấy có cảnh sát giao thông hoặc trạm gác kiểm tra nào. Vậy mà việc chấp hành luật lệ giao thông rất tốt. Giải thích điều này, con tôi nói: Mọi diễn biến giao thông trên toàn Ba Lan đều được theo dõi bằng màn hình tại “Trung tâm Quản lý và Điều khiển hệ thống giao thông quốc gia”. Dù bất cứ đâu, đêm hay ngày, nếu có sự cố bất thường xảy ra, thì chỉ ít phút sau, cảnh sát và phương tiện giải cứu giao thông đã xuất hiện.

Đến gần trưa thì xe của chúng tôi đi vào địa phận Lódz - tên thành phố nơi gia đình các con tôi sinh sống và làm việc. Mặc dù Lódz không giáp biển, nhưng biểu trưng trên lá cờ lại vẽ con thuyền và một mái chèo với khẩu hiệu: “Từ một con thuyền, tàu” (Ex navicula navis). Hỏi, tôi được nghe truyền thuyết sau: Ngày xửa ngày xưa có một anh chàng nông dân tên là Janusz, thực hiện cuộc hành trình băng qua vùng đầm lầy bằng một chiếc thuyền thoi. Khi đi tới khu vực phố Zgierska (UlicaZgierska), bây giờ thuộc thành phố Lódz, thì chiếc thuyền bị hỏng, không đi được nữa. Chàng nông dân quyết định dừng lại, lật úp con thuyền làm nhà và sinh sống ở đó. Vì thế tên của ngôi làng đầu tiên ở đây xuất hiện tại vị trí con thuyền thoi bị úp ngược làm thành một mái nhà. Và thành phố Lódz ngày nay chính là tên ngôi làng Lódz thời xa xưa và người ta cũng lấy tên đó làm tên của tỉnh luôn”…

Theo phân chí địa lý hiện nay, Lódz là thành phố lớn thứ ba nằm ở miền Trung của nước Cộng hoà Ba Lan. Diện tích 293,25 km2; dân số khoảng 800. 000 người. Đầu thế kỉ 19, kinh tế Lódz phát triển, tập trung vào ngành dệt may. Hiện nay Lódz là trung tâm dịch vụ thương mại bao gồm các siêu thị lớn, là đầu mối buôn bán và giới thiệu sản phẩm các mặt hàng cao cấp trên toàn thế giới. Ngoài ra, từ lâu thành phố Lódz đã nổi tiếng là trung tâm giáo dục, đào tạo các lưu học sinh và nghiên cứu sinh của Ba Lan và các nước. Ngoài các trường trung học đào tạo các ngành kỹ thuật, Lódz có trường Đại học Lódz; trường Đại học Kỹ thuật; trường Đại học Y khoa; Trường Điện ảnh; Học viện Âm nhạc; Học viện Nghệ thuật và Thiết kế…

Từ cuối thế kỉ trước, trong số lưu học sinh sang Ba Lan có nhiều vị lãnh đạo cao cấp của Việt Nam đã từng học ở đây. Như ông Hoàng Văn Nghiên, Tiến sĩ; nguyên Đại biểu Quốc hội; nguyên Uỷ viên Ban chấp hành Đảng Cộng sản Việt Nam; nguyên Chủ tịch Thành phố Hà Nội. Ông Phạm Khôi Nguyên, Tiến sĩ; Uỷ viên Ban Chấp hành Đảng Cộng sản Việt Nam; Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Việt Nam. Ông Nguyễn Thế Thảo; Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân thành phố Hà Nội… và nhiều người khác nữa…

Hiện nay, cộng đồng người lao động Việt Nam ở thành phố Lódz có khoảng trên, dưới 1000 người, hầu hết làm nghề nấu ăn. Người nào có vốn thì làm chủ, số còn lại làm công ăn lương. Nhân dịp đón tôi sang, vợ chồng con trai tôi tổ chức bữa liên hoan gặp mặt tại một nhà hàng của người Việt ở trung tâm thành phố Lódz. Chủ nhà hàng là bà Vượng, quê Hà Nam, vóc người nhỏ nhắn, tính tình điềm đạm, nói năng lịch thiệp, sang Ba Lan đã được 30 năm. Nhà hàng của bà Vượng thuộc nhà hàng lớn, có thể tiếp một lúc vài trăm khách và có tiếng về các món ăn Âu, Á. Nhà hàng được trang hoàng theo lối phương Đông, dùng gam màu đỏ làm chủ đạo. Bên ngoài treo đèn lồng kết hoa rực rỡ; nội thất chia phòng bằng những bức bình phong giả cổ Trung Hoa, khi cần xếp lại thành phòng lớn. Hoạ tiết trang trí treo trên tường gồm tranh thuỷ mặc, hành lang bày lọ độc bình gốm, bồn hoa nhỏ, bể cá cảnh, bát, đĩa sứ Bát Tràng; bàn, ghế, tủ, quầy bằng gỗ quí và được chuyển từ Việt Nam sang. Nhân viên phục vụ gồm cả người Việt và người nước ngoài, thái độ phục vụ tận tình chu đáo.

Vì thời gian làm việc của người lao động Việt ở đây từ 10 giờ trưa cho đến 22 giờ đêm, nên tất cả những cuộc gặp gỡ hoặc liên hoan đều diễn ra rất muộn. Và bữa liên hoan chào mừng tôi cũng không là ngoại lệ. Ngồi cạnh tôi là cháu Quý, quê xã Tiến Thịnh huyện Mê Linh, người nhỏ nhắn, đã có vợ và hai con ở Việt  Nam, vẻ từng trải, sang Ba Lan được 4 năm. Hồi còn ở nhà Quý đã từng làm bốc vác và lái phà múc cát trên sông Hồng. Khi nghe tôi hỏi về thái độ của chính quyền Ba Lan, Quý nói: Ở Ba Lan có cả một chính sách quy định dành cho người những người lao động nước ngoài vào Ba Lan chứ không riêng gì người Việt Nam. Bất cứ ai đến đây hợp pháp đều được đối xử bình đẳng, không có chuyện kì thị hay sách nhiễu, miễn là sống và làm việc phải theo đúng pháp luật. Hỏi về thu nhập hàng tháng, Quý cho tôi biết: Mùa hè bù cho mùa đông, quân bình mỗi tháng có thể để ra được khoảng 1. 000 đến 1. 500USD. Vậy thế là nhiều hay ít? - Tôi hỏi. Quý cười bẽn lẽn: Với ta thì được, với “tây” là ít!

Nói chung cuộc sống của những người lao động Việt mà tôi gặp ở thành phố Lódz khá ổn định. Mọi người rất thương nhau, mối quan hệ không chỉ nằm trong phạm vi vùng, miền, mà bởi đồng cảnh, xa quê hương với mục đích làm kinh tế nên dễ bề cảm thông. Cháu Sơn, quê xã Trung Hà, huyện Vĩnh Tường - vùng bờ bãi, khoe với tôi, sang Ba Lan hai năm thì làm đủ trả nợ tiền vay làm thủ tục. Nghe tôi hỏi về dự định tương lai, Sơn cười rất tươi: Bây giờ ngoài việc nhớ nhà, ở bên này chúng cháu chẳng phải lo gì cả. Công việc ổn định, thu nhập đều đều. Còn về tương lai thì cháu chỉ mong cố gắng làm việc, dành dụm càng nhiều càng tốt, để khi hồi hương có tiền xây nhà, lấy vốn làm ăn và cưới vợ. Nghe Sơn nói, tôi hiểu đó là ước mơ của hầu hết của những thanh niên người Việt đang làm việc ở thành phố này.

Tuy vậy, cũng không thiếu những cảnh éo le như anh Khánh, người thị xã Phúc Yên. Thời bao cấp, vợ chồng anh thuộc diện có máu mặt, Vợ anh là nhân viên bán bách hoá, anh Khánh suốt ngày cưỡi Honda 67 lượn phố. Khi xoá bỏ bao cấp, anh Khánh sang Ba Lan tìm “chân trời mới”. Bẵng đi vài chục năm, nay tình cờ gặp anh ở đây. Thấy anh luôn thở dài, than vãn, dáng vẻ khác hẳn xưa. Hỏi ra mới biết: Tiền kiếm được anh dốc sạch vào Casino tìm vận may. Vì vậy đã hơn 20 năm rồi, anh Khánh vẫn chưa có đủ tiền mua vé máy bay hồi hương. Thế mới biết, ở bất cứ hoàn cảnh nào, con người không cảnh tỉnh, làm chủ cuộc đời mình, sa đà vào những thói hư tật xấu, thì kết cục hẳn không tốt đẹp gì. Chia tay Khánh, tôi siết chặt tay anh nhưng trong lòng không khỏi một chút bùi ngùi chua chát.

Vào những ngày đầu ở Lódz, tôi đến thăm một số quán bar của người Việt. Tuy trời lạnh, tuyết rơi nhiều, nhưng khách đến quán khá đông. Đối với mặt bằng ngành phục vụ ăn uống, quán bar được xếp vào vị trí thấp so với các nhà hàng và khách sạn (Restaurant - Hotel). Đồ ăn ở quán bar thuộc đồ ăn nhanh, thường dành cho người lao động và những người có thu nhập thấp. Đồ ăn rẻ. Rẻ vì khách vào ăn phải tự đến quầy bê lấy, ăn xong tự thu dọn bỏ vào thùng rác. Tuy vậy, vấn đề văn hoá ẩm thực và an toàn thực phẩm vẫn được chính quyền sở tại đặt lên hàng đầu. Cháu Hà, quê ở Mê Linh, chủ một quán bar kể cho tôi nghe một câu chuyện dường như đó là bài học nhớ đời cho người lao động Việt ở Ba Lan. Do thiếu ý thức, có một vài người Việt, dùng thịt chó thay thực phẩm. Khi bị phát hiện, hầu hết các quán ăn của người Việt trên toàn Ba Lan bị tẩy chay. “Con sâu làm rầu nồi canh”, chuyện đó lan ra làm cho hàng loạt quán bị đóng cửa vì ế hàng, kéo theo người lao động Việt thất nghiệp, cuộc sống khốn đốn. Phải mất một thời gian dài mọi chuyện mới trở lại bình thường.

Sau chuyện đó, có thể nói hiện nay, các quán ăn của người Việt ở Ba Lan nói chung và ở thành phố Lódz nói riêng, đã tạo được “thế đứng” trong nếp sinh hoạt của tầng lớp lao động, học sinh và sinh viên. Gần đây, không hiểu có phải do ảnh hưởng của sự suy thoái nền kinh tế thế giới, hoặc do các bar của người Việt đã chiếm được lòng tin, thực đơn đã có thêm nhiều món và ngon, vì vậy nên đã có nhiều giai tầng khác trong xã hội đến ăn, hoặc có những gia đình người Ba Lan “đặt” cơm bữa mang về nhà. Anna kể cho tôi nghe một chuyện khá thú vị: Một lần Ngài Antoni Macierewicz, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Ba Lan, trên đường công tác ghé vào quán bar của con tôi dùng bữa. Đi cùng vị Bộ trưởng còn có một nữ thư ký xinh đẹp và đoàn tuỳ tùng. Nhưng khi vào quán, tất cả đều bình đẳng, không phân biệt quyền chức, không có chuyện ai phục vụ ai, ai trả tiền cho ai. Vị Bộ trưởng kia cũng như nữ thư kí xinh đẹp nọ, cùng các thành viên đoàn tuỳ tùng, khắc chọn món, khắc mua, khắc trả tiền, khắc lấy đồ ăn, ăn xong khắc bê bát, đũa bỏ vào thùng rác. Nghe con kể, tôi lặng đi bởi câu chuyện có những chi tiết khá thú vị mà mình chưa bao giờ thấy.

Thời gian tôi sang, ở Ba Lan đang vào mùa Giáng sinh và chuẩn bị đón năm mới. Vì thế trên đường phố, những nơi công cộng, trong siêu thị và ở những trung tâm mua bán lớn đã trồng cây thông Nô-en và giăng đèn màu sặc sỡ. Tôi đi trên đường phố Lódz mà ngỡ mình đi về phía huyền thoại. Song song với những ngôi biệt thự hiện đại, là cung điện, lâu đài, nhà thờ và những dãy nhà xây bằng đá, có nhiều vòm, một nét đặc trưng kiểu gô-tích cổ. Dọc hè phố, trên những phiến đá lát hè, thi thoảng tôi gặp cây đèn đường đã có cách đây hàng trăm năm được bảo tồn nguyên vẹn trở thành di tích. Đôi khi lại bắt gặp một pho tượng hoặc quần thể tượng mô phỏng sinh hoạt của các danh nhân, nghệ sĩ của thành phố được đặt ngay trên hè đường. Chính vậy, nên tôi có may mắn “được gặp” và chụp ảnh với tượng nhà văn vĩ đại Ba Lan WladySlaw StaniSlaw Reymont (7/5/1867 - 5/12/1925) ngồi trầm ngâm nghĩ ngợi ngay trên ghế đá bên hè đường. Ông là người đoạt giải Nô - ben Văn học năm 1924 với bộ tiểu thuyết 4 tập Chlopi (Những người nông dân).

Mặc dù hiện nay thành phố Lódz được liệt kê vào một trong những thành phố hiện đại và văn minh. Nhưng sự văn minh, hiện đại không chỉ được đánh giá và thẩm định bởi những tiêu chí như nhà ở, mức sống và các phương tiện sinh hoạt hiện đại; mà chính là sự ổn định về môi trường. Trong thành phố, đi đến đâu cũng gặp cây xanh. Dường như cây xanh là phần không thể thiếu được của thành phố này. Không chỉ là những hàng cây đơn lẻ, mà có cả những khu rừng nhỏ giữa lòng thành phố. Vào mùa này, cây rừng đang thay lá, những bồn hoa trong công viên đang ủ mình tránh rét. Nhưng tôi biết, khi đến mùa hồi sinh, những mầm cây sẽ nhú, những đài hoa sẽ nở, những cánh rừng gỗ phong và những hàng bạch dương kia sẽ phủ lên thành phố này vẻ đẹp thanh bình với nguồn sống kì diệu của thiên nhiên. Tôi đi trong muôn vàn thanh âm hỗn tạp của ô tô, tàu điện, xe ngựa và dòng người hối hả… bất chợt bắt gặp một hình ảnh tương phản: trên nền trắng màu bạch ngọc, dưới trăm ngàn bông hoa tuyết đang rơi, không chỉ có những đàn bồ câu bay lượn rồi sà xuống dưới chân tôi, mà còn có cả những con quạ khoang thủng thỉnh dạo chơi trên nền tuyết trắng. Dường như loài vật thường bị mang tiếng đem đến những dấu hiệu không vui, cũng được bảo vệ như loài chim bồ câu - biểu tượng cho sự thanh bình trên trái đất.

                            

Niềm kiêu hãnh và nỗi thương đau của xứ Bạch Dương

  Trong bài thơ “Em ơi Ba Lan” nhà thơ Tố Hữu viết: 

... “Anh đã đến quê em Cra - cốp

  Như quê anh lộng lẫy cung đền

  Hồng quân cứu Va-ven xinh đẹp

  Như Thạch Sanh đánh ó cứu nàng tiên... ”

Theo lời thơ của ông, 9 giờ sáng, xe chúng tôi rời khỏi Lódz hướng về thành phố Kraków (Cra-cốp). Địa điểm thăm quan đầu tiên trong chương trình con dâu tôi sắp xếp là mỏ muối Wieliczka. Mặc dù lúc này trời rất lạnh từ 20 đến 15 độ C và sắp tới mùa Giáng sinh, nhưng khi gia đình tôi đến, đã có nhiều đoàn khách du lịch từ các nước trên thế giới đến. Tôi nhận ra quốc tịch của họ qua những lá cờ Anh; Đức; Pháp, Italy… và có cả những đoàn khách du lịch Châu Á như Nhật, Mông Cổ, Trung Quốc, Hàn Quốc... Sau khi xem xét giấy tờ, mặc dù gia đình chúng tôi chỉ có 5 người, gồm: tôi, vợ chồng đứa con trai và hai cháu gái: Sara Nguyễn Trường 10 tuổi và Maja Nguyễn Trường 3 tuổi nhưng vẫn được đón tiếp chu đáo, coi đó là một đoàn khách của Việt Nam, có riêng một hướng dẫn viên dẫn đường và giới thiệu, còn người phiên dịch chính là Anna con dâu tôi. .

Hướng dẫn viên đưa chúng tôi theo lối cầu thang ốp bằng gỗ xuống độ sâu 60 mét gồm 54 đoạn thì tới đường hầm chính. Qua lời phiên dịch của Anna, tôi được biết mỏ muối này được hình thành cách đây 13,5 triệu năm, và việc khai thác muối cách đây đã  hơn 700 năm. Thời ấy, muối được coi là “vàng trắng” và được quản lý rất nghiêm ngặt. Muối là mặt hàng xuất khẩu và là nguồn thu chính chiếm tới 75% ngân khố quốc gia Ba Lan. Vì vậy, mỏ muối cùng với việc khai thác và tiêu thụ muối đều do các hoàng đế Ba Lan độc quyền nắm giữ. Những người thợ khai thác muối hầu hết là những nô dịch đã ký giấy cam kết bán thân cho triều đình.

Công việc khai thác muối thời kì đó hoàn toàn thủ công, dựa vào sức người và ngựa. Hằng ngày, những người thợ phải chui sâu xuống hàng trăm mét, dùng choòng, búa, đục, phá đá muối đã hoá thạch, gom, đựng vào bao rồi vác lên các bậc đá ở độ cao hơn 40 mét, tập kết vào nơi quy định. Một tốp thợ khác làm công việc nghiệm thu, phân loại, cân định lượng, đóng muối vào các thùng gỗ, niêm phong, sau đó các thùng muối được hệ thống ròng rọc do ngựa kéo, tời lên mặt đất.  

Chỉ cần nêu một con số sau đây chúng ta sẽ hình dung ra phần nào sự vất vả và nguy hiểm của những người thợ khai thác muối: Tổng chiều dài của đường hầm trong mỏ muối trên 350 km, với độ sâu dưới mặt đất hơn 400 mét. Dọc theo những đường hầm, có rất nhiều hang, động và lán trại dành cho những người làm công việc quản lí và nô lệ khai thác muối.

Về phần xác, những thợ khai thác lệ thuộc vào những điều khoản do nhà vua quy định; còn phần hồn thì không khác gì ở trên mặt đất, mọi người đều theo đạo Thiên Chúa giáo. Vì thế, giữa lòng mỏ, người ta tạo ra một nhà thờ, có đầy đủ mọi thiết chế với quy mô không kém bất cứ một nhà thờ nào được xây dựng trên đất Ba Lan. Có khác chăng, nhà thờ trong lòng mỏ muối không ốp gạch, lát đá hoa cương; hay bằng bất cứ vật liệu xây dựng nào khác, mà tất cả đều làm từ... muối.

Tôi thực sự choáng ngợp trước sức lao động và sáng tạo của con người. Lòng nhà thờ có thể chứa được hàng ngàn con chiên đến cầu kinh trong một giáo đường nguy nga, đồ sộ; vòm nhà thờ được khoét cao đến 30 mét với bức tượng Đức Mẹ bồng con đứng uy nghi. Trên các bức tường nhà thờ đều được trang trí bằng những bức hoạ, mô tả gia đình Chúa, các bậc Thánh và “đời sống” sau khi “về với Chúa” của những người theo Ki-tô giáo. Điều đặc biệt, trừ những cây cột và các giàn đỡ bằng gỗ chống dọc theo đường hầm, còn tất cả, từ những bức tượng, tranh điêu khắc, các hình hoạ mô phỏng các đời vua Ba Lan qua các triều đại, những bức vẽ tả cảnh đời sống của nô lệ khai thác muối đều được tạo từ muối hoá thạch.

Gia đình chúng tôi tới nhà thờ đúng vào buổi lễ trọng. Từ trên mái vòm, tiếng hát ngợi ca Chúa vang vọng, ngân nga trong ánh sáng lung linh huyền ảo của hàng trăm ngọn nến và những chùm đèn treo giữa thánh đường. Anna giới thiệu với tôi: Hôm nay, sau lễ cầu kinh sẽ có đám cưới của một đôi trai gái từ Vacsava đến. Hỏi, tôi được biết, chi phí cho một đám cưới trong “nhà thờ muối” này tốn khoảng 2.000USD. Để ghi lại khoảnh khắc đáng nhớ có một không hai này, gia đình chúng tôi đứng cạnh bức tranh “Jê-su và 12 vị tông đồ” được tạc bằng đá muối chụp một bức ảnh lưu lại làm kỷ niệm.

Theo lời giới thiệu của hướng dẫn viên, tôi còn được được biết: mỏ muối Wieliczka là một  trong 7 di sản văn hoá độc đáo của Cộng hoà Ba lan được thế giới ghi danh, hằng năm có hàng triệu khách du lịch quốc tế đến tham quan. Bên cạnh đó, hiện nay ngoài việc khai thác muối làm dược liệu xuất khẩu, dưới độ sâu hơn 200m có một khu điều dưỡng cho các thầy thuốc tận dụng môi trường muối chữa các bệnh như hen, suyễn, phổi và các bệnh dị ứng...

Rời khỏi mỏ muối, chiều hôm đó chúng tôi vào thành phố Kraków. Dưới bầu trời xám lạnh, trong hàng ngàn bông tuyết trắng ngần đang rơi… khu thành cổ hiện ra sừng sững, uy nghi với những ngọn tháp, những mái vòm, lâu đài, thành quách và những cây thông Nô-en cao hàng chục mét được trang hoàng đèn màu rực rỡ để chuẩn bị đón Mùa Giáng sinh và năm mới.

Thành phố Kraków vào thế kỷ XIV đến thế kỷ XVI  là trung tâm thương mại và nằm trên con đường huyết mạch xuyên suốt giữa Tây Âu và Châu Á. Ngoài khu chợ cổ với những đồ mỹ nghệ truyền thống nổi tiếng còn có cung điện Wawel Palace.

Cố cung WawelPalace do Đại đế Casimir III xây dựng vào thế kỷ 14, trên một ngọn đồi bên cạnh dòng sông Vistula (Wissla). Vào mùa này, nước sông bị đóng băng, lòng sông thu hẹp lại, từ thành cổ nhìn xuống, dòng sông như một dải lụa màu xanh xuyên suốt, chạy dài giữa một vùng trắng xoá băng tuyết.

Wawel Palace nổi tiếng không chỉ ở phương diện kiến trúc, mà còn là một viện bảo tàng hàng nghìn năm tuổi, có những cảnh quan thiên nhiên vô cùng xinh đẹp, kỳ thú cùng với lịch sử văn hoá lưu giữ những bước thăng thầm về đời sống và sinh hoạt của xã hội Ba Lan qua các thời kỳ. Những dấu tích còn lại minh chứng cho một thời vàng son, phồn hoa, đô hội, nguy nga, sầm uất và rực rỡ nhất Châu Âu.

Qua cổng chính vào thành, cung điện và những toà lâu đài được xây dựng theo kiến trúc gothique - thời Trung cổ bao quanh một khu sân rộng. Đây là nơi chứng kiến sự sinh hoạt của hệ thống quý tộc Ba Lan qua nhiều thế kỷ. Tôi quỳ xuống, lấy tay nhẹ gạt những bông tuyết, mặt sân hiện ra những tấm đá lát màu xanh dịu. Lắng tâm tư mình trong giây phút, tôi tưởng tượng ra hình ảnh những chiếc xe song mã, tứ mã chở các bậc khanh tướng, công hầu, hoàng thân, quốc thích… vó ngựa bịt kim loại quý gõ nhịp đều đều… Những khuôn mặt cao quý, những tấm áo bào lộng lẫy, những chiếc mũ đính lông chim; những ngù vai đính kim tuyến… tất cả  rộn ràng trong âm thanh trầm bổng của tiếng nhạc du dương. Từ trong những cánh cửa lớn xung quanh cung điện nguy nga, tráng lệ, rộn vang tiếng reo cười của các công nương, hoàng tử ùa ra sân xòe tay hứng những bông tuyết đầu mùa…

Tất cả… tất cả giờ đây đã yên nghỉ; chỉ còn lại các kỷ vật nằm trong tủ kính và những di hài của các bậc quân vương được trân trọng quàn giữ dưới lớp đất dọc hai bên hành lang trong nhà thờ Wawel cùng với những dòng chú thích về các triều đại đã đi qua… xếp từng lớp, từng lớp như cung, bậc của một bản thánh ca lịch sử cho khách du lịch đến viếng thăm và nghiêng mình tưởng nhớ…

Tuy vậy, hiện nay khu thành cổ không chỉ là một địa chỉ du lịch dành cho khách tới tham quan, tìm hiểu lịch sử thăng trầm của các đế chế Ba Lan cổ xưa và chiêm ngưỡng vẻ đẹp lộng lẫy gô-tich kiến trúc độc đáo. Mà đây còn là nơi đặt phần mộ cho những người có công và hy sinh vì quốc gia. Ngoài bức tượng Hồng y Giáo hoàng Jean Paul II (ông là người Ba Lan duy nhất cho đến nay giữ cương vị Giáo hoàng thứ 264 của Giáo hội công giáo. Ôngmất ngày 02/4/2005) đặt trang trọng trước nhà thờ Wawel, còn có lăng mộ Ngài Lech Kaczynski- Tổng thống nước Cộng Hoà Ba Lan bị tử nạn trong vụ nổ máy bay ngày 10/ 4/ 2010 khi ông sang Nga dự Lễ kỷ niệm những người lính Ba Lan bị sát hại tại rừng Katyn và một số nơi khác trên lãnh thổ cũ trong Đại chiến thế giới lần thứ hai.    

Ra khỏi cung điện tôi vẫn còn ngẩn ngơ trước vẻ đẹp lộng lẫy của những hiện vật được lưu giữ. Từ những vật dụng sinh hoạt thường nhật trong nơi ở của các bậc quân vương qua nhiều thế kỷ; đến nơi tôn nghiêm đặt tro xác các đời vua quàn trong Nhà thờ Gothique Wawel; cùng với Bảo tàng Wawel là một trong những bảo tàng nguy nga, đồ sộ, giàu có vào bậc nhất châu Âu, nơi trưng bày hàng trăm ngàn hiện vật trong đó có những bức tranh chân dung các nhân vật nổi tiếng; tranh cung đình; tranh gỗ, tranh lụa, thảm Trung Hoa; thảm Ba Tư đặc biệt là bức thảm Phlnmăng với đường nét nghệ thuật tinh xảo tuyệt diệu. Cùng với đó là vương miện, giáp phục. vũ khí và những bộ y phục toát lên vẻ xa hoa, lộng lẫy, quý phái mang sắc thái quyền vương...   

Trong cảm nhận lâng lâng, tôi càng hiểu sự sâu sắc hai câu thơ: “... Hồng quân cứu Va-ven xinh đẹp/ Như Thạch Sanh đánh ó cứu nàng tiên... ” trong bài “Em ơi Ba lan” của Nhà thơ Tố Hữu viết khi ông đến thăm mảnh đất này. Đúng như vậy, nếu không được Hồng quân Liên Xô giải phóng kịp thời, thì chắc không chỉ nước Cộng hoà Ba Lan sẽ mất đi một di sản lịch sử văn hoá quý báu, ghi dấu nền móng các triều đại vinh quang nhưng cũng đầy màu sắc của đất nước Ba Lan; mà thế giới còn mất đi một công trình hoa lệ, tuyệt vời và điển hình được mệnh danh là “Quý tộc già của Châu Âu”.

Nghỉ một đêm nơi thành cổ, sáng hôm sau Anna lái xe đưa chúng tôi về thành phố Oswiecim nơi có trại tập trung Auschwitz của phát xít Đức. Đây là nơi mà khi biết tin được các con bảo lãnh sang Ba Lan tôi nghĩ tới đầu tiên. Tôi chắc đó là vì ngay từ hồi còn nhỏ tôi đã được đọc cuốn tiểu thuyết “Trần trụi giữa bầy sói” của Nhà văn Bruno Apitz. Tác phẩm kể về một chú bé người Do Thái được những người tù trong trại tập trung Auschwitz  cứu thoát khỏi sự tàn sát của phát xít Đức. Câu chuyện bi hùng ấy luôn ám ảnh tôi mỗi khi có ai nhắc tới cuộc chiến tranh thế giới lần thứ hai. Nhưng khi xem bản đồ tôi thấy thành phố Oswiecim cách xa với thành phố nơi con tôi ở nên tôi ngại không nói. Nhưng không hiểu sao, hay do Anna biết nói và rất thông thạo tiếng Việt và đã từng đọc bài thơ “Em ơi Ba Lan” của Nhà thơ Tố Hữu rồi nên muốn đưa tôi đến đó.

Trại tập trung Auschwitz do Đức quốc xã xây dựng vào năm 1940; cách Thành cổ Kraków 50 km và thủ đô Warszawa 286 km, Khu tổ hợp trại tập trung gồm 3 trại: Auschwitz I- Trung tâm hành chính; Auschwitz II (Birkenau)- Trại huỷ diệt và Auschwitz III- Trại lao động. Tất cả nơi đây được xây dựng lên với ý đồ giam cầm tù chính trị và tầng lớp trí thức; thời gian sau giam giữ cả những người Do Thái.

Trong gió lạnh, mưa tuyết trắng xoá quất ràn rạt; toàn bộ cảnh trại tập trung hiện ra đen đúa và ghê rợn. Băng tuyết ngập ngụa trên đường và những tháp canh nghễu nghện với những lỗ châu mai như những con mắt của Thần chết đen ngòm, trừng trạo nhìn du khách; từng lớp rào gai dày đặc bao quanh và những hàng cây trơ trọi bên đường bị gió giật ném vào không gian ù ù như tiếng cô hồn của hàng vạn sinh linh đang trở về...

 Tôi bước qua cổng trại tập trung, hàng chữ Arbeit macht frei (Lao động làm nên tự do) treo trên cổng như níu chân tôi lại. Ngữ nghĩa của khẩu hiệu hết sức triết học, nhưng sự thật thì khác xa với ý nghĩa của nó. Không đúng như tính triết học của hàng chữ treo trên cổng nhà tù. Những người đã bị đưa vào đây đều hiểu chỉ có hai điều: Lao động đến chết và chết vì không lao động được. Nơi đây đã chứng kiến hàng triệu người Do Thái không còn sức lao động bị chết; còn những người có sức lao động thì phải lao động cho đến khi kiệt sức để rồi chết. Về phần những người tù chính trị và tầng lớp trí thức, Đức quốc xã dùng đủ các nhục hình đầy ải, hành hạ tra tấn cho đến các kiểu chết để giết hại họ.

So với những gì viết trong tiểu thuyết “Trần trụi giữa bầy sói” hoặc cả những gì tôi đã xem ở phim, ảnh và đọc trên tài liệu và báo chí, thì trại tập trung Auschwitz hiển hiện trước mắt tôi còn ghê rợn hơn nhiều. Mặc dù không còn bóng dáng một tên lính phát xít Đức; không còn cảnh tù nhân xếp hàng dài dằng dặc chờ phân loại và những tên lính SS áo dạ, khuy đồng, lê tuốt trần súng lăm lăm trong tay và những kiểu hành hình man rợ nữa... Tất cả giờ đây chỉ còn lại những dấu tích trần trụi nằm lừng lững giữa biển tuyết mênh mông, tưởng như vô hại mà sao vẫn khiến lưng áo tôi đẫm bết mồ hôi.

Sẽ chẳng bao giờ tưởng tượng hoặc tính toán hết được số phận những con người đã phải vào và chết tại đây. Tôi bàng hoàng trước những gian phòng được lưu giữ nguyên trạng sau giải phóng: Đây là gian phòng chứa hàng ngàn đôi  giày, dép, quần áo, đồ chơi trẻ con... , kia là gian phòng chứa va li, túi xách, ba lô, hòm, xiểng... trên đó vẫn còn ghi tên, tuổi, địa chỉ; và còn có cả khu biệt giam phụ nữ còn nguyên bàn trang điểm cùng với gương, lược... Và kia nữa... những căn phòng làm kho chứa tóc... Tóc được bó, chồng từng đống, được xếp gọn trong bao tải chuẩn bị xuất đi...  Tóc - một loại hàng hoá được gọt từ những mái đầu của những tù nhân nữ xinh đẹp trước khi bị ném vào lò thiêu người...

... “Những mái tóc vàng tơ đóng bó/ Dệt thành chăn rợn bóng oan hồn...”. Hai câu thơ của Nhà thơ Tố Hữu cứ vang vang trong đầu khi tôi đứng trước những thực thể chứng minh tội ác có một không hai của phát xít Đức đã gây ra cho loài người.

Trong thư tịch, tài liệu và những bức ảnh do các tù nhân trong trại tập trung Auschwitz giấu được, còn ghi lại những tội ác vô cùng ghê rợn của những kẻ tự xưng là tộc người thượng đẳng, văn minh, lịch lãm nhất thế giới: Ngoài các kiểu giết người thông dụng bằng súng đạn, đánh đập, treo cổ... chúng “phát minh” ra kiểu giết người hàng loạt, gọn gàng và nhanh chóng: Bề ngoài những phòng hơi ngạt trông giống nhà tắm tập thể, có đường ống dẫn và gắn vòi hoa sen. Bọn lính SS lùa tù nhân vào, bắt họ cởi hết quần áo và những thứ mang trên người rồi đóng kín cửa lại, hoá chất Zyklon B từ các vòi hoa sen phun ra, các tù nhân quằn quại chết trong những luồng khí độc. Nhưng giết người kiểu như vậy vẫn để lại hậu quả khó xử lý các xác chết, cho nên Đức quốc xã cho xây dựng lò thiêu người và trại tập trung Auschwitz là nơi thực nghiệm đầu tiên.

Tôi đứng trước lò thiêu người, rùng mình ớn lạnh. Cửa lò thiêu há hoác, những chiếc xe đựng tro xác của tù nhân chực chờ... xung quanh một màu thảm đạm; những mảng tường xám ngoét ánh lên vẻ chết chóc, lạnh lẽo còn đọng lại với thời gian...

Đi qua khu lò thiêu, phía trong có một cái ao đựng tro của tù nhân sau khi bị giết. Mà theo phong tục cổ xưa của người Ba Lan, việc đổ tro xác của người  chết xuống hồ, ao là điều phỉ báng, xỉ nhục. Nói như vậy để biết thêm sự kì thị chủng tộc của chế độ phát xít với người Do Thái và nhân dân Ba Lan đến cỡ nào.

Đi dọc hành lang qua nơi ở của các tù nhân về cuối trại, nơi đây ngoài đài tưởng niệm người ta xây để ghi nhớ những nạn nhân đã chết ở Auschwitz, vẫn còn nguyên đoạn đường sắt nằm dưới băng tuyết, những thanh ray này trước kia đã từng chứng kiến hàng triệu sinh linh bị đưa tới đây trên những con tàu và cũng là đoạn cuối của kiếp người... Bao nhiêu? Bao nhiêu? Câu hỏi không có lời giải đáp kéo dài qua hàng thế kỷ, đeo đẳng, ám ảnh đến mỗi từng viên đá lát ở nơi đây...

Nhưng đến đây, ngoài chứng kiến một trong những địa điểm giết người hàng loạt lớn nhất của lịch sử nhân loại, trong đó có kế hoạch nhằm tận diệt hết dân Do Thái của Hitle; tôi còn được nghe những giai thoại hào hùng của những người tù. Trong phạm vi mà cái ác và sự kìm kẹp, khủng bố gần như không tưởng, vẫn có rất nhiều những câu chuyện cảm động về tình đồng loại, tình đồng chí cùng với những quan hệ quốc tế giữa những người tù, tuy rằng khác chủng tộc, ngôn ngữ, tôn giáo, xã hội, chính trị...  nhưng cùng chung số phận mất tự do.

Cái chết có thể đến bất cứ lúc nào, sự đói khát, bệnh tật, đau đớn là điều tất yếu trong địa ngục trần gian này, nhưng khí phách, lòng nhân ái và tình thương yêu đồng loại vượt qua tất cả; họ sẵn sàng bao bọc, giữ gìn khí tiết, phẩm giá, thậm chí sẵn sàng chết thay cho nhau... Đó là câu chuyện về cha Maksymilian Maria Klobe, một nhà tu hành người Ba Lan, đã chết thay cho một người bạn tù. Câu chuyện ấy đã trở thành điển tích khi Giáo hội Công giáo phong Thánh cho cha Maksymilian.

Hơn 40 năm sau, Đức Giáo hoàng John Paul Đệ nhị đến đây khi nghiêng mình tưởng niệm đã nói: “Biết bao chiến thắng như thế đã nảy sinh từ đây. ”. Người nói thật đúng, qua tấn thảm kịch này, lương tâm nhân loại được thức tỉnh; loài người tiến bộ xiết chặt tay nhau, kết đoàn, cảnh giác với những mầm mống của tệ “tân phát - xít” trên toàn thế giới...  

Và gần đấy nữa, hình ảnh tân Đức Giáo hoàng Benedict 16 lặng lẽ thành kính đặt nến trước “Bức tường chết chóc” và xà lim nơi giam giữ cha Maksymilian - Phải chăng đó như một hành động sám hối cho sự lầm lạc một thời của nước Đức, bởi chính Đức Giáo hoàng đã từng là một người lính Đức tham gia vào thế chiến thứ II. Chắc hẳn vì đã chứng kiến mọi tội ác rùng rợn của phát - xít nên ông nguyện trở thành một nhà tu hành để truyền bá đức tin và gieo sự yêu thương của Chúa đến với mọi con chiên trên trái đất...  

Ra khỏi nhà tù, tôi cúi xuống bốc một nắm tuyết nâng lên môi hôn, thì thầm: Hỡi những con người bị chết tức tưởi trong cái địa ngục âm u, lạnh lẽo, kinh hãi nhất trần gian này! - Cho tôi gửi đến mọi linh hồn oan nghiệt lòng xót thương vô hạn, và coi đó là nén tâm nhang sẻ chia tình đồng loại của một công dân Việt Nam đã tới đây trong Mùa Giáng sinh này.

Mùa Giáng sinh và Chopin vĩ đại

Sau khi rời khỏi trại tập trung Auschwitz, xe chúng tôi tiếp tục cuộc hành trình trên đất Ba Lan. Lúc ra tới đường siêu tốc, Anna nói với tôi: Hôm nay con sẽ đưa cả nhà mình đến quê hương của người nhạc sĩ thiên tài nhất Ba Lan. Tôi hiểu ngay người nhạc sĩ mà con dâu tôi nói tới đó là Prédéric Francois Chopin (1810-1849), và tôi mừng vì điều này, bởi trước khi sang Ba Lan, tôi ước mơ sẽ được đến Nhà thờ Holy Cross ở thủ đô Warszawa nơi đặt trái tim của Chopin. Nhưng nay lại được con dâu tôi đưa đến tận nơi ông cất tiếng khóc chào đời đã vượt qua cả điều tôi mong ước.

Làng Zelazơa Wola nơi chôn nhau cắt rốn của Chopin nằm bên bờ sông Utrata cách Warszawa 50 km về phía Tây. Khi chúng tôi đến mưa tuyết dày đặc nhưng cánh cổng vẫn mở và ngôi nhà xưa của gia đình nhạc sĩ (nay là Bảo tàng Chopin) vẫn sáng ánh đèn. Trong nhà, từ chiếc nôi đặt trong phòng nơi ông nằm nghe tiếng ru hời của mẹ, đến chiếc ghế chú bé Chopin ngồi cảm nhận những âm hưởng đầu tiên vang lên từ đôi bàn tay điêu luyện của người cha lướt trên phím đàn dương cầm... Và kia nữa, bản nhạc đầu đời của thần đồng âm nhạc Chopin sáng tạo ra lúc vừa tròn 8 tuổi... Còn có bao nhiêu thứ nữa được trưng bày kể về cuộc sống của một nhà soạn nhạc thiên tài... Mọi thứ... mọi thứ như còn sống động được lưu lại trên dấu tích tuổi thơ bên tình yêu thương, đùm bọc của những người thân yêu trong gia đình...

Với Chopin, đã từ lâu tôi biết đến không chỉ ở hai câu thơ của Nhà thơ Tố Hữu “... Có phải Sô-panh tình chứa chan/ Nâng đàn ca cô gái Ba Lan... ”; mà tôi đã từng nghe những ca khúc và những bản nhạc của Chopin được ghi trên đĩa than: “... Nghe đàn bâng khuâng... réo rắt buồn ngân... reo bao sầu nhớ... vấn vương những chiều hoàng hôn... giá buốt tâm hồn... ” ( Nhạc buồn Sô-panh).

Người Ba Lan coi tiếng đàn và âm nhạc của Chopin như miếng ăn, nước uống hằng ngày; đến đâu, vào đâu, cho dù đó là nơi nào đi nữa, tiếng nhạc, lời ca của ông luôn vang vọng, lắng đọng với một sự gợi nhớ về một xứ sở đầy màu sắc... “... Tiếng đàn gợi nhớ... Vang bao tháng ngày... Trong một chiều mơ... ” (Nhạc buồn Chopin). Và dường như những âm hưởng da diết, tràn đầy chất trữ tình lãng mạn mang màu sắc cổ xưa của người Ba Lan mà người nhạc sĩ thiên tài này làm nên đã ngấm vào huyết quản từng người dân Ba Lan. Khi buồn, người ta tựa vào âm nhạc của Chopin mà vượt qua nỗi khổ đau hay đói nghèo, bệnh tật; khi vui mừng âm nhạc của ông đưa tâm hồn con người vào thế giới của những niềm vui bất tận...

Chopin thiên tài... Chopin vĩ đại... Bao nhiêu lời thế giới ngợi ca về nhân cách và phẩm hạnh khi còn sống của ông, cùng với di sản đồ sộ để lại cho hậu thế gồm 257 tác phẩm, trong đó có 17 ca khúc, 3 bản hoà tấu nhạc thính phòng cùng với 230 sáng tác xuất sắc cho đàn Piano. Những bản nhạc ông viết cho đàn piano được thể hiện qua những tác phẩm như: Mazurka, Polennaisa, Waltz, Sonata hay bản Dạ khúc (Notude), Khúc mở đầu (Uvectuya), Bài tập luyện ngón (Étude)... mặc dù những tác phẩm ấy không mang hình thức lớn nhưng vẫn rất công phu, đậm đà tính cách dân tộc Ba Lan, mang đến cho thính giả lòng tin yêu, nhân hậu của con người...

Robert Schumann (1810-1856) nhà nhạc soạn nhạc người Đức đồng thời là người thầy trong giới phê bình âm nhạc đã từng viết khi Chopin hoàn thành những khúc biến tấu giai điệu dựa trên bản Lacidarenlaman từ vở Don Juan của Mozart như sau: “ Thưa các ngài, hãy hạ mũ xuống. Đây là một thiên tài”.

Bởi vậy, khi đến đây, nơi sinh ra Chopin, tôi lại càng thấu hiểu được vì sao Nghệ sĩ Nhân dân Đặng Thái Sơn là người đầu tiên trên thế giới bỏ công sức ra ghi lại toàn bộ tác phẩm của Chopin. Và chính Nghệ sĩ Nhân dân Đặng Thái Sơn được công nhận là nghệ sĩ biểu diễn piano xuất sắc, làm sống dậy những nét tài hoa nhất của người nhạc sĩ thiên tài này trên khắp các châu lục; như lời nhận xét của giới nhạc sĩ khi nghe tác phẩm của Chopin do Nghệ sĩ Nhân dân Đăng Thái Sơn biểu diễn: “... Nghe tiếng đàn anh (tức Đặng Thái Sơn), ngỡ Chopin thức dậy... ”.  

Mặc gió lạnh, tuyết rơi, tôi ra khỏi ngôi nhà lững thững dạo bước trong trang viên rồi ngồi xuống chiếc xích đu đặt ven khu rừng nhỏ; tiếng đàn dương cầm của bản nhạc van-xơ từ biệt nhè nhẹ vang lên trong thinh không thánh thót, du dương lẫn với thanh âm nhè nhẹ của những cành liễu lô xô trong gió... Đây chính là bản nhạc mà chàng trai 17 tuổi Chopin tặng Mari - người chị họ nhưng cũng là mối tình đẹp đẽ, thơ ngây mang hương vị ngọt ngào, sâu lắng nhất trước khi ông phải rời quê hương ra nước ngoài...

 Nghe những chuỗi thanh âm kỳ diệu ấy, tôi chợt nhớ tới quan điểm âm nhạc của Chopin; ông vẫn cho rằng âm nhạc khác các loại hình khác như: tượng, tranh, văn, thơ... Bởi những loại hình đó sự diễn tả gần như trực tiếp, còn âm nhạc để gợi, nhớ, nhắc lại hoài niệm và đánh thức những xúc cảm khi không thể diễn tả bằng lời... Có lẽ chính vì quan niệm và suy nghĩ như vậy nên hầu hết những tác phẩm của ông đưa tâm hồn con người vào một thế giới lung linh, huyền ảo; quá khứ được hoài niệm trong từng cung bậc vừa sôi động vừa da diết...

Tôi đứng lên bước đến bức tượng Chopin với cây đàn dương cầm đặt giữa trang viên, đưa tay gạt những bông tuyết phủ trên vầng trán của ông. Ngắm tượng ông trong tuyết lạnh, nghe hồn nhạc của ông bay chơi vơi... chợt nhớ tới Thi hào Heinrich Heire (1797-1856) người Đức đã nói về ông: “... Ảnh hưởng của ba dân tộc đã hợp thành nơi ông một con người đáng trân trọng. Nước Ba Lan đã cho ông tình cảm nghĩa hiệp và nỗi đau đớn lịch sử. Nước Pháp, sự thanh lịch dễ gần và duyên dáng. Nước Đức, sự sâu sắc mơ màng. Thiên nhiên đã cho ông một khuôn mặt thon, đỏm dáng hơi bệnh tật và một trái tim cao quý của thiên tài. Ta phải thừa nhận ở Chopin cái thiên tài với tất cả ý nghĩa từ đó; ông không chỉ là một nhạc sĩ kỳ tài, mà còn là thi sĩ. Ông có thể diễn đạt cho chúng ta biết chất thơ ở trong tâm hồn ông. Đây là một nhạc sĩ, thi sĩ và không có gì so sánh được với sự hoàn mỹ khi ông tuỳ hứng trên dương cầm. Lúc đó, ông không còn là người Ba Lan, Pháp hay Đức nữa. Ông đi ra từ một nguồn gốc sâu xa hơn; từ xứ sở của Môda, của Raphaen. của Gơt, tổ quốc thực sự của ông là xứ sở của nghệ thuật âm nhạc và thơ ca... ”.

 Nô-en ở làng Krsiniec (Przánýe)

Tạm biệt quê hương Nhà soạn nhạc thiên tài Chopin, xe chúng tôi hướng về làng Krsiniec (Quê ngoại của Anna) thuộc ngoại thành Warsawa để đón Giáng sinh. Hôm nay đã là ngày 23 tháng 12,  đi tới đâu cũng đã thấy không khí của ngày lễ trọng đến gần. Trong thành phố, ở những nơi công cộng như nhà thờ, công viên, cơ quan, siêu thị... đã trồng những cây thông Nô en cao hàng chục mét; trên biển quảng cáo các cửa hàng dọc hai dãy phố trang hoàng lộng lẫy, cành ô-liu uốn hình vòng cung treo những ngôi sao và trái tim nhiều màu; phía trong quầy hàng đặt những cây thông nhỏ chăng đèn nhấp nháy.

  Trong ánh sáng, lung linh, huyền ảo của hàng trăm ngọn đèn và những sợi phản quang muôn màu rực rỡ trang hoàng trên cây thông Nô-en, những bông tuyết rơi xuống đậu trắng ngần trên những cành lá xanh non… Ngồi trong xe, hai đứa cháu gái nhỏ của tôi tỏ ra rất thích thú, cứ mỗi lần nhìn thấy cây thông Nô-en chúng lại đưa tay chỉ trỏ và reo cười…

Tôi hỏi con trai: “Thế này thì mỗi kỳ Giáng sinh tốn nhiều cây thông lắm nhỉ?”. Con trai tôi giải thích: “Cây thông Nô-en ở Ba Lan cũng thể như hoa đào, hoa mai ở Việt Nam mỗi khi mùa xuân đến. Trồng thông trong Lễ Nô-en không những là tập tục truyền thống văn hoá, mà đó còn là biểu tượng của những người theo đạo Thiên Chúa giáo để nói lên lòng kính Chúa, yêu tự do và  hoà bình. Theo thống kê của nhà chức trách, hằng năm cứ mỗi lần đến kỳ lễ Giáng sinh và đón năm mới có hàng triệu cây thông bị đốn. Nhưng mấy năm gần đây, do ảnh hưởng nền kinh tế thế giới bị suy thoái nên nhiều gia đình Ba Lan trang trí bằng cây thông nhựa, vừa tiện lợi vừa tiết kiệm. Chỉ có ở những nơi công cộng, nhà thờ, công viên, cơ quan hoặc những gia đình khá giả mới dùng cây thông thật”. Như vậy cũng như ở Việt Nam - Tôi nghĩ - Tuỳ theo điều kiện và hoàn cảnh của từng gia đình mà sắm gốc đào, cây mai thế to hay nhỏ mỗi khi tết đến; và bây giờ ở Việt Nam cũng bán những cây đào, cây mai và các loại hoa giả nhưng rất đẹp và tiện lợi...

Ra khỏi thành phố, xe chúng tôi xuyên qua những cánh rừng lá kim. Khung cảnh tuyệt đẹp; rừng cây như cùng trồng một lứa, cảnh lá sum suê xanh rời rợi; thân thẳng, đều tăm tắp, ngọn chĩa lên trời như trăm ngàn mũi giáo. Tôi để ý ven những cánh rừng tuyệt nhiên không hề có cảnh tượng cây cối bị chặt chém ngổn ngang, mà điểm xuyết vào mầu xanh rời rợi ấy là những bông tuyết trắng phau, long lanh, lả lướt như một bức tranh tạo không khí trong lành, yên tĩnh và ấn tượng vô cùng. Trong bức tranh chuyển động theo tốc độ xe chạy, thỉ thoảng có những ngôi nhà gỗ ẩn, hiện như trong truyện cổ tích… Anna nói đó là những ngôi nhà của những gia đình ở thành phố mua quyền sử dụng để mùa hè vào vui chơi. Nhưng nếu có ai vào rừng chẳng may lạc đường hay lỡ độ vẫn có thể vào đấy nghỉ qua đêm, vì cửa không khoá mà mọi phương tiện, vật dụng, lương thực, thực phẩm đều có sẵn.

Mặc dầu đây là đường rừng, nhưng mặt đường rộng rãi, trải nhựa nhẵn, phẳng lì; dọc đường quãng quãng lại bắt gặp biển hiệu, báo có động vật hoang dã cho lái xe biết để đề phòng. Tôi để ý mỗi lần gặp biển, Anna lại giảm tốc độ xe và chú ý quan sát. Con trai tôi giải thích: “ Đường này là đường tắt, đi không mất lệ phí, nhưng nếu chẳng may chẹt chết một con thú thì phải nộp phạt gấp hàng trăm lần đấy bố ạ!”. Tôi hỏi: “ Giữa rừng này nhỡ có chẹt thì ai biết mà sợ?”. Anna cười, nói chen vào: “ Mình phải tự giác chứ bố! Vì cố tình trốn chạy thì qua ảnh vệ tinh họ vẫn tìm ra; lúc ấy không chỉ có lỗi chẹt chết thú rừng đâu, mà còn thêm cả tội trốn tránh nữa, phải ra toà đấy bố ạ!”.

Thảo nào đi hàng tiếng đồng hồ đường rừng mà chẳng gặp một trạm gác hay đội tuần tra nào. Tôi ắng lặng suy nghĩ về điều này và thầm so sánh với nạn “lâm tặc” và những kẻ buôn bán thú hoang dã vẫn còn đang hoành hành ở Việt Nam. Tự giác chấp hành pháp luật đó là điều mỗi một công dân dù ở bất cứ đất nước nào cũng nên tự nguyện chấp hành… Nhưng ước muốn là vậy, còn để cho những điều chưa thể so sánh đến khi có thể so sánh được, âu là cả một thời gian có lẽ sẽ thật dài…

Gần đến trưa thì xe chúng tôi đến Krsiniec. Gọi là làng, nhưng thực chất đó là cách gọi theo truyền thống. Còn hiện nay làng Krsiniec cũng như các vùng nông thôn trên lãnh địa Ba Lan đều đã được đô thị hoá. Đất nông nghiệp được quy hoạch, dồn điền phân thửa, tuỳ theo vùng đất canh tác trồng lúa mì, khoai tây, cà chua và các cây ăn quả như lê, táo, nho... hoặc các trang trại chuyên canh rau sạch... Nhà cửa của nông dân nằm dọc theo hai bên đường nhưng phía sau vẫn có khu vườn để tăng gia và chăn nuôi gà, vịt... . Song, mọi thứ thoạt nhìn sẽ không nhận ngay ra được đó là vùng nông thôn. Đường xá đi lại rộng rãi, sạch sẽ; đèn đường và các phương tiện biển báo, tín hiệu giao thông như trong thành phố. Người ta chỉ có thể nhận biết qua cách phân khu hành chính, vùng thổ nhưỡng trên bản đồ và đặc thù làng quê thông qua sự sinh hoạt của cộng đồng được biểu hiện qua phong cách của bản chất con người.

Vì đã được báo tin sẽ có khách từ Việt Nam về chơi nên cổng ngõ đã dọn sạch sẽ; tuyết được gom thành đống sang hai bên lấy đường cho xe vào. Theo như lời của Anna, thì ở quê hiện nay chỉ còn có ông bà ngoại của Anna. Cụ ông Wact aw Wale Rych sinh năm 1930 và cụ bà Hahana Wale Rych sinh năm 1934. Hai cụ sinh hạ được hai người con; một gái một trai. Người con gái (mẹ Anna) lớn lên thoát ly rồi xây dựng gia đình; người con trai cũng vậy, làm việc ở vùng biên giới giáp với Cộng hoà Séc. Mặc dù biết tôi sang chơi nhưng vì điều kiện công việc nên không về quê được.

Xe vừa đỗ đã thấy hai cụ ra cổng đón. Khi tôi xuống xe, hai cụ bước nhanh đến chìa tay bắt kèm theo những tiếng nói lơ lớ: “Việt Nam... Việt Nam... chào... chào... ”. Rồi hai cụ ôm lấy tôi, áp lên má tôi những nụ hôn thân thiện, nồng ấm như gặp gỡ người thân đi xa về…

Tôi theo chân hai cụ vào phòng khách. Căn phòng ấm và rất gọn gàng. Những tấm thảm treo tường và lót trên nền nhà rất đẹp. Cụ ông rót nước mời, bóc kẹo cho tôi ăn, thi thoảng lại vỗ vỗ vào tay tôi ra hiệu bảo cứ tự nhiên... Tuy ngôn ngữ bất đồng, nhưng qua cử chỉ và thái độ, tôi biết con dâu tôi đã nói về tôi qua lần về Việt Nam cho hai cụ biết một phần nào.

Vừa ngồi nhấm nháp tách trà nóng tôi vừa hỏi thăm cuộc sống của hai cụ hiện nay. Qua lời phiên dịch của Anna, tôi biết: Sau thời đất nước Ba Lan được giải phóng, cụ Wact aw Wale Rych là xã viên hợp tác xã; là người thông minh, lanh lợi nên cụ làm nhiều nghề. Sau thời Liên bang Xô viết tan rã, cụ làm nghề lái xe vận chuyển lương thực, thực phẩm cho siêu thị các cửa hàng ở địa phương và các vùng lân cận.

Trong gia đình, cụ Wact aw Wale Rych là lao động chính, còn cụ bà từ khi lấy chồng chỉ ở nhà làm công việc nội trợ và chăm sóc con cái. cuộc sống hiện nay của hai cụ dựa vào số tiền 600USD hàng tháng của cụ ông được hưởng theo chế độ do Nhà nước Ba Lan cấp. Tôi tò mò hỏi tại sao cụ bà Hahana Wale Rych không có lương thì được biết: do cụ bà thời trẻ đã nổi tiếng là một thiếu nữ xinh đẹp, rất nhiều chàng trai quanh vùng nhòm ngó, nên sau khi cưới, cụ ông dứt khoát bắt vợ ở nhà chăm sóc con cái và lo việc nội trợ, còn phần kinh tế do cụ ông đảm nhiệm. Quả thật nhìn cụ bà dù bây giờ tuổi đã cao, nhưng qua vóc dáng và đường  nét trên khuôn mặt, tôi vẫn nhận đó là một người phụ nữ vừa phúc hậu lại rất nhan sắc. Tôi cười nói vui với con dâu: “Trông cụ bà bây giờ vẫn còn xinh đẹp thế này thảo nào hồi còn trẻ, cụ ông không cho cụ bà đi đâu là phải”, con dâu tôi dịch lại lời tôi nói làm cho cả nhà cười, cụ ông nhìn tôi gật đầu tán thưởng...

Chờ cho tôi đỡ mệt vì đường xa. cụ Wact aw Wale Rych dẫn tôi đi thăm nhà. Ngôi nhà được xây dựng theo lối nửa cổ điển nửa hiện đại. Phần trên cùng gồm phòng đệm, phòng khách, phòng ở, khu bếp và phòng ăn; phía dưới sàn nhà là phần trồi cao trên mặt đất để chống lạnh, có những khoang chứa vật dụng; dưới cùng là tầng hầm; ngoài những nơi để thực phẩm, kho chứa đồ còn có một khoang đặt lò sưởi. Mặc dù ờ vùng này vẫn có hệ thống sưởi hiện đại như ở các thành phố, nhưng cụ và nhiều gia đình dân làng ở Krsiniec dùng lò sưởi theo kiểu cổ điển đốt bằng than đá.

Tôi khá ngạc nhiên vì hệ thống lò sưởi rất đơn giản; diện tích chừng 3m2, giữa đặt một chiếc lò đốt than bằng kim loại, khá giống với lò luyện nhiệt; bên trên là nồi chứa dầu nối với những đường ống dẫn, chia nhiệt đến những nơi cần sưởi ấm. Lò sưởi hoạt động theo nguyên lý chênh lệch áp suất, khí nóng được tuần hoàn trong đường ống; chỉ cần đốt một lần thôi, nhưng thời gian giữ nhiệt kéo dài được 36 giờ và duy trì nhiệt độ trong nhà vào khoảng 25 - 27 độ C.

Sau khi thăm nhà, cụ và tôi trở về phòng khách trò chuyện và Anna là người phiên dịch. Biết tôi vừa đến thăm Trại tập trung Auschwitz, cụ Wact aw Wale Rych cho tôi biết: khi mới hơn chục tuổi cụ đã chứng kiến cảnh chiến tranh và chính cụ là một trong những tù nhân nhỏ tuổi bị dồn vào Trại tập trung Auschwitz. Sau khi kể lại những ngày bị giam giữ và chịu những nỗi đói khát, khổ cực trong trại tù, cụ Wact aw Wale Rych mang ra cho tôi xem một chiếc áo khoác ngoài của sĩ quan Đức quốc xã và kể: “ Đây là chiếc áo do một chiến sĩ Hồng quân Xô viết vào giải phóng nhà tù; thấy tôi bé nhỏ, ăn mặc lại phong phanh mà trời thì lạnh, nên đưa cho tôi mặc và tối đi ngủ thì làm chăn đắp. Ghi nhớ tình cảm ấy nên tôi giữ lại và coi tấm áo này là kỷ vật thiêng liêng... ”.

  Tấm áo vẫn còn mới, khá nặng, lượt ngoài là dạ màu xám nhạt, bên trong là lớp lông cừu, những hàng khuy đồng sáng bóng sực nức mùi thơm của hương nước hoa... Tôi đang bâng khuâng về câu chuyện xảy ra từ nửa thế kỷ trước thì cụ Wact aw Wale Rych ngỏ ý muốn cho lại tôi tấm áo ấy làm kỷ niệm. Tôi cảm ơn và tế nhị từ chối món quà vô giá và tấm lòng thịnh tình của cụ. Nhưng rất dứt khoát, cụ cầm chiếc áo lên trao cho tôi và xua tay ra hiệu tôi phải nhận và không được từ chối. Thấy tôi ngần ngừ, Anna nói: “Ông ngoại con đã có ý từ trước, chờ khi nào bố sang sẽ tặng lại chiếc áo này cho bố đấy. Bố đừng từ chối”. Tôi lặng đi vì tình cảm chân thành của cụ dành cho tôi và không biết nói gì hơn.

Buổi chiều, tôi cùng gia đình ra nghĩa trang chung của dân làng. Hầu hết các ngôi mộ đều được ốp bằng đá hoa cương. Trong khung cảnh dưới ánh chiều tà, trên nền tuyết trắng, nghĩa trang đẹp, sạch sẽ. Theo tập tục của người theo đạo Ki tô giáo ở làng Krsiniec, trước ngày Nô-en người ta ra sửa sang, quét dọn, lau rửa lại mộ những người đã khuất rồi thắp đèn, nến suốt một tuần. Cả nghĩa trang bừng sáng rực rỡ, lung linh toả ra từ những ngọn nến và những cây đèn cầy đặt trước mộ và trong đài tưởng niệm riêng của mỗi dòng họ.  

Cụ Wact aw Wale Rych đốt thêm nến và kiểm tra lại mức dầu cần thiết trong các cây đèn rồi cùng cả gia đình thành kính đứng trước khu mộ của những người thân đang an nghỉ, ra dấu và chắp tay tưởng nguyện, miệng lầm rầm đọc kinh…

Qua hình ảnh này cho tôi cái nhìn thật gần gũi và làm thay đổi quan niệm trước đây về tục lệ của người công giáo đối với những người đã khuất. Thể như người Việt Nam, vào những ngày cuối năm, mọi người ra nghĩa trang thắp hương, khấn vái mời “các cụ” và những người đã khuất về ăn tết với gia đình. Có khác chăng, nơi đây không thắp hương nhưng thay vào đó là hương dầu thơm nhè nhẹ toả ra từ những chiếc đèn thắp trên những nấm mộ… Tuy khác về hình thức nhưng ý nghĩâ tâm linh, cho dù đó là đạo Phật hay đạo Giáo thì vẫn đều dành cho những linh hồn thân yêu những tình cảm nhớ thương, thành kính và sâu sắc…

  Đêm Nô en, cả vùng quê yên tĩnh chìm trong tiếng chuông dong dả. Thời khắc lễ trọng đã đến. Mọi người trong gia đình đoàn tụ quây quần; bên cây thông Nô En rực rỡ, dưới bức ảnh trang nghiêm, uy nghi của Đấng cứu thế. Ánh sáng từ nơi Chúa ngự toả ra muôn ánh hào quang; mọi con mắt tràn đầy đức tin hương về nơi Chúa Cả... Tiếng nhạc nhè nhẹ vang lên... sau phút giây thành kính, cụ Wact aw Wale Rych nghiêng mình chìa tay mời cụ bà. Khúc nhạc đêm Nô en và điệu nhảy của niềm hạnh phúc. Tất cả mọi người trong gia đình đứng lên vửa nhún nhảy vừa bẻ những tấm bánh bột mì- thứ bánh biểu trưng cho sự kỳ diệu của thiên nhiên được sinh sôi, nảy nở từ đất đai màu mỡ; từ những ước mơ an lành, ấm no, hạnh phúc trong tình cảm quê hương, trong tình thương yêu đồng loại và cũng là thủ tục không thể thiếu được trong đêm Nô En...  

Nhìn hai cụ nhẹ nhàng lướt đi trong tiếng nhạc du dương và bón cho nhau những miếng bánh ngọt ngào, tôi cảm giác như các cụ đang trờ về với tuổi thanh xuân; trở lại với tình yêu đôi lứa... Các con tôi và những đứa cháu của tôi cũng vậy, chúng nhảy say sưa, trao cho nhau những miếng bánh thần kỳ... và tôi nữa, một công dân Việt Nam, đêm nay ngỡ như mình lạc vào một trang cổ tích...

Nhớ lại thời gian cách đây gần chục năm, sau khi vợ tôi mất, nghe con trai điện về nói lấy vợ Tây, tôi rất lo lắng. Ngoài địa lý xa xôi, còn có biết bao nhiêu cách trở. Về ngôn ngữ; tập tục, cách sống và còn bao điều chưa biết. Nhưng sau khi nghe chuyện tôi mới hiểu; dường như hoàn cảnh cuộc sống của con dâu tôi, và điều kiện cuộc sống của hai cụ cũng thể như người Việt Nam ta có câu thành ngữ:“Cháu bà nội tội bà ngoại”. Thật đúng vậy, do bố mẹ chia tay; mẹ đi làm ở xa nên từ nhỏ hai chị em Anna đã phải gửi về quê ngoại; và hai cụ chính là người đã cưu mang, đùm bọc, nuôi nấng, chăm bẵm hai chị em Anna vào những ngày tháng bơ vơ, khốn khó nhất; từ tuổi đầu đời cho đến lúc vào trường đại học. Chính vì ơn nghĩa ấy, nên sau khi đã trưởng thành và lập gia đình, con trái tôi và Anna coi hai cụ không chỉ là ông bà ngoại mà còn là hai người thương yêu nhất trong cuộc đời.

Tôi vui vì điều đó. Lòng hiếu thảo và cách đối nhân xử thế của con người ở đâu cũng vậy; vốn là thước đo đạo lý được thể hiện ở lòng nhân ái thông qua sự đối xử với chính những người ruột thịt của mình. Thể như niềm ước muốn của tất cả những người làm cha làm mẹ ở Việt Nam; nuôi con, dạy con để khi con cái  trưởng thành sẽ trở thành “dâu thảo, rể hiền”...

Theo lịch trình, ngày mai tôi sẽ đi thăm Nhà Thờ Lớn Ba Lan và một số danh lam thắng cảnh, sau đó sẽ cùng gia đình con tôi đón tết Dương lịch ở thành phố Lódz.  Nhưng qua chuyến đi này, tôi thật sự an tâm. Chính vì nhờ sự đùm bọc và dạy dỗ của hai cụ, nên Anna không khác chi một người phụ nữ người Việt Nam và gia đình tôi có một người con dâu hiếu thảo.

 


 

 

 

 

 

NGÔ MAI AN

 

Lời hứa lúc cầu hôn

 

NHÀ XUẤT BẢN VĂN HỌC, 2013

 

--------------------------------------------------------- 

 

Tập truyện ngắn đoạt Giải Khuyến khích,

 Giải thưởng VHNT tỉnh Vĩnh Phúc 5 năm lần thứ IV

(2011 - 2015)

 


  

 

 

GIÓ THOẢNG QUA TRỜI

Chiếc xe máy dừng lại trước sân cơ quan, người con gái rút chìa khoá điện, tay xách theo chiếc túi nhựa màu nâu nhẹ nhàng bước vào phía hội trường. Ở trong đó, các thầy cô hiệu trưởng, hiệu phó trong toàn huyện về dự đông đủ. Hội nghị đã đến giờ giải lao, nhiều thầy cô tràn ra hành lang, người hút thuốc lá, người uống nước trà nói cười vui vẻ.

Với dáng vẻ tràn đầy tự tin, người con gái đi thẳng về phía cuối hội trường. Cô dáng người cao dong dỏng dễ coi, mái tóc bồng bềnh, làn da trắng mịn, nhất là điệu bộ lịch thiệp, pha chút kiêu hãnh. Đã có sắc đẹp trời phú, cô lại còn biết cách ăn mặc khá hài hoà: Chiếc quần bò màu tím nhạt bó sát cặp chân dài và thon, chiếc áo trắng kẻ sọc xanh bằng loại vải khá mỏng như bám hờ vào tấm thân có bộ ngực đầy đặn, đôi giày cao gót… tất cả gợi lên một sự sang trọng, tự nhiên của người có gu thẩm mỹ. Khi cô nhanh nhẹn bước vào hội trường phòng Giáo dục, không gian đang rôm rả tiếng nói bỗng ngừng cả lại bởi tiếng chào lanh lảnh: “Em xin kính chào các anh, các chị”. Mọi người quay ra, người khách lạ bước vào hội trường cất tiếng hỏi:

- Em xin phép được hỏi, có thể gặp bác Trần Phác trưởng phòng?

Cô Lan nhanh tay chỉ:

- Bác Phác ngồi giữa bàn uống nước kia kìa.

Cô gái bước đến trước mặt người đàn ông mặc bộ comple - lê màu đen,  thắt cà - vạt đỏ đang thì thầm trao đổi gì đó với một thầy tóc đã hoa râm. Cô không ngại cắt ngang câu chuyện của họ. Cô bước đến trước trưởng phòng, tay chắp ngang ngực, lưng khom khom: “Dạ! Xin chào bác Trần Phác trưởng phòng. Em xin được gặp bác để chuyển thư riêng của bác Đỗ Việt trên Hà Nội gửi đến bác”.

Đôi tay và đôi môi thì tỏ vẻ cung kính thế, nhưng đôi mắt vẫn liếc ngang, liếc dọc. Chẳng hiểu cô ta định tìm cái gì.

Trưởng phòng đứng lên rồi quay lại phía đám đông, cất tiếng:

- Xin lỗi anh chị em, tôi bận khách.

Nói rồi, Trần Phác dẫn cô gái xinh đẹp sang phòng tiếp khách.

Bên này anh, chị em bắt đầu rì rầm bàn tán.

Thầy Hùng khẽ lên tiếng:

- Người đâu mà đẹp gái, lịch thiệp thế nhỉ?

- Người này thoáng trông có lẽ là người thị xã hay thành phố, nhìn đôi mắt, thấy cũng khiếp đấy.

- Ghê nhỉ. Bà Thọ thì nhìn cô nào cũng nhìn đôi mắt. Chứ như cô Huyền đây chẳng bao giờ nhận xét, bình phẩm về ai.

Thầy Hoàn:

- Các cậu ạ! Biết đâu cô ta lại là con ông này, bà nọ ở cấp tỉnh hay cấp bộ về đây có chuyện riêng tư với trưởng phòng, hay tổ chức sở. Chắc huyện ta lại sắp được phân công thêm một cô giáo trẻ.

- Giáo sào gì? Trông cái mắt và cách làm dáng có vẻ một tay ăn chơi thì đúng hơn - Đó là lời cô Lan.

Rồi cô Hà:

- Lan được cái nhanh miệng, chỉ tội hay “cầm đèn chạy trước ô tô”, nhưng tài xem tướng của nó thì hơi bị giỏi đấy nhá! Ai mà nhờ nó chọn vợ thì an tâm đi!

Từ nãy đến giờ, Phúc – cán bộ tổ chức của phòng – vẫn ngồi yên một góc. Lúc này, anh đang cố vắt óc nhớ lại: hình như ta đã gặp cô nàng ở đâu? Một hay hai lần gì đó, cái dáng cao cao, vầng trán hơi rộng, con mắt liếc ngang liếc dọc… Không, có thể ta nhầm! Ở đời này thiếu gì người giống nhau. Phúc linh cảm và thấy lo cho Trần Phác khi con người này xuất hiện, bởi thủ trưởng của anh là người tính tình hiền hậu, cả nể, dễ xiêu lòng…

Với thủ trưởng, Phúc đúng là người tâm phúc. Mỗi khi Trần Phác gặp cơn trái gió trở trời, anh đều quan tâm chăm sóc. Những điều thủ trưởng vui, Phúc cũng vui lây, mỗi khi ông buồn, Phúc cũng buồn theo - hình như tâm tư suy nghĩ của người này chỉ có mình anh cảm nhận được. Trong phòng Giáo dục huyện, không ai hiểu hơn anh về người trưởng phòng còn khá trẻ này.

Ở ghế góc trong – cũng hơi khuất góc bàn uống nước – từ phút đầu tiên đến giờ, Thành - Hiệu phó trường Bằng Luân, không nói năng gì, chỉ ngồi lơ đãng nhìn lên trần nhà, đôi khi lại gục đầu xuống bàn như buồn ngủ.

Thành không lạ gì cô gái đó. Cô chính là Hiền, người bên Yên Phong, quê hương quan họ.

Ngày ấy, Thành là sinh viên khoa Toán - Lý năm cuối, Hiền là sinh viên năm thứ nhất khoa Văn - Sử của trường Cao đẳng Sư phạm Trung ương. Học cùng trường, hai người gặp nhau, thân thiết nhau. Thành tuổi 25, Hiền vừa tròn tuổi 20.

Khi biết Thành yêu Hiền, ai cũng khen: “Đẹp đôi đấy”. Cặp tình nhân đã xác định: “Đến khi ra trường cả hai đều có công ăn việc làm ổn định sẽ cưới nhau”. Nhưng, có điều rất đáng hồ nghi: mỗi khi Thành đặt vấn đề đưa nhau về thăm gia đình đôi bên, thì Hiền chỉ chấp nhận về nhà Thành, còn việc về nhà Hiền thì Hiền đưa ra đủ các lý do khác nhau nhưng đều khá hợp lý. Hiền còn nói với Thành: “Mẹ em rất khó tính, phải làm công tác tư tưởng từ từ, chờ đến khi nào thuận tiện”.

Ra trường, Thành về quê. Đi từ Mê Linh sang bên Yên Phong - Bắc Ninh chưa hết một giờ xe máy. Đã nhiều lần Thành sang Yên Phong thăm bạn bè hay dự đám cưới, anh đã gặp được người biết rất rõ về gia cảnh của Hiền.

Hiền là con gái độc nhất của bà Vựng làng Kim Môn, bố Hiền mất cách đây đã chục năm. Gia đình Hiền có ngôi nhà cổ bề thế, khu vườn rộng độ hai sào, trồng đủ các loại cây ăn quả, ngoài đồng có ba sào ruộng cấy hai vụ, đều thuộc loại đẳng điền. Bà Vựng người nhỏ thó, da đen, răng vểu, nghiện trầu, hàng năm thu hoạch từ trái cây trong vườn, con lợn con gà chăn nuôi trong chuồng cũng đủ chu cấp cho Hiền ăn học. Bà sống thật thà, chất phác, chẳng to tiếng với ai bao giờ. Tình tình tự ti, khép nép với mọi người, thiên hạ nói gì, bà thường tin ngay, có khi còn lấy điều đó làm “kim chỉ nam” trong cuộc sống. Ông bà nên vợ nên chồng từ thuở mười tám, đôi mươi, vậy mà đến ngoài bốn mươi tuổi vẫn chưa đẻ được đứa con nào. Bà đã nhiều lần nói với ông: “Làng trên xóm dưới có mấy cô quá lứa nhỡ thì, ông ưng cô nào, để tôi đến nói chuyện với người ta”. Lần nào, ông cũng đều gạt đi, vì ông biết bệnh ông không thể có con được. Ông bà tính đến chuyện xin con để nuôi cho vui nhà vui cửa. Gần một năm sau, được dì Lý – y tá khoa sản trên bệnh viện Thái Nguyên – giúp đỡ, ông bà xin được một bé gái, đặt tên cho nó là Hiền. Cũng là mong sao sau này con người nó được như cái tên Hiền của nó.

Trải theo năm tháng, Hiền khôn lớn dần, càng lớn nó càng đẹp. Những năm nó học cấp hai, mẹ nó đi tát vét, được con tôm con cá, kho cho cả nhà cùng ăn. Tôm thì con Hiền chỉ quen ăn thân, cá nó chỉ ăn khúc giữa, còn lại nó “nhường” cho bố mẹ. Ông bà Vựng thì lại khen con bé này sau nó sẽ là người giàu có vì nó biết ăn ngon.

Học lên cấp ba, nhà chỉ cách trường gần một cây số, nhưng Hiền đòi mẹ phải mua xe đạp. Chủ nhật nào nó cũng ra chợ Chờ hay đi Hà Nội. Quần áo nó luôn thay đổi mẫu mã, giày dép nó có tới hàng tá. Bù lại, nó lại là đứa con gái học giỏi, hết năm học nào nó cũng được giấy khen học sinh tiến tiến. Thấy con gái học hành tấn tới, lại có mỗi mình nó, nên bà Vựng chiều con hết mực. Mấy lần có tiếng đồn trong làng ngoài xã, rằng con Hiền, khi với thằng Sáu bên thôn Ngoại, khi lại với thằng Hùng bên thôn Yên, đưa nhau ra Hà Nội thuê phòng tâm sự suốt từ sáng cho đến chiều muộn mới ra xe về nhà, bà đều gạt đi. Tiếng đồn thì mặc tiếng đồn, cuối năm nó vẫn tốt nghiệp cấp ba; thi vào trường Cao đẳng Sư phạm Trung ương, nó vẫn thừa hai điểm để vào học.

Hôm ấy, anh giáo Thành trở lại trường cũ làm việc với phòng tổ chức. Khi đến cổng trường, trời nắng nóng, anh gặp một bà cụ quê mùa, đầu tóc bạc phơ mặc chiếc quần láng đen, cái áo gụ đã phai màu, gót chân nứt nẻ trong đôi dép nhựa nâu, tay xách cái túi vải màu xanh. Cụ như có vẻ nóng ruột chờ ai.

- Cụ đang cần gặp ai thì phải?

- Dạ không… dạ không… Tôi đứng nghỉ chân cho đỡ nóng.

- Thưa cụ, cháu là học sinh trường này, cụ cần gặp bạn nào, cháu gọi giúp cụ được mà

Nghe Thành nói, mắt cụ sáng ra, nét mặt trở nên tươi tỉnh, nhưng cũng tỏ vẻ lo âu.

- Xin cảm ơn anh! Tôi muốn gặp em Hiền, quê Yên Phong – Bắc Ninh học khoa Văn - Sử… Nhưng, anh giúp được tôi, thì tôi lại sợ lớp sẽ kiểm điểm em nó.

Thành càng năn nỉ, bà cụ càng lùi dần, lùi dần, nét mặt không giấu nổi vẻ lo âu.

Lúc ấy, Thành đã lờ mờ hiểu ra nguyên do Hiền luôn luôn giấu giếm về bố mẹ, về cả những điều dị nghị của xóm làng về mình. Hiền chỉ muốn không ai biết gì quá khứ của mình và về bà mẹ xấu xí cũ kỹ đã nuôi Hiền nên người. Là con cái, đâu có quyền chọn cha mẹ. Không ai lại chê bai cái kém cỏi, thua thiệt của bậc sinh thành. Nhưng Hiền không biết ai đã sinh ra để rồi bỏ rơi mình. Hiền là đứa con nuôi, được lớn lên và trưởng thành nhờ người mẹ nuôi cưu mang… Thế mà Hiền đã mặc cảm với điều thiêng liêng ấy.

Tốt nghiệp ra trường, Hiền thay đổi chỗ công tác xoành xoạch, đó cũng là lý do khiến thư từ qua lại giữa hai người thưa thớt dần và tình cảm của Thành đối với Hiền phai nhạt. Anh biết, Hiền ưa quan hệ với những người có máu mặt, có quyền thế để dựa dẫm, để luồn lách vào những trường gần thành phố hơn. Hiền mang nhan sắc và thân mình để khích lệ và đền ơn những người giúp mình được việc. Cứ như vậy, Hiền đã dấn sâu vào chỗ tối…

Khi thấy Hiền dừng xe đến đây, Thành đã nhận ra ngay người cũ, chẳng biết Hiền có nhìn thấy Thành không? Đã gần bốn năm nay, hai người đã không còn quan hệ gì với nhau nữa.

Cuộc tiếp khách của trưởng phòng mất gần nửa tiếng đồng hồ. Khi ra khỏi phòng tiếp khách, cô gái khôn khéo đi dọc hành lang, đến cửa phía trước hội trường thì dừng lại, nhoẻn miệng cười tươi “Xin kính chào các anh, các chị, em xin phép” rồi mới ra về.

Ngồi thu lu ở góc trái gần cuối hội trường, Thành thấy trong lòng chua chát: “Một màn ra mắt ngoạn mục”.

Trần Phác đi ra, mỉm cười nói nhỏ với Phúc “Cô Lê Thuý Hiền là cháu ông Đỗ Việt, vụ phó trên Bộ, bạn học cũ của tôi, giới thiệu cho cô Hiền được dạy hợp đồng môn Văn - Sử, chờ sang năm tới xin thi công chức tại tỉnh ta. Cô này nói năng nhẹ nhàng, dễ nghe và cũng lịch thiệp. Tôi đã nhận lời. Vả lại, cũng còn khuyết một chỗ ở trường Hạ Lôi. Hạn sáng thứ tư tuần sau, cô ấy đến gặp anh để làm hợp đồng”.

Hội nghị lại tiếp tục…

Một năm sau, phòng Giáo dục lại mở hội nghị tổng kết năm học đã qua. Các thầy hiệu trưởng, hiệu phó trong toàn huyện lại có mặt đầy đủ. Có nhiều báo cáo điển hình để rút ra ưu và khuyết điểm của các trường. Riêng trường Hạ Lôi bị xếp hạng C, vì có một số hiện tượng tiêu cực, mất đoàn kết giữa hiệu trưởng và hiệu phó, đôi ba giáo viên dính quan hệ không bình thường. Giải thích về kết quả xếp hạng của phòng, Trần Phác có ý biện bạch, nhưng ông không giấu được vẻ sượng sùng.

Bất giác, Thành liên tưởng đến Hiền, và vết xước cũ của trái tim anh lại thấy nhoi nhói. Nghe nói sau đấy, Hiền lại xuất hiện ở trường Trung Phương, huyện bên cạnh… Thành thấy con người ấy thật lạ: đến đâu cũng nhanh chóng gây được ấn tượng ban đầu, rồi đi qua, như một cơn gió thoảng…

 

 

 

 

 

 

 

CHUYỆN NGƯỜI GIÚP VIỆC

 

         Đối với người nghỉ hưu, đọc báo, xem ti vi là việc hằng ngày. Từ khi nhận sổ, bà Thu quanh quẩn chẳng biết làm gì, cứ đi ra đi vào, bứt rứt. Con dâu và con trai đã mấy lần nhắc nhở bà: “Bây giờ mẹ phải nghỉ ngơi, đi chơi nhà bạn bè hay đi lễ chùa, tuỳ ý, đó là quyền của mẹ. Miễn là mẹ lúc nào cũng phải mang theo điện thoại di động, có chuyện gì chúng con còn biết mà đến với mẹ. Còn tất cả công việc hàng ngày trong gia đình, chúng con đã nhờ cô Tạo làm hộ”.

Một hôm, đọc tờ báo Phụ nữ Việt Nam, có một mẩu tin ở mục “Rao vặt” làm bà chú ý: “Cần tìm một người giúp việc, tuổi không dưới 50, không quá 60, có thâm niên trong ngành y, để chăm ông già 75 tuổi. Lương tháng một triệu tám trăm. Ăn ở gia đình chu cấp hoàn toàn. Ai có thể giúp đỡ gia đình chúng tôi, xin mời đến gặp tại số nhà 2x, phố Px, quận Hx, Hà Nội. Trước khi đến, xin liên hệ với số máy 0912xxxxxx, hoặc gửi thư, để tiện bàn bạc”.

Bà Thu nhận ra ngay: Đây chính là số nhà của Giáo sư Trần Phát, trường Đại học Y Hà Nội. Bà thốt lên nghẹn ngào: “Anh Phát ơi! Sao anh khổ thế!”.

Cách đây ba chục năm, giảng viên Trần Phát mới bốn chục tuổi đời đã phải chịu cảnh goá vợ. Tuy được thừa kế cơ nghiệp rất khang trang của cha mẹ để lại, nhưng lâm vào cảnh gà trống nuôi con, anh phải một mình vất vả xoay xở với hai thằng con trai đang tuổi lớn tuổi nghịch - đó là Trần Triển 16 tuổi - đang học cấp ba, và Trần Hùng 13 tuổi - đang học cấp hai. Thời đó không ai dám thuê người giúp việc. Công việc ở trường quá bận nên đôi khi, thầy Phát phải nhờ mấy cô sinh viên đến nhà giúp thầy dọn dẹp nhà cửa, có hôm còn lo luôn cả việc bếp núc nếu như thầy chưa về kịp. Thu là cô gái quê vùng trung du, lớn tuổi nhất lớp, sức học hơi yếu so với các bạn khác, nên thầy Phát thường phải kèm cặp, phụ đạo thêm mới nắm được bài. Phiền thầy bao nhiêu thì đáp lại, Thu cũng đỡ đần việc nhà cho thầy nhiều hơn các bạn nữ khác. Đến năm cuối cùng của khoá học, tình cảm thầy trò trở nên khó phân biệt, Thu chỉ biết rất quý và cũng rất thương thầy. Đối lại, thầy cũng có ý mến Thu, cho nên sau lễ tốt nghiệp, thầy dùng uy tín của mình xin cho Thu về một bệnh viện ngay tại Hà Nội và đã được phòng tổ chức nhà trường chấp thuận. Khi trách nhiệm thầy trò đã được hoàn tất, tình cảm giữa hai con người quá thông cảm với nhau trở nên gắn bó tự nhiên…

Chần chừ mãi, rồi cũng đến lúc Trần Phát phải đưa chuyện riêng của mình ra thăm dò ý kiến các con. Anh lớn Trần Triển đang học Đại học Ngoại thương, thằng em Trần Hùng đang học lớp mười - cả hai đều tỏ ra cứng rắn. Chúng đề nghị bố cứ ở vậy với chúng, và còn đe: “Nếu bố đưa bất kỳ một phụ nữ nào vào nhà, chúng con sẽ lập tức bỏ học và ra đi tự kiếm sống”.

Lúc này, cái thai trong bụng Thu đã được ba tháng. Phong tục quê Thu còn rất nặng lễ giáo phong kiến, đứa con ra đời không thể thiếu cha, mà cứ tiếp tục làm ở Hà Nội thì trước sau cũng vẫn bị lộ. Trần Phát cũng rất sợ hai thằng con phá bĩnh, không dám đẩy mối quan hệ giữa hai người trở thành chính thức, có cưới hỏi công khai. Cuối cùng, ông thở dài: “Hay là em chuyển vào phía Nam công tác và đẻ con, chờ anh về hưu, ta sẽ chung sống”… Trong tình huống của Thu, đó là giải pháp tạm thời thuận cả đôi đàng, nên cô bằng lòng chuyển vào làm cho một bệnh viện tuyến Trung ương đặt tại Cần Thơ.

Ở đây, Thu sinh hạ được thằng Thanh. Được các bạn bè cũ mới che chở và giúp đỡ tận tình, hai mẹ con ổn định cuộc sống dần dần. Thằng Thanh càng lớn thì hình ảnh Trần Phát trong trái tim Thu cũng càng phai nhạt, mặc dù anh vẫn thường xuyên viết thư thăm hỏi, động viên hai mẹ con Thu. Bạn bè đồng nghiệp cũng tìm cách thông tin cho Thu biết: Hai đứa con thầy Phát vẫn không thay đổi lập trường, dứt khoát cấm bố cưới vợ mới, mặc dù chúng cũng biết cô Thu đã có con với bố mình.

Thu như người đã kinh qua trận mạc, vết thương đã liền sẹo trong lòng, nên không lần nào hồi đáp thư Trần Phát. Tình cảm của Thu đã trở nên chai lỳ, nên cô bác sĩ một con chỉ còn biết lạnh lùng từ chối mỗi khi có người tỏ tình hoặc nhận làm mai mối. Toàn bộ cuộc sống của Thu mấy chục năm nay chỉ xoay quanh công việc chuyên môn và nuôi dạy thằng Thanh.

Trần Thanh sống với mẹ mãi thành quen, nó sớm biết đây là người thân duy nhất của mình nên mẹ bảo gì nó nghe răm rắp. Sau một lần lỡ miệng hỏi mẹ “bố đâu?”, được mẹ kể chuyện về giáo sư Trần Phát và căn dặn, nó không bao giờ hỏi lại câu ấy nữa. Hai mẹ con hoạ hoằn mới có khách, chủ yếu là bạn cùng học với mẹ và những người trong họ ngoại tiện đường công tác ghé thăm. Học xong phổ thông, Thanh thi đỗ vào Đại học Y thành phố Hồ Chí Minh. Ở đó, nó yêu một cô học dưới nó hai năm. Khi mới tốt nghiệp, mẹ đang còn làm việc, Thanh được nhận vào bệnh viện Chợ Rẫy. Đến khi mẹ sửa soạn nghỉ hưu, Thanh đề đạt nguyện vọng và được chuyển về Cần Thơ, còn cô vợ được nhận suất kế chân mẹ chồng. Thế là cái gia đình nhỏ của mẹ con Thu đã quy về một mối, chẳng còn gì phải lo lắng nữa.

Cuộc sống đang yên đang lành thì bà Thu đọc được mẩu tin tuyển người giúp việc của hai người con quý hoá của Giáo sư Trần Phát. Lập tức, ký ức một thời đã ngủ yên ba chục năm trời có cơ choàng tỉnh. Chắc Trần Phát bị ốm liệt giường đã lâu, và đang lay lắt ở biên giới mong manh giữa sự sống và cái chết. “Một ngày nên nghĩa”, bà Thu vân vi suy đi tính lại mất nhiều ngày, rồi mới ngỏ ý với con trai và con dâu:

- Mẹ muốn ra Hà Nội thăm bố các con. Các con xem báo Phụ nữ, chắc biết rồi đấy, cái nhà ấy tuyển người giúp việc là để chăm sóc bố của các con. Bệnh tình như thế xem ra nặng rồi, nếu cần, mẹ có thể ở lại chăm sóc, cho ăn uống thuốc men và luyện tập đúng chế độ thì mới mong tránh khỏi tật nguyền…

Trần Thanh gạt đi:

- Mấy chục năm qua, ông ấy có ngó ngàng gì đến mình đâu, mẹ… Lấy đâu ra tình cảm vợ chồng, cha con, mặc dù con vẫn biết ông ấy là bố đẻ của con.

Cô con dâu góp lời:

- Mẹ có ý định như vậy thật là đáng phục, chúng con không dám can ngăn. Con chỉ e mẹ chỉ làm cái việc quá sức của người già. Nữa là, hai người con kia còn trẻ khoẻ thế mà còn phải trốn cái việc của chính họ…

- Họ quả là những người con ích kỷ nên mới ngăn cản bố đến với mẹ. Giờ đây họ mải làm ăn, để vinh thân phì gia, họ lấy đồng tiền ra thuê người khác trông nom hầu hạ bố mình, thế là họ đã vứt bỏ chữ hiếu. Chính vì vậy mẹ phải xin làm ô-sin để bí mật chữa bệnh cho bố con. Mẹ nghĩ, phải thế mới trọn vẹn chữ nghĩa chữ tình.

Khi đến nhà ông Phát, bà Thu phải qua cuộc kiểm tra, phỏng vấn rất khắt khe, kỹ càng, phải trả lời và nhận đáp ứng mọi điều kiện của chủ nhà; cuối cùng, anh em Trần Triển - Trần Hùng đã giữ “ứng viên” này ở lại mà không hề nhận ra người quen cũ.

Giáo sư Trần Phát bị bệnh não, trí nhớ suy giảm, lưỡi cứng không phát âm được, chân tay cử động hết sức khó khăn. Điều dưỡng cho bệnh nhân kiểu này, phải là người vừa có tâm, vừa có kinh nghiệm chuyên môn thì mới tránh khỏi sơ sảy. Hàng ngày ông uống thuốc, tập luyện và tiếp nhận sự chăm sóc của bà mà đâu có ngờ rằng đấy chính là cô sinh viên cũ lớn nhất khoá từng khao khát được làm vợ ông, thậm chí còn có với ông một đứa con trai.

Thời gian thấm thoắt, đã gần năm tháng trời bà Thu ở nhà Giáo sư Trần Phát thuốc thang, cơm nước, dìu dắt và nâng giấc cho ông. Sức khoẻ giáo sư đã bình phục dần dần, trí nhớ trở lại từng bước từng bước, tai nghe miệng nói tuy còn khó khăn, nhưng lạ một điều, là bà ô-sin hiểu hết. Cho đến một ngày giáo sư biết chắc: Bà ô-sin này chính là Thu của mình. Ông khóc ròng.

Tháng tháng, hai anh em Triển và Hùng vẫn đến thăm bố đều đều, mặt khác - cũng là để đưa tiền công cho người giúp việc. Họ làm việc đó với thái độ nhã nhặn lịch sự, tiền công ô-sin lần nào cũng để trong phong bì in sẵng dòng chữ “Công ty TNHH… ” gì gì đó…

Còn ở Cần Thơ, bác sĩ Trần Thanh vẫn thường xuyên liên lạc với mẹ qua điện thoại, nhờ đó anh biết được tiến triển trong việc chữa trị cho bố. Anh quyết định bay ra Hà Nội một chuyến để gặp cả song thân, đồng thời cũng phải nói chuyện thẳng thắn với hai người anh cùng cha khác mẹ.

Giáo sư Trần Phát cho gọi hai anh em Triển – Hùng đến để họp toàn gia đình. Nghe bố nặng nhọc giới thiệu hai mẹ con bà ô-sin là ai, Trần Triển run giọng xin phát biểu:

- Đến lúc này, anh em chúng con mới biết ân hận, chỉ xin bố và dì tha thứ cho chúng con, xin em Thanh hết sức thông cảm cho hai anh!

Bác sĩ Trần Thanh có ý kiến:

- Thực tế nửa năm qua cho thấy, việc nghĩa của người vợ đối với chồng, thì mẹ em đã làm. Nhưng  phần đời còn lại của bố không thể thiếu sự chăm sóc của mẹ em được. Nói thật lòng, vợ chồng em đã bàn nhau và thống nhất một vấn đề, em nêu ra đây để xin ý kiến hai anh…

Bà Thu ngắt lời con, đặt tệp phong bì lên bàn, nói rành rẽ:

- Đây là sáu phong bì hai anh đã lần lượt đưa cho tôi trong sáu tháng qua, hôm nay có mặt cả nhà, tôi xin hoàn lại đầy đủ.

Trần Hùng nghĩ bà Thu chê ít, vội chữa:

- Đấy là tiền riêng của anh em con, dì ạ. Chứ tiền lương hưu của bố, chúng con để nguyện vẹn, có dùng đến đâu.

Bà Thu nghiêm nghị:

- Tôi làm ô-sin cho nhà các anh là để được thoả nguyện của một người vợ chứ không phải để kiếm tiền công.

Không để cho anh em Triển - Hùng kịp phản ứng gì nữa. Trần Thanh tiếp tục trở lại chủ đề của chuyến ra Hà Nội lần này:

- Không như hai anh, mẹ con em đều nối nghiệp bố, phục vụ trong ngành y, cho nên, để tiện bề chăm sóc, em đề nghị hai anh cho phép em được đưa bố vào Cần Thơ. Bố không thể thiếu sự chăm sóc của mẹ con em được.

Hai người con lớn vừa thoát được gánh nặng phải thuê diễn viên đóng thế vai mình, giờ chỉ còn biết lặng im, cố lấy vẻ tẽn tò trước lòng hiếu thảo của đứa em cùng cha khác mẹ.

 

 

 

 

 

NGƯỜI LIỆT SỸ VÀ BA NGƯỜI ĐÀN BÀ

  

1

Có tiếng gõ cửa nhè nhẹ.

- Xin mời vào!

Trung úy Toàn hôm nay trực ban doanh trại xuất hiện với vẻ bối rối bất thường:

- Báo cáo lữ trưởng! Chị Loan nhà ta đang chờ ngoài cổng, em mời vào, chị nhất định không chịu vào, chỉ một mực nhờ em gọi thủ trưởng ra để nói chuyện trực tiếp - đến đây, Toàn hạ giọng gần như thì thào: - Em thấy chị có vẻ bực tức về chuyện gì đó, không còn vui vẻ như mọi khi…

Trần Vũ hỏi:

- Nhà tôi đến lâu chưa? Đi cùng với những ai?

- Dạ, đi một mình thôi. Chị nhà đến cách đây độ mười lăm phút ạ.

Trần Vũ đứng lên lấy chiếc áo dạ dài màu lính khoác vào mình, chụp trên đầu chiếc mũ lông, kéo Toàn cùng ra cổng doanh trại.

Vừa đi Toàn vừa trình bày:

- Anh ạ! Không hiểu có chuyện gì mà chị nhà rõ ra là không vui. Chị còn nổi cáu với cả em khi em mời chị vào trong phòng khách. “Thôi. Anh Vũ có nhà hay không? Chú vào, gọi ngay anh ra cho tôi”…

Trần Vũ cười xòa:

- Toàn ơi! Chuyện đàn bà mà!

- Thì em có trách gì chị đâu! Nói chuyện để anh biết mà ứng xử khi gặp chị.

Đến lúc sắp ra đến cổng doanh trại, hai anh em đều im lặng.

Gặp Loan, Trần Vũ thấy vợ không vui, vẻ bực tức điều gì đó đã thể hiện rõ trên nét mặt vốn rất bình dị của Loan.

- Bà lên đây lâu chưa?

- Tôi vừa từ ngoài nhà khách vào đây, phải gặp ông, để hỏi, về con mụ đàn bà nào ấy đến thăm ông…

Trần Vũ có một chút bối rối, xong trấn tĩnh được ngay. Với sự từng trải của mình, ông đang gắng làm sao hạ cho được cơn khùng của vợ xuống dần dần, hết sức tránh chuyện om sòm ầm ĩ… Ông ôm vai vợ, cử chỉ cố làm cho thật âu yếm, rỉ tai nói nhỏ:

- Ai đời, chính thất phu nhân của một lữ đoàn trưởng mà lại đến đơn vị, trước ba quân, lại mang cái vẻ mặt giương lê thế này …

Ông biết, lúc này phải ghìm vợ đi thật chậm, thật chậm, vào nhà khách của đơn vị nói chuyện cho kín đáo. Nhưng Loan gỡ tay chồng ra:

- Tôi không ngờ ông lại có vợ hai. Nó đến thăm ông đấy, con đĩ ấy nó đang ở nhà khách đơn vị kia kìa… Tôi phải xé xác nó ra, ngay trước mặt ông!

- Vợ thì tôi chỉ có một, là bà thôi mà…

- Người ta đã cướp chồng tôi mất rồi… hu… hu…

- Thì chồng bà vẫn đi ngay bên cạnh bà, chứ ai cướp được!... Bà đừng hiểu lầm, đừng suy nghĩ nông cạn như vậy, oan cho tôi với người ta. Có gì đáng phải ghen đâu mà bà nổi máu ghen. Bà không bình tĩnh, mà làm om sòm ngoài nhà khách, thì xấu chàng hổ ai! Bà sẽ ân hận về hậu quả của việc ghen không đúng cách!

Trần Vũ dìu vợ vào một phòng riêng trong nhà khách, tương đối tách biệt với các phòng khác. Ông pha trà rót nước mời Loan đúng như mình là chủ doanh trại tiếp đón khách thăm, tỉ mỉ và chu toàn - kẻo Loan tiếp tục nổ chuyện ầm ĩ thì hỏng bét…

2

Loan lấy Trần Vũ đã hơn hai chục năm nay. Chồng theo binh nghiệp, chẳng phải lúc nào cũng được tay ấp má kề, nhưng hợp tính hợp nết nên không khí gia đình luôn luôn đầm ấm. Đứa con gái của hai người ra đời trong sự chào đón, chăm bẵm của cả hai bên nội ngoại, nay đã thi đỗ và vừa vào học tại một trường đại học ở Hà Nội. Lẽ ra là nó đã có em, nhưng em nó bị sớm phát hiện nằm ngoài dạ con, nên không giữ được. Loan phải chịu sự can thiệp kịp thời của y học hiện đại nên bảo toàn được sinh mạng, song khả năng chửa đẻ đã không còn. Số phận đã an bài, con nào chả là con, Loan tự an ủi như thế và chỉ biết cúc cung tận tụy với chồng con, trong lòng vẫn cảm thấy ít nhiều mình có lỗi, phải lấy sự tử tế, hiền thục bù đắp lại cho chồng. Bỗng dưng, cây muốn lặng nhưng gió chẳng dừng… Ngẫm nghĩ về thân phận mình, Loan tê tái bởi nỗi bị chồng phụ bạc, nên vào phòng khách đã một hồi lâu, bà vẫn không nói được câu nào…

- Tôi báo cáo để bà biết, người đàn bà đó là mẹ đẻ ra hai đứa con của tôi. Hiện giờ chúng đang học đại học ở Hà Nội, sắp ra trường rồi. Nó là con của chúng ta, tức là con bà đấy! Tôi đã lo cho chúng ăn học bằng người, suốt từ năm bảy sáu cho đến ngày hôm nay, và còn tiếp tục lo cho đến khi chúng hoàn tất việc học hành, lập gia đình riêng, phương trưởng.

- Tức là ông có con riêng chứ gì?

- Cái quan hệ cha con này đã có từ khi bà chưa xuất hiện đâu. Người đàn bà ở phòng ngoài nhà khách hiện nay là mẹ của hai đứa con tôi, là vợ người bạn đồng tuế, đồng môn, đồng đội, đồng chí của tôi! Những người đó, bây giờ bà phải biết đấy nhé…

- Sao? Ông nói sao? Không phải vợ lại có con với nhau thế này là thế nào? Ông định lừa dối tôi, phải không? Hu… hu… hu…

- Tôi không lừa dối bà, nhưng tôi thấy chưa đến lúc thuận tiện để nói với bà về sự thực của việc này, vì các con tôi còn đang bận học, vì tôi còn đang bận công tác.

- Ông chê tôi chỉ đẻ được mụn con gái, nên ông kiếm thêm để có người nối dõi tông đường chứ gì?

- Tôi vừa nói với bà rồi đấy. Hai đứa con này đã có từ khi bà chưa xuất hiện đâu. Mong bà bình tĩnh lại khi giáp mặt bà ấy! Bà nên cư xử nhẹ nhàng, và còn phải thầm cảm ơn bà ấy đã sinh cho chúng ta hai đứa con, có cả nếp cả tẻ.

- Thế con mụ đẻ thuê ấy là người như thế nào?

- Bà ấy không phải là người đẻ thuê, mà đẻ cho gia đình mình. Bà ấy là Lê Diễm Hà, giáo viên trường Tiểu học Vũ Thư. Bà là vợ của đồng chí Tạ Phú Vọng, đại đội trưởng, đã hy sinh trong chiến dịch Tây Nguyên đầu năm bảy nhăm. Tôi nhắc lại: Ông Vọng là bạn đồng tuế, đồng môn, đồng đội, đồng chí của tôi, ông ấy đã giao lại tôi trông nom giúp vợ con cho đến ngày các cháu trưởng thành…

- Ông nói gì tôi khó hiểu lắm.

- Được. Tôi sẽ đưa bà đọc bức thư của chồng bà Hà gửi cho tôi trước khi hy sinh. Tôi nhận được bức thư này tại Sài Gòn sau ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam do bạn cùng học với tôi giao lại.

3

Từ ngày nhận được giấy báo tử của chồng, Hà gầy tọp hẳn đi, người liêu xiêu tưởng gió thổi bay được. Trên khuôn mặt cô hoa khôi sư phạm của thời con gái, nay chỉ còn đôi mắt, nhưng cái nhìn thật thơ mơ hồ ngơ ngác. Vừa ra trường sư phạm, cô đã bước chân đi lấy chồng theo đính ước của hai gia đình, Hà liên tiếp gặp những chuyện không may mắn. Mất một thời gian dài mà vợ chồng cô vẫn chưa có con, phải xem số, phải chạy chữa - kín đáo có, công khai có - rồi chồng nhập ngũ. Lo liệu đám tang mẹ chồng chẳng được bao lâu thì nhận tin chồng hy sinh. Vậy là Hà phải một nách nuôi dạy hai con nhỏ! Nhưng ông trời cũng rủ lòng thương: sau lần chồng “nhờ người đẻ hộ”, Hà đậu được liền hai đứa, cho ra đời một gái một trai. Người ta đồn, trẻ sinh đôi mà khác giới tính thường rất khó nuôi, nhưng hai đứa con Hà lại là trường hợp khác. Hoàn cảnh đã tạo nên đức tính ngoan ngoãn, đôi trẻ biết nghe lời mẹ, chăm chỉ học hành, nên dù năm nào, dù ở cấp học nào, cả hai đứa cũng đạt học sinh giỏi toàn diện. Hai đứa con chính là lẽ sống của Hà, chúng mang lại cho Hà nguồn vui hàng ngày. Ngoài giờ dạy, cả ngày nghỉ Hà cũng làm quần quật, bỏ công sức ra chăm sóc mấy sào ruộng của nhà để có thêm lương thực. Hà còn chăn nuôi con lợn đàn gà, để tặng thêm chút thu nhập. Đồng lương giáo viên cấp hai cộng với thu nhập từ tăng gia sản xuất và phụ cấp con liệt sỹ cũng đủ cho Hà trang trải để các con yên chí học hành. Tối tối, Hà ngồi soạn giáo án, chấm bài đến khuya mới đặt mình đi nằm để mọi đau thương mất mát đều lắng dần vào kỷ niệm.

Nhưng sự đời không đơn giản như vậy. Khi cuộc sống đỡ gieo neo, vật chất tạm ổn, sức khỏe Hà dần dần bình phục, cô đã lấy lại được dáng đi thong thả như ngày xưa, sắc diện dần dần hồng hào trở lại… Cặp mắt thăm thẳm của gái một con vô tình đã làm xiêu lòng một số người “ưa của lạ” hoặc đang góa vợ. Những lời chòng ghẹo, gạ gẫm lửng lơ của họ ngày đêm rình rập mẹ con chị, chị không buồn để lọt vào tai, nhưng trong thâm tâm vẫn thấy ê chề đau đớn cùng nỗi trống trải khôn lường. Đau đớn hơn nữa là ánh mắt u buồn của hai đứa con đã vẻ hồ nghi về nỗi sợ mất mẹ. Đêm đêm Hà soi đèn nhìn hai con ngủ ngon lành mà lòng đau quặn. Hà nhớ đến mẹ đẻ, mẹ chồng, và càng nhớ Vọng da diết. Vọng không ích kỷ như nhiều người khác. Lúc anh biết mình mắc căn bệnh trời buộc, anh phải đấu tranh mãnh liệt mới tìm ra được giải pháp, nhờ một người đàn ông khác mang đến cho vợ niềm vui làm mẹ. Đã là con người, trái tim ai mà chẳng có dòng máu ấm, chứ đâu phải tim gỗ tim đá! Lúc này, Hà mới thấm thía: Chồng mình đã hy sinh điều quý giá nhất cho mình, trước khi bị kẻ thù bắn ngã trên cao nguyên miền Tây. Nghĩ đến chồng, Hà bất giác lại nhớ đến Trần Vũ. Mới biết, giới đàn ông có những tình bạn như thế, trung thành, chính trực và cao thượng, sống đúng với sự trong sáng của lương tâm mình, không thèm chấp những dư luận tầm thường nhảm nhí. Và Hà tự nhủ, mình chớ có phụ lòng giúp đỡ thân tình của bạn chồng, nếu có khi nào gặp lại.

4

Đầu năm bảy sáu, Đại đội trưởng Trần Vũ i được cấp trên cho nghỉ phép dài ngày. Anh có ý định về quê lần này sẽ lấy vợ vì anh nay tuổi đã trên băm rồi! Anh có nghĩ đến Hà và con, song anh đã tự dập tắt ngay ý nghĩ đó! Hà hẳn là còn mẹ chồng - các cụ già thường hay nệ lối cổ “con thầy, vợ bạn thì kiêng”, mà cơ nghiệp nhà Vọng là nơi thờ cúng tổ tiên, đành rằng Vọng đã gợi ý và cho phép… Trước mắt, mình phải coi mẹ con Hà là người rất cần được cưu mang giúp đỡ, mình phải làm cho mẹ con Hà yên tâm. Dù có thế nào, mình cũng phải giúp Hà nuôi con ăn học nên người, với mớ suy nghĩ ngổn ngang như thế, Trần Vũ đến nhà Vọng lúc nào không hay.

Vừa thấy bóng người lạ, con mực cứ hướng ra cổng sủa ầm ĩ. Hà chạy ra cổng xua chó và đón khách. Khi nhận ra Trần Vũ, Hà đứng sựng lại, miệng như câm nín, hai hàng nước mắt tự nhiên trào ra. Hai đứa con ngơ ngác không hiểu tại sao gặp chú bộ đội lạ, mẹ chúng lại khóc?

Trần Vũ dắt tay mẹ con Hà đi vào trong nhà. Anh ngỏ ý được thắp hương cho Vọng trước đã. Đến bảy giờ tiếng khóc của Hà mới bật ra được, thảm thiết. Hai đứa con cũng khóc theo mẹ, nghe thật não lòng! Mắt Trần Vũ cũng cay xè, anh nghẹn ngào, cố kìm tiếng nấc. Đọc thư Vọng, anh đã biết Hà có thai, nhưng Tạ Phú Vọng đã hy sinh rồi, sao trong nhà có những hai đứa trẻ?

Thắp ba nén hương và lầm rầm khấn khứa, lúc cắm vào bát hương trên bàn thờ, Trần Vũ mới luống cuống nhận ra: - Trên bàn thờ có một bát hương nữa, cũ hơn một chút so với bát hương thờ Tạ Phú Vọng. Anh cố trấn tĩnh, thắp thêm ba nén nhang nữa và hiểu: Mẹ Vọng đã không còn! Chờ cho Hà nguôi dần tiếng nức nở, Vũ mới cất tiếng hỏi:

- Bà cụ mất lâu chưa?

- Bà em đã mất từ đầu năm bảy tư!

- Con đây, là?

- Vẫn hai đứa con em đó. Sinh đôi, anh ạ!

Trần Vũ như người bị trúng gió. Đầu óc anh choáng váng, phải một lúc lâu mới lấy lại bình tĩnh: mình đã có những hai đứa con, và từ lúc chúng lọt lòng mẹ đến giờ, việc nuôi nấng hẳn là khó nhọc lắm. Vậy mà lúc đầu anh đã vội tưởng Hà là người vợ không chính chuyên…

Thấy mình thật là vô duyên, chưa chi đã ghen thay cho thằng bạn quá cố, anh nói, như để chữa thẹn:

- Nay anh đã trở về… Từ giờ trở đi, mẹ con em đã có chỗ dựa…

Sau nhiều câu chuyện của người đi xa, Trần Vũ dần dần đi vào câu chuyện – chủ đề chính của chuyến đến thăm mẹ con Hà:

- Hà ạ! Từ ngày ở trường sỹ quan ra, anh và Vọng được phân công về hai đơn vị khác nhau, từ đấy không có dịp gặp lại, không nhận được tin tức của nhau. Cho đến ngày hoàn toàn giải phóng miền Nam, vào Sài Gòn, tình cờ anh gặp lại anh Hùng, người xã Vũ Xá, là bạn học thời phổ thông cùng anh và Vọng. Anh Hùng là chính trị viên của đại đội anh Vọng cho đến ngày Vọng hy sinh đầu năm bảy lăm trong trận mở đầu chiến dịch Tây Nguyên. Trong ba lô của Vọng có một bì thư đề “gửi Trần Vũ” chưa kịp gửi. Hôm gặp nhau, anh Hùng đã trao tận tay cho anh. Từ bấy đến nay, đi đâu anh cũng mang lá thư của Vọng bên mình. Thư đây, em đọc đi!

Đọc xong lá thư, Hà lại nấc lên dồn dập. Chị nắm lấy bàn tay Vũ, khẩn khoản:

- Anh về với mẹ con em! - Rồi Hà quay sang nói với con: - Hai con ơi! Đây là bố Trần Vũ, bạn rất thân với bố Tạ Phú Vọng của các con…

Gặp lại Vũ, chị nhớ lại hình ảnh đêm ân ái như vợ chồng giữa chị và Vũ ngày ấy. Mặc dù việc này là do Vọng sắp đặt, Hà vẫn thấy ngường ngượng như buổi ban đầu… Anh Vọng là người cao thượng đến không ngờ. Chị phải miễn cưỡng làm theo ý chồng mà thật lòng vẫn ngầm cay đắng cho anh. Nếu có kết quả, thì người bị lừa dối là ba mẹ chồng và dòng họ Tạ!

… Sau ngày gặp mẹ con Hà, Trần Vũ cưới Loan. Từ đó anh biền biệt, hết ở mặt trận Tây Nam lại ra Đông Bắc tổ quốc. Đến năm tám mốt, anh theo học Đại học Quân sự ở Liên Xô, sau đó được cử đi làm chuyên gia quân sự bên Lào. Dù ở đâu, Trần Vũ đều đặn thư từ về cho Hà và gửi tiền chu cấp cho hai con ăn học. Cuối năm chín hai, Trần Vũ từ Lào trở về phụ trách Lữ đoàn 406 công binh, anh thường xuyên đến thăm mẹ con Hà. Từ đây tình cảm giữa anh và Hà sang trang mới, anh dành tình cảm và thời gian cho mẹ con Hà nhiều hơn Loan: Anh đã cùng Hà nâng cấp ngôi nhà lên to đẹp đàng hoàng, có tiện nghi nội thất khang trang. Hai con nhất nhất kính và yêu bố Trần Vũ…

5

Hai con đang học ở Hà Nội, Hà phải tạm gác việc nhà, tìm đến đơn vị Trần Vũ vì ở nhà có chuyện: Xuất hiện một người phụ nữ lạ nói giọng miền trong… Hà ngạc nhiên, luống cuống nhưng chị vẫn ân cần đón tiếp người khách lạ. Sau vài câu chuyện xã giao, ngươì khách lạ giới thiệu về mình…

“Em tên là Lê Thị Miên, người huyện Điện Bàn tỉnh Quảng Nam - người khách lạ tâm sự - Thời chiến tranh chống Mỹ, quê em là vùng tranh chấp, khi ta, khi địch. Chồng em là du kích xã, bị địch bắt. Chúng đem ảnh về quê định xử lý cùng gia đình một thể. Đại đội của anh Tạ Phú Vọng tổ chức đánh trả. Chồng em bị địch bắn chết, trước khi chúng rút lui, nhưng hầu hết mọi người còn lại đều được giải thoát. Anh Tạ Phú Vọng là ân nhân của gia đình em. Ba má em đã nhận anh Tạ Phú Vọng là con đỡ đầu từ nhiều năm, chúng em đều rất quý ảnh và gọi ảnh là anh Hai Vọng. Đầu năm bảy lăm, nghe tin ảnh đã hy sinh, gia đình đã tìm cách lên Tây Nguyên tìm được phần mộ của ảnh, chờ dịp có điều kiện sẽ cải mộ, đem hài cốt anh Tạ Phú Vọng về an táng bên mộ của chồng em trong khu khuôn viên của gia đình theo đúng phong tục của địa phương. Mãi bốn năm sau, gia đình em mới hoàn tất việc bốc mộ của anh. Do em sơ suất, để mất địa chỉ của anh Tạ Phú Vọng, nên không liên lạc ngay được với chị và cháu. Liên tiếp các năm sau thiên tai bão lụt, ba má em lần lượt ra đi, không kịp thực hiện nguyện vọng ra Bắc đến thăm quê quán, gia đình anh chị. Gần đây, em đã lien hệ với Sở Lao động và Thương binh - Xã hội tỉnh Vĩnh Phúc mới biết được địa chỉ của gia đình. Hôm nay em đã được gặp chị tại nhà anh Tạ Phú Vọng”.

Hai người phụ nữ góa bụa còn kể nhau nghe nhiều chuyện vui buồn đã qua. Cuộc đời của họ sao có nhiều đoạn giống nhau đến thế. Đôi ngày Miên ở  lại thăm gia đình giúp Hà thêm vững tin: Chồng mình là con người “đi dân nhớ, ở dân thương” thì mới được gia đình Miên và bà con xứ Quảng đối xử ân tình như vậy, cho nên mình càng phải dạy con sống sao cho xứng đáng với người đã khuất. Hai nữa, nhất thiết phải tìm đến đơn vị gặp Trần Vũ để thông báo tình hình và tìm cách đưa di cốt anh Vọng về quê, nơi có Hà và hai đứa con mà anh Vọng hằng mong nhớ.

6

Suốt từ bấy đến nay, Loan vẫn chưa biết gì về hai đứa con của Trần Vũ và Lê Diễm Hà, để đến hôm nay đã xảy ra to tiếng. Hai vợ chồng ngồi riêng với nhau một hồi lâu, cơn giận của Loan đã tạm nguôi nguôi, Trần Vũ mới mời vợ sang phòng khách dành cho riêng Hà. Loan đồng ý.

Trong gian nhà khách có ba người: một người đàn ông và hai người đàn bà. Người đàn ông lơ đãng nhìn phía ngoài cửa, vẻ mặt trầm ngâm. Người đàn bà nhiều tuổi hơn, da dẻ trắng trẻo, nét mặt hiền hậu nhìn lên trần nhà như nóng lòng chờ đợi việc gì… Còn người đàn bà trẻ hơn có dáng người nhỏ nhắn, nước da hơi xanh đang nhíu mắt đọc một bức thư dài. Trong thư không biết viết gì mà khiến người đọc tỏ vẻ chăm chú, căng thẳng. Hình như bà vừa đọc vừa khóc!

Trần Vũ thân!

Ở ngoài Quảng Bình mình nhận được thư của vợ. Hà báo tin vui, mình trích nguyên ra đây, Trần Vũ cùng xem:

“Sau ba ngày đêm anh đưa em sang chơi nhà anh Trần Vũ bên xã Ngô Khê, em đã có thai. Mừng quá, em viết thư này báo cho anh biết. Anh Vọng ạ! Nếu đẻ con trai, mình đặt tên con là Tạ Phú Nguyên, nếu đẻ con gái đặt là Tạ Diễm Giang, anh nhé! Thế là chúng ta đã có con – điều mà vợ chồng mình mong muốn đã đạt được nguyện vọng. Mong ngày anh về nhận mặt con”.

Trần Vũ thân!

Chúng ta làm bạn với nhau từ khi còn đi học trường huyện, cùng tuổi, cùng nhập ngũ một ngày, cùng đơn vị. Rồi đây sống chết sẽ phải có trách nhiệm với nhau, mãi mãi về sau.

Mình đã tâm sự thật tình với Vũ: Cưới vợ được một thời gian mới biết mình không may bị vô sinh nên không thể có con được. Hà - vợ mình cũng biết sự thật này nên rất buồn. Vợ mình đã tính đến chuyện phải xin trẻ sơ sinh ở bệnh viện về để được làm mẹ. Nhưng mình không đồng ý, vì không thể biết nguồn gốc đứa trẻ - mà các cụ gọi là “tông” và “giống”. Mình khuyên Hà, tốt nhất Hà cho phép mình nhờ một người bạn chí cốt giúp đỡ, để Hà vẫn được sinh con bình thường. Khi đó, ai ai cũng phải công nhận là con của vợ chồng mình đẻ ra, miễn là chuyện này cần thận trọng và kín đáo, chỉ có người trong cuộc biết với nhau. Nhưng Hà phản đối kịch liệt. Dù biết mình nói việc này đâu phải là bột phát và Hà trân trọng sự cao cả của chồng, nhưng vợ mình vẫn tủi thân, khóc sưng cả mắt.

Với Vũ, mình đã chân thành nhờ cậy. Khi đó, Vũ còn nói với mình: Chẳng lẽ cậu lại cam tâm để tớ với vợ cậu làm chuyện ngoại tình à? Cậu coi thường vợ, coi thường bạn quá!

Đây phải là chuyện ngoại tình hèn hạ. Đây là sự thỏa thuận ngầm để giúp nhau của ba chúng ta.

Nếu Vũ và Hà không dám dấn thân để có một sự hy sinh cao cả thì làm sao giúp mình gỡ được số phận hẩm hiu. Mình phải phân tích kỹ điều hơn lẽ thiệt, Hà vợ mình mới tạm thông về tư tưởng và đành chấp hành một cách miễn cưỡng ý nguyện của mình. Kỳ nghỉ phép trước khi ra trường để chúng mình đi chiến đấu, mình đã đưa vợ mình sang nhà Vũ.

Vũ nhớ chứ? Vũ còn suy xét mãi mới nhận lời giúp mình, vì khi đó Vũ là con trai tân, còn chưa có vợ! Mấy buổi tối ấy, mình đã tự giác uống thuốc ngủ để Vũ giúp mình công việc hệ trọng đó.

Đến nay vợ mình đã có thai, mình vạn lần cảm ơn Vũ.

Mình thư cho Vũ, cho nó minh bạch và chắc chắn, vì chiến tranh còn có thể kéo dài. Trong chiến đấu, sự mất mát hy sinh với người lính chúng mình không có gì phải sợ. Mình chỉ dặn lại Vũ: Hết chiến tranh, nếu cả hai đều được trở ra Bắc, chúng mình hãy cùng giữ kín việc cả ba chúng ta đã thống nhất làm chuyện ấy - đó là cách tôn trọng tình bạn của nhau. Nếu Vũ hy sinh, mình có trách nhiệm trông nom bố đẻ Vũ như bố đẻ mình cho đến khi về tiên tổ. Và đứa con chung của ba chúng mình đương nhiên sẽ là con Vũ. Nếu chẳng may mình hy sinh, Vũ trở ra Bắc, Vũ sẽ trông nom chăm sóc mẹ mình như mẹ đẻ của Vũ, coi mẹ con Hà là vợ con của Vũ, là máu thịt của Vũ. Khi gặp lại mẹ con Hà, Vũ đưa cho mẹ con Hà đọc lá thư này, để mẹ con Hà được biết đó là lời di chúc của mình để lại.

Vũ ơi! Nếu không còn mình ở trên trái đất này, mình mong Vũ hãy thương mẹ con Hà, nếu Vũ thấy chấp nhận được, Vũ cứ việc… Mình ở chốn xa xăm, lẽ nào mình không phù hộ cho gia đình ân nhân của mình!

Đọc xong lá thư, hai hàng nước mắt đã chảy dài trên gò má Loan.

7

- Trần Vũ bình thản chờ vợ đọc xong bức thư, vẫn giữ bầu không khí im lặng trong phòng, một lúc sau mới quay lại nói với vợ:

Tôi có ý định sau khi nghỉ hưu, các con ra trường, có công ăn việc làm ổn định, tôi sẽ thưa với bà việc này thật ngọn ngành, rồi cho hai chị em gặp nhau. Không ngờ, nhà ông Vọng có việc đột xuất, Hà muốn xin ý kiến tôi… Chắc bà cũng hiểu, nếu tôi có ý định, thì tôi đã lấy Hà làm vợ từ hồi bảy sáu, nghĩa là trước khi đến với bà một năm…

Loan như người vừa tỉnh sau cơn mê sảng: Trần Vũ đâu có lừa dối, phụ bạc mình. Trong đầu bà hiện lên rất nhanh hình ảnh một chàng trai và một cô gái sắp tốt nghiệp đại học ra trường – thành quả mà bà vô tình không góp tay vun vén… Bà khẽ bật cười khi nghĩ đến câu nói cửa miệng “cá vào ao ta… ” và liên tưởng đến phận mình. Nghĩ đến lúc mình còn hằm hằm đứng ngoài cổng đơn vị, Loan thấy sượng sùng, bà trách chồng nhưng kỳ thực là để chữa thẹn:

- Đúng ra, ông cũng nên cho tôi biết trước, chứ đừng để đến hôm nay. Rồi Loan quay sang Hà - Chị Hà ơi! Từ đây trở đi, chúng ta tuy sống hai ngôi nhà, hai địa phương khác nhau, nhưng gia đình thì là một. Chúng ta có chung với nhau ba đứa con, đến đây. Đến đây giọng Loan trở nên nghiêm trang và có phần quyết đoán, cắt đặt - Chị không ở nhà khách đơn vị nữa, về nhà em, cũng gần đây thôi. Cháu Thúy nhà em mới nhập trường học năm thứ nhất, sắp nghỉ tết đến nơi, cháu sẽ về. Tết này em muốn chị đưa hai cháu về đây nhận bố đẻ, nhận thêm mẹ Loan và em Thúy. Ba mẹ con phải ăn tết với gia đình chúng em!

Trần Vũ tiếp lời Loan:

- Có việc này, tôi xin thông báo với hai bà: Sang năm tôi sẽ xin nghỉ phép để trực tiếp vào Quảng Nam chuyển di cốt ông Tạ Phú Vọng về quê.

Hà từ nãy chỉ im lặng, đến giờ bật lên tiếng:

- Bố thằng Nguyên ạ! Cứ để thư thư đã, đến lúc bố nghỉ hưu, thằng Nguyên, con Giang có công việc làm ổn định, lúc đó mới thích hợp để chúng ta đón bố Vọng của chúng nó về. Còn từ giờ nhờ bố thằng Nguyên, nếu đi công tác vào miền trong, thì tranh thủ đến thăm nhà cô Miên và thắp hương cho ba má nuôi của bố Vọng.

 

 

 

 


 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Trần Hải